Giao Tiếp Sư Phạm Mầm Non: Thực Trạng Và Giải Pháp Bồi Dưỡng

--- Bài mới hơn ---

  • Chương 1 Khái Quát Về Kỹ Năng Mềm
  • Kỹ Năng Mềm Là Gì? Các Loại Kỹ Năng Mềm Trong Công Việc
  • Tài Liệu Quản Lý Moving To Http://tailieuquanly.com
  • Thế Nào Là Giao Tiếp ‘Mở’ Và Trực Tiếp
  • 5 Rào Cản Cần Khắc Phục Trong Kỹ Năng Giao Tiếp – Vnpt School
  • 1. Giao tiếp sư phạm mầm non là gì?

    Giao tiếp su phạm mầm non không chỉ là sự trao đổi thông tin giữa giáo viên mầm non với trẻ nhỏ, mà nó còn là mối quan hệ giữa giáo viên với phụ huynh, với đồng nghiệp và những người làm công tác giáo dục mầm non với nhau.

    Mục đích của giao tiếp sư phạm là truyền thụ kiến thức, kĩ năng, các hành vi chuẩn mực, hình thành phẩm chất đạo đức và phát triển trí tuệ cho trẻ. Cách giao tiếp của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách đầu đời của một đứa trẻ cho dù đó là trực tiếp hay gián tiếp.

    Giao tiếp sư phạm tốt là phải biết kết hợp hài hòa cả hai yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Bên cạnh kĩ năng sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, mạch lạc thì còn yêu cầu biểu hiện tốt sắc thái cảm xúc, cử chỉ, ngữ điệu và biết lựa chọn nội dung lời nói phù hợp.

    Chẳng hạn như khi giao tiếp, lời nói của giáo viên mầm non phải rõ ràng nhưng ngữ điệu nhẹ nhàng, phải biết điều phối cảm xúc, biểu lộ sắc thái vừa phải, không thái quá, luôn cởi mở, vui tươi,….Yếu tố phi ngôn ngữ như hành vi, nét mặt cần thể hiện nền nã, có chừng mực.

    Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ cần linh hoạt, biết kết hợp hài hòa với yếu tố phi ngôn ngữ để tạo hiệu quả giao tiếp tốt nhất. Trong bất kỳ tình huống nào, giáo viên cũng phải biết gạt bỏ cảm xúc tiêu cực và bộc lộ cảm xúc tích cực nhằm mang lại cảm giác thoải mái nhất cho đối tượng giao tiếp.

    2. Thực trạng giao tiếp sư phạm mầm non hiện nay

    Qua khảo sát ở một số trường mầm non thuộc các tỉnh thành cho thấy, kĩ năng giao tiếp sư phạm chưa thực sự được các giáo viên mầm non trau dồi, rèn luyện và bồi dưỡng. Các giao tiếp của nhiều giáo viên còn nặng nề, căng thẳng, thiếu hòa khí vui tươi cũng như sự quan tâm cởi mở, chưa thể hiện được cái hồn trong giao tiếp đó là tình yêu thương nhân ái, sự đồng cảm sẻ chia giữa con người với con người.

    Nguyên nhân của thực trạng trên đó là:

    – Áp lực nặng nề của giáo viên từ khối lượng công việc và từ nhiều phía: giáo viên có thể chịu sự quá tải về thời gian, số lượng công việc lớn và áp lực tinh thần, dẫn đến sự mệt mỏi, căng thẳng và không quan tâm phải làm hài lòng ai đó khi giao tiếp ngoài công việc.

    – Ảnh hưởng của xu thế thời đại, chỉ chú trọng giá trị vật chất, ít đề cao giá trị tinh thần: Giao tiếp sư phạm mầm non ngày nay chủ yếu xuất phát từ mục đích công việc hay một mục đích riêng tư nào đó. Các giáo viên thường ít quan tâm đến việc giao tiếp của mình có ảnh hưởng như thế nào đến những đứa trẻ xung quanh. Chính vì thế mà hành vi của họ thường gấp gáp, hời hợt, thiếu sự sâu sắc và chừng mực trong ngôn ngữ, cử chỉ.

    – Giao tiếp sư phạm mầm non thiếu sự quan tâm sát sao của các cấp lãnh đạo: Hiện nay, hầu hết các giáo sinh ra trường đều chưa được trang bị và rèn luyện kĩ năng giao tiếp một cách bài bản. Hoặc một số lại bị ảnh hưởng bởi cách giao tiếp “băng giá” của đồng nghiệp. Người quản lý trường mầm non cũng không mấy chú ý đến vấn đề giao tiếp của bản thân và của đội ngũ nhân sự, họ cho phép mình có cách giao tiếp thiếu nhiệt tình, cởi mở trước mặt những đứa trẻ.

    3. Giải pháp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư phạm mầm non

    – Đội ngũ giáo viên mầm non cần được nâng cao ý thức về tầm quan trọng của giao tiếp sư phạm đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.

    – Giảm tải áp lực cũng như cường độ làm việc cho giáo viên mầm non

    – Khuyến khích giao tiếp ngoài đời thực, hạn chế giao tiếp và trao đổi thông tin trong môi trường ảo.

    – Sàng lọc và lựa chọn đội ngũ sư phạm ngay từ khâu đào tạo và tuyển dụng với yêu cầu về một khả năng giao tiếp mầm non tốt.

    Trong giáo dục nói chung, giao tiếp là yếu tố góp phần tạo nên nhân cách con người. Một môi trường với đội ngũ nhân sự có kỹ năng giao tiếp tốt thì môi trường đó sẽ chứa đựng nguồn năng lượng tốt giúp tập thể làm việc hiệu quả cao hơn. Một đứa trẻ được giáo dục bởi những giao tiếp tốt, thân thiện, cởi mở thì đương nhiên sẽ nhận được năng lượng tích cực, được hoạt động, vui chơi và tự do trải nghiệm theo đúng tinh thần Montessori cách đây nửa thế kỷ.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3.14. Giao Tiếp Qua Mạng
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trên Mạng Internet
  • Bồi Dưỡng Kĩ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Cho Gv Tiểu Học
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Mà Giáo Viên Tiểu Học Cần Phải Biết?
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Ứng Xử Thông Minh Làm Chủ Tình Huống Trong Cuộc Sống
  • Khái Niệm Chung Về Thực Tập Sư Phạm Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Năng Lực Trách Nhiệm Hình Sự Của Cá Nhân
  • Luận Án: Phát Triển Năng Lực Cá Nhân Con Người Việt Nam, Hay
  • Nghị Luận Xã Hội Về Ý Chí Nghị Lực Phi Thường Của Con Người Trong Cuộc Sống Hiện Nay
  • Luận Văn Bồi Dưỡng Năng Lực Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh Giỏi Trung Học Phổ Thông Thông Qua Dạy Học Chủ Đề Chuẩn Độ
  • Những Điều Cơ Bản Cần Biết Về Sự Sáng Tạo
  • Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC TẬP SƯ PHẠM

    I. Khái niệm chung về thực tập sư phạm

    Thực tập sư phạm là hoạt động giáo dục đặc thù của các trường sư phạm mầm non nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cần thiết của nhà giáo cho giáo sinh theo mục tiêu đào tạo đã đề ra.

    Nhà giáo là người làm nhiệm vụ dạy học và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đã quy định trong Luật giáo dục 1998, sinh viên trong các trường sư phạm được đào tạo không chỉ về kiến thức chuyên môn thuộc các lĩnh vực khoa học – công nghệ mà còn cả về nghiệp vụ sư phạm. Lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ trong các trường sư phạm có nhiệm vụ hình thành những kiến thức về dạy học, bồi dưỡng lý tưởng đạo đức và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, nghệ thuật sư phạm cho giáo sinh. Lĩnh vực đào tạo sư phạm học bao gồm các bộ môn giáo dục học, tâm lý học, lý luận dạy học, giáo học pháp bộ môn và thực tập phạm.

    Vấn đề thực tập sư phạm được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

    Thực tập sư phạm “là hoạt động thực tiễn của giáo sinh tại các trường phổ thông sau phần học lý thuyết về nghề sư phạm nhằm mục đích củng cố và nâng cao nhận thức và lòng yêu nghề dạy học, áp dụng các kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kỹ năng dạy học, công tác chủ nhiệm. Nội dung thực tập sư phạm đòi hỏi vận dụng tổng hợp các kiến thức, nghiệp vụ được trang bị vào hoạt động cụ thể theo từng loại hình công tác giáo dục và giảng dạy”. Theo quan niệm trên, thực tập sư phạm là hoạt động thực hành của giáo sinh các trường sư phạm và được tiến hành ở các cơ sở thực tập sư phạm.

    Thực tập sư phạm được coi là công đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo người giáo viên với thời gian mà giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp nhằm giúp cho các em có thể củng cố, nâng cao, mở rộng các kiến thức, kỹ năng đã học ở trường sư phạm. Thực tập sư phạm được coi là giai đoạn kiểm tra sự chuẩn bị về mặt lý luận cũng như thực hành của giáo sinh đối với việc độc lập công tác của họ và hình thành những khả năng rộng lớn trong việc sáng tạo giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáo dưỡng của người giáo viên tương lai. Như vậy, thực tập sư phạm đã thực sự trở thành hoạt động thực hành nhằm vận dụng kiến thức, kỹ năng, hình thành khả năng giải quyết công việc của giáo sinh. Ở góc độ quản lý, thông qua thực tập sư phạm mà nhà trường có thể xác định được mức độ chuẩn bị về lý luận và thực hành của giáo sinh cho công việc tương lai của họ sau này.

    Thực tập sư phạm là khâu hết sức quan trọng trong việc đào tạo năng lực sư phạm cho người giáo viên trong tương lai. “Tất cả sinh viên các trường đại học sư phạm trong quá trình học tập đều phải tham gia thực tập sư phạm từ năm thứ I (từ đầu học kỳ II). Đó là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp – sư phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên”. Theo quan niệm trên thì thực tập sư phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm cũng như ở các cơ sở thực tập sư phạm.

    Thực tập sư phạm đã trở thành một khâu trong chương trình đào tạo người giáo viên tương lai khi xem xét nó như một quá trình dạy học để thực hiện những nhiệm vụ dạy học cơ bản như rèn luyện kỹ năng, kiểm tra và đánh giá kết quả tổng hợp của cả khoá học của giáo sinh sư phạm. Với quan niệm trên, thực tập sư phạm được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp dạy học.

    Thực tập sư phạm được coi là một bước trong quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm để giáo sinh tiến hành rèn luyện kỹ năng sư phạm bằng việc thực hiện một cách tương đối độc lập nhiệm vụ dạy học và giáo dục. Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng sư phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên và thực tập sư phạm là giai đoạn luyện tập nâng cao ở trên đối tượng thực.

    Thực tập sư phạm lại được coi là hoạt động thực hành của giáo sinh trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố khác của quá trình sư phạm. Khi giáo sinh thực hiện nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ mới như môi trường mới, thầy mới, trò mới, công việc mới và vị thế mới. Trong các mối quan hệ mới đó, để thích nghi, họ phải huy động tất cả những gì đã được chuẩn bị và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo tri thức sư phạm vào tình huống không quen thuộc. Quan niệm trên nhấn mạnh dạy học và giáo dục là hoạt động đa dạng vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật, dạy học không phải bắt hoạt động học thích ứng với hoạt động dạy mà dạy phải thích ứng với hoạt động học. Thực tập sư phạm là quá trình thích ứng của giáo sinh với các nhiệm vụ của người giáo viên. Sự thích ứng này chỉ có được khi giáo sinh được chuẩn bị tốt, có điều kiện để rèn luyện kỹ năng sư phạm.

    Từ những phân tích trên có thể hiểu thực tập sư phạm kỹ thuật là hoạt động thực hành về nghiệp vụ sư phạm của giáo sinh sư phạm kỹ thuật nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cơ bản để tổ chức tốt hoạt động dạy học cũng như giáo dục, hình thành và phát triển những phẩm chất cơ bản của người giáo viên dạy nghề.

      Đặc điểm TTSP của giáo sinh SPKT

    Thực tập sư phạm là nội dung thuộc chương trình đào tạo sư phạm kỹ thuật cho giáo viên dạy nghề ở các trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật. Việc tiến hành nhiệm vụ TTSP của giáo sinh cũng có những nét đặc trưng nhất định của nó.

    Mục tiêu TTSP của giáo sinh SPKT là hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực dạy học kỹ thuật – nghề nghiệp, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục ở các trường dạy nghề.

    Đối tượng thực tập sư phạm là các lớp dạy nghề có trình độ bán lành nghề cũng như lành nghề. Học sinh học nghề ngắn hạn cũng như dài hạn có sự đa dạng về trình độ nhận thức, đặc điểm tâm – sinh lý nhưng đều có mục tiêu chung là học nghề để sau này tham gia vào cuộc sống lao động nghề nghiệp. Vì vậy, học sinh rất tích cực và linh hoạt trong quá trình học lý thuyết cũng như thực hành nghề. Tuy nhiên, học sinh học nghề đến từ nhiều vùng khác nhau nên có những khác biệt trong phong cách học tập cũng như cách ứng xử. Học sinh về cơ bản là tự lập, sống xa gia đình. Do lưu lượng học sinh học nghề phát triển nhanh trong những năm vừa qua nên ký túc xá không đủ đáp ứng nhu cầu ở làm cho công tác quản lý, giáo dục học sinh gặp nhiều khó khăn khi tiến hành hoạt động giáo dục của giáo sinh.

    Người hướng dẫn thực tập sư phạm ở các trường dạy nghề hầu hết học từ các trường kỹ thuật được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm ở Bậc I, II. Theo số liệu thống kê của Tổng cục dạy nghề thì số GVDN chính qui là 6300, trong đó, trình độ trên ĐH 2%, trình độ ĐH, CĐ 69%, trình độ THKT và trung học SPKT 15%, công nhân kỹ thuật 14%. GV thực hành có tay nghề bậc 3 là 35,6%; bậc 4: 23%; bậc 5: 24,4%; bậc 6 và 7: 17%. Chính vì vậy nên một số người có quan niệm về TTSP chưa đúng, phương pháp sư phạm của một số giáo viên thực hành còn mang tính chất truyền nghề nên sự định hướng cho giáo sinh cũng có những hạn chế nhất định.

      Vai trò của TTSP: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Giáo viên dạy nghề là người làm công tác dạy học và giáo dục trong các cơ sở dạy nghề. Giáo viên dạy nghề phải có phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm.

    Ở GVDN có những nét khác biệt so với giáo viên của các bộ phận khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.

