Thành Lập Công Ty Quản Lý Quỹ

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Rủi Ro Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Lý Rủi Ro Khi Giao Dịch: Quy Tắc 2%
  • Khái Niệm Về Quản Lý Rủi Ro Thiên Tai (Qlrrtt) Trong Doanh Nghiệp (Dn)
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Lý Rủi Ro: Quy Luật 2%
  • Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Khi thực hiện thủ tục thành lập công ty quản lý quỹ, các chủ thể tiến hành cần tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật trong vấn đề này. Để giải đáp thắc mắc cho Quý vị về việc thành lập công ty hoạt động quản lý quỹ, Luật Hoàng Phi sẽ cung cấp các thông tin hữu ích để giải đáp những thắc mắc trên. Đồng thời hướng dẫn cách thức thực hiện thủ tục này nhanh nhất tới Quý vị.

    Có thể hiểu cách khác công ty quản lý quỹ là một loại hình doanh nghiệp trung gian tài chính, chuyên thành lập và quản lý các quỹ đầu tư, phục vụ nhu cầu đầu tư trung gian và dài hạn của công chúng.

    Công ty quản lý quỹ có hai đặc điểm chính như sau:

    – Công ty quản lý quỹ phải là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tuân theo pháp luật chứng khoán;

    Điều kiện thành lập công ty quản lý quỹ

    Để thành lập công ty quản lý quỹ cần đáp ứng những điều kiện theo pháp luật quy định, về các vấn đề như: cơ sở vật chất, vốn pháp định, nhân sự, năng lực thành viên góp vốn,…

    Thứ nhất: Điều kiện về trụ sở, trang thiết bị, cơ sở vật chất. Quyền sử dụng trụ sở công ty có thời hạn tối thiểu 01 năm, tính từ ngày lập hồ sơ thành lập công ty hợp pháp.

    Trụ sở công ty đảm bảo cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị của công ty đảm bảo an toàn. Trang thiết bị phù hợp với quy định về quy trình nghiệp vụ về hoạt động kinh doanh chứng khoán.

    Thứ hai: Điều kiện về vốn. Vốn đã góp thành lập công ty tối thiểu bằng mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ Việt Nam, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam.

    Thứ ba: Điều kiện về nhân sự. Công ty phải có danh sách dự kiến về nhân sự của công ty, trong đó tối thiểu 05 nhân viên có chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ quản lý phải có Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ.

    Ngoài ra còn có những điều kiện khác theo quy định của pháp luật mà khi thành lập công ty quản lý quỹ cần lưu ý như điều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn; điều kiện về năng lực tài chính đối với cổ đông, thành viên góp vốn. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà sẽ có những điều kiện riêng biệt.

    Hồ sơ thành lập công ty quản lý quỹ.

    Để thực hiện thủ tục thành lập của công ty quản lý quỹ, các chủ thể thực hiện cần chuẩn bị những giấy tờ, tài liệu để nộp tới cơ quan đăng ký thành lập doanh nghiệp để tiếp nhận và xử lý hồ sơ. Cụ thể hồ sơ gồm các giấy tờ sau:

    – Giấy đề nghị cấp phép thành lập và hoạt động công ty quản lý quỹ;

    – Điều lệ của công ty;

    – Danh sách cổ đông, thành viên sáng lập và bản sao công chứng giấy tờ chứng thực của cá nhân hoặc Giấy quyết định thành lập/ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc các giấy tờ tương đương khác;

    – Trường hợp cổ đông, thành viên sáng lập là tổ chức tham gia góp vốn từ 10% trở lên thì phải có bản sao báo cáo tài chính năm gần nhất có xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập;

    – Bản xác nhận mức vốn pháp định của ngân hàng và sẽ bị phong tỏa hoàn toàn;

    Thủ tục thành lập công ty quản lý quỹ.

