Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tóm tắt lý thuyết

    • Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy. Mọi quá trình tư duy đều mang đặc trưng tư duy bằng khái niệm. Thiếu khái niệm, con người không thể tư duy được.
    • Tất cả những gì được con người suy nghĩ tới gọi là đối tượng của tư duy. Mỗi đối tượng có các dấu hiệu. Dấu hiệu của đối tượng là những đặc điểm, đặc trưng, tính chất hay thuộc tính và các quan hệ của đối tượng, nhờ đó nhận thức được đối tượng và so sánh nó với các đối tượng khác.
    • Cũng cần phân biệt “thuộc tính” và các “dấu hiệu”. Thuộc tính bao giờ cũng là những nội dung vốn có tồn tại khách quan, gắn liền với sự vật, hiện tượng, không lệ thuộc vào việc con người có nhận thức được nó hay không. Trái lại, trong quan hệ nhận thức, con người cần phải nhận thức bản chất của các sự vật, hiện tượng, qua các hình thái biểu hiện của chúng mà người ta gọi là các dấu hiệu của sự vật và hiện tượng. Do vậy, dấu hiệu vừa phản ánh những thuộc tính khách quan của sự vật hiện tượng; vừa biểu hiện mức độ nhận thức của con người vô sự vật hiện tượng. Nói khác dụ dấu hiệu phản ánh những nội dung khách quan vô sự vật, hiện tượng thông qua hình thức chủ quan của tư duy con người. Ngoài ra, dấu hiệu bao gồm dấu hiệu thuộc tính và dấu hiệu quan hệ.
    • Các dấu hiệu được chia thành dấu hiệu cơ ban và không cơ bản. Những dấu hiệu quy định bản chất bên trong, quyết định sự tồn tại và biến đổi của sự vật, hiện tượng gọi là dấu hiệu cơ bản. Những dấu hiệu không biểu thị bản chất và không quy định sự tổn tại và biến dổi của sự vật, hiện tượng là dấu hiệu không cơ bản.
    • Cũng cần phân biệt dấu hiệu của các thuộc tính và quan hệ với dấu hiệu bên ngoài (ký hiệu, tên gọi) mà sự thay đổi của ký hiệu, tên gọi không dẫn đến sự thay đổi của bản thân sự vật, hiện tượng.
    • Các dấu hiệu cơ bản có thể tồn tại trong nhiều đối tượng, tồn tại trong một sự vật, hiện tượng hay một lớp sự vật, hiện tượng. Các dấu hiệu cơ bản chỉ tồn tại trong một sự vật, hiện tượng, gọi là các dấu hiệu cơ bản riêng.

    Ví dụ: ‘Nguyễn Ái Quốc là tác giả “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người tìm ra con đường giải phóng đúng đắn nhất cho dân tộc Việt Nam là con đường kết hợp cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Các dấu hiệu cơ bản phản ánh một lớp các sự vật, hiện tượng, gọi là dấu hiệu cơ bản chung. Thí dụ: dấu hiệu cơ bản chung của con người là khả năng tư duy sáng tạo qua ngôn ngữ và khả năng chế lạo và sử dụng công cụ lao động.

    • Các dấu hiệu cơ bản, kể cả cơ bản chung và riêng, còn được chia thành hai loại là dấu hiệu cơ bản khác biệt và dấu hiệu cơ bản không khác biệt. Các dấu hiệu cơ ban khác biệt chỉ tồn tại trong một sự vật, hiện tượng hay trong một lớp sự vật, hiện tượng. Các dấu hiệu cơ bản không khác biệt chỉ tồn tại 0 các sự vật, hiện tượng của một lớp nào đó. Chẳng hạn, các dấu hiệu cơ bản không khác biệt của kim loại là tính dẫn điện và dẫn nhiệt.
    • Các dấu hiệu cơ bản khác biệt của sự vật, hiện tượng được con người nhận thức và phản ánh trong khái niệm thông qua các dấu hiệu của khái niệm.
    • Như vậy, khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, trong đó phản ánh các dấu hiệu khác biệt cơ bản của sự vật riêng biệt hay lớp cấc sự vật, hiện tượng nhất định.
    • Trong khái niệm một là, bản chất của các sự vật, hiện tượng được phản ánh; hai là, sự vật hay lớp sự vật, hiện tượng nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu khác biệt cơ bản.
    • Tư duy khái niệm đặc trưng cho hoạt động tư duy kinh nghiệm và cả lý luận. Mọi hệ thống khoa học được thể hiện trên sự phong phú và hoàn thiện của hệ thống khái niệm và phạm trù khoa học của nó. Vì vậy, trình độ của tư duy cũng được thể hiện thông qua hệ thống các khái niệm.
    • Khái niệm phản ánh đối tượng, do đó nó là sản phẩm, là công cụ của nhận thức, nó mang tính tinh thẫn, vì vậy, mức độ phù hợp hay không phù hợp của nội dung khái niệm vối nội dung khách quan của sự vật, hiện tượng mà nó phản ánh còn lệ thuộc vào trình độ phát triển thực tiễn, trình độ nhận thức của thòi đại và đôi khi còn phụ thuộc vào nhận thức của các cá nhân. Trong thực tế có khái niệm phản ánh đúng hiện thực, có khái niệm phản ánh sai hiện thực. Các khái niệm phản ánh sai hiện thực khách quan có thể do hạn chế của nhận thức nên phản ánh sai bản chất sự vật, hoặc có thể khái niệm do tính hư cấu tưởng tượng, thần thánh hoá mà thành.

    Ví dụ: “con rồng”, “nàng tiên cá”, “động cơ vĩnh cửu “.

    • Khái niệm có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nói chung và với từ nói riêng. Khái niệm được hình thành trên cơ sở những từ hay cụm từ. Từ và cụm từ biểu thị khái niệm, vì vậy, từ và cụm từ là cái vỏ vật chất đặc biệt của khái niệm, không có từ và cụm từ, không thể hình thành và sử dụng khái niệm được.
    • Từ gắn liền với khái niệm, nhưng không đồng nhất với khái niệm. Từ thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự thống nhất giữa âm và nghĩa. Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, là sự thống nhất giữa nội hàm (các dấu hiệu bản chất của đối tượng) và ngoại diên (số lượng các đốì tượng được phản ánh trong khái niệm).
    • Trong các ngôn ngữ khác nhau, hệ thống từ, âm đọc cũng khác nhau, do đó một khái niệm được biểu thị bằng các từ khác nhau. Trái lại, một khái niệm đã được hình thành trên cơ sơ thừa nhận chung về sự thống nhất giữa nội hàm và ngoại diên của nó, dù có được biểu hiện bằng các ngôn ngữ khác nhau thì nội hàm và ngoại diên, cái làm nên bản chất của khái niệm vẫn không thay đổi theo các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau đó.
    • Ngay trong một ngôn ngữ từ đồng nghĩa và đồng âm cũng tồn tại. Cùng một khái niệm có thể biểu thị bằng nhiều tên gọi khác nhau (từ đồng nghĩa), như “Tổ quốc”, “đất nước”, “non sông”; “chết”, “về chầu tiên tổ”, “ngoẻo”, “ngủ với giun”… Có trường hợp nhiều khái niệm được biểu thị bằng một tên gọi (từ đồng âm) như “vải” (chất liệu may mặc) và “vải” là một loại hoa quả; “mây” (đám mây) và “mây” (cây mây)… Ngay cả khi các cụm từ như nhau được sắp xếp theo thứ tự khác nhau cũng biểu thị các khái niệm khác nhau như vôi tôi là vôi chín, còn tôi vôi là công việc biến vôi sống thành vôi chín,v.v.. Trong thực tiễn, khi tranh luận một vấn để gì đó, cần phải xác định rõ khái niệm của từ, để tránh “ông nói gà”, “bà nói vịt”, Vì vậy, trong các lĩnh vực khoa học, người ta thường sử dụng các hệ thống thuật ngữ chuyên môn để biểu thị chính xác các khái niệm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Phần I : Mỹ Thuật Là Gì ? Ngôn Ngữ Riêng Của Hội Họa Mỹ Thuật
  • Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Giáo Án Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính Lớp 12 Hay Nhất
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học 14 Doc
  • Để lý giải cho mình câu hỏi ấy, xin hãy tự đặt ra một nhiệm vụ tầm thường thế này. Chúng ta hãy lựa chọn các văn bản sau đây: nhóm I: tranh của Delacroix, trường ca của Byron, giao hưởng của Berlioz; nhóm II: trường ca của Mickiewicz, kịch dương cầm của Chopin; nhóm III: các văn bản thơ của Derzavin, quần thể kiến trúc của Bazenov. Bây giờ thử đặt ra mục đích hệt như nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về lịch sử văn hoá vẫn thường làm: quy các văn bản về những biến thể của một loại hình bất biến nào đó để trình bầy chúng theo nội bộ mỗi nhóm như một văn bản. Loại hình bất biến với nhóm thứ nhất sẽ là “chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu”, với nhóm thứ hai: “chủ nghĩa lãng mạn Ba Lan”, với nhóm thứ ba: “tiền lãng mạn chủ nghĩa Nga”. Tất nhiên, cũng có thể đặt ra nhiệm vụ miêu tả cả 3 nhóm như một văn bản duy nhất bằng cách vận dụng mô hình trừu tượng của cái bất biến ở cấp độ thứ hai.

