Câu 407.khái Niệm “hệ Thống Chính Trị” Lần Đầu Tiên Được Đảng Ta Sử Dụng Khi Nào?

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Hiện Nay. Nêu Một Số Hạn Chế Và Giải Pháp Khắc
  • Bộ Câu Hỏi Tham Khảo Thi Trắc Nghiệm Kỳ Thi Nâng Ngạch Chuyên Viên Chính Năm 2022, Chuyên Đề Xây Dựng Đảng, Chính Quyền, Nhà Nước
  • Hệ Thống Chính Trị Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Zalo 093 189 2701
  • Câu 407.Khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng khi nào?

    A. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI

    B. Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VII

    C. Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII

    D. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa IX

    A. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

    B. Đảng làm chủ, Nhà nước lãnh đạo, nhân dân quản lý

    C. Đảng quản lý, nhà nước lãnh đạo, nhân dân làm chủ

    D. Đảng lãnh đạo, Nhà nước làm chủ, nhân dân quản lý

    A. Là cơ quan cao nhất của Nhà nước.

    B. Là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.

    C. Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước

    D. Là cơ quan quản lý cao nhất của Nhà nước

    A. Bộ Chính trị B. Ban Bí thư

    C. Chính phủ D. Quốc hội

    Câu 411.Quốc hội không có chức năng nào?

    A. Là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp.

    B. Quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.

    C. Là hạt nhân đoàn kết các tầng lớp nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

    D. Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

    A. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

    B. Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.

    C. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

    D. Quản lý nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

    A. Giai đoạn (2011 – 2022).

    B. Giai đoạn 1 (2011 – 2022); Giai đoạn 2 (2016 – 2022).

    C. Giai đoạn 1 (2011 – 2013); Giai đoạn 2 (2014 – 2022); Giai đoạn 3 (2017 – 2022).

    D. Giai đoạn 1 (2011 – 2022); Giai đoạn 2 (2017 – 2022).

    A. Mức trên 80%. B. Mức trên 70% .

    C. Mức trên 60% . D. Mức trên 50% .

    A. Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

    B. Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    C. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    D. Dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh.

    A. Là cơ quan chấp hành của Nhà nước B. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội

    C. Là cơ quan quyền lực của nhà nước D. Là cơ quan quyền lực của Quốc hội

    A. Đảm bảo ổn định kinh tế xã hội; tạo lập khuôn khổ pháp luật cho hoạt động kinh tế.

    B. Định hướng phát triển kinh tế, điều tiết các hoạt động phát triển kinh tế, làm cho kinh tế tăng trưởng, ổn định, hiệu quả.

    C. Hạn chế khắc phục mặt tiêu cực của kinh tế thị trường.

    D. Tất cả đều đúng.

    A. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

    B. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    C. Chính phủ là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành văn bản dưới luật.

    D. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

    A. Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

    B. Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và nhờ người khác bỏ phiếu kín.

    C. Phổ thông, trưng cầu dân ý và bỏ phiếu kín.

    D. Phổ thông, bình đẳng và đại diện cử tri.

    A. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;

    B. Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

    C. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ

    D. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt

    A. Tổng Bí thư B. Chủ tịch nước

    C. Thủ tướng Chính phủ D. Chủ tịch Quốc hội

    Câu 423.Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi) được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 19-6-2015 có hiệu lực thi hành từ ngày:

    A. 01-12-2015 B. 01-01-2016 C. 01-7-2015 D. 01-6-2016

    A. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 4; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an không quá 6.

    B. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 5; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ ngoại giao không quá 6.

    C. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 4; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ ngoại giao không quá 5.

    D. Số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không quá 4; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an không quá 5.

    Поделитесь с Вашими друзьями:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Lối Của Đảng Về Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Ở Nước Ta?
  • Lý Luận Môn Giáo Dục Thể Chất Ly Luan Giao Duc The Chat Docx
  • Lý Luận Giáo Dục Thể Chất Ly Luan Giao Duc The Chat Doc
  • Tập Bài Giảng Lý Luận Và Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất
  • Gahp: Llppgdtc Ly Luan Va Phuong Phap Giao Duc The Chat Doc
  • Quan Điểm Duy Vật Lịch Sử Về Khái Niệm Con Người?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Vui Về Phụ Nữ Của Một Đàn Ông Fa
  • Giáo Án Sinh 12 Tiết 37: Môi Trường Sống Và Các Nhân Tố Sinh Thái
  • Hiểu Đúng Thế Giới Phẳng Là Gì?
  • Thế Giới Phẳng Là Gì? Thời Đại 4.0 Của Thế Giới Phẳng
  • Thế Giới Phẳng Là Gì? The World Is Flat
  • Quan điểm duy vật lịch sử về khái niệm con người

    Con người vừa là một tồn tại mang bản tính tự nhiên vừa là một tồn tại mang bản tính xã hội. Bản tính tự nhiên và bản tính xã hội tồn tại trong mối quan hệ chi phối nhau, tác dộng lẫn nhau và được thể biện trong mỗi hành vi, mỗi hoạt động của con người.

    – Phân tích nội dung của quan điểm trên

    Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên. Vì vậy, bản tính tự nhiên phải là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người. Cũng do vậy, việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tự nhiên của con người là cơ sở khoa học quan trọng để con người hiểu biết vể chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân mình trong mọi hành vi và hoạt động sáng tạo ra lịch sử của nó, tức lịch sử nhân loại.

    + Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai giác độ sau đây:

    Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài.

    Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng “là thân thể vô cơ của con người”. Do đó, những biến đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con người và xã hội loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người và giới tự nhiên; ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người, loài người luôn luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên, làm biến đổi môi trường đó. Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người, loài người và các tồn tại khác của giới tự nhiên.

    Tuy nhiên, con người không đồng nhất với các tồn tại khác của giới tự nhiên, nó mang đặc tính xã hội bởi vì mỗi con người với tư cách là “người” chính là xét trong mối quan hệ của các cộng đồng xã hội, đó là các cộng đồng: gia đình, giai cấp, quốc gia, dân tộc, nhân loại,… Vì vậy, bản tính xã hội nhất định phải là một phương diện khác của bản tính con người, hơn nữa đây là bản tính đặc thù của con người.

    + Bản tính xã hội của con người được phân tích từ các giác độ sau đây:

    Một là, xét từ giác độ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phải chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động. Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người. Đó là một trong những phát hiện mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhờ đó mà có thể hoàn chính học thuyết về nguồn gôsc loài người mà tất cả các học thuyết trong lịch sử đểu chưa có lời giải đáp đúng đắn và đầy đủ.

    Hai là, xét từ giác độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại của nó luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng. Ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân lại là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. Ngoài mối quan hệ xã hội thì mỗi con ngưòi chỉ tồn tại với tư cách là một thực thể sinh vật thuần túy mà không thể là “con người” với đầy đủ ý nghĩa của nó.

    Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tính thống nhất của nó, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau, nhờ đó tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình làm ra lịch sử của chính nó. Vì thế, nếu lý giải bản tính sáng tạo của con người đơn thuần chỉ từ giác độ bản tính tự nhiên hoặc chỉ từ bản tính xã hội của nó thì đều là phiến diện, không triệt để và nhất định cuối cùng sẽ dẫn đến những kết luận sai lầm trong nhận thức và thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Giới Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Phạm Duy Nghĩa
  • Bộ Môn Nhân Học/nhân Học Về Giới
  • Bài 3: Giới Khởi Sinh, Giới Nguyên Sinh, Giới Nấm.
  • Các Quy Định Về Môi Giới Thương Mại 2022
  • Tổng Quan Về Hoạt Động Môi Giới Thương Mại
  • Khái Niệm ‘lịch Sử’ Trong Sử Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm ‘sử Luận’ Trong Sử Học
  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng, Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển: Tính Chất, Ý Nghĩa Và Vận Dụng Thực Tiễn
  • KHÁI NIỆM SỬ HỌC:

    HARRY RITTER

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

    Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

    LỊCH SỬ (Anh: ). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử – nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

    Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ ( res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt động nghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ để nói đến việc nghiên cứu về quá khứ 1950: 6). Nhà sử học là người “theo đuổi sự tra vấn này, và nhà sử học giỏi nhất là người theo đuổi nó tốt nhất” (Zagorin, 1956: 9).

    Ở thời Hy Lạp hóa và La Mã, lịch sử dùng để chỉ tự sự của người tra vấn; một sự thay đổi ngữ nghĩa diễn ra trong đó các ý niệm về sự tìm tòi nghiên cứu và sự chứng thực phụ thuộc vào nghệ thuật trình bày. Từ nghĩa này, chữ lịch sử theo nghĩa “câu chuyện” trở nên thông dụng, nghĩa là nó được dùng để chỉ các tự sự hư cấu và tự sự sự kiện (Press, 1977: 285, 288) – chẳng hạn, Câu chuyện của Tom Jones / History of Tom Jones của Fielding ở thế kỷ 18. Truyền thống tu từ học này – thứ truyền thống đã đi đến chỗ xếp lịch sử vào một nhánh của văn học, như là một phương tiện khai trí và giải trí cũng như là một nguồn nhận thức sự kiện quan trọng – vẫn giữ vị trí tối cao cho đến thế kỷ 18, đêm trước của sự ra đời lịch sử “khoa học” (Johnson, 1926: 21-22; Stromberg, 1951: 297-98).

