Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Là Gì?
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tin Học 10 Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Lý Thuyết: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Nắm bắt khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam giúp bạn hiểu rõ hơn về hệ thống chính trị Việt Nam và có được cái nhìn khách quan hơn về thể chế chính trị của đất nước ta thông qua từng giai đoạn.

    Trước 1986 Đảng ta chưa sử dụng khái niệm hệ thống chính trị mà chỉ sử dụng khái niệm hệ thống Vô Sản, mãi về sau khái niệm hệ thống chính chính trị mới ra đời và được hiểu theo một số nghĩa sau:

    Theo nghĩa rộng: hệ thống chính trị là toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là 1 hệ thống bao gồm: các tổ chức, các chủ thể chính trị, các cơ quan chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực pháp luật

    Theo nghĩa hẹp: hệ thống chính trị là các tổ chức, các cơ quan thực hiện chức năng chính trị trong XH như: Các Đảng chính trị, các cơ quan, nhà nước, các tổ chức chính trị XH có cơ quan trực tiếp hay gián tiếp tới quyền chính trị.

    Hệ thống chính trị ở VIỆT NAM hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nc, Mật trận tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị – xã hội (Tông Liên đoàn Lao Động VIỆT NAM, Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ VIỆT NAM, Hội Cựu chiến binh VIỆT NAM, Hội Nông Dân VIỆT NAM) và mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống. Dưới sự lãnh đạo của nhần thực hiện quyền lợi chính trị của nhân dân XÃ HỘI CHỦ NGHĨA và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh XH công bằng, dân chủ văn minh.

    Hệ thống chính trị Việt Nam được tạo nên từ rất nhiều thành tố

    Hệ thống chính trị Việt Nam đã bộc lộ những ưu điểm tuyệt vời trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đỉnh cao là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau năm 1975, hòa bình lập lại, chúng ta đang bước đi trên con đường đổi mới với những yêu cầu cao hơn, bức thiết hơn của nền kinh tế thị trường. Vậy thực trạng của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay ra sao? Hệ thống chính trị của chúng ta đã hoàn thiện chưa hay vẫn cần đổi mới?

    Việc nắm rõ khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam giúp bạn có được cái nhìn cận cảnh, rõ ràng và chính xác hơn về thể chế chính trị của đất nước, tránh suy nghĩ và có cái nhìn lệch lạc về vấn đề. Bên cạnh đó, việc nắm rõ khái niệm cũng giúp cho bạn có được hướng nghiên cứu và tìm hiểu chính xác hơn về hệ thống chính trị Việt Nam. Từ đó có thể thấy việc được việc nắm rõ khái niệm của mọi vấn đề là vô cùng quan trọng khi tìm hiểu về mọi vấn đề ngay cả chính trị. Tuy nhiên hiện nay khái niệm về hệ thống chính trị vẫn chưa có sự đồng nhất nhất định và xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau do đó việc chọn lọc thông tin chính thống là điều vô cùng quan trọng mà tất cả chúng ta cần lưu ý.

    Khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam giúp bạn hiểu rõ hơn về hệ thống chính trị ở Việt Nam

    Sachchinhtritaichinh.com nơi cung cấp những kiến thức nền tảng về chính trị cho bạn đọc

    Nếu việc tìm hiểu về khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam khiến bạn gặp nhiều khó khăn thì các bạn vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ cung cấp sách chính trị chính thống với mức giá tốt nhất. Là một trong những địa chỉ chuyên cung cấp các đầu sách hay về chính trị chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho các bạn những thông tin cực kỳ hữu ích về hệ thống chính trị Việt Nam cũng như giúp bạn có được cái nhìn khách quan hơn thể chế chính trị tại Việt Nam. Quan trọng hơn, chúng tôi cam kết cung cấp sách chính trị chất lượng với mức giá cực kỳ ưu đãi đảm bảo giải quyết cơn khát kiến thức dành cho mọi đọc giả.

    Sách chính trị tài chính là kho thông tin vô giá cho bạn đọc

    Sách giúp bạn nắm bắt được thông tin hiệu quả hơn

    SÁCH CHÍNH TRỊ TÀI CHÍNH

    + Liên tục cập nhật nhiều đầu sách hay về lĩnh vực chính trị tài chính có chất lượng nội dung luôn đúng và chính xác với mức giá rẻ hơn thị trường từ 20 – 30%.

    + Miễn phí giao hàng với đơn hàng 250K trở lên (đối với khách hàng ở tỉnh), miễn phí ship vận chuyển nội thành HCM (bất kì đơn giá nào – không phụ thuộc có hóa đơn VAT hay không).

    + Sản phẩm bán ra có đầy đủ hóa đơn VAT, có thể chiết khấu trên hoặc ngoài hóa đơn (tùy khách hàng lựa chọn).

    + Hỗ trợ đổi trả miễn phí hoặc hoàn tiền 100% nếu chất lượng sách không đạt yêu cầu như: sai lệch về nội dung, chất lượng sách in không rõ ràng, giấy mỏng, không đúng chuẩn ISO… trong 1 tháng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Hệ Thống Chính Trị Là Gì ? Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị ?
  • Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Khái Niệm Giáo Dục Thể Chất
  • Ngành Giáo Dục Thể Chất Ra Làm Gì? Bạn Đã Biết Chưa?
  • Câu 407.khái Niệm “hệ Thống Chính Trị” Lần Đầu Tiên Được Đảng Ta Sử Dụng Khi Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Hiện Nay. Nêu Một Số Hạn Chế Và Giải Pháp Khắc
  • Bộ Câu Hỏi Tham Khảo Thi Trắc Nghiệm Kỳ Thi Nâng Ngạch Chuyên Viên Chính Năm 2022, Chuyên Đề Xây Dựng Đảng, Chính Quyền, Nhà Nước
  • Hệ Thống Chính Trị Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Zalo 093 189 2701
  • Câu 407.Khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng khi nào?

    A. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI

    B. Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VII

    C. Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII

    D. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa IX

    A. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

    B. Đảng làm chủ, Nhà nước lãnh đạo, nhân dân quản lý

    C. Đảng quản lý, nhà nước lãnh đạo, nhân dân làm chủ

    D. Đảng lãnh đạo, Nhà nước làm chủ, nhân dân quản lý

    A. Là cơ quan cao nhất của Nhà nước.

    B. Là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.

    C. Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước

    D. Là cơ quan quản lý cao nhất của Nhà nước

    A. Bộ Chính trị B. Ban Bí thư

    C. Chính phủ D. Quốc hội

    Câu 411.Quốc hội không có chức năng nào?

    A. Là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp.

    B. Quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.

    C. Là hạt nhân đoàn kết các tầng lớp nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

    D. Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

    A. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

    B. Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.

    C. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

    D. Quản lý nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

    A. Giai đoạn (2011 – 2022).

    B. Giai đoạn 1 (2011 – 2022); Giai đoạn 2 (2016 – 2022).

    C. Giai đoạn 1 (2011 – 2013); Giai đoạn 2 (2014 – 2022); Giai đoạn 3 (2017 – 2022).

    D. Giai đoạn 1 (2011 – 2022); Giai đoạn 2 (2017 – 2022).

    A. Mức trên 80%. B. Mức trên 70% .

    C. Mức trên 60% . D. Mức trên 50% .

    A. Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

    B. Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    C. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    D. Dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh.

    A. Là cơ quan chấp hành của Nhà nước B. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội

    C. Là cơ quan quyền lực của nhà nước D. Là cơ quan quyền lực của Quốc hội

    A. Đảm bảo ổn định kinh tế xã hội; tạo lập khuôn khổ pháp luật cho hoạt động kinh tế.

    B. Định hướng phát triển kinh tế, điều tiết các hoạt động phát triển kinh tế, làm cho kinh tế tăng trưởng, ổn định, hiệu quả.

    C. Hạn chế khắc phục mặt tiêu cực của kinh tế thị trường.

    D. Tất cả đều đúng.

    A. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

    B. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    C. Chính phủ là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành văn bản dưới luật.

    D. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

    A. Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

    B. Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và nhờ người khác bỏ phiếu kín.

    C. Phổ thông, trưng cầu dân ý và bỏ phiếu kín.

    D. Phổ thông, bình đẳng và đại diện cử tri.

    A. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;

    B. Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

    C. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ

    D. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt

    A. Tổng Bí thư B. Chủ tịch nước

    C. Thủ tướng Chính phủ D. Chủ tịch Quốc hội

    Câu 423.Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi) được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19-6-2015 có hiệu lực thi hành từ ngày:

    A. 01-12-2015 B. 01-01-2016 C. 01-7-2015 D. 01-6-2016

    A. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 4; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an không quá 6.

    B. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 5; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ ngoại giao không quá 6.

    C. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 4; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ ngoại giao không quá 5.

    D. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 4; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an không quá 5.

    Поделитесь с Вашими друзьями:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Lối Của Đảng Về Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Ở Nước Ta?
  • Lý Luận Môn Giáo Dục Thể Chất Ly Luan Giao Duc The Chat Docx
  • Lý Luận Giáo Dục Thể Chất Ly Luan Giao Duc The Chat Doc
  • Tập Bài Giảng Lý Luận Và Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất
  • Gahp: Llppgdtc Ly Luan Va Phuong Phap Giao Duc The Chat Doc
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam
  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Là Gì?
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tin Học 10 Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Lý Thuyết: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Khái niệm hệ thống chính trị, mô hình tổ chức hệ thống chính trị; những yếu tố tác động và quy định mô hình tổ chức của hệ thống chính trị

    I. Khái niệm chung 1. Khái niệm hệ thống chính trị

    Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị và chính trị-xã hội trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.

    Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền.

    Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:

    Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức.

    Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của mình – Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng… làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta.

    Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện.

    Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị.

    Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi.

    2. Khái niệm m(1) Mô hình tổ chức ô hình tổ chức hệ thống chính trị

    Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Mô hình là khái niệm được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, do đó, khái niệm mô hình được được tiếp cận từ nhiều góc độ, cấp độ khác nhau.

    Theo Từ điển Tiếng Việt, mô hình có 2 nghĩa: 1) Vật cùng hình dạng nhưng được làm thu nhỏ lại hoặc phóng to lên, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của vật thật để tiện trình bày, nghiên cứu. Mô hình máy bay; Mô hình khu đô thị mới. 2) Hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy. Mô hình của câu đơn.

    Cũng có ý kiến cho rằng mô hình là một bản thiết kế, một sự mô phỏng (phỏng theo) về một khách thể (một sự vật, hiện tượng, quá trình) đã, đang, sẽ hoặc có thể hiện hữu.