    Khi thực hiện đăng ký thành lập công ty, chủ thể cần thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, cụ thể gồm 03 bước cơ bản sau:

    – Chuẩn bị hồ sơ đảm bảo đầy đủ các giấy tờ theo quy định của pháp luật. Chủ thể tiến hành nộp tới cơ quan tiếp nhận và xử lý hồ sơ;

    – Chờ xét duyệt hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa hợp lệ có thể cần được bổ sung và chỉnh sửa thông tin trong hồ sơ. Nếu hồ sơ hợp lệ thì sẽ được cấp giấy thành lập và hoạt động hợp pháp;

    – Tiếp kết quả công bố từ phía cơ quan chức năng. Sau khi xem xét thấy hồ sơ xét duyệt thành công, cơ quan chức năng sẽ cấp giấy phép thành lập công ty và đưa vào hoạt động. Ngược lại, nếu hồ sơ không hợp lệ sẽ bị từ chối tiếp nhận và hủy bỏ thủ tục.

    Chính vì thế, các chủ thể khi thực thủ tục này cần chuẩn bị tốt các kiến thức pháp lý và tham khảo kỹ các chuyên môn từ các cá nhân tổ chức có kinh nghiệm để có thể mang lại kết quả tốt nhất.

    Ngoài ra khi khách hàng không có điều kiện tự mình thực hiện có thể yêu cầu hỗ trợ thông qua công ty Luật Hoàng Phi. Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ khách hàng trong lĩnh vực thành lập doanh nghiệp trọn gói với chi phí hợp lý và thời gian thực hiện nhanh nhất

    Sử dụng dịch vụ đăng ký thành lập công ty quản lý quỹ trọn gói của Luật Hoàng Phi khách hàng chỉ cần cung cấp các thông tin trong hồ sơ, còn các giấy tờ hoàn thiện và kiểm tra đã được công ty kiểm tra kỹ lưỡng và gửi tới cơ quan chức năng. Theo đó sẽ hạn chế tối đa rủi ro và mang lại kết quả thành công tốt nhất.

    Với kinh nghiệm nhiều năm thực hiện chuyên về lĩnh vực doanh nghiệp, hi vọng rằng với chia sẻ trên Quý vị phần nào giải đáp thắc mắc cho riêng mình. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ bởi Luật Hoàng Phi vui lòng liên hệ qua địa chỉ sau:

    – Hotline: 0981.378.999;

    – Điện thoại: 024.6285.2839 (HN) – 028.73090.686 (TP.HCM)

    – Email: [email protected]

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE HOẶC BẠN CÓ THỂ CLICK VÀO Ô SAU ĐÂY ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Smart Investment: Khái Niệm Cơ Bản Về Quỹ Etf
  • Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế (International Business Administration) Là Gì?
  • Quản Trị Toàn Cầu (Global Governance)
  • Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Và Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Quỹ Đầu Tư Là Gì? Công Ty Quản Lý Quỹ Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng (7Qc) Là Gì ?
  • Qa Là Gì? Tất Tần Tật Các Công Việc Trong Ngành Qa
  • Khóa Học Quản Lý Chất Lượng Qa Ngành May
  • Quyết Định Quản Lý Là Gì? Các Kỹ Năng Ra Quyết Định Quản Lý
  • Tầm Quan Trọng Của Quy Trình Quản Lý
  • Quỹ đầu tư, hay còn gọi là quỹ đại chúng, là quỹ huy động vốn từ nhà đầu tư để đầu tư vào các loại tài sản tuân thủ theo mục tiêu đầu tư được xác định. Quỹ được quản lý bởi một đội ngũ chuyên gia làm việc toàn thời gian và được ngân hàng giám sát được chỉ định để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

    Công ty quản lý quỹ là một loại hình tổ chức trung gian tài chính, chuyên thành lập và quản lý các quỹ đầu tư, phục vụ nhu cầu đầu tư trung và dài hạn của công chúng.

    Xét về mặt chức năng, công ty quản lý quỹ là đơn vị quản lý các quỹ đầu tư. Các quỹ đầu tư có thể xem như sản phẩm dịch vụ mà công ty quản lý quỹ cung cấp cho nhà đầu tư.

    Ở Việt Nam, công ty quản lý quỹ được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thành lập và giám sát hoạt động.

    Mỗi quỹ đầu tư do công ty quản lý quỹ lập ra đều có những mục tiêu, tiêu chí đầu tư riêng, nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định như: thu nhập đầu tư hoặc tăng trưởng vốn đầu tư. Tuy nhiên, cũng có một số quỹ hướng tới cân bằng tất cả các mục tiêu đó.