    Suốt thời trung đại, lịch sử dần dần mang lấy nét nghĩa là toàn bộ diễn trình của các sự biến của con người, nghĩa này có lẽ không hề có ở thời cổ đại (Press, 1977: 283) nhưng lại trở thành yếu tố giữ vai trò then chốt trong thần học Kitô, trong triết học tư biện về lịch sử, và trong diễn ngôn đời thường của thời hiện đại. (Nhiều nghiên cứu trước đây về ý thức lịch sử thời cổ đại , hoặc rằng tư tưởng Hy-La và Do thái-Kitô giáo cổ đại cho thấy chúng có cả khái niệm tiến bộ lẫn khái niệm tái diễn ở bên ngoài sách vở”; nó giả định rằng quá khứ “có một thứ thực tại khách quan mà người nghiên cứu lịch sử có thể dùng để so sánh và kiểm tra các văn tập sử ký theo cách nào đó không thể giải thích được” (Johnson, 1926: 22). Các nhà phê phán truyền thống này cảnh báo rằng “chúng ta có thể biết quá khứ chỉ khi nào nó để lại những dấu vết của nó trong các tập sử ký và các tàn tích. Quá khứ không tồn tại ở đâu khác ngoài ý thức của con người” (Johnson, 1926: 22).

    Suốt thế kỷ 18, truyền thống cổ đại xem lịch sử như là tự sự được phối ngẫu với mối quan tâm đến sự kiện ở người sưu tầm cổ vật, và khoảng năm 1800 khái niệm hiện đại là “lịch sử khoa học” được hình thành. Thế thì lịch sử là sự tra vấn về bản tính của quá khứ vì bản thân quá khứ, được tiếp tục với mục đích là xác lập việc ghi chép tự sự về các sự biến như chúng “đã thực sự xảy ra” (Ranke, 1972: 234) công kích mô hình khoa học bằng cách cho rằng “theo bản chất bất biến của nó, lịch sử là một ‘câu chuyện'” – ý ông muốn nói là “nghệ thuật của lịch sử vẫn luôn là nghệ thuật của tự sự”; quan niệm lịch sử như là “nghệ thuật khai phóng” hay “bộ phận của văn chương của con người” vẫn còn phổ biến (Strayer, 1950. “History, popular and unpopular”. Trong Strayer: 27-57.

  • Barzun, Jacques. 1974. Clio and the doctors: psycho-history, quanto-history, and history. Chocago.
  • Berr, Henri, and Febvre, Lucien. 1932. “Hisroty and historiography: hisroty”. Encyclopedia of social sciences 7: 357-68.
  • Breisach, Ernst. 1983. Historiography: ancient, medieval and modern. Chicago.
  • Burke, Peter. 1969. The renaissance sense of the past. London.
  • Croce, Benedetto. 1972. “An inaugural lecture” trong Stern: 179-88.
  • Harbison, E. Harris. 1956. The Cristian scholar in the Age of Reformation. New York.
  • Hay, Denys. 1977. Annalists and historians: western historiography from the eighth to the eighteenth century. London.
  • Holborn, Hajo. 1949. “Greek and modern concepts of history”. Journal of the History of Ideas 10: 3-13.
  • Hughes, H. Stuart. 1964. History as art and as science: twin vistas on the past. New York.
  • Huizinga, Johan. 1972. Preface to Histories of the Latin and Germanic nations from 1494-1514. In Stern: 55-58.
  • Rothfels, Hans. 1961. “Einleitung”. In Waldemar Besson, ed., Geschichte: das Fischer Lexikon. Frankfurt.
  • Stern, Fritz. 1972. The varieties of history. New York.
  • Strayer, Joseph R. 1972. “Clio, a muse”. In Stern: 227-45.
  • Trompf, G. W. 1977. “Social science in historical perspective”. Philosophy of the social sciences 7: 113-38.
  • Trompf, G. W. 1979. The idea of historical recurrence in western thought: from Antiquity to the Reformation. Berkeley, Calif.
  • Turner, Frederich Jackson. [1891] 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.
  • Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.
  • Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.
  • White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.
  • Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác
  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Bí Ẩn Đế Chế Hùng Mạnh Nhất Trong Lịch Sử Loài Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật Hay, Chi Tiết.
  • Bản Chất Của Nền Dân Chủ Xhcn Ở Nước Ta
  • Bài 4. Ền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Nen Dan Chu Xa Hoi Chu Nghia Va Nha Nuoc Xhcn Pptx
  • Bài 10. Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở: Trọng Dân, Gần Dân, Lắng Nghe Dân
  • Trong tất cả các từng nổi lên và thịnh vượng trên Trái Đất này, đâu là 5 đế chế hùng mạnh nhất? Làm thế nào có thể lựa chọn ra 5 đế chế trong hàng trăm đế chế từng ngự trị trong 5.000 năm qua? Bất cứ công thức nào về “5 đế chế hùng mạnh nhất” đều luôn tiềm ẩn yếu tố chủ quan, bởi lẽ tất cả các đế chế đều có thời vinh quang và có tầm ảnh hưởng theo cách riêng của mình.

    Nhưng nếu xét trên nhiều tiêu chí thì có một số đế chế nổi bật hẳn lên vì chúng rất mạnh, lớn và có ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn của lịch sử nên xứng đáng được gọi là vĩ đại nhất.

    Cây bút Akhilesh Pillalamarri trên tạp chí National Interest (Mỹ) đã lựa ra 5 đế chế như thế. Tác giả Pillalamarri đã loại Trung Quốc và Ấn Độ ra khỏi “top 5 đế chế” này, bởi theo tác giả, tầm ảnh hưởng của và Ấn Độ chỉ ở mức khu vực:

    Đế chế Ba Tư thứ nhất

    Đế chế của triều đại Achaemenid được Cyrus Đại đế thành lập vào khoảng năm 550 trước Công nguyên. Vị vua này có tước hiệu Vua của các Vua (Shahanshah). Mặc dù Đế chế Ba Tư có kết thúc bi thảm trong tay Alexander Đại đế (của Vương quốc Macedonia) vào năm 330 trước Công nguyên, đế chế này vẫn để lại di sản dài lâu cho sự phát triển sau này của các nền văn minh thế giới và các đế chế tương lai. Đế chế Ba Tư là một đế chế chủ chốt trong lịch sử loài người, bởi lẽ đây là đế chế thực sự đầu tiên – nó đã đặt ra các chuẩn mực về thế nào là đế chế cho các đế chế tương lai.

    Đế chế Ba Tư nói trên tồn tại vào một thời điểm độc nhất vô nhị trong lịch sử, khi phần lớn thế giới văn minh có người sinh sống đều tập trung ở Trung Đông hoặc gần Trung Đông. Kết quả là, Đế chế Ba Tư khi thống trị hầu hết Trung Đông thời điểm đó thì cũng đồng thời cai trị một tỷ lệ dân số thế giới lớn hơn bất cứ đế chế nào khác trong lịch sử. Cụ thể, vào năm 480 trước Công nguyên, đế chế này có dân số xấp xỉ 49,4 triệu người, bằng 44% dân số toàn thế giới lúc đó.

    Đế chế Ba Tư là đế chế đầu tiên kết nối nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á, Ấn Độ, châu Âu và vùng Địa Trung Hải. Đế chế này đã khơi mào cho khái niệm đế chế ở những nơi như Hy Lạp và Ấn Độ.

    Một đế chế lớn như vậy chỉ có thể quy tụ lại được nhờ vào sức mạnh quân sự. Các thành tựu quân sự của Đế chế Ba Tư là rất đáng nể, dù rằng chúng hay bị lãng quên do thất bại bất ngờ của đế chế này trước các đội quân của Alexander Đại đế. Các chiến dịch khác nhau của Ba Tư đã chinh phục được nhiều nền văn minh tiên tiến của thế giới khi ấy như là Babylon, Lydian, Ai Cập, và khu vực Hindu của Gandhara nằm ở nước Pakistan ngày nay.

    Loại bỏ các yếu tố phóng đại và diễn giải sai thì người Ba Tư vẫn tin rằng họ đã đạt được các mục tiêu của mình ở Hy Lạp và rằng có nhiều người Hy Lạp sống trong Đế chế Ba Tư hơn là sống bên ngoài. Đế chế Ba Tư đã mở ra cả một thời kỳ hòa hợp và hòa bình ở Trung Đông trong 200 năm – một chiến tích hiếm khi được lặp lại.

    Xét về mặt khái niệm đế quốc thì di sản của để lại cho thế giới bao gồm việc sử dụng một mạng lưới đường bộ, hệ thống bưu chính, một ngôn ngữ hành chính thống nhất (tiếng Aramaic dùng trong toàn đế chế), chế độ tự trị dành cho các dân tộc thiểu số, và một chế độ quan liêu. Tôn giáo Ba Tư – Bái Hỏa giáo – có ảnh hưởng đến sự phát triển của các khái niệm chính yếu như tự do ý chí, thiên đường và địa ngục trong các tôn giáo Abraham cho tới đạo Do Thái.

    Đế chế này thì rõ ràng có tầm ảnh hưởng lớn. Đế chế La Mã đã từ lâu là đế chế tinh hoa tiêu biểu cho thế giới phương Tây. Nhưng tầm quan trọng của nó không phải là do phương Tây tự nhận như vậy: Đế chế La Mã thực sự là một trong những đế chế lớn nhất của lịch sử nhân loại. Người La Mã đã thể hiện một năng lực đáng kinh sợ trong việc chinh phục và giữ được một vùng lãnh thổ vô cùng rộng lớn trong khoảng thời gian tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm nếu tính cả Đế chế Đông La Mã (Đế chế Byzantine). Điều đáng chú ý là đế chế này được cố kết lại không chỉ bằng sức mạnh bạo tàn. Một khi đã bị chinh phục, người dân trong đế chế đó đều mong ước trở thành người La Mã – điều này đồng nghĩa với việc tham dự vào một nền văn hóa tinh tế, tao nhã kinh điển.

