Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • a) Khái niệm tư tưởng

    Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh. Trong thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, khái niệm “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. “Tư tưởng” ở đây không phải dùng với nghĩa tinh thần – tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học(thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đă khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Văn kiện của Đại hội định nghĩa: “tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”.

    Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng. Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”!.

    Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam;tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí minh:

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của

    nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp, bao gồm: tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc: tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là giá trị ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đều cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất. tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp bao gồm: tư tưởng triết học; tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam bao gồm: tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;về Đảng Cộng sản Việt nam;về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế;về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân: về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Giáo trình này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai để giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích
  • Em Hãy Nêu Định Nghĩa Truyện Cổ Tích? Qua Đó, Em Hãy Làm Rõ Thể Loại Của Tác Phẩm Sọ Dừa.
  • Nêu Khái Niệm Truyện Cổ Tích
  • Thể Loại Truyện Cổ Tích Lớp 6
  • Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Các Quốc Gia Phong Kiến Đông Nam Á
  • Qua Trinh Hinh Thanh Quoc Gia Phong Kien Dna Qua Trinh Hinh Thanh Va Phat Trien Cac Quoc Gia Phong Kien Dong Nam A Ppt
  • Bài 6 : Các Quốc Gia Phong Kiến Đông Nam Á
  • Giải Phóng Dân Tộc, Giải Phóng Con Người, Hạt Nhân Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hồ Chí Minh Về Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc Và Ý Nghĩa Hiện Thực Với Công Cuộc Đổi Mới Đất Nước Hiện Nay
  • Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của Nhân dân ta trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã kế thừa và phát huy tinh thần đại đoàn kết trong toàn dân. Đại đoàn kết trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đầu năm 1951, tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, Người vạch rõ: ” Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác. Người cũng chỉ rõ: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết, đó là: Đoàn kết làm ra sức mạnh; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”…

    Để huy động sức mạnh của toàn dân trong công cuộc giải phóng thực dân Pháp, năm 1941 Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh đã ra đời với liên hiệp hết thảy các từng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp – Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm mà tinh thần cơ bản là cốt thực hiện được hai điều: “Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn được độc lập. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”. Việt Minh đã quy tụ được nhiều tầng lớp nhân dân là lập ra được nhiều hội Công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc…. Mặt trận Việt Minh – hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm tập hợp và phát huy nguồn sức mạnh của quần chúng nhân dân trong quá trình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là là một sách lược tài tình của Đảng và Hồ Chí Minh nhằm khơi nguồn sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm thực hiện khát vọng giành độc lập, tự do.

    Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2/9/1945, tại Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nền độc lập của dân tộc trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới. Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự dẫn dắt của Đảng và Bác Hồ.

    Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiêp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân, tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác nhau; có hình thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Mặt trận Tồ quốc và các đoàn thể nhân dân; trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của nhân dân.

    Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta, Đại hội XII chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”.

    Xây dựng khối đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược nhất quán, cơ bản và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta. Với tình hình quốc tế và trong nước hiện nay, đường lối chiến lược tăng cường phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đang trở thành nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

    Trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, dao vậy, nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội lớn, nhưng cũng sẽ gặp nhiều thách thức, khó khăn lớn trên con đường phát triển, như các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp Cách mạng của Nhân dân ta, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng các vấn đề “nhân quyền”, ” dân tộc”, “tôn giáo” hòng li gián, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bên cạnh đó là nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhân dân.

    Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần phải tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới, theo đó cần chú ý một vấn đề sau đây:

    Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hai là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là Đảng ta, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu; Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân- tập thể- toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc.

    Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Nhà nước phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tính chất là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nhân dân ta, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải chủ động góp phần cùng Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn thiện một số chính sách chung để sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương “đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chân thành mọi thành viên trong xã hội có thể đoàn kết được, không phân biệt quá khứ, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, ở trong nước hay ở nước ngoài trên cơ sở mục tiêu chung là giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; đoàn kết giữa nhân dân với nhân dân các nước trên thế giới; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để trở thành động lực chủ yếu để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc”.

    Không những phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, phát huy nội lực dân tộc mà còn phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước.Trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng các nước, đồng thời phải nắm vững phương châm ngoại giao mềm dẻo, có nguyên tắc nhằm thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nước ta là: Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

    Sự nghiệp xây dựng và đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, cho nên mọi chủ trương chính sách của Đảng ta đều xuất phát từ dân, dựa vào dân mà thực hiện. Do đó, cần phải phát triển nguồn nhân lực con người, đào tạo đội ngũ cán bộ tốt, đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khơi dậy, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, coi dân chủ là mục tiêu, là động lực để xây dựng đất nước, chú trọng nâng cao ý thức làm chủ cho nhân dân. Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta coi đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển đất nước.

    Hồ Chí Minh toàn tập

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Chuẩn Xác Hơn Và Đầy Đủ Hơn Khái Niệm Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Và Dân Chủ Xhcn
  • Quyền Dân Tộc Tự Quyết Và Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số Theo Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam
  • Độc Lập Hay Ly Khai, Sứ Mệnh Hay Ảo Mộng?
  • Li Khai Và Vấn Đề Li Khai Dân Tộc Ở Một Số Nước Đông Nam Á
  • Tư Tưởng Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Đảng Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • 【Havip】Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Tổ Chức, Cán Bộ Của Đảng
  • Về Chủ Nghĩa Dân Túy Và Đấu Tranh Ngăn Ngừa Những Biểu Hiện Của Nó Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Lý Thuyết Mị Dân
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Phòng, Chống Những Biểu Hiện Của Chủ Nghĩa Dân Túy Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta hệ thống tư tưởng lý luận có giá trị to lớn, trong đó có vấn đề phát huy dân chủ trong Đảng.

    1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng

    Dân chủ là một khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị. Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực. Theo lý luận Mác – Lênin, dân chủ là một phạm trù lịch sử gắn liền với chế độ chính trị và nó ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời của nhà nước. Về bản chất, nhà nước mang tính giai cấp cho nên dân chủ cũng mang tính giai cấp.

    Hiện nay, có một số quan điểm nhìn nhận khái niệm “dân chủ” theo ý nghĩa rộng hơn. Dân chủ được xem xét với tư cách là một khái niệm chỉ phương thức quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực xã hội, giữa các thiết chế xã hội, giữa các con người trong xã hội. Dân chủ là một hình thức tổ chức quan hệ xã hội thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực(1). Theo đó, dân chủ bao quát tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị. Trong xã hội có giai cấp, dân chủ trong lĩnh vực chính trị có tính chi phối hệ thống chuẩn mực dân chủ trong các lĩnh vực khác.

    Quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; kế thừa và phát triển triết lý “thân dân”, “lấy dân làm gốc” trong văn hóa phương Đông và truyền thống dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân – dân là gốc của nước. Triết lý dân là gốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nguyên tắc chính trị trong việc khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân – trong nhà nước dân chủ thì dân là chủ và dân làm chủ.

