Khái Niệm Phát Triển Bền Vững

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, các nhu cầu của con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn gần như không sao khắc phục được. Ví dụ, con người ta cần không khí sạch để thở nhưng đồng thời lại rất cần ô tô để đi lại, cần có củi để sưởi nhưng lại rất cần rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn và chống nước mặn xâm nhập hoặc các doanh nghiệp luôn cần sử dụng lao động với giá rẻ lại không có tiếng nói chung với những công nhân luôn cần được trả lương cao để có thể sống tốt hơn… Nếu mở rộng phạm vi ra một cộng đồng, một thành phố, một đất nước hay cả hành tinh này, điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia được công nghiệp hoá lại gây ra những trận mưa axít nguy hiểm cho các sông ngòi, hồ ao của các nước khác?

    Vấn đề đặt ra là loài người sẽ quyết định ra sao nếu trong bản thân họ lại luôn có những nhu cầu đối lập, mâu thuẫn nhau? Nhu cầu của ai sẽ được đáp ứng? Của người giàu hay người nghèo? Của công dân nước mình hay những người di tản từ nước khác đến? Của dân đô thị hay nông thôn? Dân nước này hay nước khác? Của ta hay là hàng xóm? Môi trường hay doanh nghiệp? Thế hệ này hay thế hệ sau?… Ai sẽ là người chịu trách nhiệm khi phải thoả hiệp để cân bằng các nhu cầu đối lập nhau? Những người quan tâm đến phát triển cho rằng việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai luôn phụ thuộc rất nhiều vào cách mà thế hệ hiện tại cân bằng các mục tiêu phát triển xã hội, kinh tế và môi trường. Sự cân bằng các nhu cầu kinh tế, xã hội và môi trường trong việc ra quyết định của một thế hệ sẽ ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu phát triển của các thế hệ tiếp theo.

    Theo cách đặt vấn đề như vậy, việc ra đời một khái niệm mới, khắc phục sự phiến diện của “tăng trưởng kinh tế” hay “phát triển” là vô cùng cần thiết. Điều quan trọng là phải đưa ra được một định nghĩa thật đơn giản về phát triển bền vững và một khuôn khổ các điều kiện tối thiểu để phát triển mang tính bền vững – những điều kiện mà sự tồn tại của chúng dựa trên cơ sở tồn tại bền vững của các nguồn dự trữ thiên nhiên theo thời gian. Nguồn dự trữ thiên nhiên ở đây là nguồn dự trữ của tất cả các nguồn lực tài nguyên môi trường và tự nhiên, từ dầu mỏ dưới lòng đất đến chất lượng đất và nước ngầm, từ nguồn dự trữ cá dưới đại dương đến khả năng của trái đất tái sinh và hấp thụ các-bon… Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào BVMT từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

    – Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.

    Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc .

    Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994. Mô hình này minh hoạ mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác, giống như lòng đỏ và lòng trắng của một quả trứng gà. Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau. Giống như một quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt, lòng trắng là môi trường để lòng đỏ phát triển, một xã hội chỉ phát triển bền vững khi cả con người và hệ sinh thái ở điều kiện tốt [82].

    Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định. Luận án đồng nhất lựa chọn và sử dụng mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn để phân tích, do mô hình này phản ánh rõ nhất phát triển bền vững là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT. Nói cách khác, phát triển bền vững đạt được trên cơ sở đảm bảo hài hoà được cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường.

    Khái niệm phát triển bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Khái Niệm Đô Thị Bền Vững (Scs )

    --- Bài mới hơn ---

  • Sud: Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Theo Phép Biện Chứng Duy Vật, Các Mối Liên Hệ Có Những Tính Chất Chung Nào? Cho Ví Dụ.
  • Chương 2 Phép Duy Vật Biện Chứng
  • Câu Hỏi Về Các Khái Niệm Và Quy Tắc Giao Thông Đường Bộ (Phần 5)
  • Nêu Các Hệ Cơ Quan Cấu Tạo Nên Cơ Thể Người1.cơ Thể Người Được Cấu Tạo Bởi Những Hệ Cơ Quan Nào?chức Năng Của Các Hệ Cơ Quan Đó? 2.thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tế Bào? 3.khái Niệm Về Phản Xạ, Cung Phản Xạ? 4.khớp Xương Là Gì?phân Loại Và Nêu Ví Dụ Cho Mỗi Loại Khớp Xương?
  • Chương trình nghị sự 21 được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh thế giới Rio de Janeiro, 1992, đã đề cập đến nhiều vấn đề môi trường có tính toàn cầu như hiện tượng Trái đất nóng dần lên, khủng hoảng lương thực, nhiên liệu, nước, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, nghèo đói, bệnh tật, cách kiếm sống V.V.. hay nói cách khác đó là “Chất lượng cuộc sống” hôm nay và trong tương lai.

    Để đạt được chất lượng cuộc sống tốt hơn, những thay đổi cơ bản cần phải được thực hiện ở cấp địa phương bởi các cá nhân, các nhóm xã hội và chính quyền địa phương, vì họ là người tổ chức và quyết định chất lượng cuộc sống của chính mình, chứ không ai khác. Do đó Chương trình nghị sự 21 địa phương (LA21) ra đời và điều này chỉ có thể đạt được bằng cách trao quyền cho những con người bình thường. Theo đó chính quyền địa phương đã được kêu gọi tham gia cùng các cộng đồng địa phương trong việc vạch ra kế hoạch hành động của địa phương mình. Vì thế đã làm xuất hiện nhiều ý tưởng mang đặc thù khu vực với những sắc thái xã hội riêng biệt hoặc đặc trưng từ một ngành phát triển nào đó. Có rất nhiều ý tưởng như vậy, trong đó ý tưởng về ” đô thị bền vững” là mối quan tâm nhạy cảm nhất.

    Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (Phần 5. Tổ chức thực hiện Phát triển bền vững), đã chỉ rõ: mỗi ngành, địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) cần xây dựng Định hướng chiến lược về phát triển bền vững nhằm khẳng định những hoạt động cụ thể của ngành, địa phương mình để tiến tới phát triển bền vững, trên cơ sở tham chiếu những định hướng lớn của “Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội” và “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”.

    Với tư cách là những người hoạt động trong lĩnh vực Quy hoạch xây dựng và Quản lý đô thị, việc xây dựng và tổ chức thực hiện “Định hướng chiến lược phát triển bền vững hệ thống đô thị Việt Nam” là một việc làm mang tính cấp bách, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển bền vững đất nước.

    Đô thị hoá diễn ra với quy mô ngày một mở rộng, tốc độ ngày một tăng cao là xu hướng diễn ra ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới từ ba, bốn thập niên trở lại đây, và có không ít những lo ngại đặt ra cho xã hội loài người. Trong giai đoạn hiện nay, thế giói của chúng ta đang trên ngưỡng đạt tới 50% dân số là dân cư đô thị, thì nhiều vấn đề được đặt ra và cần có sự trả lời, như:

    + Không gian đô thị được mở rộng như thế nào để chứa được số lượng cư dân ngày một dông đúc?

    + Cơ sở dịch vụ đô thị phải mở rộng như thế nào để đáp ứng được hoạt động của đô thị?

    + Môi trường tự nhiên trong đô thị phải làm cách nào để bảo vệ và không ngừng được nâng cao về mặt chất lượng?

    + Những vấn đề an ninh và an toàn đô thị phải được xem xét như thế nào?

    + Hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị phải đạt đến trình độ nào mới có khả nãng đáp ứng cho nhu cầu đô thị?

    + Làm thế nào để có đủ việc làm cho người dân đô thị?

    + Cách kiếm sống cũng như vấn đề công bằng và bình đẳng vể cơ hội được thực hiện như thế nào đẻ nâng cao sức sáng tạo cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư đô thị?

    v.v…

    Trước hàng loạt vấn đề được đặt ra như vậy, sự nỗ lực tìm kiếm về mặt lý luận cũng như kinh nghiệm rút ra từ những mô hình thực nghiệm đi đầu ở các khu vực và quốc gia trên thế giới đã đem lại kết quả. Trong “Báo cáo Phát triển con người, New York, 1990, UNDP” đã chỉ ra rằng “Việc đô thị hoá nhanh chóng không phải là khủng hoảng hay thảm kịch, nó chỉ

    là một thách thức đối với tương lai mà thôi. Quá trình đô thị hoá tạo ra nhiều thuận lợi và bất lợi cần được phân tích. Tuy nhiên đô thị hoá là con đường văn minh của loài người bởi các đô thị là nơi chủ yếu tạo ra của cải vật chất cho con người. Thu lợi nhiều từ đô thị hoá nhimg con người cũng phải trả giá không kém cho những bất lợi của nó. Chỉ có một con đường duy nhất để tránh được thách thức này là tạo ra đô thị bền vững “.

    Vậy đô thị bền vững là gì? Tiêu chí để xây dựng một đô thị bền vững ra sao? Vai trò cùa chính quyền địa phương trong phát triển và quản lý thực hiện đô thị bền vững như thê nào ? Tất cả là những kiến thức cơ bản về đô thị bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Luận Văn: Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Ở Hà Nội, Hay
  • Isrd: Tích Hợp Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Csrd: Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Khái Niệm Và Những Tiêu Chí Của Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Ở Thực Vật Có Hoa
  • Một Số Vấn Đề Cốt Yếu Về Xây Dựng Thể Chế Phát Triển Nhanh
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Bài 2: Kinh Tế Phát Triển Nhanh Và Bền Vững
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay: Khái Niệm Và Tiêu Chí Đánh Giá
  • Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.

    Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.

    Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” 1. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế – xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế – xã hội – môi trường.

    Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.

    Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.

    Từ nội hàm khái niệm phát triển bền vững, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường.

    Thứ nhất, bền vững kinh tế. Mỗi nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau:

    – Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế.

    – Trường hợp có tăng trưởng GDP cao nhưng mức GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn coi là chưa đạt yêu cầu phát triển bền vững.

    – Cơ cấu GDP cũng là vấn đề cần xem xét. Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững.

    – Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá.

    Thứ hai, bền vững về xã hội. Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi quốc gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.

    Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,… đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.

    Khái niệm về phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Thị Trường
  • Phát Triển Thị Trường Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Phát Triển Thị Trường Mua Bán Nợ
  • Làm Kế Toán: Khái Niệm Về Phát Triển Thị Trường Tiền Tệ
  • Phát Triển Thị Trường Là Gì? Chiến Lược Phát Triển Thị Trường
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Chữa Bệnh Tại Việt Nam: Đánh Thức Tiềm Năng
  • Khái Niệm Chung Về Phát Triển Bền Vững
  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Biển Đảo Cù Lao Chàm Tỉnh Quảng Nam
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm (Responsible Tourism) Là Gì? Nguyên Tắc Và Lợi Ích
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững, Khái Niệm 5 Vùng Biển, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển, Khái Niệm Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Quốc Gia, 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững, Lịch Sử Khai Phá Vùng Đất Nam Bộ, Khái Niệm Du Lịch, Huỳnh Lứa Và Các Tác Giả, Lịch Sử Khai Phá Vùng Đất Nam Bộ, Nxb Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi 1987., Khái Niệm Khách Du Lịch, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Mà Quốc Gia Ven Biển, Khai Thac Gia Tri Van Hoa Lich Su Trong Hoat Dong Du Lich, Từ Vựng Đi Du Lịch, Từ Vựng Về Du Lịch, Du Lịch Bền Vững, Từ Vựng Chủ Đề Du Lịch, Từ Vựng Du Lịch, Quan Niệm Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Trong Sạch Vững Manh Hiệu Quả, Khai Hoang Vùng Đất Nam Bộ, Du Lịch Bền Vững ở Việt Nam, Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Từ Vựng Du Lịch Tiếng Nhật, Đề án Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm B/l, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm M&e, Khái Niệm M&a, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm ăn, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Xâu, Khái Niệm ước, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm Oda, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm 511, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm C/o, Khái Niệm C,

    Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững, Khái Niệm 5 Vùng Biển, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển, Khái Niệm Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Quốc Gia, 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững, Lịch Sử Khai Phá Vùng Đất Nam Bộ, Khái Niệm Du Lịch, Huỳnh Lứa Và Các Tác Giả, Lịch Sử Khai Phá Vùng Đất Nam Bộ, Nxb Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi 1987., Khái Niệm Khách Du Lịch, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Mà Quốc Gia Ven Biển, Khai Thac Gia Tri Van Hoa Lich Su Trong Hoat Dong Du Lich, Từ Vựng Đi Du Lịch, Từ Vựng Về Du Lịch, Du Lịch Bền Vững, Từ Vựng Chủ Đề Du Lịch, Từ Vựng Du Lịch, Quan Niệm Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Trong Sạch Vững Manh Hiệu Quả, Khai Hoang Vùng Đất Nam Bộ, Du Lịch Bền Vững ở Việt Nam, Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Từ Vựng Du Lịch Tiếng Nhật, Đề án Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm B/l, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm M&e, Khái Niệm M&a, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Du Lịch Năm 2022
  • Bàn Về Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Giới Thiệu Luật Du Lịch 2022
  • Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Biển Đảo Phú Yên
  • Khái Niệm Phát Triển Đô Thị Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam: Tiêu Chí Đánh Giá Và Định Hướng Phát Triển
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Lý Thuyết Sinh Trưởng Và Phát Triển Ở Động Vật Sinh 11
  • Nêu Khái Niệm Về Biến Thái Và So Sánh Biến Thái Hoàn Toàn Và Không Hoàn Toàn
  • Khái Niệm Và Những Thách Thức Của Sự Phát Triển Bền Vững
  • Khái niệm về phát triển bền vững đầu tiên được đề cập vào năm1987 trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới (Brundtland Commission 1987). Khái niệm này cho rằng sự phát triển phải thỏa mãn nhu cầu của con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cả tương lai, phải đáp ứng cả yêu cầu kinh tế lẫn bảo vệ môi trường. Năm 1991 Ngân hàng châu Á (ADB) xác định thêm nội dung của phát triển bền vững, nhấn mạnh thêm khả năng của thế hệ hiện tại đáp ứng cho các nhu cầu của các thế hệ tương lai. Kể từ đó một phương pháp phát triển mới được định hình và được chấp nhận rộng rãi.

    Như vậy phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng: thứ nhất, phát triển sản xuất phải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thứ hai, phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, thế hệ ngày nay phải có trách nhiệm với các thế hệ sau trong việc để lại những di sản và tài nguyên có giá trị.

    Phương thức phát triển mới này được xây dựng với nội dung bao gồm ba vế phát triển kinh tế, phát triển môi trường và phát triển xã hội, là sự tổng hợp của các chỉ tiêu chủ yểu về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và nhất là hướng tới tương lai.

    Phát triển bền vững được áp dụng như thế nào trong bối cảnh phát triển đô thị?

    Dù cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững của Brundtland, nhiều nhà khoa học, dưới sự chi phối của lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển đô thị bền vững.

    Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vững như sau:

    · Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu và mặt bằng;

    · Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên;

    · Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở;

    · Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thịi;

    · Khuyến khích tiết kiệm nước;

    · Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;

    · Tái sinh vật liệu phế thải.

    Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính. Theo họ, phát triển đô thị bền vững có 4 tiêu chí:

    · Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;

    · Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;

    · Nền tài chính lành mạnh ( nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực );

    · Quản lý đô thị tốt.

    Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:

    · Lấy chỉ tiêu HDI nêu ra những kinh nghiệm xây dựng đô thị theo yêu cầu phát triển bền vững dựa trên kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức như sau:

    · Đánh giá đô thị dựa trên chỉ tiêu chất lượng cuộc sống;

    · Phát triển đô thị gắn chặt với phân vùng;

    · Thành phần tham gia vào quy hoạch đô thị không chỉ có chính quyền, mà còn có người tiêu dùng, người dịch vụ, nhà doanh nghiệp và đại diện các tổ chức xã hội và tôn giáo;

    · Chức năng của đô thị có tính chất toàn diện về kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý, trong đó chức năng quản lý bao trùm, làm điều kiện thực hiện các chức năng khác Chỉ số HDI ( Human Development Index là chỉ số phát triển của con người. Chỉ số này được xác định trên 3 chỉ tiêu là tuổi thọ, tình trạng giáo dục và GDP điều chỉnh tính theo đầu người. Thống kê năm 1998 ở 174 nước biết HDI của 10 nước cao nhất là Canda, Nauy, Hoa Kỳ, Australia, Iceland, Thụy Điển, Bỉ, Hà Lan, Nhật Bản, Vương Quốc Anh. Việt Nam xếp thứ 108.