    Việc đào tạo nghề có nhiều cấp độ khác nhau, nhiều nghề khác nhau, các ngành nghề luôn biến động theo sự thay đổi của khoa học, kỹ thuật công nghệ trong sản xuất và yêu cầu thị trường lao động.Vì vậy, GVDN cần có sự thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học và công nghệ.

    Đội ngũ GVDN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều trình độ khác nhau. Có 50% GVDN là người tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ, THCN; 30% tốt nghiệp các trường SPKT; số còn lại là thợ bậc cao và kỹ thuật viên trung học đã qua sản xuất.

    Năng lực nghề nghiệp của GVDN là điều kiện cần thiết để hoạt động nghề có hiệu quả. Trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề có các thành tố như tri thức và kỹ năng chuyên môn khoa học- công nghệ, năng lực sư phạm kỹ thuật. Năng lực nghề nghiệp được hình thành thông qua đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, trong đó, thông qua đào tạo là quan trọng.

    3.1. TTSP là môi trường thực hành sư phạm: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Bất cứ một hoạt động nào cũng diễn ra trong một môi trường nhất định, hoạt động sư phạm không có ngoại lệ. Môi trường có hai mối quan hệ ràng buộc là ảnh hưởng và thích nghi, vì thế nhiệm vụ của nhà sư phạm là phải tiến hành khai thác những ảnh hưởng tốt, hạn chế những ảnh hưởng xấu cũng như tìm kiếm phương thức thích nghi ở mức cao nhất để hoạt động thực hành sư phạm của giáo sinh đạt kết quả.

    Khi giáo sinh tiến hành giải quyết các nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ mới với môi trường mới, thầy mới, trò mới, công việc mới và vị thế mới mà những cái này họ đã chưa được làm quen hoặc làm quen dưới dạng giả định trong khi học ở trường sư phạm. Trong các mối quan hệ mới đó để thích nghi, họ phải huy động tất cả những gì đã được trường sư phạm chuẩn bị trước và dịch chuyển độc lập, linh hoạt, sáng tạo vào tình huống không quen thuộc, qua đó, có được những hiểu biết mới – có thể là những kiến thức khoa học, có thể chưa đạt, thậm chí không đạt đến tri thức khoa học. Điều đó không quan trọng, bởi giá trị của những hiểu biết mà giáo sinh có được khi thực hành sư phạm độc lập trong môi trường mới là sự nuôi dưỡng lòng khát khao tìm kiếm, khám phá, niềm say mê với hoạt động thực tiễn sư phạm và ý thức, thói quen làm việc độc lập, sáng tạo ở họ. Với ý nghĩa trên, chúng ta cần chuẩn bị được môi trường thực tập sư phạm hợp lý về các điều kiện, phương tiện và thái độ.

    Chuẩn bị về thái độ có nghĩa là giúp giáo sinh nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của thực tập sư phạm trong quy trình đào tạo người giáo viên cũng như việc chuẩn bị hành trang bước vào nghề dạy học. Việc làm này được tiến hành khi giới thiệu chương trình đào tạo của trường sư phạm, qua đó, làm rõ vị trí của các môn học, các hoạt động giáo dục nhất là những môn học và các hoạt động mang tính nghiệp vụ như học tập các môn Tâm lý học, Giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn, kiến tập và thực tập sư phạm .v.v…

    Để thể hiện hứng thú và niềm say mê với hoạt động thực tập sư phạm không chỉ cần giáo sinh có nhận thức rõ về ý nghĩa của hoạt động thực tập sư phạm với dự án học đường, dự án nghề nghiệp mà họ còn phải có những điều kiện nhất định để thực hiện có kết quả hoạt động đó. Những điều kiện đó là tâm – sinh lý cá nhân, tâm lý – xã hội và nền kinh tế – văn hóa – xã hội.

    Chính những thành công nhỏ mà mỗi giáo sinh đạt được trong từng công việc của đợt thực tập sư phạm không chỉ có ý nghĩa đào tạo đối với mỗi người, mà còn nuôi dưỡng, phát triển tình yêu đối với nghề dạy học nói chung và công tác thực tập sư phạm nói riêng.

    Việc tổ chức cho giáo viên mầm non sinh tham gia thực tập “tại địa phương” một cách thuận lợi, tạo điều kiện cho họ biết cách phát huy hết tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong công tác thực hành sẽ giữ vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực tập sư phạm của sinh viên.

    Việc tiến hành tổng kết, đánh giá được kết quả thực tập sư phạm một cách khách quan, công bằng và công khai bằng những thang đánh giá rõ ràng, phù hợp với tính chất từng hoạt động, với yêu cầu thực hành bộ môn, thực hành nghề sẽ tạo ra niềm tin, sự phấn khởi ở giáo sinh về công tác thực hành sư phạm.

    Tránh những biểu hiện như sự chuẩn bị chưa chu đáo, tổ chức thực hành không mang tính khoa học, thiếu sự phối hợp ăn ý giữa trường sư phạm với các “trường địa phương”, tổng kết đánh giá không tương xứng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả rèn luyện kỹ năng sư phạm nói riêng, kết quả đào tạo nói chung và thái độ đối với nghề của giáo sinh sư phạm.

    3.2. TTSP là phương pháp rèn luyện năng lực sư phạm: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Thực tập sư phạm được thực hiện nhằm hình thành và phát triển năng lực sư phạm kỹ thuật cho người giáo viên dạy nghề. “Trường sư phạm là một trường đào tạo nghề” thể hiện rõ tính chuyên nghiệp trong toàn bộ hoạt động đào tạo thông qua việc hình thành và phát triển các kỹ năng nghề nghiệp gắn bó với thực tiễn sinh động của các trường dạy nghề. Năng lực sư phạm có cấu trúc phù hợp với hoạt động sư phạm, được hình thành và phát triển trong quá trình rèn luyện của người giáo viên tương lai, tạo nên sự trưởng thành trong nghề nghiệp. Quá trình đào tạo phải hình thành được các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản, cần thiết và khả dụng. Những năng lực sư phạm được tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình thực tập sư phạm.

    Năng lực dạy các bài học lý thuyết và thực hành nghề. Năng lực này được biểu hiện qua các kỹ năng sư phạm.

    • Kỹ năng phân tích chương trình đào tạo. Kỹ năng phân tích chương trình đào tạo ngành, nghề mà mình sẽ tiến hành dạy học; chương trình môn học, từ phân tích chương trình các môn học mà có kỹ năng xác định nội dung dạy học cho một bài học.
    • Kỹ năng nghiên cứu tài liệu giảng dạy các môn học. Giáo sinh biết nghiên cứu giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo xác định các nội dung dạy học cho mỗi chương, mỗi phần, mục… và được cụ thể hoá ở mỗi bài học, tiết học.

    3) Kỹ năng soạn bài và chuẩn bị cho lên lớp. Giáo sinh thực hiện quy trình soạn giáo án lý thuyết cũng như thực hành nghề. Với sự hướng dẫn nhất định của giáo viên, giáo sinh soạn giáo án theo mẫu viết đề cương bài giảng và chuẩn bị phương tiện, thiết bị cùng các điều kiện khác cho quá trình lên lớp. Trong quá trình thực tập sư phạm, giáo sinh sẽ nhận thấy rằng bài soạn không phải là giáo trình, sách giáo khoa mà bài soạn phải xác định được từng hoạt động, thao tác mà người dạy cũng như học cần thực hiện để khám phá, lĩnh hội khái niệm. Bài soạn với những nội dung khoa học về chuyên môn đã được xử lý về mặt sư phạm để dựa theo đó, giáo viên tiến hành tổ chức quá trình dạy học.

    4) Kỹ năng viết, vẽ trên bảng. Đây là kỹ năng mà giáo sinh dành nhiều thời gian luyện tập để giáo án bảng được trình bày một cách khoa học và thể hiện rõ nội dung cơ bản của bài dạy. Những hạn chế của giáo sinh sư phạm kỹ thuật là viết chữ xấu trong đó có việc viết bảng rất khó đọc nhất là với các công thức, ký hiệu. Trong quá trình thực tập sư phạm, kỹ năng này được luyện tập và tiến triển có tốt hơn.

    5) Kỹ năng thể hiện thao tác đi – đứng, ra vào lớp, đi lại trong lớp học. Giáo viên có kỹ năng thể hiện thao tác đi – đứng ra vào lớp, đi lại trong lớp học cho phù hợp, tránh những động tác thừa trong giờ dạy. Trong dạy học thực hành, giáo sinh có điều kiện vận dụng những hiểu biết để biết tổ chức dạy một bài thực hành cơ bản cũng như nâng cao, đảm bảo an toàn cho học sinh khi thao tác trên các thiết bị.

    6) Kỹ năng chuẩn bị, sử dụng được các phương tiện, thiết bị dạy học. Kỹ năng sử dụng được các phương tiện dạy học phổ biến như dùng các mô hình, bản vẽ, phim và máy chiếu Overhead, máy chiếu đa năng, máy tính và các thiết bị kết nối máy tính. Giáo sinh phải biết cách rèn luyện những cách thức khác nhau để sử dụng được phương tiện dạy học hiện đại sao cho trở nên thiết thực, đảm bảo tính sáng tạo. Đối với các bài dạy thực hành, giáo sinh có cơ hội thử nghiệm kỹ năng nghề với vị thế là người dạy nghề cho người khác. Qua theo dõi thực tập sư phạm, chúng tôi nhận thấy một số giáo sinh lúc ban đầu dạy thực hành nghề rất lúng túng trong thao tác mẫu cũng như quan sát, uốn nắn học sinh thao tác nhưng cùng với thời gian luyện tập, kỹ năng của họ đã vững vàng hơn.

    7) Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết. Dù phương tiện thiết bị dạy học có hiện đại và hợp lý đến đâu thì giáo viên vẫn phải sử dụng ngôn ngữ trong việc tổ chức, thiết kế và thi công bài học. Trong thực tập sư phạm, giáo sinh rèn luyện để biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ và tình cảm của mình bằng ngôn ngữ chính xác, trong sáng, giàu hình ảnh và dễ hiểu, biết trình bày một nội dung sâu sắc bằng những hình thức giản dị, rõ ràng.

    8) Kỹ năng dự giờ, rút kinh nghiệm. Biết nhận xét đánh giá bài dạy để tự hoàn thiện bản thân đồng thời trao đổi, học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp. Qua dự giờ, giáo sinh cũng rèn luyện khả năng quan sát học sinh, theo dõi mọi diễn biến trong nhận thức và tình cảm.

    9) Việc phối hợp kỹ năng dạy học để thể hiện trọn vẹn nội dung bài dạy. Để rèn luyện kỹ năng thể hiện trọn vẹn các bài dạy được giao, giáo sinh phải biết phối hợp được các kỹ năng viết, nói, điệu bộ, khả năng bao quát học sinh khi giảng bài, làm chủ được mọi tình huống phát sinh trong quá trình lên lớp, vận dụng được các phương pháp dạy học. Giáo sinh tổ chức được từng bước lên lớp, tiến tới thành thục và chủ động trong quá trình thực hiện các bước lên lớp.

    10) Kỹ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả bài học. Qua soạn các bài kiểm tra, tổ chức và đánh giá kết quả kiểm tra mà giáo sinh sẽ rèn luyện được kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Cũng thông qua công việc này, giáo sinh biết nhìn nhận lại chính bản thân mình để có cố gắng nhiều hơn.

    • Kỹ năng hiểu học sinh trong quá trình giáo dục như hiểu được đặc điểm nhận thức, tình cảm cũng như các đặc điểm tâm lý khác của học sinh.
    • Kỹ năng xây dựng kế hoạch cho các hoạt động sư phạm. Biết tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục, đưa ra kế hoạch để đảm bảo sự thống nhất của các tác động tới học sinh.
    • Kỹ năng hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục. Kỹ năng hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục để tổ chức và biến tập thể học sinh vững mạnh, xây dựng tập thể học sinh thành môi trường và phương tiện quan trọng để giáo dục học sinh.
    • Các kỹ năng làm công tác chủ nhiệm. Biết cách phối hợp hoạt động với giáo viên bộ môn để tiến hành các hoạt động giảng dạy. Biết cách theo dõi thường xuyên quá trình học tập của tập thể và của từng cá nhân để uốn nắn các sai lệch của các em trong quá trình học tập. Bằng thực tiễn công tác chủ nhiệm cũng như tổ chức các hoạt động, giáo sinh sẽ chọn được cách vận dụng lý luận giáo dục như nội dung, các hình thức, phương pháp và nguyên tắc giáo dục để không những hoàn thành công việc được giao mà còn củng cố, bổ sung những tri thức đã lĩnh hội ở giảng đường trường sư phạm.
    • Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện. Kỹ năng tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng cho tập thể học sinh bằng các cuộc thi đua học tập và tu dưỡng, bằng các buổi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham quan du lịch để đưa học sinh vào guồng máy tích cực.

    Trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ thực tập sư phạm, chúng ta sẽ làm phát triển được năng lực quản lý quá trình đào tạo nghề nghiệp cho giáo sinh như biết lấy thông tin, kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo – chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá.