    Thế giới hiện đại có một số đặc điểm kế thừa từ Đế chế La Mã. Người La Mã chiếm lấy rồi phát huy nền văn hóa bản địa của Hy Lạp, truyền lại cho các thế hệ sau nền kiến trúc, triết học và khoa học của Hy Lạp. Người La Mã sau khi theo Kitô giáo đã nâng tôn giáo này từ một giáo phái nhỏ thành một trong các tôn giáo lớn của thế giới.

    Luật La Mã cũng ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống pháp lý sau này của thế giới phương Tây. Các thể chế La Mã cũng truyền cảm hứng cho hệ thống chính quyền của nhiều quốc gia hiện đại. Mặc dù Hy Lạp nổi tiếng là nơi “khai sinh chế độ dân chủ”, những người sáng lập ra nước Mỹ chủ yếu chịu ảnh hưởng của thực tiễn ở nước Anh và La Mã. Trên thực tế, nhiều vị trong số đó thường bày tỏ mình không thích cuộc thử nghiệm dân chủ ở Athens, đồng thời bày tỏ ngưỡng mộ hình thức quản trị hỗn hợp của La Mã nơi các thành phần quân chủ, quý tộc và dân chủ chia sẻ quyền lực. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập của Mỹ gần gũi với sự phân chia thể chế của La Mã. Khi Cộng hòa La Mã chuyển thành Đế chế La Mã, ý tưởng và quyền hành của Caesar đã truyền cảm hứng cho các bậc cai trị sau này.

    Người La Mã là một dân tộc kiên cường. Họ có khả năng hồi phục sau vô số bước thụt lùi, tập hợp lại rồi đánh bại kẻ thù. Mặc dầu vị tướng Carthage là Hannibal gần như phá hủy hoàn toàn La Mã sau trận chiến Cannae năm 216 trước Công nguyên, người La Mã cuối cùng vẫn có thể phái một đội quân tới Carthage để để đánh bại thành bang này vào thời điểm 14 năm sau đó. Về mặt quân sự, các đội quân lê dương của La Mã thống trị trong nhiều thế kỷ, giúp La Mã thống trị gần như tất cả các dân tộc văn minh khác ở Địa Trung Hải và Cận Đông (ngoại trừ đế chế Ba Tư) trong hàng trăm năm, và chỉ phải đối mặt với một số cuộc đột kích nhỏ của các bộ lạc kém tổ chức.

    Khi Đế chế La Mã thực sự sụp đổ, thì đó chủ yếu là do khủng hoảng bên trong và nội chiến hơn là do cuộc xâm chiếm của các bộ tộc German. Đế chế Đông La Mã kéo dài tới năm 1453, mang lại cho lịch sử chính trị của nhà nước La Mã một tuổi thọ lớn tới hai thiên niên kỷ.

    Vương quốc Caliphate

    Đế chế Arab, còn được biết đến với cái tên Caliphate, là một thể chế chính trị do nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad sáng lập. Đế chế này bao gồm hầu hết bán đảo Arabia vào thời điểm Muhammad qua đời vào năm 632. Gọi nó là Đế chế Arab sẽ hợp lý hơn gọi là , bởi lẽ trong khi đạo Hồi có gốc gác và lan truyền rộng ra từ đế chế này, về sau có thêm nhiều đế chế của người Hồi giáo và do người Hồi giáo thống trị nhưng không phải là Arab.

    Muhammad được kế vị bởi 4 vị Caliph được lựa chọn qua cơ chế đồng thuận cho đến năm 661. Sau đó triều Caliphate Umayyad cha truyền con nối thống trị tiếp cho đến năm 750, kế tiếp là triều Caliphate Abbasid, mặc dù các cuộc chinh phục đã kết thúc vào thời điểm này.

    Đế chế Arab về thực chất chấm dứt tồn tại vào khoảng năm 900, mặc dù triều Abbasid duy trì vai trò tôn giáo với tư cách là các Caliph ở Baghdad cho đến tận khi thành phố này bị người Mông Cổ phá hủy vào năm 1258. Sau năm 900, đế chế này bị tan rã về chính trị, với sự trỗi dậy của nhiều triều đại đối nghịch, trong đó có nhiều đối thủ gốc Turk và Ba Tư, cũng như các Caliphate kình địch ở Tây Ban Nha và Ai Cập.

    Tuy nhiên, trong thời của mình, Đế chế Arab vẫn là phi thường, với các chiến công và di sản của nó. Điều ngưỡng mộ là, một dân tộc kiểu bộ lạc, có tổ chức lỏng lẻo nằm ngoài rìa của văn minh thế giới lại có thể đánh bại Đế chế Byzantine và lật đổ Đế chế Ba Tư triều Sassanid – hai đế chế này đều có dân số và nguồn lực khổng lồ áp đảo so với Sa mạc Arabia.

    Các cuộc chinh phục của Arab là một ví dụ tiêu biểu chứng minh sự nhiệt tình về hệ tư tưởng có thể bù đắp cho sự yếu kém về công nghệ và tổ chức. Các vị tướng Arab thuộc thời kỳ này xứng đáng được xếp vào hàng các thiên tài quân sự vĩ đại nhất của thế giới, đặc biệt là vị Caliph thứ 3, Omar, người đã chinh phục khu vực từ Ai Cập tới Ba Tư trong 10 năm. Trong 100 năm, Đế chế Arab đã phát triển lên quy mô lớn gấp vài lần Đế chế La Mã ở giai đoạn đỉnh cao.

    Nhờ vị trí của mình mà Đế chế Arab, cũng như Đế chế Ba Tư trước đó, đã kết nối các trung tâm văn minh thế giới ở châu Phi, châu Âu, Trung Á, Ấn Độ và Trung Quốc. Kết quả, lần đầu tiên hàng hóa và tri thức từ tất cả các vùng này có thể kết hợp với nhau, mang lại các khái niệm mới như là algebra (Đại số).

    Di sản cuối cùng của Đế chế Arab, đương nhiên, chính là đạo Hồi, mà ngày nay có hơn một tỷ tín đồ.

    Đế chế Mông Cổ

    Đế chế Mông Cổ là một đế chế khác nằm ở ngoại vi. Đế chế này gây bất ngờ lớn khi nó đánh bại được các kẻ thù mạnh và đông dân hơn rất nhiều. Đây là đế chế có lãnh thổ liên tục lớn nhất thế giới và là đế chế sử dụng đòn khủng bố với tất cả các kẻ thù.

    Đế chế do thủ lĩnh Mông Cổ Temujin lập ra. Thủ lĩnh này nắm tước hiệu Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206. Đế chế Mông Cổ đầu tiên mở rộng bằng cách “tỉa dần” từng phần của lãnh thổ Trung Hoa như các bộ lạc thảo nguyên từng làm trước đó.

    Nhưng khoảnh khắc bước ngoặt của Đế chế Mông Cổ là khi các sứ giả của họ bị các lãnh đạo của Đế chế Khwarazmian láng giềng (bao gồm Iran, Afghanistan, và Trung Á) giết chết. Thành Cát Tư Hãn coi đây là một sự sỉ nhục lớn và sự trả thù sau đó của Mông Cổ đã phá hủy hoàn toàn Trung Á, chấm dứt kỷ nguyên vàng của nó. Các cuộc xâm lược do Mông Cổ tiến hành cộng với việc thiết lập các tuyến hàng hải châu Âu sau đó (giúp tránh phải đi qua Con đường Tơ lụa) đã đặt dấu chấm hết cho vài trò quan trọng của khu vực Trung Á.

    Mặc dù chỉ có khoảng 2 triệu người Mông Cổ trên toàn thế giới khi ấy, họ vẫn chính phục được hầu hết Trung Đông, Nga, và Trung Quốc. Vào thời đỉnh cao, họ chỉ vấp phải một số thất bại nhỏ ngoại trừ cuộc xâm lược Nhật Bản không thành công và trận chiến Ain Jalut năm 1260 chống lại người Mamluk cầm quyền ở Ai Cập.

    Làm thế nào mà người Mông Cổ lại có thể đạt được các chiến tích này? Bất chấp dân số nhỏ, người Mông Cổ có thể tung ra trận các đội quân lớn và cơ động bởi họ mang theo các đàn gia súc và duy trì năng lượng cho binh sĩ bằng thịt ngựa. Vào kỷ nguyên chưa có công nghệ đông lạnh, về mặt hậu cần, người Trung Quốc rất khó tung ra trận một đội quân tương xứng.

    Các cuộc chinh phục của Mông Cổ đã lấy đi mạng sống của hàng triệu người. Nhưng sau đó Mông Cổ đã mở ra một kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng khi thương mại mở rộng trên lãnh thổ rộng lớn của họ. Tuy nhiên về lâu dài, người Mông Cổ tỏ ra kém hiệu quả trong việc quản lý đế chế của mình – đế chế này cuối cùng bị chia tách thành 4 vương quốc khan, rồi sau đó mỗi vương quốc này lại bị tan rã hoặc chia nhỏ hơn.

    Người Anh thực sự góp phần quan trọng tạo nên thế giới hiện đại. Các thể chế dân chủ đại diện của Anh truyền cảm hứng cho các triết gia khai sáng Pháp như là Montesquieu sáng tạo ra các học thuyết chính trị hiện đại có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia châu Âu hiện đại.

    Các đặc điểm chính của Mỹ – sự gắn bó chặt với chủ nghĩa tự do, tư tưởng pháp trị, quyền dân sự và thương mại – được kế thừa từ người Anh và đã lan rộng ra thế giới. Hầu hết các đặc điểm này đều tiến hóa một cách hữu cơ qua lịch sử dài lâu của nước Anh hơn là nhờ vào kết quả của một kế hoạch tổng thể nào đó.