    Trong nghiên cứu, mô hình (model) là sự đơn giản hóa hiện thực một cách có chủ định.Nó cho phép nhà nghiên cứu bỏ qua các mặt thứ yếu để tập trung vào phương diện chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu.

    Trong hoạt động xã hội, các chủ thể hành động tương tác với nhau để trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin, tạo ra những mối liên hệ và quan hệ xã hội. Những tương tác xã hội lặp đi lặp lại cố kết con người lại với nhau, có quy tắc nhất định, ít tự phát hơn, có cơ cấu đoán trước được, hình thành những mô hình xã hội ( mô hình làng văn hóa; mô hình nông thôn mới). Như vậy, mô hình xã hội lại là một khách thể sống động, có tính điển hình.

    Từ những cách tiếp cận và quan niệm khác nhau nêu trên, cho thấy: Mô hình là sự mô phỏng về một khách thể (một sự vật, hiện tượng, quá trình) đã, đang, sẽ hoặc có thể hiện hữu, nhưng cũng có thể là một khách thể hiện hữu có tính điển hình.

    Trong đời sống xã hội có rất nhiều loại mô hình được xây dựng bằng những chất liệu khác nhau (vật chất, hình ảnh, sơ đồ, ngôn ngữ, số, ký hiệu…), như: mô hình vật lý, mô hình hóa học, mô hình toán học, mô hình kinh doanh; mô hình nghiên cứu, mô hình trưng bày, mô hình thu nhỏ, mô hình phóng to, mô hình thực, mô hình ảo…

    Tổ chức là hình thức liên kết cụ thể giữa con người với con người để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Tập hợp người trong tổ chức không phải là một tập hợp hỗn độn mà là một tập hợp có trật tự, theo những nguyên tắc nhất định, có cơ cấu tổ chức, có sự bố trí, sắp xếp, phân công, phối hợp.

    Mỗi lĩnh vực, mỗi khoa học lại có cách tiếp cận riêng về tổ chức, nên đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, tổ chức được hiểu phổ biến theo hai nghĩa: Thứ nhất, tổ chức là một hoạt động – hoạt động liên hiệp nhiều người lại để thực hiện một nhiệm vụ, mục tiêu nhất định. Thứ hai, tổ chức là một tập hợp người có trật tự để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt được mục tiêu nhất định.

    Tổ chức gắn liền với cơ cấu tổ chức, trong đó các nguồn lực được sắp xếp, hoạt động được phân chia, con người và các bộ phận được phối hợp nhằm thi mục tiêu của tổ chức. Là hình thức cấu tạo bên trong của tổ chức, cơ cấu tổ chức thể hiện mối quan hệ giữa những con người trong tổ chức, đồng thời thể hiện mô hình của tổ chức.Cơ cấu tổ chức thể hiện hình thức cấu tạo của tổ chức, bao gồm sự phân chia tổng thể tổ chức thành các bộ phận có tính độc lập tương đối để thực hiện các hoạt động nhất định và mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể.Tổ chức nào cũng có một mô hình cơ cấu tổ chức và để xây dựng, điều khiển một tổ chức bao giờ cũng cần một thiết kế mô hình tổ chức của tổ chức đó.

    Vậy, m ô hình tổ chức là loại mô hình xã hội, là cơ cấu tổ chức của một tổ chức hiện hữu có tính điển hình hay là thiết kế cơ cấu tổ chức của một tổ chức dự định sẽ xây dựng.

    Mô hình tổ chức thường được thể hiện bằng sơ đồ, bản vẽ, hình ảnh, ngôn ngữ để mô tả cơ cấu, mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức.

    Tổng thể là tập hợp nhiều sự vật có quan hệ chặt chẽ với nhau, làm thành một thể thống nhất có những đặc trưng riêng (như: tổng thể kiến trúc, tổng thể nền kinh tế quốc dân). Theo nghĩa tính từ, là có tính chất tổng thể (như: quy hoạch tổng thể; có cái nhìn tổng thể).

    Mô hình tổ chức tổng thể là mô hình tổ chức của tất cả các bộ phận của tổ chức trong một thể thống nhất, bao quát.

    Các loại mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị + Theo chế độ xã hội (phương thức+ Theo thể chế đảng cầm quyền + Theo tính chất phát triển sản xuất): + Theo thể chế Nhà nước

    Mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị là cơ cấu tổ chức tổng thể hệ thống chính trị hiện hữu hay là thiết kế cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị dự định sẽ xây dựng.

    3.Khái niệm mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam

    Khái niệm mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị hàm nghĩa là mô hình có có tính bao quát, tính khung, là “đường viền lớn” của hệ thống chính trị, có sự phân biệt với mô hình tổ chức bộ máy chi tiết, cụ thể của một tổ chức, một bộ phận trong hệ thống chính trị.

    4.Vai trò của mô hình tổ chức của hệ thống chính trị – Xác định rõ vị trí, vai trò, – Là một bộ phận thuộc phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức cầm quyền của Đảng. – Ảnh hưởng lớn đến tập hợp, phát huy các nguồn lực của đất nước. – Giúp người lãnh đạo, quản lý nắm bắt rõ ràng tổ chức của hệ thống chính trị để lãnh đạo, quản lý đúng đắn, hiệu quả và định hướng kiện toàn tổ chức, tối ưu hóa tổ chức, nhân sự, – Giúp việc nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị. phương thức II. Những yếu tố tác động và quy định mô hình tổ chức của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay 1. Yếu tố khách quan (1) Bản chất giai cấp của Đảng cầm quyền, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoạt động của hệ thống chính trị. chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, cơ chế vận hành giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị, do đó quy định sự phân chia, bố trí hợp lý hay không hợp lý các tổ chức bộ phận trong hệ thống chính trị.

    Tùy theo cách tiếp cận có thể chia mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị (gọi tắt là mô hình tổ chức hệ thống chính trị) ra những loại khác nhau, như:

    – Mô hình tổ chức hệ thống chính trị phong kiến; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị TBCN; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị XHCN;

    – Mô hình tổ chức hệ thống chính trị đa đảng cầm quyền; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị một đảng cầm quyền nổi trội; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị hai đảng thay nhau cầm quyền; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị nhất nguyên đa đảng; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị nhất nguyên một đảng duy nhất cầm quyền…

    – Mô hình tổ chức hệ thống chính trị phát triển; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị đang chuyển đổi;

    2. Yếu tố chủ quan:

    – Mô hình tổ chức hệ thống chính trị tam quyền phân lập; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị tập quyền; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị dân chủ; Mô hình tổ chức hệ thống chính trị quân chủ; Mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị hỗn hợp…

    (2) Trình độ nhận thức, kinh nghiệm của đảng

    Từ quan niệm về mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị nói chung nêu trên có thể thấy: Mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam là khái niệm chỉ cơ cấu tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay hay là thiết kế cơ cấu tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam dự định sẽ xây dựng.

    Các thành tố chủ yếu trong mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay cần thể hiện gồm:

    Học viện CTQG Hồ Chí Minh

    – Cơ cấu tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam; Cơ cấu tổ chức tổng thể của Đảng Cộng sản Việt Nam; Cơ cấu tổ chức tổng thể của Nhà nước CHXHCN Việt Nam; Cơ cấu tổ chức tổng thể của các tổ chức chính trị – xã hội.

    Trong đời sống xã hội,mô hình có tầm quan trọng rất lớn. Có những lĩnh vực, có những hoạt động trong đó việc xác định đúng hay sai mô hình hoạt động có tính quyết định thành bại, như mô hình tổ chức tập hợp quần chúng; mô hình kinh doanh…

    Từ thực tế xây dựng hệ thống chính trị trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị có những vai trò nổi bật sau:

    Với vai trò nêu trên cho thấy mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xây dựng, kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị hiện nay, do đó quan hệ đến phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng; đến sự phát triển, ổn định và bền vững của chế độ, đất nước.

    Mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam phải phù hợp với việc Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do Nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

    (2) Thể chế đảng cầm quyền và nhà nước: Mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay dù đổi mới cách gì cũng phải phù hợp với thể chế một đảng cầm quyền duy nhất và quyền lực Nhà nước là thống nhất, đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    (3) Lịch sử hình thành, phát triển hệ thống chính trị: Mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam được hình thành từ Cách mạng giành chính quyền tháng Tám năm 1945, được phát triển, thử thách trong quá trình cách mạng Việt Nam hơn 70 năm và đã được khẳng định bởi những tác dụng, đóng góp to lớn cho sự nghiêp cách mạng. Hiện nay, hệ thống chính trị Việt Nam đã phát triển thành hệ thống tổ chức to lớn, tinh vi, nhiều tầng nấc, bao trùm toàn bộ xã hội, gắn với việc làm, lợi ích của hàng chục vạn cán bộ, công chức.

    (4) Cơ cấu giai cấp, giai tầng xã hội; so sánh lực lượng; vai trò, sự đóng góp về chính trị, kinh tế, xã hội của các giai tầng: Khi thiết lập, đổi mới mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị bắt buộc phải tính đến, phản ánh được yếu tố cơ cấu giai cấp, giai tầng xã hội; so sánh lực lượng; vai trò, sự đóng góp về chính trị, kinh tế, xã hội của các giai tầng.

    (5) Yêu cầu phát triển đất nước: Đây là mệnh lệnh tối cao đối với mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị, đồng thời cũng là tiêu chí cao nhất đánh giá tính hợp lý của hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị

    (6) Trình độ phát triển của đất nước, quốc gia: Mô hình tổ chức hệ thống chính trị không thể tách rời trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, quốc gia.

    (7) Trình độ dân trí, dân chủ: Trình độ dân trí, dân chủ của nhân dân, xã hội phát triển đến đâu thì mô hình tổ chức hệ thống chính trị phải phát triển phù hợp.

    (8) Quốc tế: Trong điều kiện, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, khi xây dựng, đổi mới mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam phải tính đến hiện trạng và xu hướng phát triển mô hình tổ chức hệ thống chính trị trên thế giới và những kinh nghiệm xây dựng, vận hành của mô hình tổ chức hệ thống chính trị trên thế giới.

    (1) Đường lối chính trị của Đảng: Đây là yếu tố quyết định mô hình tổ chức hệ thống chính trị. Mô hình tổ chức hệ thống chính trị phải đáp ứng, phục vụ thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng.

