Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

--- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
  • Luận Văn: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam, Hay
  • ‘phải Định Nghĩa Được Tài Sản Công Để Sử Dụng Hiệu Quả’
  • Định Nghĩa Tài Sản Công Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Tài Sản Công
  • Bản Chất, Chức Năng, Bộ Máy Và Hình Thức Nhà Nước Tư Sản
  • Tại dự thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (DN), khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” và “DN có vốn đầu tư nước ngoài” (FDI) là những khái niệm gây nhiều tranh cãi nhất. Khái niệm này cũng đã từng được đề cập tại Luật Đất đai, Luật Chứng khoán. Câu hỏi đặt ra là: khái niệm này có nhất thiết phải khó hiểu như vậy không, hay thực chất chỉ thể hiện tâm lý sợ bị nước ngoài thôn tính, hay bảo hộ DN trong nước. Cả hai lý do này nghe chừng có lý đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi, song thực tế lại không cần thiết.

    Theo dự thảo thứ 10 của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm DN nước ngoài và DN trong nước có tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trên 49%, song ở một điều khoản khác thì lại quy định rằng “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”. Bên cạnh đó, nhiều luật chuyên ngành, thí dụ luật dược quy định phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào DN thì DN đó đã bị coi như DN có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.Theo dự thảo Luật Doanh nghiệp, thì nhà đầu tư nước ngoài là DN có số vốn của nước ngoài nắm trên 50% (mặc dù không rõ là nắm trực tiếp hay nắm gián tiếp thông qua một DN có vốn đầu tư nước ngoài). Theo Quyết định 121 về nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thì tổ chức nước ngoài phải là tổ chức nắm đến 100% vốn nước ngoài.. Tại một số hội thảo góp ý cho Luật Doanh nghiệp có quan điểm cho rằng tỷ lệ góp vốn có thể giảm xuống 10% để coi là nhà đầu tư nước ngoài.

    Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một DN trong nước trở thành “nhà đầu tư nước ngoài”? Thứ nhất, theo quy định hiện hành, DN đó sẽ phải xin giấy chứng nhận đầu tư. Điều này định nghĩa với một loạt giải trình, chi phí và thời gian tăng đáng kể. Thứ hai, nhiều ngành nghề “nhạy cảm” do chưa có quy định thực hiện (VD nhập khẩu dược phẩm), hay quy định không rõ ràng (VD quy định ENT đối với DN bán lẻ), hạn chế (VD kinh doanh nhà hàng, một số ngành nghề kinh doanh bất động sản) hay chưa cam kết (VD phân phối thuốc) có thể bị loại khỏi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) của DN. Nói tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đối xử bình đẳng như với DN trong nước. Vì sao vậy?Có hai quan điểm thường được nêu ra để trả lời.

    Ngoài ra cũng có quan điểm cho rằng do bị DN FDI tranh thị phần nên các DN trong nước đang “thua trên sân nhà”. Thậm chí có quá nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến an ninh-kinh tế. Tuy nhiên thị trường sẽ tự chọn lọc ra nhà đầu tư nào có hiệu quả nhất – thông qua việc ai trả giá cao nhất.Đối với DN trong nước, để hỗ trợ họ, nhà nước hãy ban hành chính sách ưu đãi thuế tương đương hay hơn nhà đầu tư nước ngoài.Các DN FDI cũng sẽ không phân bì, song đừng hạn chế lĩnh vực hoạt động của DN FDI.Đơn cử trong lĩnh vực dược hay bán lẻ.Sự tham gia của DN FDI sẽ làm giá bán giảm (do cạnh tranh), người tiêu dùng được lợi. DN trong nước nếu không cạnh tranh trực diện được thì sẽ cạnh tranh ở phân khúc khác, hoặc hợp tác liên doanh với DN FDI (nếu không phải vì thế mà họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài).

    Về lâu dài, các DN nhỏ sẽ bị thâu tóm hoặc đóng cửa, các DN lớn sẽ ngày càng phát triển (cho dù là DN trong nước hay nước ngoài).Xu hướng này có ở tất cả các nước, không thể cản được. Nhà nước không nên cố gắng can thiệp vào quá trình này. Lối thoát duy nhất cho DN trong nước là lớn mạnh lên, thông qua nội lực và chính sách đầu tư của nhà nước chứ không phải đóng cửa không cho DN FDI cùng cạnh tranh. Thực tế cho thấy các DN trong nước làm ăn hiệu quả vẫn có thể mua lại DN FDI, như Vinamilk, Saigon Coop, PetroVietnam v.v. Vậy tại sao phải lo ngại cho DN trong nước?

    Quan điểm thứ hai cho rằng nhà nước nên thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc. Chỉ cho phép nhà đầu tư vào Việt Nam đối với các dự án sản xuất có sức lan toả, cần nhiều vốn và công nghệ, chứ không phải ai cũng được vào đầu tư, như tinh thần của Nghi quyết 03/NQ-CP. Tuy nhiên, quan điểm này đã bỏ qua một giả thiết quan trọng của lý thuyết trò chơi: đó là mọi người chơi đều thông minh (hay kém thông minh) như nhau. Nhà nước không thể giả thiết nhà đầu tư nước ngoài mang vốn, công nghệ vào Việt Nam để phục vụ nhân dân Việt Nam.Họ đến Việt Nam chỉ vì lợi nhuận.Nếu hạn chế họ thâm nhập thị trường, khả năng tiếp thị và lợi nhuận của họ sẽ giảm (trừ phi họ chỉ chuyên xuất khẩu).Không có lợi nhuận thì họ không mở rộng sản xuất, không tăng thêm vốn và không chuyển giao công nghệ. Sự thất bại của công nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam là kết quả của việc suy nghĩ quá đơn giản về thu hút đầu tư, đánh giá thấp nhà đầu tư nước ngoài.