    • Năng lực lập kế hoạch. Biết lập các kế hoạch cho hoạt động dạy học cũng như giáo dục. Biết xây dựng được lịch trình dạy học cũng như các loại kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp và kế hoạch chủ nhiệm lớp.
    • Năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục – đào tạo như biết phân phối và tổ chức các nguồn lực tiền, của, con người để thực hiện các hoạt động sư phạm.
    • Năng lực chỉ đạo, điều hành. Giáo sinh tập làm quen với việc điều hành công việc trong nhóm thực tập, trong hoạt động của tập thể học sinh.
    • Năng lực kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Và Bản Chất Quyền Lực (Power) Trong Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Về Nguồn Lực Và Quản Lý Nguồn Nhân Lực Của Dự Án (P2)
  • Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Mộ Và Tuyển Chọn Nhân Lực Của Tổ Chức Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Phần 3: Cơ Lý Thuyết Momen
  • Ngẫu Lực Là Gì? Công Thức Tính Momen Của Ngẫu Lực Và Bài Tập Vận Dụng
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Của Giáo Viên Mầm Non, 9Đ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Và Ứng Xử Của Giáo Viên Mầm Non
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Giao Tiếp Trong Hoạt Động Quản Trị, Kinh Doanh
  • Giao Tiếp Xã Hội 55Giaotieptrongtamlyhocquanlykinhdoanh Doc
  • Văn Hóa Giao Tiếp Qua Email
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành giáo dục học với đề tài: Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Thị xã Dĩ An, cho các bạn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thị Nguyên Hảo THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ Ở THỊ XÃ DĨ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Thị Nguyên Hảo THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ Ở THỊ XÃ DĨ AN Chuyên ngành : Giáo dục học (Mầm non) Mã số : 60 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ XUÂN HỒNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
    3. 3. 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên này là do chính tôi thực hiện. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự khiếu nại, tố cáo bản quyển tác giả. Học viên Bùi Thị Nguyên Hảo
    4. 4. 2 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khoá Cao học Giáo dục học (mầm non) khoá 2011 – 2013, ngoài những nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên, hỗ trợ của rất nhiều người. Tôi xin chân thành cảm ơn đến: Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm chúng tôi Phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục Mầm non của trường và toàn thể giảng viên giảng dạy khoá Cao học mầm non K1. Trường và Khoa đã tổ chức khoá học để chúng tôi có điều kiện nâng cao và hoàn thiện tri thức của mình. Quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và hướng dẫn chúng tôi trong suốt khoá học. Xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc TS. Lê Xuân Hồng, cô là người hướng dẫn khoa học cho đề tài của tôi. Xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng tri ân về tất cả sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài. Ban giám hiệu trường Đại học Thủ Dầu Một, Khoa khoa học giáo dục của trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học. Phòng giáo dục Thị xã Dĩ An cùng Ban Giám hiệu và giáo viên các trường: MN Hoa Hồng 1, MN Hoa Hồng 2, MG Hoa Hồng 3, MN Hoa Hồng 4, MG Hoa Hồng 5, MN Hoa Hồng 6, MG Anh Đào, MN Võ Thị Sáu đã nhiệt tình cộng tác trong quá trình nghiên cứu đề tài. Cùng tất cả các bạn bè đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình học và thực hiện đề tài của tôi. Bình Dương, tháng 9 năm 2013 Học viên Bùi Thị Nguyên Hảo
    5. 5. 3 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN………………………………………………………………………………………..1 LỜI CẢM ƠN……………………………………………………………………………………………..2 MỤC LỤC…………………………………………………………………………………………………..3 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ……………………………………………………………5 MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………….6 1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………………………..6 2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………………….8 3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………………………………………….8 4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu………………………………………………………………..8 5. Giả thuyết khoa học………………………………………………………………………………………8 6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………………….9 7. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………………………………9 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM…………………………………………………………………………………………………11 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề…………………………………………………………………………11 1.1.1. Ở nước ngoài……………………………………………………………………………………….11 1.1.2. Ở Việt Nam …………………………………………………………………………………………12 1.2. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm………………………………………………………………………………………………………………16 1.2.1. Kỹ năng ………………………………………………………………………………………………16 1.2.2. Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp ……………………………………………………………….20 1.2.3. Kỹ năng giao tiếp sư phạm…………………………………………………………………….24 1.2.4. Giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non …………………………………….30 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỚI TRẺ Ở THỊ XÃ DĨ AN………………………………………….46 2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu……………………………………………….46 2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu………………………………………………………………..46 2.1.2. Khách thể nghiên cứu……………………………………………………………………………47 2.2. Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Thị xã Dĩ An………………………………………………………..48
    6. 6. 4 2.2.1. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………………….48 2.2.2. Khách thể nghiên cứu……………………………………………………………………………48 2.2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………………………………………48 2.2.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………….48 2.3. Kết quả thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở Thị xã Dĩ An. ……………………………………………………………………………………………….54 2.3.1. Nhận thức của giáo viên mầm non về sự cần thiết của kỹ năng giao tiếp sư phạm……………………………………………………………………………………………………………54 2.3.2. Đánh giá về kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ trong hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ …………………………………………………………………59 2.3.3. Những khó khăn giáo viên mầm non gặp phải trong quá trình giao tiếp sư phạm với trẻ …………………………………………………………………………………………………84 2.3.4. Nguyên nhân của thực trạng KNGTSP của GVMN với trẻ ở Thị xã Dĩ An…90 2.4. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho giáo viên mầm non ở Thị xã Dĩ An………………………………………………………………………….97 2.4.1. Cơ sở của việc đề xuất biện pháp……………………………………………………………97 2.4.2. Đề xuất một số biện pháp tác động…………………………………………………………98 2.4.3. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp nâng cao KNGTSP cho GVMN……………………………………………………………………………………………………….103 KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM …………………………………..109 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………..113 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………………..116
    7. 7. 5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CBQL : Cán bộ quản lý ĐTB : Điểm trung bình GDMN : Giáo dục mầm non GT : Giao tiếp GTSP : Giao tiếp sư phạm GV : Giáo viên GVMN : Giáo viên mầm non KN : Kỹ năng KNĐH : Kỹ năng định hướng KNĐK : Kỹ năng điều khiển KNĐV : Kỹ năng định vị KNGT : Kỹ năng giao tiếp KNGTSP : Kỹ năng giao tiếp sư phạm TLH : Tâm lý học
    8. 8. 6 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giao tiếp là một hiện tượng rất đặc trưng của xã hội loài người, là điều kiện tất yếu, không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Con người không thể sống, lao động, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình mà không có giao tiếp với người khác. Từ khi mới sinh ra ta đã bước vào các mối quan hệ đa dạng với thế giới xung quanh, nhờ vào giao tiếp mà con người tiếp thu được các chuẩn mực xã hội, nhận thức được người khác và bản thân. Mặt khác, mối quan hệ trong giao tiếp cũng làm đời sống con người thêm phong phú hơn. Giao tiếp là điều kiện thiết yếu của sự tồn tại đối với con người và là một trong các nguồn gốc quan trọng của sự phát triển tâm lý con người. Karl Marx đã khẳng định: “Bản chất con người không phải cái gì trừu tượng, tồn tại riêng biệt; trong tính riêng biệt của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hộii”. Đến thế kỷ XIX, giao tiếp được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành, phát triển bản chất xã hội của con người. Nhà triết học Đức Phơ Bách (1804-1872) đã viết: “Bản chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người với con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn”.
    9. 14. 12 Giữa thế kỷ XIX, nhà tư tưởng, nhà kinh tế chính trị, nhà lãnh đạo cách mạng của Hiệp hội Người lao động Quốc tế Các Mác (1818-1883). Trong “Bản thảo kinh tế – triết học 1984”, Mác viết: “Bất cứ quan hệ nào của con người đối với bản thân mình đều chỉ được thực hiện, biểu hiện trong quan hệ của con người, đối với những người khác”. … Các công trình nghiên cứu trên phần lớn nghiên cứu những vấn đề chung về GT như bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu GT, mối quan hệ giữa nghiên cứu và hoạt động… Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu giao tiếp với nhân cách như: “Nhân cách trong cấu trúc giao tiếp sư phạm” (1980) của Pơlotnhicova, “Những trở ngại tâm lý trong giao tiếp giữa các nhân cách (1985) của Sakanova… 1.1.2. Ở Việt Nam 1.1.2.1 Những nghiên cứu về giao tiếp Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu giao tiếp chỉ được nghiên cứu từ những năm 1970 đến những năm 1980. Ngoài một vài bài lý luận như: “Các Mác và phạm trù giao tiếp” của Đỗ Long (1963), phần lớn tập trung ở khoa tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm
    10. 16. 14 tối ưu trong hoạt động dạy và hoạt động học. Qua đó, cho thấy GTSP có vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm. Đây là vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu vấn đề GT và KNGTSP của GVMN.
    11. 17. 15 – Các luận văn thạc sĩ nghiên cứu KNGTSP của sinh viên như: luận văn thạc sĩ TLH “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo sinh người dân tộc trong trường trung học sư phạm” (1995) của Lã Thị Thu Hà, “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm” (1996) của Trịnh Thị Ngọc Thìn, “Tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Hà Nội có nhu cầu giao tiếp khác nhau” (1997) của Lê Minh Nguyệt, “Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn” (1999) của Lô Thị Na, “Nghiên cứu khả năng giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sơn La” (2001) của Lò Mai Thoan, “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Phúc có nhu cầu giao tiếp ở mức độ khác nhau” (2001) của Phạm Văn Đại, “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ” (2010) của Châu Thúy Kiều, đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về GT, GTSP, KNGTSP và nghiên cứu thực trạng KNGT, KNGTSP của sinh viên Cao đẳng sư phạm, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm rèn luyện và nâng cao KNGTSP cho sinh viên Cao đẳng sư phạm. Theo quan điểm thứ hai: xem xét kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn biểu hiện về năng lực của con người. Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như: Nhà tâm lý học người Nga A.V.Barabasicoov (1963) cho rằng: “KN là khả năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thực tiễn. Khả năng này là khả năng tự tạo của con người:. Bên cạnh đó, một số nhà khoa học Việt Nam cũng đưa ra khái niệm theo quan điểm thứ hai: Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng: “KN là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng. Ở mức độ KN, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng. KN được hình thành qua luyện tập”. Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép”. Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, KN vừa là mặt kỹ thuật của hành động, vừa là biểu hiện năng lực của con người. Cơ sở của KN là tri thức, kinh nghiệm đã có từ trước. KN được hình thành do luyện tập.
    12. 21. 19 Vì vây, trên cơ sở xem xét các quan niệm về kỹ năng như đã trình bày ở trên, đề tài thống nhất sử dụng khái niệm của tác giả Huỳnh văn sơn cho rằng: “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” 1.2.1.2. Các mức độ và quá trình hình thành kỹ năng Khi tìm hiểu về giai đoạn hình thành và phát triển KN, ta thấy mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia khác nhau. Nhưng đa phần các tác giả đều phân chia KN thành năm mức độ từ KN ban đầu đến KN đạt ở mức hoàn hảo. Theo quan điểm của V.P.Bexpalko, có năm mức độ như sau: Bên cạnh đó, một số nhà tâm lý học như: Cruchetxki, Levitov, Petropxki, Phạm Minh Hạc…cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 bước: Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động. Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu. Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra. – Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp”. – Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là sự xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. Ngoài các tác giả trên, còn rất nhiều khái niệm về giao tiếp của các tác giả như: Nguyễn Thạc, Trần Tuấn Lộ, Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Hiệp, Vũ Dũng, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Khắc Viện. Nhìn chung, các nhà tâm lý học trong và ngoài nước đều có điểm chung là đều công nhận giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, trong đó có sự trao đổi tư tưởng, tình cảm, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Qua xem xét các khái niệm về giao tiếp, theo quan điểm của người nghiên cứu, chúng tôi chọn, sử dụng khái niệm của tác giả Huỳnh Văn Sơn: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa người và người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định và nhằm mục đích nào đó”. Chúng tôi chọn khái niệm này vì: – Khái niệm này nêu đặc trưng và bản chất của giao tiếp – Nêu lên được tác động hai chiều của quan hệ chủ thể và đối tượng trong giao tiếp.
    13. 25. 23 – Nêu rõ được chức năng của giao tiếp 1.2.2.2. Kỹ năng giao tiếp Để giao tiếp tốt và đạt hiệu quả thì đòi hỏi ta phải có KNGT tốt, nói đến KNGT thì cũng đã có nhiều quan niệm khác nhau về KNGT như: Theo nhóm tác giả Michelson, Sugai, Wood và Kazdin (1983), họ tiếp cận theo khía cạnh KN xã hội, nhóm tác giả cho rằng: ta có thể hiểu KNGT là KN được hình thành thông qua giáo dục, rèn luyện bao gồm các hành vi ứng xử thích hợp bằng lời và không lời trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao trong giao tiếp với người khác. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “KNGT là khả năng vận dụng hiệu quả các tri thức và kinh nghiệm về giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ vào trong những hoàn cảnh khác nhau của quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích GT”. – Tác giả Hồ Lam Hồng cho rằng: “GTSP là GT có tính nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục, có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầu không khí thuận lợi cùng các quá trình
    14. 27. 25 tâm lý khác (chú ý, tư duy…) tạo ra kết quả tối đa của quan hệ thầy trò trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy học”. Ngoài các tác giả trên còn có nhiều tác giả khác cũng đã đưa ra những quan niệm khác nhau về GTSP như: tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghi… Qua việc tìm hiểu các quan niệm về GTSP, chúng tôi nhận thấy GTSP là GT mang tính nghề nghiệp giữa người dạy và người học, trong đó người dạy là chủ thể GT với tư cách là người tổ chức các quá trình giao tiếp, người đặt mục đích và xác định nội dung GT; còn người học là đối tượng giao tiếp. Từ các quan niệm trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn khái niệm GTSP của tác giả Lê Xuân Hồng: “GTSP diễn ra như điều kiện của hoạt động sư phạm. Đó là sự tiếp xúc, trao đổi giữa người dạy và người học, bằng các phương tiện GT ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục có hiệu quả”. 1.2.3.2. Kỹ năng giao tiếp sư phạm. 1.2.3.2.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm Theo tác giả Ngô Công Hoàn: “KNGTSP là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) phối hợp hài hòa, hợp lý của GV, nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với học sinh đạt kết quả cao trong dạy học và giáo dục, với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất trong những điều kiện thay đổi”. Qua các khái niệm về KNGTSP, chúng tôi thống nhất với quan điểm của tác giả Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh cho rằng: “KNGTSP là nhận thức nhanh chóng những biểu