    Cũng chính các đặc điểm trên đã giúp Đế chế Anh phát triển, thịnh vượng và giữ được lãnh thổ do nó kiểm soát. Hơn nữa, tấm gương của nó được học tập rộng rãi, cho dù là vì sức mạnh tài chính hay hải quân của đế chế này.

    Vào thời đỉnh cao của mình trong thế kỷ 20, Đế chế Anh trải dài qua 1/4 thế giới – đế chế lớn nhất (về diện tích) trong lịch sử. Chiến tích này đạt được phần lớn là nhờ các thắng lợi về mặt tổ chức và sức mạnh tài chính của nước Anh, rồi mới đến vai trò của một quân đội lớn. Chẳng hạn việc Anh chinh phục Ấn Độ chủ yếu được tiến hành bởi những người lính Ấn Độ nhận lương và bổng lộc của người Anh để phục vụ Anh. London cũng thể hiện khả năng xuất sắc trong việc xử lý nhiều cuộc chiến cùng một lúc. Người Anh hiếm khi thua trận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở 2022 (Xây Dựng Báo Cáo)
  • Dân Chủ Trực Tiếp Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ Trực Tiếp
  • Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Giải Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỉ Luật
  • Khái Niệm “lịch Sử” Trong Sử Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Vài Suy Nghĩ Trong Quá Trình Nghiên Cứu Và Giảng Dạy Bài “những Vấn Đề Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử”
  • Từ Láy Là Từ Như Thế Nào? Tìm Hiểu Các Loại Từ Láy
  • Phân Biệt Từ Láy Từ Ghép
  • Phân Loại Từ Láy, Các Từ Láy Thông Dụng Trong Tiếng Việt
  • Từ Đơn Là Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • KHÁI NIỆM SỬ HỌC:

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    21

    22

    23

    24

    25

    26

    27

    28

    29

    30

    31

    32

    33

    34

    35

    36

    37

    38

    39

    40

    41

    42

    43

    44

    45

    46

    47

    48

    49

    50

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    LỊCH SỬ

    HARRY RITTER

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

     

    Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

     

    LỊCH SỬ (Anh: history). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử - nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

     

    Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ (res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt động nghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ Historie,. Cả ba nghĩa này đều đã có sẵn trong ngôn ngữ Hy Lạp và Latinh thời cổ điển, cho dù chữ historia theo nguyên nghĩa Hy Lạp chỉ có nghĩa là “tra vấn” về bất cứ thứ gì. Trong cách dùng chuyên môn của sử luận (historiography) hiện đại, lịch sử vẫn còn bảo lưu thông điệp cổ đại ấy – đó là hành vi tra vấn qua đó người ta nghiên cứu và truyền thông về quá khứ (ví dụ, Berr và Febvre, 1932: 358; Strayer trái ngược rõ nét với truyền thống cổ điển và truyền thống Do thái-Kitô giáo khi cho rằng người Hy Lạp và La Mã hiểu lịch sử như là một diễn trình tuần hoàn trong khi đó người Hebrew lại coi nó như là một diễn trình phát triển có tính mục đích luận và tiến bộ. Quan điểm này hiện nay bị tranh cãi, hoặc với căn cứ rằng ý niệm về lịch sử như là một diễn trình phát triển không hề tồn tại ở thời cổ đại ngụ ý rằng lịch sử là một loại “câu chuyện chưa kể” (Mink, 1978: 134), một “loạt các diễn biến trong thời gian và không gian 1972: 57).

    Những cuộc tranh luận về “bản tính” của lịch sử trở nên quyết liệt và mạnh mẽ hơn trong thế kỷ 20; đa phần là những nỗ lực xác định lịch sử hoặc là “nghệ thuật” hoặc là “khoa học” trong các phương pháp và mục đích của nó (ví dụ Hughes, 1964). Ngay từ đầu thế kỷ, nhà sử học Anh G. M. Trevelyan ( 1950: 3; Bazun, 1945: 81). Mặt khác, một số nhà sử học cương quyết khẳng định rằng lịch sử là một môn khoa học xã hội. Cách thông thường nhất để tránh trách nhiệm trong cuộc tranh luận này là cho rằng lịch sử là sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và khoa học và nói rằng nó giữ vị thế tự trị trong các ngành khoa học nhân văn. Nhưng điều quan trọng hơn cuộc tranh luận này nhiều chính là công việc nghiên cứu đã được mở rộng hơn rất nhiều về phạm vi và phương pháp trong thế kỷ 20 và không còn được đồng nhất một cách hạn hẹp với việc tái dựng lại chế độ chính trị hay các sự vụ của giáo hội trong quá khứ dựa trên các tài liệu viết.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Arendt, Hannah. 1961. “The concepts of history: ancient and modern”. Trong Hannah Arendt, Between past and future: Eight exercises in political thought. New York: 41-90.

    2. Barzun, Jacques. 1945. “History as a liberal art”. Journal of the History of Ideas 6: 81-88.

    3. Barzun, Jacques. 1960. History: its theory and practice. New York.

    4. Finley, M. I. 1964-65. “Myth, memory, and history”. History and Theory 4: 281-302.

    5. Fritz, Kurt von. 1958. Aristotle’s contribution to the practice and theory of historiography. Berkeley, Calif.

    6. Fustel de Coulanges, N. D. 1963. “A definition of concept of history”. Trong Raymond Klibansky and H. J. Paton, ed., Philosophy and history: essays psented to Ernst Cassier. New York: 1-10.

    7. Johnson, Allen. 1926. The historian and historical evidence. New York.

    8. Meiland, Jack W. 1965. Scepticism and historical knowledge. New York.

    9. Mink, Louis O. 1978. “Narrative form as a cognitive instrument”. In Canary and Kozicki: 129-49.

    10. Press, Gerald A. 1977. “History and development of the idea of history in antiquity.” History and Theory 16: 280-96.

    11. Preston, Joseph H. 1977. “Was there an historical revolution?”  Journal of the History of Ideas 38: 353-64.

    12. Ranke, Leopold von. 1950. “Introduction”. In Strayer: 3-26.

    13. Stromberg, R. N. 1951. “History in the eighteenth century”. Journal of the History of Ideas 12: 295-304.

    14. Trevelyan, George Macaulay. 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.

    15. Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.

    16. Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.

    17. White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.

    18. Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.

     

    [1] Geschichte (Lịch sử) là một chữ thuần Đức, còn Historie là một chữ Đức vay mượn – ND.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Và Đặc Điểm Của Triết Học Mác Lênin
  • I. Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học
  • Quán Triệt Nguyên Tắc Khách Quan Và Quan Điểm Toàn Diện Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Triết Học Hy Lạp
  • Nội Dung Và Cách Thực Hiện Quan Điểm Toàn Diện? Cho Ví Dụ Minh Họa.
  • Trò Chơi Dân Gian Là Gì? Khái Niệm, Lịch Sử Phát Triển Và Đặc Điểm.

    --- Bài mới hơn ---

  • Game Online Là Gì? Những Lợi Ích Của Game Online
  • Phòng Net, Game Là Gì? Khái Niệm Phòng Net?
  • Giáo Dục Giới Tính Là Gì?
  • Một Số Khái Niệm Định Kiến Giới
  • Khái Niệm Thông Gió Công Nghiệp
  • Mỗi người chúng ta ai cũng đã từng là một đứa trẻ và đã từng chơi những trò chơi của trẻ. Những vòng quay của con quay (chơi cù) hay những bước nhảy lò cò của trò chơi ăn quan… tất cả như một bức tranh sinh động của cuộc sống. Những điệu nhảy mềm mại, những cánh diều bay nhè nhẹ trên cao như đưa văn hóa Việt Nam đến khắp năm châu. Trò chơi dân gian là một trong những thành tố của nền văn hóa dân tộc, nó xuất hiện từ rất lâu đời và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của nhân dân ta. Bên cạnh lễ hội, trò chơi dân gian cũng là một hình thức vui chơi giải trí nhưng lại không đơn thuần chỉ là một “trò chơi”, nó là một thú vui nhưng cũng vừa là một giá trị văn hóa, một người bạn tinh thần, một phương thức hiệu quả để giáo dục nhân cách con người. Xét trên nhiều khía cạnh, trò chơi dân gian là một nét văn hóa có giá trị, ảnh hưởng

    Trong đời sống tinh thần của nhân dân xưa, hằng ngày, trong các làng xóm, thôn bản, đường làng hay ngoài ruộng đồng luôn diễn ra những hoạt động tụm năm tụm bảy vui chơi của trẻ em hay những cuộc thi tài của người lớn. Những hoạt động này phong phú, muôn hình muôn vẻ, thu hút nhiều người tham gia và luôn sôi nổi, hào hứng. Nhân dân ta quen gọi những hoạt động vui chơi như thế là trò chơi dân gian.

    Trong từ điển Bách Khoa Toàn Thư thế giới của Pháp (xuất bản 10/1988) thì cái gọi là “trò chơi” này ” là một hoạt động thoát khỏi những toan tính kiếm sống, sinh lợi của đời thường “.

    Bên cạnh đó, cuốn Đại từ điển Bách Khoa Toàn thư của Liên Xô cũ (xuất bản 1922) cũng có viết rằng ” trò chơi được coi là một hoạt động không tính lợi (phí sản xuất). Ở đó, động cơ hành động không nằm ở kết quả cuộc chơi mà nằm ngay ở quá trình hoạt động (quá trình chơi) ” [12,17].

    Còn theo tác giả người Pháp Pancan thì:

    Trò chơi là một hình thức giải trí tốt nhất để giúp con người thoát khỏi những phiền muộn của cuộc sống “.