    Dân là chủ – tức là nhân dân là chủ nhân thực sự của đất nước, chủ thể của xã hội “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(2). Quan niệm này, về thực chất, nói lên địa vị và vai trò của nhân dân trong xã hội “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”(3). Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ ủy quyền cho Nhà nước, Nhà nước là cơ quan quyền lực của nhân dân, thực thi sự ủy quyền của nhân dân. Quan niệm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt lên trên tất cả các quan niệm của các xã hội Việt Nam trước đó, nâng con người từ vị trí thần dân, thứ dân lên địa vị công dân, hơn nữa là địa vị chủ nhân của đất nước, của xã hội.

    Dân làm chủ – vừa thể hiện quyền của chủ thể xã hội, vừa thể hiện năng lực, bổn phận, trách nhiệm của chủ thể ấy. Trong nhà nước của dân, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ và có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, là người chủ thì nhân dân cũng phải thể hiện năng lực, trách nhiệm làm chủ của mình trong việc tham gia xây dựng và quản lý nhà nước. Quan niệm này thể hiện tính chủ động của chủ thể dân chủ – nhân dân. Như vậy, khái niệm “dân chủ” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là vấn đề quyền lực, lợi ích của nhân dân gắn với nhà nước và pháp luật, mà còn là giá trị nhân cách và phẩm giá con người. Từ đó, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực của sự tiến bộ và phát triển xã hội.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng việc xây dựng Đảng trở thành tổ chức vững mạnh, xứng đáng là tổ chức duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Phát huy dân chủ trong Đảng được xem là một trong những nguyên tắc cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Trong tư tưởng của Người, việc phát huy dân chủ trong Đảng được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, là vấn đề mang tính nguyên tắc, quyết định đến sức mạnh của Đảng.

    Để xây dựng Đảng ta thành một đảng chân chính, cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải được xây dựng và tổ chức theo những nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, trong đó nguyên tắc quan trọng hàng đầu là tập trung dân chủ, mà Người thường sử dụng cách viết là “dân chủ tập trung”. Đây là nguyên tắc cơ bản, quyết định đến sức mạnh của tổ chức Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, mục đích là để xây dựng Đảng thành một tổ chức chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa phát huy sức mạnh của tất cả những ai đã tự nguyện gắn bó với nhau trong một tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ, thực hành lãnh đạo tập trung. Khi nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm, sẽ làm cho Đảng suy yếu, nội bộ Đảng mất đoàn kết, đường lối, chủ trương của Đảng lệch lạc, sai lầm, uy tín của Đảng bị giảm sút, Đảng sẽ dần mất quyền lãnh đạo đối với quần chúng.

    Thứ hai, là cơ sở để đảm bảo quyền lợi của đảng viên.

    Thứ ba, là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, là hạt nhân để thực hiện dân chủ trong xã hội và đoàn kết toàn dân.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện tốt dân chủ trong Đảng, phát huy được nhiều ý kiến và kinh nghiệm tốt của đảng viên, Đảng sẽ xây dựng được đường lối, chính sách, nghị quyết đúng đắn. Sau khi có đường lối, nghị quyết, mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải chấp hành và thực hiện. Đó cũng là cơ sở để củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người chỉ rõ: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(5). Nghĩa là, Đảng cần lắng nghe, tập hợp mọi ý kiến khác nhau của đảng viên, của quần chúng, rồi phân tích, nghiên cứu, sắp đặt thành những ý kiến có hệ thống, để tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, làm cho quần chúng nắm vững và thực hành ý kiến đó. Công việc càng khó khăn, Đảng càng phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước.

    Thứ tư, là biện pháp hữu hiệu để phòng và chống những biểu hiện tiêu cực trong tổ chức đảng.

    Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong tổ chức đảng: chủ nghĩa cá nhân, bè phái, quan liêu, địa phương chủ nghĩa, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, vô kỷ luật hoặc kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hóa, cậy quyền, cậy thế, tham lam, lười biếng, bảo thủ,… Một trong những nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện tiêu cực trên là: “Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới… xa tránh những người tính trực nói thẳng”(6). Để khắc phục những biểu hiện tiêu cực đó, Người cho rằng Đảng cần thật sự phát huy dân chủ để cán bộ, đảng viên được bày tỏ ý kiến về các hoạt động của Đảng; thật thà tự phê bình và phê bình; tăng cường và thực hiện nghiêm minh kỷ luật Đảng.

    2. Các nguyên tắc đảm bảo phát huy dân chủ trong Đảng

    Để thực sự phát huy dân chủ trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản sau:

    Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng: “Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung”(7). Dân chủ trong Đảng tức là mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề: “Phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng đều do quần chúng đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý kiến lại mà thành”(8); “Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử ra”(9). Bởi vậy, quyền lực của các cơ quan lãnh đạo đó cũng là do đảng viên giao phó cho, chứ không tự ai tranh giành được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một nguyên tắc. Tập trung không phải là cá nhân chuyên chính, độc đoán, chuyên quyền, mà tập trung xây dựng trên nền tảng dân chủ. Người lãnh đạo đại diện cho quần chúng đảng viên, cần phải gần gũi và học hỏi, lắng nghe ý kiến của đảng viên chứ không được lạm quyền. Mặt khác, dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung chứ không phải dân chủ theo kiểu tập trung phân tán, vô tổ chức. Đảng viên có quyền nêu ý kiến, nhưng không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và kỷ luật của Đảng. Do vậy, Người yêu cầu: “Đảng viên phải kiên quyết chống nói lung tung, tự do hành động; dân chủ quá trớn”(10); toàn thể đảng viên phải theo đúng đường lối, nghị quyết của Đảng, phải theo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương.

    Hai là, dân chủ phải đi đôi với việc thực hiện kỷ luật đảng.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn mọi chính sách của Đảng thực hiện được thì phải có kỷ luật. Kỷ luật của Đảng là tự nguyện tự giác; đã tự nguyện tự giác là kỷ luật sắt, rất nghiêm, tất cả đảng viên già trẻ, trên dưới đều phải tuân theo. Nếu không giữ gìn nghiêm túc kỷ luật là giảm bớt lực lượng của Đảng, khó thực hiện được nhiệm vụ”(11). Kỷ luật là cơ sở chắc chắn để đảm bảo sự lãnh đạo tập trung làm cho Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Kỷ luật đặt ra cũng là để đảm bảo quyền dân chủ và phát huy dân chủ trong tổ chức đảng. Việc phát huy dân chủ trong Đảng lại phải luôn gắn liền với việc thực hiện kỷ luật Đảng. Đảng viên làm việc gì cũng phải có tính tổ chức, tính kỷ luật, phải bàn với tổ chức, không được đặt mình ngoài tổ chức; phê bình cũng phải trong tổ chức, có kỷ luật. Đảng viên ở địa vị càng cao thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương thực hiện dân chủ trong Đảng.

