Vấn Đề Kế Thừa Và Phát Triển Trong Lịch Sử Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Quan Điểm Của C.mác Và Ph.ăngghen Về Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Và Chính Trị
  • Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Thị Trường Và Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Quá Độ Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Tanguyễn Gia Thơ
  • Dap An Cau Hoi Triet Hoc (1)
  • Bài 1: Các Nguyên Tắc Khách Quan Và Nguyên Tắc Toàn Diện
  • Câu “tư Bản Ko Thể Xuất Hiện Từ Lưu Thông Và Cũng Ko Thể Xuất Hiện Ở Bên Ngoài Lưu Thông. Nó Phải Xuất Hiện Trong Lưu Thông Và Đồng Thời Ko Phải Trong Lưu Thông” (Trích Mác
  • Kế thừa và phát triển là quy luật chung của cả tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Quy luật đó cùng tồn tại một cách khách quan trong lịch sử triết học. Nhưng cũng như mọi quy luật không phải ngay từ đầu mà phải đến một giai đoạn nhất định của lịch sử quy luật đó mới được phát hiện. Điều đó hoàn toàn trùng hợp với nhận xét của Engghen về các quy luật của phép biện chứng.

    Hêgen là người đầu tiên trình bày quy luật này trong quan niệm của ông về vòng tròn linh sử triết học. Theo Hêgen, mục đích của triết học là vạch ra mối liên hệ bản chất, tồn tại giữa cái tưởng như đã lùi vào dĩ vãng và trình độ mà triết học hiện nay đạt được. Hêgen hiểu những mối liên hệ này là tất yếu. Điều đó có nghĩa là nếu xem xét những sự kiện, những tư liệu của lịch sử triết học một cách biệt lập nhất là một chuỗi các sự biến ngẫu nhiên thì sẽ không thỏa mãn được những đòi hỏi nhằm vạch ra mối liên hệ bên trong của lịch sử triết học với tính cách là một ngành khoa học.

    Đối lập với quan điểm đó, Hêgen cho rằng triết học hiện đại là kết quả của những nguyên lý có từ trước đó. Thành thử, không có một hệ thống nào bi lật đổ, khống phải nguyên lý triết học đó bị lật đổ mà chỉ có sự giả định rằng nguyên lý đó là đỉnh nghĩa tuyệt đối, cuối cùng bị lật đổ mà thôi. Như vậy, lịch sử triết học không phải là bộ sưu tập các tư tưởng mà là sự phát triển cụ thể của triết học trên con đường nhận thức chân lý. Do đó, lịch sử triết học là quá trình giải quyết liên tục, nhất quán những nhiệm vụ nhất định ở một trình độ nào đó và là quá trình chuyển sang những nhiệm vụ mới chứ không phải là phương pháp thử và sai, không phải là sự phân loại các cách giải quyết khác nhau.

    Nhưng theo Hêgen, bản thân chân lý đạt được trong tiến trình lịch sử treíet học không phải là tĩnh tại mà được triển khai, mở rộng theo thời gian. Vì thế, Hêgen so sánh lịch sử triết học vứoi một vòng tròn – vòng tròn này bao gồm ở chung quanh nó một số lớn những vòng tròn. Tư tưởng đó được Lênin đánh giá là thông minh và sâu sắc.

    Tuy vậy, quan điểm của Hêgen về vòng tròn lịch sử triết học còn có nhược điểm ở chỗ sự phát triển được quan niệm dưới dạng đường thẳng, mới chỉ vạch ra bề rộng của sự phát triển, sự tăng thêm số lượng các vấn đề và các phạm trù đó, không vạch ra được chiều sâu của sự phát triển. Dĩ nhiên trong lịch sử triết học chúng ta cũng thấy có sự mở rộng, sự tăng thêm các vấn đề.

    Không thỏa mãn với cách diễn đạt đó, Lênin diễn đạt lại tư tưởng của Hêgen theo cách của mình và coi đây như một mô hình để nhận thức sự phát triển của toàn bộ nhận thức loài người. Lênin viết: “Mỗi khía cạnh riêng biệt của tư tưởng = một vòng tròn trên, vòng tròn lớn (xoáy ốc) của sự phát triển của tư tưởng con người nói chung.

    Tư tưởng của Lênin về lịch sử triết học như một vòng tròn của những vòng tròn (vòng xoáy ốc), trước hết có ý nghĩa to lớn là chỉ ra trong tiến trình lịch sử triết học các phạm trù không phải là bất biến, xây dựng một lần là xong. Trên thực tế các hệ thống triết học đều trở đi trở lại và làm cho chúng sâu sắc thêm, do đó hình thành một vòng tròn trên vòng tròn lớn (dường như quay lại điểm xuất phát và trở lại trình độ đã qua).

    Tuy nhiên, đã không phải là bộ sưu tập được dùng để trưng bày, mà là những cứ liệu cho sự xuy xét phân tích tiếp theo. Mỗi một giai đoạn riêng biệt, mỗi hệ thống triết học cụ thể là một vòng tròn, một khu vực khép kín nhất định, có thể có những vấn đề riêng của nó, xoay quanh những vấn đề trung tâm. Sự sâu sắc thêm của các tri thức ở những giai đoạn sau bao giờ cũng dựa trên trình độ tri thức đạt được trước đó, mỗi trình độ tri thức của giai đoạn trước bao giờ cũng là cơ sở cho các trình độ sau.

    Như vậy, Hêgen và sau đó là Lênin là những người đầu tiên nhận thấy việc kế thừa và phát triển là quy luật khách quan trong lịch sử triết học. Việc nghiên cứu quy luật đã có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc đánh giá những đóng góp của mỗi nhà triết học vào kho tàng lý luận của nhân loại, đối vởi việc xác định đối tượng và nhiệm vụ của triết học ở mỗi giai đoạn cụ thể.

    Kế thừa và phát triển là hai khái niệm bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Kế thừa là sự bảo tồn những đặc điểm, đặc tính của một sự vật và hiện tượng có trong sự vật và hiện tượng mới. Dù là mối liên hệ tất yếu, khách quan giữa cái mới và cái cũ trong quá trình phát triển, là một trong những nét cơ bản nhất của quy luật phủ định của phủ đinh. Còn phát triển không chỉ là sư bảo tồn mà còn là sự mỏ rộng, bổ sung hoặc sự hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn có trong sự vật và hiện tượng. Như vậy, để phát triển được bao giờ cũng cần có sự kế thừa, tức là bảo tồn, giữ lại những đặc điểm, đặc tính của đối tượng để trên cơ sở đó mở rộng, nâng cao trình độ, còn phát triển chính là sự kể thừa tốt nhất, tích cực nhất.

    Trong lịch sử nhận thức khoa học, các hình thức kế thừa và phát triển của lý thuyết khoa học rất đa dạng: có những lý thuyết mới là sự bổ sung, hoàn thiện các lý thuyết cũ, có lý thuyết mới là sự mỏ rộng lý thuyết cũ và trong trường hợp này lý thuyết cũ trở thành một trường hợp đặc biệt của lý thuyết mới, nhưng cũng có lý thuyết mới là sự kết hợp của hai lý thuyết đối lập nhau như trường hợp lý thuyết về bản chất của ánh sáng…

    Giống như trong lịch sử nhận thức khoa học, trong lịch sử triết học trước Mác, những hình thức kế thừa và phát triển cũng rất đa dạng. Đúng như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nhận xét, triết học cổ đại HiLạp đã có tất cả những mầm mống của các trường phái triết học sau này. Những mầm mống đã được người đời sau kế thừa và phát triển. Các nhà triết học duy vật kiên trì kế thừa và phát triển những quan điểm duy vật. Họ đã góp phần đắc lực vào cuộc đấu tranh chống quan điểm duy tâm, tôn giáo. Để bảo vệ quan điểm duy vật đã từng có những nhà triết học phải núp dưới cái vỏ phiếm thần luận như Spinôda, và cũng có những nhà triết học phải hy sinh bản thân mình trước sự trừng phạt tàn bạo của tòa án tôn giáo như trường hợp Brunô… Mặc dù hình thức của CNDV có thể thay đổi tùy theo điều kiện lịch sử của từng thời đại thay đổi mới khi có những phát minh và tính chất thời đại ngay trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, song các nhà duy vật đều tập trung làm sáng tỏ vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức. Ngay từ thời đại các nhà duy vật đã tập trung làm sàng tỏ khái niệm vật chất – một khái niệm nền tảng của triết học duy vật, trên cơ sở đó xây dựng lý luận nhận thức duy vật. Lúc đầu vật chất được đem đồng nhất với một dạng vật thể cụ thể như nước, đất, không khí… sau đó được quy về dạng trừu tượng hơn là nguyên tử. Người đầu tiên đưa ra quan điểm này là Lơxíp. Quan điểm đó được Đêmôcrít phát triển thành học thuyết nguyên tử. Học thuyết đó đã được các nhà duy vật như BêCơn, Hốpxơ, Lốc, Spinôda, Điđrô, Phơ bách… kế thừa và phát triển. Như vậy, quan điểm coi vật chất là nguyên tử đã tồn tại hàng chục thế kỷ, tất nhiên bên cạnh quan điểm đó còn có quan điểm coi vật chất là khối lượng (lúc bấy giờ được hiểu là lượng vật chất hàm chứa trong vật thể). Mãi đến cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do hàng loạt những phát minh mới trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, đặc biệt là trong vật lý học, quan điểm đó mới được xem xét lại là khái niệm vật chất được bổ sung thêm nội dung mới: nguyên tử chỉ là một mức độ tổ chức cụ thể của vật chất, chứ không phải là toàn bộ vật chất. Trên cơ sở làm sáng tỏ khái niệm vật chất, các nhà duy vật khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, đồng thời xây dựng nhận thức luận duy vật.