    Hay theo GS Tô Ngọc Thanh thì “T rò chơi là một hoạt động dưới dạng trình diễn những tín hiệu và thông qua quy luật sáng tạo và nâng cao nhận thức của họ về tự nhiên, xã hội và bản thân “.

    Hầu hết những khái niệm về “trò chơi” đều cho nó gắn với mục đích cốt yếu là sự vui chơi giải trí. Trò chơi dân gian Việt Nam cũng không nằm ngoài yếu tố đó nhưng để hiểu đúng về khái niệm trò chơi dân gian thì phải đặt nó trong đời sống của nhân dân.

    Nằm trong nền văn minh Phương Đông, Việt Nam ta là một nước nông nghiệp lúa nước và lấy nông nghiệp làm nghề sinh sống, lao động chính. Sự khó khăn, cực nhọc là điều không thể tránh khỏi đối với người dân Việt. Điều kiện sinh sống kết hợp với lối tư duy biện chứng, 7 tổng hợp, tính cộng đồng to lớn đã tác động vào nhân dân, khiến nhân dân tạo ra nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác nhau. Suy cho cùng trò chơi dân gian Việt Nam là những hoạt động vui chơi giải trí do quần chúng nhân dân Việt Nam sáng tạo ra và được lưu truyền tự nhiên qua nhiều thế hệ. Trò chơi dân gian diễn ra mọi lúc, mọi nơi, không hạn định về mặt thời gian, không gian và phản ánh đời sống tinh thần, văn hóa của dân tộc.

    Đây là một hình thức sinh hoạt cộng đồng được nhân dân tiếp cận và gắn bó nhiều nhất.

    Là sản phẩm của một cộng đồng, trò chơi dân gian là thứ tài sản chung của cả một xã hội, nó thuộc về toàn thể quần chúng nhân dân chứ không của riêng một cá nhân nào, trò chơi dân gian gắn liền với sự tồn tại, phát triển của một cộng đồng người trong nhiều chặng đường phát triển khác nhau. Do đó, để xác định rõ khoảng thời gian cho trò chơi dân gian ra đời quả thật không dễ, ngày nay vẫn chưa xác định được, chỉ biết từ thực tiễn cuộc sống, có thể thấy rằng trò chơi dân gian ra đời từ chính nguồn gốc là nhu cầu cần được vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân trong xã hội.

    Cuộc sống nông nghiệp lúa nước đặt nhân dân Việt dưới bao nỗi cơ cực, khổ sở, nhu cầu cần được nghỉ ngơi, giải trí, bù đắp năng lượng tiêu hao trở thành một yếu tố thường xuyên và liên tục đối với nhân dân. Với nhu cầu cần có một tinh thần thỏa mái, một tâm thái vui vẻ để nỗi cực nhọc cũ qua đi và bắt đầu với khó khăn mới đã làm thúc đẩy tính sáng tạo của quần chúng nhân dân.

    Mặt khác, do điều kiện tự nhiên nên người nông dân Việt chỉ có hai mùa vụ trong một năm, xong mùa vụ thì thường rất nhàn rỗi: ” T háng giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè “, đây là khoảng thời gian mọi người đợi cho lúa được phơi khô, đợi nước về ruộng và cũng là đợi cho sức khỏe bản thân được phục hồi sau một mùa vụ vất vả.

    Nhu cầu muốn nghỉ ngơi, vui chơi khi gặp được những khoảng thời gian rảnh lại càng tạo một điều kiện tốt để nhiều loại hình vui chơi giải trí ra đời và phát triển, qua nhiều giai đoạn dài lịch sử, các hình thức vui chơi, giải trí đã đồng thời xuất hiện và trong đó có trò chơi dân gian.

    Trò chơi dân gian xuất hiện trong xu thế chung và bên cạnh rất nhiều hình thức vui chơi giải trí khác như hội hè, đình đám, lễ hội nhưng có thể nói trò chơi dân gian đã luôn giữ được chỗ đứng của mình bởi hội hè hay đình đám chỉ diễn ra trong những khoảng thời gian và không gian nhất định trong năm trong khi đó trò chơi dân gian lại là một hình thức giải trí có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi, 8 quanh năm suốt tháng, bất cứ lúc nào rảnh rỗi, nghĩa là trò chơi dân gian đáp ứng rất tốt nhu cầu vui chơi giải trí của quần chúng nhân dân. Do vậy, đó chính là nguồn gốc cho sự ra đời của trò chơi dân gian Việt Nam.

    Quá trình hình thành và phát triển Không ra đời, phát triển theo phương hướng đột biến, vừa ra đời đã có ngay một hệ thống trò chơi hoàn chỉnh, trò chơi dân gian là kết quả của tự tích góp từ từ, liên tục từ óc sáng tạo, trí tuệ của nhân dân qua nhiều giai đoạn lịch sử. Sự sáng tạo, hình thành nên các trò chơi dân gian của ông cha ta đi từ ngẫu nhiên, tình cờ đến ý thức sáng tạo.

    Đầu tiên, trò chơi dân gian được hình thành một cách ngẫu nhiên trong đời sống sinh hoạt của nhân dân. Người Việt ta từ thuở hồng hoang đã mang trong mình tâm thức gắn bó cuộc sống của mình với thiên nhiên. Coi thiên nhiên ngang tầm với sự tồn tại, phát triển của con người. Đời sống nông nghiệp khiến người Việt gắn bó nhiều hơn với mặt đất, đất là nơi gieo trồng và cũng là nơi nhân dân buông mình nghỉ ngơi sau những giờ lao động mệt nhọc. Gắn bó với mặt đất như vậy nên người Việt ta rất hay có thói quen cùng nhau viết hoặc vẽ trên mặt đất. Mặt đất lại trở thành nơi nuôi dưỡng những óc tưởng tượng, rất có thể việc bẻ một cành cây nhỏ, vẽ những nét ngoằn ngoèo vô thức trên mặt đất lại là cơ sở để quần chúng nhân dân sáng tạo ra những trò chơi dân gian đầu tiên.

    Từ thực tế, ta sẽ nhận thấy rằng rất nhiều trò chơi dân gian của người Việt ta đều được bố trí vẽ chơi trên mặt đất. Trò Lò cò trong ô, Lò cò suồn, Lò cò xoắn ốc đều phải vẽ hình trên mặt đất để chơi, đó là những đường kẻ hình vuông, hình xoắn ốc, ngoài ra còn có trò xây nhà bằng những đường kẻ trên đất, đó không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Có thể nói rằng trò chơi dân gian đã ra đời ngẫu nhiên, tình cờ từ đời sống sinh hoạt của nhân dân.Bên cạnh sự ngẫu nhiên qua thói quen, trò chơi dân gian Việt còn được hình thành, phát triển ngẫu nhiên qua dáng dấp của hoạt động nông nghiệp. Có thể thấy, trong đời sống nông nghiệp có gì thì trong trò chơi dân gian có cái đó.

    Chẳng hạn với trò đi Cà Kheo, đó là sự vận dụng công cụ mà nhân dân dùng để đi qua những trũng bùn, khe suối, khúc sông cạn, nhưng nó đã dần dần đã trở thành một trò chơi dân gian để tranh tài về sự khéo léo. Hoặc đối với Trò bắt cá chạch, bắt lươn, trò Bắt vịt trên cạn, dưới nước, trò đi Câu ếch, trò Giã gạo, Ném vòng cổ vịt, Thổi cơm và nhiều trò chơi khác, đây là những trò chỉ nghe qua 9 tên gọi đã biết cách chơi vì đó chính là những hoạt động thường nhật của quần chúng nhân dân.

    Từ thực tiễn đó, ta có thể khẳng định rằng trò chơi dân gian đã ra đời, phát triển một cách ngẫu nhiên từ cuộc sống sinh hoạt đời thường của nhân dân. Nhưng qua thời gian, cùng với nhu cầu vui chơi giải trí tăng mạnh kết hợp với sự sáng tạo, trí tưởng phong phú của ông cha ta, trò chơi dân gian Việt dần dần thoát khỏi sự ngẫu nhiên, tình cờ đó và tiến tới những bước phát triển cao hơn, nhiều trò chơi dân gian mang sự tinh nhuệ, nhanh nhẹn cần trí tuệ, óc phán đoán khác lần lượt được ra đời, như trò chơi Ô ăn quan, trò Tam cúc hay Cờ người v v, những trò chơi này có sự khác biệt so với với những trò chơi nói trên, người chơi luôn luôn phải cần đến trí tuệ, sự linh hoạt và một óc phán đoán tốt.