    Ba là, thật thà tự phê bình và phê bình.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nguyên nhân của việc cán bộ và đảng viên ít sáng kiến, ít hăng hái, “trước hết là vì: cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”(12). Biểu hiện là: đối với cơ quan lãnh đạo, người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Từ đó tạo ra sự cách biệt giữa cấp trên và cấp dưới, trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp, dưới thì có vấn đề không dám nói ra vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Từ đó, Người đề xuất cách sửa đổi lối làm việc: “Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới… Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”(13).

    Tự phê bình và phê bình là một phương cách hữu hiệu để phát huy dân chủ trong Đảng, không tự phê bình và phê bình là không tiến bộ, không dân chủ. Trong công tác tự phê bình và phê bình cũng phải có dân chủ. Đó là quyền lợi của mỗi đảng viên cần phải được tôn trọng. Bởi lẽ, quyền phê bình có thể nâng cao tính hăng hái và tinh thần phụ trách của các đảng viên, tăng cường sự đấu tranh của đảng viên với những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Quyền phê bình là vũ khí để chống quan liêu, mệnh lệnh, giúp cải thiện quan hệ giữa cán bộ và đảng viên, cải thiện các công tác của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ”(14). Người yêu cầu: “Cán bộ lãnh đạo cần phải làm gương mẫu thực hiện dân chủ phê bình và tự phê bình. Các cán bộ bất kỳ cấp nào cao hay thấp có quyền và có nghĩa vụ đòi hỏi thực hiện dân chủ”(15). Như vậy, tự phê bình và phê bình không chỉ là vũ khí để rèn luyện cán bộ, đảng viên, mà còn là biện pháp để thực hiện tốt dân chủ trong tổ chức đảng.

    Bốn là, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đảng viên.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ vai trò tiên phong của đảng viên trong mọi công tác. Theo Người: “Để thực hiện hoàn toàn dân chủ mới (là bước đầu để tiến dần đến chế độ cộng sản) thì mọi người, trước hết là những người đảng viên phải làm kiểu mẫu”(16). Mỗi đảng viên cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong mọi công tác như: luôn cố gắng học tập, để không ngừng nâng cao bản lĩnh, trình độ giác ngộ, năng lực công tác; giữ gìn kỷ luật của Đảng để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường sức mạnh của Đảng; thật thà chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện trái với nghị quyết của Đảng; tuyên truyền, giải thích chủ trương, chính sách của Đảng với quần chúng, vận động quần chúng thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng; gần gũi với quần chúng, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, báo cáo cho tổ chức đảng để đề xuất những giải pháp đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân; thường xuyên thật thà tự phê bình và phê bình để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải lắng nghe ý kiến phê bình từ quần chúng để luôn tiến bộ và phát triển.

    3. Giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

    Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ thực hiện dân chủ là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp phát triển của Đảng. Trong những năm qua, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong xã hội, trong đó có quyền dân chủ của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng đã “khắc phục một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và trong việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(17).

    Tuy nhiên hiện nay, việc phát huy dân chủ trong Đảng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhìn nhận: dân chủ trong Đảng còn hạn chế, kỷ luật không nghiêm, một số nơi mất đoàn kết nghiêm trọng… Không ít cấp ủy và tổ chức đảng thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới. Không ít cán bộ lãnh đạo chưa quen với ý kiến phản biện, những thông tin ngược chiều, không thích nghe ý kiến khác với ý kiến của mình. Còn thiếu những cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Hiện tượng cán bộ lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, mệnh lệnh, trù dập, ức hiếp quần chúng còn xảy ra ở một số nơi. Tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, tự do vô kỷ luật đã phần nào gây bức xúc trong dư luận(18).

    Từ thực trạng đó, Đảng ta đã chủ trương phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, đặc biệt là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp. Trong nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, lần đầu tiên Đảng đã thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và việc thực hiện chất vấn trong Đảng. Điều đó cho thấy bước tiến mới của Đảng ta trong quá trình phát huy, thực hành dân chủ trong Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy dân chủ trong xã hội”(19). Quan điểm trên phản ánh rõ nhận thức của Đảng ta về tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ trong Đảng.

    Để tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng, làm cơ sở phát huy dân chủ trong toàn xã hội, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ thông qua việc giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng cần xây dựng hệ thống quy chế, quy định đồng bộ, nhất quán bằng văn bản để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cơ sở để quản lý, điều chỉnh các hành vi, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng phải thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của người đứng đầu tổ chức đảng trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ: “Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân”(20).

    Hai là, dân chủ phải đi đôi với kiểm tra, giám sát thực hiện kỷ luật Đảng. Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số quy định, quy chế bảo đảm thực hiện dân chủ và kỷ luật trong Đảng, như: quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; quy chế chất vấn trong Đảng; quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm trong Đảng; xây dựng quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII xác định nhiệm vụ: “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng”(21).

    Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mỗi đảng viên cần nhận thức rõ mục đích của công tác tự phê bình và phê bình là nhằm làm cho bản thân mình tốt hơn, cán bộ, đảng viên mình tiến bộ hơn, tổ chức vững mạnh hơn. Trong việc phê bình cần có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, không né tránh. Đồng thời, phải phê bình với tinh thần tôn trọng, giúp đỡ đảng viên được phê bình; tuyệt đối không lợi dụng phê bình để nói xấu, trù dập hay bôi nhọ người khác. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, tránh tình trạng “việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng”(22). Công tác tự phê bình và phê bình cần được tiến hành thường xuyên nhằm phát huy hiệu quả lâu dài, làm cho nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực sự trở thành một thứ vũ khí sắc bén để mỗi đảng viên tốt hơn, Đảng ta ngày càng thêm vững mạnh.

    Bốn là, triển khai hiệu quả công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”(23). Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XII đã nêu nhiệm vụ: “Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra…”(24). Tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ trong Đảng có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng và hoạt động của Đảng ta hiện nay. Vì vậy, phát huy dân chủ trong Đảng vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài để tăng cường sức mạnh nội bộ của tổ chức, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thực hiện tốt dân chủ trong Đảng là nền tảng để mở rộng dân chủ trong toàn xã hội, thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

    Ghi chú:

    (1) Phạm Ngọc Quang, Một quan niệm mới về dân chủ, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 (74), 2014.

    (2),(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.434, tr.114.

    (3),(4),(6),(7),(8),(9),(10),(15),(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Sđd, tr.263, tr.264, tr.507, tr.286, tr.286, tr.286, tr.287, tr.143, tr.294.

    (5),(12),(13),(22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr.330, tr.283, tr.284, tr.298.

    (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Sđd, tr.617.

    (17),(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG- ST, H.2016, tr.182-183, tr.170.

    (18) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa  XI, Nxb CTQG-ST, H.2012, tr.22-23.

    (20),(21),(24) http://tulieuvankien.dangcongsan. vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-04nq-tw-ngay-30102016, truy cập ngày 26/12/2019.