    Ngay cả khi nhà đầu tư nước ngoài mang vốn vào thì vốn đó cũng là của họ, khi ra khỏi Việt Nam họ có quyền thu hồi mang đi. Công nghệ họ mang vào hôm nay dù có là hiện đại thì 20 năm nữa cũng lỗi thời.Trường hợp nhà máy sản xuất bóng đèn hình Daewoo Hanel bán lại cho Việt Nam là một thí dụ. Vậy, nên chăng cần xem lại mục tiêu thu hút (hay cản trở) nhà đầu tư nước ngoài. Mục tiêu hàng đầu phải là tạo công ăn việc làm.Có công ăn việc làm mới làm tăng GDP, mới phát triển thị trường nội đia, mới tạo thêm cơ hội làm ăn cho DN trong và ngoài nước. Lúc đó, thì việc mang vốn, công nghệ vào Việt Nam là kết quả của kinh doanh thành công tại Việt Nam, chứ không phải là mục tiêu ban đầu của nhà đầu nước ngoài khi sang Việt Nam. Nếu thực sự muốn thu hút đầu tư hơn nữa, thì có thể tăng thêm ưu đãi thuế nếu nhà đầu tư nước ngoài tăng vốn hay chuyển giao công nghệ, song phải cụ thể theo nguyên tắc có đi có lại – thí dụ đầu tư thêm 100 triệu USD thì được miễn thuế thêm 1 năm. Không nên quy định mọi dự án lớn nhỏ, miễn có “công nghệ cao” đều được ưu đãi như nhau.

    Nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nếu thành công thì họ đóng thuế, nếu thất bại thì họ sẽ bán rẻ dự án để rút về nước.Khi đó DN trong nước sẽ có cơ hội mua lại cơ sở sản xuất với giá rẻ. Việc Vinamilk mua lại F&N Diary, hay Kinh Đô mua lại Walls, hay Thiên Minh mua lại chuỗi khách sạn Victoria là các thí dụ điển hình. Bằng cách nào thì Việt Nam cũng có lợi. Hiển nhiên, việc hạn chế đầu tư nước ngoài vào các vùng biên giới, các địa điểm hiểm yếu đối với an ninh quốc gia, các lĩnh vực tác động lớn đến an ninh quốc phòng là cần thiết. Tuy nhiên các lĩnh vực nhạy cảm như vậy không nhiều.

    Nói tóm lại, không có nhiều lý do để hạn chế tiếp cận thị trường cùa nhà đầu tư nước ngoài, trừ một số lý do an ninh quốc phòng tại một số địa điểm xung yếu hay các lĩnh vực thuộc về an ninh quốc gia. Nhà nước phải coi việc tạo công ăn việc làm cho người dân là mục tiêu trên hết, chứ không phải nhu cầuthu hút vốn hay chuyển giao công nghệ. Kết hợp quá nhiều mục tiêu cũng giống như bắt cá hai tay. Có thể sẽ không bắt được con nào.. Và vì vậy, cách giải thích “nhà đầu tư nước ngoài” nên là cách giải thích hiện nay theo dự thảo Luật Doanh nghiệp cho thống nhất, tức là DN mà ở đó phía nước ngoài nắm (trực tiếp hay gián tiếp) trên 50% vốn điền lệ, nay có quyền bầu đa số thành viên hội đồng quản trị.

    ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước. Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử [email protected] hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuế Nhà Thầu Là Gì? Định Nghĩa, Các Lưu Ý Khi Tính Thuế Nhà Thầu
  • Thế Nào Là Nhà Thầu Nước Ngoài?
  • Quy Định Về Hợp Đồng Thầu Phụ Và Nhà Thầu Phụ Trong Đấu Thầu
  • Thuế Nhà Thầu Nước Ngoài
  • Định Nghĩa Chế Độ Phong Kiến Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Chế Độ Phong Kiến
  • Làm Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Thế Nào Là “cơ Quan Nhà Nước Có Thẩm Quyền”?
  • Cơ Quan Hành Chính Có Thẩm Quyền Chung Và Thẩm Quyền Chuyên Môn
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • (BĐT) – Tại Tọa đàm góp ý cho Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp vừa được tổ chức, nhiều ý kiến cho rằng, việc sử dụng tiêu chí tổ chức kinh tế có tỷ lệ sở hữu chi phối của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) theo Luật Đầu tư hiện hành chưa phản ánh hết thực tiễn quản trị, quản lý doanh nghiệp (DN).

    Do đó, Dự thảo Luật cần bổ sung tiêu chí về quyền kiểm soát DN của nhà ĐTNN để đảm bảo hoạt động đầu tư của tổ chức có vốn ĐTNN bình đẳng với DN trong nước.

    Cần thiết bổ sung tiêu chí

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Khoản 17, Điều 3 Luật Đầu tư quy định: “Tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN là tổ chức có nhà ĐTNN là thành viên hoặc cổ đông”. Như vậy, theo quy định này thì tổ chức có vốn ĐTNN là tổ chức có sự tham gia của nhà ĐTNN với bất kỳ tỷ lệ sở hữu nào trong vốn điều lệ của tổ chức đó.

    Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 23 Luật Đầu tư thì tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN chỉ phải thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà ĐTNN khi thuộc một trong các trường hợp: Thứ nhất là tổ chức kinh tế đó có nhà ĐTNN nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; hoặc thứ hai, tổ chức kinh tế đó có sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế có nhà ĐTNN sở hữu từ 51% vốn điều lệ.

    Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng điều kiện và thủ tục đối với các tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN. Song việc chỉ sử dụng tiêu chí về quốc tịch và tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN trong tổ chức kinh tế là chưa đầy đủ, chưa phản ánh đúng thực tiễn quản trị của từng loại hình DN theo quy định của Luật DN, đồng thời chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu quản lý đối với tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN. Bởi lẽ, dù nắm giữ tỷ lệ vốn điều lệ thấp hơn 51% nhưng trong nhiều trường hợp, nhà ĐTNN vẫn có thể nắm giữ quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh và quản lý của DN mà không thông qua sở hữu. Chẳng hạn như kiểm soát hoạt động của DN Việt Nam thông qua hình thức cho vay kèm theo điều kiện quản lý, độc quyền tiêu thụ sản phẩm…

    Là một luật sư cho các tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN, bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc Pháp chế đối ngoại thuộc Tổ chức Giáo dục và Đào tạo Apollo Việt Nam lên tiếng: “Tôi khẩn thiết đề nghị sửa tiêu chí trong quy định Điều 23 Luật Đầu tư hiện hành. Điều 23 chỉ quy định thủ tục đầu tư đối với tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN khi có nhà ĐTNN nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên, còn các tổ chức kinh tế có nhà ĐTNN nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ thì thực hiện thủ tục như nhà đầu tư trong nước. Đó chỉ là về mặt thủ tục, còn xác định như thế nào là nhà ĐTNN thì chưa biết”.

    Theo bà Dung, bám vào quy định của Điều 23, thực tế đã có trường hợp nhà ĐTNN lĩnh vực giáo dục lách luật. Cụ thể, nhà ĐTNN để cho DN Việt Nam thành lập DN rồi họ có cổ phần sát phần vốn cho phép (49% vốn điều lệ) để họ vẫn được trở thành nhà đầu tư trong nước và được quyền tuyển sinh như các cơ sở giáo dục trong nước… “Như vậy, trong trường hợp này, về bản chất DN đó là DN có vốn ĐTNN, phải thực hiện thủ tục và nghĩa vụ như một nhà ĐTNN chứ không phải nấp dưới hình thức nhà đầu tư trong nước… Hậu quả của vấn đề này là gây nên bất bình đẳng với nhà đầu tư trong nước”, bà Dung nói.

    Quy định rõ ràng để tránh gây khó khăn khi thực hiện

    Dù nắm giữ tỷ lệ vốn điều lệ thấp hơn 51% nhưng trong nhiều trường hợp, nhà ĐTNN vẫn có thể nắm giữ quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh và quản lý của DN mà không thông qua sở hữu. Chẳng hạn như kiểm soát hoạt động của DN Việt Nam thông qua hình thức cho vay kèm theo điều kiện quản lý, độc quyền tiêu thụ sản phẩm…

    Để hoàn thiện Điều 23 Luật Đầu tư, tại Dự thảo Luật, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất bổ sung tiêu chí về quyền kiểm soát DN của nhà ĐTNN, phù hợp với tiêu chí xác định công ty mẹ – công ty con quy định tại Điều 89 Luật DN.

    Theo đó, tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN phải thực hiện thủ tục như quy định đối với nhà ĐTNN khi thuộc một trong các trường hợp: Nhà ĐTNN sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của tổ chức kinh tế đó; nhà ĐTNN trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật của các tổ chức kinh tế đó; nhà ĐTNN có quyền quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ của tổ chức kinh tế đó. Việc áp dụng các tiêu chí này cũng phù hợp với quy định tại các hiệp định song phương về đầu tư hoặc các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

    Góp ý về nội dung này, bà Giang Nguyễn, đại diện Công ty Luật Allens Linklaters cho biết, hiện Dự thảo Luật dựa trên 3 tiêu chí là khá rõ ràng. Song quy định như vậy có thể gây ảnh hưởng đến thủ tục khi nhà ĐTNN góp vốn hoặc mua cổ phần trong các DN Việt Nam. Lý do là, tiêu chí thứ hai và thứ ba nêu trên là khá chủ quan; tương đối khó xác định nhà ĐTNN có nắm giữ cổ phần chi phối trong DN hay không, tự nhà ĐTNN đánh giá sau đó nộp hồ sơ lên cơ quan có thẩm quyền hay ai là người đánh giá trước khi DN nộp hồ sơ đó?… “Những vấn đề này cần được xem xét làm rõ trong Dự thảo Luật để tránh gây khó khăn trong việc thực hiện Luật sau này”, bà Giang Nguyễn góp ý.

    Thông tin về tiến độ Dự án Luật, ông Trần Hào Hùng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay, hiện Dự thảo Luật đã được hoàn thành và đang gửi cộng đồng DN, địa phương tham gia đóng góp ý kiến. Đến nay, cơ quan xây dựng Luật đã cơ bản nhận được ý kiến góp ý của các đơn vị. Theo đó, Tọa đàm được tổ chức cũng nhằm mục tiêu tham vấn các ý kiến để hoàn thiện Dự thảo Luật. Theo kế hoạch, Dự án Luật sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7 và dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài: Nhìn Từ Thực Tiễn
  • Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?
  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Và Thành Lập Tổ Chức Kinh Tế Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Theo Luật Đầu Tư Năm 2014 ?
  • Fsue: Doanh Nghiệp Nhà Nước Liên Bang Đơn Nhất
  • Khái Niệm, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Khái Niệm Về Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Nước Cất Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Nước Cất
  • Nước Cất Là Gì? Nước Cất Có Uống Được Không?
  • Hướng Dẫn Điều Chế Nước Cất
  • Nước Cất Là Gì? Nước Cất Có Tác Dụng Gì Không?
  • Nước Mặt Là Gì? So Sánh Đặc Điểm Nước Mặt Và Nước Ngầm
  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.
    • Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại. Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.
    • Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.
    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.
    • Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.
    • FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.
    • Lợi ích về công ăn việc làm
    • Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.
    • FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.
    • Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới.