    Nếu đặt cho mình nhiệm vụ như vậy, thì dĩ nhiên chúng ta buộc phải lựa chọn một hệ thống giao tiếp nào đó, tức là chọn một “ngôn ngữ”, trước tiên là dành cho từng hệ thống, và sau đó là đồng thời dành cho cả ba hệ thống nói trên. Chúng ta giả định việc miêu tả các hệ thống ấy được tiến hành bằng tiếng Nga. Hiển nhiên là trong trường hợp này, tiếng Nga sẽ có chức năng như một siêu ngữ được sử dụng để miêu tả (tạm gác sang một bên sự sai lệch của việc miêu tả như vậy, bởi vì dưới sự tác động của siêu ngôn ngữ, đối tượng tất yếu sẽ bị mô hình hoá), nhưng bản thân cái “ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa” được miêu tả (hay bất kỳ một loại ngôn ngữ chuyên ngành nào đó tương ứng với ba nhóm đã nói ở trên) không thể đồng nhất với một loại ngôn ngữ tự nhiên nào, vì nó sẽ được dùng để miêu tả các văn bản phi lời. Tuy nhiên, mô hình ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa mà ta có được bằng cách trên sẽ được ứng dụng vào các tác phẩm văn học và ở một cấp độ nào đó, nó có thể mô tả hệ thống cấu trúc của chúng (ở cấp độ chung cho cả các văn bản ngôn từ và văn bản phi ngôn từ).

    Nhưng cần phải xét xem những cấu trúc được tạo ra bên trong các tổ chức nghệ thuật ngôn từ và không thể mã hoá bằng ngôn ngữ của các nghệ thuật phi lời có quan hệ thế nào với ngôn ngữ tự nhiên?

    Văn học nghệ thuật nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt, loại ngôn ngữ được kiến tạo chồng lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh. Vì thế, người ta xem nó là hệ thống mô hình hoá thứ cấp. Dĩ nhiên, văn học không phải là hệ thống mô hình hoá thứ cấp duy nhất, và nếu dừng lại để nghiên cứu nó theo hướng này, chúng ta sẽ đi trệch ra ngoài nhiệm vụ trực tiếp của mình.

    Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống ký hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các ký hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng các phương tiện khác. Xin thử chứng minh.

    Có thể dễ dàng chia tách các ký hiệu, tức là dễ dàng chia tách những đơn vị văn bản ổn định, bất biến, và các quy tắc tổ chức ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên. Ký hiệu được chia tách rõ rệt thành các bình diện nội dung và biểu hiện, quan hệ giữa chúng là quan hệ tự do, không ràng buộc lẫn nhau, là quan hệ chịu sự ước định của lịch sử. Trong văn bản nghệ thuật ngôn từ, các ký hiệu không chỉ có ranh giới khác, mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng rất khác.

    Chúng tôi đã từng viết, rằng ký hiệu trong nghệ thuật có đặc tính hình tượng, tạo hình, chứ không mang tính ước lệ giống như trong ngôn ngữ. Luận điểm hoàn toàn hiển nhiên với các nghệ thuật tạo hình này khi vận vào nghệ thuật ngôn từ sẽ kéo theo hàng loạt kết luận quan trọng. Các ký hiệu tạo hình được kiến tạo theo nguyên tắc ràng buộc lẫn nhau giữa biểu hiện và nội dung. Do đó rất khó phân định các bình diện nội dung và biểu hiện theo ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ học cấu trúc. Ký hiệu mô hình hoá nội dung của nó. Thay vì phân định ngữ nghĩa rạch ròi, ở đây chỉ có sự bện kết phức tạp: yếu tố ngữ đoạn ở cấp độ này trong trình tự thứ bậc của văn bản hoá ra lại là yếu tố ngữ nghĩa ở cấp độ khác.

    Nhưng ở đây cũng cần nhớ, rằng chính những yếu tố ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên luôn vạch ra ranh giới của các ký hiệu và chia tách văn bản thành các đơn vị ngữ nghĩa. Xoá bỏ cặp đối lập “ngữ nghĩa – cú pháp” sẽ làm mờ ranh giới của ký hiệu. Nói: tất cả các yếu tố của văn bản thực chất đều là các yếu tố ngữ nghĩa – cũng tức là nói: trong trường hợp này, khái niệm văn bản đồng nhất với khái niệm ký hiệu.

    Ở một phương diện nào đó, vấn đề đúng là như vậy: văn bản là một ký hiệu toàn vẹn, và trong đó, tất cả các ký hiệu riêng lẻ của văn bản bằng ngôn ngữ chung đều quy về cấp độ các yếu tố của ký hiệu. Bởi vậy, mỗi một văn bản nghệ thuật là một ký hiệu cấu trúc độc nhất vô nhị, ad hoc[1] của một nội dung đặc biệt. Thoạt nghe, điều này có vẻ như mâu thuẫn với luận điểm ai cũng biết, theo đó, chỉ những yếu tố thường xuyên lặp lại tạo thành một tập hợp khép kín nào đó mới có khả năng truyền đạt thông tin. Nhưng mâu thuẫn ở đây chỉ mang tính bề ngoài. Thứ nhất, như chúng tôi đã chỉ ra, cấu trúc ngẫu nhiên của mô hình do nhà văn sáng tạo ra được áp đặt cho người đọc như ngôn ngữ nhận thức của anh ta. Tính ngẫu nhiên được thay thế bằng tính phổ quát. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ký hiệu “độc nhất vô nhị” hoá ra là ký hiệu được “tập hợp” từ những yếu tố mang tính loại hình và ở một cấp độ nào đó nó vẫn được đọc theo những quy tắc truyền thống, quen thuộc. Mọi tác phẩm cách tân đều được xây dựng bằng chất liệu truyền thống. Nếu văn bản không lưu giữ cho ký ức những cấu trúc truyền thống, thí sự cách tân của nó sẽ không được tiếp nhận.

    Văn bản tạo ra một ký hiệu cũng chính là một văn bản (trình tự các ký hiệu) được viết bằng một ngôn ngữ tự nhiên nào đó và nhờ thế mà nó vẫn duy trì được sự phân bố thành các từ – ký hiệu của hệ thống ngôn ngữ chung. Cho nên mới nẩy sinh hiện tượng mang tính đặc thù của riêng nghệ thuật, theo đó, cùng một văn bản, nếu áp vào những bộ mã khác nhau, nó sẽ rã ra thành những ký hiệu theo một cách khác nhau.

    Có một quá trình đầy mâu thuẫn diễn ra đồng thời với sự chuyển hoá của các ký hiệu ngôn ngữ chung thành các yếu tố của một ký hiệu nghệ thuật. Được đặt vào cùng dẫy với một số lặp lại theo sự điều chỉnh, các yếu tố ký hiệu trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên – các âm vị, hình vị – được ngữ nghĩa hoá và trở thành các ký hiệu. Bởi vậy, cùng một văn bản, người ta vừa có thể đọc như một chuỗi ký hiệu được tổ chức theo quy tắc của ngôn ngữ tự nhiên, vừa có thể đọc như một trình tự các ký hiệu tương đối lớn hơn so với sự chia tách văn bản thành các từ, cho tới tận biến văn bản thành một ký hiệu duy nhất, lại cũng vừa có thể đọc như một chuỗi các ký hiệu được tổ chức theo kiểu đặc biệt, tương đối nhỏ hơn so với từ, cho tới tận âm vị.

    Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng, sự hợp nhất các ranh giới của ký hiệu với ranh giới của văn bản sẽ xoá bỏ vấn đề cấu trúc ngữ đoạn. Văn bản được khảo sát theo cách ấy có thể tách ra thành các ký hiệu và được tổ chức phù hợp về mặt ngữ đoạn. Nhưng cái đó sẽ không phải là tổ chức ngữ đoạn của chuỗi dây chuyền, mà là tổ chức ngữ đoạn của thứ bậc: các ký hiệu sẽ gắn kết với nhau giống như những con búp bê – Matryoshka, con này được đặt trong lòng con kia.

    Kiểu tổ chức ngữ đoạn như vậy hoàn toàn mang tính thực tế đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật, và nếu nó tỏ ra xa lạ với nhà ngôn ngữ học thì nhà lịch sử học lại dễ dàng tìm thấy sự lặp lại của nó ví như trong cấu trúc thế giới được nhìn bằng đôi mắt của thời trung đại.

    Với nhà tư tưởng thời trung đại, thế giới không phải là tổng thể các bản chất, mà là bản chất, không phải là câu văn, mà là một từ. Nhưng từ ấy được cấu tạo bằng những từ riêng lẻ theo trật tự đẳng cấp, tựa như từ này đặt trong từ kia. Chân lý không nằm ở sự tích luỹ số lượng, mà ở sự đào sâu (không cần đọc nhiều sách, tức là nhiều từ, mà chỉ cần chăm chú vào một từ, không tích luỹ tri thức mới, mà chỉ luận bàn tri thức cũ).

