Gia Đình Việt Nam: Truyền Thống Và Hiện Đại

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Thu Nhập Hộ Gia Đình (Household Income) Là Gì? Ưu Điểm Của Thu Nhập Hộ Gia Đình
  • Giáo Án Môn Công Nghệ
  • Bài 25. Thu Nhập Của Gia Đình
  • Công Nghệ 6 Bài 25: Thu Nhập Trong Gia Đình
  • Gia đình Việt Nam truyền thống được các nhà nghiên cứu cho là loại hình gia đình chứa nhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay, ra đời từ nôi văn hoá bản địa, được bảo lưu và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống, có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông ba- cha mẹ- con cái mà người ta quen gọi là “tam, tứ, ngũ đại đồng đường”. Đây là kiểu gia đình khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn, cơ sở phát sinh và tồn tại của nó xuất phát từ nền kinh tế tiểu nông.

    Gia đình hạt nhân (gồm bố, mẹ và con) là loại hình khá phổ biếnở nước ta hiện nay. Ảnh: Internet -T.B

    Về ưu điểm của gia đình truyền thống: có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống, bảo tồn, lưu giữ được các truyền thống văn hoá, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo. Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ. Đó là những giá trị rất căn bản của văn hoá gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy. Tuy nhiên, nhược điểm của loại hình gia đình này là trong khi giữ gìn các truyền thống tốt đẹp cũng tồn tại những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời. Ngoài ra, sự khác biệt về tâm lý, tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà- các cháu; giữa mẹ chồng- nàng dâu… Bên cạnh việc duy trì được tinh thần cộng đồng, gia đình truyền thống phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

    Gia đình đơn hay còn gọi là gia đình hạt nhân đang trở nên phổ biến ở các độ thị và cả ở nông thôn, thay cho kiểu gia đình truyền thống từng giữ vai trò chủ đạo. Gia đình Việt Nam ngày nay phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chỉ có một cặp vợ chồng (bố mẹ) và con cái mà họ sinh ra. Xu hướng hạt nhân hoá gia đình ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó.

    Trước hết, gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội. Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế. Kiểu gia đình này tạo cho mỗi thành viên khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân. Vai trò cá nhân được đề cao. Tuy nhiên, gia đình hạt nhân cũng có những điểm yếu nhất định. Chẳng hạn, do mức độ liên kết giảm sút và sự ngăn cách không gian giữa các gia đình nên khả năng hỗ trợ lẫn nhau về vật chất và tinh thần bị hạn chế. Ảnh hưởng của các thế hệ tới nhau ít đi cũng làm giảm khả năng kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong gia đình. Ngoài ra, do gia đình hạt nhân ít con, cháu nên điều kiện, thời gian chăm sóc, gần gũi thể hiện tình cảm của con cháu đối với cha mẹ, ông bà ít hơn. Điều này càng thể hiện rõ khi xã hội phát triển thì các điều kiện bảo trợ, chăm sóc cho người già, người cao tuổi nhiều hơn thì khoảng cách gắn kết tình cảm gia đình càng lớn. Dù vậy, gia đình hạt nhân vẫn là loại hình khá phổ biến ở nước ta hiện nay và đó cũng là loại gia đình thịnh hành trong các xã hội công nghiệp, đô thị phát triển.

    Quan điểm, mục tiêu về Chiến lược xây dựng Gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010 của Thủ tướng Chính phủ ngày 16-5, xác định rõ: Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững của xã hội, sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng gia đình Việt Nam ít con (mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con), no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc là động lực của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Trong xu thế hội nhập và phát triển ngày càng mạnh mẽ việc tăng cường giáo dục bảo tồn, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá gia đình văn minh tiến bộ trên thế giới là nhiệm vụ quan trọng, góp phần phát triển kinh tế- xã hội bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Đất Đai
  • Các Khái Niệm Kinh Tế Cơ Bản
  • Khái Niệm Về Kinh Tế Trang Trại
  • Vì Sao Lee Min Ho Không Thể Trở Thành Người Chồng Lý Tưởng?
  • Hộ Gia Đình Là Gì Theo Quy Định Tại Bộ Luật Dân Sự 2021
  • Gia Đình Việt Nam Hiện Nay: Truyền Thống Hay Hiện Đại?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Gia Đình Việt Nam
  • Thử Mở Rộng Nội Hàm Khái Niệm “gia Đình” Trong Cơ Cấu Xã Hội Việt Nam Hiện Đại
  • Gia Đình Hạt Nhân Và Nỗi Cô Đơn Của Người Già
  • Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Gia Đình Trong Thời Kỳ Hiện Đại
  • Gia đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hội rộng lớn. Do đó, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Gia đình phải là điểm xuất phát và trở về của mọi chính sách xã hội.

    Gia đình là một môi trường quen thuộc với hầu hết mọi người. Đó là lĩnh vực mà ai cũng có thể tham gia với tư cách là người trong cuộc. Mặt khác, đó cũng là lĩnh vực tinh tế, phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn và biến động.

    Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại. Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giới hàn lâm và giới chính trị quan tâm. ở châu á và Đông Nam á nói riêng, người ta nói nhiều đến gia đình, văn hóa gia đình như một giải pháp để ngăn trở sự xâm lăng của văn hóa phương Tây. Và không chỉ có thế. Các quốc gia châu á trong đó có Việt Nam đang trải nghiệm trong một cuộc chuyển mình vĩ đại: thực hiện công nghiệp hóa – đô thị hóa với quy mô và tốc độ ngày càng gia tăng. Đồng thời với quá trình này ở Việt Nam là sự chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường. Cố nhiên, những biến chuyển kinh tế – xã hội mạnh mẽ đó không thể không tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình, một thiết chế lâu đời và bền vững song cũng hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi xã hội.

    Gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong đó hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức, v.v… Những biến chuyển xã hội đã và đang dội vào gia đình trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều. Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại.

    Trước khi tìm hiểu về gia đình Việt Nam truyền thống hay gia đình Việt Nam hiện đại, chúng ta hãy thống nhất với nhau về khái niệm gia đình. Nói như thế là bởi vì có rất nhiều quan niệm khác nhau về gia đình ở các hệ thống chính trị – xã hội và văn hóa khác nhau và có rất nhiều định nghĩa về gia đình đã được đưa ra. Đó là chưa kể một thực tế là trên thế giới hiện nay xuất hiện nhiều dạng gia đình biến thái khiến cho mọi định nghĩa về gia đình đều trở n n bất cập. Chẳng hạn, một học giả phương Tây – James W. Vander Zanden – cho biết: “Một cuộc thăm dò mới đây đã cho thấy 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi không cần kết hôn mà cùng chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực, 33% coi các đôi cùng giới tính có nuôi nấng con cái là gia đình, còn 20% thì coi các cặp đồng giới tính chung sống với nhau là một gia đình”.

    [1]. James W. Vander Zanden: Sociology the Core, Mc. Graw Publishing Company, 1990, p. 225.

    <

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Và Định Hướng Giá Trị Cơ Bản Của Gia Đình Việt Nam Giai Đoạn 2021
  • Đề Cương Bài Giảng: Gia Đình Và Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa
  • Xác Định Giá Trị Công Ty
  • Khái Niệm Và Các Phương Pháp Xác Định Định Giá Doanh Nghiệp
  • Thư Mục Tư Liệu Chuyên Đề Xác Định Giá Trị Tài Liệu Lưu Trữ
  • Làng Nghề Truyền Thống Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Của Làng Nghề Truyền Thống
  • Khái Niệm Về Đào Tạo Nghề
  • Cách Phát Triển Năng Lực Nghề Nghiệp Hiệu Quả Cho Nhân Viên
  • Khái Niệm Nghề Nail Và Những Kiến Thức Cơ Bản
  • Quy Định Chuẩn Nghề Nghiệp Giáo Viên Mầm Non 2021
  • Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề”. theo giáo sư trần quốc vượng thì “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương… song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”

    Định nghĩa này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó là những làng nghề nổi tiếng từ hàng nghìn năm.

    • Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp. các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau. người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân.
    • Hai là, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. nhiều loại sản phẩm có công nghệ- kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm.
    • Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ. hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương. cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm… song không nhiều.
    • Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân. trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn. tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo. việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn.
    • Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước… các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm sứ bát tràng (hà nội), thổ hà (bắc ninh), đông triều (quảng ninh). từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu… tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
    • Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp. bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu.
    • Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Nghề Nghiệp Là Gì ? Khái Niệm Về Bệnh Nghề Nghiệp ?
  • Các Khái Niệm Về Vị Trí, Công Việc Và Nghề Nghiệp
  • Đặc Điểm Ngành Công Nghiệp Điện Tử Việt Nam
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Trong Ngành Ngân Hàng
  • Đất Phi Nông Nghiệp Là Gì? Quy Định Về Các Loại Đất Phi Nông Nghiệp
  • Truyền Thống Hiếu Học Của Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Hiếu Học, Hiếu Thảo?
  • Tin Học 10 Bài 3: Giới Thiệu Về Máy Vi Tính
  • Hệ Thống Tin Học Dùng Để Nhập, Xử Lí, Xuất, Truyền Và Lưu Trữ Thông Tin; Gồm Ba Thành Phần: Phần Cứng, Phần Mềm Và Sự Quản Lí Và
  • Lý Thuyết: Giới Thiệu Về Máy Tính Trang 19 Sgk Tin Học 10
  • Chương 2: Hệ Thống Thông Tin
  • (VOV5) – Hơn một thập kỷ qua, lực lượng gồm những người nguyên là lãnh đạo, tổ chức nhà nước, những chuyên gia giáo dục, những cán bộ chủ chốt ở cơ sở đã âm thầm lặng lẽ nhưng đầy nhiệt tâm, duy trì và đẩy mạnh các phong trào khuyến học, khuyến tài, vận động toàn dân từng bước xây dựng xã hội học tập. Đến nay, phong trào đã phát triển rộng khắp trên cả nước và đạt được kết quả thiết thực.