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thôngxấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nước Thải Là Gì? Thành Phần Nước Thải Sinh Hoạt, Công Nghiệp
  • Khái Niệm Về Nước Hoa Và Nước Hoa Sing Là Gì ?
  • Dự Thảo Tiêu Chuẩn Sản Xuất Nước Mắm: Phải Bỏ Định Nghĩa “nước Mắm Nguyên Chất”
  • Cần Định Nghĩa Lại Nước Mắm
  • Nhập Nhèm Khái Niệm Nước Mắm Là Có Tội!
  • Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoàn Thiện Pháp Luật Thanh Tra Liên Ngành
  • Định Nghĩa Liên Ngành Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Liên Ngành
  • Tìm Hiểu Về Ngành Dược Và Những Khái Niệm Trong Ngành Dược
  • Ngành Marketing Là Gì ? Khái Niệm Về Marketing
  • Nghề Phi Nông Nghiệp: Mưu Sinh Hấp Dẫn Của Nhà Nông
  • Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể đầu tư nước ngoài là gì, nhưng căn cứ vào bản chất của hoạt động này, chúng ta có thể giải thích như sau: Đầu tư nước ngoài được hiểu là việc tổ chức cá nhân trong hoặc ngoài nước tiến hành góp vốn việc đầu tư vào Việt Nam và có tỉ lệ vốn đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư thuộc trường hợp nhà đầu tư nước ngoài.

    a) Nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc đối với công ty hợp danh thì có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài;

    b) Tổ chức kinh tế quy định tại điểm a góp từ 51% vốn điều lệ trở lên;

    c) Nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm a chiếm giữ từ 51 % vốn điều lệ trở lên.

    Khi thành lập doanh nghiệp mới, tỷ lệ góp vốn góp của nhà đầu tư là cơ sở để xác định họ là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài không nhất thiết phải thành lập mới doanh nghiệp mà có thể tiến hành mua lại cổ phần.

    Về hình thức đầu tư:

    Hiện nay pháp luật đầu tư quy định cụ thể về các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm:

    -Thứ nhất đầu tư theo hình thức thành lập công ty

    -Thứ hai, đầu tư theo hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần, phần vốn góp

    -Thứ ba, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác PPP

    -Thứ tư, đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC

    Mỗi hình thức đầu tư trên đều có những đặc điểm cũng như ưu điểm hạn chế riêng và các nhà đầu tư cần suy xét để lựa chọn cho mình hình thức đầu tư phù hợp nhất.

    Hiện nay, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng mạnh và vấn đề về luật pháp luôn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư tại thị trường Việt Nam. Luật Việt Tín cam kết sẽ là người bạn đồng hành của các doanh nghiệp với những trợ giúp, tư vấn hữu ích về các thủ tục đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ ngay với đường dây nóng của Luật Việt Tín theo địa chỉ sau để được tư vấn miễn phí và hỗ trợ:

    Hotline: 0945 292 808 / 0978 635 623 Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuơng V: Khái Niệm Chung Về Thoát Nước
  • Lý Thuyết Thoát Hơi Nước Sinh 11
  • Nước Cứng Là Gì? Cách Làm Mềm Nước Cứng Tạm Thời Và Vĩnh Cửu
  • Nước Cứng Là Gì? Tác Hại Của Nước Cứng Đối Với Đời Sống Sinh Hoạt Hằng Ngày
  • Quốc Gia Đang Phát Triển Và Tác Động Từ Quyết Định Của Mỹ
  • Xác Định Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam, Hay
  • ‘phải Định Nghĩa Được Tài Sản Công Để Sử Dụng Hiệu Quả’
  • Định Nghĩa Tài Sản Công Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Tài Sản Công
  • Bản Chất, Chức Năng, Bộ Máy Và Hình Thức Nhà Nước Tư Sản
  • Sự Ra Đời, Bản Chất Và Quá Trình Phát Triển Của Nhà Nước Tư Sản
  • Nguyên nhân dẫn tới vướng mắc kinh điển nói trên là sự không rõ ràng về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư cũng như các văn bản hướng dẫn. Điều này đã hạn chế đáng kể sức hấp dẫn trong các quy định thông thoáng của Luật Đầu tư về điều kiện và thủ tục đầu tư

    Về trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thế hệ thứ 2 trở đi, hay nói cách khác là các trường hợp nhà đầu tư là doanh nghiệp liên doanh có một phần vốn trong nước và một phần vốn nước ngoài cùng với chủ thể khác hình thành một doanh nghiệp liên doanh thế hệ thứ 2 và cứ thế tiếp theo. Về mặt pháp lý và nguyên lý kinh tế, khi doanh nghiệp liên doanh thế hệ 1 đem vốn đi kinh doanh, đầu tư bao gồm cả việc thành lập một doanh nghiệp con sẽ không thể, không được phân định rạch ròi đâu là phần vốn trong nước và phần vốn nước ngoài vì phần vốn lúc này đơn giản chỉ được công nhận chung là vốn của doanh nghiệp thế hệ 1. Trong các trường hợp này, chỉ có thể sử dụng phương pháp xác định suy đoán: nếu một chủ thể đã được xác định là nhà đầu tư nước ngoài (có trên 50% vốn nước ngoài) thì toàn bộ các hành vi sau đó của chủ thể này bao gồm cả việc đi đầu tư thành lập một doanh nghiệp con sẽ được xem là hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài thuần túy và phần vốn mà nhà đầu tư này sử dụng để kinh doanh, đầu tư bao gồm cả đầu tư thành lập doanh nghiệp mới đều được xem là vốn đầu tư nước ngoài toàn bộ. Và ngược lại, nếu một chủ thể đã được xác định là nhà đầu tư trong nước (có trên 50% vốn trong nước) thì khi đi kinh doanh, đầu tư, mọi loại vốn mà chủ thể này bỏ ra sẽ được xem là vốn trong nước. Cứ như vậy cho tất cả các trường hợp đầu tư, sở hữu chéo tiếp sau. Cách thức định nghĩa suy đoán này cho phép xử lý hoàn toàn vấn đề hạn chế quyền kinh doanh đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo đó mọi nhà đầu tư nước ngoài khi đi đầu tư đều là chủ thể thế hệ 1.