    Từ những gì đã nói có thể rút ra, dù có cơ sở ở ngôn ngữ tự nhiên, nhưng nghệ thuật ngôn từ chỉ dựa vào đó để cải tạo nó thành ngôn ngữ của mình, ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ nghệ thuật. Mà bản thân ngôn ngữ nghệ thuật là một trật tự đẳng cấp phức tạp của nhiều ngôn ngữ có quan hệ tương tác với nhau, nhưng không giống nhau. Đây là lý do giải thích vì sao với một văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại rất nhiều cách đọc. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên sự bão hoà ý nghĩa nghệ thuật mà không một một thứ ngôn ngữ phi nghệ thuật nào khác có thể đạt được. Nghệ thuật là phương thức lưu trữ và chuyển tải thông tin được nén chặt và tiết kiệm nhất. Nhưng nghệ thuật cũng sở đắc những phương tiện khác rất đáng được các chuyên gia – điều khiển học, và sau đó, các kỹ sư – thiết kế quan tâm.

    Có khả năng cô đặc một lượng thông tin khổng lồ trên một “mặt bằng” văn bản không lớn (thử so sánh một truyện ngắn của Sekhov với một cuốn sách giáo khoa tâm lý học), văn bản nghệ thuật còn có thêm một đặc điểm: nó cung cấp cho người đọc khác nhau những thông tin khác nhau tuỷ theo mức độ hiểu biết của từng người, nó còn trao cho người đọc cái ngôn ngữ để khi sử dụng có thể lĩnh hội được phần tri thức tiếp theo ở những lần đọc lại. Nó hành xử như một cơ thể sống động nào đó tồn tại trong quan hệ đối thoại với người đọc, huấn luyện cho người đọc ấy.

    Có thể đạt được điều trên bằng những phương tiện gì? Câu hỏi ấy không chỉ khiến nhà nhân văn học phải ngẫm nghĩ. Chỉ cần hình dung có một cơ cấu nào đó được kiến tạo theo kiểu tương tự như thế để chuyển tải thông tin khoa học cũng đủ để hiểu rằng, việc khám phá bản chất của nghệ thuật như một hệ thống giao tiếp có thể tạo ra bước ngoặt trong phương pháp lưu trữ và chuyển tải thông tin./

    Người dịch: Lã Nguyên

    Nguồn:Лотман Ю.М. Cтруктура художественного текста // Ю.М. Лотман.- Об искусстве. СПб., 1998. С. 31- 34.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm
  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Phần I : Mỹ Thuật Là Gì ? Ngôn Ngữ Riêng Của Hội Họa Mỹ Thuật
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học 14 Doc
  • Hướng Dẫn Phân Tích : Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Để lý giải cho mình câu hỏi ấy, xin hãy tự đặt ra một nhiệm vụ tầm thường thế này. Chúng ta hãy lựa chọn các văn bản sau đây: nhóm I: tranh của Delacroix, trường ca của Byron, giao hưởng của Berlioz; nhóm II: trường ca của Mickiewicz, kịch dương cầm của Chopin; nhóm III: các văn bản thơ của Derzavin, quần thể kiến trúc của Bazenov. Bây giờ thử đặt ra mục đích hệt như nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về lịch sử văn hoá vẫn thường làm: quy các văn bản về những biến thể của một loại hình bất biến nào đó để trình bầy chúng theo nội bộ mỗi nhóm như một văn bản. Loại hình bất biến với nhóm thứ nhất sẽ là “chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu”, với nhóm thứ hai: “chủ nghĩa lãng mạn Ba Lan”, với nhóm thứ ba: “tiền lãng mạn chủ nghĩa Nga”. Tất nhiên, cũng có thể đặt ra nhiệm vụ miêu tả cả 3 nhóm như một văn bản duy nhất bằng cách vận dụng mô hình trừu tượng của cái bất biến ở cấp độ thứ hai.

    Nếu đặt cho mình nhiệm vụ như vậy, thì dĩ nhiên chúng ta buộc phải lựa chọn một hệ thống giao tiếp nào đó, tức là chọn một “ngôn ngữ”, trước tiên là dành cho từng hệ thống, và sau đó là đồng thời dành cho cả ba hệ thống nói trên. Chúng ta giả định việc miêu tả các hệ thống ấy được tiến hành bằng tiếng Nga. Hiển nhiên là trong trường hợp này, tiếng Nga sẽ có chức năng như một siêu ngữ được sử dụng để miêu tả (tạm gác sang một bên sự sai lệch của việc miêu tả như vậy, bởi vì dưới sự tác động của siêu ngôn ngữ, đối tượng tất yếu sẽ bị mô hình hoá), nhưng bản thân cái “ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa” được miêu tả (hay bất kỳ một loại ngôn ngữ chuyên ngành nào đó tương ứng với ba nhóm đã nói ở trên) không thể đồng nhất với một loại ngôn ngữ tự nhiên nào, vì nó sẽ được dùng để miêu tả các văn bản không phải phi lời. Tuy nhiên, mô hình ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa mà ta có được bằng cách trên sẽ được ứng dụng vào các tác phẩm văn học và ở một cấp độ nào đó, nó có thể mô tả hệ thống cấu trúc của chúng (ở cấp độ chung cho cả các văn bản ngôn từ và văn bản phi ngôn từ).

    Nhưng cần phải xét xem những cấu trúc được tạo ra bên trong các tổ chức nghệ thuật ngôn từ và không thể mã hoá bằng ngôn ngữ của các nghệ thuật phi lời có quan hệ thế nào với ngôn ngữ tự nhiên?

    Văn học nghệ thuật nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt, loại ngôn ngữ được kiến tạo chồng lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh. Vì thế, người ta xem nó là hệ thống mô hình hoá thứ cấp. Dĩ nhiên, văn học không phải là hệ thống mô hình hoá thứ cấp duy nhất, và nếu dừng lại để nghiên cứu nó theo hướng này, chúng ta sẽ đi trệch ra ngoài nhiệm vụ trực tiếp của mình.

    Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống ký hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các ký hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng các phương tiện khác. Xin thử chứng minh.

    Có thể dễ dàng chia tách các ký hiệu, tức là dễ dàng chia tách những đơn vị văn bản ổn định, bất biến, và các quy tắc tổ chức ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên. Ký hiệu được chia tách rõ rệt thành các bình diện nội dung và biểu hiện, quan hệ giữa chúng là quan hệ tự do, không ràng buộc lẫn nhau, là quan hệ chịu sự ước định của lịch sử. Trong văn bản nghệ thuật ngôn từ, các ký hiệu không chỉ có ranh giới khác, mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng rất khác.

    Chúng tôi đã từng viết, rằng ký hiệu trong nghệ thuật có đặc tính hình tượng, tạo hình, chứ không mang tính ước lệ giống như trong ngôn ngữ. Luận điểm hoàn toàn hiển nhiên với các nghệ thuật tạo hình này khi vận vào nghệ thuật ngôn từ sẽ kéo theo hàng loạt kết luận quan trọng. Các ký hiệu tạo hình được kiến tạo theo nguyên tắc ràng buộc lẫn nhau giữa biểu hiện và nội dung. Do đó rất khó phân định các bình diện nội dung và biểu hiện theo ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ học cấu trúc. Ký hiệu mô hình hoá nội dung của nó. Thay vì phân định ngữ nghĩa rạch ròi, ở đây chỉ có sự bện kết phức tạp: yếu tố ngữ đoạn ở cấp độ này trong trình tự thứ bậc của văn bản hoá ra lại là yếu tố ngữ nghĩa ở cấp độ khác.

    Nhưng ở đây cũng cần nhớ, rằng chính những yếu tố ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên luôn vạch ra ranh giới của các ký hiệu và chia tách văn bản thành các đơn vị ngữ nghĩa. Xoá bỏ cặp đối lập “ngữ nghĩa – cú pháp” sẽ làm mờ ranh giới của ký hiệu. Nói: tất cả các yếu tố của văn bản thực chất đều là các yếu tố ngữ nghĩa – cũng tức là nói: trong trường hợp này, khái niệm văn bản đồng nhất với khái niệm ký hiệu.