    Đầu tư tài chính đòi hỏi rất nhiều năng lực chuyên môn, kiến thức thị trường, và nhất là yếu tố thời gian. Ngoài ra có một số loại hình đầu tư như đầu tư trái phiếu, đầu tư vào bộ chỉ số thì nhà đầu tư không thể tự thực hiện được. Do đó nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 06 yếu tố:

    • Tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi nhuận
    • Quản lý chuyên nghiệp
    • Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền
    • Tính năng động của quỹ đầu tư

    1.Quỹ Mở

    Quỹ được góp vốn bởi nhiều nhà đầu tư có cùng mục tiêu đầu tư, được quản lí chuyên nghiệp bởi một Công ty Quản lý Quỹ. Quỹ không hạn chế về mặt thời hạn và số lượng các nhà đầu tư tham gia, đồng thời cho phép nhà đầu tư bán lại chứng chỉ quỹ theo Giá trị Tài sản ròng (NAV) vào bất kì ngày giao dịch nào của quỹ.

    Ví dụ: Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VFMVF1); Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VFMVF4)

    2. Quỹ đóng

    Đây là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư, chứng chỉ quỹ lúc này niêm yết trên sàn như cổ phiếu. Quy mô tài sản của quỹ biến động theo giá trị thị trường của chứng chỉ quỹ. Thời gian hoạt động của quỹ có giới hạn và được nêu rõ trong bản cáo bạch. Nhìn chung quỹ đóng có tính chất ổn định, nhà đầu tư sẽ không bị áp lực về tính thanh khoản.

    Ví dụ: Quỹ đầu tư Chứng khoán Bảo Việt (BVF1)

    3. Quỹ ETF

    Theo đó, nhà đầu tư không cần phải lựa chọn cho mình cổ phiếu mà có thể trực tiếp mua chứng chỉ quỹ của quỹ ETF. Cách đầu tư này thuộc loại đầu tư thụ động ( Passive investing ).

    Hiện nay tại Việt Nam có 2 quỹ ETF lớn nhất và tác động mạnh nhất tới thị trường là ETF VNM và ETF FTSE Vietnam Index.

    4. Quỹ thành viên

    Đây là quỹ đầu tư chứng khoán được lập bằng vốn góp của một số nhà đầu tư nhất định và không phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng. Nhà đầu tư vào quỹ thành viên được gọi là thành viên góp vốn hay thành viên quỹ đầu tư. Luật chứng khoán quy định quỹ thành viên có tối đa không quá 30 thành viên và tất cả thành viên phải là pháp nhân. Mục tiêu chủ yếu của việc thành lập các Quỹ thành viên là để thực hiện các hoạt động đầu tư có tính chất tương đối mạo hiểm.

    Thành viên của quỹ thông thường là những nhà đầu tư chuyên nghiệp và có năng lực tài chính mạnh như công ty tài chính, ngân hàng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm. Các thành viên góp vốn có quyền tham gia quản lý quỹ nhiều hơn so với nhà đầu tư trong quỹ đại chúng, đồng thời khả năng chịu đựng rủi ro cũng tốt hơn nên quỹ thành viên không chịu nhiều hạn chế đầu tư như quỹ công chúng.

    Ví dụ: Quỹ Việt-Nhật

    Thực tế, có nhiều nhà đầu tư nhận thức được rằng, đầu tư vào các quỹ tương hỗ thì tốt hơn là để tiền nằm im trong các tài khoản tiết kiệm. Tham gia vào quỹ, nhà đầu tư có thể theo dõi tình trạng đầu tư của mình nhờ tính minh bạch cao. Luật quy định các quỹ phải báo cáo thay đổi tài sản ròng định kỳ, do vậy nhà đầu tư luôn biết được các tình trạng khoản đầu tư của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Vai Trò Của Đơn Vị Quản Lý Tòa Nhà Văn Phòng Cho Thuê
  • Office Manager Là Gì? Thông Từ A Đên Z Về Quản Lý Văn Phòng
  • Chi Phí Quản Lý Doanh Nghiệp Là Gì? Hạch Toán Chi Phí Ra Sao?
  • Chi Phí Quản Lý Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Lợi Ích Của Phần Mềm Quản Lý Pg Là Gì?
  • Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Và Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Quản Trị Toàn Cầu (Global Governance)
  • Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế (International Business Administration) Là Gì?
  • Smart Investment: Khái Niệm Cơ Bản Về Quỹ Etf
  • Thành Lập Công Ty Quản Lý Quỹ
  • Công ty được thành lập và hoạt động theo sự cho phép của Uỷ ban chứng khoán, đảm bảo thực hiện tốt chức năng của mình.