    Trình độ nhận thức lý luận của Đảng là cơ sở cho xác lập, đổi mới mô hình tổ chức hệ thống chính trị. Kinh nghiệm chính trị và xây dựng mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam của Đảng cũng là những cơ sở dữ liệu rất quan trọng cho đổi mới mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị Việt Nam

    (3) Bản lĩnh, ý chí chính trị của lãnh đạo Đảng: Đổi mới mô hình tổ chức tổng thể hệ thống chính trị là việc rất lớn, rất hệ trọng, ảnh hưởng tới xu hướng phát triển, sinh mệnh của đảng cầm quyền nên không dễ, phụ thuộc rất trực tiếp vào bản lĩnh, ý chí chính trị của lãnh đạo Đảng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Chính Trị Là Gì ? Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị ?
  • Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Khái Niệm Giáo Dục Thể Chất
  • Ngành Giáo Dục Thể Chất Ra Làm Gì? Bạn Đã Biết Chưa?
  • Khái Niệm Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Hệ Thống Chính Trị Là Gì ? Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam
  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Là Gì?
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tin Học 10 Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • 1. Tìm hiểu chung về Hệ thống chính trị

    Hệ thống chính trị là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước, đảng phái, đoàn thể xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia, và mối quan hệ giữa các lực lượng đó, chỉ phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của chế độ chính trị của quốc gia, con đường phát triển của xã hội.

    Để làm rõ tính chất, quy mô tham gia đời sống chính trị của các cơ quan, tổ chức – gọi chung là các thiết chế, về lí luận và trong thực tiễn thường có sự phân biệt:

    1) Những thiết chế mang tính chất hoàn toàn, thuần tuý chính trị như nhà nước, đảng;

    2) Những tổ chức chính trị – xã hội tức là không hoàn toàn, thuần tuý chính trị, có tính chất là những đoàn thể tập hợp các tầng lớp, bộ phận dân cư theo giới, lứa tuổi, nghề nghiệp…

    Nét đặc trưng tiêu biểu cho loại thiết chế thứ nhất là mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với đường lối, chính sách của quốc gia, sự tác động trực tiếp của các thiết chế đó lên đường lối, chính sách của quốc gia. Có thể nói, mục đích trực tiếp phản ánh, chi phối, lí do tồn tại của các thiết chế này là mục tiêu chính trị thể hiện ở sự để xuất, xây dựng đường lối, chính sách về đối nội, đối ngoại của quốc gia trên từng giai đoạn phát triển khác nhau và tổ chức, triển khai thực hiện đường lối, chính sách đó, là sự tác động về mặt tư tưởng, ý thức hệ lên các tầng lớp dân cư, giai cấp khác nhau đang tồn tại trong xã hội, bảo đảm thực hiện các lợi ích chính trị của tầng lớp cầm quyền và ở những mức độ nhất định khác nhau cả nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội.

    Loại thứ hai là các tổ chức ra đời, tồn tại trực tiếp từ nhu cầu tập hợp, những bộ phận dân cư nhất định nhằm theo đuổi những lợi ích trực tiếp mà trước hết là về kinh tế – xã hội và có khi không hoàn toàn gắn với chính trị như các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ…

    Một bộ phận khác là những tổ chức có tính chất hội, đoàn thuần tuý nghề nghiệp hoặc theo đuổi những nhu cầu về sở thích, tuy vẫn mang màu sắc chính trị nhưng đó không phải là mục tiêu chủ yếu, Trong tổng thể các thiết chế đó, nhà nước đóng vai trò trụ cột, công cụ chủ yếu, các chính đảng giữ vai trò là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu của các bộ phận dân cư mà chính đảng là người phát ngôn, nói tiếng nói phản ánh lợi ích của bộ phận dân cư đó.

    Cần phân biệt hệ thống chính trị trong xã hội tư sản và hệ thống chính trị trong các xã hội đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Hệ thống chính trị trong các xã hội tư sản trước hết bao gồm hệ thống các cơ quan nhà nước, các chính đảng của giai cấp cầm quyền và các tổ chức, đoàn thể tập hợp các bộ phận dân cư thuộc giai cấp cầm quyền hoặc đi theo đường lối chính trị của giai cấp đó. Đây là những lực lượng xã hội với những cấp độ khác nhau trực tiếp tham gia vào việc thực hiện quyền lực nhà nước thuộc giai cấp cầm quyển.

    Đồng thời, trong các xã hội còn tồn tại các lực lượng xã hội ở vị thế đối lập mà ở vị thế hàng đầu là các chính đẳng của giai cấp công nhân, của các tầng lớp lao động khác, của các lực lượng dân chủ đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ, chống độc quyền, giành các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống, nâng cao phúc lợi xã hội…

    Cuộc đấu tranh của các lực lượng xã hội này có khi chỉ vì lợi ích trước mắt nhưng vẫn mang đậm sắc thái chính trị và ở những mức độ khác nhau tham gia vào đời sống chính trị, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống chính trị của xã hội tư sản. Với tính chất đó, các thiết chế xã hội của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động trở thành một bộ phận của đời sống chính trị, hệ thống chính trị của xã hội tư sản, nhất là khi trực tiếp tham gia vào công việc nhà nước, tham gia chính quyền của giai cấp tư sản.

    Trong các xã hội đang phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị bao gồm tất cả các thiết chế chính trị, chính trị – xã hội, chính trị – xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức hội, đoàn bằng các phương thức khác nhau tập hợp các tầng lớp dân cư, đoàn kết họ và đoàn kết hợp tác với nhau để cùng theo đuổi một mục đích chung là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

    Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là tính chất rộng rãi, bao gồm các tổ chức

    của tất cả các tầng lớp dân cư kết thành khối đại đoàn kết toàn dân, trở thành cơ sở xã hội của chính quyển nhân dân và hệ thống chính trị. Đặc trưng khác cũng rất cơ bản là cả hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, đẳng công nhân được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin được vận dụng thích hợp vào từng nước. Nội dung hoạt động cơ bản của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội thực sự của dân, do dân, vì dân.

    2. Khái niệm về hệ thống chính trị ?

    Trong cuộc đấu tranh giành, giữ và sử dụng chính quyền, các lực lượng chính trị từng bước hình thành nên các tổ chức, tập hợp lực lượng một cách chặt chẽ, có ý chí chung và hành động thống nhất, có mục tiêu, đường lối, phương pháp cụ thể, phù hợp… nhằm đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi. Mới đầu, các tổ chức này còn lẻ tẻ, dần dần nó được tổ chức ngày càng đông đảo hơn. Mỗi tổ chức đại biểu cho một nhóm lợi ích nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Các tổ chức này cùng với nhà nước hợp thành hệ thống chính trị của xã hội. Ở Liên Xô, trước những năm sáu mươi của thế kỉ XX, người ta thường dùng khái niệm “hệ thống chuyên chính của giai cấp thống trị” (chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước họp thành một hệ thống do giai cấp thống trị dựng nên để thống trị xã hội), dần dần được thay bằng “hệ thống chuyên chính vô sản”. Từ những năm sáu mươi của thế kỉ XX, khái niệm hệ thống chính trị chính thức được sử dụng trong các văn bản của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xô Viết. Khái niệm này được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1977 – Hiến pháp cuối cùng của Nhà nước Liên Xô (Chương I, Phần I). Hiến pháp (luật cơ bản) của Liên bang Cộng hoà xã hội chù nghĩa Xô Viết, được thông qua tại kì họp bất thường lần thứ 7, Khoá 9, ngày 07/10/1977 của Xô Viết tối cao Liên Xô, Nxb. Sách báo chính trị, Moskva, 1977, tr. 1 – 62 (tiếng Nga).

    3. Đặc điểm của hệ thống chính trị ?

    Hệ thống chính trị có các đặc điểm cơ bản sau đây:

    Một là, ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát trỉển của nhà nước tư sản. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, chỉ có nhà nước là đại diện chính thức cho quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô và giai cấp phong kiến, còn các đảng phái chính trị hoạt động hợp pháp khác chưa hình thành, do đó chưa có “hệ thống chính trị” ở hai giai đoạn này. Các đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội khác được hình thành từ trong cách mạng tư sản, gắn liền với chế độ bầu cử tự do, dân chủ để thiết lập các cơ quan nhà nước cấp cao trong bối cảnh quyền lực nhà nước không còn nằm trong tay vua chúa, không còn được truyền cho con, cháu theo nguyên tắc thế tập, nó đã được chuyển giao cho cả một giai tầng xã hội bằng con đường bầu cử tự do, dân chủ. Hiến pháp nước Cộng hoà Pháp năm 1958 khẳng định: “Đảng phái và các đoàn thể chỉnh trị đỏng vai trò quan trọng trong bầu cử. Chủng được thành lập và hoạt động một cách tự do “ (Điều 4). ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đảng cầm quyền với nhiều tên gọi khác nhau (như đảng cộng sản, đảng lao động, đảng nhân dân cách mạng,…) ra đời trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã tập hợp và lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành cuộc cách mạng nhằm xoá bỏ nhà nước cũ và thiết lập nhà nước mới. Kể từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời thì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa cũng được hình thành, trong đó bao gồm nhà nước, đảng cầm quyền và các tổ chức chính trị-xã hội khác, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Việc gắn sự hình thành, tồn tại và phát triển của hệ thống chính trị với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước là lẽ đương nhiên, bởi vì nhà nước luôn luôn là “trụ cột” của hệ thống chính trị, là “tấm gương” hội tụ và phản ánh toàn bộ đời sống chính trị của xã hội.

    Hai là, các tổ chức thành viên hệ thống chính trị đều là những tố chức hợp pháp, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

    Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định:

    “Ở Liên bang Nga thừa nhận sự đa nguyên, đa đảng” (khoản 3 Điều 13); “Các tố chức xã hội bình đẳng trước pháp luật” (khoản 4 Điều 13); “Cấm thành lập và cấm sự hoạt động của các tổ chức xã hội có mục đích hay hành động hướng tới dùng bạo lực để thay đổi nền tảng chế độ hiến pháp và xâm phạm sự toàn vẹn của Liên bang Nga, đe dọa an ninh quốc gia, thành lập các tổ chức vũ trang, gây sự chia rẽ về xã hội, chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo “ (khoản 5 Điều 13).

    Hiến pháp Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1982 tuyên bố:

    “Các chỉnh đảng và đoàn thể xã hội… đều phải lẩy Hiến pháp làm tiêu chuẩn xử sự căn bản trong hoạt động của mình “ (Lời nói đầu); “các đảng phái chỉnh trị và đoàn thể xã hội… đều phải tuần thủ Hiển pháp và pháp luật… Hành vi của mọi tổ chức hoặc cá nhân đều không vượt quá quy định của Hiến pháp và pháp luật” (Điều 5).

    Khoản 3 Điều 4 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng quy định:

    “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật “.