    Ở một phương diện nào đó, vấn đề đúng là như vậy: văn bản là một ký hiệu toàn vẹn, và trong đó, tất cả các ký hiệu riêng lẻ của văn bản bằng ngôn ngữ chung đều quy về cấp độ các yếu tố của ký hiệu. Bởi vậy, mỗi văn bản nghệ thuật là một ký hiệu cấu trúc độc nhất vô nhị, ad hoc[1] của một nội dung đặc biệt. Thoạt nghe, điều này có vẻ như mâu thuẫn với luận điểm ai cũng biết, theo đó, chỉ những yếu tố thường xuyên lặp lại tạo thành một tập hợp khép kín nào đó mới có khả năng truyền đạt thông tin. Nhưng mâu thuẫn ở đây chỉ mang tính bề ngoài. Thứ nhất, như chúng tôi đã chỉ ra, cấu trúc ngẫu nhiên của mô hình do nhà văn sáng tạo ra được áp đặt cho người đọc như ngôn ngữ nhận thức của anh ta. Tính ngẫu nhiên được thay thế bằng tính phổ quát. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ký hiệu “độc nhất vô nhị” hoá ra là ký hiệu được “tập hợp” từ những yếu tố mang tính loại hình và ở một cấp độ nào đó nó vẫn được đọc theo những quy tắc truyền thống, quen thuộc. Mọi tác phẩm cách tân đều được xây dựng bằng chất liệu truyền thống. Nếu văn bản không lưu giữ cho ký ức những cấu trúc truyền thống, thí sự cách tân của nó sẽ không được tiếp nhận.

    Văn bản tạo ra một ký hiệu cũng chính là một văn bản (trình tự các ký hiệu) được viết bằng một ngôn ngữ tự nhiên nào đó và nhờ thế mà nó vẫn duy trì được sự phân bố thành các từ – ký hiệu của hệ thống ngôn ngữ chung. Cho nên mới nảy sinh hiện tượng mang tính đặc thù của riêng nghệ thuật, theo đó, cùng một văn bản, nếu áp vào những bộ mã khác nhau, nó sẽ rã ra thành những ký hiệu theo một cách khác nhau.

    Có một quá trình đầy mâu thuẫn diễn ra đồng thời với sự chuyển hoá của các ký hiệu ngôn ngữ chung thành các yếu tố của một ký hiệu nghệ thuật. Được đặt vào cùng dẫy với một số lặp lại theo sự điều chỉnh, các yếu tố ký hiệu trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên – các âm vị, hình vị – được ngữ nghĩa hoá và trở thành các ký hiệu. Bởi vậy, cùng một văn bản, người ta vừa có thể đọc như một chuỗi ký hiệu được tổ chức theo quy tắc của ngôn ngữ tự nhiên, vừa có thể đọc như một trình tự các ký hiệu tương đối lớn hơn so với sự chia tách văn bản thành các từ, cho tới tận biến văn bản thành một ký hiệu duy nhất, lại cũng vừa có thể đọc như một chuỗi các ký hiệu được tổ chức theo kiểu đặc biệt, tương đối nhỏ hơn so với từ, cho tới tận âm vị.

    Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng, sự hợp nhất các ranh giới của ký hiệu với ranh giới của văn bản sẽ xoá bỏ vấn đề cấu trúc ngữ đoạn. Văn bản được khảo sát theo cách ấy có thể tách ra thành các ký hiệu và được tổ chức phù hợp về mặt ngữ đoạn. Nhưng cái đó sẽ không phải là tổ chức ngữ đoạn của chuỗi dây chuyền, mà là tổ chức ngữ đoạn của thứ bậc: các ký hiệu sẽ gắn kết với nhau giống như những con búp bê – Matryoshka, con này được đặt trong lòng con kia.

    Kiểu tổ chức ngữ đoạn như vậy hoàn toàn mang tính thực tế đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật, và nếu nó tỏ ra xa lạ với nhà ngôn ngữ học thì nhà lịch sử học lại dễ dàng tìm thấy sự lặp lại của nó ví như trong cấu trúc thế giới được nhìn bằng đôi mắt của thời trung đại.

    Với nhà tư tưởng thời trung đại, thế giới không phải là tổng thể các bản chất, mà là bản chất, không phải là câu văn, mà là một từ. Nhưng từ ấy được cấu tạo bằng những từ riêng lẻ theo trật tự đẳng cấp, tựa như từ này đặt trong từ kia. Chân lý không nằm ở sự tích luỹ số lượng, mà ở sự đào sâu (không cần đọc nhiều sách, tức là nhiều từ, mà chỉ cần chăm chú vào một từ, không tích luỹ tri thức mới, mà chỉ luận bàn tri thức cũ).

    Từ những gì đã nói có thể rút ra, dù có cơ sở ở ngôn ngữ tự nhiên, nhưng nghệ thuật ngôn từ chỉ dựa vào đó để cải tạo nó thành ngôn ngữ của mình, ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ nghệ thuật. Mà bản thân ngôn ngữ nghệ thuật là một trật tự đẳng cấp phức tạp của nhiều ngôn ngữ có quan hệ tương tác với nhau, nhưng không giống nhau. Đây là lý do giải thích vì sao với một văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại rất nhiều cách đọc. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên sự bão hoà ý nghĩa nghệ thuật mà không một một thứ ngôn ngữ phi nghệ thuật nào khác có thể đạt được. Nghệ thuật là phương thức lưu trữ và chuyển tải thông tin được nén chặt và tiết kiệm nhất. Nhưng nghệ thuật cũng sở đắc những phương tiện khác rất đáng được các chuyên gia – điều khiển học, và sau đó, các kỹ sư – thiết kế quan tâm.

    Có khả năng cô đặc một lượng thông tin khổng lồ trên một “mặt bằng” văn bản không lớn (thử so sánh một truyện ngắn của Sekhov với một cuốn sách giáo khoa tâm lý học), văn bản nghệ thuật còn có thêm một đặc điểm: nó cung cấp cho người đọc khác nhau những thông tin khác nhau tuỷ theo mức độ hiểu biết của từng người, nó còn trao cho người đọc cái ngôn ngữ để khi sử dụng có thể lĩnh hội được phần tri thức tiếp theo ở những lần đọc lại. Nó hành xử như một cơ thể sống động nào đó tồn tại trong quan hệ đối thoại với người đọc, huấn luyện cho người đọc ấy.

    Có thể đạt được điều trên bằng những phương tiện gì? Câu hỏi ấy không chỉ khiến nhà nhân văn học phải ngẫm nghĩ. Chỉ cần hình dung có một cơ cấu nào đó được kiến tạo theo kiểu tương tự như thế để chuyển tải thông tin khoa học cũng đủ để hiểu rằng, việc khám phá bản chất của nghệ thuật như một hệ thống giao tiếp có thể tạo ra bước ngoặt trong phương pháp lưu trữ và chuyển tải thông tin./

    Người dịch: Lã Nguyên

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm
  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Khái Niệm Chung Về Ngôn Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngôn Ngữ Là Một Hệ Thống Tín Hiệu Đặc Biệt
  • Sách Mới: Từ Điển Khái Niệm Ngôn Ngữ Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Cơ Thể
  • Nghĩa Của Từ Là Gì, Cho Ví Dụ Lớp 6
  • Nghĩa Của Từ Là Gì ?
  • 1. Khái niệm chung về ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử – xã hội nảy sinh trong hoạt động thực tiễn của con người. Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa có nhu cầu trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm… Nhờ đó đến một giai đoạn phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung để giao tiếp, trong đó có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dần dần tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ.

    Vậy ngôn ngữ là gì? Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ đặc biệt dùng làm phương tiện giao tiếp và làm công cụ tư duy.

    Kí hiệu từ ngữ là một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh thần của con người, là một hiện tượng của nền văn hoá tinh thần của loài người,

    Kí hiệu từ ngữ là một hệ thống, trong đó mỗi kí hiệu chỉ có ý nghĩa và thực hiện một chức năng nhất định ở trong hệ thống của mình.

    Ngôn ngữ gồm ba bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản…. Bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng chứa đựng phạm trù ngữ pháp và phạm trù lôgic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các quy định việc thành lập từ và câu, quy định sự phát âm. Phạm trù ngữ pháp ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau. Phạm trù lôgic là quy luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, vì vậy tuy dùng các ngôn ngữ (tiếng nói) khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.

    Ngôn ngữ có tác động thay đổi hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt động bên trong của con người. Nó hướng vào và làm trung gian hoá cho các hoạt động tâm lý cấp cao của con người như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng…

    Ngôn ngữ do cá nhân tiến hành có thể có những xu hướng, mục đích khác nhau nhằm truyền đạt một thông báo mới, những tri thức mới, giải quyết một nhiệm vụ tư duy mới…

    Ngôn ngữ của mỗi cá nhân phát triển cùng với năng lực nhận thức của cá nhân đó và bao giờ cũng mang dấu ấn của những đặc điểm tâm lý riêng. Song ngôn ngữ của mỗi cá nhân không chỉ phản ánh nghĩa của các từ mà còn phản ánh cả thái độ của bản thân đối với đối tượng của ngôn ngữ và đối với người đang giao tiếp. Việc nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ trong quá trình phát triển cá thể là nhiệm vụ của Tâm lý học. Vì thế ngôn ngữ là một hoạt động tâm lý, là đối tượng của tâm lý học. Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người. Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ thể hiện ở cách phát âm, ở giọng điệu, cách dùng từ, cách biểu đạt nội dung tư tưởng, tình cảm.