    15. 28. 26 hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp, biết cách tổ chức, điều khiển điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giáo dục”. 1.2.3.2.2. Các nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm – A.A.Bôđalov, N.V.Cuđơmia, A.N.Leonchiev… cho rằng giao tiếp có ba giai đoạn: giai đoạn điều khiển, điều chỉnh và phát triển quá trình giao tiếp, giai đoạn phân tích hệ thống giao tiếp đã được thực hiện và giai đoạn xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo. Dựa vào căn cứ này người ta chia KNGT thành ba nhóm KN chính là: Có nhiều cách phân chia các nhóm KNGTSP, trong đề tài này chúng tôi thống nhất sử dụng cách phân loại của tác giả Hoàng Anh, đã chia KNGTSP thành ba nhóm KN: KN định hướng, KN định vị và KN điều khiển quá trình giao tiếp. 1.2.4.2. Đặc điểm hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non * Đặc điểm lao động của nghề GVMN Theo TS. Lê Văn Hồng, TS. Trần Thị Quốc Minh, đặc trưng lao động sư phạm nói chung, nghề GVMN nói riêng là: – Có quan hệ trực tiếp tới con người: cần năng lực giao tiếp, hợp tác. – Làm gương, dùng chính nhân cách của mình để tác động lên trẻ. – Chủ yếu lao động bằng sức mạnh tinh thần; tạo ra sức mạnh tinh thần cho xã hội. – Là lao động trí óc chuyên nghiệp. Quá trình dạy học ở trường mầm non là quá trình có mục đích, có kế hoạch, là hoạt động tương tác giữa GV và trẻ. GVMN phải thực sự nắm được đặc điểm tâm sinh lý từng lứa tuổi cũng như cá nhân trẻ, để từ đó mới đưa ra những tác động sư phạm phù hợp nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục ở từng độ tuổi. Tác động sư phạm của GVMN phải luôn thay đổi, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn của trẻ. Khi lựa chọn nội dung, phương pháp để giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên không chỉ dựa trên mục tiêu, nội dung của chương trình mà luôn phải chú ý đến việc quan sát, tìm hiểu nhu cầu; khả năng của trẻ về nội dung mà ta muốn dạy như thế nào?… để từ đó lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động cho phù hợp với trẻ của lớp mình. Về Phương tiện giáo dục chủ yếu là đồ dùng, đồ chơi mà trong đó, phần lớn là GV phải tự làm để phù hợp với hoạt động mà GV thiết kế,… GVMN cần phải linh hoạt để biết tận dụng triệt để những điều kiện và phương tiện cần thiết, thích hợp để giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi, đặc biệt là trong giờ học. Tuy nhiên, việc giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non không thể thông qua tiết học như ở trường phổ thông. Giữa tiết học sinh và của trẻ mầm non có những điểm chung và điểm khác biệt. Điểm giống nhau là: đều hướng tới mục tiêu học tập, tiếp thu lĩnh hội kiến thức, KN, kỹ xảo nào đó được đặt ra một cách rõ ràng; những yêu cầu đối với việc tiếp thu, lĩnh hội được đặt ra từ bên ngoài (từ xã hội); đều có những yêu cầu mang tính bắt buộc theo chương trình. Điểm khác nhau là: đối với HS, học tập là nghĩa vụ và trách nhiệm, còn với trẻ mầm non chưa được xem như là nghĩa vụ, trách nhiệm của trẻ. Kết quả học tập của học tập của HS là chất lượng kiến thức được đánh giá bằng điểm
    16. 36. 34 số. Động cơ – cơ sở của hoạt động của trẻ mầm non là hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và không đánh giá ở kết quả mà chỉ là sự mong đợi. Trẻ mầm non “Học mà chơi, chơi mà học”, trẻ chỉ có thể tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng không gò ép thông qua các hoạt động vui chơi mà trẻ được tham gia, và đặc biệt hơn nữa đối với trẻ mẫu giáo thì hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này. Vì vậy, đòi hỏi GVMN phải thực sự có kiến thức và biết cách tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ, phải biết “chơi” cùng trẻ và phải có nghệ thuật tổ chức, hướng dẫn để trẻ “chơi mà học”. 1.2.4.3. Những phẩm chất nhân cách cơ bản, kỹ năng sư phạm – KNGTSP của giáo viên mầm non Nhân cách của người GVMN được thống nhất với mô hình nhân cách của người GV nói chung. Do vị trí và đặc thù lao động của GVMN làm việc với trẻ nhỏ, nên các yêu cầu cụ thể trong thành phần cấu trúc nhân cách của GVMN có những nét riêng biệt. Từ kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ: “Cải tiến chương trình đào tạo giáo viên mầm non theo hướng tích hợp” (2001) – TS. Lê Xuân Hồng – Trường CĐSP Mẫu giáo TW3 đã xác định kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non trình độ cao đẳng cụ thể như sau: – Biết lập kế hoạch giáo dục trẻ em, có năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm giáo dục trẻ em, có tay nghề trong quá trình nuôi dưỡng trẻ em theo các yêu cầu của chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở cả hai độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo một cách linh hoạt, phù hợp với mọi hoàn cảnh ở mọi loại hình trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo quốc lập, dân lập, nhóm trẻ gia đình. – Có năng lực tiếp cận với từng trẻ và cả tập thể trẻ. Ghi nhận được sự thay đổi, phát triển của trẻ dưới ảnh hưởng của các yếu tố giáo dục. – Có năng lực quan sát, phân tích, đánh giá hoạt động sư phạm của bản thân và đồng nghiệp, biết đánh giá kết quả việc thực hiện công tác giáo dục ở từng độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo của đồng nghiệp.
    17. 38. 36 – Biết sử dụng đồ dùng dạy học cần thiết, biết cách sữa chữa và làm các đồ chơi, đồ dùng dạy học đơn giản. – Có năng lực tuyên truyền về công tác nuôi dạy trẻ. – Có năng lực theo dõi và xử lý kịp thời các thông tin về ngành học. – Có khả năng rút kinh nghiệm, tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. GTSP của GVMN có sự khác biệt so với các cấp học khác đối tượng giao tiếp của GVMN là trẻ dưới 6 tuổi, độ tuổi mà đòi hỏi GV phải thật sự hiểu trẻ, yêu trẻ…Và ở độ tuổi này là giai đoạn bắt đầu đặt nần móng phát triển nhân cách. Phương thức học tập, giao tiếp đều rất riêng biệt. Do đó, GTSP của GVMN có một số đặc điểm riêng: – Nặng yếu tố xúc cảm, tình cảm: GVMN cần thể hiện sự yêu thương, quan tâm chăm sóc, trìu mến với trẻ như người mẹ chăm sóc con, đôi khi lại như những người bạn. Khi giao tiếp vời trẻ lúc nào cô cũng phải luôn chú ý đến cảm xúc của mình và trẻ, khi trò chuyện với trẻ cần nhẹ nhàng, vui vẻ và chậm rải để trẻ cảm thấy gần gũi. – Trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ cô không chỉ yêu thương trẻ mà còn phải biết nghiêm khắc với trẻ, khéo léo sử dụng việc “có cương có nhu” một cách hiệu quả, vì nếu chỉ cứ yêu thương, chiều chuộng thì khó lòng mà giáo dục, uốn nắn trẻ. Do vậy, có lúc cần lắm sự nhẹ nhàng nhưng đôi lúc cần nghiêm khắc và dứt khoác với trẻ. – Khi giao tiếp với trẻ đòi hỏi ở giáo viên sự kiên trì và nhẫn nại rất cao. Do khả năng ngôn ngữ và tư duy của trẻ còn hạn chế, đặc điểm tính cách của từng trẻ…nên GV biết điềm tĩnh và lắng nghe trẻ, trả lời câu hỏi của trẻ…, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của trẻ. 1.2.4.4.2. Các nguyên tắc và phương thức giao tiếp ứng xử của giáo viên mầm non * Nguyên tắc ứng xử giao tiếp của GVMN Nguyên tắc ứng xử được hiểu là những quan điểm nhân sinh định hướng chỉ đạo những hành vi tiếp xúc của cô giáo đối với trẻ. Trong giao tiếp ứng xử giữa cô và trẻ được đề cao như sau:[13] Yêu thương trẻ như con em của mình: Tại sao các cấp học xưng hô cô – em, thầy – em, chỉ riêng ở mầm non thì ta nghe cô – con, cách xưng hô này gợi cho cô những hành
    18. 40. 38 vi ứng xử ruột thịt, âm thanh “con” đối với trẻ thực sự là xây dựng hành vi ngôn ngữ và hành vi nói chung đúng với vị trí của trẻ mà xã hội đang cần ở đúng độ tuổi này, không chỉ thế cách xưng hô này còn tạo cho trẻ một cảm giác gần gũi với cô như chính mẹ mình. Thời gian trẻ ở trường, trẻ bên cạnh cô giáo chiếm 70 – 80% thời gian trẻ thức, nhiều hơn cả thời gian tiếp xúc với ba mẹ. Do vậy, mọi thông tin, hiểu biết, nhu cầu vật chất và tinh thần của trẻ…. được đáp ứng từ cô, mọi sự tiếp xúc của cô đều nhằm thỏa mãn hợp lý các nhu cầu của trẻ. Yêu thương trẻ như con em mình, đòi hỏi ở cô sự tận tụy và khéo léo dịu dàng, đòi hỏi cô chăm sóc từng cháu, tình yêu thương cho từng trẻ. Nguyên tắc này đòi hỏi ở cô một sự nhảy cảm, tinh tế trong chăm sóc, dỗ dành từng trẻ, ngoài ra trong chăm sóc giáo dục trẻ cô còn phải tạo bầu không khí ấm cúng như trong gia đình, mà không phải là lớp học cứng nhắc. Tóm lại, trong ý tưởng, đầu óc của cô giáo mầm non luôn luôn thường trực ý nghĩ, thái độ thành tâm như người mẹ hiền đích thực với trẻ, từ ánh mắt, nụ cười, hành vi ứng xử phù hợp với khuôn mẫu ứng xử của người mẹ đối với các con của chính mình; không phải là nhập vai hoặc diễn kịch, mà thực sự đồng cảm với trẻ. Giao tiếp ứng xử với trẻ bằng sự thành tâm thiện ý của cô giáo: Dù phương thức ứng xử của cô là mẹ, nhưng lại không phải là mẹ sinh ra trẻ. Nói chung vị trí xã hội của cô là “mẹ dưỡng” nhưng bù vào đấy cô lại có nhiều đức tính, phẩm chất nghề nghiệp của cô giáo. Do đó, lúc cần thiết cô cũng nghiêm khắc, răn đe trẻ phạm lỗi mà hành vi này của cô là hành vi theo khoa học, không phải tùy tiện. Lấy thành tâm, thiện ý làm gốc cho hành vi giao tiếp ứng xử với trẻ, từ đó mới đưa ra được những biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ một cách hiệu quả nhất. “Thiện ý” nằm trong hành vi ứng xử của cô. Trẻ rất nhạy cảm với cái “ý” hàm chứa trong hành vi ứng xử của cô. Có thể, cô nói nhỏ nhẹ mà trẻ sợ vì đi kèm với lời nhỏ nhẹ đó ánh mắt, cử chỉ… ngược lại vì trong đó ẩn ý răn đe; có khi sẵn giọng nhưng lại có sự thương cảm…Trong GT với trẻ, sự thành tâm thiện ý còn có nghĩa là “khen nhiều chê ít”. Trẻ ưa nói ngọt, dịu dàng…vì khi cô sẵng giọng, cáu ngắt, mắng mỏ…trẻ, chỉ làm cho cảm giác an toàn của trẻ bị đe dọa. Ngay trong khi chê cũng là thiện ý và trẻ nhận ra được cô sẵn giọng là mong cháu tốt hơn, ngoan hơn. Sự thành
    19. 41. 39 tâm thiện ý thể hiện ở việc cô luôn dành mọi suy nghĩ, hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ, đảm bảo cho trẻ phát triển tối đa những tiềm năng vốn có ở mức tốt, theo khoa học, theo mục tiêu đào tạo của ngành. Vì vậy cô luôn vì trẻ, lấy trẻ là đối tượng duy nhất mà mọi hành vi, điệu bộ, cử chỉ của cô tập trung vào trẻ. Cô phải dành toàn tâm, toàn ý tốt đẹp cho cháu để đạt mục đích kích thích sự phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ cho trẻ. Hãy thỏa mãn hợp lý nhu cầu cơ bản cho trẻ: việc thỏa mãn nhu cầu hợp lý cho trẻ là một trong những yêu cầu thiết yếu, là điều kiện tiên quyết để đảm bảo mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ. Những nhu cầu cơ bản của trẻ là: Nhu cầu dinh dưỡng, nhận thức giao tiếp, an toàn, cảm xúc, vận động (vui chơi). Việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản của trẻ có ít nhất 3 mức độ: + Mức 1: thỏa mãn tối đa nhu cầu của trẻ, nghĩa là trẻ cần gì người lớn đáp ứng đầy đủ, bất kỳ đối tượng nào, phương tiện gì, thời gian nào. + Mức 2: thỏa mãn hợp lý (có mức độ) vừa đủ cho trẻ phát triển tối đa những tiềm năng vốn có ở trẻ. + Mức 3: không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của trẻ như ăn đói, ăn không đủ chất dinh dưỡng, không có sân chơi, trẻ sống trong cảnh xung đột của cha mẹ hoặc thiếu vắng cha mẹ… Ở mỗi trẻ có nhu cầu và phân phối không đồng đều, vì vậy mà GVMN phải luôn hiểu trẻ để thỏa mãn nhu cầu của trẻ ở mức độ hợp lý. Có nghĩa là thỏa mãn nhu cầu cho trẻ một cách khoa học, hợp lý về đối tượng, phương thức và thời gian. Nếu giới hạn sự thỏa mãn, trẻ dễ sinh ra mất cân bằng về sinh lý và tâm lý sẽ không ổn định về nét tính cách sau này, dễ phát sinh bệnh tật. Nếu nuông chiều trẻ quá mức sẽ tạo nên những nét tính cách và hành vi không ổn định, mất cân bằng trong ứng xử với mọi người. Việc thỏa mãn một cách hợp lý những nhu cầu cơ bản cho trẻ chỉ có thể thực hiện tốt nhất ở trường mầm non. Vì ở trường mầm non các GV có tri thức tổng hợp về chăm sóc giáo dục trẻ, ở đây có điều kiện kiểm tra, tạo điều kiện đảm bảo nuôi dạy trẻ một cách khoa học.
    20. 42. 40 Giao tiếp ứng xử với trẻ bằng những hành vi cử chỉ dịu hiền, nhẹ nhàng, cởi mở, vui tươi: như ở nguyên tắc đầu tiên “yêu thương trẻ như con, em của mình”, cùng với việc xuất phát từ quan điểm giáo dục bằng tình cảm thân thương của cô, nguyên tắc này nhấn mạnh nghệ thuật GT ứng xử của cô đối với trẻ, đòi hỏi GV phải luôn biết lắng nghe trẻ nói và biết nói cho trẻ nghe. Đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi mầm non thì xúc cảm phát triển rất mạnh, mọi phản ứng, hành vi của trẻ do xúc cảm ngự trị, “trẻ vừa khóc vừa cười”; thần kinh dễ hưng phấn, vốn kinh nghiệm của trẻ còn hạn chế, còn quá ít ỏi chưa đủ để hiểu những lời dạy phức tạp của cô, cô giải thích nhưng trẻ chưa đủ nhận thức để hiểu, để nhớ và vận dụng vào hành vi. Do đó, người GVMN phải luôn tạo cho trẻ một cảm giác an toàn, bình yên, dễ chịu khi được sống bên cô giáo. Nguyên tắc này luôn nhắc nhở cô lấy cảm xúc chân thực, nhưng thiên về tình thương, sự nhẹ nhàng và vui tươi, cởi mở, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ, gieo vào lòng trẻ những sắc thái cảm xúc tích cực của con người. Nguyên tắc dạy dỗ: Cô giáo mầm non vừa che chở, bảo vệ, vừa nuôi dưỡng, dạy trẻ nên người có ích cho xã hội. Nguyên tắc này cần phải đặc biệt quan tâm trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ…Trong ý thức, hành vi GT ứng xử của cô luôn thường trực việc dạy trẻ những hành vi ứng xử đúng đắn với tự nhiên , xã hội, với con người và với chính đứa trẻ. Cô giáo có thể dạy cho trẻ ứng xử bằng nhiều cách: dạy theo mẫu của cô, theo mẫu của bạn cùng lớp, theo mẫu hành vi của các nhân vật trong chuyện kể, hoạt hình…Những mẫu hành vi này sẽ dần hình thành ở trẻ thói quen ứng xử có văn hóa trong tất cả các tình huống: khi ăn uống, lúc vui chơi, trong ứng xử với cha mẹ, ông bà, cô giáo, …Đây là những định hướng giá trị phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Bên cạnh đó, việc dạy trẻ mầm non không thể tách rời với “dỗ dành” trẻ, vừa “dạy” vừa “dỗ”. Đặc biệt trẻ 3 tuổi, thời kỳ khủng hoảng tuổi lên tuổi lên 3, giai đoạn mà sự tự ý thức bắt đầu hình thành, nếu chỉ “dạy” mà không “dỗ” và ngược lại thì khó mà có thể giúp trẻ vượt qua thời kỳ này. Dỗ trẻ có nhiều nội dung: Trẻ khóc dỗ cho trẻ nín, nghĩa là trẻ không thỏa mãn nhu cầu nào đó thì cô dỗ trẻ, có thể thay thế đối tượng thỏa mãn nhu cầu để trẻ không khóc nữa. Trẻ có cá tính, không nghe lời cô hoặc vì sợ hãi, bướng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Giáo Viên Mầm Non Với Trẻ, Hot
  • Skkn Thực Trạng Hình Thành Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ 5 6 Tuổi Thông Qua Hoạt Động Vui Chơi Ở Trường Mầm Non Đồng Sơn, Thành Phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Của Trẻ Mầm Non
  • Tại Sao Phải Chú Trọng Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non?
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Của Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non
  • Skkn Thực Trạng Hình Thành Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ 5 6 Tuổi Thông Qua Hoạt Động Vui Chơi Ở Trường Mầm Non Đồng Sơn, Thành Phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Giáo Viên Mầm Non Với Trẻ, Hot
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Của Giáo Viên Mầm Non, 9Đ
  • Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Và Ứng Xử Của Giáo Viên Mầm Non
  • Khả năng giao tiếp là khả năng thực hiện việc chuyển tải thông tin từ người này sang người khác với các công cụ như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và ngôn ngữ cơ thể. Với trẻ mầm non, khả năng giao tiếp bao gồm việc thể hiện bản thân và tiếp nhận thông điệp từ người khác. Giao tiếp không đơn thuần là trao đổi thông tin mà có ý nghĩa trong việc kích thích não bộ, phát triển trí tuệ cho trẻ, khiến trẻ dễ dàng hòa nhập xã hội hơn.