    Đến nay, sau 5 năm kể từ Đại hội thi đua và Đại hội biểu dương gia đình hiếu học và dòng họ khuyến học tiêu biểu lần thứ 2, cả nước hiện có hơn 5 triệu gia đình hiếu học và hơn 50.000 dòng họ khuyến học được chính quyền cấp giấy chứng nhận. Ngoài các dòng họ hiếu học, còn có hàng chục nghìn cụm dân cư khuyến học.

    Trong các phong trào khuyến học, khuyến tài đã xuất hiện nhiều địa phương, gia đình, dòng họ làm tốt công tác này. Tiêu biểu như gia đình ông Tạ Văn Sinh và bà Tô Thị Năm, người dân tộc Sán Dìu ở xã Tràn Lương, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Xã Tràng Lương là xã miền núi còn nhiều khó khăn, với 95% dân số là đồng bào người dân tộc Sán Dìu.

    Với quyết tâm đầu tư cho các con có được cái chữ, có tri thức xã hội để giúp đỡ bản làng, gia đình ông Sinh không quản mưu sinh, kiếm tiền và định hướng cho con cái được đến trường, đến lớp. Giờ đây, 10 người con của ông bà đã trưởng thành, có người là dược sỹ, bác sỹ, giáo viên, có người học thành Tiến sỹ, Giáo sư.

    Ông Tạ văn Sinh chia sẻ: “Nhiều lúc con cũng muốn đi học, nhưng hoàn cảnh khó khăn qua, túng thiếu quá nên không thể đóng góp được, do vậy các con cũng muốn xin nghỉ. Thế nhưng chúng tôi quyết tâm không cho con nghỉ học. Dù phải ăn cháo, ăn rau cũng phải cho con đi học đến nơi đến chốn”.

    Tại các kỳ Đại hội do Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức, trong số các gia đình về dự đa số lại là các gia đình nông dân, công nhân, viên chức, bộ đội, công an, nhà giáo, nhà khoa học. Ngay cả với bà con dân tộc từ miền núi phía Bắc đến các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, thì những gia đình hiếu học là nhân tố tích cực trong các cuộc vận động xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn dân cư, là hạt nhân của cuộc vận động toàn dân học tập tiến tới xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam.

    Ở nhiều địa phương, người dân đã nhận thức rõ phong trào khuyến học, khuyến tài không còn là việc riêng của mỗi gia đình, dòng họ mà thực sự trở thành việc chung của cộng đồng, các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể. Anh Nguyễn An Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, cho biết: “Chúng tôi thấy răng công tác khuyến học nếu được cả dòng họ đồng tâm hưởng ứng thì tác động của nó rất thiết thực, con cháu thường xuyên trau rồi học tập, trau rồi đạo đức. Chúng tôi có tôn chỉ đưa ra là phấn đấu học tập tốt hơn, tuyệt đối không được vi phạm pháp luật của Nhà nước. Đối với các bậc phụ huỳnh thì quan tâm đến con em nhiều hơn không những về học tập mà còn về nhân cách của các cháu nữa”.

    Xây dựng gia đình hiếu học về thực chất là phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, làm cho mỗi người dân thấy được tầm quan trọng của việc học hành, gắn học tập với chủ trương vận động nhân dân xóa đói giảm nghèo, phát triền ngành nghề, đẩy mạnh sản xuất.

    Là người con của núi rừng Tây Nguyên, ở gia đình anh Rô, mỗi thành viên trong nhà lại chọn cho mình 1 cách học khác nhau để lập thân, lập nghiệp. Khi Hội Khuyến học tỉnh Đắc Lắc mở các lớp dạy nghề, vợ chồng anh Rô là người đầu tiên đăng ký đi học: “Năm 2008, Trung tâm học tập cộng đồng mở lớp học dạy may, dạy máy. Nói chung cả thợ hồ nữa. Nhờ cái đó, gia điình tôi cũng tham gia học lớp cộng đồng. Vợ tôi tham gia học lớp may còn tôi tham gia học máy. Đến nay, vợ tôi mở cửa hàng may, còn tôi ban ngày đi làm, đêm về chạy xe thồ kiếm thêm tiền để nuôi con cái học hành. Con gái đầu của tôi năm nay đã tốt nghiệp Đại học rồi”.

    Mỗi địa phương một cách làm sáng tạo, mỗi dòng họ một hình thức khuyến học riêng, nhưng tất cả đều chung mục tiêu là nuôi dưỡng và phát huy tinh thần hiếu học của gia đình mình, dòng họ mình. Ông Nguyễn Mạnh Cầm, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam nhấn mạnh: “Thực hiện phong trào gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học là việc thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người mong muốn dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái, đất nước Việt Nam phát triển ngang bằng với các nước trên thế giới. Chúng ta xây dựng xã hội học tập để cho mọi người dân được học tập và học tập suốt đời”.

    Như một mạch ngầm, truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam không những được duy trì mà còn phát huy trong giai đoạn hiện nay. Những tấm gương hiếu học, dòng họ hiếu học, cộng đồng khuyến học xuất hiện ngày càng nhiều là nguồn lực để xây dựng đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế./.

    Thu Hằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • ( Li_2K5) Viết Bài Văn Nghị Luận Về Truyền Thống Hiếu Học Đạt Được Nhiều Giải Cao Trong Các Kì Thi, Đặc Biệt Là Kì Thi Quốc Tế. Từ Đó Liên Hệ Đến Bản Thân (Dàn
  • Về Tính Hiếu Học Của Người Việt Xưa Và Nay
  • Truyền Thống Hiếu Học Của Dân Tộc Việt Nam
  • Có Phải Là Tính Hiếu Học?
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Là Gì?
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tin Học 10 Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Lý Thuyết: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Bài 10: Khái Niệm Về Hệ Điều Hành
  • Nắm bắt khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam giúp bạn hiểu rõ hơn về hệ thống chính trị Việt Nam và có được cái nhìn khách quan hơn về thể chế chính trị của đất nước ta thông qua từng giai đoạn.

    Trước 1986 Đảng ta chưa sử dụng khái niệm hệ thống chính trị mà chỉ sử dụng khái niệm hệ thống Vô Sản, mãi về sau khái niệm hệ thống chính chính trị mới ra đời và được hiểu theo một số nghĩa sau:

    Theo nghĩa rộng: hệ thống chính trị là toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là 1 hệ thống bao gồm: các tổ chức, các chủ thể chính trị, các cơ quan chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực pháp luật

    Theo nghĩa hẹp: hệ thống chính trị là các tổ chức, các cơ quan thực hiện chức năng chính trị trong XH như: Các Đảng chính trị, các cơ quan, nhà nước, các tổ chức chính trị XH có cơ quan trực tiếp hay gián tiếp tới quyền chính trị.

    Hệ thống chính trị ở VIỆT NAM hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nc, Mật trận tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị – xã hội (Tông Liên đoàn Lao Động VIỆT NAM, Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ VIỆT NAM, Hội Cựu chiến binh VIỆT NAM, Hội Nông Dân VIỆT NAM) và mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống. Dưới sự lãnh đạo của nhần thực hiện quyền lợi chính trị của nhân dân XÃ HỘI CHỦ NGHĨA và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh XH công bằng, dân chủ văn minh.

    Hệ thống chính trị Việt Nam được tạo nên từ rất nhiều thành tố

    Hệ thống chính trị Việt Nam đã bộc lộ những ưu điểm tuyệt vời trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đỉnh cao là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau năm 1975, hòa bình lập lại, chúng ta đang bước đi trên con đường đổi mới với những yêu cầu cao hơn, bức thiết hơn của nền kinh tế thị trường. Vậy thực trạng của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay ra sao? Hệ thống chính trị của chúng ta đã hoàn thiện chưa hay vẫn cần đổi mới?