    1.2. Các chức năng cơ bản của ngôn ngữ

      Chức năng chỉ nghĩa: Chỉ nghĩa là quá trình dùng một từ, một câu đều chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó với một sự vật, hiện tượng (ví dụ từ “cái bút” chỉ một vật dùng để viết, vẽ…).
      Chức năng thông báo: Mỗi quá trình ngôn ngữ đều chứa đựng một nội dung thông tin, sự biểu cảm dùng để truyền đạt từ người này tới người kia, hay tự mình nói với bản thân mình bằng ngôn ngữ thầm.
      Chức năng điều khiển, điều chỉnh: Con người trong quá trình giao tiếp nhận được thông tin từ người khác và cũng phát ra thông tin cho người khác. Nhận được thông tin ấy con người thường kịp thời điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình cho phù hợp với nội dung thông tin đó và hoạt động của bản thân. Đồng thời ngôn ngữ có chức năng thiết lập và giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động (trong đó có hoạt động trí tuệ). Nó bao gồm việc kế hoạch hóa hoạt động, thực hiện hoạt động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đề ra.

    Trong ba chức năng của ngôn ngữ nêu trên, chức năng thông báo là chức năng cơ bản nhất. Chỉ trong quá trình giao tiếp con người mới thu nhận được các tri thức, do đó một điều chỉnh được hành vi của mình cho thích hợp với hoàn cảnh sống. Còn chức năng chỉ nghĩa là điều kiện để thực hiện hai chức năng trên.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Giáo trình Tâm lý học đại cương
    • Tác giả: Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Văn Thạc – Trần Quốc Thành – Hoàng Anh – Lê Thị Bừng – Vũ Kim Thanh – Nguyễn Kim Quý – Nguyễn Thị Huệ – Nguyễn Đức Sơn
    • Nguồn: Nhà Xuất bản Đại học Sư Phạm, 2007

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Máy Biến Áp? Công Suất Máy Biến Áp?
  • Khái Niệm Chung Của Máy Biến Áp 3 Pha
  • Máy Biến Áp Là Gì? Những Định Nghĩa Chính Xác Nhất Về Máy Biến Áp
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Về Máy Biến Áp
  • Khái Niệm Chung Của Máy Biến Áp
  • Khái Niệm Về Ngôn Ngữ Lập Trình

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Chữ Viết
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Ngôn Ngữ Báo Chí Là Gì Và Cách Sử Dụng Ngôn Ngữ Báo Chí Chuẩn
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Việc Làm It Phần Mềm Và Tin Công Nghệ
  • Như chúng ta đã biết, máy tính bao gồm phần cứng là các thiết bị điện tử trong đó thông tin được biểu diễn dưới dạng số nhị phân và phần mềm bao gồm các chương trình được tạo ra bằng cách sử dụng các ngôn ngữ lập trình.

    Như vậy ngôn ngữ lập trình (NNLT) là ngôn ngữ dùng để viết các chương trình cho máy tính. Cũng như các ngôn ngữ thông thường, NNLT cũng có từ vựng, cú pháp và ngữ nghĩa.

    Theo tiến trình lịch sử phát triển, ngôn ngữ lập trình có thể được chia ra làm ba loại chủ yếu như sau:

    Ngôn ngữ máy (machine language) l à các chỉ thị dưới dạng nhị phân, can thiệp trực tiếp vào trong các mạch điện tử. Chương trình được viết bằng ngôn ngữ máy thì có thể được thực hiện ngay không cần qua bước trung gian nào. Tuy nhiên chương trình viết bằng ngôn ngữ máy dễ sai sót, cồng kềnh và khó đọc, khó hiểu vì toàn những con số 0 và 1.

    Hợp ngữ là một bước tiến vượt bậc đưa ngôn ngữ lập trình thoát ra khỏi ngôn ngữ máy khó hiểu. Ngôn ngữ này xuất hiện vào những năm 1950, nó được thiết kế để máy tính trở nên thân thiện hơn với người sử dụng. Hợp ngữ đưa ra khái niệm biến (variable), nhờ đó mà ta có thể gán một ký hiệu cho một vị trí nào đó trong bộ nhớ mà không phải viết lại địa chỉ này dưới dạng nhị phân mỗi lần sử dụng. Hợp ngữ cũng chứa vài “phép toán giả”, tức là ta có thể biểu biễn mã phép toán dưới dạng phát biểu (hay còn gọi là câu lệnh) thay vì dưới dạng nhị phân. Các câu lệnh bao gồm hai phần: phần mã lệnh (viết tựa tiếng Anh) chỉ phép toán cần thực hiện và phần tên biến chỉ địa chỉ chứa toán hạng của phép toán đó.

    Ðể máy thực hiện được một chương trình viết bằng hợp ngữ thì chương trình đó phải được dịch sang ngôn ngữ máy. Công cụ thực hiện việc dịch đó được gọi là Assembler

    Ngôn ngữ cấp cao (High level language): là ngôn ngữ được tạo ra và phát triển nhằm phản ánh cách thức người lập trình nghĩ và làm. Ngôn ngữ cấp cao rất gần với ngôn ngữ con người (Anh ngữ) nhưng chính xác như ngôn ngữ toán học. Nhờ ngôn ngữ cấp cao mà lĩnh vực lập trình trở nên phổ biến, rất nhiều người có thể viết được chương trình, và nhờ thế mà các phần mềm phát triển như vũ bão, phục vụ nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Cùng với sự phát triển của các thế hệ máy tính, ngôn ngữ lập trình cấp cao cũng được phát triển rất đa dạng và phong phú, việc lập trình cho máy tính vì thế mà cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau: lập trình cấu trúc, lập trình hướng đối tượng, lập trình logic, lập trình hàm… Một chương trình viết bằng ngôn ngữ cấp cao được gọi là chương trình nguồn (source programs). Ðể máy tính “hiểu” và thực hiện được các lệnh trong chương trình nguồn thì phải có một chương trình dịch để dịch chương trình nguồn (viết bằng ngôn ngữ cấp cao) thành chương trình đích.

    A programming language that is once removed from a computer’s machine language. Machine languages consist entirely of numbers and are almost impossible for humans to read and write. Assembly languages have the same structure and set of commands as machine languages, but they enable a programmer to use names instead of numbers.

    Each type of CPU has its own machine language and assembly language, so an assembly language program written for one type of CPU won’t run on another. In the early days of programming, all programs were written in assembly language. Now, most programs are written in a high-level language such as FORTRAN or C. Programmers still use assembly language when speed is essential or when they need to perform an operation that isn’t possible in a high-level language.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5: Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Bài 5. Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Ngôn Ngữ Máy Là Gì? Những Bạn Cần Biết Về Ngôn Ngữ Này
  • Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Khái Niệm Chung Về Ngôn Ngữ – Kipkis

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Nguồn Nhân Lực Của Tổ Chức
  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Giáo Án Sinh 12 Tiết 3: Điều Hoà Hoạt Động Gen
  • Oop Là Gì? 4 Đặc Tính Cơ Bản Của Oop
  • Oop Là Gì? Giải Thích Về Lập Trình Hướng Đối Tượng
  • 1. Khái niệm chung về ngôn ngữ

    1.1. Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử – xã hội nảy sinh trong hoạt động thực tiễn của con người. Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa có nhu cầu trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm… Nhờ đó đến một giai đoạn phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung để giao tiếp, trong đó có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dần dần tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ.

    Vậy ngôn ngữ là gì? Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ đặc biệt dùng làm phương tiện giao tiếp và làm công cụ tư duy.

    Kí hiệu từ ngữ là một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh thần của con người, là một hiện tượng của nền văn hoá tinh thần của loài người,

    Kí hiệu từ ngữ là một hệ thống, trong đó mỗi kí hiệu chỉ có ý nghĩa và thực hiện một chức năng nhất định ở trong hệ thống của mình.

    Ngôn ngữ gồm ba bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản…. Bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng chứa đựng phạm trù ngữ pháp và phạm trù lôgic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các quy định việc thành lập từ và câu, quy định sự phát âm. Phạm trù ngữ pháp ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau. Phạm trù lôgic là quy luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, vì vậy tuy dùng các ngôn ngữ (tiếng nói) khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.

    Ngôn ngữ có tác động thay đổi hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt động bên trong của con người. Nó hướng vào và làm trung gian hoá cho các hoạt động tâm lý cấp cao của con người như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng…

    Ngôn ngữ do cá nhân tiến hành có thể có những xu hướng, mục đích khác nhau nhằm truyền đạt một thông báo mới, những tri thức mới, giải quyết một nhiệm vụ tư duy mới…

    Ngôn ngữ của mỗi cá nhân phát triển cùng với năng lực nhận thức của cá nhân đó và bao giờ cũng mang dấu ấn của những đặc điểm tâm lý riêng. Song ngôn ngữ của mỗi cá nhân không chỉ phản ánh nghĩa của các từ mà còn phản ánh cả thái độ của bản thân đối với đối tượng của ngôn ngữ và đối với người đang giao tiếp. Việc nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ trong quá trình phát triển cá thể là nhiệm vụ của Tâm lý học. Vì thế ngôn ngữ là một hoạt động tâm lý, là đối tượng của tâm lý học. Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người. Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ thể hiện ở cách phát âm, ở giọng điệu, cách dùng từ, cách biểu đạt nội dung tư tưởng, tình cảm.