    Sự phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ thể hiện ở mỗi giai đoạn là khác nhau.

    Giai đoạn 3-4 tuổi: đây là giai đoạn hình thành hành vi bắt chước trong giao tiếp của trẻ. Bé sẽ quan sát và muốn làm theo các hành động của cha mẹ, thầy cô giáo và bạn bè. Vậy nên hãy cho trẻ thấy những cư xử tích cực.

    Giai đoạn 4-5 tuổi: Bé biết tương tác với những người xung quanh bằng cách thể hiện mong muốn và suy nghĩ của bản thân. Trong giai đoạn này cần tạo nhiều cơ hội cho trẻ giao tiếp.

    Giai đoạn 5-6 tuổi: bé biết sử dụng các câu phức tạp, nhạy cảm với ngôn từ và ghi nhớ nhiều hơn các câu có cú pháp rõ ràng. Đây là lúc uốn nắn các câu và ngữ pháp cho trẻ.

    Công cụ chính của giao tiếp là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ hình thể. Ngôn ngữ nói được củng cố thông qua việc trò chuyện, kể chuyện, đọc sách, hoạt động giao tiếp bằng lời nói,… Ngôn ngữ hình thể được phát triển khi bé cảm nhận được về bản thân, điều khiển được hành vi của bản thân. Bé có ngôn ngữ hình thể tốt khi bé hiểu được sợi dây liên kết giữa ngôn ngữ và biểu đạt của chân tay, mắt mũi, cơ thể,…

    Ở tuổi mầm non phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ quan trọng. Tuy vậy, không nên xem nhiệm vụ trọng tâm của phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ chỉ ở phát triển ngôn ngữ. Mô hình Reggio Emilia ở Ý, được xem là một trong những mô hình giáo dục mầm non chất lượng nhất hiện nay, luôn nhấn mạnh rằng trẻ có hàng trăm ngôn ngữ khác nhau (viết, vẽ, múa, âm nhạc, ngôn ngữ cơ thể, đóng kịch…) để biểu cảm và thể hiện suy nghĩ của mình Nhiệm vụ khích lệ mong muốn giao tiếp, chia sẻ ý tưởng và tình cảm, phát triển khả năng nhận biết cảm xúc của người khác, hiểu biểu cảm và tự thể hiện mình của trẻ (self-expssion), khả năng thiết lập các mối quan hệ xã hội cũng chưa được quan tâm ở mức cao như nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang gặp sự mất cân đối trong hình thức tổ chức các hoạt động phát triển giao tiếp cho trẻ: các nội dung này (mà trọng tâm là phát triển ngôn ngữ nói và làm quen với chữ viết) vẫn được thực hiện chủ yếu thông qua các giờ học thay vì mọi lúc, mọi nơi.

    Ở nhiều nền giáo dục mầm non trên thế giới, dạy trẻ khả năng giao tiếp là sự kết hợp của ba lĩnh vực: phát triển ngôn ngữ, hình thành tiền đề cho hoạt động đọc, viết và phát triển các loại hình nghệ thuật (tạo hình, âm nhạc và múa…) ; khả năng giao tiếp cũng cần được hiểu là bao gồm cả khía cạnh động cơ (mong muốn) và khía cạnh kỹ năng (khả năng) kết nối với người lớn và bạn bè để trao đổi ý tưởng, suy nghĩ và tình cảm

    I.Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ mầm non

    1. Phát triển kỹ năng giao tiếp nơi trẻ mầm non

    Vì vậy, trong chương trình giáo dục MG, thì các trò chơi chung và những hoạt động như đóng kịch ( theo các câu chuyện kể ) và chơi các trò chơi sắm vai chính là để tập cho trẻ phát triển các kỹ năng giao tiếp xã hội.

    Trong phạm vi gia đình thì chúng ta nênthường xuyên dẫn trẻ đi chơi ngoài công viên, tạo điều kiện cho trẻ mời bạn bè về nhà cùng chơi với nhau dưới sự sắp xếp và gợi ý của bố mẹ là những biện pháp giúp trẻ phát triển các kỹ năng giao tiếp với bạn bè của các em.

    Để giúp trẻ phát triển kỹ năng chơi với các trẻ khác, chính chúng ta nên chơi với trẻ và tập cho các bé những cách chơi mang tính lần lượt, thay phiên nhau : Mẹ vẽ một vòng, bé vẽ một vòng – mẹ xếp một khối gỗ, bé xếp một khối khác lên… hay chơi những trò chơi buôn bán, mẹ là người mua hàng, bé là người bán hàng … Khi trẻ đã quen những trò chơi cùng nhau như thế, thì khi đến lớp sẽ dễ dàng tham gia các hoạt động cùng với các bạn hơn.

    2. Giúp trẻ những ứng xử thích hợp:

    Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt bát linh động nhưng cũng có những trẻ chậm chạp, thụ động hoặc quá nóng nảy, hiếu động… Vì thế, chúng ta cần phải biết rõ tính cách của con em mình để có thể cho các chơi với những người bạn thích hợp với cá tính hầu tránh xẩy ra những va chạm về tính cách.

    Nhưng trong các trường hợp nếu có xảy ra các va chạm thì chúng ta cũng không nên vì lòng thương con mà trở nên thiếu khách quan, có những ứng xử thiên lệch, bao che cho con mình, vì điều đó tuy giúp cho các em có những kết quả nhất thời nhưng sẽ để lại những hậu quả tai hại về sau trong sự phát triển nhân cách của trẻ. Khi hai trẻ cùng gây gổ, thì chúng ta nên tách các em ra và phê bình hành vi của các em như “ôi, giàng nhau đồ chơi là không tốt đâu, mẹ không thích chút nào” chứ không phê bình bản thân đứa trẻ : Con tệ quá, sao lại giành đồ chơi của bạn như thế ?” hay có phản ứng tệ hơn : ” Thôi, đừng thèm chơi với bạn đó nữa, về nhà mẹ cho đồ chơi đẹp hơn”.

    Người viết: Giáo viên – Nguyễn Thị Lâm Thương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Phải Chú Trọng Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non?
  • Tai Lieu Tong Hop Mon Ky Nang Giao Tiep
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Định Giao Tiếp, Ứng Xử Của Cán Bộ, Công Chức Trong Thực Thi Công Vụ
  • Những Sai Lầm Trong Giao Tiếp Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Sao Để Giao Tiếp Tốt Trong Công Sở
  • Đạo Đức Của Giáo Viên Mầm Non Trong Giao Tiếp, Ứng Xử Với Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm: Đạo Đức; Đạo Đức Nghề Nghiệp; Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Người Giáo Viên Mầm Non (Gvmn).
  • Lý Thuyết, Trắc Nghiệm Gdcd 10 Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Khái Niệm Đạo Đức Công Chức Đang Rối
  • Đạo Đức Là Gì? Các Bộ Phận Cấu Thành Nên Đạo Đức
  • Đạo Đức Học Và Giáo Dục Đạo Đức Cho Hoc Sinh Phổ Thông
  • b. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

    c. Đủ sức khỏe theo yêu cầu của nghề nghiệp;

    d. Lý lịch bản thân rõ ràng.

    a. Yêu nước, có niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

    – Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    – Chấp hành tốt luật pháp Nhà nước, chủ trương, chính sách của Đảng và những qui định của ngành, của trường mầm non.

    – Có định hướng tốt trong đổi mới nội dung, phương pháp chăm sóc, giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

    – Làm một công dân tốt có ý thức trách nhiệm đối với xã hội, tham gia phát triển văn hóa- xã hội của cộng đồng; mẫu mực trong hành vi giao tiếp ứng xử là tấm gương cho trẻ noi theo.

    b. Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ.

    – Không phân biệt đối xử với trẻ và chất nhận sự đa dạng của trẻ;

    – Tận tụy chăm sóc trẻ và kiên nhẫn trong giáo dục trẻ mầm non.

    – Xây dựng mối quan hệ thân mật, gần gũi, ân cần, chu đáo với trẻ ở các độ tuổi khác nhau ( tuổi nhà trẻ và tuổi mẫu giáo)

    – Coi trọng tính tích cực, chủ động, sáng tạo cá nhân của trẻ mầm non; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào hoạt động chung/nhóm;

    – Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và phổ biến thông tin về phương pháp giáo dục trẻ.

    c. Yêu nghề, tâm huyết, gắn bó và có trách nhiệm cao với nghề nghiệp.

    – Có tình cảm và yêu trẻ, có động cơ yêu nghề, say mê sáng tạo, nhanh chóng thích ứng với tình huống mới.

    – Có ý thích tự học, tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ chăm sóc – giáo dục trẻ trong độ tuổi.

    – Có quan hệ tin cậy dễ chịu với người khác, hợp tác thiện chí, trau dồi kinh nghiệm tự hoàn thiện bản thân.

    – Có suy nghĩ và quan điểm tích cực, hoàn thành tốt các công việc được giao nhằm đáp ứng với các yêu cầu mới mục tiêu chăm sóc – giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

    d. Có ý thức tổ chức, có đạo đức tốt, yêu thương đồng cảm với người khác, mềm dẻo, hiểu biết, sáng tạo, lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị phù hợp với văn hóa dân tộc.

    Dựa vào phẩm chất đạo đức trong mô hình nhân cách của người giáo viên mầm non, các quy định về đạo đức người giáo viên mầm non, trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ, giáo viên cần tuân thủ các yêu cầu sau:

    – Yêu nghề, tâm huyết với nghề, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với trẻ, đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của trẻ, đồng nghiệp và cộng đồng, được đồng nghiệp, người dân tín nhiệm và trẻ yêu quý.

    – Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ.

    + Không phân biệt đối xử với trẻ và chấp nhận sự đa dạng của trẻ.

    + Tận tụy chăm sóc trẻ và kiên nhẫn trong giáo dục mầm non.

    + Xây dựng mối quan hệ thân mật, gần gũi, ân cần, chu đáo với trẻ ở các độ tuổi khác nhau ( tuổi nhà trẻ và tuổi mẫu giáo)

    + Coi trọng tính tích cực, chủ động, sáng tạo cá nhân của trẻ mầm non; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động chung/nhóm.

    + Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và phổ biến thông tin về phương pháp giáo dục trẻ.

    – Tân tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội duy của đơn vị, nhà trường, của ngành, sẵn sàng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

    – Tham gia đóng góp xây dựng và thực hiện nội quy hoạt động của nhà trường.

    – Thực hiện các nhiệm vụ được phân công.

    – Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục.

    – Chấp hành kỉ luật lao động, chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở nhóm lớp được phân công.

    – Không có biểu hiện tiêu cực trong cuốc sống, trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

    – Không vi phạm các quy định về hành vi nhà giáo không được làm.

    Trong khi giao tiếp, ứng xử với trẻ, giáo viên nên lưu ý một số điểm sau:

    – Trong chăm sóc, giáo dục trẻ, cô giáo cần phải luôn yêu thương trẻ như con, khéo léo và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của trẻ là: được ăn, được vui chơi và học tập. giáo viên cần yêu thương từng trẻ, yêu thương trẻ như con em mình, điều đó đòi hỏi sự tận tụy và khéo léo dịu dàng, nhạy cảm và tinh tế trong chăm sóc và giáo dục trẻ. Muốn như vậy, trong quá trình giáo dục, giáo viên tạo bầu không khí ấm cúng như gia đình. Đồng thời giáo viên cần chú ý đáp ứng đúng lúc, kịp thời những nhu cầu cơ bản của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách thuận lợi.

    – Giáo viên cần dành mọi suy nghĩ , hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ, đảm bảo cho trẻ phát triển tối đa những tiềm năng vốn có theo khoa học, theo mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục mầm non.