    Thứ nhất, công ty được thành lập và hoạt động theo sự cho phép của Uỷ ban chứng khoán, đảm bảo công ty đảm nhiệm tốt chức năng của mình, tránh gây tổn hại không đáng có cho các nhà đầu tư chỉ vì không đủ năng lực kinh doanh.

    Theo mô hình quản lý thì công tý quản lý quỹ chia là: Công ty TNHH quản lý quỹ và CTCP quản lý quỹ. công ty TNHH quản lý quỹ là công tý thành lập dưới hình thức công ty TNHH một hoặc nhiều thành viên. Mô hình này không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn. CTCP quản lý quỹ được phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Tổ chức, cá nhân muốn thành lập công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải được Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Điều kiện đáp ứng khắt khe để đảm bảo hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư. Theo đó công ty quản lý quỹ phải đáp ứng vốn điều lệ là 25 tỷ đồng. Thành viên ban giám đốc và những nhân viên hành nghề quản lý quỹ phải có chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp đồng thời phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

    Đối với những qui định trên đối với việc thành lập công ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, bên nước ngoài phải là pháp nhân đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tài chính như chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn đầu tư hoặc những lĩnh vực tương tự

    Mô hình của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán:

    – Được thành lập dưới hình thưc công ty TNHH hoặc CTCP.

    – Công ty quản lý quỹ có quyền được thành lập hay đóng cửa chi nhánh, tuy nhiên việc này phải được sự chấp thuận của Uỷ ban chứng khoán nhà nước theo trình tự, thủ tục pháp luật qui định như điều kiện về cơ sở vật chất, chuyên môn nghiệp vụ. Những thay đổi khác về cơ cấu tổ chức bộ máy cũng phải được thực hiện việc chấp thuận tương tự từ Ủy ban chứng khoán nhà nước.

    – Pháp luật yêu cầu công tý quản lý quỹ phải ban hành các qui định về kiểm soát nội bộ và đề ra tiêu chuẩn, đạo đức hành nghề đối với nhân viên của công ty, phải đảm bảo có ít nhất một người chuyên trách công tác kiểm soát nội bộ với quyền hạn và trách nhiệm cụ thể.

    – Đối với thành viên hội đồng quản trị, người quản lý và nhân viên của công ty quản lý quỹ, nếu có các giao dịch chứng khoán đều phải báo cáo và quản lý tập trung tại công ty quản lý quỹ và được giám sát bởi bộ phận giám sát nội bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Khái Quát Về Quản Lý Quỹ Ngân Sách Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Ngành Quản Lý Đô Thị Là Gì? Học Gì? Ra Trường Làm Gì?
  • Đề Tài Vai Trò Của Quy Hoạch Xây Dựng Đô Thị Trong Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Địa Bàn Thủ Đô Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Quản Lý Quy Hoạch Và Kế Hoạch Sử Dụng Đất
  • Quỹ Đại Chúng Của Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Quỹ Đầu Tư: Những Điều Cần Cân Nhắc Khi Quyết Định Đầu Tư
  • #quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng (Qc) Chuẩn Cho Cấp Quản Lý
  • 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng Trong Sản Xuất (7Qc) Là Gì ?
  • Qc Là Gì? Qa Là Gì? Những Kỹ Năng Nhân Viên Qc, Qa Cần Có!
  • Khóa Học Chuyên Viên Quản Lý Chất Lượng Chuyên Nghiệp (Qa)
  • Theo Khoản 38 Luật chứng khoán 2022 quy định:

    Trong đó: Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hằng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.

    Như vậy, quỹ đại chúng nằm trong quỹ đầu tư chứng khoán nhằm mục đích chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng.

    Huy động vốn để thành lập quỹ đại chúng

    Theo Điều 108, 109, 110 của Luật chứng khoán 2022 quy định:

    Việc huy động vốn của quỹ đại chúng được công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng có hiệu lực.

    – Quỹ đại chúng được thành lập khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

    b) Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đã bán đạt ít nhất là 50 tỷ đồng.