    Mặc dù CNDV trước Mác đã có những đóng góp to lớn trong việc kế thừa và phát triển quan điểm duy vật, song CNDV trước Mác vẫn là CNDV trực quan, siêu hình, có quan điểm duy tâm về đời sống xã hội. Đó là những khuyết điểm căn bản của CNDV trước Mác. Nói như vậy hoàn toàn không có nghĩa là tất cả những nhà duy vật trước Mác đều là những nhà siêu hình. Mà trái lại, trong số những nhà duy vật trước Mác có những nhà biện chứng vĩ đại, chẳng hạn, nhà duy vật cổ đại Hêraclít, người mà Lênin coi là thủy tổ của phép biện chứng có nhiều tư tưởng biện chứng như: không thể tắm hai lần trên một dòng sông, lửa thích rơm hơn vàng… Tuy nhiên những quan điểm biện chứng của các nhà duy vật trước Mác vẫn là những quan điểm biện chứng tự phát, ngây thơ.

    Đối lập với CNDV, những người theo CNDT tập trung làm sáng tỏ vai trò tích cực, sáng tạo của tính thần, ý thức đối với thế giới vật chất. Họ chống lại các quan điểm duy vật bằng nhiều cách, thậm chí bằng cách đem đốt sách của những người có quan điểm duy vật. Họ thổi phồng và bơm to quá đáng vai trò của yếu tố tinh thần. Tuy nhiên, trong khi làm như vậy nhiều nhà duy tâm trước Mác vẫn có những đóng góp đáng kể vào việc xây dựng và phát triển phép biện chứng. Những tư tưởng biện chứng của các nhà duy hẳn cũng được phát triển qua các thời kỳ lịch sử gắn liền với các tên tuổi khác nhau như Platôn, Dênông, Lépsnit, Phichtơ, Sêlinh, Hêgen… Tất nhiên, phép biện chứng mà các nhà duy tâm xây dựng và phát triển là phép biện chứng của tinh thần, của ý niệm hoặc là của cái tôi.

    Như vậy, trong lịch sử triết học trước Mác đã tồn tại hai trào lưu triết học chính, đối lập nhau đó là CNDV và CNDT . Hai chủ nghĩa này đều là sản phẩm của sự phát triển xã hội, đồng thời là thành quả lý luận của nhân loại. Nếu như những nhà duy vật có nhiều đóng góp vào việc xây dựng, kế thừa và phát triển quan điểm duy vật, thì những nhà duy tâm lại có đóng góp nhiều vào việc xây dựng, kế thừa và phát triển phép biện chứng. CNDV bù đắp lại cho CNDT sự thiếu hụt về quan điểm duy vật, còn CNDT bù đắp lại cho CNDV sự thiếu hụt về quan điểm biện chứng. Đến một giai đoạn phát triển nhất định, lịch sử đòi hỏi phải kể thừa và phát triển những “hạt nhân hợp lý” của cả hai trào lưu đó tức là cả quan điểm duy vật lẫn phép biện chứng. Nhiệm vụ đó đã được Mác, Engghen, Lênin hoàn thành một cách xuất sắc.

    Để phát triển tiếp CNDV và phép biện chứng trước Mác, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã kế thừa và cải tạo cả CNDV lẫn phép biện chứng cải tạo một cách biện chứng CNDV và cải tạo một cách duy vật phép biện chứng để phát triển chúng thành CNDV biện chứng. Như vậy, CNDT biện chứng không phải ra đời trên mảnh đất trống rỗng, không phải từ trên trời rơi xuống, mà đã kế thừa được tất cả những thành quả của nhân loại đã đạt tới rồi phát triển chúng lên. Cái vĩ đại của triết học Mác – Lênin chính là ở chỗ đó. Nhân đây cần nói thêm rằng trong một số tài liệu người ta thường giải thích một trong những điểm khác hoàn toàn của triết học Mác với các nhà triết học trước đó chính là việc Mác đưa phạm trù thực tiễn vào triết học, nhờ đó tiến hành được một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học. Nói cách khác, triết học Mác khác hẳn với các triết học trước, đặc biệt là triết học duy tâm vì Mác đã đưa phạm trù thực tiễn vào trong triết học. Theo chúng ta, nói như vậy cúng có phần đúng, nhưng không hoàn toàn chính xác. Bởi vì khái niệm thực tiễn không chỉ được một số nhà duy vật thế kỷ XVII – XVIII và sau đó là Phơbách nói đến, mà còn được Hêgen coi là một mắt khâu của quá trình nhận thức. Thực vậy, trong tác phẩm “Bút ký triết học”, phần tóm tắt “Khoa học logic” Lênin đã trích lại nhiều đoạn Hêgen viết về thực tiễn với tính cách là sự chuyển hóa sang chân lý khách quan (“tuyệt đối” của Hêgen). Như vậy, khi đưa tiêu chuẩn thực tiễn vào lý luận nhận thức Mác đã trực tiếp gần với Hêgen xem những luận cương về Phơbách.

    Tất nhiên, khái niệm thực tiễn của Hêgen đã được Mác cải tạo lại, đưa vào đó nội dung mới nội dung duy vật. Nói điều đó không hề làm giảm đi cái vĩ đại của Mác.

    Thực ra không phải đến triết học Mác mới có sự kế thừa và phát triển những hạt nhân hợp lý của cả hai trào lưu triết học đối lập nhau, mà ngay trong lịch sử triết học đã có người làm việc đó, bởi vì xét về thực chất CNDV không hề đối lập với phép biện chứng. Xếp vào số người đó không chỉ có những nhà duy vật mà còn có cả những người không hẳn là duy vật, nhưng không hoàn toàn duy tâm như Aristốt, Đêcác, Cantơ… Arìxtốt là người vừa có quan điểm duy vật vừa cơ quan điểm duy tâm và có nhiều tư tưởng biện chứng. Ông đã phê phán kịch liệt quan điểm duy tâm về thế giới ý niệm của Platôn và cho đó là sự nhân đôi thế giới. Sự phê phán đó của Arixtốt không chỉ là sự phê phán đối với CNDT của Platôn mà còn là sự phê phán đối với CNDT nói chung, bởi vì thực chất của CNDT (kể cả CNDT của Hêgen) đều là sự nhân đôi thế giới. Arixtốt cũng có đóng góp to lớn vào việc xây dựng, phát triển phép biện chứng trên cơ sở kế thừa những tư tưởng biện chứng của Hêêraclít, Dêlông… trong số đó cần phải kể đến tư tưởng về các hình thức vận đọng, về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Chính vì vậy Arixtốt được coi là nhà triết học vĩ đại nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Cũng giống như Arixtốt, Đêcác có nhiều quan điểm duy vật lẫn với quan điểm duy tâm, có nhiều quan điểm máy móc, nhưng cũng có nhiều tư tưởng biện chứng. Tuy vậy, Đêcác đã góp phần tích cực vào việc phát triển quan điểm duy vật và phép biện chứng với những tư tưởng vĩ đại như: tư tưởng về sự hình thành vũ trụ, sự bảo toàn vận động, phản xạ không điều kiện, đại lượng khả biến trong toán học và các quy tắc của phương pháp nghiên cứu. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Đềcác trở thành ông tổ của một trong hai phái duy vật ở Pháp thế kỷ XVII – XVIII, còn Cantơ cũng là người sáng lập triết học cổ điển Đức. Những nhà triết học nổi tiếng như Phíchtơ, Sêlính, Hêgen đều xuất phát từ Cantơ. Đặc điểm căn bản của triết học Cantơ là sự điều hòa CNDT với CNDV, là sự thỏa hiệp giữa hai học thuyết này. Khi Cantơ khẳng định “vật tự nó” tồn tại bên ngoài chúng ta, lúc đó ông là nhà duy vật. Nhưng khi ông tuyên bố “vật tự nó’ là siêu nghiệm và ở phía bên kia thế giới, thừa nhận tính chất tiên thiện thời gian và quan hệ nhân qủa thì ông lại là nhà duy tâm. Mặc dù vậy, Cantơ đã phác thảo ra bức tranh của quá trình nhận thức, tìm ra những yếu tố biện chứng trong các phạm trù và những ăntinômim, có công phát triển thêm về phạm trù và logic, có dự đoán về sự khác nhau giữa tư duy siêu hình và tư duy biện chứng…