    – Giao tiếp ứng xử với trẻ bằng nhưng cử chỉ hành vi dịu hiền, nhẹ nhàng, cởi mở, vui tươi, tạo cho trẻ một cảm giác an toàn, bình yên, dễ chịu khi được đến trường, nhờ có cảm giác an toàn, trẻ mới bộc lộ tính hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ. Điều này luôn nhắc nhở giáo viên lấy cảm xúc trân thực của mình khi tiếp xúc với trẻ, xúc cảm chân thực nhưng thiên về tình thương, nhẹ nhàng mà vui tươi, cởi mở, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ, gieo vào lòng trẻ những sắc thái cảm xúc tích cực của con người.

    – Trước mỗi tình huống, giáo viên cần bình tĩnh không nên vội vàng, nóng nảy, nếu giáo viên nóng nảy thiếu kiềm chế, sẽ có những hành vi không hợ lý với trẻ, trong khi đó, bất cứ hành vi nào của giáo viên đều được trẻ ghi dấu lại trong tâm trí trẻ. Giáo viên nên tìm hiểu kĩ những nguyên nhân dẫn đến nhưỡng biểu hiện hành vi bất thường của trẻ để có hướng giải quyết hợp lý nhất.

    – Giáo viên ứng xử công bằng với tất cả trẻ, không phân biệt so sánh trẻ này với trẻ khác dành tình yêu và sự quan tâm với tất cả các trẻ như nhau, giáo viên không được quá quan tâm nhiều đến một trẻ nào đó. Do đó, giáo viên cần phải vừa quan tâm đến cả lớp vừa phải quan tâm đến từng trẻ. Mỗi trẻ có những đặc điểm riêng về thể chất, về nhu cầu, về sở thích, hứng thú, khả năng…., giáo viên cần nắm bắt được các đặc điểm đó để có cách giáo tiếp ứng xử phù hợp đối với trẻ.

    – Tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở trong suốt quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng, giáo viên lúc nào cũng thể hiện khuôn mặt rạng rỡ, nhiệt tình, trìu mến, tạo cho trẻ cảm thấy mình đang được quan tâm.

    – Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm tốt điểm tích cực của trẻ, để nêu gương khích lệ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn khởi.

    – Cần tôn trọng trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ và sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của trẻ, không nên lờ đi trước ý kiến của trẻ.

    – Cần linh hoạt trong cách xử lý tình huống với trẻ, không nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là một các thể riêng biệt, một tính cách và sở thích khác nhau. Giáo viên cần hiểu trẻ và tạo nhiều cơ hội để trẻ được thể hiện trong các tình huống khác nhau.

    – Giáo viên chưa hiểu trẻ và nhu cầu của trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non, chưa thật sự chú ý, tập trung, lôi cuốn trẻ, khích lệ trẻ tham gia vào các hoạt động, chưa tạo được không khí thật sự vui tươi và kích thích những ham thích, hứng khởi cần có ở trẻ.

    – Giáo viên đôi khi không kiềm chế được cảm xúc nên ảnh hưởng đến trẻ. Nhiều giáo viên cho rằng giờ ăn là dễ khiến cô giáo nóng giận và khó chịu và thường cô giáo trách phạt trẻ bằng nhiều hình thức như đánh, nhốt trẻ vào nhà vệ sinh, ép trẻ ăn…Một số giáo viên do không kìm chế được cảm xúc của bản thân nên vẫn còn hiện tượng nóng giận, bực bội, la mắng, trách móc trẻ. Điều này sẽ ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của trẻ như: trẻ sẽ cảm thấy sợ hãi, không tự tin, sợ đến trường…

    – Trẻ trong lớp quá đông cũng tạo nhiều áp lực cho giáo viên, giáo viên sẽ thường xuyên bị căng thẳng, từ đó mà tâm trạng không tốt.

    – Do khối lượng công việc qáu hiều, áp lực của công việc khiến giáo viên cảm thấy mệt mỏi cũng ảnh hưởng nhiều đến giao tiếp với trẻ.

    – Giáo viên có quan niệm sai lầm khi cho rằng trẻ tuổi này rất bướng bỉnh, lì lợm và phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết sợ, biết chừa, thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe lời.

    Kỹ năng giao tiếp ứng xử của giáo viên mầm non với trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến các yếu tố nhận thức, yếu tố quan điểm giáo dục, yếu tố về tính chất công việc và yếu tố về mối quan hệ trong công việc. Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ. Cụ thêt:

    – Về quan điểm giáo dục trẻ: Nhiều giáo viên có quan niệm sai lầm trong giao tiếp ứng xử với trẻ như để giáo dục trẻ nhanh nhất, hiệu quả nhất thì đe dọa, trừng phạt, trách mắng là phương pháp giáo dục hiệu quả. Một số giáo viên quá nghiêm khắc với trẻ, nghĩ rằng cần phải làm cho trẻ biết sợ, biết vâng lới bằng những hình phạt nặng nề nhơ đánh, nhốt trẻ vào nhà vệ sinh… Đây là quan điểm hết sức sai lầm của giáo viên.

    – Về tính chất công việc và chế độ đãi ngộ của giáo viên: Giáo viên mầm non so với các bậc học khác phải làm việc vất vả, khối lượng công việc nhiều, lại phải chịu nhiều áp lực như chất lượng giảng dạy, thanh tra, kiểm tra. Tuy n hiên chế độ đãi ngộ với giáo viên của nhà trường và địa phương không thỏa đáng, điều đó cũng ảng hưởng đến tâm lý giáo viên và ảnh hưởng đến việc giao tiếp, ứng xử với trẻ. Mặt khác, số lượng trẻ trong lớp quá đông, có nhiều trẻ bướng bỉnh, không nghe lời, hay quậy phá khiến giáo viên bị căng thẳng, từ đó dẫn đến hượng tượng quát mắng, dọa nạt trẻ.

    – Về các mối quan hệ trong công việc ( quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp và phụ huynh): Sự không thuận lợi trong các mối quan hệ này cũng khiến giáo viên cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi, bực bội, điều đó ảnh hưởng nhiều dến hoạt động giao tiếp và ứng xử với trẻ. Ví dụ: Sự chỉ đạo không nhất quán và khách quan từ cấp trên; quan hệ với đồng nghiệp không tốt, có nhiều bất đồng; việc phối kết hợp với phụ huynhtrong chăm sóc và giáo dục trẻ chưa tốt….

    – Tăng cường nhận thức pháp luật, nhận thức về yêu cầu/chuẩn mựcđạo đức của giáo viên mầm non, về đặc điểm tâm sinh lí của trẻ em.

    – Nâng cao nhận thức của giáo viên mầm non về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.

    – Tổ chức rèn luyện hành vi/thói quen đạo đức của giáo viên mầm non trong các tình huống giao tiếp, ứng xử với trẻ mầm non.

    – Nâng cao đạo đức của người cán bộ quản lí của nhà trường.

    – Đảm bảo điều kiện làm việc, môi trường làm việc để giảm áp lực đối với giáo viên mầm non.

    – Động viên, đãi ngộ và tôn vinh người giáo viên mầm non.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đạo Đức Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Về Đạo Đức Nghề Giáo Viên Mầm Non
  • Cơ Sở Lý Luận Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Đạo Đức Báo Chí: Nền Tảng Của Báo Chí Nhân Văn
  • Đạo Đức Người Làm Báo Thời Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Cách Ứng Xử Và Giao Tiếp Sư Phạm

    --- Bài mới hơn ---

  • Thí Nghiệm Mô Phỏng Hoá Học Lớp 9
  • Thí Nghiệm Mô Phỏng Bước Sóng (Wave Apparatus Demo
  • Đề Tài Khai Thác Phần Mềm Crocodile Physics Vào Thiết Kế Thí Nghiệm Mô Phỏng ” Giao Thoa Hai Sóng Mặt Nước” Và ” Sóng Dừng” Sách Giáo Khoa Vật Lí 12 Ban Cơ Bản
  • Phòng Thí Nghiệm Vật Lý
  • Các Phép Thử Phân Tích Mô Tả Trong Đánh Giá Cảm Quan Thực Phẩm
  • KỸ NĂNG GIAO TIẾP

    SƯ PHẠM HIỆU QUẢ

    [email protected]

    “Chọn được công việc mình yêu thích thì sẽ chẳng phải làm việc một ngày nào trong đời “

    (Khổng Tử)

    NỘI QUY LỚP HỌC

    NỘI DUNG

    VAI TRÒ GIAO TIẾP SƯ PHẠM

    KHÁI NIỆM GIAO TIẾP SƯ PHẠM

    NGUYÊN TẮC GIAO TIẾP SƯ PHẠM

    MỘT SỐ KỸ NĂNG GIAO TIẾP

    PHONG CÁCH GIAO TIẾP

    Mục tiêu

    Trình bày được khái niệm, vai trò của giao tiếp, mô hình giao tiếp

    1

    Sử dụng hiệu quả các kỹ năng giao tiếp

    2

    Khắc phục được các rào cản trong giao tiếp

    3

    Vận dụng được các nguyên tắc ứng xử

    4

    1. Khái niệm giao tiếp

    Quá trình trao đổi thông tin đa chiều

    Giữa các chủ thể

    Sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

    Nhằm đạt mục tiêu

    2. Vai trò của giao tiếp

    1 và 2

    15% và 85%

    Vai trò của giao tiếp

    Sư phạm

    Với đời sống xã hội

    Là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

    Yếu tố thiết lập và phát triển các mối quan hệ

    Với cá nhân

    Điều kiện tâm lí, nhân cách phát triển bình thường

    Thỏa mãn nhu cầu của con người

    Phát triển các phẩm chất, đặc biệt là đạo đức.

    3. Các rào cản trong giao tiếp

    3. Các rào cản trong giao tiếp

    1/10/2013

    3. Các rào cản trong giao tiếp

    3. Các rào cản trong giao tiếp

    3. Các rào cản trong giao tiếp

    Chủ quan

    Tâm lý

    Thái độ

    Nhận thức

    Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp

    Chủ quan và khách quan

    Khách quan

    – Môi trường

    Khoảng cách

    Tâm lý người xung quanh

    5. Cỏc nguyờn t?c giao ti?p

    Tự tin

    Thiện chí

    Chủ động

    Tôn trọng

    Tích cực

    Bình đẳng

    4. Các nguyên tắc trong giao tiếp

    Kỹ năng lắng nghe

    Kỹ năng sử dụng ngôn từ và phi ngôn từ

    Kỹ năng phản hồi

    5. Một số kỹ năng giao tiếp hiệu quả

    Giọng nói

    Phát âm

    Nhịp điệu

    Phi ngôn từ: Giọng nói

    Phi ngôn từ: Thái độ

    5 nguyên tắc sử dụng ngôn từ

    Ngôn từ đơn giản,

    dễ hiểu

    Chuẩn ngữ pháp

    Ngôn từ

    Mô phạm

    Ngôn ngữ và cách diễn đạt

    Quy tắc bánh Sandwich

    K? nang ph?n h?i/Quy t?c bỏnh Sandwich

    Tình huống

    Tốt nghiệp, ra trường Bích – một giáo viên trẻ nhanh nhẹn, có năng lực, được phân về trường THCS gần nhà. Bích làm việc cùng cô Ngà, giáo viên dạy văn cũ của Bích – Tổ trưởng chuyên môn và là người trực tiếp hướng dẫn Bích thử việc. Thấy Bích có năng lực, sau hơn một năm, cô Ngà để Bích bồi dưỡng lớp học sinh giỏi, Bích rất vui và giảng dạy hết sức mình. Đội tuyển học sinh giỏi văn của Bích có 5 em đi thi thì 4 em đoạt giải. Nhưng điều làm Bích ngạc nhiên là sau đó, trong thi đua, khen thưởng của nhà trường, tất cả tiếng tăm và phần thưởng, cô Ngà đều nhận, cô cũng không nói gì lại với Bích, coi đó là chuyện đương nhiên. Bích cảm thấy bất công nhưng không dám nói ra. Dần dần, Bích cảm thấy chán nản trong giảng dạy và mất cả sự tôn trọng với cô Ngà. Thậm chí, có lần, do quá bức xúc, Bích nói xấu cô Ngà với các thầy/cô trong tổ chuyên môn.

    Nếu là Bích trong tình huống này, bạn sẽ ứng xử như thế nào?

    1/10/2013

    nói dài

    nói dai

    nói dại

    L: Listen – Lắng nghe

    A: Acknowledge – Xác nhận

    C: Check – Kiểm tra

    4

    E: Enquire – Hỏi lại thông tin

    L.A.C.E.

    1

    Kỹ năng lắng nghe hiệu quả

    Phong cách

    6. Các phong cách giao tiếp

    Không nên nói

    Lực học của cháu kém

    Tôi nghĩ rằng rất khó để cháu hòa nhập với các bạn cùng lớp

    Anh/chị hãy về dạy cháu

    Đây không phải là trách nhiệm của chúng tôi

    Tôi không đồng ý với ý kiến của anh/chị

    Câu trả lời của em sai rồi

    26

    26

    Nên nói

    Ngôn từ và cách diễn đạt

    Giáo viên

    27

    Hiểu mình

    Hiểu học sinh/

    phụ huynh/

    đồng nghiệp

    Hiểu mình

    đang nói gì?

    Đến với nhau chỉ là sự khởi đầu.

    Làm việc cùng nhau là sự tiến bộ.

    Giữ được nhau mới là thành công

    Henry Ford

    Bạn thích giọng nói của ai nhất?

    “Hãy trao hạnh phúc & nhận hạnh phúc.”

    XIN CẢM ƠN VÀ

    CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Âm Nhạc Và Nghi Lễ Phật Giáo
  • Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Nhà Giáo Hiện Nay
  • Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Th Phần 1
  • Thử Đối Chiếu So Sánh Về Khuynh Hướng Mô Phạm Của Socrate Và Khổng Phu Tử
  • Định Nghĩa Mô Phạm Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Mô Phạm
  • Giải Pháp Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Thực Trạng Hình Thành Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ 5 6 Tuổi Thông Qua Hoạt Động Vui Chơi Ở Trường Mầm Non Đồng Sơn, Thành Phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Giáo Viên Mầm Non Với Trẻ, Hot
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Của Giáo Viên Mầm Non, 9Đ
  • Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Và Ứng Xử Của Giáo Viên Mầm Non
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Cách người giáo viên phải dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non hàng ngày đóng tác động rất lớn đến sự hình thành nhân cách của trẻ. Bởi đối với trẻ mầm non, các cô giáo ở trường như những người mẹ thứ hai của trẻ, là khuôn mẫu, là chuẩn mực để trẻ bắt chước.

    Những năm đầu đời của trẻ là những năm quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ và ngôn ngữ cũng là một quá trình tâm lý diễn ra rất mạnh ở trẻ.Ở giai đoạn này trẻ học và nắm được tiếng mẹ đẻ của mình. Nắm được sự quan trọng này Hanoi Academy luôn tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non .