    Thêm nữa, bên cạnh khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, cần có khái niệm quốc tịch nước ngoài để xác định các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân có quốc tịch một nước ngoài cụ thể. Bởi khái niệm này là cần thiết trong trường hợp cam kết mở cửa thị trường trong một số ngành, lĩnh vực không áp dụng chung với mọi nhà đầu tư nước ngoài mà áp dụng riêng cho nhà đầu tư nước ngoài mang quốc tịch một nước đối tác nhất định. Trong trường hợp cá nhân nước ngoài có 2 quốc tịch trở lên, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì phải có quy định rõ để cơ quan quản lý có cơ sở xác định là nhà đầu từ trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư ở nước ta.

    Theo dbnd

    Ms Giang 0909016286 – kế toán thuế trọn gói 300k – đăng ký kinh doanh 500k – báo cáo tài chính 500k – thành lập doanh nghiệp 990k

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
  • Thuế Nhà Thầu Là Gì? Định Nghĩa, Các Lưu Ý Khi Tính Thuế Nhà Thầu
  • Thế Nào Là Nhà Thầu Nước Ngoài?
  • Quy Định Về Hợp Đồng Thầu Phụ Và Nhà Thầu Phụ Trong Đấu Thầu
  • Thuế Nhà Thầu Nước Ngoài
  • Khái Niệm Về Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Fdi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Doanh Nghiệp Fdi Là Gì
  • Một Số Hình Thức Đầu Tư Trực Tiếp Từ Nước Ngoài
  • #1 Doanh Nghiệp Fdi Là Gì? Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi
  • Các Hình Thức Đầu Tư Theo Quy Định Của Luật Đầu Tư Năm 2014
  • Luật Đầu Tư Năm 2014, Luật Số 67/2014/qh13
  • Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã (đang) ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Theo đó đã có nhiều quan điểm được đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này:

    Dunning (1970) sử dụng một định nghĩa ngắn cho các công ty đa quốc gia (MNEs) là: “bất cứ công ty thực hiện hoạt động sản xuất tại nhiều hơn một quốc gia”. Những người khác, chẳng hạn như Vernon (1971) đã nhấn mạnh thêm vấn đề quy mô và cơ cấu tổ chức của các MNEs. Cụ thể, “Các tập đoàn đa quốc gia là các công ty lớn tổ chức các hoạt động của họ ở nước ngoài thông qua một bộ phận tổ chức tích hợp, được lan truyền quốc tế và việc đầu tư của họ được dựa trên các sản phẩm và thị trường tiêu thụ”.

    Bảng 1: Yếu tố điều kiện “Đẩy – Kéo” của FDI

    Thị trường nước chủ đầu tư hạn chế buộc công ty phải tìm kiếm một thị trường mới.

    Thị trường lớn và phát triển là điều kiện tốt để thu hút các nhà đầu tư.

    Sự khan hiếm các yếu tố đầu vào như nguồn tài nguyên, chi phí lao động cao gây ra xu hướng đầu tư ra nước ngoài.

    Nguồn lực tài nguyên sẵn có, chi phí lao động thấp giúp giảm chi phí sản xuất nên sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư.

    3. Doanh nghiệp địa phương

    Xu hướng toàn cầu hóa và áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp địa phương là động lực tác động công ty tìm kiếm thị trường nước ngoài.

    Những Hiệp ước thương mại, Đầu tư song phương, đa phương tạo điều kiện thuận lợi cho vốn đầu tư nước ngoài.

    4. Thể chế

    Chính sách hỗ trợ như cắt giảm chi phí, nâng cao các khả năng hoạt động doanh nghiệp.

    Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư như chính sách tự do hóa và tư nhân hóa, ổn định chính trị, quản trị minh bạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, quyền sở hữu, v.v…

    (Nguồn: UNCTAD, 2006)

    Như vậy, FDI có thể xảy ra theo xu hướng tác động của cả hai nhóm yếu tố: yếu tố “đẩy” của nước chủ đầu tư và yếu tố “kéo” của nước thu hút cùng với sự quan tâm từ cả hai phía chính phủ của các quốc gia này. Các chính sách ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài được đưa ra bởi nước sở tại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ dựa trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao, chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc hứa hẹn lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài. Nước chủ đầu tư, tốt hơn hết, nên mở rộng sự hiểu biết của mình với một danh sách mở rộng hơn các yếu tố thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó nước thu hút cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả. Cuối cùng tác động hỗ trợ từ cả hai phía hình thành những đặc điểm tiềm năng của dòng vốn FDI trong tương lai. Một chính sách khuyến khích phải được xây dựng với sự cân nhắc và nghiên cứu đầy đủ nhằm thu hút tối ưu hóa số lượng và chất lượng FDI.

    Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Fdi Là Gì? Khái Niệm & Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi
  • Khái Niệm Doanh Nghiệp Fdi Là Gì? Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi
  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Vai Trò Của Fdi
  • Fdi Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Fdi?
  • Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài: Nhìn Từ Thực Tiễn
  • Làm Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Thế Nào Là “cơ Quan Nhà Nước Có Thẩm Quyền”?
  • Cơ Quan Hành Chính Có Thẩm Quyền Chung Và Thẩm Quyền Chuyên Môn
  • Tại Dự thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (DN), khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” và “DN có vốn đầu tư nước ngoài” (FDI) là những khái niệm gây nhiều tranh cãi nhất. Khái niệm này cũng đã từng được đề cập tại Luật Đất đai, Luật Chứng khoán.