    Từ những điều trình bày ở trên chúng ta thấy rằng nếu xác định đối tượng cửa lịch sử triết học chỉ là nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thì e rằng không thấy hết được những đóng góp và vai trò của các trường phái là khác nhau trong lịch sử triết học, đặc biệt là vai trò của các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết học. Thực vậy, trong lịch sử triết học đã từng xuất hiện thái độ thiếu khách quan của nhà triết học duy tâm đối với nhà triết học duy vật, và ngược lại của nhà triết học duy vật đối với nhà triết học duy tâm. Ngay như nhà biện chứng vĩ đại Hêgen cũng còn có thái độ “dì ghẻ” đối với nhà duy vật sống cách mình hàng thể kỷ Đêmôcrít, khi trình bày quan điểm của ông. Trong thực tế, chúng ta cũng thường bắt gặp thái độ “dì ghẻ” như thế đối với những nhà triết học duy tâm và triết học tư sản. Đành rằng trong lịch sử triết học có sự đấu tranh giữa CNDV và CNDT, song nếu nhìn nhận lịch sử chỉ thấy cuộc đấu tranh không thôi thì sẽ bị phiến diện, bởi vì trong lịch sử triết học không chỉ có đấu tranh mà còn có sự kế thừa. Việc nhìn nhận lịch sử triết học theo quan điểm kế thừa và phát triển vừa đảm bảo tỉnh khách quan (một nguyên tắc của phép biện chứng duy vật) trong sự xem xét những đóng góp của các trào lưu triết học, vừa không làm mất đi nguyên tắc tính đảng của triết học. Về mặt này, có thể nói Lênin là tấm gương sáng cho những người đi sau học tập. Để bảo vệ quan điểm duy vật, Lênin đã phê phán một cách kiên quyết những quan điểm sai lầm, những ý đồ thoát ly lập trường duy vật, nhưng cũng hết nức nâng niu, trân trọng, khai thác triệt để những đóng góp của các nhà triết học thuộc các trường phái khác nhau, dù rất nhỏ bé. Chính Lênin cũng đã từng khẳng đinh rằng “CNDT thống minh gần với CNDV thông minh hơn CNDV siêu hình ngu xuẩn”. Tóm lại khi xem xét một học thuyết nào đó trong lịch sử triết học thì vấn đề không chỉ là ờ chỗ xem nó là học thuyết duy vật hay duy tâm, mà cái quan trọng hơn chính là xem nó đã đóng góp gì vào kho tàng lý luận của nhân loại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Siêu Hình Học Là Gì?
  • I. Sự Ra Đời Và Các Thời Kỳ Của Triết Học Hy Lạp
  • Triết Học Hy Lạp , La Mã Cổ Đại
  • Khái Niệm Thời Gian Và Ý Nghĩa Của Vấn Đề Giải Thoát Theo Giáo Lý Đạo Phật
  • Về Thời Gian: Tại Sao Triết Học Phương Tây Chỉ Có Thể Dạy Chúng Ta Đến Thế ?
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Khái Niệm Triết Học Mác Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Nghĩa Kinh Viện Giai Đoạn Suy Thoái. Cuộc Đấu Tranh Chống Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Những Đại Biểu Chính Của Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Lý Thuyết: Triết Học Khai Sáng Pháp Thế Kỷ Xviii
  • Triết Học Kant: Từ Khai Sáng Nhân Loại Đến Đạo Đức Của Người Việt
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Khái Niệm Là Gì Triết Học, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Triết Học Mác Lênin, ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1, Hỏi Đáp Triết Học Mác Lênin, Triết Học Mác-lênin – Tài Liệu Học Tập, Tài Liệu ôn Thi Triết Học Mác Lênin 2, Đề Cương Triết Học Mác Lênin, Giáo Trình Triết Học Mac -lenin, Trắc Nghiệm Triết Học Mác Lênin, 130 Bài Tiểu Luận Triết Học Mac Lenin, “quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin”, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao G, Giáo Trình Cao Cấp Lý Luận Chính Trị Triết Học Mác – Lênin, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao Gồm Mấy Giai Đo, Phải Vận Dụng Những Nguyên Tắc Phương Pháp Luận (quan Điểm) Nào Của Triết Học Mác-lênin?, Quan Niệm Về Phạm Trù Vật Chất Của Các Trào Lưu Triết Học Duy Vật Thời Cổ , Hãy Giải Thích Xu Hướng Sự Phát Triển Theo Quan Niệm Chủ Nghĩa Mác-lênin, Khái Quát Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Quát Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Chỉ Thị 05 Ct Tw Của Bộ Chính Trị, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm ăn, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm P, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 5s, Khái Niệm 5m, Khái Niệm R&d, Khái Niệm 5g, Khái Niệm 500 Anh Em, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm 4r, Khái Niệm 632, Khái Niệm 635, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm A, Khái Niệm 911, Khái Niệm 821, Khái Niệm 811, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm 6s, Khái Niệm 4p, Khái Niệm, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm Đô Thị, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Oda, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm M&a,

    Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Khái Niệm Là Gì Triết Học, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Triết Học Mác Lênin, ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1, Hỏi Đáp Triết Học Mác Lênin, Triết Học Mác-lênin – Tài Liệu Học Tập, Tài Liệu ôn Thi Triết Học Mác Lênin 2, Đề Cương Triết Học Mác Lênin, Giáo Trình Triết Học Mac -lenin, Trắc Nghiệm Triết Học Mác Lênin, 130 Bài Tiểu Luận Triết Học Mac Lenin, “quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin”, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao G, Giáo Trình Cao Cấp Lý Luận Chính Trị Triết Học Mác – Lênin, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao Gồm Mấy Giai Đo, Phải Vận Dụng Những Nguyên Tắc Phương Pháp Luận (quan Điểm) Nào Của Triết Học Mác-lênin?, Quan Niệm Về Phạm Trù Vật Chất Của Các Trào Lưu Triết Học Duy Vật Thời Cổ , Hãy Giải Thích Xu Hướng Sự Phát Triển Theo Quan Niệm Chủ Nghĩa Mác-lênin, Khái Quát Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Quát Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Chỉ Thị 05 Ct Tw Của Bộ Chính Trị, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm ăn, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm P, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 5s, Khái Niệm 5m, Khái Niệm R&d, Khái Niệm 5g,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Với Tính Cách Một Vấn Đề Triết Học
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học
  • Khái Niệm Khả Năng Và Hiện Thực Của Triết Học
  • Quan Hệ Triết Học Mỹ Học Nghệ Thuật Học Trong Văn Hóa Nghệ Thuật
  • Mối Quan Hệ Giữa Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Với Tính Cách Một Vấn Đề Triết Học
  • Khái Niệm Triết Học Mác Lênin
  • Chủ Nghĩa Kinh Viện Giai Đoạn Suy Thoái. Cuộc Đấu Tranh Chống Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Những Đại Biểu Chính Của Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Lý Thuyết: Triết Học Khai Sáng Pháp Thế Kỷ Xviii
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học, Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Quan Niệm Về Phạm Trù Vật Chất Của Các Trào Lưu Triết Học Duy Vật Thời Cổ , Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Chỉ Thị 05 Ct Tw Của Bộ Chính Trị, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm 511, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm C, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm 4g, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm 4k, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4m, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm 131, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Erp, Khái Niệm 3r, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm 3d, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm P, Khái Niệm 2g, Khái Niệm 331, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm 7p,

    Khái Niệm Là Gì Triết Học, Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Quan Niệm Về Phạm Trù Vật Chất Của Các Trào Lưu Triết Học Duy Vật Thời Cổ , Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Chỉ Thị 05 Ct Tw Của Bộ Chính Trị, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm 511, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm C, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm 4g, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm 4k, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4m,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Khả Năng Và Hiện Thực Của Triết Học
  • Quan Hệ Triết Học Mỹ Học Nghệ Thuật Học Trong Văn Hóa Nghệ Thuật
  • Mối Quan Hệ Giữa Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì
  • Truyền Di Truyền: Các Khái Niệm Và Quyền Thừa Kế