    Ba là, có sự phân định rõ ràng về nhiệm vụ cơ bản giữa các tổ chức thành viên vì mục tiêu chung là thực thỉ quyền lực của giai cẩp và các lực lượng thong trị trong xã hội. Trong hệ thống chính trị, đảng cầm quyền hoặc liên minh các đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước; nhà nước quản lí xã hội theo chủ trương, đường lối, chính sách của đảng cầm quyền hoặc liên minh các đảng cầm quyền và trên cơ sở pháp luật do mình ban hành; các tổ chức họp pháp khác tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội theo pháp luật.

    Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Khái Niệm Giáo Dục Thể Chất
  • Ngành Giáo Dục Thể Chất Ra Làm Gì? Bạn Đã Biết Chưa?
  • Khái Niệm Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Khái Niệm Thể Chất Là Gì ? Giáo Dục Thể Chất Có Nghĩa Là Gì ?
  • Nêu Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Phân Tích Những Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Đổi Mới Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Linux Là Gì? Hệ Điều Hành Linux
  • Bạn Đã Biết Gì Về Hệ Điều Hành Linux?
  • Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Android
  • Apple Phát Hành Ios 13.4 Và Ipados 13.4 Có Gì Hot
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Các Loại Hệ Điều Hành Máy Tính Và Di Động Phổ Biến Hiện Nay
  • Câu 1: Nêu khái niệm hệ thống chính trị và những đặc trưng cơ bản của hệ

    thống chính trị Việt Nam? Phân tích những nguyên tắc cơ bản trong đổi mới hệ

    thống chính trị ở Việt Nam hiện nay?

    Trả lời:

    Trước hết cần làm rõ khái niệm chính trị – khái niệm chỉ lĩnh vực phức tạp của đời

    sống xã hội có giai cấp mà chính trị học và nhiều khoa học chính trị khác nghiên cứu.

    Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã

    hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước.

    HTCT là một phạm trù quan trọng của khoa học chính trị, bởi vì nó là tổng hợp

    những vấn đề của thực tiễn chính trị, của đời sống chính trị. Hơn nữa những vấn đề đó

    không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét trong một chỉnh thể có

    tính hệ thống, có hình thái phát sinh, phát triển, có chủ thể, đối tượng, với các mối quan

    hệ chức năng, theo những vị trí, vai trò nhất định; có “đầu vào” và “đầu ra”; có nội dung

    và hình thức, có hiện tượng và bản chất… Vì vậy, mặc dù hiện nay quan niệm về HTCT

    còn rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh hướng, trường phái chính trị học khác nhau,

    nhưng hệ thống chính trị vẫn là một trong những phạm trù trung tâm của chính trị học

    hiện đại.

    Có thể định nghĩa HTCT như sau: Hệ thống chính trị là một tổ hợp có tính chỉnh thể

    các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức

    và phong trào xã hội,…) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân

    bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và

    quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.

    Có thể nói HTCT nước ta về cơ bản được tổ chức gần giống như HTCT nhiều

    nước. Trước hết tiểu hệ thống thể chế của nó (cốt lõi vật chất của HTCT) bao gồm Nhà

    nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc

    Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội… Các bộ phận này được kết nối với nhau theo

    1

    những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường

    văn hóa chính trị đặc thù.

    Chính vì vậy hệ thống chính trị nước ta có những đặt trưng sau:

    – Thứ nhất, về thể chế Đảng chính trị. Chế độ nước ta là “nhất nguyên chính trị,

    nhất đảng lãnh đạo”; đặt trưng này vừa mang tính phổ biến đối với HTCT các nước

    XHCN, vừa mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả

    năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay

    trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chống ách thực dân, thống nhất

    đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đổi mới xã hội…

    – Thứ hai, về thể chế Nhà nước, đặc trưng của mô hình thể chế này ở Việt Nam

    (ảnh hưởng của mô hình Xô viết) là: Quyền lực nhà nước là thống nhất (thuộc về nhân

    dân); nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện

    các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quyền lực tối cao thuộc về Quốc hội – Quốc hội

    có quyền thành lập Chính phủ, bầu Chủ tịch nước, cơ quan Tư pháp, Hội đồng Quân sự

    Trung ương; có quyền quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước như tuyên bố

    chiến tranh hay hòa bình; có quyền giám sát tối cao việc thi hành pháp luật (đặc điểm này

    hơi giống Thể chế chính trị Cộng hòa đại nghị). Chính phủ là cơ quan hành chính chịu

    trách nhiệm trước Quốc hội, thực thi vai trò quản lý hành chính và bảo đảm sự thống nhất

    từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, khác với thể chế cộng hòa khác, trong hệ

    thống Tư pháp của thể chế chính trị Cộng hòa xã hội chủ nghĩa có hệ thống cơ quan Viện

    kiểm sát.

    – Thứ ba, các tổ chức chính trị – xã hội bao gồm các tổ chức mà hoạt động của

    chúng vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội. Do Đảng cộng sản thành lập, lãnh

    đạo, gắn bó chặt chẽ với Đảng và Nhà nước, là cơ sở chính trị của Đảng và Nhà nước.

    – Thứ tư, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của nhà nước ta còn

    rất non trẻ (mới hơn 60 năm) lại hầu như không được kế thừa gì từ quá khứ (chế độ thực

    dân phong kiến) bị ảnh hưởng nặng của mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải

    2

    thực hiện một loạt nhiệm vụ lịch sử mới mẻ và to lớn, đó là: Đưa nước ta từ một nước

    nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, thực

    hiện công nghiệp hóa, đồng thời với hiện đại hóa đất nước, xây dựng một nền kinh tế thị

    trường định hướng XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì

    nhân dân… Tất cả những nhiệm vụ đó đều nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam

    dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; hội nhập và rút ngắn khoảng cách

    phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Hệ thống chính trị ở nước ta đã tỏ rõ tính ưu việt của nó trong suốt hai cuộc kháng

    chiến, đã tập trung nguồn lực cao độ của đất nước phục vụ cho tiền tuyến với tinh thần

    “tất cả để chiến thắng”. Hệ thống chính trị đã động viên sự hi sinh vô bờ bến của nhân

    dân cho thắng lợi của cách mạng, tạo được những điều kiện cần thiết để kết hợp được sức

    mạnh của dân tộc và thời đại, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoàn thành cách

    mạng giải phóng dân tộc trên cả nước, thống nhất tổ quốc đưa cả nước cùng đi lên chủ

    nghĩa xã hội. Sau chiến tranh, đất nước trải qua nhiều khó khăn chủ quan và khách quan,

    đặc biệt là sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, nhưng chúng ta vẫn đứng vững được

    vượt qua thử thách, khủng hoảng đưa đất nước phát triển lên một bước mới, đạt được

    nhiều thành tựu to lớn. Nguyên nhân của những thành tựu đó là “do Đảng ta có bản lĩnh

    vững vàng và đường lối lãnh đạo đúng đắn, Nhà nước có cố gắng lớn trong việc điều

    hành, quản lý; toàn dân và toàn quân phát huy lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm,

    đoàn kết nhất trí, cần cù, năng động sáng tạo, tiếp tục thực hiện đổi mới, ra sức xây dựng

    và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

    Bên cạnh những thành tựu, hệ thống chính trị nước ta cũng bộc lộc những yếu

    kém: Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý chưa được cụ thể hóa,

    chưa phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, phương thức và phạm vi hoạt động của

    từng chủ thể trong hệ thống chính trị; Chưa thực hiện tốt các cơ chế tổ chức thực thi

    quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Dẫn đến tình trạng chồng chéo, giảm hiệu lực,

    hiệu quả của quá trình thực thi quyền lực nhà nước; Chúng ta còn chưa thực hiện đầy đủ

    3

    và đúng đắn các nguyên tắc hoạt động của hệ thống chính trị; Còn quan niệm giản đơn về

    thống nhất quyền lực nhà nước và sự phân công các cơ quan nhà nước trong việc thực

    thi các quyền; Việc phân cấp phân quyền còn chưa hợp lý, còn tình trạng vừa chồng

    chéo, vừa bỏ trống trong thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương; Các tổ chức chính trị

    – xã hội hành chính hóa, hoạt động kém hiệu quả.

    Vì vậy, trong suốt quá trình đổi mới, cần có sự điều chỉnh để phù hợp với nhu

    cầu khách quan của xã hội, đòi hỏi phải thực hiện tốt những nguyên tắc cơ bản ở

    nước ta như sau:

    Nguyên tắc thứ nhất, đổi mới hệ thống chính trị tức là đổi mới nội dung và

    phương thức hoạt động; cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị hợp pháp trong

    hệ thống chính trị; chứ không được thay đổi mục tiêu và con đường XHCN, không chấp

    nhận “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, gây rối lọan xã hội.

    Nguyên tắc thứ hai, đổi mới là nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ

    thống chính trị. Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, một vấn đề có tính nguyên tắc

    là phải luôn luôn kiên định vai trò lãnh đạo, vị thế cầm quyền của Đảng; đồng thời làm tốt

    công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu

    của Đảng. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và

    phát triển phù hợp với thực tiễn Việ t Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ

    nghĩa xã hội. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán

    bộ, đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không dao động trong bất

    cứ tình huống nào. Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc

    chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc.

    Nguyên tắc thứ ba, đổi mới theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã

    hội chủ nghĩa; thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảm bảo quyền làm chủ

    của nhân dân, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, thông qua các cơ quan dân cử, các đoàn thể, tổ

    chức chính trị – xã hội.

    4

    Nguyên tắc thứ tư, đổi mới HTCT nhằm tạo điều kiện cho việc ổn định chính trị

    và phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Đây được xem là nguyên tắc quan trọng nhất để

    từng bước đổi mới vững chắc, tránh sự nóng vội, chủ quan và có thể sai lầm về mặt chính

    trị.

    Nguyên tắc thứ năm, đổi mới phải gắn liền với quyết tâm phòng chống quan liêu,

    tham nhũng. Quan liêu, tham nhũng là bệnh không thể tránh khỏi trong quá trình thực

    hiện đổi mới. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt

    suy thoái về đạo đức, lợi dụng nhiều sơ hở, hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực

    hiện đổi mới để vụ lợi cá nhân; Làm ảnh hưởng to lớn niềm tin của nhân dân đối với

    Đảng. Như Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ: Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm

    trọng, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều

    cấp, nhiều ngành, làm cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội, gây bức xúc trong dư luận, là

    thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà

    nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đổi mới hệ thống

    chính trị, đổi mới phải gắn liền với quyết tâm phòng chống quan liêu, tham nhũng là

    nguyên tắc cần kíp mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta quyết tâm thực hiện trong giai đoạn

    hiện nay.