    Câu hỏi đặt ra là: Khái niệm này có nhất thiết phải khó hiểu như vậy không? Có phản ánh tâm lý lo ngại bị nhà đầu tư nước ngoài thôn tính, hay bảo hộ DN trong nước. Cả hai lý do này nghe chừng có lý đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, song thực tế lại không cần thiết.

    Theo dự thảo thứ 10 của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm DN nước ngoài và DN trong nước có tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trên 49%, song ở một điều khoản khác thì lại quy định rằng: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”.

    Bên cạnh đó, nhiều luật chuyên ngành, ví dụ Luật Dược quy định, phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng, chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào DN, thì DN đó đã bị coi như DN có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động, hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.

    Theo dự thảo Luật Doanh nghiệp, thì nhà đầu tư nước ngoài là DN có số vốn của nước ngoài nắm trên 50% (mặc dù không rõ là nắm trực tiếp, hay nắm gián tiếp thông qua một DN có vốn đầu tư nước ngoài). Theo Quyết định 121 về nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thì tổ chức nước ngoài phải là tổ chức nắm đến 100% vốn nước ngoài. Tại một số hội thảo góp ý cho Luật Doanh nghiệp, có quan điểm cho rằng, tỷ lệ góp vốn có thể giảm xuống 10% để coi là nhà đầu tư nước ngoài.

    Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một DN trong nước trở thành “nhà đầu tư nước ngoài”?

    Thứ nhất, theo quy định hiện hành, DN đó sẽ phải xin giấy chứng nhận đầu tư. Điều này đồng nghĩa với một loạt giải trình, chi phí và thời gian tăng đáng kể.

    Thứ hai, nhiều ngành nghề “nhạy cảm” do chưa có quy định thực hiện (chẳng hạn như nhập khẩu dược phẩm), hay quy định không rõ ràng (quy định ENT đối với doanh nghiệp bán lẻ), hạn chế (kinh doanh nhà hàng, một số ngành nghề kinh doanh bất động sản) hay chưa cam kết (phân phối thuốc) có thể bị loại khỏi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của DN. Nói tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đối xử bình đẳng như với DN trong nước. Vì sao vậy? Có hai quan điểm thường được dùng để trả lời cho câu hỏi trên.

    Quan điểm thứ nhất là sự lo ngại DN FDI sẽ chiếm lĩnh thị trường trong nước, trong khi, các DN FDI chiếm tới 67% kim ngạch xuất khẩu mà chỉ đóng 14% cho ngân sách từ thuế.

    Thật ra con số này không hề nhỏ. Tại Hoa Kỳ, đóng góp từ thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm 10-15% tổng ngân sách. Hơn nữa, giải pháp cho việc chống thất thu thuế không phải là việc hạn chế hoạt động của DN FDI, mà là tăng cường các biện pháp chống chuyển giá, bao gồm cả việc ấn định nghĩa vụ thuế cho DN FDI.

    Hơn nữa, hãy tưởng tượng, nếu không có các DN FDI, thì nhà nước có thu được thêm đồng thuế nào không? Có họ, ít nhất, chúng ta cũng giải quyết được việc làm cho hơn 2 triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp. Tạo ra công ăn việc làm không phải là nghĩa vụ hàng đầu của nhà nước hay sao?

    Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng, do bị DN FDI tranh thị phần nên các DN trong nước đang “thua trên sân nhà”. Thậm chí, có quá nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến an ninh – kinh tế. Tuy nhiên, thị trường sẽ tự chọn lọc ra nhà đầu tư nào có hiệu quả nhất – thông qua việc ai trả giá cao nhất.

    Đối với DN trong nước, để hỗ trợ, Nhà nước hãy ban hành chính sách ưu đãi thuế tương đương, hay hơn nhà đầu tư nước ngoài, nhưng không nên hạn chế lĩnh vực hoạt động của DN FDI.

    Đơn cử trong lĩnh vực dược hay bán lẻ. Sự tham gia của DN FDI sẽ làm giá bán giảm (do cạnh tranh), người tiêu dùng được lợi. DN trong nước nếu không cạnh tranh trực diện được thì sẽ cạnh tranh ở phân khúc khác, hoặc hợp tác liên doanh với DN FDI (nếu không phải vì thế mà họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài).

    Về lâu dài, cho dù là DN trong nước, hay nước ngoài, thì các DN nhỏ sẽ bị thâu tóm hoặc đóng cửa, các DN lớn sẽ ngày càng phát triển. Đây là xu hướng chung và mang tính tất yếu trên toàn thế giới, nên Nhà nước không nên cố gắng can thiệp vào quá trình này. Lối thoát duy nhất cho DN trong nước là lớn mạnh lên, thông qua nội lực và chính sách đầu tư của Nhà nước, chứ không phải đóng cửa với DN FDI. Thực tế cho thấy, các DN trong nước làm ăn hiệu quả tốt như Vinamilk, Saigon chúng tôi PetroVietnam… vẫn có thể mua lại DN FDI. Vậy thì, tại sao phải lo ngại cho DN trong nước?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Và Thành Lập Tổ Chức Kinh Tế Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Theo Luật Đầu Tư Năm 2014 ?
  • Fsue: Doanh Nghiệp Nhà Nước Liên Bang Đơn Nhất
  • Khái Niệm, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Khái Niệm Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài: Nhìn Từ Thực Tiễn

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Thế Nào Là “cơ Quan Nhà Nước Có Thẩm Quyền”?
  • Cơ Quan Hành Chính Có Thẩm Quyền Chung Và Thẩm Quyền Chuyên Môn
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Câu hỏi đặt ra là: Khái niệm này có nhất thiết phải khó hiểu như vậy không? Có phản ánh tâm lý lo ngại bị nhà đầu tư nước ngoài thôn tính, hay bảo hộ DN trong nước. Cả hai lý do này nghe chừng có lý đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, song thực tế lại không cần thiết.