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương 2022
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Chính Quyền Địa Phương
  • Khái Niệm Thẩm Quyền Của Tòa Án
  • Bạn Đã Hiểu Đúng Khái Niệm Về Quỹ Dự Trữ Tài Chính Là Gì Chưa?
  • Chính Quyền Đô Thị Và Quyền Của Người Dân
  • Khái niệm về truyền cha truyền con nối

    Trong văn học pháp lý, việc truyền tải được coi là một tình huống đặc biệt đi chưa thực hiện quyền nhận tài sản thừa kế không phải là người thừa kế, và cho những người khác bằng cách chúc hoặc theo pháp luật. Nó trở thành có thể trong trường hợp cái chết của bên nhận chuyển nhượng, mà xảy ra sau khi thừa kế các thủ tục khai mạc. Một điều kiện quan trọng là người đó không có thời gian để đưa hàng hoá hữu hình và vô hình trong thời hạn quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, khả năng lấy tài sản của một người đã chết ưu đãi với người thân của mình và – theo pháp luật hoặc ý chí, nếu nó xảy ra. Là một phần của truyền di truyền của người thừa kế quá cố gọi transmittentom. Một tự mới, được ưu đãi với các đặc quyền nhận tài sản, gọi transmissarom.

    Luật thừa kế của Liên bang Nga, truyền tải

    Trong pháp luật của Nga, cho sự phát triển và áp dụng các phần thứ ba của Bộ luật Dân sự thừa kế và tư pháp quốc tế, thuật ngữ “truyền cha truyền con nối” đã không được chính thức hóa. Nó được sử dụng duy nhất trong thực tiễn xét xử và các tài liệu khoa học. Tất nhiên, trong Bộ luật Dân sự RSFSR năm 1964 (v. 548) xem xét khả năng chuyển nhượng quyền thừa kế trong trường hợp cụ thể. Khái niệm về “truyền” trong pháp luật thừa kế của Liên bang Nga đã được mô tả và đã chính thức thông qua tháng 3 năm 2002, trong phần thứ ba của Bộ luật Dân sự.

    Bản chất của nó là quyết định thu giàu transmittenta quyền transmissaru (trong trường hợp cái chết của người đầu tiên) sau khi các thủ tục mở tài sản. truyền di truyền xảy ra khi transmittent có đặc quyền làm giàu tại thời điểm ông qua đời, đó không phải là tước đi quyền này tại tòa án, thừa kế, từ bỏ anh ấy theo ý thích. Một thực tế quan trọng cũng là transmissar rằng có thể nhận được một phần của di sản đó có nghĩa là để transmittentu. Nếu sau này sẽ có một vài kế – họ sẽ thừa hưởng với nhau, có thể là trong các phần bằng nhau.

    Đặc điểm của quá trình chuyển đổi quyền thừa kế để transmissaru

    Chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm của cơ chế “truyền cha truyền con nối”. Bộ luật Dân sự (nghệ thuật. 1156, p. 1) cho rằng những đặc quyền thừa kế tài sản xuất hiện trong transmissara transmittenta sau khi chết, không được bao gồm như là một phần của di sản của ông. Nghĩa là, nếu transmissar sẽ chết, không thể thực hiện quyền của mình để chiếm đoạt tài sản, nó không thể đi đến những người thừa kế của mình. Trong trường hợp đó, nếu có transmittenta transmissary khác, những chia sẻ của những người đã khuất sẽ đi với họ, và nếu không muốn nói – để những người thừa kế, những người đã được kêu gọi để mất quyền thừa kế sau cái chết của chính của người lập di chúc. Đôi khi nó xảy ra quá transmittent rằng chết sau cái chết của người lập di chúc, nhưng vẫn đến thời điểm này có thời gian để mất do ông giàu có. Trong trường hợp này, nó được bao gồm trong các thành phần của tài sản riêng của mình, quyền đó sẽ được gửi đến gia đình ông trên một cơ sở chung.

    Việc áp dụng các thừa kế. truyền di truyền trong thực tiễn xét xử

    Để hiểu được tbsp vị trí n. 1. 1156, xem xét ví dụ sau đây. Người lập di chúc chết, nhưng quản lý để làm di chúc, trong đó ông bày tỏ mong muốn cử người kế nhiệm của một nửa-anh trai và một đứa con trai. Một tháng sau khi mở của anh trai thừa kế chết. Bằng cách truyền di truyền của quyền lấy của cải vật chất truyền cho vợ ông, là người thừa kế duy nhất của giai đoạn đầu tiên. Tuy nhiên, vợ của anh trai đã chết đột ngột trước khi ông có thể thực hiện quyền của mình. Do đó, tỷ lệ chính tài sản của người lập di chúc, mà ban đầu được nợ cho chồng, sẽ được trao cho các transmittentu hiện thứ hai – con trai của người lập di chúc.

    transmittenta tài sản cá nhân. Theo thứ tự nào nó sẽ biến người thân của mình?

    Nếu transmittenta cái chết của người thân và bạn bè của mình một cơ hội để thừa hưởng những lợi ích hữu hình và vô hình cá nhân của mình. Đó là, trên thực tế nó chỉ ra rằng những người kế transmittenta ưu đãi với khả năng áp dụng đồng thời hai nguồn lực – một trong đó xuất hiện sau cái chết của người lập di chúc, và rằng trong đó di chuyển chúng theo thứ tự của truyền cha truyền con nối. Cả hai quyền là độc lập và có thể được thực hiện một cách độc lập. Bắt transmittenta thừa kế cá nhân sẽ được thực hiện trên cơ sở nói chung, có nghĩa là, hoặc bằng pháp luật hoặc theo di chúc. Cơ chế của việc mua lại của sự giàu có bằng cách truyền di truyền là hơi khác nhau. Trong trường hợp này, cuộc gọi sẽ chỉ được thực hiện để kế theo pháp luật, và những người thừa kế sẽ được bầu từ các vòng tròn của người thân và người thân của người quá cố. Nhưng có một ngoại lệ cho quy tắc này. Nếu transmittent có thời gian để xây dựng và ký kết một ý chí, trong đó ông bày tỏ mong muốn chuyển toàn bộ tài sản của mình cho một người cụ thể, để nó cũng sẽ chuyển động và quyền định đoạt các thừa kế theo thứ tự truyền. Nếu ít nhất là một phần nhỏ trong những lợi ích hữu hình và vô hình không được quy định trong di chúc (đồ gia dụng, đồ nội thất, vv), truy cập đến tài sản sẽ được chuyển giao cho người thừa kế theo pháp luật. Sự lựa chọn của người được thực hiện theo ưu tiên.

    Việc áp dụng các thừa kế. truyền di truyền: vòng tròn của những người thừa kế

    Bộ luật Dân sự định nghĩa công dân mà theo thứ tự của truyền có thể có được quyền hợp pháp để thực hiện phi vật chất và của cải vật chất. Trong nghệ thuật. 1156 đã chỉ ra rằng khả năng làm giàu, ban đầu còn nợ transmittentu, chuyển giao cho người thừa kế hợp pháp của mình hoặc, nếu tất cả sự giàu có là hoàn toàn ý chí, – người thừa kế thuộc ý chí. Trong tổng số có bảy giai đoạn. Trong trường hợp này, bộ mặt của giai đoạn thứ hai và sau đó có thể mất quyền thừa kế duy nhất nếu không có họ hàng gần gũi hơn (hoặc từ chối thừa kế) từ lượt trước. ưu tiên cao hơn trong sản xuất giàu transmittentu do có vợ hoặc chồng, cha mẹ, cũng như trẻ em, kể cả trong bụng, nhưng quan niệm trong đời của mình.

    Bắt các giá trị theo thứ tự truyền của cha mẹ tước quyền làm cha mẹ

    giai đoạn cho sự chấp nhận của các thừa kế là gì?

    luật của Nga thiết lập một khoảng thời gian mà các thủ tục phải được thực hiện lấy tài sản. Ông là sáu tháng kể từ ngày chết của người lập di chúc, tức là kể từ khi sự xuất hiện của quyền thừa kế. Trong trường hợp của truyền cha truyền con nối thiết lập một thời gian đặc biệt. Nó được tính kể từ ngày khi thừa kế đã được mở ra. Trong trường hợp sau cái chết của transmittenta là ít hơn 3 tháng, giai đoạn này được mở rộng đến giới hạn (90 ngày). Đối với việc áp dụng các tài sản đó thuộc về transmittentu chết trực tiếp, sử dụng khoảng thời gian sáu tháng, tính từ ngày đầu tiên công chiếu. Những người thừa kế là muộn để tạo ra sự giàu có theo thứ tự truyền, thông qua các tòa án có thể được coi là chấp nhận nó. Bên cạnh đó, nếu tòa án cho biết nhận ra rằng nguyên nhân của sự thất bại của sự giàu có trong khoảng thời gian nhất định là thực sự tôn trọng, cuộc sống có thể được phục hồi.