    Tóm lại, HTCT là một chỉnh thể cấu thành bởi các thiết chế chính trị, có mối quan

    hệ và tương tác với nhau theo các cơ chế, nguyên tắc vận hành nhất định để thực thi

    quyền lực chính trị. Hệ thống chính trị ở mỗi quốc gia có cách tổ chức và vận hành khác

    nhau, mang những đặc trưng riêng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa…của quốc

    gia đó. Tuy nhiên, HTCT vẫn bị chi phối và tuân theo những nguyên tắc và giá trị chung,

    có tính phổ biến. HTCT Việt Nam tuy mới hình thành và phát triển cùng với quá trình

    xây dựng đất nước, nhưng đã đáp ứng được ở mức độ nhất định những đòi hỏi của môi

    trường xã hội, đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội và đóng góp đáng kể vào sự thành

    công của công cuộc đổi mới. Do còn những bất cập và hạn chế, hệ thống chính trị Việt

    Nam vẫn đang trong quá trình đổi mới và phát triển.

    5

    6

    Xem Thêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Bộ Máy Hệ Thống Chính Trị
  • Xây Dựng Htct Cơ Sở Vững Mạnh Trên Địa Bàn Tỉnh Tây Ninh Hiện Nay
  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Zalo 093 189 2701
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Hệ Thống Chính Trị Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Hệ Thống Chính Trị Và Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Hệ Thống Chính Trị Ở Nước Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàng Hóa Là Gì? Các Thuộc Tính Của Hàng Hóa
  • Hình Chiếu Là Gì? Phân Loại Hình Chiếu Và Quan Hệ Giữa Đường Vuông Góc
  • Tìm Hiểu Hàng Siêu Trường Siêu Trọng Là Gì, Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?
  • Iot Là Gì? Ứng Dụng Của Iot Trong Thực Tiễn
  • Iso Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Iso
  • Chuyên đề 3

    HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

    ————

    I- HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

    1. Khái niệm “hệ thống chính trị”

    Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị.

    Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm các đảng phái chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội được liên kết với nhay trong một hệ thống tổ chức, nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.

    Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền. Do đó, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp. Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp khác được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

    2. Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

    a) Tính nhất nguyên chính trị

    – Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền. Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Tuy nhiên, hai đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thế chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập.

    – Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam. Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội), vừa là tổ chức mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội.

    – Tính chất nguyên chính của hệ thống chính trị được thể hiện ở tính nhất nguyên tư tưởng. Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    b) Tính thống nhất

    – Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Sự thống nhất của các thành viên đa dạng, phong phú về tổ chức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện để phát hiện sức mạnh tổng hợp và tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệ thống.

    – Tính thống nhất của hệ thống chính trị nước ta được xác định bởi các yếu tố sau:

    + Sự lãnh đạo thống nhất của một đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam.

    + Sự thống nhất về mục tiêu chính trị của toàn bộ hệ thống là xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam với nội dung: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    + Sự thống nhất ở nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là tập trung dân chủ.

    + Sự thống nhất của hệ thống tổ chức ở từng cấp, từ Trung ương đến địa phương, với các bộ phận hợp thành.

    c) Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân

    – Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị Việt Nam. Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. Trong hệ thống chính trị, có các tổ chức chính trị (như Đảng, Nhà nước), các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội (như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội khác). Do vậy, hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội (như những lực lượng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột), mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó với xã hộ. Cầu nối quan trọng giữa hệ thống chính trị với xã hội chính là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.

    – Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện trên các yếu tố:

    + Đây là quy luật tồn tại của Đảng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền.

    + Nhà nước là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    + Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các tầng lớp nhân dân.

    + Hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân. Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

    d) Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị

    – Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Do vậy, hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc.

    – Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc được khẳng định trong bản chất của từng tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, cũng đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã gắn kết vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị. Sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp mang tính tương đối và không có ranh giới rõ ràng.

    3. Mục tiêu, quan điểm và chủ trương, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã xác định mục tiêu, quan điểm, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.

    a) Mục tiêu và quan điểm

    – Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

    – Quan điểm xây dựng hệ thống chính trị gồm:

    Một là, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.

    Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị thể hiện trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Trong những năm đầu, Đảng tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo điều kiện để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Quá trình phát triển của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định sự kết hợp nhuần nhuyễn và bước đi đúng đắn đó. Đến Đại hội X, Đảng đã xác định đổi mới toàn diện, bao gồm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị theo những nguyên tắc xác định.

    Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    Đó là quá trình làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu quả hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế…

    Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

    Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tác động, thúc đẩy xã hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    b) Chủ trương, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị

    Một là, xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị.

    – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định rõ bản chất của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” . về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác định rõ: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phân của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” . Điều đó là cơ sở của sự gắn bó giữa xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị.

    – Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị – xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    – Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu.

    Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    – Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Nó không phải là sản phẩm riêng của xã hội tư bản chủ nghĩa mà là sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người của nền văn minh nhân loại.

    – Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo năm đặc điểm sau đây:

    + Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

    + Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công ràng mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    + Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

    + Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

    + Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do một đảng duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận.

    – Để xây dựng Nhà nước pháp quyền cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàng thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

    Ba là, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị.

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vận động đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…

    Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.

    Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thanh niên, Luật Công đoàn… duy trì dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các tổ chức chính trị – xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị; thực hiện “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” và dân thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới.

    Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa, phô trương, hình thức để nâng cao chất lượng hoạt động, làm tốt công tác dân vận theo phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.

    II- VAI TRÒ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

    1. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    – Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đó là sự lựa chọn của dân tộc ta, là một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan. Sự lãnh đạo ấy vừa có cơ sở đạo lý, vừa có cơ sở pháp lý.

    – Khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ khá phức tạp và nhạy cảm với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước pháp quyền và trong các điều kiện xây dựng, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, mà biểu hiện tập trung nhất là bộ máy nhà nước, đòi hỏi phải phân định sự lãnh đạo của Đảng đối với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước.

    – Trong tổ chức của hệ thống chính trị, Đảng ta vừa là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hệ thống, vừa là thành viên trong hệ thống chính trị. Điều đó cũng đòi hỏi phải xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tư cách thành viên của Đảng và khả năng độc lập của mỗi thành viên thuộc hệ thống chính trị trong các mối quan hệ chính trị và sinh hoạt dân chủ.

    – Trong thực tiễn, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn được xác định trong từng mối quan hệ với từng thiết chế, tổ chức cụ thể trong hệ thống chính trị. Vai trò cầm quyền và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước khác với sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc hoặc đối với các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân. Sự mơ hồ, thiếu cụ thể nào đó đều có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị của đất nước, hoặc là Đảng sẽ bao biện, làm thay tất cả, hình thức hóa Nhà nước và hệ thống chính trị, hoặc là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho địa vị cầm quyền của Đảng chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

    – Sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị hiện nay đặt trong điều kiện mới, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Đảng phải tự đổi mới và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Tăng cường mối quan hệ của Đảng với các thành tố của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

    2. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    – Vị trí cầm quyền của Đảng thể hiện quyền hạn trách nhiệm chung của Đảng và trách nhiệm của các tổ chức đảng trong việc quyết định các vấn đề của đất nước, các vấn đề trong từng lĩnh vực cụ thể, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội ở các cấp, các ngành, trong các mối quan hệ với Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn thể xã hội.

    – Sự lãnh đạo của Đảng biểu hiện tập trung nhất lãnh đạo về chính trị và tư tưởng, nhằm mục tiêu tạo ra một khuôn khổ chính trị để Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ, thẩm quyền, chức năng và vai trò của mình theo quy định của pháp luật, theo điều lệ, mục đích, tôn chỉ của mỗi tổ chức.

    – Nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội định hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    3. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    – Phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền là hệ thống những phương pháp, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng vận dụng để tác động vào các lực lượng xã hội, các tổ chức, cá nhân nhằm biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tượng lãnh đạo, qua đó thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

    – Nội dung cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, gồm:

    + Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác.

    + Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.

    + Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.

    + Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

    + Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật .

    – Ngoài những điểm nêu trên, Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân từ uy tín của Đảng, từ sự đề cao và tôn trọng vai trò của Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo thật sự của Đảng không chỉ thông qua các quyết định, các chỉ thị mà còn bằng uy tín, bằng khả năng thuyết phục trong lời nói, trong hành động, trong phong cách công tác của các tổ chức đảng và của từng cá nhân cán bộ lãnh đạo, đảng viên của Đảng.

    – Giống như nội dung sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng luôn là một yêu cầu có tính khách quan, một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Yêu cầu khách quan này luôn được Đảng ta quán triệt và nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương.

    III- MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

    1. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

    – Trong lịch sử cách mạng nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội giữ vai trò rất quan trọng. Các tổ chức này đã động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong đấu tranh giành chính quyền, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đấu tranh thống nhất đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội là thành viên đã có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự hình thành và củng cố Nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam. Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, củng cố Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước” .

    – Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta, được hình thành nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của cách thành viên; thu hút đông đảo nhân dân tham gia quản lý các công việc nhà nước, công việc xã hội; nâng cao tính tích cực của mỗi công dân. Trong xã hội ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình không chỉ bằng Nhà nước mà còn thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội. Vì vậy, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân.

    – Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội là những tổ chức hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị tùy theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bào vệ quyền làm chủ của nhân dân.

    – Mặt trận Tổ quốc Việt nam, các tổ chức chính trị – xã hội có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.

    – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

    – Các tổ chức chính trị – xã hội có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

    Cùng với hình thức tổ chức của hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Hệ thống chính trị ở cơ sở gồm: Tổ chức cơ sở đảng; Hội đồng nhân dân các xã, phường; Ủy ban nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã, phường; các tổ chức chính trị khác: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh ở xã, phường, thị trấn…

    Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.

    2. Nhiệm vụ chính trị của người cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị  - xã hội ở cơ sở

    Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta. Vì vậy, nhiệm vụ chính trị của người cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là rất to lớn, quan trọng, trực tiếp góp công, góp sức xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh.

    Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển hệ thống chính trị ở cơ sở, có thể nêu những nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở là:

    – Tham gia tích cực vào cuộc vận động xây dựng, chính đốn Đảng, xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh.

    – Thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

    – Tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, mạnh dạn đấu tranh với những hành động sai trái, bảo vệ lợi ích thiết thực, hợp pháp và chính đáng của nhân dân.

    – Tích cực tham gia và thực hiện tốt Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, hăng hái đi đầu trong mọi lĩnh vực học tập và công tác.