    Việc nắm rõ khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam giúp bạn có được cái nhìn cận cảnh, rõ ràng và chính xác hơn về thể chế chính trị của đất nước, tránh suy nghĩ và có cái nhìn lệch lạc về vấn đề. Bên cạnh đó, việc nắm rõ khái niệm cũng giúp cho bạn có được hướng nghiên cứu và tìm hiểu chính xác hơn về hệ thống chính trị Việt Nam. Từ đó có thể thấy việc được việc nắm rõ khái niệm của mọi vấn đề là vô cùng quan trọng khi tìm hiểu về mọi vấn đề ngay cả chính trị. Tuy nhiên hiện nay khái niệm về hệ thống chính trị vẫn chưa có sự đồng nhất nhất định và xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau do đó việc chọn lọc thông tin chính thống là điều vô cùng quan trọng mà tất cả chúng ta cần lưu ý.

    Khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam giúp bạn hiểu rõ hơn về hệ thống chính trị ở Việt Nam

    Sachchinhtritaichinh.com nơi cung cấp những kiến thức nền tảng về chính trị cho bạn đọc

    Nếu việc tìm hiểu về khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam khiến bạn gặp nhiều khó khăn thì các bạn vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ cung cấp sách chính trị chính thống với mức giá tốt nhất. Là một trong những địa chỉ chuyên cung cấp các đầu sách hay về chính trị chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho các bạn những thông tin cực kỳ hữu ích về hệ thống chính trị Việt Nam cũng như giúp bạn có được cái nhìn khách quan hơn thể chế chính trị tại Việt Nam. Quan trọng hơn, chúng tôi cam kết cung cấp sách chính trị chất lượng với mức giá cực kỳ ưu đãi đảm bảo giải quyết cơn khát kiến thức dành cho mọi đọc giả.

    Sách chính trị tài chính là kho thông tin vô giá cho bạn đọc

    Sách giúp bạn nắm bắt được thông tin hiệu quả hơn

    SÁCH CHÍNH TRỊ TÀI CHÍNH

    + Liên tục cập nhật nhiều đầu sách hay về lĩnh vực chính trị tài chính có chất lượng nội dung luôn đúng và chính xác với mức giá rẻ hơn thị trường từ 20 – 30%.

    + Miễn phí giao hàng với đơn hàng 250K trở lên (đối với khách hàng ở tỉnh), miễn phí ship vận chuyển nội thành HCM (bất kì đơn giá nào – không phụ thuộc có hóa đơn VAT hay không).

    + Sản phẩm bán ra có đầy đủ hóa đơn VAT, có thể chiết khấu trên hoặc ngoài hóa đơn (tùy khách hàng lựa chọn).

    + Hỗ trợ đổi trả miễn phí hoặc hoàn tiền 100% nếu chất lượng sách không đạt yêu cầu như: sai lệch về nội dung, chất lượng sách in không rõ ràng, giấy mỏng, không đúng chuẩn ISO… trong 1 tháng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Hệ Thống Chính Trị Là Gì ? Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị ?
  • Giáo Dục Thể Chất Là Gì
  • Khái Niệm Giáo Dục Thể Chất
  • Ngành Giáo Dục Thể Chất Ra Làm Gì? Bạn Đã Biết Chưa?
  • Khái Niệm: Văn Hóa Cổ Truyền, Văn Hóa Truyền Thống, Và Truyền Thống Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Xã Hội Monhocqlyxahoi Ppt
  • Công Tác Xã Hội Với Người Khuyết Tật
  • Công Tác Xã Hội Với Người Cao Tuổi
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • VĂN HÓA CỔ TRUYỀN, VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

    VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA

    GS. Nguyễn Xuân Kính

    (Viện văn hóa dân gian)

    Trong bài này, chúng tôi xin giới thiệu cách hiểu của giới nghiên cứu về ba khái niệm:

    văn hoá cổ truyền, văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá.

    I. Văn hoá cổ truyền

    Thời gian qua, nhiều nhà khoa học dùng từ cổ truyền (trong các khái niệm: văn học dân gian cổ

    truyền, văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hoá dân gian cổ truyền, văn hoá cổ truyền) với ý nghĩa

    chỉ thời gian, trong tương quan so sánh với từ hiện đại (trong các khái niệm: văn học dân gian

    hiện đại, văn nghệ dân gian hiện đại, văn hoá dân gian hiện đại và văn hoá hiện đại). Trong cách

    dùng này, cổ truyền là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám (1945)

    trở về trước, hiện đại là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu hành sau Cách mạng tháng Tám

    (1945).

    Trong hai tập Văn học dân gian do GS. Đinh Gia Khánh chủ biên, viết cùng PGS. Chu Xuân

    Diên, xuất bản lần đầu: 1972 (tập I), 1973 (tập II), không ít lần GS. Đinh Gia Khánh sử dụng hai

    từ cổ truyền và hiện đại với cách hiểu vừa nêu:

    + “Những thành tựu đạt được trong việc nghiên cứu văn nghệ dân gian cổ truyền khiến cho nhận

    thức của chúng ta về sự phong phú của nền văn nghệ ấy ngày càng rõ ràng và đầy đủ hơn” (tập

    II, tr. 433, chỗ in nghiêng là do N.X.K nhấn mạnh).

    + “Tóm lại, đối với vốn văn nghệ dân gian cổ truyền mà bộ phận quan trọng là văn học dân gian

    của văn hoá phương Tây tác động quan trọng đến một số lĩnh vực, tuy gốc dân tộc vẫn tồn tại.

    Như vậy khoảng thời gian kéo dài từ thiên niên kỉ thứ I trước Công nguyên cho đến cuối thế kỉ

    XIX, đầu thế kỉ XX” .

    GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Tiến trình văn hoá Việt Nam có thể chia thành 6 giai

    đoạn: văn hoá thời tiền sử, văn hoá Văn Lang – Âu Lạc, văn hoá thời chống Bắc thuộc, văn hoá

    Đại Việt, văn hoá Đại Nam và văn hoá hiện đại” . Tác giả cũng dùng

    khái niện văn hoá cổ truyền; qua cách trình bày của ông, người đọc có thể hiểu: từ văn hoá Đại

    Nam trở về trước là văn hoá cổ truyền .

    II. Văn hoá truyền thống

    Bên cạnh các tính từ cổ truyền và hiện đại trong các khái niệm văn hoá cổ truyền, văn hoá hiện

    đại nói trên, còn có các tính từ truyền thống và hiện đại trong các khái niệm: xã hội truyền thống,

    văn hoá truyền thống, xã hội hiện đại, văn hoá hiện đại.

    Khi nói văn hoá truyền thống và văn hoá hiện đại, các nhà chuyên môn không quan tâm đến việc

    phân biệt về thời gian mà chú ý phân biệt về hai phương thức sinh tồn xã hội dựa trên hai mô hình

    tổ chức. Họ đã phân biệt hai loại hình xã hội khác nhau về phương thức sinh tồn xã hội như là sự

    phân biệt của hai loại tập hợp con người và xã hội: một loại tập hợp mang tính chất cộng đồng

    và một tập hợp không mang tính chất cộng đồng. Loại thứ nhất được tổ chức nên bởi các đơn vị

    cộng đồng và loại thứ hai được tổ chức nên bởi các đơn vị tập đoàn. Sự phân biệt cơ bản giữa hai

    loại tập hợp xã hội đó là: các tập hợp có tính chất cộng đồng dựa trên tính trội của truyền thống,

    còn các tập hợp không có tính chất cộng đồng thì dựa trên tính trội của sự suy lí. Cộng đồng là đơn

    vị xã hội truyền thống, còn tập đoàn là đơn vị xã hội duy lí, hiện đại.

    Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã giới thiệu quan niệm trên do học giả Pháp Giăng Poariê

    (Jean Poirier) đề xuất năm 1968 , in sai: “xã hội Việt Nam thời Đại Việt (xã hội của người

    Việt) thuộc loại thứ ba (các xã hội truyền thống chủ nghĩa có chữ viết)”.

    (4) Trong báo cáo “Làm thế nào để duy trì văn hoá dân gian trong dạng sống động – trường hợp

    của Việt Nam”, trình bày tại Hội thảo quốc tế Giá trị và tính đa dạng của folklore châu á trong quá

    trình hội nhập do Viện Nghiên cứu văn hoá và Hội Folklore châu á tổ chức tại Hà Nội, tháng 9

    năm 2005, GS. TSKH. Tô Ngọc Thanh dùng thuật ngữ văn hoá cổ truyền. Trong cách hiểu của

    tác giả, có nhiều nội dung văn hoá cổ truyền giống với nội dung của văn hoá truyền thống. (Xin

    xem Nguồn sáng dân gian, Hà Nội, 2005, số 4, tr. 3 – 5, 43).

    (5) ở vùng kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), ở miền Bắc (1955 – 1975),

    ở cả nước (sau 30/4/1975) có sự định hướng của nhà nước ta đối với văn hoá, văn nghệ.

    Tài liệu trích dẫn

    1. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, tái bản, Nxb. Văn hoá dân

    tộc, Hà Nội.

    2. Chu Xuân Diên (2004), “Về khái niệm văn hoá dân tộc và nền văn hoá hiện đại mang bản sắc

    dân tộc”, in trong tập sách của cùng tác giả: Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam,

    Nxb. Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí

    Minh.

    4. Hữu Ngọc chủ biên (1995), Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

    5. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, in lần thứ ba, có sửa chữa và bổ

    sung, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.