    Tạo môi trường giao tiếp

      Môi trường giao tiếp và sự tác động của người lớn rất quan trọng với sự phát triển khả năng giao tiếp của trẻ.Tạo môi trường dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ em và giúp cho trẻ có cảm giác thoải mái, có nhu cầu giao tiếp bằng lời.Có nghĩa là trong tất cả mọi hoạt động của trẻ, để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non mỗi giáo viên luôn phải dùng nhiều trò chơi, câu đố để kích thích trẻ tham gia, qua đó giúp trẻ được tự nhiên hơn.

    Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non thông qua ngôn ngữ cơ thể

      Ngôn ngữ cơ thể giữ vai trò chủ chốt trong hoạt động giao tiếp của giáo viên sư phạm mầm non với trẻ nhỏ bởi họ thường xuyên tiếp xúc, chăm sóc các bé qua từng bữa ăn giấc ngủ. Theo đó, năng lực biểu cảm qua nét mặt của giáo viên góp phần lớn vào hiệu quả giao tiếp. Xét vào thực tế sư phạm mầm non, giáo viên có nét mặt dịu hiền, cởi mở, vui tươi thường đem lại bầu không khí tâm lý tốt, tạo cảm giác an toàn cho bé. Ngược lại, giáo viên có nét mặt kém vui, căng thẳng, nghiêm khắc thường tạo ra bầu không khí nặng nề, khiến trẻ nhỏ cảm thấy xa cách, không dám gần gũi, thân thiện.
  • Ngôn ngữ là cái riêng của mỗi người, và nó được phát triển rất tự nhiên, do đó mà trẻ khi giao tiếp sẽ có lúc nói sai, các cô không nên sửa sai hoặc la rầy, vì sẽ tạo cho trẻ cảm giác không tự tin, sợ nói.
  • Do vậy muốn cải thiện kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non nên thông qua trò chơi sắm vai để dạy trẻ như: trò chơi bán hàng, bác sĩ và gia đình…Qua đó sẽ giúp trẻ nói theo mẫu của cô và của bạn. Để cho trẻ có cảm giác thoải mái tự nhiên, các cô không nên dùng ngôn ngữ sai khiến sẽ làm cho trẻ cảm giác bị bắt buộc, mà ta chỉ dùng ngôn ngữ đề nghị, vỗ về trẻ.
  • Các cô thường xuyên dỗ dành, vỗ về, cúi người xuống hoặc ngồi xuống để kéo trẻ lại gần và mắt ngang tầm mắt trẻ trong khi nói chuyện vừa giúp thỏa mãn nhu cầu được quan tâm, được yêu thương của trẻ trong giai đoạn mầm non đồng thời tạo mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên với trẻ.
  • Cho trẻ thực hành

    • Trong lớp học nên sử dụng các đồ dùng học tập, đồ chơi để làm phương tiện phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ: giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, các điệu bộ khi chơi,…) Cùng trẻ chơi những trò chơi dân gian, đọc các bài thơ, bài đồng dao…nhằm tạo sự thân thiết giữa cô và trẻ.
    • Tập cho trẻ giao tiếp với các bạn cùng trang lứa và mọi người xung quanh để rèn cho trẻ sự mạnh dạn, tính cởi mở khi giao tiếp. Các cô có thể cho các trẻ đóng vai những nhân vật mà các em yêu thích thông qua các vở kịch ý nghĩa. Vừa có thể giúp trẻ giao tiếp mạnh dạn hơn vừa có thể giúp trẻ học được những thông điệp ý nghĩa qua các vở kịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Của Trẻ Mầm Non
  • Tại Sao Phải Chú Trọng Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non?
  • Tai Lieu Tong Hop Mon Ky Nang Giao Tiep
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Định Giao Tiếp, Ứng Xử Của Cán Bộ, Công Chức Trong Thực Thi Công Vụ
  • Những Sai Lầm Trong Giao Tiếp Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả
  • Bồi Dưỡng Kĩ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Cho Gv Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trên Mạng Internet
  • 3.14. Giao Tiếp Qua Mạng
  • Giao Tiếp Sư Phạm Mầm Non: Thực Trạng Và Giải Pháp Bồi Dưỡng
  • Chương 1 Khái Quát Về Kỹ Năng Mềm
  • Kỹ Năng Mềm Là Gì? Các Loại Kỹ Năng Mềm Trong Công Việc
  • BÀI 1: Các kĩ năng nghề nghiệp đặc thù cần có 

    Cần chú trọng đào tạo những kỹ năng nghề nghiệp dạy học đặc thù cho GV tiểu học. Ảnh: Q.N

    Trong môi trường học đường, kĩ năng giao tiếp nói chung, giao tiếp sư phạm (GTSP) nói riêng là hoạt động diễn ra một cách thường xuyên, liên tục với tần suất rất cao. Đối với ngành giáo dục tiểu học, do chịu sự qui định và chi phối bởi các đặc điểm, đặc trưng xuất phát từ tâm lý lứa tuổi, kĩ năng GTSP của giáo viên (GV) luôn gắn với những mục đích và yêu cầu rất riêng biệt.

    Do đó, công tác bồi dưỡng các kĩ năng này cho đội ngũ GV đòi hỏi phải có sự nhận thức thấu đáo, đi kèm với các giải pháp cụ thể để không ngừng phát huy vai trò, tầm quan trọng và hiệu năng của nó trong điều kiện hiện nay.

    Vai trò của GTSP

    Đối với khái niệm GTSP, các nhà nghiên cứu về giáo dục đã thống nhất định nghĩa như sau: GTSP là giao tiếp có tính nghề nghiệp giữa GV với học sinh (HS) trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục, có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra những tiếp xúc tâm lí, xây dựng không khí thuận lợi, cùng các quá trình tâm lí khác (chú ý, tư duy…) có thể tạo ra kết quả tối ưu của quan hệ thầy trò, nội bộ tập thể HS và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học. GTSP trong hoạt động sư phạm có vai trò và tầm quan trọng rất đặc biệt. Bởi vì GTSP vừa là điều kiện đảm bảo hoạt động sư phạm; vừa có một vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm của người GV; là phương tiện thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và phát triển và là một khâu quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách. chúng tôi Nguyễn Bá Minh, trong tác phẩm “Tâm lý học tiểu học và giao tiếp sư phạm”đã chỉ rõ ba đặc trưng cơ bản của GTSP gồm: GV (chủ thể gián tiếp) không chỉ giao tiếp với HS qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học, mà còn là tấm gương sáng mẫu mực về nhân cách cho HS noi theo; thầy giáo cần sử dụng các biện pháp giáo dục tình cảm, thuyết phục vận động, cảm hóa (thay vì dùng biện pháp đánh đập, hành hạ, trù dập HS); sự tôn trọng của Nhà nước và xã hội đối với GV. Theo đó, các nguyên tắc chủ yếu của GTSP là: mang tính chất bền vững, ổn định, chỉ đạo, định hướng điều chỉnh các phản ứng, hành vi của GV và HS trong quan hệ thầy trò; được hình thành từ thói quen, sự rèn luyện trong nghề nghiệp, vốn sống kinh nghiệm cá nhân (thâm niên nghề nghiệp); nền tảng của mọi nguyên tắc GTSP của GV đối với HS là “Tất cả vì HS thân yêu – yêu thương HS như chính con em mình”.

    GTSP vốn có hình thức rất phong phú và đa dạng, nếu căn cứ vào môi trường giáo dục, có hai hình thức giao tiếp chủ yếu là GTSP trong nhà trường và GTSP ngoài nhà trường. Xét về phương diện cấu trúc, trong GTSP có: Cấu trúc tâm lí (nhận thức, cảm xúc, hành vi); cấu trúc theo giai đoạn (mở đầu, diễn biến, kết thúc quá trình GTSP).

    Các kĩ năng GTSP của GV tiểu học

    Trong hệ thống giáo dục, giáo dục tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Điều II Luật Phổ cập giáo dục đã nêu: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân…”. Đây là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những đường nét cơ bản của nhân cách. Do vậy, giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng. Chính vì vậy việc đào tạo GV tiểu học cần chú trọng đào tạo những kỹ năng nghề nghiệp dạy học đặc thù ở tiểu học. Thứ nhất, đối tượng lao động trực tiếp của GV tiểu học là trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 11 – 12. Đây là lứa tuổi có quy luật phát triển tâm lý riêng và đang tiềm ẩn những khả năng phát triển rất lớn. Do đó, người thầy phải có tình thương yêu, lòng tin và sự tôn trọng đối với trẻ em, đối xử công bằng, dân chủ và tế nhị trong cách ứng xử, mềm dẻo, nhưng cần phải kiên quyết. Thứ hai, lao động của GV tiểu học tạo ra sản phẩm đặc biệt. Đó là nhân cách của mỗi trẻ em ngồi trên ghế nhà trường để tương lai họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Mặt khác, khoa học về sư phạm cũng đã khẳng định: Con người chỉ sinh ra con người, còn giáo dục mới sản sinh ra nhân cách. Thứ ba, sản phẩm lao động của GV tiểu học gắn với tương lai của dân tộc. Do đó, trách nhiệm của GV tiểu học là rất lớn. Mỗi GV không chỉ chú ý đến mục tiêu của bậc học mà còn phải biết được những yêu cầu của xã hội đối với HS trong tương lai là chủ nhân của xã hội và đất nước. Thứ tư, muốn dạy học đạt kết quả cao, GV tiểu học phải nắm vững quy luật tâm lí của HS tiểu học, quy luật giáo dục trẻ em để hình thành nhân cách các em theo mục tiêu của cấp học. Vì thế, lao động sư phạm của GV tiểu học là khoa học đòi hỏi phải có sự kế thừa có chọn lọc, đồng thời sử dụng các khoa học khác nhằm làm cho hoạt động của mình có căn cứ và mang tinh thần khoa học. Thứ năm, công tác dạy học và giáo dục ở bậc tiểu học đòi hỏi người GV phải khéo léo trong đối xử sư phạm, vận dụng các phương pháp dạy học và giáo dục vào từng tình huống và con người cụ thể, đòi hỏi người GV phải văn minh trong hoạt động giao tiếp, tác động khoa học đến toàn bộ tâm lí HS. Thứ sáu, mỗi HS tiểu học là một nhân cách đang được hình thành, khả năng phát triển còn bỏ ngỏ, trong khi sự phát triển lại diễn ra rất nhanh chóng. Vì thế, lao động của GV tiểu học không cho phép rập khuôn máy móc, mà đòi hỏi phải có nội dung phong phú, đi kèm với cách thức tiến hành linh hoạt và sáng tạo.

    Mai Thị Ngọc Lan

    Lao động của GV tiểu học là một loại hình lao động đặc thù mang tính “khai sáng” trong giai đoạn khởi đầu của con người, từng bước góp phần cải biến con người tự nhiên thành con người xã hội.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Mà Giáo Viên Tiểu Học Cần Phải Biết?
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Ứng Xử Thông Minh Làm Chủ Tình Huống Trong Cuộc Sống
  • Giao Tiếp Trong Công Sở
  • Bản Chất Của Quá Trình Giao Tiếp
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì
  • Module Gvmn 1 Số 1 Đạo Đức Của Giáo Viên Mầm Non Trong Giao Tiếp, Ứng Xử Với Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Đạo Đức Kinh Doanh
  • Phân Biệt Pháp Luật Với Đạo Đức
  • Bàn Về Hành Vi Pháp Luật Và Hành Vi Đạo Đức
  • Đạo Đức Báo Chí, Tạp Chí Người Làm Báo, Nguoilambao, Lambao
  • Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Người Làm Báo ( Phần 1)
  • module GVMN 1

    ĐẠO ĐỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TRONG GIAO TIẾP, ỨNG XỬ VỚI TRẺ MẦM NON

    1. Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau đây:

    a. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

    b. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

    c. Đủ sức khỏe theo yêu cầu của nghề nghiệp;

    d. Lý lịch bản thân rõ ràng.

    2. Khái niệm đạo đức, đạo đức nhà giáo, đạo đức của người giáo viên mầm non.

    + Đạo đức nhà giáo: Đạo đức nhà giáo là phẩm chất của người giáo viên được hình thành do tu dưỡng, rèn luyện theo các quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu….trong hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên và trong cuộc sống với tư cách một nhà giáo, được thể hiện ra bên ngoài qua nhận thức, thái độ và hành vi của họ.

    + Đạo đức của người giáo viên mầm non: Là những phẩm chất của người giáo viên mầm non được hình thành do tu dưỡng, rèn luyện theo các quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu…trong chăm sóc và giáo dục trẻ e4m và trong cuộc sống với tư cách một nhà giáo được thể hiện ra bên ngoài qua nhận thức, thái độ, hành vi.

    3. Phẩm chất đạo đức của người giáo viên mầm non thể hiện ở những điểm sau:

    a. Yêu nước, có niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

    – Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    – Chấp hành tốt luật pháp Nhà nước, chủ trương, chính sách của Đảng và những qui định của ngành, của trường mầm non.

    – Có định hướng tốt trong đổi mới nội dung, phương pháp chăm sóc, giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

    – Làm một công dân tốt có ý thức trách nhiệm đối với xã hội, tham gia phát triển văn hóa- xã hội của cộng đồng; mẫu mực trong hành vi giao tiếp ứng xử là tấm gương cho trẻ noi theo.

    b. Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ.

    – Không phân biệt đối xử với trẻ và chất nhận sự đa dạng của trẻ;

    – Tận tụy chăm sóc trẻ và kiên nhẫn trong giáo dục trẻ mầm non.

    – Xây dựng mối quan hệ thân mật, gần gũi, ân cần, chu đáo với trẻ ở các độ tuổi khác nhau ( tuổi nhà trẻ và tuổi mẫu giáo)

    – Coi trọng tính tích cực, chủ động, sáng tạo cá nhân của trẻ mầm non; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào hoạt động chung/nhóm;

    – Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và phổ biến thông tin về phương pháp giáo dục trẻ.

    c. Yêu nghề, tâm huyết, gắn bó và có trách nhiệm cao với nghề nghiệp.

    – Có tình cảm và yêu trẻ, có động cơ yêu nghề, say mê sáng tạo, nhanh chóng thích ứng với tình huống mới.

    – Có ý thích tự học, tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ chăm sóc – giáo dục trẻ trong độ tuổi.

    – Có quan hệ tin cậy dễ chịu với người khác, hợp tác thiện chí, trau dồi kinh nghiệm tự hoàn thiện bản thân.