    Gửi và nhận sự giàu có bởi quyền đại diện. Làm thế nào để chúng khác nhau?

    Thừa kế bởi quyền đại diện và việc truyền tải di truyền – họ là hai cơ chế khác nhau cho quá trình chuyển đổi của tài sản và trang thiết bị và lợi ích vô hình từ người đã chết cho người kế nhiệm. Chúng ta hãy xem những gì bản chất của họ. truyền di truyền là khác với sự xuất hiện của quyền thừa kế của một người là kết quả của mở thừa kế, từ chối hoặc đình chỉ người thân khác của người quá cố. Cô cũng có sự phân biệt thừa kế bởi quyền đại diện, podnaznacheniem người thừa kế và increment phần của bất động. Thứ nhất, việc truyền tải bắt đầu hoạt động chỉ trong trường hợp tử vong transmittenta, sau khi mở các tài sản chính của người lập di chúc. Và thừa kế bởi quyền đại diện, nó là có thể, nếu người được yêu cầu của pháp luật được viện dẫn để chiếm đoạt tài sản, chết trước khi mở thừa kế (tức là, trước khi cái chết của người lập di chúc, hoặc đồng thời với nó). Trong trường hợp này, sự giàu có đi với những người nhất định theo thứ tự của chúng. Thứ hai, truyền gen, ngoài việc cung cấp quyền sở hữu của người quá cố, ông điều chỉnh các thủ tục làm giàu. Quyền đại diện, là một đặc quyền chủ quan của cá nhân cụ thể, được thành lập theo pháp luật, thì không. Trong việc thực hiện cơ chế này được quan sát mạch tiêu chuẩn như trong thừa kế bình thường. Thứ ba, theo thứ tự truyền sẽ chuyển sang bên phải transmissaru transmittenta. Khi bạn được thừa hưởng bởi đại diện của tiếp giữa người thừa kế, người đã qua đời trước ngày khai mạc của tài sản, và trẻ em và con cháu của mình ở đó.

    Trong một số trường hợp, cơ chế gửi bị hủy bỏ?

    Luật pháp cung cấp một số trường hợp ngoại lệ, khi thứ tự kế không thể được thực hiện:

    • cùng một lúc, cả hai đều chết – và người lập di chúc và người thừa kế;
    • có một ý chí mà người lập di chúc có kế khác;
    • transmissar đóng vai trò như một người thừa kế bắt buộc.

    Hãy kiểm tra chúng một cách chi tiết. Tình hình đầu tiên không cho phép chuyển nhượng quyền nhận giá trị transmissaru như cái chết đồng thời của người lập di chúc và người thừa kế không trả lời các điều kiện truyền quan trọng nhất gây tử vong transmittenta sau khi thừa kế được mở ra. Tình huống thứ hai: sự sẵn di chúc cũng loại bỏ khả năng của cơ chế truyền dẫn. Bộ luật Dân sự (Art. 1121, p. 2) chỉ được di chúc chọn một người thừa kế (so với lõi) trong trường hợp chết đầu tiên hoặc trước ngày khai mạc của những di sản hoặc từ chối nó. Một điều kiện quan trọng cho điều này là sự cần thiết của ý chí của sở hữu tất cả, chứ không phải là bộ phận của nó. Nếu không, việc truyền tải sẽ có sẵn, và sẽ được lựa chọn người transmissarami từ vòng tròn của những người thừa kế hợp pháp.

    thay vì một kết luận

    Vì vậy, chúng tôi đã xem xét trong bài viết này mà truyền di truyền này và quyền đại diện. Chúng tôi đã mô tả vòng tròn của những người thừa kế, thời gian của mua lại sự giàu có và cơ chế chuyển nhượng transmittenta tài sản cá nhân. Chúng tôi đã học như thế nào thừa kế xảy ra bằng cách truyền cha truyền con nối. Chúng tôi hy vọng thông tin này sẽ có lợi cho bạn và giúp bạn trong trường hợp nhu cầu sử dụng tài sản do.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Định Quyền Thừa Kế Trong Pháp Luật Dân Sự Việt Nam
  • Những Người Bị Tước Quyền Hưởng Di Sản Thừa Kế
  • Quyền Thừa Kế Là Gì? Những Đối Tượng Có Quyền Thừa Kế Theo Pháp Luật?
  • Người Bị Tước Quyền Thừa Kế Và Người Bị Truất Quyền Thừa Kế
  • Một Số Khái Niệm Về Quyền Tác Giả, Quyền Liên Quan
  • Khái Niệm Về Khoa Học Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Ăn Uống Có Khoa Học
  • Nguyên Tắc Ăn Uống Khoa Học
  • Chế Độ Ăn Uống Khoa Học
  • Cách Ăn Uống Khoa Học
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Lỗ Đen Vũ Trụ
  • Khoa học – một loại hoạt động nhận thức của con người nhằm mục đích việc mua lại và phát triển khách quan, phù hợp và kiến thức tổ chức có hệ thống về thế giới. Trong quá trình hoạt động này được thu thập dữ kiện, phân tích, phân loại và phân tích sâu hơn trên cơ sở dữ liệu có sẵn, kiến thức mới, cho phép cho một dự đoán dựa trên khoa học của tương lai.

    Khái niệm về khoa học trong triết học là một trong những nơi quan trọng nhất. Khoa học là cơ bản hình thức kiến thức của thế giới. Đối với tầm nhìn triết học của thế giới, bạn phải có một số ý tưởng về khoa học, đó là, làm thế nào để xây dựng một khoa học vì nó phát triển mà nó có sẵn, chúng ta có thể hy vọng cho vì những thành tựu của mình.

    Khái niệm về triết học khoa học bao gồm các cơ sở của nó mục đích định nghĩa ý thức hệ (mô hình) các ý tưởng phức tạp và các khái niệm đại diện cho khoa học, vv Điều này cũng bao gồm các vấn đề về đạo đức khoa học – hệ thống các quy tắc chi phối các mối quan hệ của người dân trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.

    Khái niệm về khoa học trong triết học được định nghĩa là một hình cầu của hoạt động con người, có chức năng chính là để phát triển kiến thức của thực tại một cách khách quan. Khoa học là một hình thức của ý thức xã hội. Nó bao gồm các hoạt động cho việc mua lại kiến thức mới, cũng như số tiền rất của tất cả các kiến thức, mà là cơ sở của bức tranh thế giới. Bằng cách khoa học và hiểu được các chi nhánh riêng biệt của kiến thức khoa học.

    triết lý hệ thống khoa học được chia thành xã hội, tự nhiên, nhân đạo và kỹ thuật. Nó có nguồn gốc trở lại trong thế giới cổ đại, nhưng khi hệ thống bắt đầu hình thành trong thế kỷ 16. Trong quá trình phát triển của nó, nó đã trở thành một tổ chức xã hội lớn xã hội cần thiết và thấy mình trên tác phẩm của ông có ảnh hưởng rất lớn.

    Triết lý thực chứng (cả ba giai đoạn), nhiệm vụ chính của triết lý của khoa học là phải hiểu bản chất của lý thuyết khoa học nói chung, nỗ lực đã được thực hiện để xác định cấu trúc của nó, phương tiện tạo ra tri thức. Tại thời điểm này, có phải là vấn đề của sự phát triển của tri thức khoa học.

    Có một điều chẳng hạn như vấn đề của triết lý của khoa học. Nó đề cập đến các vấn đề của sự phát triển của tri thức khoa học, nghiên cứu về sự xuất hiện của khoa học và phát triển của nó ở mọi giai đoạn phát triển xã hội. Triết lý của khoa học tìm cách phát triển các hướng dẫn triết học để giải quyết những vấn đề này. Vấn đề chính của triết lý của khoa học là vấn đề về nguồn gốc của kiến thức khoa học của chính nó. Nói chung, tất cả các vấn đề được chia thành ba nhóm: các vấn đề của triết lý của khoa học, phát sinh từ những đặc thù của triết học; vấn đề trong bản thân khoa học; vấn đề của sự tương tác giữa triết học và khoa học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tâm Lý Học Định Nghĩa Như Thế Nào Về Sự Sáng Tạo?
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo
  • Chủng Tộc: Một Khái Niệm Không Có Cơ Sở Khoa Học
  • Thế Nào Là “cơ Sở Khoa Học” ?
  • Quy Trình Thực Hiện Nghiên Cứu Khoa Học (Mục Tiêu Nghiên Cứu).
  • Kế Toán (Accounting) Là Gì? Các Khái Niệm Kế Toán Được Thừa Nhận

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Và Nguyên Tắc Kế Toán Được Thừa Nhận
  • Khái Niệm Và Lý Thuyết Kế Toán Bán Hàng
  • Sự Thật Về Kế Toán Bán Hàng Là Gì Và Công Việc Của Họ
  • Kế Toán Bán Hàng Là Gì? Những Công Việc Mà Kế Toán Bán Hàng Phải Làm. ⋆ Phần Mềm Hóa Đơn Điện Tử Eiv
  • Khái Niệm Về Sách Kế Toán Ngân Sách, Xã Phường, Thị Trấn
  • Kế toán trong tiếng Anh là Accounting.