    6. Ngô Đức Thịnh (2005), “Một cách tiếp cận về lịch sử văn hoá Việt Nam”, Văn hoá dân gian, Hà

    Nội, số 2.

    7. Trần Quốc Vượng chủ biên (1997), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp (Csr) Là Gì ? Phân Tích Về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp
  • Xã Hội Truyền Thống: Định Nghĩa. Đặc Điểm Của Một Xã Hội Truyền Thống
  • “xã Hội Thông Tin” Trông Ra Sao?
  • Bài 1: Các Khái Niệm Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Khái Niệm Và Các Loại Kiểm Soát Xã Hội
  • Truyền Thống Hiếu Học Của Dân Tộc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Tính Hiếu Học Của Người Việt Xưa Và Nay
  • ( Li_2K5) Viết Bài Văn Nghị Luận Về Truyền Thống Hiếu Học Đạt Được Nhiều Giải Cao Trong Các Kì Thi, Đặc Biệt Là Kì Thi Quốc Tế. Từ Đó Liên Hệ Đến Bản Thân (Dàn
  • Truyền Thống Hiếu Học Của Người Việt Nam
  • Thế Nào Là Hiếu Học, Hiếu Thảo?
  • Tin Học 10 Bài 3: Giới Thiệu Về Máy Vi Tính
  • TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA DÂN TỘC VIỆT

    1- Chữ Hiếu trong đời sống người Việt Nam

    Thời phong kiến, ảnh hưởng tinh hoa của nền giáo dục Nho học người Việt Nam hiểu và ứng dụng Nhân- Nghĩ-Lễ-Trí-Tín trong đời sống, góp phần xây dựng đất nước thịnh vượng. Tiêu biểu là nước Đại Việt thời Lý Trần.

    Bên cạnh đó, chữ Hiếu là đức tính đặc biệt, trở thành bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam ta. Chúng ta thường nghe ông bà cha mẹ khuyên nhủ, làm con cháu phải có hiếu với ông bà, cha mẹ. Ngày nay, làm cán bộ phải trung với Đảng hiếu với dân. Chữ hiếu đối với người VN rất thiêng liêng, biểu hiện đạo lý làm người.

    Trong học tập, người Việt Nam có khái niệm hiếu học. Vậy hiếu học là gì ? Chữ hiếu trong học tập có khác và giống chữ hiếu đối với ông bà cha mẹ?

    – Khác : Thái độ của người học đối với sự học. Học phải có phương pháp, phải có đức tính : Kiên trì, khắc phục hòan cảnh khó khăn, sáng tạo, cầu học để cầu tiến, có mục đích học tập đúng đắn, giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ.

    – Giống : Xem sự học là trách nhiệm, có tính chất thiêng liêng biểu hiện đạo lý làm người. Từ đó tôn trọng người có tài có đức như kính trọng ông cha mình. Người Việt Nam lo xây mộ phần cho ông bà, cha mẹ, thì cũng xây lăng cho các bậc hiền tài, tôn vinh là nguyên khí quốc gia. Văn Miếu được xây dựng đời nhà Lê (TK XV), khắc tên những người đỗ TS đã chứng minh cho sự giống nhau này.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh của tinh hoa văn hóa VN. Sau khi thành lập nước VNDCCH, ông gởi thông báo đến địa phương trên tòan quốc, yêu cầu giới thiệu cho chính phủ biết hiền tài đang ở địa phương mình, để chính phủ trong dụng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sự đóng góp của lực lượng trí thức yêu nước, là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của cách mạng VN. Bác Hồ khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu “. Sau khi giành độc lập, mặc dầu phải tập trung giải quyết nhiều khó khăn bởi giặc ngoại xâm, giặc đói, Bác xem dốt cũng là một thứ giặc nguy hiểm, nên đã chủ trương cho tòan Đảng, tòan dân phải chống ba thứ giặc cùng một lúc.

    2- Tấm gương hiếu học trong lịch sử.

    Tìm hiểu lịch sử giáo dục VN, chúng ta dễ dàng nhận biết dân tộc VN mình có truyền thống hiếu học từ lâu đời.

    Thời ngàn năm Bắc thuộc, ông cha chúng ta vừa kiên trì chống đô hộ PK phương Bắc, vừa khắc phục khó khăn để tiếp thu tinh hoa VH của nhân dân TQ. Nhờ đó, tuy trong tình bị đô hộ, bị kìm hãm và đồng hóa, nhưng không bị lạc hậu bởi chính sách cai trị bóc lột và ngu dân của các thế lực PK phương Bắc. Nhờ sự hiểu biết, và quyết tâm giành lại chủ quyền, ý thức gìn giữ VH dân tộc, nên dân tộc ta không bị mất đứt chủ quyền trong thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc.

    Hai Bà Trưng từng gìanh lại chủ quyền, được nhân dân tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh vào năm 40-43. Lí Bi lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa đuổi quân Lương, lập nước Vạn Xuân thơì tiền Lý (544-602), kéo dài 58 năm. Mai Hắc Đế khởi nghĩa đuổi nhà Đường ra khỏi nước ta, chiếm lại thành Tống Bình (Hà Nội), giành lại chủ quyền. Chiến thắng trận Bạch Đằng năm 938, kết thúc thời Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập chủ quyền của dân tộc ta.

    Đến thời nhà Lý, ý thức được giá trị của tri thức, vua Lý Nhân Tông cho xây QTG năm 1076, (được xem là trường đại học đầu tiên) để đào tạo nhân tài cho đất nước. Từ đó về sau nền giáo dục, ngày càng được kiện tòan và phát triển. Tuy nhiên cũng có thời kỳ bị khủng hoàng và suy thóai. Vì sự biến động của đất nước, vì chiến tranh xâm lược và khủng hỏang KT-CT.

    Gương hiếu học, để lại nhiều hiền nhân, được thế giới đương thời thán phục. Mạc Đỉnh Chi được xem là lưỡng quốc trạng nguyên, trạng trình Nguyễn Bĩnh Khiêm được TQ thán phục là nhà thông thái ( An Nam lý số hữu trình tuyền), nhà mưu lược Nguyễn Trãi, nhà bác học Lê Quí Đôn…

    Truyền thống hiếu học, hình thành đức tính cầu học, cầu tiến. Sẵn sàng tiếp thu cái mới, cái tiến bộ từ bên ngòai. Từ đó hình thành tinh thần ” Tôn sư trọng đạo”, “không thầy đố mày làm nên”, “Muốn sang thì bắc cầu kiều…”…

    Khi lịch sử diễn ra cuộc tiếp xúc Đông-Tây, rất tiếc các thế lực PK bào thủ, chủ trương đóng cửa với bên ngoài, cùng với chiến tranh xâm lược làm cho sự học của dân mình bị chựng lại trong một thời gian dài. Chúng ta khâm phục trong hòan cảnh ấy, cũng có nhiều hiền tài xuất hiện, sẵn sàng tiếp thu sự tiến bộ, kêu gọi cải cách đất nước như :

    Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh …Đặc biệt Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng và phát triển giáo dục, ngay trong chiến khu, thời kháng Pháp.

    Thời thực dân phong kiến, Nguyễn Mạnh Tường trong 02 năm, đỗ 02 bằng TS bên nước Pháp, tới nay kỷ lục này chưa ai vượt qua. Thời kháng chiến chống Mỹ, kỹ sư Trần Đại Nghĩa cải tiến vũ khí do Liên Xô viện trợ, bắn rơi máy bay B52 của Mỹ, gây ngỡ ngàng thán phục cho hai cường quốc Xô-Mỹ. Mới đây GS Ngô Bảo Châu đạt Huy chương Fields về Toán học, làm rạng danh (tương đương giải Nobel) truyền thống hiếu học Việt Nam.

    3- Hiếu học trong thời đại ngày nay.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc ra đi, Người đã căn dặn mang tính khẳng định rằng : Nước Việt Nam mình có sánh vai được cùng các cường quốc năm châu hay không, là nhờ phần lớn công lao học tập của các em.

    Trong công cuộc Đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta xác định GD là quốc sách hàng đầu. Chính phủ ngày càng chú trọng đầu tư phát triển GD. Đề án phát triển GD của VN từ đây tới năm 2021 sẽ đào tạo 20.000 TS có trình độ ngang tầm quốc. Để khắc phục tình trạng chảy máu chất xám, nhân tài ngày càng được trọng dụng. Đó là cơ hội cho người hiếu học và ham học. Phong trào đổi mới PPDH đang tích cực ứng dụng , để nền GD của chúng hội nhập ngang tầm sự phát triển của thế giới.

    Thực tế cho thấy, những người có thành tích học tập tốt và xuất sắc, là nhờ phát huy được truyền thống hiếu học. Danh sách HS đỗ thủ khoa vào đại học năm 2012, chủ yếu là những HS có hòan cảnh khó khăn, nhưng biết vuợt khó, có ý chí tự học, có phương pháp học tập đung đắn, chọn nghề phù hợp với năng khiếu và khả năng hòan cảnh của mình.

    – Lê Thanh Hòang ở Quảng Nam, từ THCS vừa chăn bò vừa học, đỗ 2 trường đại học. ĐHBK tp HCM 27đ, ĐH YD tp HCM 29đ.