    [2] Giáo sư, Tiến sĩ, học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1997)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Đô Thị Bền Vững Ở Việt Nam: Khái Niệm Và Ứng Dụng
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay: Khái Niệm Và Tiêu Chí Đánh Giá
  • Bài 2: Kinh Tế Phát Triển Nhanh Và Bền Vững
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Một Số Vấn Đề Cốt Yếu Về Xây Dựng Thể Chế Phát Triển Nhanh
  • Khái Niệm Chung Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Biển Đảo Cù Lao Chàm Tỉnh Quảng Nam
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm (Responsible Tourism) Là Gì? Nguyên Tắc Và Lợi Ích
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm: Việc Không Của Riêng Ai (Bài 3)
  • Bài 1: Các Nguyên Tắc Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Để duy trì sự sống của bản thân và tiếp tục sự phát triển của nòi giống, ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ của lịch sử nhân loại, con người đã có những hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến thành những vật phẩm cần thiết cho mình, hoặc để cải thiện những điều kiện thiên nhiên, tạo nên môi trường sống thích hợp với mình. Trong lúc tiến hành những hoạt động đó, con người ít nhiều đã biết rằng mọi can thiệp vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường luôn luôn có hai mặt lợi, hại khác nhau đối với cuộc sống trước mắt và lâu dài của con người. Một số kiến thức và biện pháp thiết thực để ngăn ngừa những tác động thái quá đối với môi trường đã được đúc kết và truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác dưới dạng những tín ngưỡng và phong tục.

    Trong các xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật sản xuất tiến bộ hơn nhiều, con người đã tác động mạnh mẽ vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường, can thiệp một cách trực tiếp và

    nhiều khi thô bạo vào các hệ thiên nhiên. Để “chế ngự” thiên nhiên, con người nhiều khi đã tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người với các quá trình diễn biến của tự nhiên. Để đạt tới những năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp, con người đã chuyển đổi các dòng năng lượng tự nhiên, cắt nối các mắt xích thức ăn vốn có của thiên nhiên, đơn điệu hoá các hệ sinh thái, sử dụng năng lượng bổ sung to lớn để duy trì những cân bằng nhân tạo mong manh.

    Đặc biệt là trong nửa cuối thế kỷ 20, sau những năm hồi phục hậu quả của thế chiến lần thứ hai, hàng loạt nước tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công nghiệp hoá, nhiều nước mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của mình. Một số nhân tố mới như cách mạng khoa học và kỹ thuật, sự bùng nổ dân số, sự phân hoá các quốc gia về thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường. Trật tự bất hợp lý về kinh tế thếgiới đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do thừa thãi” tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và: “ô nhiễm do đói nghèo” tại các nước chậm phát triển về kinh tế.

    Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể ngừng tiến hoá và ngừng sự phát triển của mình. Đó là qui luật của sự sống, của tạo hoá mà vạn vật

    đều phải tuân theo một cách tự giác hay không tự giác. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Phát triển đương nhiên sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn làm đầy đủ các chức năng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con người, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các phế thải của hoạt động của con người, giảm nhẹ tác động bất lợi của thiên tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hoá, khoa học của loài người. Hay nói một cách khác đó là: phát triển bền vững (PTBV).

    Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Phát triển bền vững là một phương hướng phát triển được các quốc gia trên thế giới ngày nay hướng tới, đó là niềm hy vọng lớn của toàn thể loài người.

    PTBV có đặc điểm: 1- Sử dụng đúng cách nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại hệ sinh thái và môi trường; 2- Tạo ra các nguồn vật liệu và năng lượng mới; 3- ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa phương; 4- Tăng sản lượng lương thực, thực phẩm; 5- Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để phong cách và chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo hướng tích cực

    Với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước cũng như của các ngành, các địa phương đều nhằm duy trì một tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP ở mức độ cao khoảng 8-10%/năm và trong một thời gian dài sẽ tăng áp lực lên môi trường tự nhiên và xã hội. Nếu trình độ công nghệ của sản xuất và cơ cấu sản xuất của nền kinh tế không được cải thiện hoặc tốc độ đổi mới công nghệ không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế thì sự tăng trưởng GDP ở mức cao cũng đồng nghĩa với việc tăng khối lượng tài nguyên khai thác cho sản xuất và tăng lượng chất thải vào môi trường. Sự suy giảm về môi trường sẽ xẩy ra khi năng lực tải của môi trường bị sự tăng trưởng kinh tế vi phạm (Vụ Khoa học Giáo dục Môi trường 2002). Khi các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế không đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào ngay trong quá trình soạn thảo và áp dụng thì sự tăng trưởng kinh tế sẽ là nguy cơ gây suy giảm môi trường. Hơn nữa, với định hướng cơ cấu các ngành sản xuất sẽ chuyển dịch theo hướng tăng nhanh của tỉ lệ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (thường được xác định khoảng 12-15%/năm), so với sản xuất nông nghiệp (khoảng 4-6%/năm), các vấn đề về môi trường dự kiến sẽ gia tăng. Ngoài ra, định hướng phát triển của nền công nghiệp Viêt Nam hiện đang dựa vào các ngành khai thác, sơ chế tài nguyên như công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, điện năng, chế biến nông-lâm-hải sản. Do đó, công nghiệp Việt Nam phát triển với tốc độ càng cao thì khả năng gây ô nhiễm môi trường càng lớn. Về mặt xã hội, sự gia tăng dân số với nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm, nhu cầu lương thực, nhu cầu được đảm bảo về việc làm, vui chơi, giải trí v.v. cũng tạo áp lực lên sự phát triển kinh tế và làm gia tăng suy thoái môi trường.