    1.2. Các chức năng cơ bản của ngôn ngữ

    • Chức năng chỉ nghĩa: Chỉ nghĩa là quá trình dùng một từ, một câu đều chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó với một sự vật, hiện tượng (ví dụ từ “cái bút” chỉ một vật dùng để viết, vẽ…).
    • Chức năng thông báo: Mỗi quá trình ngôn ngữ đều chứa đựng một nội dung thông tin, sự biểu cảm dùng để truyền đạt từ người này tới người kia, hay tự mình nói với bản thân mình bằng ngôn ngữ thầm.
    • Chức năng điều khiển, điều chỉnh: Con người trong quá trình giao tiếp nhận được thông tin từ người khác và cũng phát ra thông tin cho người khác. Nhận được thông tin ấy con người thường kịp thời điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình cho phù hợp với nội dung thông tin đó và hoạt động của bản thân. Đồng thời ngôn ngữ có chức năng thiết lập và giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động (trong đó có hoạt động trí tuệ). Nó bao gồm việc kế hoạch hóa hoạt động, thực hiện hoạt động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đề ra.

    Trong ba chức năng của ngôn ngữ nêu trên, chức năng thông báo là chức năng cơ bản nhất. Chỉ trong quá trình giao tiếp con người mới thu nhận được các tri thức, do đó một điều chỉnh được hành vi của mình cho thích hợp với hoàn cảnh sống. Còn chức năng chỉ nghĩa là điều kiện để thực hiện hai chức năng trên.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Giáo trình Tâm lý học đại cương
    • Tác giả: Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Văn Thạc – Trần Quốc Thành – Hoàng Anh – Lê Thị Bừng – Vũ Kim Thanh – Nguyễn Kim Quý – Nguyễn Thị Huệ – Nguyễn Đức Sơn
    • Nguồn: Nhà Xuất bản Đại học Sư Phạm, 2007

    “Like” us to know more!

    Knowledge is power

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Biến Áp Là Gì? Cách Phân Loại Máy Biến Áp Đơn Giản Nhất
  • Máy Biến Áp Là Gì Và Công Dụng Của Máy Biến Áp
  • Bật Mí Những Hữu Ích Về Máy Biến Áp Mà Bạn Nên Biết
  • Khái Niệm, Cấu Tạo Và Phân Loại Máy Biến Áp
  • Khái Niệm Về Mặt Tròn Xoay – Mặt Nón, Mặt Trụ
  • Khái Niệm Python Là Gì? Lịch Sử Hình Thành Ngôn Ngữ Lập Trình Python

    --- Bài mới hơn ---

  • Giao Thoa Giao Tiếp Anh Việt Và Sốc Văn Hoá
  • Chuyên Đề: Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non
  • Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Em
  • Trẻ Phát Triển Ngôn Ngữ Thế Nào Trong 4 Năm Đầu Đời?
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu ngôn ngữ Python là gì để có thể hình dung được ứng dụng của nó đối với thực tiễn hiện nay.

    Python là một ngôn ngữ lập trình thông dụng, định hướng đối tượng bậc cao, mạnh mẽ được tạo ra bởi kiểu động và được sử dụng với cơ chế cấp phát bộ tự động.

    Không quá phức tạp và khó triển khai, Python chủ yếu dành cho các tín đồ mới ” nhập môn” vào ngôn ngữ lập trình. Tuy nhiên ngôn ngữ này cũng rất chặt chẽ, nhanh và khá mạnh khi xuất hiện chủ yếu ở các hệ điều hành.

    Python như một chiếc ” chìa khóa” vàng, mở cửa cho những ai có đam mê và muốn tìm hiểu về ngôn ngữ lập trình với nhiều bí ẩn thú vị, giúp bạn khai sáng tư duy và qua đó cũng có thể kiếm cho mình một khoản khá hời nếu khai thác triệt để lĩnh vực này.

    Ngôn ngữ lập trình Python đã và đang được nhiều người tin dùng và lựa chọn.

    Lịch sử hình thành ngôn ngữ lập trình Python

    Được lập trình viên Guido Van Rossum ” thai nghén” vào cuối năm 1980 và chính thức ” trình làng” vào tháng 2 năm 1991, tính đến nay ngôn ngữ Python đã trở thành ngôn ngữ lập trình thông dụng phổ biến được nhiều người lựa chọn.

    Ông tạo ra ngôn ngữ này với mục đích truy cập vào những cuộc gọi hệ thống Amoeba. Vì vậy, ông quyết định tạo ra một ngôn ngữ mở rộng.

    Không mãi dậm chân tại chỗ, để phù hợp với những xu thế công nghệ hiện nay, ngôn ngữ Python liên tục làm mới mình, khi cập nhật và cho ra đời 6 phiên bản mới.

    Phiên bản đầu tiên được ra đời vào tháng 1/1994 và phiên bản mới đây nhất là vào ngày 23/12/20016. Những phiên bản của Python đó là:

    • Python 1.0: Đây là phiên bản đầu tiên được phát hành vào 01/1994.
    • Python 1.6: Phiên bản 1.x cuối cùng phát hành vào 05/09/2000.
    • Python 2.0: Phiên bản giới thiệu list comphension vào 16/10/2000.
    • Python 2.7: Phiên bản 2.x cuối cùng phát hành vào 03/07/2010.
    • Python 3.0: Phiên bản loại bỏ cấu trúc và mô đun trùng lặp phát hành vào 3/12/2008.
    • Python 3.6: Phiên bản mới nhất tính cho tới thời điểm hiện tại phát hành vào 23/12//2016.

    Tính năng của Python trong các ứng dụng về công nghệ hiện nay

    Không ai mất công nghiên cứu ra một công trình khoa học mà các tính năng của nó lại không đem lại những ưu điểm nổi bật nào hết. Ngôn ngữ Python ra đời như một ” điểm nhấn” nổi trội trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói chung và ngôn ngữ lập trình nói riêng, với những tính năng nổi trội mà nó đem lại như sau:

    Ngôn ngữ lập trình đơn giản, dễ học

    So với các ngôn ngữ khác như Java, C++, C#…thì ngôn ngữ lập trình Python đơn giản và dễ học hơn nhiều, chính vì thế mà các lập trình viên mới ” nhập môn” đều ưa thích.

    Bởi lẽ sử dụng ngôn ngữ Python sẽ rút ngắn thời gian nghiên cứu và tìm hiểu về những giải pháp hơn là cú pháp khi phát triển phần mềm bằng ngôn ngữ này, vừa tiết kiệm thời gian nhưng lại đem lại giá trị về thực tiễn lẫn kinh tế.

    Có một số ngôn ngữ lập trình bạn buộc lòng phải chi trả một mức phí nhất định để có thể học tập và cài đặt, thì Python lại hoàn toàn miễn phí.

    Đặc biệt hơn nữa bạn có thể sử dụng ngôn ngữ Python cho mục đích thương mại hóa của mình. Bên cạnh đó, vì là ngôn ngữ mã nguồn mở nên bạn hoàn toàn có thể thay mã nguồn của nó.

    Khả năng mở rộng và có thể nhúng

    Bạn có thể di chuyển các chương trình ngôn ngữ Python từ nền tảng này sang nền tác khác như Windows, Macos hay Linux.

    Hiểu một cách chuyên môn, bạn có thể lấy một mã và chạy nó trên bất kỳ máy nào, không cần phải viết mã khác nhau cho các máy khác nhau.

    Bạn có thể kết hợp ngôn ngữ Python với các phần code của ngôn ngữ lập trình C, C++ vào phần code của lập trình Python. Sự kết hợp ngày sẽ giúp ứng dụng được tích hợp nhiều tính năng tốt hơn.

    Ngôn ngữ thông dịch cấp cao

    Thay vì phải mất công quản lý bộ nhớ, dọn dẹp những dữ liệu không cần thiết để giảm tải bộ nhớ thì Python sẽ tự động chuyển đổi sang ngôn ngữ mà máy tính có thể hiểu được.

    Đây cũng là tính năng nổi trội mà ngoài Python ra thì các ngôn ngữ lập trình khác như C hoặc C++ không làm được.

    Nhằm giúp cho việc lập trình của các lập trình viên trở nên đơn giản và dễ dàng hơn, Python đã tạo cho mình một lượng thư viện tiêu chuẩn cực lớn nhằm giải quyết nhanh những tác vụ phổ biến.

    Thư viện tiêu chuẩn này đã được kiểm tra kỹ lưỡng và được sử dụng bởi hàng trăm người. Cho nên, bạn hoàn toàn có thể yên tâm rằng nó sẽ không gây ảnh hưởng đến phần code cũng như ứng dụng của bạn.

    Tất cả mọi thứ trong ngôn ngữ lập trình Python đều là hướng đối tượng, giúp bạn giải quyết được những vấn đề phức tạp một cách trực quan nhất.

    Vì vậy, trong quá trình sử dụng Python để lập trình ứng dụng bạn có thể chia những vấn đề phức tạp thành những tập nhỏ hơn bằng các tạo ra các đối tượng.