    – Đinh Văn Đệ ở vùng cao tỉnh Quảng Ngãi mồ côi cha lúc 9 tuổi, mồ côi mẹ lúc 13 tuổi, 16 tuổi nuôi đứa cháu 3 tuổi do người chị bỏ chồng và bỏ nhà ra đi . Vừa học, vừa làm thuê, đỗ thủ khoa SP Ngữ văn ĐH Phạm Văn Đồng.

    – Nguyễn Thị Tuyết ở vùng cao Thanh Hóa, sống nghèo, mẹ góa con côi đỗ thủ khoa ĐH công đòan.

    Trường chuyên của mình, cũng có nhiều học sinh đỗ đạt. Đỗ thủ khoa ĐH YD tp HCM, ngày càng có nhiều người đi du học lấy bằng TS nước ngòai. Trong lực lượng GV, nhờ sự giúp đỡ và động viên của BGH, thầy cô đã dành thời gian nghiên cứu kết hợp với giảng dạy, khắc phục khó khăn, theo học chương trình sau ĐH để đáp ứng yêu cầu học tập của HS mình ngày càng nhiều.

    Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học công nghệ, tri thức càng đóng vai trò quyết định về đời sống đặc biệt về chất lượng sống của con người. Chúng ta học ở trường, ở nhà, ở ngòai xã hội…Học chữ kết hợp với học làm người, lập nghiệp kết hợp với lập thân.

    Chúng ta đang sống và làm việc trong hòan cảnh có nhiều thuận lợi hơn thế hệ trước. Nền giáo dục đang được quan tâm từ nhiều phía. Nhưng bên cạnh đó, cũng còn nhiều thử thách. Xã hội đang cần BS giỏi để tri bệnh cứu người. Cần kiến trúc sư, kỹ sư giỏi để xây dựng cho đất nước những công trình hiện đại, đạt chất lượng và thẩm mỹ, dân mình có chỗ ở khang trang. Cần các nhà quản lý giỏi, để nền kinh tế đất nước được vận hành theo chiều hướng tiến bộ và hiệu quả cùng nền kinh tế thế giới. Cần GV giỏi để đào tạo nguồn nhân lực cao cho đất nước. Nếu là người hiếu học, chính các em là những người ấy.

    Tóm lại, từ thời lập quốc, vua Hùng và dân mình xây dựng kinh đô nước Văn Lang ở Phú Thọ, thành Cổ Loa thuộc Hà Nội ngày nay một công trình kiến trúc độc đáo thời cổ, đã chứng minh cho trí tuệ Việt Nam.

    Trên nền tảng của triết lý : “Duy tuệ thị nghiệp”, các dân tộc phương Đông thời xưa có được nhiều thành tựu văn minh rực rỡ. Với triết lý “Tôi tư duy tôi tồn tại”, người phương Tây vươn lên nhanh chóng. Nhờ óc sáng tạo, họ có nhiều phát minh khoa học kỹ thuật trở thành các cường quốc trên thế giới.

    Được học tập ở trường THPT chuyên, các bạn đã chứng minh được tinh thần hiếu học của mình với mọi người. Cần chú ý, “sự học như con thuyền ngược nước không tiến ắt lùi”. Sự học như một quá trình phải leo dốc để tới đỉnh vinh quang, không nên dừng lại, hay tụt dốc.

    Giữ được tinh thần hiếu học, là chúng ta thể hiện chữ hiếu với cha mẹ, giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam, đó cũng là đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam mình. Là sự góp phần làm rạng danh truyền thống hiếu học của dân tộc và nhà trường.

    Các em nào còn chểnh mảng trong học tập, hãy cố lên cho tương lai tươi sáng. Nếu sự học của chúng ta không có hiệu quả, thì dòng đời của cha mẹ mình là những nước mắt chảy buồn bã thâu đêm. Người xưa nói : “Con hơn cha là nhà có phúc, trò hơn thầy đất nước tiến nhanh”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Phải Là Tính Hiếu Học?
  • Soạn Bài Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Thay Đổi Định Nghĩa Về Học Giỏi
  • Cơ Sở Lý Luận Của Quản Lý Hoạt Động Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi
  • Phụ Huynh Cần Hiểu Đúng Khái Niệm Học Sinh Giỏi
  • Ngày Gia Đình Việt Nam Kỷ Niệm Lần Thứ 20

    --- Bài mới hơn ---

  • Sao Việt Định Nghĩa Về Tổ Ấm Nhân Ngày Gia Đình Việt Nam
  • Chiến Dịch Khác Biệt Định Nghĩa Về Gia Đình: Fami “nhà Là Nơi”
  • Suy Ngẫm Với Những Định Nghĩa Về Gia Đình Của Giới Trẻ Thời Nay
  • Xem Người Trung Quốc, Châu Âu Và Mỹ Định Nghĩa Về Tiền Bạc Và Gia Đình
  • Mot So Dinh Nghia Ve Giai Cap Cong
  • Ngày Gia đình Việt Nam 28/6/2020 rơi vào Chủ Nhật nên càng có ý nghĩa gợi nhắc và gắn kết hơn đối với các thành viên trong một nhà.

    Ngày Gia đình Việt Nam 28/6

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình”.

    Nhận định tầm quan trọng của gia đình và thực hiện di huấn của Bác, ngày 28/6/2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 55- CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng của cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

    Tiếp đó, ngày 4/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg về Ngày gia đình Việt Nam.

    Quyết định nêu rõ, lấy ngày 28/6 hàng năm là ngày Gia đình Việt Nam, nhằm đề cao trách nhiệm lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Sau 20 năm Ngày gia đình Việt Nam ra đời, đây đã trở thành dịp để mỗi người con hướng về cội nguồn, về người thân, nuôi dưỡng những tình cảm, giá trị văn hóa cao quý của dân tộc. Dù có đi đâu, làm gì đi chăng nữa, cũng luôn hướng về gia đình, nhớ đến gia đình với những gì tốt đẹp nhất.

    Ngoài ra, đây cũng là dịp để chúng ta cùng nhau chung tay chống lại bạo lực gia đình, bất bình đẳng trong hôn nhân, lên án xâm hại trẻ em và đề cao những hành động đẹp của các thành viên trong gia đình.

    Hưởng ứng Ngày Gia đình Việt Nam năm 2021, nhiều tỉnh thành trên cả nước từ đầu tháng 6 đã có những hoạt động thiết thực như tuyên truyền xây dựng gia đình văn hóa, phòng chống bạo lực gia đình, bảo vệ trẻ em.

    Công tác tuyên truyền được thực hiện thông qua các hình thức như truyền thông trên phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông theo nhóm, các hoạt động giao lưu, hội thi về phòng, chống bạo lực gia đỉnh; trình diễn văn nghệ, thời trang; vẽ tranh, thi thể thao gia đình…./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Thế Nào Là Hạnh Phúc
  • Văn Bản Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Quan Hệ Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Là Gì ? Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình ?
  • Gd Hn: Định Nghĩa Kinh Tế Học Dinh Nghia Kinh Te Hoc Doc
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Khái Niệm Gia Đình Và Hộ Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫu Viết Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Unit 1 Lớp 11 Communication ” Communication & Culture ” Unit 1
  • Unit 1: Communication And Culture (Trang 15 Sgk Tiếng Anh 11 Mới)
  • Gây Chú Ý Với Bài Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Cực Kỳ Thú Vị
  • Định Nghĩa Vui Về Hai Chữ Gia Đình
  • 1. Khái niệm gia đình và hộ gia đình

    Gia đình: là một nhóm người mà các thành viên của nó liên kết với nhau bằng các mối quan hệ đặc biệt: quan hệ hôn nhân (giữa vợ và chồng); quan hệ huyết thống (giữa cha mẹ và các con, giữa ông bà và các cháu, giữa các anh chị em); hoặc quan hệ nhận con nuôi.

    Gia đình có nhiều loại hình khác nhau. Căn cứ vào số các thế hệ cùng chung sống với nhau, có gia đình vợ chồng (một thế hệ), gia đình hạt nhân (hai thế hệ là cha mẹ và con), gia đình mở rộng (từ ba thế hệ trở lên là ông bà – cha mẹ – con – cháu). Căn cứ vào sự thiếu hay đủ cha mẹ, có gia đình đầy đủ (có cả cha lẫn mẹ) và gia đình không đầy đủ (gia đình chỉ có cha hoặc mẹ, vì nhiều lý do khác nhau). Căn cứ vào số con sinh ra, có gia đình nhỏ (có 1-2 con) và gia đình lớn (có 3-4 con trở lên).

    Hộ: là một nhóm người ở chung một mái nhà, có quỹ thu chi chung. Hộ có thể gồm những người có quan hệ ruột thịt, họ hàng hoặc bạn bè quen biết đến ở trọ (có thể cùng làm ăn, học tập với các thành viên trong gia đình). Ở Việt Nam hiện nay, một gia đình cũng trùng hợp với hộ trong đại đa số các trường hợp.