    (23) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.232.

    ThS Nguyễn Thị Liên – Khoa Lý luận Chính trị, Đại học Luật Hà Nội

     

    Theo: https://tcnn.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Mới Và Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Cũ
  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Pháp Luật Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Việt Nam
  • Bảo Hiến, Chủ Nghĩa Lập Hiến Và Nhà Nước Pháp Quyền
  • Nhận Thức Về Dân Chủ Và Quá Trình Dân Chủ Hóa Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Các Hình Thức Dân Chủ Trực Tiếp Ở Một Số Nước Trên Thế Giới Và Gợi Mở Cho Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nét Đặc Sắc Trong Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh Về Dân Chủ
  • Có Nên Đi Học Các Khóa Học Dạy Chạy Ads Quảng Cáo Facebook Không? Sự Thực Phũ Phàng
  • Các Khái Niệm Về Giá Trị – Phần Iii
  • Không Gian Là Gì? (Phần 1)
  • Làm Thế Nào Để Trở Thành Triết Gia? Nghệ Thuật Phỏng Định Hợp Lý (1942)
  • Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến cuộc sống nhân dân, tôn trọng ý kiến

    và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. (Ảnh: danvan.vn)

    Ngược dòng lịch sử tới xã hội Việt Nam giữa thế kỷ 19, cả dân tộc rên xiết dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phong kiến thực dân. Khi xâm lược Việt Nam , thực dân Pháp đã đặt ở đây một thể chế chính trị gần giống nước Pháp – một chính thể cộng hòa nghị viện, nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với địa bàn ở xa chính quốc. Mọi quyền hành (lập pháp, lập quy, hành pháp và tư pháp) đều nằm trong tay viên Toàn quyền Đông Dương. Hệ thống vua quan người bản xứ đều trở thành công cụ thống trị của thực dân Pháp. Hình thức tổ chức quyền lực của Pháp ở Việt Nam không có một cơ sở hiến định. Đó là chính quyền thuộc địa bất hợp hiến, không có cơ sở từ một hiến pháp dân chủ, chính quyền cai trị theo một lề lối tùy tiện, độc đoán, bất công. Về hành chính là “cả một vực thẳm cách biệt người Âu với người bản xứ. Người Âu được hưởng mọi tự do và ngự trị như người chủ tuyệt vời, còn người bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyền phải phục tùng”. Về văn hóa thì “phải sống trong cảnh ngu dốt, tối tăm vì …không có quyền tự do học tập”; Về kinh tế thì người dân Việt Nam “phải đổ mồ hôi sôi nước mắt trong những lao tác nặng nhọc nhất và bạc bẽo nhất để kiếm sống một cách chật vật, và hầu như chỉ bằng sức của họ thôi, để nuôi mọi ngân quỹ của chính quyền. Một bên là những người Pháp và người nước ngoài: họ…tự dành cho mình tất cả các tài nguyên của đất nước, chiếm đoạt toàn bộ xuất nhập khẩu và tất cả các ngành nghề béo bở nhất, bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt nát và nghèo khốn của nhân dân”

    Tình cảnh đó đặt ra cho Hồ Chí Minh một nỗi niềm day dứt: làm thế nào đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân? Ngày 5.6.1911, Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Trả lời phỏng vấn tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” Liên Xô, năm 1923, Hồ Chí Minh đã giải thích quyết định của mình:” Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái….và từ thủa ấy tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”.

    Ra đi với khát vọng dân chủ ngàn đời của dân tộc Việt Nam, trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đặt chân đến nhiều nước, tìm hiểu nhiều cuộc cách mạng, đối chiếu so sánh các chế độ (dân chủ tư sản, chế độ xã hội chủ nghĩa với chế độ nô lệ thuộc địa ) và tìm hiểu nội dung, bản chất của các trào lưu tư tưởng (dân chủ tư sản, chủ nghĩa Tam Dân, chủ nghĩa Mác-Lênin…).

    Người nhận thấy tư tưởng nho giáo, phật giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ…nhưng cũng chứa đựng nhiều nhiếu yếu tố tích cực đó là lý tưởng về một “thế giới đại đồng”, triết lí nhân sinh: tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa, lễ giáo… Hồ Chí Minh lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp  phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng. Người cho rằng những điều hay trong đó thì chúng ta nên học.

    Với chủ nghĩa Mác Lênin, Người nhận thấy rằng đây là chủ nghĩa khoa học nhất, chân chính nhất và cách mạng nhất. Theo chủ nghĩa Mác Lênin, dân chủ chỉ được thực hiện đầy đủ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội mà thực chất là sự tham gia ngày càng rộng rãi và bình đẳng, thiết thực của nhân dân vào công việc quản lý của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với công bằng xã hội, chống áp bức bất công. Nó được thực hiện trong thực tế trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và được thể chế  hóa bằng pháp luật cũng như được pháp luật bảo đảm. Hồ Chí Minh đã tiếp thu triệt để tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác Lênin thông qua lý luận khoa học của các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản và thông qua cả sự trải nghiệm của bản thân trong những năm sống trên tổ quốc của Cách mạng tháng Mười từ đó Người đã đưa ra những quan điểm về dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là “dân là chủ” và “dân làm chủ nhà nước”. Quan điểm này được Người trình bày khái quát trong phần đầu của bài báo Dân Vận viết ngày 15.10.1949 như sau:

    “Nước ta là nước dân chủ,

    Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

    Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

    Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

    Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân .

    Chính quyền từ xã đên Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

    Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

    Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, t.1, tr. 6-8

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, t.1, tr. 6-8

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, t.1, tr.477.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, t.2, tr. 274

    Ban Dân vận Trung Ương: Dân biết, Dân bàn, dân làm, dân kiểm tra “và vấn đề xây dựng quy chế dân chủ, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1998, tr.12.

    Hồ Chí Minh: Toàn tạp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 698.

    Th.s Cù Thị Minh – Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Vấn Đề Tính Khoa Học Của Triết Học, Một Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Của Các Mặt Đối Lập
  • Quan Điểm Của V.i Lê
  • Lý Luận Của Triết Học Mác
  • Chân Lý Là Gì? Các Đặc Tính Cơ Bản Và Tiêu Chuẩn Của Chân Lý?
  • Hiểu Thêm Về Quần Chúng Nhân Dân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vấn Đề Dân Tộc
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức…
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Tôn Giáo
  • Từ Tín Ngưỡng Tự Do Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đến Quyền Tự Do Tín Ngưỡng, Tôn Giáo Trong Hiến Pháp Việt Nam
  • Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, từ những bài nói, bài viết, cho đến cả cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng sôi động và trong sáng, ta thấy quan điểm quần chúng của Người vô cùng đúng đắn, kiên định, phong phú, sáng tạo và mang tính chất độc đáo của Việt Nam. Ở quan điểm quần chúng của Hồ Chí Minh, ta không những thấy tư tưởng tiến bộ, đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò quần chúng trong lịch sử (cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, quần chúng nhân dân vừa là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, vừa là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội…

    Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các vị anh hùng dân tộc, các bậc minh quân đều đánh giá cao vai trò, sức mạnh quật cường của nhân dân Việt Nam, biết tập hợp và khai thác lực lượng của nhân dân lập nên những chiến công lẫy lừng và những thành tựu rực rỡ. Ngược lại, thời kỳ nào nhà cầm quyền không dựa vào sức mạnh của nhân dân thì thời kỳ đó, chính quyền đó không thể được coi là mạnh. Sau khi lên ngôi, năm 1010, Lý Công Uẩn rời đô về Thăng Long. Trong “Chiếu dời đô”, Lý Công Uẩn đã chỉ rõ mục đích: “Muốn mưu việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu thì trên phải vâng mệnh trời, dưới theo ý dân”. Nhà Trần đã 3 lần đánh thắng quân Nguyên (Mông Cổ) chính bởi vua tôi trên dưới một lòng đánh giặc, khí thế của hội nghị Diên Hồng, Bình Than như nước dâng trào cuốn trôi bè lũ ngoại xâm hung hãn, bạo tàn. Khi nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lên ngôi. Đối phó với quân Minh xâm lược, Hồ Quý Ly đã xây dựng lực lượng quân thường trực khá đông, có súng thần cơ, có nhiều chiến thuyền, nhưng không đoàn kết được toàn dân, lòng dân ly tán nên đã thất bại, cha con Hồ Quý Ly đều bị giặc Minh bắt.

    “Lật thuyền mới rõ dân như nước

    Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời”

    Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, từ những bài nói, bài viết, cho đến cả cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng sôi động và trong sáng, ta thấy quan điểm quần chúng của Người vô cùng đúng đắn, kiên định, phong phú, sáng tạo và mang tính chất độc đáo của Việt Nam. Ở quan điểm quần chúng của Hồ Chí Minh, ta không những thấy tư tưởng tiến bộ, đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò quần chúng trong lịch sử (cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, quần chúng nhân dân vừa là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, vừa là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, đồng thời cũng là người sáng tạo, lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần), mà còn thấy sự phát triển sáng tạo và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Kế thừa tư tưởng: “Nước lấy dân làm gốc”, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc” của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Lợi; quán triệt quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của quần chúng nhân dân; từ những bài học trong thực tiễn hoạt động của mình, Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh vĩ đại của nhân dân là sức mạnh không một lực lượng nào có thể chiến thắng được. Đó là sức mạnh tiềm tàng, tiềm năng, không phải tự nhiên mà có. Nó chỉ trở thành hiện thực bằng các biện pháp giáo dục, vận động, tổ chức và rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh. Từ năm 1923, trước khi rời Pháp sang Liên Xô trên cuộc hành trình về Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc đã nói rõ với các đồng chí cùng hoạt động trong Hội Liên hiệp thuộc địa chủ định đó của mình: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành độc lập, tự do”{1}.

    Hồ Chí Minh đã nêu cao quan điểm về con người, quan điểm về nhân dân: Tất cả vì con người và do con người; tất cả vì dân và do dân; con người là vốn quý nhất, là lực lượng to lớn nhất. Tư tưởng đó được thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết đó là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh: Sống vì nước, vì dân, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xã hội, con người… Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực “Phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc”; “Phải dựa vào sức mạnh, trí tuệ của dân”. Quan điểm về con người, về nhân dân của Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở tư tưởng chính trị – xã hội “dân là chủ”. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.

    Quan điểm về nhân dân, về con người ở Hồ Chí Minh đã trở thành phương pháp, tác phong công tác: tin ở dân, dựa vào dân, học hỏi dân. Có dân là có tất cả. “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”{2}. Quan điểm về tác phong quần chúng của Hồ Chí Minh bao hàm nhiều nội dung phong phú. Trước hết đó là niềm tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại của quần chúng; là tính khiêm tốn học hỏi quần chúng, tôn trọng quần chúng; quan tâm lo lắng đến lợi ích thiết thân của quần chúng; sống có tình có nghĩa với quần chúng – một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.

    Cùng với hệ thống tư tưởng về phong cách quần chúng, trong thực tế, từ suy nghĩ (tư duy) đến nói, viết (diễn đạt) và biểu hiện ra qua hoạt động sống hàng ngày (làm việc, ứng xử, sinh hoạt) của Hồ Chí Minh cũng chính là một tấm gương đạo đức sáng ngời về phong cách quần chúng, gần dân, hiểu dân, tin dân, tôn trọng nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

    Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H,2000, t.12, tr.212

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhân Dân Và Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề 4 Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Sức Mạnh Của Nhân Dân, Của Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • – Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    + Theo nghĩa phổ thông nhất, tư tưởng là suy nghĩ, ý nghĩ. Thế nhưng trong cụm từ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, thuật ngữ “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Nó được dùng với nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở hiện thực, thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    + Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống, từ cá nhân các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước đến nhận thức chung của toàn Đảng. Điều này phản ánh quy luật: nhận thức là một, quá trình, giai đoạn sau bao hàm và cao hơn giai đoạn trước, giai đoạn trước làm tiền để, cơ sở cho giai đoạn sau.

    Có thể nói, Đại hội đại biểu toàn quốc lần Ihứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội này, Đảng đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tương, kim chỉ nam cho hành động. Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, đội ngũ các nhà giáo, các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và đạt được những kết quả quan trọng. Những thành tựu nghiên cứu theo cả chiều rộng và chiếu sâu đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết, phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) xác định rõ. khá toàn diện và hệ thông những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. kế thừa và phát triển các giá trị truyền thông tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền vối chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân. do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân: về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tố thật trung thành của nhân dân.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Trong định nghĩa này. Đảng ta đã bước đầu làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học của tư tưỏng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống các quan điểm lý luận, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh xứng tầm một học thuyết, hệ tư tưởng.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng – lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác – Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Bốn là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: Soi đường thắng lợi cho cách mạng Việt Nam; tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc.

    – Hệ thống tư tưởng Hồ Chi Minh

    + Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thông lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thông tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thông tri thức tổng hợp, bao gồm tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam, bao gồm: Tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết dân tộc; về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Cuốn sách này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai đê giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    + Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền vối chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ước, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Url, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm Usb, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Uml, Khái Niệm B/l, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Lễ Hội,

    Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • b.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin

    – Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lênin.

    – Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh nổi lên một số điểm đáng chú ý:

    Một là, Đầu thế kỷ XX, Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn phong phú, nhờ đó đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin như một lẽ tự nhiên. Chủ nghĩa Mác-Lênin là bộ phận văn hoá đặc sắc nhất của nhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất

    Hai là, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là tìm con đường giải phóng cho dân tộc, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Việt Nam chứ không phải từ nhu cầu tư duy.

    Ba là, Người vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin theo phương pháp mác-xít và theo tinh thần phương Đông, không sách vở, không kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam.

    – Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ:

    + Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    + Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh.

    + Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.

    2. Nhân tố chủ quan

    Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh là:

    + Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng trong nước và trên thế giới.

    + Hồ Chí Minh có sự khổ công học tập, rèn luyện chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là học thuyết về cách mạng của giai cấp vô sản.

    + Hồ Chí Minh có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương nhân dân, thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bác Hồ từ một người tìm đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo.

    II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁ TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

    1. Thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước (1890 – 1911)

    – Nguyễn Sinh Cung sinh ra tại quê hương Kim Liên, Nam Đàn, trong một gia đình nhà nho yêu nước. Anh cũng có quảng thời gian 10 năm sống ở Huế. Anh được hấp thụ tinh thần bất khuất của các phong trào đấu tranh chống Pháp, tinh thần yêu nước, thương dân của những người thân và của nhiều nhà nho yêu nước.

    + Ngoài vốn Nho học và Quốc học, trong hành trang học vấn của anh Nguyễn hồi đó còn có những hấp dẫn về lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà cách mạng Pháp đã khai sinh.

    + Điều đặc biệt ở Nguyễn Tất Thành là anh có sự so sánh, nhận xét về các phong trào yêu nước lúc bấy giờ của các bậc tiền bối Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám và đi đến quyết định nước ngoài ở phương Tây tìm đường cứu nước.

    – Chính truyền thống quê hương và gia đình đã hình thành ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành lòng yêu nước, hoài bão cứu nước, lòng nhân ái, thương người, nhất là người nghèo khổ, tha thiết bảo vệ những truyền thống của dân tộc, ham học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    2. Thời kỳ từ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

    – 10 năm bôn ba trên thế giới, anh Nguyễn đã rút ra kết luận: trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột và chỉ có một mối tình hữu ái – tình hữu ái vô sản là thật mà thôi.

    – Năm 1919, Bản Yêu sách 8 điểm không được Hội nghị Véc-xây xem xét, nhưng tên gọi Nguyễn Ái Quốc và nội dung Yêu sách đã gây một tiếng vang lớn.

    – Người cũng đã khảo sát, và tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia Đảng Xã hội Pháp (1919), tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga.

    – Năm 1920, khi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và các vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản, con đường của Lênin.

    – 12/1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, Người đã biểu quyết việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Đây là thời kỳ, từ một thanh niên Việt Nam yêu nước Người trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là bước nhảy vọt lớn trong nhận thức của Người, một sự chuyển biến về chất, kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

    3. Thời kỳ 1921 – 1930: hình thành tư tưởng cơ bản về cách mạng Việt Nam

    – 1921 – 1923: Nguyễn Ái Quốc hoạt động với cương vị Trưởng tiểu ban Đông Dương trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp; Thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Le Paria nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

    – 1923 – 1924: Người sang Liện Xô tham dự Hội nghị QTND, dự Đại hội V QTCS và các Đại hội QTTN, QT Cứu tế đỏ, QT Công hội đỏ.

    Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu thực hiện một số nhiệm vụ do Đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân giao phó.

    – Năm 1925, Người sáng lập “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, ra báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tại Pa-ri.

    – Năm 1927, Người xuất bản tác phẩm “Đường Kách Mệnh”.

    – Tháng 2/1930 chủ trì hội nghị hợp nhất và thành lập ĐCSVN, trực tiếp thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt” và “Chương trình vắn tắt” của Đảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra
  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Khái Niệm Tư Tưởng Là Gì? Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Gì? Ý Nghĩa Tư Tưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Là Gốc
  • Chuyên Đề 4 Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Sức Mạnh Của Nhân Dân, Của Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Tư tưởng là ý thức của một cá nhân, một cộng đồng. Nó chứa một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học. Các khái niệm mang tính nhất quán, những quan điểm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    Quan điểm về tư tưởng xuất phát từ những ý tưởng của những nhà tư tưởng có tầm nhìn cao. Không phải ai có ý tưởng đều được coi là nhà tư tưởng, bởi lẽ theo nhà bác học Lênin cho rằng người đó phải biết cách giải quyết được những vấn đề chính trị, sách lược, tổ chức.

    Tư tưởng không phải những cái có sẵn hay đã được đóng khung từ trước. Nó có thể được sinh ra và phát sinh trong quá trình trao đổi, suy nghĩ của con người. Tư tưởng được mọi người tiếp thu có chọn lọc dưới dạng lĩnh hội lẫn phê phán.

    Theo đó tư tưởng là gì? Đó là cái gì đó không giới hạn, nó luôn được hình thành trong quá trình tiếp thu của con người .Tư tưởng có thể có dạng tiêu cực và tích cực.

    Tư tưởng chính trị của dân chủ

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng, chính trị… Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người đã vận dụng và phát triển thêm những ý tưởng của các nhà bác học. Phát huy những cái tiên tiến và sử đổi những cái chưa tốt.

    Các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh đã ghi chép, nhận định những vấn đề cũng như hoạt động của người. Các nội dung này được hình thành và phát triển từ các thời kỳ hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế. Các tư tưởng của người được ứng dụng vào trong các cuộc đấu tranh cũng như thực tế lúc bấy giờ.

    Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh nhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam.Tiếp thu các tư tưởng những người đi trước và các tư tưởng tiên tiến. Các tư tưởng được áp dụng như tư tưởng cộng sản Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng pháp, tư tưởng văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Những tư tưởng của người được đánh giá rất cao. Là những tư tưởng có tính triết lý cao, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin. Dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh luôn coi tư tưởng của Người là khối tài sản lớn, là kim chỉ nam cho mọi hành động.

    Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng. Là những tư tưởng để xây dựng một đất nước yên bình. Nó nằm trong các tư tưởng của những người đi trước. Tư tưởng chính trị nó là sách lược để đất nước ta chống lại quân giặc. Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân.

    Dân tộc Việt Nam sử dụng chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí lý luận, là nền tảng tư tưởng chính trị. Các lý luận là kim chỉ nam, chỉ ra phương hướng cho chúng ta trong thực tế. Mỗi cán bộ đều phải học tập để áp dụng vào thực tế.

    Tử tưởng chính trị cũng chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Học tập và làm theo tư tưởng này giúp xây dựng Đảng về chính trị vững mạnh.

    Tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt là những tư tưởng tiên tiến, tiến bộ của những người đi trước đã để lại cho nhân dân khối tài sản quý báu. Đặc biệt là tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của dân tộc ta.

    • Tư tưởng là tất cả những suy nghĩ, định hướng, phân tích, đánh giá hay kết luận… thành ý trong đầu của chúng ta. Ví dụ: khi nhìn thấy con gà, chúng ta thốt lên “Con gà trống đẹp quá!” cũng là chúng ta đang tư tưởng và tư tưởng được bộc lộ ra ngoài bằng lời nói.

    Sự khác nhau giữa tư tưởng và lý luận là gì?