    Python có vai trò gì trong ngành lập trình

    Ngôn ngữ Python được tạo ra như một cú hích mạnh vào ngành công nghệ thông tin, khai sáng ra nhiều cơ hội cho ngành lập trình.

    Với ngôn ngữ Python bạn dường như không còn mất quá nhiều thời gian vào việc tìm hiểu mà chỉ cần đầu tư nghiên cứu và tìm cho mình cơ hội để khai thác triệt để những ứng dụng của nó để kiếm cho mình những khoản thu béo bở.

    Ngôn ngữ Python giúp cho việc tìm hiểu, học tập và nghiên cứu công nghệ thông tin trở nên dễ dàng hơn, giúp tiết kiệm thời gian nhiều hơn, nhưng mang lại lợi ích cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lập Trình Là Gì? Lập Trình Và Các Loại Ngôn Ngữ Lập Trình Phổ Biến
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? Khái Niệm Ngôn Ngữ Lập Trình Ngắn Gọn, Dễ Hiểu Nhất
  • Phát Triển Lời Nói Mạch Lạc Cho Trẻ Mẫu Giáo Lớn Thông Qua Hình Thức Dạy Trẻ Kể Chuyện Sáng Tạo
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 84 Tiếng Việt : Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Ngon_Ngu_Hoc_Doi_Chieu Ngon Ngu Hoc Doi Chieu Ppt
  • Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản Và Cách Phân Biệt
  • 6 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản Và Cách Phân Biệt
  • Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ
  • Các Thao Tác Lập Luận Trong Văn Nghị Luận
  • Khái Niệm 6 Thao Tác Lập Luận
  • Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, 4 Văn Bản Được Viết Bằng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm Phong Cách Lãnh Đạo, Khái Niệm Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Gvmn, Khai Niêm Phong Cách Lam Viec Khoa Hoc, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khai Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Về Phong Cách Làm Việc Cua Gvmn, Khai Niem Cau Truc Dac Diem Va Yeu Cau Ve Phong Cach Cua Nguoi Giao Vien Mam Non, . Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., 1. Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm , Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm Ngôn Ngữ, Khái Niệm Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, ôn Tập 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Lớp 12 Violet, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Giáo án, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Nâng Cao, Bài 3 Khái Niệm Về Xà Phòng, Khái Niệm 3 Dòng Thác Cách Mạng, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Kháii Niệm Phong Cách Khoa Học Của Gvmn, Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm, Khái Niệm Quốc Phòng An Ninh, Khái Niệm An Ninh Quốc Phòng, Khái Niệm âm Chính, Khá Niêm Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Bài 1 Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình, Khái Niệm Luân Lí Xã Hội, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Văn Nghị Luận, Khái Niệm Luận Điểm, Khái Niệm 6 Thao Tác Lập Luận, Bài 7 Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Chỉnh Lưu, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Bình Luận Khái Niệm Quyền Tài Sản, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Cải Cách Hành Chính Và Các Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Lãnh Đạo Cấp Phòng, Cải Cách Hành Chính Và Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Lãnh Đạo Cấp Phòng, Cải Cách Hành Chính Và Các Vấn Đề Đặt Ra Với Lãnh Đạo Cấp Phòng, Bài Tham Luân Về Phong Cách ứng Xử, Chỉ Thị 05-ct/tw Của Bộ Chính Trị Về”Đẩy Mạnh Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ C, Chỉ Thị 05-ct/tw Của Bộ Chính Trị Về”Đẩy Mạnh Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ C, Bản Cam Kết Phong Cách Người Cand Bản Lĩnh Về Chính Trị, Bài Tiểu Luận Phong Cách Lãnh Đạo, Tiểu Luận Phong Cách Lãnh Đạo, Bài Tiểu Luận Về Phong Cách Lãnh Đạo, Tham Luận Xây Dựng Phong Cách, Bản Cam Đoan Phong Cách Người Cand Bản Lĩnh Về Chính Trị, Tiểu Luận Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh Và Lấy Ví Dụ Cụ Thể, Tiểu Luận Phong Cách Lãnh Đạo Quản Lý, Bản Cam Đoan Phong Cách Người Công An Nhân Dân Bản Lĩnh Về Chính Trị, Nang Cao Van Hoa Chinh Tri Cua Can Bo Lanh Dao Gan Voi Neu Cao Tinh Than Trach Nhiem, Phong Cach Guo, Nang Cao Van Hoa Chinh Tri Cua Can Bo Lanh Dao Gan Voi Neu Cao Tinh Than Trach Nhiem, Phong Cach Guo, Tiểu Luận Phong Cách Lãnh Đạo Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh, Tiểu Luận Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc, Tham Luận Xây Dựng Phong Cách Người Công An Bản Lĩnh Nhân Văn, Luận Văn Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Luận Văn Cải Cách Hành Chính, Bài Tham Luận Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Tham Luận Về Cải Cách Hành Chính, Tham Luận Cải Cách Hành Chính, Báo Cáo Tham Luận Cải Cách Hành Chính Cấp Xã, Bài Tham Luận Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Khóa Luận Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Khóa Luận Về Cải Cách Hành Chính, Khóa Luận Cải Cách Hành Chính, Tiểu Luận Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Luận Văn Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Hiệu Quả Công Việc Của Lực Lượng Kiểm Lâm, Luận Văn Tác Động Của Phong Cách Lãnh Đạo Chuyển Dạng Đến Hiệu Quả Công Việc Của Lực Lượng Kiểm Lâm , Tham Luận Về Cải Cách Hành Chính Cấp Huyện, Học Tập Và Làm Theo Phong Cach Lam Viec, Phong Cách ứng Xử Của Hcm, Tiểu Luận Tình Huống Về Cải Cách Hành Chính,

    Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, 4 Văn Bản Được Viết Bằng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm Phong Cách Lãnh Đạo, Khái Niệm Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Gvmn, Khai Niêm Phong Cách Lam Viec Khoa Hoc, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khai Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Về Phong Cách Làm Việc Cua Gvmn, Khai Niem Cau Truc Dac Diem Va Yeu Cau Ve Phong Cach Cua Nguoi Giao Vien Mam Non, . Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., 1. Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm , Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm Ngôn Ngữ, Khái Niệm Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, ôn Tập 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Lớp 12 Violet, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Giáo án, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Nâng Cao, Bài 3 Khái Niệm Về Xà Phòng, Khái Niệm 3 Dòng Thác Cách Mạng, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Kháii Niệm Phong Cách Khoa Học Của Gvmn, Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm, Khái Niệm Quốc Phòng An Ninh, Khái Niệm An Ninh Quốc Phòng, Khái Niệm âm Chính, Khá Niêm Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Bài 1 Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình, Khái Niệm Luân Lí Xã Hội, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Văn Nghị Luận, Khái Niệm Luận Điểm,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Các Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Cách Nhận Biết 6 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản
  • Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ
  • Khái Niệm Các Phương Thức Biểu Đạt
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Học Ứng Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Ngôn Ngữ Máy Là Gì? Những Bạn Cần Biết Về Ngôn Ngữ Này
  • Bài 5. Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Thuật ngữ “ngôn ngữ học ứng dụng” không có nghĩa biểu thị một sự ứng dụng đơn giản các thành tựu của khoa học về ngôn ngữ vào một lĩnh vực nào đó trong thực tiễn. Ngôn ngữ học ứng dụng là một hoạt động khoa học-thực tiễn đặc biệt có mục đích hoàn thiện các tiếp xúc ngôn ngữ trong xã hội.

    Việc ứng dụng ngôn ngữ học có thể mang tính lí thuyết và thực tiễn. Chẳng hạn, trong nhận thức luận và logic học, trong quá trình hình thành lí thuyết dân tộc, trong tâm lí học, sinh vật học và y học, trong sử học và tư liệu học lịch sử v.v… những thành tựu của ngôn ngữ học được sử dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể. Trong đó, các kết quả của ngôn ngữ học hoặc là những cứ liệu bổ sung hoặc là những phương tiện chứng minh để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn thuộc về trách nhiệm của một lĩnh vực khoa học hoặc thực tế (y học, luật học, sư phạm, lịch sử, kĩ thuật truyền thông v.v…).

    Ngôn ngữ học ứng dụng, khác với việc ứng dụng ngôn ngữ học, có lí thuyết riêng và lĩnh vực ứng dụng riêng của mình. Ngôn ngữ học ứng dụng, để giải quyết nhiệm vụ của mình, sử dụng phương pháp của những ngành khoa học khác nhau: vật lí học (trong lĩnh vực âm học, lí thuyết dao động điện từ, quang học), tin học, xã hội học, y học, luật học v.v… Là một ngành khoa học ứng dụng, ngôn ngữ học ứng dụng phải giải quyết các nhiệm vụ có tính xây dựng và đưa chúng vào thực tế xã hội. Các kết quả trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng được đánh giá không giống như trong các khoa học cơ bản (sự phù hợp giữa lí thuyết và đối tượng), mà giống như trong kĩ thuật, nghĩa là thông qua sự hiểu biết các tiền lệ và thông qua sự sáng tạo các sản phẩm mới trong lĩnh vực văn hoá (vật chất, vật lí, tinh thần). Ngôn ngữ học cơ bản phục vụ cho việc hình thành chuẩn ngôn ngữ trên cơ sở lí thuyết; ngôn ngữ học ứng dụng dùng chuẩn như cái có sẵn, không bàn luận về nó, và đưa chuẩn ngôn ngữ vào thực tế xã hội ngôn ngữ.