    Mỗi hộ có sổ đăng ký hộ khẩu ghi rõ số nhân khẩu, chủ hộ và quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ. Đây là tài liệu có tính pháp lý để chính quyền địa phương có thể quản lý các hộ.

    Chu kỳ cuộc sống gia đình: là khái niệm đặc trưng cho những biến đổi diễn ra trong gia đình từ khi hình thành cho đến khi tan rã. Chu kỳ cuộc sống gia đình có thể được chia thành sáu giai đoạn cơ bản, bắt đầu bằng việc kết hôn (hoặc chung sống như vợ chồng) của một đôi nam nữ và kết thúc khi người bạn đời sau cùng qua đời và con cái không còn ai sống chung trong gia đình. Cụ thể là:

    1) Giai đoạn son rỗi đầu tiên (chưa có con): Từ khi kết hôn (hoặc chung sống) đến trước khi sinh đứa con thứ nhất.

    2) Giai đoạn mở rộng bắt đầu từ khi sinh đứa con thứ nhất đến khi sinh đứa con cuối cùng.

    3) Giai đoạn trung gian: từ khi sinh đứa con cuối cùng đến khi đứa con đầu tiên rời khỏi gia đình (hay đi lấy chồng/vợ).

    4) Giai đoạn rời gia đình: Từ khi đứa con đầu tiên rời khỏi gia đình đến khi đứa con cuối cùng ra đi. Thông thường, thời điểm kết hôn của con cái được xem là thời điểm rời gia đình của họ/ hoặc thời điểm đánh dấu sự độc lập, không còn sống chung với cha mẹ của con cái đã trưởng thành.

    5) Giai đoạn sau khi hoàn thành chức năng của người làm cha làm mẹ: khi đứa con cuối cùng rời khỏi gia đình (hay kết hôn).

    6) Giai đoạn goá bụa và tan rã: khi người bạn đời đầu tiên qua đời cho đến khi người còn lại cũng ra đi.

    Sự phân chia chu trình cuộc sống gia đình thành các giai đoạn có ý nghĩa lớn trên khía cạnh nhân khẩu học và xã hội học vì nó gắn liền với chức năng quan trọng nhất của gia đình-chức năng tái tạo con người.

    2. Quy mô và cơ cấu gia đình

    2.1. Quy mô hộ gia đình

    Quy mô gia đình là số thành viên của gia đình. Quy mô gia đình phụ thuộc chủ yếu vào mức sinh và mô hình chung sống.

    Mức sinh hay số lượng con cái trong gia đình phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: kinh tế-xã hội và tâm lý-xã hội. Ở các nước công nghiệp, tỷ lệ sinh thấp vẫn tiếp tục giảm đến mức thay thế và dưới mức đó. Một số nước khác, đặc biệt là châu Mỹ La-tinh và Đông Á, quá trình giảm sinh đã và đang diễn ra nhanh chóng trong những năm gần đây. Một trong những kết quả của việc giảm sinh là sự thu nhỏ quy mô gia đình.

    Bên cạnh xu hướng giảm quy mô hộ gia đình, trên thế giới, đặc biệt là ở châu Phi và một số nước Tây và Nam Á, quy mô hộ gia đình lại tăng lên. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do mức sinh vẫn còn cao, tỷ lệ tử vong của trẻ em giảm xuống và truyền thống cha mẹ sống chung với con cái trưởng thành đã lập gia đình vẫn tiếp tục được duy trì ở các nước này.

    Bảng 6.3: Tỷ trọng hộ gia đình theo số người trong hộ và quy mô hộ trung bình chia theo thành thị – nông thôn và các vùng kinh tế, năm 2009

    Đơn vị: %

    Nguồn: Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu. Tổng cục Thống kê, Hà Nội, tháng 6 năm 2010: trang 32.

    Hiện nay, ở nhiều nước châu Âu, châu Mỹ quy mô hộ gia đình trung bình dao động từ 2,2 đến 3 người, còn ở Việt Nam là 3,8 người theo số liệu Tổng điều tra Dân số năm 2009. Tuy nhiên so với trước đây, quy mô gia đình có xu hướng giảm. Nguyên nhân của hiện tượng này là xu hướng sinh ít con và hạt nhân hoá gia đình phát triển mạnh mẽ ở cả đô thị lẫn nông thôn.

    Bảng 6.4: Quy mô hộ gia đình giai đoạn 1979-1999

    Nguồn: Tờ tin “vấn dề dân số hôm nay”, số 2, 1999, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội Việt nam.Tạp chí Dân số và phát triển, số 7/2001, trang 31.

    2.2. Cơ cấu gia đình

    Cơ cấu gia đình là sự phân chia gia đình theo những tiêu thức nhất định. Hai tiêu thức phổ biến nhất được sử dụng là hình thức tổ chức và sự thiếu vắng của bố hoặc mẹ trong gia đình. Ngoài ra, gia đình còn được phân chia theo những tiêu thức khác như: quy mô hộ, loại hình hoạt động kinh tế-xã hội, theo hoàn cảnh kinh tế…

    + Theo hình thức tổ chức: gia đình được chia thành gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng.

    Gia đình hạt nhân là gia đình gồm một cặp vợ chồng bố mẹ và có (hoặc không có) những đứa con chưa kết hôn. Cơ sở để phân loại gia đình hạt nhân là cùng thế hệ hoặc hai thế hệ liền nhau.

    Gia đình mở rộng là gia đình mà cơ cấu của nó bao gồm một số nhóm gia đình hạt nhân. Có thể gọi gia đình mở rộng là gia đình cùng dòng máugia đình kết hợp.

    Loại hình gia đình cùng dòng máu là sự kết hợp của một nhóm các gia đình hạt nhân có quan hệ dòng máu hoặc bắt nguồn từ cùng một ông tổ với nhiều thế hệ trong một đơn vị gia đình. Trong gia đình mở rộng loại này, những quan hệ dòng máu như cha mẹ-con cái, anh-em được nhấn mạnh. Loại gia đình kết hợp bao gồm những gia đình hạt nhân của anh em trai có những đặc điểm như ở chung, có ngân sách chung và làm chung, nơi ở và có họ về cả hai bên nội, ngoại. Gia đình kết hợp nhấn mạnh đến tình đoàn kết anh em.

    Một biến thái của gia đình mở rộng là gia đình gốc mở rộng. Gia đình gốc mở rộng bao gồm những thế hệ kế nhau: bố mẹ sống chung với gia đình của con trai. Loại gia đình này là phương thức phổ biến để duy trì tài sản của gia đình. Người con trai sống cùng bố mẹ sẽ được thừa kế tài sản. Những người con trai khác được chia một phần tài sản hoặc đất đai.

    + Theo sự thiếu vắng của bố hoặc mẹ : gia đình được chia thành gia đình đầy đủ và gia đình không đầy đủ (gia đình khuyết thiếu).

    Gia đình đầy đủ là gia đình gồm cả vợ chồng cùng con cái và những người thân khác. Tuy nhiên, loại gia đình này trên thực tế gồm hai kiểu: gia đình đoàn tụ và gia đình phân ly (vợ chồng làm việc xa nhau chứ không phải ly thân).

    Gia đình không đầy đủ là gia đình chỉ có bố hoặc mẹ cùng con cái và những người thân khác do goá, ly hôn, ly thân, không chồng mà có con. Do ảnh hưởng của chiến tranh cũng như sự tồn tại của một số phong tục tập quán truyền thống trong hôn nhân gia đình mà hiện nay ở Việt Nam, loại gia đình khuyết thiếu phổ biến nhất là gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng.

    + Theo quy mô hộ, gia đình cũng được phân chia thành các nhóm hộ với quy mô khác nhau, chẳng hạn gia đình quy mô lớn, gia đình quy mô nhỏ. Ở Việt Nam, hiện nay, có thể coi gia đình hạt nhân có từ 1 đến 2 con là gia đình quy mô nhỏ, gia đình hạt nhân có từ 4 con trở lên và gia đình mở rộng thường được coi là gia đình quy mô lớn.

    + Theo các loại hình hoạt động kinh tế xã hội: gia đình được phân thành gia đình công nhân, gia đình trí thức, gia đình nông dân

    + Theo hoàn cảnh kinh tế: gia đình được phân thành các hộ gia đình giàu và hộ gia đình nghèo. Theo chuẩn nghèo của thế giới, những hộ có thu nhập dưới 1 USD/người/ngày hoặc lượng calo cung cấp cho cơ thể thấp hơn mức 2.100 calo/ngày/người thuộc diện đói nghèo. Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và đời sống dân cư hiện nay, người ta xác định đói nghèo theo các tiêu chí chính sau đây: thu nhập, nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn tích luỹ. Trong bốn tiêu chí trên thì hai tiêu chí đầu phản ánh trực tiếp mức sống và những gì phục vụ trực tiếp cho nhu cầu cơ bản của đời sống con người. Hai tiêu chí sau cũng có một ý nghĩa quan trọng cho phép thấy rõ hơn tình cảnh thực sự của các hộ đói nghèo.

    Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vừa chính thức công bố Dự thảo Quyết định Ban hành chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo đó, hộ nghèo ở khu vực nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 350.000 đồng/người/tháng (dưới 4.200.000 đồng/người/năm). Với khu vực thành thị, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 450.000 đồng/người/tháng (dưới 5.400.000 đồng/người/năm).