    Khái niệm chung về phát triển bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Chữa Bệnh Tại Việt Nam: Đánh Thức Tiềm Năng
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Du Lịch Năm 2022
  • Bàn Về Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Giới Thiệu Luật Du Lịch 2022
  • 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững
  • Mục Tiêu Cơ Bản Và Các Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Trong Du Lịch
  • Khái Niệm Và Những Tiêu Chí Của Phát Triển Bền Vững
  • Csrd: Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Isrd: Tích Hợp Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững, 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Phát Triển, Khái Niệm Về Kế Hoạch Phát Triển Bản Thân, Khái Niệm Phát Triển ở Thực Vật, Khái Niệm Sinh Trưởng Và Phát Triển ở Thực Vật, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Xây Dựng Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Đối Với Sự Phát Triển Bền Vững Đất Nước, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển, Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững, Khái Niệm 5 Vùng Biển, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Quốc Gia, Phát Triển Bền Vững ở Hà Nam, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Là Gì, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Thể Thao Huyện Núi Thành, Báo Cáo Sơ Kết Việc Triển Khai Thực Hiện Quy Hoạch Phát Triển Ngành Văn Hóa, Đề án Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Đề án Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Vùng Cây ăn Quả, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Nestle, Lý Luận Phát Triển Bền Vững, Bộ Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Bền Vững, Đề Thi Môn Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Sân Golf Bền Vững, Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Tdtt Huyện Núi Thành Giai Đoạn 2022 – 2022, Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững, Đề Cương ôn Tập Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Luận án Tiến Sĩ Về Phát Triển Bền Vững, Tài Chính Cho Phát Triển Bền Vững ở Việt Nam, Kế Hoạch Phát Triển Bền Vững Của Unilever, Đề án Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Học Thuyết Về Vùng Phát Triển Gần Nhất, Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Chính Sách Phát Triển Bền Vững Nestle, Phân Tích 9 Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Phát Triển Bền Vững, Quan Niệm Phát Triển, Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Phát Triển Bền Vững Của Học Sinh, Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Sản Tại Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa, Dự Thảo Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Doanh Nghiệp Phát Triển Bền Vững, Kỷ Yếu Hội Thảo Nghiên Cứu Và Phát Triển Nông Nghiệp Vùng Tây Bắc, Nghèo Đa Chiều Và Phát Triển Con Người ở Các Tỉnh Vùng Tây Bắc, Khái Niệm Chương Trình Giáo Dục, Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Gdmn., Đánh Giá Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Bền Vững Vịnh Bái Tử Long, Tài Chính Xanh Cho Tăng Trưởng Và Phát Triển Bền Vững Tại Việt Nam, Du Lịch Sinh Thái Nông Nghiệp Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Bền Vững Tại Tỉnh Nam Định, Chính Sách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Trẻ Vùng Tây Bắc Việt Nam, Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Trong Phát Triển Bền Vững Của Học Sinh, Chính Sách Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Vùng Biên Giới Tây Bắc Việt Nam, Tổ Chức Lãnh Thổ Du Lịch An Giang Theo Hướng Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Lạm Phát, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Về Phát Triển, Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Chăn Nuôi Gia Súc Lớn Của Vùng, Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Nghề Cá Của Vùng Duyên Hải Na, Tham Luận Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Giảm Nghèo Bền Vững, Thực Trạng Việc Triển Khai Các Dự án Cộng Đồng Nhằm Giảm Nghèo Bền Vững Tại, Hiện Trạng Phát Triển Và Phân Bố Nông Nghiệp Vùng Duyên Hải Miền Trung., Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Cây Công Nghiệp Và Cây Đặc Sản Trong Vùng, Khái Niệm Chương Trình Giáo Dình Giáo Dục ,phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Mầm Non, Hãy Giải Thích Xu Hướng Sự Phát Triển Theo Quan Niệm Chủ Nghĩa Mác-lênin, To Khai Tien Bao Ve Phat Trien Trong Lua, Khái Niệm Người Chấp Hành Xong Hình Phạt Tù, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Mà Quốc Gia Ven Biển, Đề án Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Và Vùng Ven Biển Việt Nam Đến Năm 2022, Khái Quát Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin, Bài Tham Luân Công Tác Phát Triển Kinh Tế, Hướng Phát Triển Cầy Trồng Vật Nuồi Đem Lị Hiệu Quả, Năn, Bài Tham Luân Công Tác Phát Triển Kinh Tế, Hướng Phát Triển Cầy Trồng Vật Nuồi Đem Lị Hiệu Quả, Năn, Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt, Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt, + Gvmn 7: Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Modulle Mn 7 “phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phươ, Gvmn 7 Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Modulle Mn 7 “phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phươ, Đặc Điểm Phát Triển Thể Chất – Những Mục Tiêu Và Kết Quả Mong Đợi ở Trẻ Mầm Non Về Phát Triển Thể Ch, Chuyên Đề Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hop Voi Su Phat Trien Cua Trẻ Em Và Bối Cảnh , Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hợp Với Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Module Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa, Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa, Hướng Dẫn Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bố, Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Đặc Điểm Phát Triển Thể Chất – Những Mục Tiêu Và Kết Quả Mong Đợi ở Trẻ Mầm Non Về Phát Triển Thể Ch, Mn7 Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Chuyên Đề Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hop Voi Su Phat Trien Cua Trẻ Em Và Bối Cảnh, : Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương,

    Khái Niệm Phát Triển Bền Vững, 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Phát Triển, Khái Niệm Về Kế Hoạch Phát Triển Bản Thân, Khái Niệm Phát Triển ở Thực Vật, Khái Niệm Sinh Trưởng Và Phát Triển ở Thực Vật, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Xây Dựng Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Đối Với Sự Phát Triển Bền Vững Đất Nước, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển, Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững, Khái Niệm 5 Vùng Biển, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Quốc Gia, Phát Triển Bền Vững ở Hà Nam, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Là Gì, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Thể Thao Huyện Núi Thành, Báo Cáo Sơ Kết Việc Triển Khai Thực Hiện Quy Hoạch Phát Triển Ngành Văn Hóa, Đề án Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Đề án Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Vùng Cây ăn Quả, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Nestle, Lý Luận Phát Triển Bền Vững, Bộ Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Bền Vững, Đề Thi Môn Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Sân Golf Bền Vững, Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Tdtt Huyện Núi Thành Giai Đoạn 2022 – 2022, Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững, Đề Cương ôn Tập Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Luận án Tiến Sĩ Về Phát Triển Bền Vững, Tài Chính Cho Phát Triển Bền Vững ở Việt Nam, Kế Hoạch Phát Triển Bền Vững Của Unilever, Đề án Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Học Thuyết Về Vùng Phát Triển Gần Nhất, Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Chính Sách Phát Triển Bền Vững Nestle, Phân Tích 9 Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Phát Triển Bền Vững,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • 450 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Hạng B, C
  • Luận Văn Tìm Hiểu Sự Hình Thành Và Phát Triển Khái Niệm Xã Hội Hoá Trong Xã Hội Học Ở Việt Nam
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Hoạt Động Xuất Khẩu
  • Nội Dung Hoạt Động Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • “Phát triển bền vững” là một khái niệm rất mới, nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của nhân loại. Các tổ chức nghiên cứu kinh tế, môi trường khác nhau cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững. Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo cáo: Tương lai chung của chúng ta. Báo cáo này đã đề cập và phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển. Trong đó “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của những thế hệ tương lai”.