    Theo dự thảo thứ 10 của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm DN nước ngoài và DN trong nước có tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trên 49%, song ở một điều khoản khác thì lại quy định rằng: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”.

    Bên cạnh đó, nhiều luật chuyên ngành, ví dụ Luật Dược quy định, phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng, chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào DN, thì DN đó đã bị coi như DN có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động, hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.

    Theo dự thảo Luật Doanh nghiệp, thì nhà đầu tư nước ngoài là DN có số vốn của nước ngoài nắm trên 50% (mặc dù không rõ là nắm trực tiếp, hay nắm gián tiếp thông qua một DN có vốn đầu tư nước ngoài). Theo Quyết định 121 về nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thì tổ chức nước ngoài phải là tổ chức nắm đến 100% vốn nước ngoài. Tại một số hội thảo góp ý cho Luật Doanh nghiệp, có quan điểm cho rằng, tỷ lệ góp vốn có thể giảm xuống 10% để coi là nhà đầu tư nước ngoài.

    Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một DN trong nước trở thành “nhà đầu tư nước ngoài”?

    Thứ nhất, theo quy định hiện hành, DN đó sẽ phải xin giấy chứng nhận đầu tư. Điều này đồng nghĩa với một loạt giải trình, chi phí và thời gian tăng đáng kể.

    Thứ hai, nhiều ngành nghề “nhạy cảm” do chưa có quy định thực hiện (chẳng hạn như nhập khẩu dược phẩm), hay quy định không rõ ràng (quy định ENT đối với doanh nghiệp bán lẻ), hạn chế (kinh doanh nhà hàng, một số ngành nghề kinh doanh bất động sản) hay chưa cam kết (phân phối thuốc) có thể bị loại khỏi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của DN. Nói tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đối xử bình đẳng như với DN trong nước. Vì sao vậy? Có hai quan điểm thường được dùng để trả lời cho câu hỏi trên.

    Quan điểm thứ nhất là sự lo ngại DN FDI sẽ chiếm lĩnh thị trường trong nước, trong khi, các DN FDI chiếm tới 67% kim ngạch xuất khẩu mà chỉ đóng 14% cho ngân sách từ thuế.

    Thật ra con số này không hề nhỏ. Tại Hoa Kỳ, đóng góp từ thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm 10-15% tổng ngân sách. Hơn nữa, giải pháp cho việc chống thất thu thuế không phải là việc hạn chế hoạt động của DN FDI, mà là tăng cường các biện pháp chống chuyển giá, bao gồm cả việc ấn định nghĩa vụ thuế cho DN FDI.

    Hơn nữa, hãy tưởng tượng, nếu không có các DN FDI, thì nhà nước có thu được thêm đồng thuế nào không? Có họ, ít nhất, chúng ta cũng giải quyết được việc làm cho hơn 2 triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp. Tạo ra công ăn việc làm không phải là nghĩa vụ hàng đầu của nhà nước hay sao?

    Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng, do bị DN FDI tranh thị phần nên các DN trong nước đang “thua trên sân nhà”. Thậm chí, có quá nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến an ninh – kinh tế. Tuy nhiên, thị trường sẽ tự chọn lọc ra nhà đầu tư nào có hiệu quả nhất – thông qua việc ai trả giá cao nhất.

    Đối với DN trong nước, để hỗ trợï, Nhà nước hãy ban hành chính sách ưu đãi thuế tương đương, hay hơn nhà đầu tư nước ngoài, nhưng không nên hạn chế lĩnh vực hoạt động của DN FDI.

    Đơn cử trong lĩnh vực dược hay bán lẻ. Sự tham gia của DN FDI sẽ làm giá bán giảm (do cạnh tranh), người tiêu dùng được lợi. DN trong nước nếu không cạnh tranh trực diện được thì sẽ cạnh tranh ở phân khúc khác, hoặc hợp tác liên doanh với DN FDI (nếu không phải vì thế mà họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài).

    Về lâu dài, cho dù là DN trong nước, hay nước ngoài, thì các DN nhỏ sẽ bị thâu tóm hoặc đóng cửa, các DN lớn sẽ ngày càng phát triển. Đây là xu hướng chung và mang tính tất yếu trên toàn thế giới, nên Nhà nước không nên cố gắng can thiệp vào quá trình này. Lối thoát duy nhất cho DN trong nước là lớn mạnh lên, thông qua nội lực và chính sách đầu tư của Nhà nước, chứ không phải đóng cửa với DN FDI. Thực tế cho thấy, các DN trong nước làm ăn hiệu quả tốt như Vinamilk, Saigon chúng tôi PetroVietnam… vẫn có thể mua lại DN FDI. Vậy thì, tại sao phải lo ngại cho DN trong nước?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?
  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Và Thành Lập Tổ Chức Kinh Tế Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Theo Luật Đầu Tư Năm 2014 ?
  • Fsue: Doanh Nghiệp Nhà Nước Liên Bang Đơn Nhất
  • Khái Niệm, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Khái Niệm Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Và Thành Lập Tổ Chức Kinh Tế Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Theo Luật Đầu Tư Năm 2014 ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì?
  • Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài: Nhìn Từ Thực Tiễn
  • Làm Rõ Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Thế Nào Là “cơ Quan Nhà Nước Có Thẩm Quyền”?
  • Thưa luật sư, Tôi đang tìm hiểu một số quy định của Luật đầu tư 2014 về Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài và thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài theo luật đầu tư năm 2014 ?