    Như vậy, mức chuẩn nghèo mới do Bộ Lao động-Thương binh và xã hội đề xuất cao gần gấp đôi mức hiện hành (200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn; 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị) và cao hơn mức đề xuất trước đây (300.000 đồng/tháng khu vực nông thôn, 390.000 đồng/tháng khu vực thành thị). Song song với việc tăng chuẩn nghèo chung, một số địa phương cũng quy định chuẩn nghèo cho phù hợp với thực tế địa phương.

    Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, tỷ lệ hộ nghèo cả nước hiện ở mức 13%. Nếu chuẩn nghèo mới được thông qua, tỷ lệ hộ nghèo sẽ tương đương với con số năm 2006 là trên 20%.

    3. Chức năng của gia đình

    Trong lịch sử xã hội, gia đình đã có những chức năng riêng của nó. Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh, việc thực hiện các chức năng gia đình càng phức tạp. Ngày nay gia đình có các chức năng cơ bản sau:

    – Chức năng sinh sản.

    – Chức năng nuôi dạy con cái.

    – Chức năng kinh tế.

    – Chức năng thoả mãn nhu cầu tinh thần và tình cảm.

    – Chức năng chăm sóc người ốm, người già và người tàn tật.

    Các chức năng của gia đình rất đa dạng, vừa đáp ứng yêu cầu tự nhiên của con người, vừa đáp ứng yêu cầu tất yếu của xã hội.

    3.1 Chức năng sinh sản (tái tạo nòi giống)

    Sinh sản là chức năng quan trọng và tất yếu của gia đình. Đây là một chức năng không thể thay thế. Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển giúp con người có thể sinh sản nhân tạo, nhưng sinh sản trong gia đình vẫn là ưu thế cả về sinh học và xã hội. Quan niệm truyền thống coi sinh sản là nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của gia đình. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội, quan niệm về tầm quan trọng của chức năng sinh sản của gia đình đã thay đổi. Đối với một số nước phát triển, chức năng sinh sản không còn là quan trọng số một, bởi vì nhiều cặp vợ chồng không muốn sinh con và họ vẫn sống hạnh phúc khi không sinh con. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, sinh sản là chức năng đặc biệt quan trọng của gia đình, nhất là trong điều kiện an sinh xã hội cho người già chưa phát triển.

    3.2. Chức năng nuôi dưỡng và giáo dục con cái

    Trong bất cứ xã hội nào, gia đình cũng là nơi giáo dục đầu tiên cho trẻ em. Giáo dục trong gia đình được hiểu là toàn bộ những tác động của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người, nhất là lớp trẻ. Để trở thành một người trưởng thành, có nhân cách độc lập trong xã hội, trẻ em phải được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tình cảm.

    Sự phát triển về thể chất cho trẻ sức mạnh cơ bắp để có thể tồn tại trong tự nhiên và xã hội với tư cách là người trưởng thành.

    Sự phát triển về trí tuệ cho trẻ những khả năng suy xét về hiện tại, về quá khứ và về tương lai để tự chủ trong cuộc sống, không chỉ là thích nghi để tồn tại mà còn để cải tạo môi trường tự nhiên và xã hội phục vụ cho đời sống con người.

    Sự phát triển và thăng bằng về tình cảm cho trẻ khả năng sống hoà nhập trong gia đình và xã hội, từ đó làm nên những việc lớn.

    Sự phát triển của ba mặt này khăng khít với nhau, hỗ trợ cho nhau, làm cho trẻ dần dần có thể tự quyết định thái độ và hành vi ứng xử trong cộng đồng.

    Gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên có khả năng nhất trong việc chăm lo sự phát triển cả ba mặt trên của trẻ em.

    Có thể nói rằng, giáo dục trong gia đình có đặc điểm và ưu thế riêng so với giáo dục trong nhà trường và xã hội. Trước hết, vì nó xuất phát từ tình cảm và bằng tình cảm. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt cụ thể, chú ý đến từng nét cá biệt của từng đứa trẻ. Nó linh hoạt theo sự phát triển của trẻ em, theo sự thay đổi của cuộc sống gia đình và xã hội. Bởi vậy, giáo dục gia đình có tính thực tiễn, và rất chú trọng đến kết quả thực tế của giáo dục. Chỗ mạnh của gia đình là kinh nghiệm xã hội, kiến thức đa dạng về cuộc sống, gia đình là một tập thể không thuần nhất, khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tính tình bao gồm nhiều thế hệ. Do đó, giáo dục mang tính phối hợp nhiều mặt kiến thức, nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội.

    Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, một số hoạt động giáo dục của gia đình như: giáo dục và đào tạo nghề, chỉ bảo kinh nghiệm sản xuất… không còn nguyên vẹn như trước kia, nhưng gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị là trường học đầu tiên trong việc hình thành nhân cách của mỗi người.

    3.3. Chức năng kinh tế của gia đình

    Ở mỗi giai đoạn lịch sử có khác nhau, nhưng cuộc sống thực tế cho thấy gia đình phải có chức năng này. Chức năng kinh tế của gia đình thể hiện ở các phương diện sau:

    – Gia đình là một đơn vị sản xuất. Vai trò này suy giảm nhiều ở các nước, các xã hội phát triển, có nền kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá song có thể thấy nó vẫn tồn tại phổ biến ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.

    – Gia đình là một đơn vị có tài sản riêng. Đó là thu nhập, các nguồn thu khác và tư liệu tiêu dùng.

    – Gia đình là một đơn vị tiêu dùng. Từ trong bản chất của gia đình và trình độ phát triển, gia đình (chứ không phải là mỗi cá nhân) là đơn vị tiêu dùng của nhiều loại sản phẩm như nhà ở, ô tô, tủ lạnh, vô tuyến…

    Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề kinh tế của gia đình là hoàn toàn cần thiết đối với Nhà nước để hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và giúp các nhà doanh nghiệp sản xuất hàng hoá phục vụ gia đình. Nhưng những vấn đề kinh tế của gia đình có phụ thuộc vào các yếu tố dân số của nó như số lượng và cơ cấu gia đình hay không? Nếu có thì phụ thuộc như thế nào? Từ đó đòi hỏi gì ở chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô? Đó là những nội dung chương này đề cập.

    Một nền kinh tế hoàn chỉnh bao gồm nhiều đơn vị kinh tế riêng lẻ: các hộ gia đình, các công ty, các bộ ngành của Nhà nước. Tổng hợp các kết quả kinh tế riêng lẻ của các đơn vị này sẽ có tổng sản phẩm quốc dân, tổng thu nhập, tổng chi tiêu… của nền kinh tế.

    Trong quá trình công nghiệp hoá và phát triển kinh tế thị trường luôn luôn đặt ra câu hỏi về số phận kinh tế hộ gia đình. Song lịch sử phát triển kinh tế thế giới đến nay vẫn chứng tỏ sự song song tồn tại của 2 xu hướng:

    Thứ nhất, tập trung hoá cao độ tư liệu sản xuất vào tay các hãng kinh tế, người lao động hoàn toàn là những người vô sản làm thuê. Nhiều năm nay, các nước đã điều chỉnh phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng mở rộng quyền lợi cho cá nhân người lao động và gia đình họ dưới hình thức cổ phần. Xu hướng của nhiều nước hiện nay là chia nhỏ cổ phần để giúp cho người lao động có thể đóng góp được – một hình thức điều hoà mâu thuẫn giai cấp có hiệu lực.

    Thứ hai, phát huy cao độ kinh tế hộ gia đình.

    Trong nông nghiệp, phát huy dưới dạng nông trại tư nhân kể cả ở những nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao lẫn những nước lạc hậu. Trong các nông trại, các hộ gia đình phát triển nền kinh tế của mình theo hướng kinh doanh hàng hoá tổng hợp, sử dụng vốn và sức lao động một cách hợp lý nhất. Trong quá trình phát triển, nông trại gia đình ở các nước có những nội dung, hình thức và phương pháp hoạt động phong phú đa dạng.

    Trong công nghiệp và thủ công nghiệp, kinh tế hộ gia đình được phát triển theo hướng liên kết giữa các tổ chức kinh doanh với các hộ gia đình. Ở đây hình thành nhiều hình thức hết sức phong phú. Có những hãng kinh doanh lớn trước đây đã chia nhỏ thành nhiều cổ phần để thu hút vốn của các hộ gia đình người lao động. Người lao động lúc này vừa đóng vai trò người làm thuê – khi họ làm công ăn lương – vừa đóng vai trò ông chủ – khi họ tham gia hội nghị cổ đông. Hình thức này đã thu hút được nhiều vốn liếng và phát triển được kinh tế hộ gia đình. Có hãng lại tổ chức liên kết hàng vạn hộ gia đình dưới hình thức liên doanh. Theo hình thức này, các xí nghiệp chỉ giữ vai trò giao dịch thị trường và trực tiếp tổ chức thực hiện những giai đoạn công nghệ chủ yếu (cần giữ bí mật và có kỹ thuật cao) còn lại là giao cho các hộ gia đình làm. Các hộ gia đình lúc này huy động vốn liếng và lao động của mình vào kinh doanh trong phạm vi liên kết. Các hãng làm dịch vụ cho họ. Lúc này quan hệ xã hội nhiều hơn là quan hệ lao động. Người lao động thực sự là một ông chủ nhỏ, không còn là người làm thuê nữa. Ngoài ra, cũng tồn tại những hộ tư nhân kinh doanh độc lập không phụ thuộc vào một hãng nào cả.