    Kế toán là quá trình phân loại, ghi chép, tổng hợp những hiện tượng kinh tế phát sinh tại một doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin.

    Nhiệm vụ của kế toán

    Ghi nhận, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong một tổ chức, một đơn vị kinh tế trên cơ sở các chứng từ kế toán

    Phân loại và tập hợp các nghiệp vụ: Kế toán tập trung các nghiệp vụ cùng loại với nhau để theo dõi và quản lí từng loại nghiệp vụ phát sinh trong doanh nghiệp

    Tổng hợp số liệu: Sau một kì kinh doanh, kế toán sẽ tổng hợp các nghiệp vụ đã được phản ánh và xếp loại trong sổ sách kế toán. Tổng hợp có nghĩa là tính ra tổng số của từng loại nghiệp vụ cần quản lí, sắp xếp và trình bày trên báo tài chính

    Vai trò của kế toán trong một tổ chức

    Các thông tin kế toán giúp cho nhà quản lí đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Từ đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ giúp mở rộng thị phần, tăng doanh thu và lợi nhuận.

    Về cơ bản, kế toán là một phương thức đo lường, cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu kinh tế của toàn xã hội. Các yêu cầu thông tin ít hay nhiều, thô sơ hay phức tạp đều có chung thuộc tính là biểu hiện bằng tiền về tình hình sử dụng và sự biến động các tài nguyên kinh tế.

    Các khái niệm kế toán được thừa nhận

    1. Khái niệm cân đối kế toán (Dual aspect concept)

    Tài sản = Nguồn vốn

    Hay Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu

    2. Khái niệm thước đo tiền tệ (Money measurement concept)

    Kế toán phải qui đổi tất cả sự việc thuộc đối tượng của kế toán về một đơn vị đồng nhất là tiền tệ (ở Việt Nam là đồng Việt Nam).

    3. Khái niệm tổ chức – đơn vị kế toán (Entity concept)

    Về mặt kế toán, mỗi doanh nghiệp được xem là một tổ chức độc lập với chủ sở hữu, độc lập với doanh nghiệp khác.

    4. Khái niệm hoạt động liên tục (Going – concern concept)

    Kế toán giả thuyết rằng một doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động liên tục không thời hạn trừ khi có sự khẳng định chắc chắn về việc giải thể.

    5. Khái niệm giá gốc (Historical Cost concept)

    Mọi tài sản của doanh nghiệp mua vào được ghi nhận theo giá gốc, không chịu ảnh hưởng của giá thị trường:

    – Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.

    – Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.

    Nguyên tắc này nhằm ghi nhận đúng thực tế khách quan của giá trị tài sản khi hình thành. Vì vậy, cần phân biệt giữa giá gốc của tài sản và giá trị thực tế của tài sản.

    6. Khái niệm thận trọng (Convervatism concept)

    Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh.

    7. Khái niệm có thể thực hiện (Realization concept)

    Ghi nhận, phản ánh nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng thực tế. Ví dụ, chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi việc giao hàng đã hoàn thành, người mua chấp nhận thanh toán.

    Tuệ Thi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Cơ Bản Dành Cho Các Bạn Kế Toán Sinh Viên Năm Nhất
  • Mô Tả Công Việc Của Một Kế Toán Trưởng Trong Doanh Nghiệp
  • Mô Tả Công Việc Kế Toán Trưởng
  • Kế Toán Là Gì? Nghề Kế Toán Và Các Vị Trí Trong Phòng Kế Toán
  • Kỹ Năng Cần Cho Một Kế Toán Trưởng Giỏi, Bạn Đã Biết Chưa?
  • Giáo Án Triết Học Nhập Môn. Bài I: Khái Niệm Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Từ Láy Lớp 7 Trang 41 Sgk
  • Soạn Bài : Từ Láy (Lớp 7)
  • Bài Tập Về Từ Ghép Và Từ Láy
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 4: Từ Ghép Và Từ Láy
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì? Phân Biệt Từ Láy Và Từ Ghép
  • Thật ra, chưa có một định nghĩa nào bao hàm được hết về triết học, mỗi triết gia, mỗi thời đều có những định nghĩa khác nhau, trước hết chúng ta tìm về nguyên ngữ của triết:

    Nguyên ngữ: a, Tây phương:

    Philosophia (φιλοσοφία): Trong ngôn ngữ Hy lạp, chữ φιλοσοφία (philosophia, triết học) được kết hợp từ φίλος (philos, người yêu mến, bạn hữu) và σοφία (sophia, sự khôn ngoan/ hiểu biết). Tôi học triết cũng là để mặc lấy cho mình “triết tính”, tức yêu mến sự khôn ngoan. Thế nhưng, lòng yêu mến hay nỗi thao thức tìm kiếm sự khôn ngoan không có giá trị tự tại; triết học phải mở ra hay hướng đến một điều gì đấy. “Biết gì” chưa đủ, phải biết ” biết để làm gì”. Sự khôn ngoan phải đi từ khối óc (TRÍ) đến đôi tay (HÀNH). Đó là quan niệm theo phương Tây, mà hình như giữa đôi bờ TRÍ – HÀNH vẫn còn một dòng sông ngăn cách.

    Karl Jaspers cho rằng danh từ Philosophia hay Philosophos được lập ra để phân biệt với các quan niệm khác về các khoa học. Philosophos chỉ “người yêu tri thức”, khác hẳn với nhà bác học (savant) là người đã “sở đắc tri thức” (possédant le savoir). Thật vậy, yếu tính của triết học là truy tầm chân lý (la recherche de la vérité) chứ không phải sở đắc chân lý (la possession de la vérité). Học triết lý chính là lên đường đi tìm, và là một cuộc tìm kiếm triền miên.

    哲 : chữ “triết” 哲 (gọi tắt cho “triết học”) bao gồm chữ “chiết” 折 (bộ thủ 手 ) và bộ khẩu 口 [miệng]. Theo đó, học/hành triết là “cầm rìu chặt chẻ” vấn đề để thấy tận bên trong; bên cạnh đó còn phải truyền thông ý tưởng cho người khác bằng ngôn ngữ.

    Xem ra chữ 哲 ( triết ) của Đông phương có thể soi sáng và gia tăng ý nghĩa cho chữ φιλοσοφία của người Hy-lạp ở chiều sâu và chiều rộng. Vâng, biết thì phải biết sâu; biết thì có nghĩa vụ thông truyền. Sở dĩ muốn hiểu biết sâu hơn và truyền thông rộng hơn là vì có lòng yêu mến. Bởi lẽ, “vô tri bất mộ,” và “tình yêu cốt ở việc làm hơn là lời nói; cốt ở sự thông truyền giữa hai bên – người yêu trao tặng và thông truyền cho người mình yêu những gì mình có”. Đó mới là yêu mến thực thụ, tức cho đi, chứ không chỉ ưa chuộng, mến mộ hay ham muốn kiếm tìm và chiếm hữu. Ở giữa khối óc (TRÍ) và đôi tay (HÀNH) là nhịp cầu con tim (TÂM) đang chờ đưa triết nhân sang sông.

    Thế nhưng, theo Nguyễn Duy Cần – trong cuốn “Nhập môn triết học Đông phương”- cho rằng, theo quan điểm Đông phương, nên dùng chữ “đạo” có lẽ sẽ chỉnh hơn.