    Trải qua một thời gian dài, cho đến nay hình thức của trò chơi dân gian đã rất đa dạng, phong phú và muôn hình muôn vẻ. Sự hình thành, phát triển của trò chơi dân gian Việt đã đi từ ngẫu nhiên đến nhu cầu cần và đủ. Từ đó, ta thấy được trí tuệ, trí tưởng tượng, trí óc của ông cha ta thể hiện qua các trò chơi dân gian, trò chơi dân gian trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần Việt

    Trò chơi dân gian Việt Nam ta xuất hiện từ rất lâu đời, qua nhiều thế hệ, nhiều giai đoạn lịch sử. Cho đến nay, trò chơi dân gian đã có một hệ thống rất đa dạng, phong phú. Nói đến trò chơi dân gian, ta vẫn thường nghe đến “trò chơi dân gian ngày tết” hay “trò chơi dân gian lễ hội”, những cụm từ nói trên đều đi ra từ khái niệm trò chơi dân gian nhưng không gian để tiến hành trò chơi là trong lễ hội hay vào dịp xuân, đó là một cách phân loại trò chơi theo không gian. Nếu phân loại theo độ tuổi thì ta lại có trò chơi dân gian trẻ con, trò chơi dân gian người lớn, như vậy có nhiều cách để phân loại trò chơi dân gian.Ở đây, căn cứ vào nội dung và hình thức biểu hiện của từng trò chơi ta có thể phân trò chơi dân gian ra nhiều loại hình khác nhau, cụ thể như:

    1. Trò chơi luyến ái

    Đặc điểm

    Là nhóm trò chơi mang tính chất thiên về tình yêu đôi lứa, như Ném còn, Đánh đu… Trong nhóm trò chơi luyến ái, thành phần tham gia luôn luôn là có cả nam và nữ, ngoài hình thức là một trò chơi thì trò chơi luyến ái tạo điều kiện để nam nữ trong làng được tự do vui chơi, tìm hiểu nhau. Dưới chế độ phong kiến xưa, nam nữ thường bị cấm cản bởi những lễ giáo phong kiến, họ không được tự do tìm hiểu và chọn lựa người mình yêu, nhưng trò chơi luyến ái đã đáp ứng được nhu cầu này của các nam thanh nữ tú, họ được thân mật nhau mà không bị lễ giáo, lệ làng bác bỏ, và sau nhiều trò chơi như thế có người đã thành vợ thành chồng. Trò chơi luyến ái còn mang một chút tín ngưỡng dân gian, gửi gắm trong đó ước nguyện của nhân dân về sự bình an, mùa màng tươi tốt. Cũng bởi tính thiêng đó mà trò chơi luyến ái thường diễn ra trong không gian lễ hội, ít khi diễn ra ở những không gian thường.

    Một số trò chơi tiêu biểu: đánh đu, ném còn

    2. Trò chơi phong tục

    Đặc điểm

    Trò chơi phong tục gồm các trò chơi nghiêng tính thiêng liêng, mang dáng dấp của những nghi lễ, phong tục xa xưa của người Việt. Nhóm trò chơi dân gian này chứa đựng những tư tưởng, tình cảm của dân tộc, lưu giữ đậm nét tín ngưỡng, phong tục dân tộc, từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh cho đến quan niệm về thờ cúng thần linh, trời đất. Bởi tính chất linh thiêng nên trò chơi phong tục cũng được diễn ra nhiều trong không gian lễ hội.

    Một số trò chơi tiêu biểu: Pháo đất, Đánh phết.

    3. Trò chơi trận chiến

    Đặc điểm

    Nhóm trò chơi trận chiến mang tính chất thi đua giữa cá nhân với cá nhân, giữa đội chơi này với đội chơi khác, đó là những cuộc thi đấu đầy tinh thần thượng võ dân tộc như Thi chèo trũm, Đua thuyền… Không gian của trò chơi rất rộng, trò chơi trận chiến luôn tạo ra sự sôi nổi, náo nhiệt và hấp dẫn. Nó thể hiện rõ sức mạnh, sự tinh nhuệ, năng động, sung sức của lớp lớp thế hệ trẻ dân tộc, sức mạnh được phô bày ra giữa thiên nhiên, trời đất, nó thể hiện quan niệm sống hết mình, cố gắng vượt lên những bất lợi của thiên nhiên, vượt qua khó khăn của người Việt. Trò chơi chiến trận có hai loại thành phần tham gia, một là giữa cá nhân với nhau, hai là giữa tập thể với tập thể, tất cả hai thành phần tham gia này đều là những con người có khiếu, có tài, đại diện cho một thôn, làng hoặc bảng. Đây là nhóm trò chơi có số người cổ vũ rất nhiều, nó đem lại nhiều niềm vui cho cả những người ngoài cuộc chơi.

    Một số trò chơi tiêu biểu: Chơi trận giả, Đua thuyền

    4. Trò chơi trí tuệ

    Đặc điểm

    Nhóm trò chơi trí tuệ chiếm một phần khá lớn trong trò chơi dân gian, nếu trò chơi trận chiến thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai và khéo léo thì nhóm trò chơi trí tuệ lại thể hiện và rèn luyện trí óc, khả năng quan sát và tư duy của người chơi. Nó được nhiều thành phần và 18 đối tượng người chơi ưa thích.

    Một vài trò chơi trí tuệ như Ô ăn quan, Tổ tôm, Cờ chân chó.

    5. Trò chơi nghề nghiệp

    Đặc điểm

    Nhóm trò chơi nghề nghiệp là tập hợp những trò chơi mô phỏng và mang dáng dấp những nghề nghiệp, những công việc hằng ngày của nhân dân dưới hình thức vừa làm vừa chơi, như trò Thi cấy lúa, Thi bắt vịt, Bắt cá. Mục đích của những trò chơi nghề nghiệp này là tạo cho mọi người sự phấn khởi, hào hứng trước những công việc mình đang làm, những công việc này sẽ được thể hiện dưới hình thức một cuộc thi tài với yếu tố thắng thua được đặt lên hàng đầu.

    Một số trò chơi tiêu biểu: Thi cấy lúa, Thi bắt vịt trên cạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Game Fps Là Gì? Top 3 Loại Game Fps Đỉnh Nhất Hiện Nay
  • Khái Niệm Game Online Là Gì? Các Thuật Ngữ Cơ Bản Trong Game Online ” Bạn Có Biết?
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 10 Bài 13: Công Dân Với Cộng Đồng (2 Tiết)
  • Giáo Án Gdcd 10 Bài 13: Công Dân Với Cộng Đồng
  • Facebook Là Gì? Tìm Hiểu Facebook.com
  • Sơ Lược Về Lịch Sử Xét Nghiệm Adn Của Loài Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cơ Bản Cần Biết
  • Axit Amin Là Gì? Vai Trò, Tác Dụng Và Thực Phẩm Giàu Axit Amin
  • Hàn Quốc Acid Axetic Hàn Quốc Chất Lượng Cao
  • Khái Niệm Amino Axit – Danh Pháp, Cấu Tạo Phân Tử, Tính Chất Vật Lí
  • Lý Thuyết Amino Axit: Các Gọi Tên, Tính Chất Hóa Học, Ứng Dụng
  • Ngày nay, khái niệm “Xét nghiệm huyết thống” đã không còn xa lạ đối với cuộc sống của chúng ta do nhu cầu của các vấn đề đời sống xã hội cũng như pháp lý. Xét nghiệm này thường được thực hiện tại các trung tâm di truyền học với kỹ thuật hiện đại mang lại độ chính xác cao.Vậy trước kia thì sao? Khi công nghệ sinh học còn chưa phát triển, việc xác định huyết thống được tiến hành như thế nào?

    Trong suốt những năm 1800s, màu mắt, màu tóc và màu da của đứa trẻ được phân tích để xác định huyết thống. Người ta nghi ngờ mối quan hệ trong gia đình khi màu mắt của đứa trẻ khác biệt với cả bố và mẹ. Tuy nhiên, cho tới năm 1865, Gregor Mendel khám phá quy luận di truyền và chứng minh màu mắt là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau và đứa trẻ không nhất thiết có màu mắt giống bố mẹ, nên đặc điểm này không còn được sử dụng nữa.

    Tới những năm 1920, các nhà khoa học phát hiện sự đa dạng của nhóm máu, và hệ thống ABO ra đời. Nhưng ngoài việc có các đặc điểm của nhóm A, AB, B hay O, máu còn có các đặc tính khác nên việc xác định huyết thống bằng nhóm máu chỉ có độ chính xác khoảng 30%. 

    Vào những năm 1970s, kháng nguyên bạch cầu người (Human leukocyte antigen – HLA) được phát hiện. Protein này có mặt trong mọi tế bào cơ thể, chỉ trừ hồng cầu. Với thông tin này, các nhà khoa học đã có thể kết hợp kết quả xét nghiệm HLA với nhóm máu và nghiên cứu huyết thanh học để tiến hành xét nghiệm ADN mang lại độ chính xác cao hơn. Giờ đây, việc xét nghiệm ADN có thể tăng độ chính xác lên 90%. Tuy nhiên, việc xét nghiệm HLA vẫn rất đắt đỏ, do đó không thể sử dụng được một cách phổ biến được. Vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học là tim ra phương pháp mới để vừa tăng được độ chính xác vừa có giá thành cho mỗi lần xét nghiệm rẻ để phục vụ được cho cuộc sống của chúng ta.

    Bước đột phá trong xét nghiệm huyết thống xuất hiện khi ADN được giới nghiên cứu chú ý. Mặc dù cấu trúc ADN được phát hiện từ năm 1953, nhưng phải tới giữa những năm 1980 mới có các xét nghiệm nhằm kiểm tra độ dài của gen trong cơ thể. Bằng một kỹ thuật có tên gọi RFLP, các nhà khoa học có thể tách ADN từ mẫu máu và so sánh sự tương đồng về độ dài các đoạn gen của phụ huynh giả định với đứa trẻ. Tới thời điểm này, độ chính xác của xét nghiệm huyết thống lên tới 99-100%, nhưng vẫn mất rất nhiều thời gian để có kết quả. 