    Sự hoàn thiện giao tiếp ngôn ngữ – nhiệm vụ của ngôn ngữ học ứng dụng – có thể được hiện thực hoá trong ba lĩnh vực:

    1. Hoàn thiện hình thức và kĩ thuật sản xuất các kí hiệu ngôn ngữ, các phương tiện kĩ thuật để truyền, lưu giữ và thay đổi các kí hiệu ngôn ngữ, các phương tiện thu các tín hiệu ngôn ngữ. Lĩnh vực này của ngôn ngữ học ứng dụng được gọi là kí hiệu học ngôn ngữ.

    2. Hoàn thiện giao tiếp bằng ngôn ngữ bằng cách dạy mọi người nắm vững ngôn ngữ được chuẩn hoá, dạy xây dựng các hình thức và kĩ năng chuẩn trong lời nói. Tất cả các phương tiện vật chất-kĩ thuật của ngôn ngữ trong kí hiệu học ngôn ngữ có thể hành chức được, chỉ khi mọi người đều có khả năng sử dụng chúng. Do vậy, việc dạy mọi người hoàn thiện giao tiếp bằng ngôn ngữ được gọi là dạy học ngôn ngữ (hoặc giáo dục ngôn ngữ).

    3. Để có thể dạy mọi người về những phương tiện kĩ thuật mới của kí hiệu học ngôn ngữ, cần thiết phải tiến hành việc chức năng hoá các văn bản về mặt xã hội. Muốn làm được việc này cần phải có những quy tắc, theo đó mà sản sinh, truyền bá và lưu giữ văn bản; cần có những cơ quan truyền thông tương ứng kiểm tra hoạt động của các quy tắc. Các cơ quan truyền thông đảm bảo sự phân bổ, lưu giữ, sửa chữa và truyền đạt các văn bản tới những người quan tâm. Hoạt động của các cơ quan truyền thông được gọi là phục vụ thông tin.

    Kí hiệu học ngôn ngữ, dạy học ngôn ngữ và phục vụ thông tin làm thành ba khía cạnh của một quá trình thống nhất trong hoàn thiện giao tiếp bằng ngôn ngữ của xã hội. Quá trình này thường bắt đầu bằng những phát minh về kĩ thuật và những khám phá trong kí hiệu học ngôn ngữ. Sự hoàn thiện trong lĩnh vực kí hiệu học kéo theo sự chuyên môn hoá các chức năng xã hội của ngôn ngữ và sự khái quát hoá trong các quy tắc ngôn ngữ.

    Bất kì một phát minh kĩ thuật nào cũng làm nảy sinh phương thức sử dụng nó một cách phù hợp. Đó, thứ nhất, là sự xác định ranh giới mà phát minh này có thể phát huy tác dụng có hiệu quả, và, thứ hai, là nhận thức về hệ thống các cơ quan, tổ chức tham gia đảm bảo cho hoạt động đó.

    Các lĩnh vực kể trên của kí hiệu học, dạy học và phục vụ thông tin là các lĩnh vực thực tiễn của ngôn ngữ. Các lĩnh vực này của thực tiễn là mục tiêu đáp ứng của các khoa học ứng dụng (với tên gọi như vậy). Sự trùng nhau về tên gọi giữa ngành khoa học ứng dụng với các lĩnh vực ứng dụng nó không nên bị hiểu nhầm là sự đánh đồng giữa khoa học với hoạt động thực tiễn. Hoạt động khoa học là hoạt động nhận thức, còn hoạt động thực tiễn là hoạt động tạo ra những đối tượng mới, hoàn thiện những cái đang có, và không ít khi kèm theo sự loại bỏ những cái đã lỗi thời. Hoạt động nhận thức, về nguyên tắc, có mối quan hệ với những lĩnh vực khoa học giáp ranh khác với hoạt động thực tiễn – một hoạt động sản sinh. Bên cạnh đó, nó không phải là ngẫu nhiên, bởi lẽ mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này rất chặt chẽ.

    Ngôn ngữ học ứng dụng là cơ sở, để từ đó phát triển ra các lĩnh vực khác của ngôn ngữ học. Phát minh ra chữ viết, sáng tạo văn học và văn bản dẫn đến sự ra đời của trường học. Các nhà ghi sử của Ai Cập cổ được đào tạo như các nhà ngôn ngữ học ứng dụng. Họ biết viết trên các chất liệu khác nhau, bằng những phương tiện khác nhau, làm nhiều công việc hành chính khác nhau, giảng dạy trong nhà trường, tham gia hoạt động quản lí và phục vụ cho khoa học, tư tưởng của Ai Cập cổ. Các nhà ngôn ngữ học ứng dụng hiện đại, về thực chất, cũng hoạt động trong những lĩnh vực như vậy, nhưng họ giải quyết những vấn đề phức tạp hơn.

    * Yu.V. Rozhdestvenskij. Những bài giảng ngôn ngữ học đại cương. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 319-322.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học
  • Định Nghĩa Tiếng Nói & Ngôn Ngữ
  • Tuần 9. Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhận Biết 6 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản
  • Các Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản Và Cách Phân Biệt
  • Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí, Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Phong Cách Lãnh Đạo, Khai Niêm Phong Cách Lam Viec Khoa Hoc, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học, Khái Niệm Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Gvmn, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khai Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Về Phong Cách Làm Việc Cua Gvmn, Khai Niem Cau Truc Dac Diem Va Yeu Cau Ve Phong Cach Cua Nguoi Giao Vien Mam Non, 1. Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, . Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm , Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm Ngôn Ngữ, Khái Niệm Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, ôn Tập 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Giáo án, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Lớp 12 Violet, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Nâng Cao, Bài 3 Khái Niệm Về Xà Phòng, 4 Văn Bản Được Viết Bằng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm 3 Dòng Thác Cách Mạng, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Kháii Niệm Phong Cách Khoa Học Của Gvmn, Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm, Khái Niệm An Ninh Quốc Phòng, Khái Niệm Quốc Phòng An Ninh, Khá Niêm Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Bài 1 Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình, Học Tập Và Làm Theo Phong Cach Lam Viec, Phong Cách ứng Xử Của Hcm, Cách Viết Ngôn Ngữ 9x, Cách Tính Điểm Thi Ngôn Ngữ Anh, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Phong Trào Dân Vận Kheo, Học Tập, Làm Theo Tư Tương, Đạo Đứ,phong Cách Hồ, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Phong Trào Dân Vận Kheo, Học Tập, Làm Theo Tư Tương, Đạo Đứ,phong Cách Hồ , Cách Viết H Trong Ngôn Tình, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Oda, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm P, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm L/c, Khái Niệm 7p, Khái Niệm 6s, Khái Niệm 635, Khái Niệm 632, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 5s, Khái Niệm B/l, Khái Niệm 5m,

    Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí, Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Phong Cách Lãnh Đạo, Khai Niêm Phong Cách Lam Viec Khoa Hoc, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học, Khái Niệm Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Gvmn, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khai Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Về Phong Cách Làm Việc Cua Gvmn, Khai Niem Cau Truc Dac Diem Va Yeu Cau Ve Phong Cach Cua Nguoi Giao Vien Mam Non, 1. Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, . Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm , Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm Ngôn Ngữ, Khái Niệm Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, ôn Tập 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Giáo án, Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học Lớp 12 Violet, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Nâng Cao, Bài 3 Khái Niệm Về Xà Phòng, 4 Văn Bản Được Viết Bằng Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm 3 Dòng Thác Cách Mạng, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Kháii Niệm Phong Cách Khoa Học Của Gvmn, Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm, Khái Niệm An Ninh Quốc Phòng, Khái Niệm Quốc Phòng An Ninh, Khá Niêm Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Bài 1 Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình, Học Tập Và Làm Theo Phong Cach Lam Viec, Phong Cách ứng Xử Của Hcm, Cách Viết Ngôn Ngữ 9x, Cách Tính Điểm Thi Ngôn Ngữ Anh, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Phong Trào Dân Vận Kheo, Học Tập, Làm Theo Tư Tương, Đạo Đứ,phong Cách Hồ, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Phong Trào Dân Vận Kheo, Học Tập, Làm Theo Tư Tương, Đạo Đứ,phong Cách Hồ , Cách Viết H Trong Ngôn Tình, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Lực ở Lớp 6,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Các Phương Thức Biểu Đạt
  • Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt
  • Khái Niệm 6 Phương Thức Biểu Đạt
  • Định Nghĩa Và Phép Toán Về Số Phức, Trắc Nghiệm Toán Học Lớp 12
  • Không Đơn Thuần Chỉ Là Một Đại Dịch Phim Ảnh, Zombie Đã Tồn Tại Từ Lâu Trong Truyền Thuyết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100