    Luật sư tư vấn:

    Nhà đầu tư nước ngoài ở đây được hiểu là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài

    Phân tích nội dung chính: Nhà đầu tư nước ngoài, trước khi thành lập tổ chức kinh tế thì phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

    Điều 23 về Đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    Phân tích nội dung chính: Khi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nêu trên thực hiện một trong các hoạt động sau đây thì phải thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định như nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể :

    ược hiểu là một trong các cách sau (Khoản 1 Điều 25 Đầu tư góp vốn vào tổ chức kinh tế đ Luật đầu tư năm 2014)

    – Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần;

    Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại hai điểm nêu trên

    ​Mua cổ phần của tổ chức kinh tế được hiểu là mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông (Điểm a Khoản 2 Điều 25 LĐT 2014)

    Được hiểu là một trong các cách sau (Điểm b, c, d Khoản 2 Điều 25 LĐT 2014):

    – Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;

    – Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;

    Còn các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài nêu trên và không thực hiện một trong các hoạt đông nêu trên thì thực hiện thủ tục như nhà đầu tư trong nước.

    Nội dung chính: Cá nhân, tổ chức nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần , phần vốn góp vào tổ chức kinh tế trong các trường hợp sau:

    Mọi vướng mắc pháp lý về luật doanh nghiệp và luật đầu tư nước ngoài vui lòng gọi: (nhấn máy lẻ phím 7 hoặc phím 8) để được đội ngũ luật sư doanh nghiệp và luật sư tư vấn luật đầu tư hỗ trợ, tư vấn, và giải đáp trực tiếp qua tổng đài điện thoại.

    Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp – Công ty luật Minh Khuê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Fsue: Doanh Nghiệp Nhà Nước Liên Bang Đơn Nhất
  • Khái Niệm, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Khái Niệm Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Luận Văn:quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Tại Tỉnh Quảng Ngãi
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Bạn Cần Biết Về Doanh Nghiệp
  • Phân Loại Hàng Tồn Kho
  • Hàng Tồn Kho Là Gì? Hàng Tồn Kho Bao Gồm Những Loại Nào?
  • Du Lịch Sinh Thái Là Gì ? Khu Du Lịch Sinh Thái Là Gì ?
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Du Lịch Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • a) Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

       Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài là công ty thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự đứng ra quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

      Hình thức: doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài thường được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, công ty hợp danh hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

    b) Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

        – Là hình thức đầu tư mang tính ổn định, tính vững bền và tính tổ chức.

        – Được thành lập dưới hình thức công ty TNHH. Điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp đối với các khoản nợ của doanh nghiệp.

        – Các nhà đầu tư vốn nước ngoài có quyền sở hữu 1 phần hay toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.

        – Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

     

     

     

     c) Ưu và nhược điểm của doanh nghiệp 100 vốn đầu tư nước ngoài là gì?

     Ưu điểm

        – Doanh nghiệp chịu sự điều hành quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp từ nhà đầu tư nước ngoài và họ sẽ có cách thức quản lý khác với các doanh nghiệp trong nước, thường đem đến hiệu quả kinh tế cao hơn.

        – Doanh nghiệp sẽ được đầu tư công nghệ, vốn và nguồn nhân lực tốt hơn.

     Nhược điểm

        – Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam sẽ gặp phải sự khác biệt về văn hóa kinh doanh với những doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng tới việc tiếp cận thị trường Việt Nam.

        – Pháp luật Việt Nam dù đã có sự mở rộng cho các nhà đầu tư nước ngoài nhưng vẫn trong một khuôn khổ nhất định vì một phần còn nhằm mục đích bảo vệ nhà đầu tư trong nước.

     d) Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

     Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài.

         – Môi trường pháp lý: môi trường pháp lý bao gồm toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý và việc vận hành trong thực tế của hệ thống này. Trong đó, đúng trong góc độ công tác kế toán, các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng quan trọng đến tổ chức công tác kế toán của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là Luật đầu tư, Luật kế toán.

        – Do đó môi trường kinh tế xã hội được xem là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp. Dưới góc độ là nước tiếp nhận đầu tư thì đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác động chủ yếu bởi môi trường đầu tư.

        – Môi trường đầu tư càng thuận lợi càng thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại môi trường đầu tư không thuận lợi sẽ hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước tiếp nhận đầu tư môi trương xã hội: môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường tài chính, môi trường lao động…

        – Môi trường lao động bao gồm: lực lượng lao động, trình độ lao động, tổ chức quản lý lao động… Các nước có lực lượng lao động dồi dào và nguồn lao động rẻ là một trong những nhân tố chủ yếu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

        – Môi trường tự nhiên như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên… là những nhân tố khách quan tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nước tiếp nhận đầu tư có vị trí địa lý thuận tiện, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú là một đặc điểm đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm.

     e)Vai trò của các doanh nghiệp có vồn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

        Mở rộng đầu tư cho hoạt động đầu tư nuớc ngoài cũng quan trọng như ngoại thương. Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ đầu tư tư nhân càng cao, đây là điều cốt yếu giúp tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm. Việc tiếp nhận đầu tư từ nước ngoài giúp nước tiếp nhận đầu tư cải thiện được phương pháp quản lý và công nghệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thông Là Gì? Những Điều Doanh Nghiệp Cần Biết Về Truyền Thông
  • Dự Án Sửa Đổi Luật Doanh Nghiệp 2005: Bình Luận Những Vấn Đề Pháp Lý Chủ Yếu
  • Sửa Đổi Luật Doanh Nghiệp 2005: Phân Tích, Bình Luận Và Kiến Nghị
  • Khái Quát Về Các Loại Hình Doanh Nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp 2005
  • Thủ Tục Sáp Nhập Doanh Nghiệp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100