    – Có suy nghĩ và quan điểm tích cực, hoàn thành tốt các công việc được giao nhằm đáp ứng với các yêu cầu mới mục tiêu chăm sóc – giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

    d. Có ý thức tổ chức, có đạo đức tốt, yêu thương đồng cảm với người khác, mềm dẻo, hiểu biết, sáng tạo, lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị phù hợp với văn hóa dân tộc.

    4. Yêu cầu đạo đức nhân cách của người giáo viên mầm non.

    Dựa vào phẩm chất đạo đức trong mô hình nhân cách của người giáo viên mầm non, các quy định về đạo đức người giáo viên mầm non, trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ, giáo viên cần tuân thủ các yêu cầu sau:

    – Yêu nghề, tâm huyết với nghề, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với trẻ, đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của trẻ, đồng nghiệp và cộng đồng, được đồng nghiệp, người dân tín nhiệm và trẻ yêu quý.

    – Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ.

    + Không phân biệt đối xử với trẻ và chấp nhận sự đa dạng của trẻ.

    + Tận tụy chăm sóc trẻ và kiên nhẫn trong giáo dục mầm non.

    + Xây dựng mối quan hệ thân mật, gần gũi, ân cần, chu đáo với trẻ ở các độ tuổi khác nhau ( tuổi nhà trẻ và tuổi mẫu giáo)

    + Coi trọng tính tích cực, chủ động, sáng tạo cá nhân của trẻ mầm non; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động chung/nhóm.

    + Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và phổ biến thông tin về phương pháp giáo dục trẻ.

    – Tân tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội duy của đơn vị, nhà trường, của ngành, sẵn sàng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

    – Tham gia đóng góp xây dựng và thực hiện nội quy hoạt động của nhà trường.

    – Thực hiện các nhiệm vụ được phân công.

    – Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục.

    – Chấp hành kỉ luật lao động, chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở nhóm lớp được phân công.

    – Không có biểu hiện tiêu cực trong cuốc sống, trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

    – Không vi phạm các quy định về hành vi nhà giáo không được làm.

    – Giao tiếp, ứng xử với trẻ mầm non với trẻ mầm non là quá trình tương tác của giáo viên mầm non với trẻ, những phản ứng hành vi của giáo viên nảy sinh trong quá trình giao tiếp với trẻ do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn kinh nghiệm của cá nhân xã hội trong những tình huống nhất định.

    5. Những biểu hiện đạo đức của người giáo viên mầm non trong giao tiếp ứng xử với trẻ.

    Trong khi giao tiếp, ứng xử với trẻ, giáo viên nên lưu ý một số điểm sau:

    – Trong chăm sóc, giáo dục trẻ, cô giáo cần phải luôn yêu thương trẻ như con, khéo léo và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của trẻ là: được ăn, được vui chơi và học tập. giáo viên cần yêu thương từng trẻ, yêu thương trẻ như con em mình, điều đó đòi hỏi sự tận tụy và khéo léo dịu dàng, nhạy cảm và tinh tế trong chăm sóc và giáo dục trẻ. Muốn như vậy, trong quá trình giáo dục, giáo viên tạo bầu không khí ấm cúng như gia đình. Đồng thời giáo viên cần chú ý đáp ứng đúng lúc, kịp thời những nhu cầu cơ bản của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách thuận lợi.

    – Giáo viên cần dành mọi suy nghĩ , hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ, đảm bảo cho trẻ phát triển tối đa những tiềm năng vốn có theo khoa học, theo mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục mầm non.

    – Giao tiếp ứng xử với trẻ bằng nhưng cử chỉ hành vi dịu hiền, nhẹ nhàng, cởi mở, vui tươi, tạo cho trẻ một cảm giác an toàn, bình yên, dễ chịu khi được đến trường, nhờ có cảm giác an toàn, trẻ mới bộc lộ tính hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ. Điều này luôn nhắc nhở giáo viên lấy cảm xúc trân thực của mình khi tiếp xúc với trẻ, xúc cảm chân thực nhưng thiên về tình thương, nhẹ nhàng mà vui tươi, cởi mở, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ, gieo vào lòng trẻ những sắc thái cảm xúc tích cực của con người.

    – Trước mỗi tình huống, giáo viên cần bình tĩnh không nên vội vàng, nóng nảy, nếu giáo viên nóng nảy thiếu kiềm chế, sẽ có những hành vi không hợ lý với trẻ, trong khi đó, bất cứ hành vi nào của giáo viên đều được trẻ ghi dấu lại trong tâm trí trẻ. Giáo viên nên tìm hiểu kĩ những nguyên nhân dẫn đến nhưỡng biểu hiện hành vi bất thường của trẻ để có hướng giải quyết hợp lý nhất.

    – Giáo viên ứng xử công bằng với tất cả trẻ, không phân biệt so sánh trẻ này với trẻ khác dành tình yêu và sự quan tâm với tất cả các trẻ như nhau, giáo viên không được quá quan tâm nhiều đến một trẻ nào đó. Do đó, giáo viên cần phải vừa quan tâm đến cả lớp vừa phải quan tâm đến từng trẻ. Mỗi trẻ có những đặc điểm riêng về thể chất, về nhu cầu, về sở thích, hứng thú, khả năng…., giáo viên cần nắm bắt được các đặc điểm đó để có cách giáo tiếp ứng xử phù hợp đối với trẻ.

    – Tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở trong suốt quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng, giáo viên lúc nào cũng thể hiện khuôn mặt rạng rỡ, nhiệt tình, trìu mến, tạo cho trẻ cảm thấy mình đang được quan tâm.

    – Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm tốt điểm tích cực của trẻ, để nêu gương khích lệ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn khởi.

    – Cần tôn trọng trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ và sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của trẻ, không nên lờ đi trước ý kiến của trẻ.

    – Cần linh hoạt trong cách xử lý tình huống với trẻ, không nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là một các thể riêng biệt, một tính cách và sở thích khác nhau. Giáo viên cần hiểu trẻ và tạo nhiều cơ hội để trẻ được thể hiện trong các tình huống khác nhau.

    6. Những hạn chế trong giao tiếp, ứng xử của giáo viên mầm non đối với trẻ và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của trẻ mầm non.

    – Giáo viên chưa hiểu trẻ và nhu cầu của trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non, chưa thật sự chú ý, tập trung, lôi cuốn trẻ, khích lệ trẻ tham gia vào các hoạt động, chưa tạo được không khí thật sự vui tươi và kích thích những ham thích, hứng khởi cần có ở trẻ.

    – Giáo viên đôi khi không kiềm chế được cảm xúc nên ảnh hưởng đến trẻ. Nhiều giáo viên cho rằng giờ ăn là dễ khiến cô giáo nóng giận và khó chịu và thường cô giáo trách phạt trẻ bằng nhiều hình thức như đánh, nhốt trẻ vào nhà vệ sinh, ép trẻ ăn…Một số giáo viên do không kìm chế được cảm xúc của bản thân nên vẫn còn hiện tượng nóng giận, bực bội, la mắng, trách móc trẻ. Điều này sẽ ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của trẻ như: trẻ sẽ cảm thấy sợ hãi, không tự tin, sợ đến trường…

    – Trẻ trong lớp quá đông cũng tạo nhiều áp lực cho giáo viên, giáo viên sẽ thường xuyên bị căng thẳng, từ đó mà tâm trạng không tốt.

    – Do khối lượng công việc qáu hiều, áp lực của công việc khiến giáo viên cảm thấy mệt mỏi cũng ảnh hưởng nhiều đến giao tiếp với trẻ.

    – Giáo viên có quan niệm sai lầm khi cho rằng trẻ tuổi này rất bướng bỉnh, lì lợm và phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết sợ, biết chừa, thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe lời.

    * Nguyên nhân:

    Kỹ năng giao tiếp ứng xử của giáo viên mầm non với trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến các yếu tố nhận thức, yếu tố quan điểm giáo dục, yếu tố về tính chất công việc và yếu tố về mối quan hệ trong công việc. Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ. Cụ thêt:

    – Về quan điểm giáo dục trẻ: Nhiều giáo viên có quan niệm sai lầm trong giao tiếp ứng xử với trẻ như để giáo dục trẻ nhanh nhất, hiệu quả nhất thì đe dọa, trừng phạt, trách mắng là phương pháp giáo dục hiệu quả. Một số giáo viên quá nghiêm khắc với trẻ, nghĩ rằng cần phải làm cho trẻ biết sợ, biết vâng lới bằng những hình phạt nặng nề nhơ đánh, nhốt trẻ vào nhà vệ sinh… Đây là quan điểm hết sức sai lầm của giáo viên.

    – Về tính chất công việc và chế độ đãi ngộ của giáo viên: Giáo viên mầm non so với các bậc học khác phải làm việc vất vả, khối lượng công việc nhiều, lại phải chịu nhiều áp lực như chất lượng giảng dạy, thanh tra, kiểm tra. Tuy n hiên chế độ đãi ngộ với giáo viên của nhà trường và địa phương không thỏa đáng, điều đó cũng ảng hưởng đến tâm lý giáo viên và ảnh hưởng đến việc giao tiếp, ứng xử với trẻ. Mặt khác, số lượng trẻ trong lớp quá đông, có nhiều trẻ bướng bỉnh, không nghe lời, hay quậy phá khiến giáo viên bị căng thẳng, từ đó dẫn đến hượng tượng quát mắng, dọa nạt trẻ.

    – Về các mối quan hệ trong công việc ( quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp và phụ huynh): Sự không thuận lợi trong các mối quan hệ này cũng khiến giáo viên cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi, bực bội, điều đó ảnh hưởng nhiều dến hoạt động giao tiếp và ứng xử với trẻ. Ví dụ: Sự chỉ đạo không nhất quán và khách quan từ cấp trên; quan hệ với đồng nghiệp không tốt, có nhiều bất đồng; việc phối kết hợp với phụ huynhtrong chăm sóc và giáo dục trẻ chưa tốt….

    * Biện pháp tăng cường nhận thức, thái độ đạo đức người giáo viên mầm non trong giao tiếp, ứng xử với trẻ.

    – Tăng cường nhận thức pháp luật, nhận thức về yêu cầu/chuẩn mựcđạo đức của giáo viên mầm non, về đặc điểm tâm sinh lí của trẻ em.

    – Nâng cao nhận thức của giáo viên mầm non về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.

    * Biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức của người giáo viên mầm non

    – Tổ chức rèn luyện hành vi/thói quen đạo đức của giáo viên mầm non trong các tình huống giao tiếp, ứng xử với trẻ mầm non.

    – Giám sát hỗ trợ và điều chỉnh giáo viên mầm non trong giao tiếp ứng xử với trẻ mầm non.

    * Biện pháp đảm bảo các điều kiện để giáo viên mầm non nâng cao đạo đức trong giao tiếp, ứng xử với trẻ.

    – Nâng cao đạo đức của người cán bộ quản lí của nhà trường.

    – Đảm bảo điều kiện làm việc, môi trường làm việc để giảm áp lực đối với giáo viên mầm non.

    – Động viên, đãi ngộ và tôn vinh người giáo viên mầm non.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Giáo Viên Mầm Non Trong Giáo Dục Trẻ Mầm Non
  • Đạo Đức Công Vụ
  • Vai Trò, Vị Trí Của Công Đoàn Việt Nam
  • Bài 33: Một Số Hình Thức Chủ Yếu Của Tổ Chức Lãnh Thổ Công Nghiệp (Có Trắc Nghiệm
  • Tổ Chức Lãnh Thổ Công Nghiệp
  • Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Và Ứng Xử Của Giáo Viên Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Giao Tiếp Trong Hoạt Động Quản Trị, Kinh Doanh
  • Giao Tiếp Xã Hội 55Giaotieptrongtamlyhocquanlykinhdoanh Doc
  • Văn Hóa Giao Tiếp Qua Email
  • Bài 1: Tổng Quan Về Kỹ Năng Giao Tiếp
  • Vào cuối tháng 3 vừa qua, toàn thể thầy cô giáo của Hệ thống Trường Mầm non Quốc tế Kindy City đã tham gia khóa tập huấn ” Giao tiếp và ứng xử của giáo viên mầm non “, do Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyên Trưởng phòng Giáo dục mầm non Sở Giáo dục Đào tạo chúng tôi trực huấn luyện.

    Ở tuổi mầm non, cách hành xử của trẻ nhiều phần dựa trên bản năng – tức là hành động theo những gì bản thân muốn và chưa hình thành suy nghĩ logic. Với lòng kiên nhẫn, cô giáo dễ dàng nhận biết cách giúp trẻ kiềm chế được cảm xúc, và từ theo đó, giúp các em hướng đến những suy nghĩ đúng đắn.

    – Gọi tên trẻ, khuyến khích trẻ xưng tên và gọi tên người khác khi giao tiếp.

    – Làm mẫu các hành vi giao tiếp để trẻ bắt chước kèm theo lời nói: chào, tạm biệt, cảm ơn, không đồng ý, đồng ý, tập trả lời khi nghe gọi tên, v.v…

    – Khuyến khích trẻ bắt chước phát âm các từ mới. Giúp trẻ mở rộng câu.

    – Sử dụng đồ dùng, đồ chơi làm phương tiện phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ: phát triển ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (biểu lộ nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi chơi…).

    – Tập cho trẻ biết dùng câu hỏi và trả lời câu hỏi khi giao tiếp: Đâu? Con gì? Cái gì? Ai đây? Làm gì? (Kiên nhẫn đợi cho trẻ trả lời)

    – Cùng xem tranh, xem sách với trẻ: Hỏi han và chuyện trò về các nhân vật trong sách, tranh giúp trẻ bộc lộ cảm xúc bằng cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, v.v…

    – Cùng trẻ chơi các trò chơi dân gian, đọc các bài đồng dao… tạo sự thân thiết giữa cô và trẻ.

    – Dùng các chú rối trò chuyện với trẻ.

    – Tập cho trẻ giao tiếp với người lạ, với bạn để rèn tính cởi mở, mạnh dạn khi giao tiếp.

    Ở bậc học này, mọi hành vi tương tác của cô nuôi dạy đều có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Do đó, bên cạnh lòng yêu quý nghề nghiệp, yêu thương trẻ, nắm được kỹ năng giao tiếp và ứng xử “tâm lý”, thì người thầy chẳng những gạt hái nhiều thành quả sư phạm hữu hình, mà còn mang lại cho trẻ những giá trị sống cao đẹp, làm cẩm nang cho thành trình học tập và lớn khôn trọn đời của các em nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Của Giáo Viên Mầm Non, 9Đ
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Giáo Viên Mầm Non Với Trẻ, Hot
  • Skkn Thực Trạng Hình Thành Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ 5 6 Tuổi Thông Qua Hoạt Động Vui Chơi Ở Trường Mầm Non Đồng Sơn, Thành Phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Của Trẻ Mầm Non
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100