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Quá Trình Hình Thành, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Ôn Tập Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh Khái Niệm Và Nguồn Gốc
  • Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Xây Dựng Lực Lượng Công An Nhân Dân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Tổ Chức Bộ Máy Công An Nhân Dân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Dong Luc Hoc Chat Diem
  • Định Nghĩa Cơ Năng Là Gì – Hệ Quả & Định Luật Bảo Toàn Cơ Năng
  • Lực Lượng Bán Hàng (Field Force)
  • Hai Lực Cân Bằng Là Gì? Ví Dụ Về Hai Lực Cân Bằng
  • 1. Công an nhân dân “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”

    Một là, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Công an nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; đó cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Công an nhân dân. Vì vậy, trong Bài nói tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang, Người khẳng định: “Thành lập được lực lượng Công an nhân dân vũ trang là một thành công về đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an. Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính” (1).  Vì thế, trong quá trình trưởng thành, phát triển của lực lượng Công an phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước và Công an nhân dân luôn phải phục tùng vô điều kiện sự lãnh đạo, quản lý đó: “Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân” (tập 7, tr.269). Theo đó, một mặt, phải tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân của Công an nhân dân; đồng thời, nội bộ phải chung sức, đồng lòng, đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao theo đúng lời dạy của Bác: “Đảng có lãnh đạo chính trị đúng, thì chuyên môn mới đúng. Công an nhân dân vũ trang, hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới”(2). Mặt khác, phải kiên quyết phòng, chống mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, tách Công an khỏi sự lãnh đạo của Đảng ta, hoặc đối lập giữa lực lượng Công an với Đảng, Nhà nước và nhân dân…

    Hai là, Công an nhân dân là lực lượng công cụ bạo lực cách mạng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu Công an nhân dân quy định chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an. Vì thế, trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực sắc bén để chuyên chính với những lực lượng phản cách mạng. Vì vậy, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1 năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện. Còn công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc” (3). Cụ thể, Công an nhân dân có hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau:

    Thứ nhất, Công an nhân dân là công cụ bạo lực cách mạng sắc bén của Đảng, Nhà nước. Trong Bài nói tại lớp nghiên cứu khóa I  và lớp bổ túc khóa VI Trường Công an Trung ương, Người khẳng định: “Công an là một bộ máy để thực hiện chuyên chính dân chủ nhân dân, bảo vệ nền chuyên chính của nhân dân đối với các thế lực phản động khác. Muốn có dân chủ thật sự, phải chuyên chính thật sự, nếu không bọn xấu sẽ làm hại nhân dân. Muốn chuyên chính thật sự, phải thật sự dân chủ với nhân dân. Dân có mến, yêu, tin công an thì mới giúp công an chuyên chính với địch để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(4). Theo đó, chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Công an nhân dân là sử dụng bạo lực chuyên chính đối với các thế lực thù địch, phản động để bảo vệ chính quyền – nền chuyên chính của nhân dân – tức nền chuyên chính vô sản trước kia và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong Bài nói tại Trường Công an trung cấp khóa 2, Người giải thích rõ hơn: “Các chú, các cô phải biết chính quyền của chúng ta là chuyên chính dân chủ nhân dân. Đây là nhân dân chuyên chính để đàn áp bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai chống lại chính quyền ấy. Vì quyền lợi chung của đa số nhân dân mà chúng ta chuyên chính với thiểu số bóc lột. Chính quyền của bọn tư bản thì là chính quyền chuyên chính của một thiểu số chống lại đa số” (5)…

    Thứ hai, Công an nhân dân lực lượng bảo vệ nhân dân. Công an nhân dân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ và chiến đấu vì nhân dân; do đó, bảo vệ nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu của Công an. Chính vì vậy, trong bài Công an và nhân dân, đăng Báo Nhân dân, số 533, ngày 18-8-1955, Người chỉ rõ và yêu cầu Công an phải đoàn kết và dựa vào nhân dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ vẻ vang đó: “Nhiệm vụ của Công an là: Bảo vệ nhân dân, giữ gìn trật tự trị an, tẩy trừ những kẻ gian tế. Muốn làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang ấy, Công an cần phải đoàn kết nhân dân, tổ chức và giáo dục nhân dân, dựa vào lực lượng rộng lớn của nhân dân” (6). Không những vậy, “Bác dặn thêm mấy điểm: Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài. Kẻ địch bên trong là bọn phản động, bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đế quốc, bọn xâm lược. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung; là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt”(7)… 

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm cán bộ, chiến sĩ Công an Hà Nội dịp Tết Quý Mão 1963.

    (Ảnh tư liệu)

    2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vừa “hồng”, vừa “chuyên”

    Một là, về mục tiêu, nội dung xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Tư duy nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng thế trận an ninh nhân. Từ những tổ chức vũ trang đầu tiên đến lực lượng Công an nhân dân ngày nay, lực lượng Công an luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng, giáo dục, rèn luyện về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

    Người khẳng định nội dung cơ bản của việc xây dựng Công an nhân dân phải được thể hiện ở việc xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người thường xuyên nhắc nhở phải: “Sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Bằng hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn hết sức phong phú, Hồ Chí Minh từng bước giáo dục, bồi dưỡng làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần của lực lượng Công an nhân dân. Đồng thời, Người rất quan tâm đến việc chọn lựa, bồi dưỡng những “điển hình tiên tiến” trong các tầng lớp nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, có giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp sâu sắc để tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành những cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cách mạng, những cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, những đảng viên trung kiên của Đảng. Vì vậy, Người yêu cầu Công an: “phải nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, luôn luôn cảnh giác, dũng cảm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân” (8).

    Nội dung cơ bản xây dựng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc xây dựng cho lực lượng Công an nhân dân có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; có tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa Công an và nhân dân, đoàn kết quốc tế tốt; có dân chủ tốt; có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; có tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ; có ý chí quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Đồng thời, đó còn là việc chăm lo xây dựng lực lượng Công an nhân dân về mặt tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị kỹ thuật, khoa học và nghệ thuật an ninh… Vì vậy, Người nhắc nhở Công an: “Phải thật sự đoàn kết, đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa công an với nhân dân. Phải kịp thời kiện toàn tổ chức và chỉnh đốn lề lối làm việc của các bộ phận công an để làm trọn nhiệm vụ mới”(9)…

    Hai là, về phương thức xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân phải trải qua quá trình xây dựng, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị-xã hội, của nhân dân các dân tộc Việt Nam và trực tiếp là của các tổ chức, con người cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân, thông qua công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, thông qua việc tiến hành tốt công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng Công an nhân dân và thông qua hoạt động thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ lực lượng Công an nhân dân cả trong thời chiến và thời bình. Muốn vậy, theo Người: “Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi: Đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an. Đối với những người có thành tích, phải khen thưởng, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức. Các cấp đảng bộ trong lực lượng Công an nhân dân phải rất coi trọng xây dựng đảng bộ và chi bộ “bốn tốt”, phải coi trọng công tác xây dựng Đoàn Thanh niên. Trong các cơ quan, phải thực hành dân chủ, thường xuyên phê bình nghiêm chỉnh và thật thà tự phê bình để giúp nhau tiến bộ. Các cô, các chú thi đua thực hiện những điểm nói trên, thì Công an nhân dân của ta sẽ là một lực lượng cách mạng vô địch”(10). 74 năm qua, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng của Người về Công an nhân dân, lực lượng Công an nhân dân luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đã cùng với nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên những chiến thắng vẻ vang, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đã viết nên truyền thống tốt đẹp “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”…