    道 ) : Theo như lối chiết tự của Trung Hoa thì chữ Đạo ( 道 ) bao gồm bộ Xước ( 辵 ) và chữ Thủ ( 首 ). Chữ Thủ ( 首 ) đầu tiên là một nét chấm bên trái và một nét phẩy bên phải, sau đó là chữ Nhất ( 一 ) rồi kế đó là chữ Tự ( 自 ). Nét chấm đầu tiên bên trái tượng trưng cho nhất Dương và nét phẩy bên phải tượng trưng cho nhất Âm. Có Âm, Dương rồi thì đi đến chữ Nhất . Như vậy có nghĩa là phải hợp nhất Âm, Dương với nhau chung lại thành một. Chữ Tự ( 自 ) có nghĩa là tự nhiên hay tự mình, chính bản thân mình chứ không ai làm cho mình được. Tất cả gộp lại thành chữ Thủ, có nghĩa là đầu tiên cũng có nghĩa là việc làm đầu tiên là tự bản thân mình hợp nhất Âm Dương. Kế đến là chữ Xước ( 辵 ) có nghĩa là lưu hành vận chuyển. Như vậy sự cấu tạo của chữ Đạo ( 道 ) mang ý nghĩa là chính tự bản thân mình đem âm dương hợp nhất để rồi lưu chuyển và biến hoá. Hiểu xa hơn là phải chính bản thân mình nắm bắt được sự động (Dương), tĩnh (Âm) ở bên ngoài mà hoà hợp nó để có thể chuyển hoá nó một cách hài hoà theo quy luật của tự nhiên. Đạo là một con đường đi, một hướng đi hay nói cách khác nó là một phương pháp tìm hiểu những quy luật sẵn có của vũ trụ (Âm, Dương, Động, Tĩnh, Đêm, Ngày, Nóng, Lạnh…) tác động lên con người để rồi vận dụng những quy luật đó và chuyển hoá nó một cách hữu hiệu hơn nhằm đem lại sự thăng hoa, tinh tấn trong cuộc sống của chính bản thân chúng ta. Đạo còn là quy luật của thiên nhiên của đại vũ trụ bao trùm khắp mọi nơi.

    Tóm kết một số định nghĩa tương đối về triết:

    – Triết nghiên cứu những hiện tượng xảy ra trong tâm hồn, nghiên cứu những phương pháp dẫn đến sự thật (sự thật của khoa học nhân văn, tự nhiên), nghiên cứu lối sống nào phù hợp với lý tưởng làm người, nghiên cứu những gì vượt tầm giác quan, những nguyên nhân cao siêu nhất, những cứu cánh tận cùng…

    – Triết là suy niệm cuộc đời, về ý nghĩa cuộc đời, về than phận làm người, về đau khổ, về cái chết, về ý nghĩa lịch sử của nhân loại.

    – Triết là đi tìm cái gì cơ bản nhất, sâu xa nhất của mỗi sinh hoạt con người: tôn giáo, chính trị, kinh tế, khoa học, gia đình, giáo dục.

    – Triết là tìm thẩm định giá trị sự thật siêu việt của mọi sinh hoạt con người.

    – Triết là tìm phân biệt và hòa hợp trong hòa điệu, trong tổng hợp hài hòa những hiểu biết khác nhau, những giá trị khác nhau, những sự vật khác nhau, những hữu thể khác nhau, tìm thống nhất cái biết, cái cảm, cái làm, cái sống, tri và hành…

    – Đặc biệt, triết là tìm hiểu sâu sắc hơn, chính xác hơn chính mình và cũng để sống sâu sắc hơn than phận chính mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Vui Về Các Môn Học
  • Chương I Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Khái Niệm Về Âm Dương Ngũ Hành (Phần 2)
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển: Tính Chất, Ý Nghĩa Và Vận Dụng Thực Tiễn
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng, Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm “tiến Hóa” Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Học 12 Chương Tiến Hóa: Lý Thuyết Trọng Tâm Và Bài Tập
  • Xúc Tiến Bán Hàng Là Gì? Xây Dựng Chiến Lược Xúc Tiến Bán Hàng Hiệu Quả
  • Xúc Tiến Bán Hàng (Sales Promotion) Là Gì? Thực Hiện Xúc Tiến Bán Hàng
  • Cùng Iicci Tìm Hiểu Rõ Hơn Về Khái Niệm Xúc Tiến Thương Mại Là Gì?
  • Đổi Mới Để Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Xúc Tiến Đầu Tư
  • Lịch sử, sinh học, triết học và khoa học khác là luôn luôn gần kề. Nó không phải là đáng ngạc nhiên rằng một số khái niệm có thể được hiểu theo nhiều cách. Khái niệm “tiến hóa” vẫn là một lời giải thích rất mơ hồ. Nhiều nhà khoa học đang cố gắng tìm một giải thích tốt về thuật ngữ này.

    Tình trạng chung của các vấn đề

    Khi chúng ta nghe “tiến hóa”, chúng tôi ngay lập tức xuất hiện để Darwin với các lý thuyết và các giải pháp của mình. Trong thực tế thuật ngữ có một lịch sử lâu dài và được phân tích trong nhiều thế kỷ liên tiếp. Nó thường được sử dụng các vấn đề phát triển con người theo nghĩa hẹp và hoàn toàn quên đi những khu vực rộng khác.

    Sự tiến hóa cũng nhiều lần nhắc đến cùng với cách mạng và suy thoái. Một khái niệm này là một sự tiếp nối tích cực của người đầu tiên. Thứ hai nó chỉ ra điều ngược lại. Dù bằng cách nào, khái niệm “tiến hóa” có một đặc điểm chung, mà chúng tôi sẽ cố gắng để tìm thấy nó.

    sự giải thích

    Điều quan trọng là phải hiểu rằng việc giải thích của từ không thay đổi cho dù chúng ta sẽ thu hẹp hoặc mở rộng thuật ngữ. Dù bằng cách nào, định nghĩa của khái niệm nằm trong sự tiến hóa của “phát triển” từ. Và từ đó, cho dù đó là sự phát triển của cá nhân, hoặc lịch sử của thế giới, ý nghĩa không thay đổi. Vì vậy, nó chỉ ra rằng nội dung được giữ vĩnh viễn trong tất cả các trường hợp trên. Nó chỉ còn lại để tìm ra những đặc điểm chung.

    điều kiện của sự tồn tại

    Các điều kiện sau đây – những tính năng phân biệt. Thay đổi không phải lúc nào tích cực. Nhưng ở đây về việc giải thích sự tiến hóa là khác nhau ở chỗ trong quá trình chuyển đổi sang một trạng thái hoàn hảo hơn. Đó là, một cái gì đó đang thay đổi và trở nên phức tạp hơn, có giá trị và ý nghĩa. Và nó không quan trọng, thay đổi định tính hoặc định lượng.

    Các điều kiện sau đây cho sự hiệp nhất của đề tài này. Trong trường hợp này, bách khoa Britannica thứ mười đưa ra một ví dụ với nước. Nếu thay đổi nước phát sinh, và nó được chia thành các thành phần, kết quả là: làm thế nào nước chính nó, và oxy và hydro có thể tồn tại một cách độc lập. Điều này có nghĩa rằng bất kỳ sự phát triển trong thời gian dài đã không xảy ra. Trong trường hợp này, khái niệm “tiến hóa” là không thích hợp. Nó có thể được áp dụng chỉ khi nhà nước mới có thể thay thế trước đó, có nghĩa là, sự phát triển đã xảy ra.

    phân công

    Thuật ngữ này từ lâu đã cố gắng để áp dụng đối với các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Và nếu nó hợp lý có thể được giải thích trong mối quan hệ với các sinh vật sống, ở đây trong lịch sử có nghi ngờ. Chúng ta có thể dễ dàng khẳng định sự phát triển của vật lý. Nhưng đó là về sự phát triển tinh thần bắt đầu ngay lập tức dấy lên câu hỏi. phát triển tâm thần có vẻ như rõ ràng, mặc dù bị đàn áp, thậm chí mức giảm tuyệt đối và sự tàn phá của toàn bộ các thời kỳ văn hóa.

    Tuy nhiên, nguyên nhân chính do đó khái niệm cơ bản của quá trình tiến hóa đã xuất hiện trong triết học và chuyển từ thế giới sống, đã trở thành nhu cầu để phân tích nó như một toàn thể. Tất nhiên, cũng có thể là một mong muốn loại bỏ tất cả các biên giới hiện hữu giữa chết và sống vật chất và tinh thần. Nó sẽ xuất hiện những người sẽ đại diện cho sự xuất hiện của sự sống từ vấn đề chết và theo thứ tự ngược lại.

    nguyên nhân khác

    Vai trò quan trọng và không gian nghệ thuật từ geologizmom. Spencer dẫn họ theo chương trình phát triển và những ý tưởng tiếp tục các nhà khoa học đầu về tác động của quá trình tiến hóa hữu cơ cho bất kỳ khác.

    Các nhà nghiên cứu nhìn thấy bản chất của nó trong sự luân hồi trong một không đồng nhất đồng nhất, và lý do cho quá trình này là bất kỳ lực lượng có thể tạo ra một vài thay đổi, cũng như bất kỳ lý do gì tạo ra một số hành vi phạm tội. Tất nhiên, một chương trình như vậy có thể dễ dàng thể hiện một trong những điều kiện cho sự hiệp nhất của sự tiến hóa.