    – Luôn luôn học tập, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    – Tích cực hưởng ứng và tham gia hoạt động trong phong trào do các tổ chức chính trị – xã hội phát động; trực tiếp tham gia xây dựng tổ chức của mình ngày càng phát triển mạnh mẽ và bền vững./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Thể Chất – Đức Nam Nhị Khúc Côn
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Tổng Hợp Những Kiến Thức Liên Quan
  • Gia Đình Là Gì? Và Tầm Quan Trọng Của Gia Đình Đối Với Mỗi Con Người – Vera Hà Anh
  • Các Khái Niệm Về Giá ???
  • Các Khái Niệm Về Giá Trị – Phần I
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 10 Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Lý Thuyết: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Bài 10. Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Khái Niệm Hàng Hóa, Mối Quan Hệ Giữa Hai Thuộc Tính Hàng Hóa
  • II. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – THÀNH TỐ HẠT NHÂN VÀ LÃNH ĐẠO CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

    2.1. Vai trò hạt nhân và yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị Việt Nam Vai trò hạt nhân lãnh đạo

    Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội. Vai trò lãnh đạo đó xuất phát từ chính bản chất của một Đảng Cộng sản theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất đó được hình thành từ 3 yếu tố quan trọng. Thứ nhất, Đảng Cộng sản khác về chất với các đảng chính trị hiện có (đảng tư sản) ở chỗ: luôn đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động, đấu tranh và phấn đấu cho mục tiêu giải phóng con người, xóa bỏ bất công và áp bức trong xã hội, xây dựng một xã hội vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện các khả năng của con người. Thứ hai, Đảng Cộng sản là tổ chức của những người cộng sản tiêu biểu về mặt trí tuệ, đồng thời luôn thu hút và tập hợp được những người tài giỏi nhất của giai cấp và xã hội. Thứ ba, Đảng Cộng sản còn có tính tiền phong, tiêu biểu cho những giá trị, tiến bộ và văn minh của nhân loại.

    Đảng có vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng mọi tổ chức đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là nguyên tắc hiến định đảm bảo nguyên tắc pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam, hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Thứ hai, việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Con đường phát triển này luôn cần có sự lãnh đạo của một Đảng cộng sản – Đảng luôn đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân và của dân tộc trong tổ chức và thực thi quyền lực của Nhân dân. Theo đó, Đảng vì mục tiêu, lý tưởng cộng sản của mình sẽ là lực lượng lãnh đạo Nhân dân giành chính quyền, giành lại quyền lực nhà nước về tay Nhân dân và tổ chức thực thi quyền lực của Nhân dân, cho Nhân dân và vì Nhân dân. Trong quá trình này, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực thi vì mục đích, lợi ích của Nhân dân và xã hội.

    Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Việt Nam. Trong hệ thống chính trị một Đảng Cộng sản cầm quyền, không thể có một tổ chức hay lực lượng nào khác trong tương quan so sánh có khả năng dẫn dắt, lãnh đạo Nhân dân thực hiện được những mục đích tốt đẹp như Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện. Trong Điều lệ Đảng chỉ rõ mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đặc điểm này cho thấy rằng, đường lối cách mạng của Đảng là đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân. Đây là cơ sở quan trọng cho sự lãnh đạo của Đảng ở Việt Nam hiện nay.

    Trong sự lãnh đạo của mình, Đảng đề cao nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, tổ chức quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    Đảng lãnh đạo xã hội được xác định là chủ yếu bằng Nhà nước. Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: “Trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước”.

    Tuy nhiên, khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn bộ xã hội trong thời kỳ hòa bình, Đảng phải luôn đề phòng khả năng chủ quan, duy ý chí, độc đoán, chuyên quyền. Việc phân định chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước hiện nay làm cho sự lãnh đạo của Đảng trên thực tế có thể dẫn tới hai khuynh hướng: hoặc bao biện làm thay các công việc của Nhà nước, can thiệp trực tiếp vào các công việc của Nhà nước hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. Quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong thời gian qua đã có sự phân định ngày càng rõ hơn chức năng, mối quan hệ của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị. Theo đó, ngoài việc xác định rõ nội dung lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội còn xây dựng quy chế phối hợp hoạt động, tạo sự thống nhất, thông suốt trong hoạt động của hệ thống chính trị.

    2.2. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị Những nội dung lãnh đạo của Đảng:

    Để thực hiện chức năng lãnh đạo, cần có các nội dung lãnh đạo. Nội dung lãnh đạo của Đảng là những vấn đề, nhiệm vụ cụ thể mà Đảng đặt ra và chủ yếu được xác định ở mục tiêu trong các đường lối, chủ chương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Nội dung lãnh đạo của Đảng bao gồm tất cả các vấn đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

    Về nguyên tắc: Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, toàn xã hội; Đảng lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối trên các lĩnh vực như cán bộ, công tác đối ngoại, an ninh, quốc phòng. Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

    Một là, Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, chiến lược, đường lối, chính sách lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa chúng thành các luật lệ, quy định, chính sách và tổ chức thực hiện, Mặt trận và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị dựa trên đường lối của Đảng, luật pháp, chương trình, kế hoạch của công tác và tổ chức thực hiện phù hợp với chức năng của từng tổ chức, Đảng không quyết định những vấn đề thuộc chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức khác, Đảng tôn trọng tính độc lập của từng tổ chức.

    Hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh, đủ năng lực và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực sự là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành từng bước phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, ngoài việc lãnh đạo Quốc hội tập trung vào việc xây dựng hệ thống luật pháp đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện cải cách quy trình lập pháp, cải cách nền hành chính nhà nước chuyên nghiệp, hiện đại, cải cách tư pháp.

    Bên cạnh đó, Đảng lãnh đạo xây dựng các tổ chức chính trị – xã hội đủ sức tập hợp rộng rãi quần chúng Nhân dân và phát huy có hiệu quả quyền làm chủ của họ trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực này thể hiện ở việc đề ra các quan điểm, các nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng tổ chức và hoạt động của các tổ chức; đề cao tính tự chủ, chủ động của các tổ chức. Đảng không can thiệp vào công việc tổ chức cụ thể của các thành viên khác trong hệ thống chính trị.

    Ba là, Đảng xác định thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ thông qua việc hoạch định chủ trương, chính sách cán bộ. Đảng quyết định những chính sách lớn về cán bộ, thực hiện công tác tổ chức và cán bộ trên tất cả các khâu đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, đánh giá và sử dụng cán bộ. Trực tiếp bố trí và quyết định nhân sự chủ chốt của hệ thống chính trị, nhất là ở các cấp cao, giới thiệu các đảng viên ưu tú, có uy tín, năng lực, trung thành với Đảng, dân tộc cho Nhân dân lựa chọn, bầu vào các vị trí lãnh đạo trong các cơ quan dân cử và các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

    2.3. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    Bốn là, Đảng tiến hành kiểm tra đối với các tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức chủ yếu khác trong hệ thống chính trị. Nội dung kiểm tra chủ yếu là việc quán triệt và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc tuân thủ pháp luật và trách nhiệm trước Nhân dân. Đảng vừa trực tiếp kiểm tra, vừa tổ chức sự phối hợp hoạt động kiểm tra của cả hệ thống kiểm tra Đảng, giám sát của Quốc hội, thanh tra Nhà nước, điều tra của Viện Kiểm sát và kiểm tra của các tổ chức chính trị – xã hội khác. Thông qua kiểm tra, phát hiện những việc làm đúng, những sai sót trong tổ chức thực hiện, qua đó tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Như vậy, nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Phương thức lãnh đạo của Đảng chính là cách thức tác động của Đảng đối với những đối tượng lãnh đạo nhằm biến đường lối chủ trương của Đảng thành nhận thức và hành động, qua đó thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

    – Chủ thể tác động: Đảng Cộng sản Việt Nam.

    – Đối tượng tác động: Nhà nước, các lực lượng xã hội, các tổ chức, cá nhân.

    Phương thức lãnh đạo của Đảng:

    – Phương thức tác động: thông qua hệ thống những cách thức, phương pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác của Đảng.

    – Mục đích: nhằm biến đường lối chủ trương của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tượng lãnh đạo qua đó thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xã hội bằng:

    – Cư­ơng lĩnh, chiến l­ược, các định h­ướng về chính sách và chủ tr­ương lớn của Đảng, được thể hiện trong cương lĩnh, văn kiện, các nghị quyết của Đảng. Trên cơ sở những quan điểm đường lối, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành Hiến pháp, các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

    – Công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động: đây là một phương thức lãnh đạo chủ yếu và quan trọng của Đảng. Đường lối, mục tiêu, chủ trương, chính sách của Đảng dù có đúng đắn và khoa học vì dân, nhưng nếu không có sự tuyên truyền, thuyết phục, vận động thì chúng cũng khó đến được với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị, khó tạo được sự thống nhất về tư tưởng, và hành động. Phương thức lãnh đạo này mang tính dân chủ, góp phần tạo sự đồng thuận và huy động sức mạnh của hệ thống, xã hội.

    – Công tác tổ chức, cán bộ, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị.

    – Công tác kiểm tra, giám sát được coi là một phương thức lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo mà không có kiểm tra, giám sát thì coi như là không lãnh đạo. Việc kiểm tra, giám sát của Đảng giúp cho việc nhận diện việc nắm bắt và thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng đã đúng chưa, có những vướng mắc, bất cập gì trong thực tế và cần phải hoàn thiện chính sách hay khắc phục như thế nào.

    – Sự gư­ơng mẫu của đảng viên, nhất là những người đứng đầu các tổ chức, cơ quan của Đảng. Sự gương mẫu của mỗi đảng viên, nhất là của những người đứng đầu ở các vị trí cao của hệ thống chính trị luôn có sức lay động và cảm hóa mạnh mẽ đối với Nhân dân.

    – Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị. Thông qua tính kỷ luật và thống nhất trong Đảng, các đảng viên và tổ chức đảng sẽ là người tuân thủ, thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đồng thời họ cũng là người có vai trò phổ biến, vận động, thuyết phục đối với các thành viên khác của xã hội nhận thức và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

    2.1. Vai trò hạt nhân và yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị Việt Nam Vai trò hạt nhân lãnh đạo

    Ngoài những điểm nêu trên, Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân từ uy tín của Đảng, từ sự đề cao và tôn trọng vai trò của Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội.