    3. Một số nội dung góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

    Với thực tiễn cách mạng, căn cứ tình hình, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của mỗi giai đoạn lịch sử Đảng, Nhà nước ta luôn định hướng những chủ trương, nhằm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân liên tục được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng. Như: Tại Đại hội lần thứ X của Đảng xác định: “Công an nhân dân phải thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy và tiến lên hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, thật sự là công cụ tin cậy, sắc bén của Đảng và Nhà nước”. Đại hội lần thứ XI, Đảng ta khẳng định “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao”. Đại hội lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “ Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần tăng cường nguồn lực cho quốc phòng, an ninh”.

    Thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển lực lượng 74 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn quán triệt và nắm vững quan điểm đổi mới của Đảng, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an xác định công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, với mục đích đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình mới. Đặc biệt cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp thường xuyên chú trọng và thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng…, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân làm mục tiêu hàng đầu để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên…

    Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu, toàn lực lượng Công an luôn nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện sâu sắc, kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục triển khai sâu rộng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, đó là mệnh lệnh trái tim của mỗi cán bộ chiến sỹ Công an; phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”; Cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh – xây dựng nếp sống văn hoá vì nhân dân phục vụ”; các phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc”…

    Bộ trưởng Tô Lâm phát biểu tại buổi gặp mặt truyền thống các thế hệ cán bộ lãnh đạo cao cấp, đoàn viên, thanh niên ưu tú trong CAND nhân kỷ niệm 74 năm Ngày truyền thống CAND Việt Nam (19/8/1945 – 19/8/2019) và 14 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (2005 – 2022). (Nguồn: Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Công an)

    Nhân kỷ niệm 74 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 – 19/8/2019) và 14 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (2005 – 2022). Đại tướng, chúng tôi Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương. Bộ trưởng Bộ Công an đã có bài viết trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an “Phát huy truyền thống Anh hùng, vẻ vang, quyết tâm chỉnh đốn, xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” đồng chí nhấn mạnh: “…Tập trung điều chỉnh, bố trí lại lực lượng theo hướng tăng cường cho cơ sở, cho lực lượng trực tiếp chiến đấu. Rà soát khung tiêu chuẩn, tiêu chí để bố trí cán bộ ở từng cấp Công an theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị là “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”. Theo đó, tiếp tục giảm quân số ở cơ quan Bộ để tăng cường cho địa phương, giảm quân số ở cấp tỉnh, cấp huyện để tăng cường cho cấp xã, phường, thị trấn. Khẩn trương triển khai thực hiện chủ trương bố trí Công an xã chính quy, đi đôi với đổi mới phương thức hoạt động, phương pháp công tác theo hướng gần dân, sát dân, tăng cường “tương tác” với nhân dân, sâu sát cơ sở, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, trong từng gia đình, từng thôn, xóm không để phát sinh thành tội phạm, giải quyết những vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở…”

    Kế thừa thành tựu, kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và xây dựng lực lượng; quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chủ trương đề ra trong các nghị quyết khóa XII; căn cứ các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Bộ Công an chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành từng bước bài bản, khoa học, khách quan trong nghiên cứu xây dựng Đề án “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106), với mục tiêu sắp xếp lại tổ chức bộ máy Công an nhân dân phù hợp, đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; kịp thời tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15-3-2018 về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tham mưu, đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2018/NĐ-CP, ngày 06-8-2018, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.*

    Lực lượng CAND ngày càng lớn mạnh, trưởng thành, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. (Nguồn: Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Công an)

    Hiện nay các thế lực thù địch, phản động chống phá chúng ta với nhiều âm mưu thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và “Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”… Sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường trong hội nhập quốc tế ngày càng rõ… Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức và một số bức xúc trong xã hội có chiều hướng gia tăng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đời sống xã hội…Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

    Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Công an nhân dân, nhất là kiên trì và phát triển quan điểm cơ bản, chủ trương nhất quán của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân, nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo phù hợp với đặc điểm, yêu cầu trong thời kỳ mới. Công an nhân dân phải tỏ rõ bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, không ngừng phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang của mình…Chủ động đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng, bảo vệ lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng Công an nhân dân của các thế lực thù địch…

    Tiếp tục đổi mới toàn diện và nâng cao chất lượng các mặt công tác của các lực lượng, phát huy vai trò nhân dân cùng tham gia giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới… Phát huy vai trò, hiệu lực tổ chức, quản lý, điều hành của Nhà nước trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng Công an nhân dân coi đó là tình cảm, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, các lực lượng và nhân dân…chú trọng vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, vai trò của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong tham gia xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh.

    Phát huy vai trò của các tổ chức, con người trong lực lượng Công an nhân dân, nhất là vai trò cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng, vai trò của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ các cấp, không ngừng tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Thường xuyên quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận, xác định rõ những yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

    Xây dựng và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh công tác phát động phong trào quần chúng, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân.

    Trong giai đoạn hiện nay cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy” và phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc”. Trong mỗi giai đoạn cần xác định rõ mục tiêu cho phong trào thi đua một cách thiết thực, phù hợp với các loại hình đơn vị, đặc biệt mô hình công an cấp xã; thường xuyên theo dõi, tổng kết, kịp thời động viên, khen thưởng đúng người, đúng việc và nhân rộng gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến trong toàn lực lượng Công an nhân dân…./.

    Chú thích:

    (1) (2) (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập,tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.153; tr.153; tr.154

    (3) (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 10, tr.258; tr.83

    (4)Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 11, tr.598

    (5)Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 7, tr.269

    (8) (9)Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 15, tr.169; tr.169; tr.169-170.

    *http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/An-ninh-quoc-phong/2018/53480/Bo-Cong-an-Xay-dung-bo-may-tinh-gon-hoat-dong-hieu.aspx

    Nguyễn Hạnh Liên – Bảo Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nền Tảng Lý Luận Quan Trọng Của Sự Nghiệp Bảo Vệ An Ninh, Trật Tự .công An Tra Vinh
  • Lực Đẩy Acsimet Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • Lực Ma Sát Là Gì? Xuất Hiện Khi Nào?
  • Quán Tính Là Gì? Tìm Hiểu Lực Quán Tính Trong Các Hệ Quy Chiếu
  • Quán Tính Là Gì? Lực Quán Tính Là Gì? Công Thức Tính
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100