    Đến năm 1990, xét nghiệm ADN bắt đầu sử dụng một phương pháp có tên PCR – phản ứng trùng hợp chuỗi. Bằng kỹ thuật PCR, một lượng nhỏ ADN có thể được khuếch đại thành hàng triệu bản sao. Ngoài ra, ADN có thể được thu từ các tế bào chân tóc, móng tay, niêm mạc miệng… thay vì phải lấy mẫu máu. Hơn thế nữa, kỹ thuật PCR giúp cho việc xét nghiệm huyết thống trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn với chi phí thấp hơn và mang lại độ chinhs xác cao, lên tới 99,99999%. Kể từ đó, kỹ thuật này liên tục được cải tiến, và khái niệm “Xét nghiệm ADN” ra đời thay thế cho “Xét nghiệm huyết thống” – vừa giúp giảm tính nhạy cảm trong các vấn đề đời sống, vừa thể hiện cơ sở khoa học của xét nghiệm. Từ việc xét nghiệm ADN huyết thống chỉ với ít locus gen, rồi lên tới 16, 24 locus gen, thậm chí là 33 locus gen, xét nghiệm xác nhận mối quan hệ huyết thống càng trở nên nhanh chóng hơn và chính xác hơn và đa dạng các mối quan hệ hơn. Giờ đây, ngoài việc xét nghiệm ADN huyết thống cha (mẹ) con thì việc xác nhận các mối quan hệ như ông (bà)-cháu, anh (chị)-em, chú (bác)-cháu trai, cô (dì)-cháu gái… cũng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết.

    Xét nghiệm ADN huyết thống là một xét nghiệm chính xác, mang tính khoa học. Ngoài việc sử dụng xét nghiệm này để các cá nhân có liên quna xác nhận mối quna hệ huyết thống thì giờ đây chúng ta có thể sử dụng nó với các mục đích phục vụ các thủ tục hành chính pháp lý như: làm giấy khai sinh cho con, bổ sung thông tin khai sinh, hỗ trợ thủ tục cấp visa, xuất-nhập cảnh, thừa kế tài sản, truy bắt tội phạm… Việc phát triển xét nghiệm ADN đạt được kết quả như ngày hôm nay đã mang lại những ích lợi to lớn, phục vụ cho nhu cầu của mỗi con người. Viện Công nghệ DNA đồng hành cùng các bạn trên con đường xác nhận các mối quan hệ huyết thống phục vụ các mục đích khác nhau.

     

     

     

     

     

     

    0/5

    (0 Reviews)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Hình Thức Cơ Bản Trong Giao Dịch Thương Mại Điện Tử
  • Tái Tổ Hợp Dna: Khái Niệm Và Phân Loại Vector
  • Phòng Ngừa, Ứng Phó Với Các Nguy Cơ, Thách Thức, Mối Đe Dọa An Ninh Phi Truyền Thống Phục Vụ Phát Triển Bền Vững Việt Nam
  • Khái Niệm Bảo Mật Doanh Nghiệp
  • Mối Quan Hệ Và Sự Chuyển Hóa Giữa An Ninh Truyền Thống Và An Ninh Phi Truyền Thống
  • Dân Chủ Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Dân Chủ, Pháp Quyền, Cộng Hòa Và Xã Hội: Lý Thuyết Và Thực Tế
  • Thế Nào Là “dân Chủ”, “chế Độ Dân Chủ”, “nền Dân Chủ” Và “nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa”? Hãy Nêu Khái Quát Tính Tất Yếu Của Việc Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tiến Trình Cách Mạng Xã Hộ
  • 14 Định Nghĩa Về Dân Chủ
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Dân Chủ Cơ Sở Và Vai Trò Của Dân Chủ Cơ Sở
  • Evfta: Hành Trình 16 Năm Từ Ý Tưởng Đến Hiện Thực
  • Dân chủ là cách nói tắt về chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ.

    Chế độ dân chủ là chế độ chính trị, trong đó, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện do nhân dân bầu ra.

    Chế độ dân chủ đã được thành lập rất sớm từ thời chiếm hữu nô lệ ở nhà nước Cộng hoà Aphina. đánh giá sự phát triển tiến bộ trong lịch sử xã hồ loài người, nhằm chống lại chế độ nô lệ, chế để quân chủ, mà thực chất là một người độc đoán quyết định tất cả mọi vấn đề của đất nước. Ở Cộng hoà Aphina, vai trò chủ yếu trong quản lí nhà nước thuộc Hội nghị quốc dân được lập để giải quyết tất cả các vấn đề chính sách đối nội và đối ngoại của đất nước. Tất cả những người có chức trách trong nhà nước Aphina đều được dân bầu ra và được thay đổi, bãi miễn nhiệm theo nguyên tắc đa số. Tất cả nam công dân Aphina từ đủ 20 tuổi trở lên đều được quyền tham gia Hội nghị quốc dân. Phụ nữ, người nước ngoài, những nô lệ được giải phóng và nô lệ không được phép hưởng các quyền chính trị tại nhà nước Aphina. Do vậy, chế độ dân chủ cộng hoà ở Aphina là chế độ dân chủ chiếm hữu nô lệ của thiểu số.

    Dân chủ tư sản ra đời cùng với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở các nước châu Âu. Dân chủ tư sản đã đưa lại sự tiến bộ lớn lao so với chế độ chuyên chế phong kiến trước đó. Lênin khẳng định: “Cộng hoà tư sản, nghị viện, phổ thông đầu phiếu đó là sự tiến bộ lớn lao xét từ quan điểm phát triển xã hội trên phạm vi toàn cầu”, “Nếu không có chế độ nghị viện, không có chế độ bầu cử… Chắc sự phát triển của giai cấp công nhân không thể Có được”.

    Tuy có vai trò lớn như vậy nhưng dân chủ tư sản vẫn là hình thức thống trị chính trị của giai cấp tư sản, là chế độ dân chủ hình thức, bị cắt xén, chế độ dân chủ dành cho thiểu số. Còn đa số nhân dân lao động nghèo khổ thì bị hạn chế trong thực thi các quyền dân chủ đã được tuyên bố trong các hiến pháp tư sản. Nhiều chế định của dân chủ tư sản, trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đã bị hạn chế và bị xoá bỏ. Chế độ đế quốc chủ nghĩa, chế độ độc tài phát xít chuyên chế đã tạo lập đường lối chính trị gây chiến, nô dịch các nước kém phát triển và đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới cũng như phong trào của quần chúng lao động và giai cấp công nhân trong nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác lập ở các nước đã hoàn thành cảch mạng dân tộc dân chủ và bắt đầu tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền dân chủ của công dân không ngừng được được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, xã hội thông qua hệ thống cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội và tổ chức xã hội với sự tham gia tích cực vào hoạt động chính trị hàng ngày của đông đảo quần chúng nhận dân lao động. Mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xoá bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện triệt để công bằng xã hội, dân chủ, văn minh, công lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam và nữ, giữa các dân tộc, tạo cơ hội cho mọi người dân hạnh phúc thông qua việc thừa nhận và khẳng định các quyền dân chủ đó một cách chính thức trong hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật, đặt ra các bảo đảm vật chất và tinh thần để thực hiện các quyền đó và không ngừng mở rộng các quyền dân chủ; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với Nhà nước và xã hội, phát huy không ngừng quyền làm chủ của nhân dân lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tín Hiệu Là Gì?1.khái Niệm Về Thông Tin, Dữ Liệu, Tín Hiệu..
  • Lý Thuyết: Và Dữ Liệu
  • Bài Trả Lời Cho Ai Hỏi: Diễn Biến Hòa Bình Là Gì, Tại Sao Phải Chống? (*)
  • Chiến Lược Diễn Biến Hòa Bình Là Gì?
  • Khái Niệm Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch
  • Khái Niệm Cơ Bản Cho Người Lần Đầu Mua Xe Môtô Phân Khối Lớn

    --- Bài mới hơn ---

  • Xe Mô Tô Là Gì? Các Loại Xe Mô Tô Đắt Nhất Việt Nam Hiện Nay
  • Trách Nhiệm Xã Hội: Khái Niệm, Mô Hình Và Kinh Nghiệm Cho Doanh Nghiệp
  • Môi Trường Vi Mô (Micro Environment) Là Gì? Các Yếu Tố Cơ Bản Của Môi Trường Vi Mô
  • Chương Ii. Khối Tròn Xoay (Phát Triển Năng Lực)
  • Bài 3: Khái Niệm Mặt Tròn Xoay
  • Thấy nhiều khách hàng còn mơ hồ về PKL) nên mình sưu tầm một số thông tin cơ bản ,hy vọng qua kinh nghiệm của mình thì mọi người có thể hiểu rõ hơn về những dòng xe ở VN và tiết kiệm được ít nhiều ( ví dụ tiền khi phải đổi xe liên tục, hay ví dụ thời gian, công sức…)

    Trước tiên ta nên hiểu rõ khái niệm về phân loại xe,xe mô tô PKL không chỉ đơn thuần là chiếc xe mang động cơ to hú rít ầm ĩ .Về phân loại có thể sắp xếp như sau,theo cấu tạo và mục đích sử dụng:

    1 . Sport bike:

    YAMAHA YZF R1

    Loại xe thể thao,cấu tạo phục vụ mục đích chạy nhanh , thậm chí cực nhanh .Cấu tạo khí động học,người ngồi có dáng chúi,mông chổng lên trời,bụng ôm bình xăng .Nếu đèo thêm bạn gái thì cực đẹp,yêu cầu bạn gái phải hơi sexy, chủ sở hữu xe này thường có Fan hâm mộ là các hot girl .

    Khi quyết định mua một chiếc xe Sport Bike thì đồng nghĩa với việc bạn phải từ bỏ đi các tiện nghi thường ngày. Ví dụ như không có cốp để đựng đồ, không có móc treo đồ (nhưng vẫn có móc để treo nón) và đặc biệt cúi nhiều về phía trước, gần như ôm bình xăng nên nếu ngồi lâu thì dễ gây đau nhức cơ thể.

    Điển hình của loại này có 1 số ví dụ hiện có ở Vn như:

    – Loại ruồi Honda CBR150, Yamaha R15, ….,

    – Loại trung CBR600, Yamha R6,…

    – Loại super bike CBR1000RR, Yamaha R1, Ducati 1098…

    Được sản xuất với mục đích phục vụ di chuyển trong giao thông đô thị giữa các thành phố .Thường trang bị động cơ của dòng Sport với 1 vài hạn chế.Ví dụ động cơ của CBR600 lắp trên Hornet 600 được giảm chút ít công suất,nâng cao tuổi thọ.