    Như vậy, phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn. Tăng trưởng về số lượng phải đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế … Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người. Thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội… Phải rất coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”,

    Khái niệm phát triển du lịch bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
  • Cụm từ phát triển bền vững nói chung hay phát triển nói riêng được định nghĩa một cách khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn” Trong từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được quan niệm là:

    “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Chủ thể con người và mọi vật đều thay đổi theo thời gian, những sự phát triển được bao hàm ở cả hai khía cạnh: hướng đi lên – tiến bộ và phát triển thoái bộ – thoái hóa.

    Phát triển (khoa học phát triển) mới ra đời những năm 1940-1950, đặc biệt phát triển mạnh vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trong tiến trình đó, phát triển học có những thay đổi nhất định về nội hàm.

    Giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu của phát triển được đề cập trong kinh tế gọi là Kinh tế học phát triển, sau đó càng ngày càng phát triển theo hướng liên ngành. Tiếp sau đó, ở mức độ cao hơn, môn Xã hội học phát triển và Quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội có phần can thiệp của thể chế chính trị.

    Ở giai đoạn cao như hiện nay, sự bùng nổ dân số, mức độ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế, sự thiếu hụt tài nguyên do con người khai thác một cách vô ý thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, mức độ biến đổi khí hậu một cách khó lường… thuật ngữ phát triển bền vững ra đời.

    PTBV ra đời năm 1992 và đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI.

    Phát triển bền vững

    Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững nói chung. Sự khác nhau xuất phát từ quan điểm, định hướng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khi nghiên cứu ở phạm vi hẹp như các tổ chức cụ thể, quan điểm được nhìn nhận một cách rộng rãi nhất của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) cho rằng: ” Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng yêu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu đó của các thế hệ tương lai “, [51]. Quan điểm này cho thấy: thực chất của vấn đề PTBV là sự gia tăng số lượng, chất lượng của một tổ chức với mục đích là tối đa hóa lợi ích ở hiện tại nhưng phải đảm bảo cho những lợi ích đó được duy trì trong tương lai.

    Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: ” Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường “. Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều nghiên cứu còn đề cập tới những khía cạnh khác của PTBV như: chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc… và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

    PTBV là một nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và các cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững “. Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phư ng, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động. Mục tiêu bảo đảm PTBV đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược PTBV trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có PTBV các KCN.

    Khái niệm phát triển và phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Trong bài viết này tôi sẽ cố gắng làm ba việc. Thứ nhất, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn khái niệm phát triển bền vững, như đã được nêu ra ban đầu trong báo cáo Brundtland1. Sau đó tôi sẽ xem xét lịch sử và nguồn gốc của khái niệm phong phú và mơ hồ này. Trong phần thứ ba, tôi sẽ cố gắng chỉ ra rằng khái niệm phát triển bền vững này không chỉ hàm chứa một sự hòa giải đơn giản giữa kinh tế và sinh thái, giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Ở phần kết luận, tôi sẽ đề cập một cách ngắn gọn tới việc thao tác hóa và áp dụng khái niệm phát triển bền vững.

    Theo báo cáo Brundtland: Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo và tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động và thực vật. Nhưng ở một mức độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giầu và nước nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững.

    Rõ ràng là báo cáo Brundtland không có ý định hợp pháp hóa các hoạt động kinh tế hiện hành của các công ty công nghiệp lớn, có xu hướng khai thác một cách nhanh chóng những nguồn tài nguyên không được tái tạo, nhằm có được những khoản lợi nhuận khổng lồ trong thời gian ngắn. Nó cũng không kêu gọi những công ty này tạo ra một số thay đổi mang tính hình thức trong các hoạt động của mình. Báo cáo Brundtland tỏ ra tương đối gay gắt đối với những công ty như vậy và đòi hỏi những thay đổi sâu sắc trong cách thức hoạt động của chúng. Mặt khác, báo cáo cũng không hợp pháp hóa quan điểm điền viên của một số nhà sinh thái học không tưởng, những người muốn bảo tồn toàn bộ thiên nhiên trong trạng thái hoang sơ và những người mơ ước quay trở về lối sống lý tưởng của thời kỳ đồ đá mới, về một thiên đàng đã mất, một vườn địa đàng được tái thiết, nơi con người sẽ sống hài hòa hòan toàn với thiên nhiên nguyên thủy và được tôn thờ. Nếu khái niệm phát triển bền vững loại trừ được hai quan điểm cực đoan này, cụ thể là: tư tưởng không ngừng tăng trưởng kinh tế và tư tưởng quá nghiêng về môi trường sinh thái, thì khái niệm này vẫn còn mơ hồ và bao quát đủ để hàm chứa quan điểm của hầu hết những nhà bảo vệ môi trường và những nhà sinh thái học xã hội cấp tiến, những người tạo ra những khuynh hướng hết sức phong phú của phong trào hòa bình xanh ngày nay.