    Kinh doanh gia đình phát triển rất phong phú, là cơ sở vật chất để liên kết chặt chẽ gia đình, phát huy mạnh mẽ vai trò của gia đình trong xã hội.

    Kinh tế gia đình là một hình thức thích hợp đối với phụ nữ. Từ nền kinh tế này, người lao động nữ hoàn toàn tự do làm chủ sức lao động và thời gian lao động của mình, điều hoà hợp lý giữa lao động thu nhập và lao động gia đình.

    Trong quá trình xã hội hoá sản xuất, gia đình giảm dần ý nghĩa là đơn vị sản xuất, nhất là trong ngành công nghiệp và xây dựng. Trong khi đó, gia đình lại luôn luôn tồn tại với tư cách là đơn vị tiêu dùng. Đây là một dấu hiệu cần thiết để nhận biết xem một nhóm người nào có phải là gia đình không? Tư cách đơn vị tiêu dùng của gia đình thể hiện ở các khía cạnh sau:

    – Gia đình có quỹ tiêu dùng chung. Quỹ này dùng để chi cho việc ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, giao tiếp, giải trí của mọi thành viên và các phương tiện thiết bị sử dụng chung. Khi nghiên cứu gia đình với tư cách là đơn vị tiêu dùng, dân số học quan tâm nhiều đến những tiêu chí của hộ cho các sự kiện dân số như: Sinh, chết, kết hôn, ly hôn, di cư, đặc biệt là chi phí sinh đẻ và nuôi dạy trẻ trong các độ tuổi chưa thành niên.

    Các yếu tố thuộc nhân khẩu học có thể ảnh hưởng đến chi phí này là tuổi của bố mẹ khi sinh con, con trong giá thú hay ngoài giá thú, thứ tự lần sinh, con trai hay con gái.

    – Gia đình là đơn vị cơ sở để tổ chức các quá trình tiêu dùng như ăn uống và đối với nhiều hàng hoá, đơn vị tiêu dùng là gia đình, chẳng hạn: nhà ở, vô tuyến, tủ lạnh, bàn ghế, điện, nước… Vì vậy, để các mặt hàng này phục vụ được thì phải coi gia đình là “người tiêu dùng” chứ không phải các cá nhân.

    Có nhiều lý do để gia đình tồn tại như một đơn vị tiêu dùng.

    Như đã biết, gia đình có chức năng sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái. Do đó gia đình phải duy trì việc cung cấp kinh tế, vật chất, dịch vụ cho con cái ít nhất cho đến khi chúng trưởng thành.

    Như vậy, gia đình hạt nhân luôn tạo thành cơ sở của nhóm cùng ăn cùng ở. Mặt khác, ở nhiều nước đang phát triển do năng suất lao động thấp dẫn tới thu nhập thấp, các cặp vợ chồng lại đông con thành thử thường không có tiền để dành hoặc mua bảo hiểm. Vì vậy, lúc già và khi không thể lao động được nữa họ thường không có hoặc có nhưng không đủ nguồn dự trữ để đảm bảo cuộc sống. Khi đó, gia đình của con cái họ đóng vai trò là người bảo hiểm, đảm bảo cuộc sống và dịch vụ cần thiết cho người già. Điều này không chỉ vì trách nhiệm, tình thương của những người có quan hệ, ruột thịt mà còn có lý do kinh tế. Đó là lý do tại sao nhu cầu có con rất cao, đặc biệt là con trai. Rõ ràng là nếu xã hội hoặc các doanh nghiệp không bảo đảm cuộc sống cho những người không có hoặc không còn khả năng làm việc và các dịch vụ không chia sẻ công việc này cùng với gia đình thì nhu cầu nói trên vẫn có cơ sở tồn tại và hơn nữa là vô cùng cần thiết.

    3.4. Chức năng thoả mãn nhu cầu, tình cảm

    Gia đình là nơi sum họp, là nơi các cá nhân có thể nghỉ ngơi sau một ngày lao động mệt nhọc và căng thẳng. Điều đó làm cho mỗi cá nhân được an ủi về mặt tình cảm, thoả mãn nhu cầu tình yêu và hạnh phúc của họ. Đây là điều có ý nghĩa không chỉ đối với gia đình mà còn cả đối với xã hội, tạo nên sự ổn định về tinh thần cho mỗi cá nhân. Chức năng thoả mãn nhu cầu tình cảm, tinh thần còn bao gồm cả hoà hợp trong đời sống tình dục giữa các cặp vợ chồng. Đây là điểm mới của gia đình hiện đại so với gia đình truyền thống. Sự tách biệt chức năng hoà hợp tình dục với chức năng sinh sản đã làm cho tình dục không còn là nghĩa vụ của vợ đối với chồng mà được nâng thành vấn đề văn hoá ứng xử trong quan hệ vợ chồng.

    3.5. Chức năng chăm sóc người ốm, người già và người tàn tật

    Đây là chức năng quan trọng của gia đình, đặc biệt trong giai đoạn già hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ tại hầu hết các nước trên thế giới. Mặc dù, dịch vụ y tế có phát triển đến mức nào thì việc chăm sóc người ốm, người già và người tàn tật vẫn cần đến sự hỗ trợ của các thành viên trong gia đình. Bởi vì chăm sóc người ốm, người già, người tàn tật không chỉ đơn giản là điều trị bệnh mà còn giúp cho họ có cuộc sống tinh thần và tình cảm bình thường.

    Cùng với việc chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh thì chăm sóc người ốm, người già và người tàn tật đòi hỏi tốn nhiều công sức, tiền bạc, thời gian và sức lực cũng như trách nhiệm và sự hy sinh của mọi thành viên trong gia đình.

    TÓM TẮT CHƯƠNG

    1. Hôn nhân là một phạm trù tổng hợp, bao gồm nhiều sự kiện. Có nhiều thước đo khác nhau để xác định thực trạng hôn nhân của một dân số, nhưng đặc biệt chú ý đó là tuổi kết hôn lần đầu và tuổi kết hôn trung bình, vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến biến động mức sinh, đến việc hình thành các gia đình.

    2. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, có chế độ hôn nhân và gia đình khác nhau. Mỗi chế độ hôn nhân có tác động khác nhau đến mức sinh và biến động dân số. Có nhiều cách phân loại gia đình, nhưng Dân số học quan tâm nhất đến việc phân loại thành gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân. Tuy nhiên, với quá trình quản lý xã hội thì phân loại gia đình theo tiêu chí giàu nghèo là cách phân loại được chú trọng nhiều nhất. Sự biến động quy mô và cơ cấu gia đình do mức sinh, mức chết và di cư gây nên.

    3. Quá trình hình thành và tan vỡ gia đình được chia thành nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có một đặc thù riêng và có ảnh hưởng nhất định đến quá trình biến động dân số và kinh tế-xã hội. Vì vậy trong quản lý dân số và kinh tế-xã hội cần thiết phải nắm được quy luật này để có những đối sách thích hợp.

    4. Gia đình có rất nhiều chức năng, nhưng những chức năng quan trọng nhất là: Chức năng sinh đẻ; Chức năng nuôi dạy con cái; Chức năng tổ chức cuộc sống vật chất và văn hoá; Chức năng kinh tế.

    5. Gia đình vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng. Vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình đã thay đổi rất nhiều so với trước kia, theo chiều hướng phụ nữ ngày càng được bình đẳng hơn trong gia đình và xã hội so với nam giới.

    CÂU HỎI THẢO LUẬN

    1. Hôn nhân là gì? có những chỉ tiêu nào để đánh giá tình trạng hôn nhân của một dân số?

    2. Trình bày phương pháp tính tuổi kết hôn trung bình lần đầu và tuổi kết hôn trung bình của dân số?

    3. Gia đình khác gì với hộ gia đình?

    4. Trình bày cách phân loại gia đình theo các tiêu thức khác nhau?

    5. Phân tích quá trình hình thành và tan rã của gia đình, rút ra kết luận gì trong quản lý dân số ?

    6. Trình bày sự thay đổi về chức năng của gia đình trước đây so với hiện nay, rút ra kết luận gì ứng dụng trong quản lý dân số?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình (T2)
  • Kế Hoạch Hóa Gia Đình Là Gì? Những Lợi Ích Mà Kế Hoạch Hóa Gia Đình Mang Lại
  • Kế Hoạch Hóa Gia Đình Là Gì?
  • 4 Đặc Điểm Cơ Bản Của Kinh Doanh Hộ Gia Đình
  • Những Lưu Ý Cần Biết Khi Kinh Doanh Hộ Gia Đình Hiện Nay
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100