    Chạm vào trong triết học

    Do đó, nó trở nên rõ ràng rằng sự tiến hóa được liên kết trực tiếp với lịch sử. Nó có tất cả sự hoàn hảo cùng và thiếu thốn. Nhưng đó là chính xác những gì đã dẫn đến kết luận rằng thuyết tiến hóa chỉ áp dụng cho sự ra đời của các hiện tượng và bản chất của họ trong bất kỳ cách nào. Vì vậy, ông cần phải được giải thích bởi triết lý và bổ sung từ những quan điểm triết học khác nhau.

    Ưu điểm và nhược điểm

    Khái niệm về quá trình tiến hóa đã được giải thích triết lý từ quan điểm riêng của mình xem. Tất nhiên, nó không thể đoàn kết hợp với lý thuyết nhị nguyên, như nó đã xa chủ nghĩa chủ quan và thuyết duy ngã. Nhưng thuyết tiến hóa đã trở thành một nền tảng vững chắc cho một triết lý thuyết nhất nguyên. Điều này có thể được giải thích bởi thực tế rằng có hai hình thức nhứt nguyên luận. Một – các vật chất, thứ hai – lý tưởng. Đại diện của các hình thức đầu tiên là Spencer, thứ hai cố gắng bày tỏ Hegel. Cả hai đều không lý tưởng, nhưng, dù sao, cảm thấy tự do để hỗ trợ các khái niệm về quá trình tiến hóa.

    lý thuyết mầm

    Như đã đề cập trước đó, khi chúng ta nghe từ “tiến hóa” ngay lập tức nói đến cái tâm Darwin. Vì vậy, khái niệm về thuyết tiến hóa được sinh ra từ lâu trước khi Darwin. Suy nghĩ đầu tiên là ở Hy Lạp – xem transformistskie để phán. Anaximander và Empedocles hiện nay được coi là những người tiên phong của lý thuyết riêng của mình. Mặc dù đủ căn cứ để không chấp thuận như vậy.

    Trong thời Trung cổ thật khó để tìm thấy một nền tảng cho sự phát triển của lý thuyết này. Quan tâm đến việc nghiên cứu tất cả các sinh vật sống là không đáng kể. Hệ thống thần học của chính phủ là không thuận lợi cho sự phát triển của lý thuyết tiến hóa. Tại thời điểm này mọi nỗ lực để hiểu câu hỏi này, Augustine và Erigena.

    Một nơi nào đó gần đó “đi” Bacon và Descartes. Đầu tiên nói về transformism, để thay đổi các loài thực vật và động vật, nhưng suy nghĩ của mình là hoàn toàn không có sự tiến hóa. Descartes, Spinoza duy trì đại diện của ông về thế giới như chất.

    Phát triển của sự tiến hóa này được sau Kant. Các nhà triết học rất giống nhau cũng bày tỏ những suy nghĩ sống động về phát triển. Trong công việc của mình nhiều hơn một lần tôi đề cập đến lý thuyết về sự tiến hóa, nhưng triết lý của ông là do hơn đối với sự co hồi. Tuy nhiên, Kant epigenezisu thông cảm.

    Nhưng lý thuyết hơn nữa đã nhận được lời giải thích khá rõ rệt và biện minh đầy đủ. Fichte, Schelling và Hegel bắt đầu phát triển những ý tưởng của Kant. quá trình tiến hóa của họ được gọi là triết học tự nhiên. Hegel và tất cả đã cố gắng để áp dụng nó vào thế giới tâm linh và lịch sử.

    người

    Sớm hay muộn thế giới phải biết những gì diễn biến của con người. Khái niệm này được hiện nay được mô tả bằng thuật ngữ “anthropogenesis”. Vì các lý thuyết của ông có một ý tưởng về đâu, tại sao và khi người đàn ông xuất hiện. Các chính ba ý kiến: sáng tạo và thuyết tiến hóa cosmism.

    thực tế

    Nếu tất cả chúng ta nói về nhân chủng học như một khoa học, nhiều nhà nghiên cứu giữ nó lý thuyết tiến hóa. Cô là con người thật nhất, hơn nữa xác nhận bởi những phát hiện khảo cổ học và sinh học. Tại thời điểm này, quá trình tiến hóa sinh học này chỉ ra một vài giai đoạn của phát triển con người :

    • Australopithecus.
    • Homo habilis.
    • Homo erectus.
    • Các Homo sapiens cổ xưa nhất.
    • Neanderthal.
    • Homo sapiens mới.

    Australopithecus hiện được coi là gần gũi nhất đầu tiên đến cách con người của sự sống. Mặc dù bề ngoài anh ta giống như một con khỉ hơn là một con người. Quê hương của khoảng 4-1.000.000 năm trước đây trong khu vực châu Phi.

    Homo habilis là lần đầu tiên của loại hình của chúng tôi. Chúng tôi đặt tên nó là như vậy bởi vì nó có thể tạo ra các công cụ đầu tiên của lao động và chiến đấu. Có lẽ ông có thể nói chuyện. Homo erectus chiếm không chỉ châu Phi, mà còn Eurasia. Ngoài những vũ khí, làm cho lửa. Ngoài ra còn có một khả năng rằng ông có thể nói chuyện. Lâu đời nhất Homo sapiens là một giai đoạn chuyển tiếp. Do đó, đôi khi mất tích từ các mô tả về các giai đoạn anthropogenesis.

    người Neanderthal từng được coi là một tổ tiên trực tiếp của con người, nhưng sau đó quyết định rằng ông là một nhánh cụt của sự tiến hóa. Được biết, nó đã được khá một quốc gia phát triển có nền văn hóa riêng, nghệ thuật, và thậm chí đạo đức của nó.

    xã hội

    Người ta nói rằng khái niệm “tiến hóa xã hội” Darwin đã xuất hiện trước đó. Nó đặt nền móng của Spencer. Ý tưởng chính là xã hội bất kỳ bắt đầu cách từ trạng thái nguyên thủy và dần dần đi vào nền văn minh phương Tây. Các vấn đề của những ý tưởng này đã được thực tế rằng chỉ có một vài nghiên cứu về xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển của họ.

    Nỗ lực hợp lý và phù hợp nhất để phân tích và biện minh cho sự phát triển xã hội thuộc về Parsons. Ông đã tiến hành nghiên cứu trên quy mô của lý thuyết lịch sử thế giới. Bây giờ có một số lượng lớn các nhà khảo cổ học và nhân chủng học người dành nhiều nguồn lực của mình để nghiên cứu về thuyết tiến hóa đa tuyến, sociobiology, nâng cấp và vân vân. D.

    hệ thống

    Phát biểu của xã hội, không thể bỏ qua khía cạnh này. Sự phát triển của các khái niệm về hệ thống trong một thời gian dài đã đến đỉnh điểm. Phải mất hơn nửa thế kỷ, khi tất cả các loại giả thuyết đã được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học. Tuy nhiên, vấn đề chính là thiếu cách tiếp cận chung cho tất cả nghiên cứu hệ thống cho đến ngày nay.

    khoa học

    Khoa học cũng vẫn không có một khái niệm thuật ngữ duy nhất. Trong một thời gian dài sự phát triển của “khoa học” của thuật ngữ không thể tìm thấy chính mình. Có lẽ sự xuất hiện của cuốn sách P. P. Gaydenko “Sự phát triển của khái niệm của khoa học” là không đáng ngạc nhiên. Trong bài báo này tác giả cho thấy không chỉ sự phát triển của các thuật ngữ trong thế kỷ 17-18, mà còn để sự hiểu biết về phương pháp và cách biện minh kiến thức của mình, và để tiếp tục sự hình thành khái niệm.

    khái niệm

    tiến hóa thường được nhớ đến trong chủ nghĩa Mác. Cùng với cuộc cách mạng, thuật ngữ này được sử dụng để mô tả hai bên và phát triển khác nhau. Này, tình cờ, là một ảnh hưởng trên triết lý của khái niệm này. Sự phát triển trong kế hoạch này là một sự thay đổi trong con người và ý thức. Nó có thể là cả hai chuyển đổi định lượng và định tính. Và nếu tiến hóa – một sự thay đổi dần dần, cuộc cách mạng được coi là một, hồng y, chuyển đổi chất lượng cao sắc nét.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Tiến Hóa Xã Hội: Xã Hội Hiện Đại Phát Triển Như Thế Nào?
  • Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Bản Chất, Vai Trò Và Ý Nghĩa
  • Khái Niệm Văn Hóa Trong Xã Hội Học
  • Tài Liệu Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100