    Kiểu xe này cực kỳ nam tính và mạnh mẽ . Dòng này có thiết kế gần giống với Sport nhưng tư thế ngồi thoải mái hơn, có thể ngồi thẳng lưng hay hơi cúi người về phía trước đều được, giúp người lái có thể yên tâm đi xa trên những quãng đường dài.

    Sự khác nhau dễ nhận thấy nhất giữa Sport và Naked đó là phần thân xe. Sport dùng rất nhiều các ốp nhựa để bao bên ngoài phần máy còn Naked thì phơi hết bộ máy ra ngoài, đó là lý do vì sao nó có tên là Naked (khỏa thân, trần trụi). Đây cũng chính là đặc điểm nổi bật nhất của Naked, nhìn vào nó bạn sẽ thấy một lốc máy khá to nằm phía dưới bình xăng, ngay chân của người lái. Bình xăng vẫn nằm phía trước giống xe Sport , chiều dài dòng Nakedbike thường ngắn hơn dòng Sportbike để tiện việc di chuyển trong đô thị .

      Nhược điểm: không có cốp đựng đồ, gần như không thể treo thêm các món đồ nào lên thân xe .

    Các đại diện tại VN gồm : – Loại ruồi : WIN100,

    Yamaha FZS , Bajaj Pulsar 200NS, …

    – Loại trung CB400( số lượng tại VN cực lớn ,chắc bởi giá thành, tính năng sử dụng, chi phí bảo dưỡng cực hợp lí), CB600F, KTM Duke 390, Yamaha FZ6,…

    – Loại lớn: CB1000R, YAMAHA FZ1,….

    Đây có thể xem là một biến thể của Naked Bike đồng thời khắc phục được nhược điểm không có thùng đựng đồ của nó. Cruiser là loại xe đường trường, thùng đồ của xe có thể gắn ở hai bên hông, gắn phía sau đuôi xe hoặc cả hai, giúp người lái có thể tự tin chu du đến nhiều nơi xa trong dài ngày mà không cần phải mang vác quá nhiều thứ trên lưng. Chiều dài xe Cruiser cũng dài hơn so với Naked.

    Nếu coi Naked là dòng xe mang đậm tính thể thao, nam tính thì ngược lại, những chiếc Cruiser lại khoác lên mình vẻ lịch lãm và sang trọng, do đó nó cũng kén người mua hơn do quan niệm chỉ phù hợp với những người đứng tuổi. Tư thế ngồi của người lái có xu hướng là thẳng lưng, hơi ngả về phía sau hoặc trước một tí và hai tay thì giơ thẳng ra phía trước để điều khiển ghi-đông (tay lái), nhìn trông rất vương giả. Đặc điểm dễ thấy nhất của xe Cruiser đó là ghi-đông của xe dài và cao, một số rất cao. Đại diện tiêu biểu cho dòng xe này đó là những xe của hãng Harley-Davidson.

    Dòng xe này thường có yên ngồi thấp nhất,cho nên bác nào khiêm tốn về chiều cao nên chọn lựa loại này .

    Ở nước ta dòng này rất nhiều chủng loại:

    – Loại ruồi: Suzuki GN125, …

    – Loại trung : Honda steed, shadow…

    – Loại lớn : Honda VTX1800,

    4 . Touring

    BMW K1600GT

    Ngay từ cái tên của nó ta đã biết đây là dòng xe chuyên để đi xa, đi tour trong thời gian dài. Trong tất cả các loại xe mô tô thì Touring là dòng xe có kích thước đồ sộ nhất. Nó ưu tiên sự tiện dụng, mức độ tiện nghi cao nên hình dáng của xe rất to và bề thế, tương đương một chiếc xe hơi cỡ nhỏ nên không phải ai cũng thích lái một chiếc xe như vậy cả.

    Xe có thiết kế khá giống Cruiser nhưng chỗ ngồi cực kỳ thoải mái, có chỗ dựa lưng cho người ngồi sau hoặc cả hai người, có tấm kính chắn gió phía trước xe và thùng xăng rất lớn. Đại diện tiêu biểu cho dòng xe này là Honda Gold Wing, thậm chí xe còn được trang bị hệ thống cân bằng tự động, túi khí an toàn cho người cầm lái và hệ thống giải trí như trên xe hơi.

    Dirt Bike là dòng xe chuyên để chạy trên nhiều loại địa hình phức tạp, ở Việt Nam nó phổ biến với cái tên “xe cào cào” hơn. Dòng xe này rất dễ nhận diện với yên xe cao, thân xe rất gọn, ít được ốp vỏ này nọ như những dòng xe trên, bánh xe lớn với lớp gai to và sâu, nhìn xe rất “dã chiến”. Với ưu thế xe cao, gầm xe cũng cao, bề ngang bánh xe nhỏ nhưng gai to nên rất thích hợp để đi trên những loại địa hình phức tạp ví dụ như sình lầy, nhiều đất đá, lội suối… Thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy có một hai chiếc chạy trên đường phố Việt Nam

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Sở Khoa Học Của Trí Nhớ Và Ứng Dụng Trong Giáo Dục
  • Hướng Dẫn Cách Làm Bài Thu Hoạch Bdtx Modun 23
  • Tính Chất Cơ Bản Của Chuyển Động Vĩ Mô Và Vi Mô
  • Giao Án Tu Tiet 4
  • Nêu Khái Niệm Về Mô Và Các Loại Mồ Trong Cơ Thể
  • Ai Là Người Đầu Tiên Đưa Ra Khái Niệm “biến Dị Cá Thể?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Biến Dị Cá Thể Theo Đacuyn
  • Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Các Bộ Phận Cấu Thành Của Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Nguyên Tắc Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Trong Hiến Pháp 2013
  • Hội Thảo Khoa Học: Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Theo Hiến Pháp Năm 2013 (5
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Quá trình tổng hợp ARN trên mạch khuôn ADN được gọi là quá trình gì?
    • Ở sinh vật nhân thực, quá trình tổng hợp prôtêin xảy ra ở đâu?
    • Trong cơ chế điều hòa hoạt động của Opêron Lac ở E.coli
    • Trong cấu trúc siêu hiển vi của NST ở sinh vật nhân thực, sợi cơ bản có đường kính bằng bao nhiêu?
    • Cà chua có bao nhiêu nhóm gen liên kết?
    • Kiểu hình được tạo thành do sự tương tác giữa các yếu tố nào?
    • Cho phép lai: AaBbCCDd x AaBBCcDd. Biết các gen trội lặn hoàn toàn, mỗi cặp gen quy định một cặp
    • Ở một loài xét một cặp alen A, a trội lặn hoàn toàn
    • Khi nói về quá trình tự phối, điều nào sau đây là đúng?
    • Một nhóm tế bào sinh tinh chỉ mang đột biến cấu trúc ở ba nhiễm sắc thể thuộc ba cặp tương đồng số 1, số 2 và số 3
    • Ở một loài thực vật, kiểu gen dạng A-B-, A-bb và aabb quy định kiểu hình thân cao
    • Phép lai: AB/ab x AB/ab cho đời sau có tối đa bao nhiêu kiểu gen?
    • Ở một loài thực vật, chiều cao thân do hai cặp gen A, a và B, b quy định
    • Trong kĩ thuật dung hợp tế bào trần, bước đầu tiên cần thực hiện là gì?
    • Khi nuôi cấy hạt phấn của cây mang kiểu gen AaBbDdCC
    • Ở người, có 3 alen quy định nhóm máu là IA, IB và IO trong đó IA, IB trội hoàn toàn so với IA, IB và IO tương đương nhau
    • Vì sao người mắc hội chứng Đao (mang 3 NST số 21)
    • Có bao nhiêu hoạt động gây hại cho môi trường?
    • Ai là người đầu tiên đưa ra khái niệm “Biến dị cá thể?
    • Nội dung của tiến hóa lớn là gì?
    • Ở một loài thực vật, alen A quy định quả tròn trội hoàn toàn so với alen a quy định quả dài
    • Có bao nhiêu nhân tố vừa làm thay đổi tần số alen, vừa làm thay đổi thành phần kiểu gen của quần thể?
    • Trong quá trình hình thành các đặc điểm thích nghi, chọn lọc tự nhiên có vai trò gì?
    • Điều kiện nghiệm đúng của định luật Hacđi-Vanbec không bao gồm nội dung nào sau đây?
    • Ở một loài động vật, alen A quy định lông đen trội hoàn toàn so với alen a quy định lông trắng
    • Không xét đến trường hợp đột biến, người mẹ mang nhóm máu AB không thể sinh ra con mang nhóm máu nào sau đây?
    • Sinh giới có tất cả bao nhiêu bộ ba mã hóa axit amin?
    • Loại axit nuclêic nào tham gia cấu tạo nên ribôxôm?
    • Đơn vị tiến hóa cơ sở phải thỏa mãn điều kiện nào sau đây?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Phân Loại, Cấu Tạo Và Nguyên Lí Hoạt Động Của Biến Tần
  • Định Nghĩa, Cách Xử Lý Biến Điều Tiết Moderator Trong Spss
  • Chương I: Cơ Chế Di Truyền Và Biến Dị (Theo Chuẩn Kt
  • Bài 18. Chọn Giống Vật Nuôi Và Cây Trồng Dựa Trên Nguồn Biến Dị Tổ Hợp
  • Menden Và Di Truyền Học, Ý Nghĩa Của Di Truyền Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100