    Về mặt xã hội học, khái niệm này giữ nhiều chức năng đối với các nhà hoạt động kinh tế, xã hội và chính trị trong lĩnh vực môi trường và phát triển. Ví dụ, hai nhà xã hội học Ann P.Hawkins và Frederick H.Buttel biện luận rằng khái niệm phát triển bền vững cần được hiểu trong phạm vi bốn vai trò mà nó thực hiện: (1) Hệ tư tưởng của phong trào môi trường; (2) Xu thế phát triển nhất thời và biểu tượng trung tâm của xung đột về chính sách phát triển; (3) Sự hướng dẫn cho việc thiết kế và đánh giá những chương trình và chính sách phát triển và (4) Phạm trù lý thuyết.

    Theo tôi, khái niệm này chủ yếu là một phạm trù lý thuyết mơ hồ và phức tạp, được sử dụng một phần là hệ tư tưởng và một phần là một khái niệm được thao tác không chặt chẽ đối với những nhóm người quan tâm đa dạng khác nhau.

    Năm 1951, tổ chức này đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý nhan đề “Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50”, gồm 70 báo cáo của rất nhiều quốc gia. Tài liệu này được cập nhật vào năm 1954 và được coi như một trong những “tiền thân” của báo cáo Brundtland. Tổ chức quốc tế này cũng phối hợp với UNESCO và các tổ chức quốc tế khác như WHO, FAO và ICSU (Hội đồng các Hiệp hội khoa học quốc tế) để tổ chức tại Paris năm 1968 một Hội thảo chuyên gia liên chính phủ về cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên sinh quyển. Được xuất bản vào năm 1970, báo cáo của Hội thảo cho rằng: “những biện pháp bảo vệ môi trường… phải nhằm mục đích duy trì… những điều kiện cho phép phát triển những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người” 2.

    Kết quả là Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đã được lập ra và được coi như một phương tiện bổ sung cho Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP). Những cơ quan của tổ chức này được đặt tại Nairobi, Kenya dường như để chỉ ra rằng bảo vệ môi trường và phát triển ở thế giới thứ ba đã được liên kết một cách mật thiết. Kể từ đó Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) được các Chính phủ tự nguyện đóng góp tài chính thông qua quỹ môi trường của các nước này. Tại cuộc hội thảo đầu tiên của UNEP, ông Maurice Strong – Giám đốc điều hành của tổ chức – đã khẳng định nhu cầu phát triển sinh thái, loại phát triển có tính tới những hạn chế dài hạn về môi trường. Strong đã trấn an cả những nước thế giới thứ ba và những nhà công nghiệp phương Tây rằng bảo vệ môi trường không có nghĩa là tăng trưởng Zero mà nó có thể cùng tồn tại với phát triển chừng nào sự phát triển bảo tồn được nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ tương lai sử dụng.

    Khái niệm về một xã hội bền vững nổi lên dần dần vào cuối những năm 70, trong các công trình của Barry Commoner về nhu cầu sử dụng nguồn tài nguyên được tái tạo và công nghệ ít gây hại và của Herman Daly về kinh tế học Nhà nước mạnh 6, của Edward Goldsmith, Sicco Mansholt và Kimon Valaskakis về bảo tồn xã hội, trong Tuyên ngôn năm 1976 của Đảng sinh thái Vương quốc Anh và trong tác phẩm của Amory Lovins về những con đường sử dụng năng lượng mềm 7.

    Khái niệm phát triển bền vững cũng xuất hiện nổi bật trong công trình của Laster Brown, đặc biệt là trong cuốn sách “Xây dựng một xã hội bền vững” 8. Theo Brown, một xã hội bền vững kéo theo một dân số ổn định, bảo vệ và sử dụng khôn ngoan đất đai và tài nguyên được tái tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng, bảo vệ sinh vật biển và rừng và bảo vệ sự đa dạng sinh học và toàn bộ sự sống.

    Tôi có thể tìm thấy thuật ngữ “phát triển bền vững” được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1980, trong Chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO:

    “Chiến lược này dự đoán rằng phát triển bền vững cần phải tính đến những yếu tố xã hội và sinh thái cũng như những yếu tố kinh tế, cơ sở tài nguyên sinh học và không sinh học và cũng phải tính đến những lợi ích và phiền phức của những giải pháp thay thế ngắn hạn và dài hạn” 9.

    Sau thất bại của Hội thảo Liên hiệp quốc về môi trường tại Nairobi, năm 1982, Đại hội đồng Liên hiệp quốc quyết định thành lập vào năm tiếp theo ủy ban phát triển và môi trường thế giới – ủy ban Brundtland nổi tiếng. Trong bản báo cáo của ủy ban vào năm 1987 nhan đề “Tương lai chung của chúng ta”, thuật ngữ phát triển bền vững được phổ cập hóa và đã mở đường cho Hội thảo về phát triển và môi trường Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu được tổ chức tại Rio de Janeiro vào tháng 6/199210.

    Khái niệm phát triển bền vững, như đã được đề cập trong báo cáo Brundtland, không chỉ là nỗ lực nhằm hòa giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Nó còn hàm chứa những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội, như nhiều người, nhất là những nhà khoa học xã hội đã chỉ ra.

    Mặc dù không loại trừ sự cần thiết của một số hình thức tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở những nước nghèo nhất, nhưng báo cáo Brundtland vẫn nhìn nhận phát triển như một quá trình phức tạp vượt ra ngoài sự tăng trưởng kinh tế giản đơn.

    “Phát triển bao hàm một sự biến đổi kinh tế và xã hội không ngừng,… Ngay cả khái niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũng hàm chứa mối quan tâm đối với bình đẳng xã hội giữa các thế hệ, mối quan tâm cần phải được mở rộng một cách hợp lý tới sự bình đẳng trong các thế hệ” 11.