    II. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – THÀNH TỐ HẠT NHÂN VÀ LÃNH ĐẠO CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

    Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội. Vai trò lãnh đạo đó xuất phát từ chính bản chất của một Đảng Cộng sản theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất đó được hình thành từ 3 yếu tố quan trọng. Thứ nhất, Đảng Cộng sản khác về chất với các đảng chính trị hiện có (đảng tư sản) ở chỗ: luôn đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động, đấu tranh và phấn đấu cho mục tiêu giải phóng con người, xóa bỏ bất công và áp bức trong xã hội, xây dựng một xã hội vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện các khả năng của con người. Thứ hai, Đảng Cộng sản là tổ chức của những người cộng sản tiêu biểu về mặt trí tuệ, đồng thời luôn thu hút và tập hợp được những người tài giỏi nhất của giai cấp và xã hội. Thứ ba, Đảng Cộng sản còn có tính tiền phong, tiêu biểu cho những giá trị, tiến bộ và văn minh của nhân loại.

    Đảng có vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng mọi tổ chức đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là nguyên tắc hiến định đảm bảo nguyên tắc pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam, hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Thứ hai, việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Con đường phát triển này luôn cần có sự lãnh đạo của một Đảng cộng sản – Đảng luôn đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân và của dân tộc trong tổ chức và thực thi quyền lực của Nhân dân. Theo đó, Đảng vì mục tiêu, lý tưởng cộng sản của mình sẽ là lực lượng lãnh đạo Nhân dân giành chính quyền, giành lại quyền lực nhà nước về tay Nhân dân và tổ chức thực thi quyền lực của Nhân dân, cho Nhân dân và vì Nhân dân. Trong quá trình này, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực thi vì mục đích, lợi ích của Nhân dân và xã hội.

    Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Việt Nam. Trong hệ thống chính trị một Đảng Cộng sản cầm quyền, không thể có một tổ chức hay lực lượng nào khác trong tương quan so sánh có khả năng dẫn dắt, lãnh đạo Nhân dân thực hiện được những mục đích tốt đẹp như Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện. Trong Điều lệ Đảng chỉ rõ mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đặc điểm này cho thấy rằng, đường lối cách mạng của Đảng là đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân. Đây là cơ sở quan trọng cho sự lãnh đạo của Đảng ở Việt Nam hiện nay.

    Trong sự lãnh đạo của mình, Đảng đề cao nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, tổ chức quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    2.2. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị Những nội dung lãnh đạo của Đảng:

    Đảng lãnh đạo xã hội được xác định là chủ yếu bằng Nhà nước. Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: “Trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước”.

    Tuy nhiên, khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn bộ xã hội trong thời kỳ hòa bình, Đảng phải luôn đề phòng khả năng chủ quan, duy ý chí, độc đoán, chuyên quyền. Việc phân định chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước hiện nay làm cho sự lãnh đạo của Đảng trên thực tế có thể dẫn tới hai khuynh hướng: hoặc bao biện làm thay các công việc của Nhà nước, can thiệp trực tiếp vào các công việc của Nhà nước hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. Quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong thời gian qua đã có sự phân định ngày càng rõ hơn chức năng, mối quan hệ của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị. Theo đó, ngoài việc xác định rõ nội dung lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội còn xây dựng quy chế phối hợp hoạt động, tạo sự thống nhất, thông suốt trong hoạt động của hệ thống chính trị.

    Để thực hiện chức năng lãnh đạo, cần có các nội dung lãnh đạo. Nội dung lãnh đạo của Đảng là những vấn đề, nhiệm vụ cụ thể mà Đảng đặt ra và chủ yếu được xác định ở mục tiêu trong các đường lối, chủ chương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Nội dung lãnh đạo của Đảng bao gồm tất cả các vấn đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

    Về nguyên tắc: Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, toàn xã hội; Đảng lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối trên các lĩnh vực như cán bộ, công tác đối ngoại, an ninh, quốc phòng. Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

    Một là, Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, chiến lược, đường lối, chính sách lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa chúng thành các luật lệ, quy định, chính sách và tổ chức thực hiện, Mặt trận và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị dựa trên đường lối của Đảng, luật pháp, chương trình, kế hoạch của công tác và tổ chức thực hiện phù hợp với chức năng của từng tổ chức, Đảng không quyết định những vấn đề thuộc chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức khác, Đảng tôn trọng tính độc lập của từng tổ chức.

    Hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh, đủ năng lực và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực sự là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành từng bước phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, ngoài việc lãnh đạo Quốc hội tập trung vào việc xây dựng hệ thống luật pháp đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện cải cách quy trình lập pháp, cải cách nền hành chính nhà nước chuyên nghiệp, hiện đại, cải cách tư pháp.

    2.3. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    Bên cạnh đó, Đảng lãnh đạo xây dựng các tổ chức chính trị – xã hội đủ sức tập hợp rộng rãi quần chúng Nhân dân và phát huy có hiệu quả quyền làm chủ của họ trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực này thể hiện ở việc đề ra các quan điểm, các nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng tổ chức và hoạt động của các tổ chức; đề cao tính tự chủ, chủ động của các tổ chức. Đảng không can thiệp vào công việc tổ chức cụ thể của các thành viên khác trong hệ thống chính trị.

    Ba là, Đảng xác định thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ thông qua việc hoạch định chủ trương, chính sách cán bộ. Đảng quyết định những chính sách lớn về cán bộ, thực hiện công tác tổ chức và cán bộ trên tất cả các khâu đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, đánh giá và sử dụng cán bộ. Trực tiếp bố trí và quyết định nhân sự chủ chốt của hệ thống chính trị, nhất là ở các cấp cao, giới thiệu các đảng viên ưu tú, có uy tín, năng lực, trung thành với Đảng, dân tộc cho Nhân dân lựa chọn, bầu vào các vị trí lãnh đạo trong các cơ quan dân cử và các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

    Bốn là, Đảng tiến hành kiểm tra đối với các tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức chủ yếu khác trong hệ thống chính trị. Nội dung kiểm tra chủ yếu là việc quán triệt và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc tuân thủ pháp luật và trách nhiệm trước Nhân dân. Đảng vừa trực tiếp kiểm tra, vừa tổ chức sự phối hợp hoạt động kiểm tra của cả hệ thống kiểm tra Đảng, giám sát của Quốc hội, thanh tra Nhà nước, điều tra của Viện Kiểm sát và kiểm tra của các tổ chức chính trị – xã hội khác. Thông qua kiểm tra, phát hiện những việc làm đúng, những sai sót trong tổ chức thực hiện, qua đó tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Như vậy, nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Phương thức lãnh đạo của Đảng chính là cách thức tác động của Đảng đối với những đối tượng lãnh đạo nhằm biến đường lối chủ trương của Đảng thành nhận thức và hành động, qua đó thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

    Phương thức lãnh đạo của Đảng:

    – Chủ thể tác động: Đảng Cộng sản Việt Nam.

    – Đối tượng tác động: Nhà nước, các lực lượng xã hội, các tổ chức, cá nhân.

    – Phương thức tác động: thông qua hệ thống những cách thức, phương pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác của Đảng.

    – Mục đích: nhằm biến đường lối chủ trương của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tượng lãnh đạo qua đó thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xã hội bằng:

    – Cư­ơng lĩnh, chiến l­ược, các định h­ướng về chính sách và chủ tr­ương lớn của Đảng, được thể hiện trong cương lĩnh, văn kiện, các nghị quyết của Đảng. Trên cơ sở những quan điểm đường lối, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành Hiến pháp, các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

    – Công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động: đây là một phương thức lãnh đạo chủ yếu và quan trọng của Đảng. Đường lối, mục tiêu, chủ trương, chính sách của Đảng dù có đúng đắn và khoa học vì dân, nhưng nếu không có sự tuyên truyền, thuyết phục, vận động thì chúng cũng khó đến được với các chủ thể khác trong hệ thống chính trị, khó tạo được sự thống nhất về tư tưởng, và hành động. Phương thức lãnh đạo này mang tính dân chủ, góp phần tạo sự đồng thuận và huy động sức mạnh của hệ thống, xã hội.

    – Công tác tổ chức, cán bộ, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị.

    – Công tác kiểm tra, giám sát được coi là một phương thức lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo mà không có kiểm tra, giám sát thì coi như là không lãnh đạo. Việc kiểm tra, giám sát của Đảng giúp cho việc nhận diện việc nắm bắt và thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng đã đúng chưa, có những vướng mắc, bất cập gì trong thực tế và cần phải hoàn thiện chính sách hay khắc phục như thế nào.

    – Sự gư­ơng mẫu của đảng viên, nhất là những người đứng đầu các tổ chức, cơ quan của Đảng. Sự gương mẫu của mỗi đảng viên, nhất là của những người đứng đầu ở các vị trí cao của hệ thống chính trị luôn có sức lay động và cảm hóa mạnh mẽ đối với Nhân dân.

    – Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị. Thông qua tính kỷ luật và thống nhất trong Đảng, các đảng viên và tổ chức đảng sẽ là người tuân thủ, thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đồng thời họ cũng là người có vai trò phổ biến, vận động, thuyết phục đối với các thành viên khác của xã hội nhận thức và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

    Ngoài những điểm nêu trên, Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân từ uy tín của Đảng, từ sự đề cao và tôn trọng vai trò của Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Là Gì?
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Hệ Thống Chính Trị Là Gì ? Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị ?
  • Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Đảng Lãnh Đạo Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Điều Hành Linux Là Gì Và Có Công Dụng Ra Sao
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Android – Khái Niệm, Ứng Dụng Và Cách Cài Đặt
  • Hệ Điều Hành Ios Là Gì? Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Của Iphone
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Hệ Điều Hành
  • Định Nghĩa, Ví Dụ & Khái Niệm
  • Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị – thành tựu và kinh nghiệm

     

    Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp xâm chiếm nước ta và phong kiến tay sai. Các phong trào của các tầng lớp nhân dân diễn ra mạnh mẽ, nhưng tất cả đều không thành công. Đất nước ta chìm trong đêm dài nô lệ. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; muốn sống thì phải cách mệnh. Từ đó, Người đặt câu hỏi: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Và Người trả lời: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

    Đảng đã sáng lập ra Mặt trận Việt Minh và tích cực xây dựng các tổ chức của quần chúng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám. Đánh giá ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.

    Một trong những nguyên nhân làm nên Cách mạng Tháng Tám là do Đảng ta chuẩn bị được lực lượng vĩ đại của toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, dựa trên cơ sở liên minh công-nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đánh dấu sự hình thành một hệ thống chính trị dân chủ nhân dân. Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân có một chính quyền tự xác định là công bộc của dân, dân là chủ và dân làm chủ, dựa trên nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi. Vai trò lãnh đạo của Đảng (từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 2 năm 1951) được ẩn trong vai trò của Quốc hội và Chính phủ. Có một Mặt trận và nhiều tổ chức quần chúng rộng rãi. Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ. Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.

    Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đoàn kết chiến đấu của toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi – Mặt trận Liên Việt được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công-nông và trí thức vững chắc; có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được giữ vững, củng cố và lớn mạnh, làm công cụ sắc bén tổ chức toàn dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Những Loại Đột Biến Gen Nào?
  • Đột Biến Gen Ở Người Là Gì, Phân Loại, Nguyên Nhân, Ý Nghĩa
  • Tìm Hiểu Về Gen Di Truyền – Vì Sao Giải Pháp Gen Là Lựa Chọn Ưu Việt?
  • Điều Hòa Biểu Hiện Gen
  • Cơ Chế Biểu Hiện Gen
  • Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Các Khái Niệm Và Các Công Cụ Chủ Yếu Của Các Chính Sách Đầu Tư Quốc Tế
  • Khái Niệm Chính Sách Tài Khóa
  • Giải Thuật Chia Để Trị (Divide And Conquer)
  • Khái Niệm Lịch Sử Boiduongchuyenmonls11 Doc
  • Giải Thuật Chia Để Trị (Divide And Conquer) Trong Cấu Trúc Dữ Liệu Và Giải Thuật
  • Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Chính Sách Pháp Luật Mới, Chính Sách Pháp Luật Là Gì, Chính Sách Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật, Bài Thu Hoạch Nội Dung Đường Lối Chính Sách Pháp Luật, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật Võ Khánh Vinh, Việc Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nư, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng, , Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng,, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Phần Tích Những Căn Cứ Hoạch ĐịnhĐường Lối Chính Sach Pháp Luật Của Đảng Nhà Nước Về Phát Triển Kin, Bài Thu Hoạch Trình Bày Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòn, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng Toàn Dân,, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Về Việc Tuyrn Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Bài Thu Hoạch Trình Bày Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòn, Trình Bày Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Về Chính Sách, Pháp Luật Cuat Nhà Nước Về Quốcmphong, Đồng Chí Phân Tích Những Nội Dung Cơ Bản Về Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Cua, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan Dan, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng Toàn Dân,, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Trình Bày Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Về Chính Sách, Pháp Luật Cuat Nhà Nước Về Quốcmphong, Phần Tích Những Căn Cứ Hoạch ĐịnhĐường Lối Chính Sach Pháp Luật Của Đảng Nhà Nước Về Phát Triển Kin, Bối Cảnh Kinh Tế Của Chính Sách Và Pháp Luật Cạnh Tranh, Trình Bày Nội Dung Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Xây Dựng Nền Quốc Phòng, Cong Tác Lanh Đao Thuc Hiện Chu Trường Cua Đảng Chinh Sách Pháp Luật Của Nha Nước Trong Cong Tác Gia, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hieenjchur Trương Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Nhà Nwowcsvaf Thực Hiện Chỉ T, Hệ Thống Pháp Luật Điều Chỉnh, Trinh Bay Noi Dung Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan, Trinh Bay Noi Dung Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan, Khái Niệm Pháp Luật, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Hiện Nay., Chính Sách Khai Thác Thuộc Địa Của Thực Dân Pháp Và Những Chuyển Biến Về Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Cong Tac Lanh Đạo Thực Hiện Chủ Truong Của Đang Chính Sach Pháp Luạt Nhà Nươc Va Thực Hiện Chỉ Thj N, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay, Văn Bản Pháp Luật Chính Phủ, Văn Bản Pháp Luật Bộ Tài Chính, Sách Văn Bản Pháp Luật Ueh, Sách Pháp Luật, Chính Sách Cai Trị Của Pháp, Pháp Luật Kinh Tế Tài Chính 3, Văn Bản Pháp Luật Phải Chính Xác, Văn Bản Hành Chính Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Ban Hành Của Chính Phủ, Sách Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Pháp Luật Kinh Tế Học Viện Tài Chính, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Xử Lý Văn Bản Hành Chính Trái Pháp Luật, Lịch Sử Các Học Thuyết Chính Trị Và Pháp Luật,

    Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Chính Sách Pháp Luật Mới, Chính Sách Pháp Luật Là Gì, Chính Sách Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật, Bài Thu Hoạch Nội Dung Đường Lối Chính Sách Pháp Luật, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật Võ Khánh Vinh, Việc Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nư, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng, , Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng,, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Phần Tích Những Căn Cứ Hoạch ĐịnhĐường Lối Chính Sach Pháp Luật Của Đảng Nhà Nước Về Phát Triển Kin, Bài Thu Hoạch Trình Bày Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòn, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Tham Mưu Xây Dựng Chính Sách Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Chiến Lược Qua Thực Tiễn Xây Dựng Pháp Luật Của Chính Phủ
  • Bàn Về Khái Niệm “chính Sách Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Bảo Hiểm Là Gì? Các Thuật Ngữ Cơ Bản Nhất Trong Bảo Hiểm Bạn Nên Biết
  • Định Nghĩa Chính Sách Bảo Hiểm Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Chính Sách Bảo Hiểm
  • #1 Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Lực Ma Sát Xuất Hiện Khi Nào

    --- Bài mới hơn ---

  • Lực Ma Sát Là Gì?
  • Quán Tính Là Gì? Lực Quán Tính Là Gì? Công Thức Tính
  • Quán Tính Là Gì? Tìm Hiểu Lực Quán Tính Trong Các Hệ Quy Chiếu
  • Lực Ma Sát Là Gì? Xuất Hiện Khi Nào?
  • Lực Đẩy Acsimet Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • Áp lực N’ là lực nén của vật m lên bề mặt tiếp xúc đặt tại mặt tiếp xúc lực này sinh ra phản lực N cùng phương ngược chiều cùng độ lớn có điểm đặt tại vật m.

    ⇒ Fmst=µ.N’=µ.N=µ.m.g

    Fmst=µ.N’=µ.N=µ(P – F1)=µ.mg – µ.Fksinα​

    Lực ma sát nghỉ

    Xuất hiện ở hai vật tiếp xúc với nhau do bề mặt tiếp xúc tác dụng lên vật khi có ngoại lực giúp cho vật đứng yên tương đối trên bề mặt của vật khác hoặc thành phần của ngoại lực // bề mặt tiếp xúc tác dụng làm vật có xu hướng chuyển động.

    Đặc điểm của lực ma sát nghỉ

    • Điểm đặt lên vật sát bề mặt tiếp xúc.

    • Phương: song song với bề mặt tiếp xúc.

    Trong đó:

    Ft: độ lớn của ngoại lực (thành phần ngoại lực) song song với bề mặt tiếp xúc.

    Fmsn: Độ lớn lực ma sát nghỉ (N)

    Lực ma sát nghỉ cực đại

    Fmmsn Max: lực ma sát cực đại (N)

    µn: hệ số ma sát nghỉ

    µt: hệ số ma sát trượt

    Lực ma sát lăn là lực ngăn cản sự lăn của các vật có hình tròn hay nói cách khác là cản trở chuyển động lăn, độ lớn lực ma sát lăn nhỏ hơn các lực ma sát động khác.

    Khi một vật lăn trên một vật khác, xuất hiện nơi tiếp xúc và cản trở chuyển động lăn. có đặc điểm như lực ma sát trượt.

    Lực nội ma sát của chất lỏng

    Lực nội ma sát của chất lỏng là lực cản trở giữa những lớp chuyển động của một chất lỏng, nó còn được gọi là lực nhớt.

    Chất lỏng càng nhớt thì càng đặc. Vì thế mật ong có lực ma sát nhớt lớn hơn nước.

    μ là hệ số ma sát nhớt hay độ nhớt của chất lỏng, phụ thuộc vào bản chất của chất lỏng và nhiệt độ.

    dv là vận tốc chuyển động của lớp chất lưu chuyển (m/s)

    dz là quãng đường chuyển động của lớp chất lưu chuyển (m)

    Vai trò lực ma sát

    1. Lực ma sát sẽ giữ cố định các vật thể trong không gian: ví dụ như giúp giữ đinh trên tường, khả năng giúp con người cầm nắm các vật thể.

    2. Lực ma sát giúp cho những vật di chuyển khi vào cua mà không bị trượt. Trường hợp lực ma sát quá nhỏ (bề mặt trơn nhẵn) người di chuyển có thể bị trượt ngã

    3. Ma sát có lợi tuy nhiên cũng có một số điểm bất lợi riêng. Ví dụ như phát sinh nhiệt và bào mòn bộ phận chuyển động khiến các bộ phận thiết bị bị hao mòn trong thời gian dài sử dụng.

    Ứng dụng lực ma sát

    1. Lực ma sát sử dụng trong một số lĩnh vực như kỹ thuật đánh bóng, sơn mài,…

    2. Khi tìm hiểu lực ma sát xuất hiện khi nào? ta sẽ biết được hãm tốc độ phương tiện giao thông khi di chuyển.

    3. Thời tiền sử, nhiệt năng của ma sát dùng làm công cụ đánh lửa.

    Làm thế nào để giảm ma sát?

    1. Lực ma sát tuy có ứng dụng nhiều trong cuộc sống nhưng có nhiều điểm bất lợi và con người luôn muốn giảm ma sát để giảm thiểu tác hại.

    2. Chuyển ma sát trượt thành ma sát lăn. Chẳng hạn như trong ổ bi đó là chuyển ma sát trượt thành ma sát lăn, giảm ma sát đáng kể, giảm khả năng bị bào mòn.

    3. Làm giảm ma sát tĩnh: đoàn tàu hỏa khi khởi động thông thường đầu tàu sẽ bị giật lùi, điều này sẽ giúp đầu tàu kéo từng toa và chỉ chống lực ma sát tĩnh từng toa chứ không phải là ma sát tĩnh của cả đoàn tàu.

    4. Thay đổi bề mặt vật liệu/chất liệu: thay đổi bề mặt sẽ giúp giảm ma sát. Ví dụ dùng các chất bôi trơn như dầu mỡ đối với các bề mặt rắn. Điều này sẽ giúp giảm hệ số ma sát giảm khả năng bị bào mòn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lực Ma Sát Là Gì ? Ứng Dụng Của Lực Ma Sát
  • Hoàn Thiện Chế Định Thanh Tra Chuyên Ngành Trong Hệ Thống Pháp Luật Về Thanh Tra Việt Nam
  • Thanh Tra Các Cấp Thực Hiện Tốt Công Tác Thanh Tra Kinh Tế
  • Cổng Giao Tiếp Điện Tử Thanh Tra Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Xu Hướng Phát Triển Kinh Tế Xanh Trên Thế Giới
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100