    Báo cáo Brundtland cũng nhấn mạnh tới ý tưởng không thể đạt được phát triển bền vững mà không có giải trừ quân bị trong chương 11. Mặc dù hầu hết các nhà xã hội học môi trường vẫn xem xét phát triển bền vững như là “một nỗ lực nhằm hòa giải và tổng hợp những mối quan tâm về môi trường và phát triển kinh tế – xã hội” 12 nhiều nhà xã hội học cũng khẳng định ý tưởng phát triển kinh tế – xã hội không hề tương đương với tăng trưởng kinh tế. Khía cạnh con người và xã hội vốn có trong thuật ngữ phát triển kinh tế – xã hội và ngay cả trong chính từ phát triển, đã thúc đẩy một số nhà xã hội học, như Michael Redclift, trình bày nó như một khái niệm vượt ra ngoài phạm vi kinh tế học và cần phải “tính đến những mối quan hệ qua lại và bao quát lẫn nhau của xã hội loài người trong môi trường sinh thái tự nhiên” 13.

    Peter Jacobs, Julia Gardner và ngay cả David Munro cũng cho rằng chúng ta nên sử dụng thuật ngữ “phát triển công bằng và bền vững” hơn là “phát triển bền vững” 14. Khía cạnh thứ ba của khái niệm phát triển và môi trường càng ngày càng hay được đề cập đến, thậm chí vượt xa ý tưởng bình đẳng thuần túy. Đó là khía cạnh chính trị xã hội rộng lớn hơn, bao gồm ý tưởng bình đẳng về những lĩnh vực chính trị – xã hội khác như giải trừ quân bị, quyền con người và sự tham gia dân chủ.

    Đến lượt nó, bình đẳng có thể gồm 3 loại: giữa các thế hệ (giữa người trẻ và người già, giữa thế hệ hiện tại và tương lai), giữa các quốc gia (tức là giữa Bắc và Nam, giữa những nước giầu và nước nghèo), và trong các thế hệ và trong các quốc gia (tức là bình đẳng xã hội giữa nam giới và phụ nữ, giữa các giai tầng xã hội- giầu và nghèo, có quyền lực và không có quyền lực,.v.v… giữa các nhóm dân tộc và tôn giáo).

    Trước khi báo cáo Brundtland được xuất bản thì nhiều nước, tỉnh, thành phố, tổ chức chính trị và doanh nghiệp đã vạch kế hoạch đưa khái niệm phát triển bền vững vào thực tế. Đây là quá trình còn đang tiếp diễn và nó đã nhận được sự thúc đẩy mới từ Chương trình nghị sự 21 của Hội nghị thượng đỉnh Rio và những thỏa hiệp thay thế của Diễn đàn toàn cầu.

    Một thử nghiệm địa phương đã cho thấy: phát triển bền vững không chỉ là một khái niệm đòi hỏi những sự điều chỉnh cần thiết, mà là một quá trình đang được áp dụng từ từ nhưng vững chắc ở tất cả các cấp độ. Vấn đề đặt ra là: dưới ánh sáng của bằng chứng hiện có thì những vấn đề về môi trường đang tăng lên ở mọi cấp độ, vậy phải chăng mọi nỗ lực đang được thực hiện nhằm đạt được phát triển bền vững là có giá trị hay toàn bộ điều đó là quá nhỏ bé, quá chậm trễ?.

    Chú thích

    1. Báo cáo được trình bày tại cuộc họp thường niên của Hội Nghiên cứu Quốc tế. 3/1994, tại Washington D.C.

    2. Hội thảo chuyên gia quốc tế về cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên sinh quyển. (Paris: UNESCO, 1970, tr.307).

    3. Phát triển và Môi trường (Founex, 4-12/6, 1971) (The Hague: Mouton, 1972).

    4. Barbara Ward và Reré Dubos, Chỉ có một trái đất (New York: WW. Norton and Co, 1972).

    5. Ignacy Sachs, Chiến lược phát triển sinh thái (Paris: Editition Ouveières, 1980).

    6. Barry Commoner, Vòng tròn khép kín (New York: Knoft, 1971), Human E. Daily chủ biên, Kinh tế học nhà nước mạnh (San Francisco: Freeman, 1973).

    7. Xem Đảng sinh thái, Tuyên ngôn về một xã hội bền vững (Sheffield, Anh, 25-26/ tháng 9/1976, và Amory Lovins, Những con đường sử dụng năng lượng mềm: Về một nền hòa bình lâu dài (New York: Ballinger Publishing Co, 1977).

    8. Lester Brown, Xây dựng một xã hội bền vững (New York: W W Norton and Co, 1981).

    9. Hiệp hội quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên, Chiến lược bảo tồn thiên nhiên thế giới: bảo vệ tài nguyên tối cần thiết nhằm phục vụ cho sự phát triển lâu dài (Gland, Thuỵ Sĩ, U.I.C.N, 1980).

    10. Jear – Guy Vaillancourt “Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu tại Rio, 1992”, Xã hội và tài nguyên thiên nhiên, tập 6 (1993) tr. 81- 88.

    11. Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới, sách đã dẫn, tr. 43.

    12. Frederick H. Buttel, “Phát triển bền vững” trong Từ điển bách khoa tóm tắt về tham gia và cùng quản lý, G. Szell chủ biên (New York: Walter de Gruyter, 1992), tr. 831.

    13. M. Redclift, Phát triển bền vững: Khám phá những mâu thuẫn (New York: Methuen, 1987).

    14. Peter Jacobs, Julia Gardner và David A. Munro, “Phát triển bền vững và công bằng: Một mô hình đang nổi lên” trong Bảo vệ thiên nhiên và Bình đẳng: Chiến lược vì sự phát triển bền vững, P. Jacobs và D. Munro chủ biên (Cambridge: Cambridge University Press, 1988).

    15. Peter Jacobs và Barry Sadler chủ biên, Phát triển lâu dài và đánh giá môi trường: quan điểm về kế hoạch hóa một tương lai chung. Ottawa. Hội đồng nghiên cứu về đánh giá môi trường Canada.

    16. David Pearce, Anil Markanda và Edward B. Barbier, Cẩm nang về một nền kinh tế xanh (London. Earthscan Publications, 1989).

    17. Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới, sách đã dẫn, tr.8.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100