    – Trường hợp việc huy động vốn của quỹ đại chúng không đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này thì công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải hoàn trả cho nhà đầu tư mọi khoản tiền đã đóng góp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc việc huy động vốn. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải chịu mọi chi phí và nghĩa vụ tài chính khác phát sinh từ việc huy động vốn

    Ban đại diện quỹ đại chúng

    1. Ban đại diện quỹ đại chúng đại diện cho quyền lợi của nhà đầu tư, do Đại hội nhà đầu tư quỹ đầu tư chứng khoán bầu. Quyền và nghĩa vụ của Ban đại diện quỹ đại chúng được quy định tại Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán.

    4. Nhiệm kỳ, tiêu chuẩn, số lượng thành viên, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và bãi nhiệm, bổ sung thành viên Ban đại diện quỹ đại chúng, Chủ tịch Ban đại diện quỹ đại chúng, điều kiện, thể thức họp và thông qua quyết định của Ban đại diện quỹ đại chúng được quy định tại Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán.

    Hạn chế đối với quỹ đại chúng

    Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán sẽ phải chịu những hạn chế nhất định về quỹ đầu tư chứng khoán như sau:

    Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ đại chúng để thực hiện các hoạt động sau đây:

    a) Đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính quỹ đại chúng đó;

    b) Đầu tư vào chứng khoán của 01 tổ chức phát hành quá 10% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó, trừ trái phiếu Chính phủ;

    c) Đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng vào chứng khoán đang lưu hành của 01 tổ chức phát hành, trừ trái phiếu Chính phủ;

    d) Đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ đóng vào bất động sản, trừ trường hợp là quỹ đầu tư bất động sản; đầu tư vốn của quỹ mở vào bất động sản;

    đ) Đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng vào các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau thuộc các trường hợp sau đây: công ty mẹ, công ty con; các công ty sở hữu trên 35% cổ phần, phần vốn góp của nhau; nhóm công ty con có cùng một công ty mẹ;

    g) Các hạn chế đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán khác và đối với từng loại hình quỹ cụ thể được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

    b) Thực hiện các khoản thanh toán của quỹ theo quy định của pháp luật;

    c) Hoạt động hợp nhất, sáp nhập các tổ chức phát hành;

    đ) Quỹ đang trong thời gian giải thể.

    – Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có nghĩa vụ báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin về việc vượt mức các hạn chế đầu tư quy định tại khoản 1 Điều này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hợp Đồng Dịch Vụ Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Là Gì?
  • Quản Trị Văn Phòng Là Gì?
  • Quản Lý Tòa Nhà Văn Phòng Là Gì? Thực Hiện Những Công Việc Gì?
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Về Ngành Quản Trị Văn Phòng
  • Quản Lý Tòa Nhà Là Gì? Mô Tả Công Việc Quản Lý Tòa Nhà
  • Chuyên Đề 26: Cơ Chế Quản Lý Đối Với Công Ty Quản Lý Quỹ Và Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế Là Gì? Các Nội Dung Quan Trọng
  • Lãnh Đạo Và Quản Lý Hiệu Quả
  • Rủi Ro Tín Dụng Là Gì? Quy Trình Quản Lý Và Xử Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Quản Lý Rủi Ro Chiến Lược
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank)
  • Chuyên đề 26: CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

    ThS. Nguyễn Hải Nam, Vụ Quản lý các công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán – Ủy ban chứng khoán Nhà nước

    26.1. Tổng quan về cơ chế quản lý đối với công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

    26.1.1. Khái niệm về công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoá

    a) Công ty quản lý quỹ

    b) Quỹ đầu tư chứng khoán

    Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quỹ đầu tư chứng khoán không có tư cách pháp nhân, do công ty quản lý quỹ thành lập, quản lý và được chia thành 02 loại chính: quỹ thành viên và quỹ đại chúng.

     – Quỹ thành viên:

     Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân.

    – Quỹ đại chúng:

    Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng. Quỹ đại chúng bao gồm quỹ mở và quỹ đóng, trong đó: quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư; quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư, chứng chỉ quỹ đóng được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán.

    Quỹ đầu tư bất động sản là một loại hình quỹ đóng, đầu tư chủ yếu vào bất động sản (tối thiểu 65% giá trị tài sản ròng của quỹ được đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam với mục đích cho thuê hoặc khai thác để thu lợi tức ổn định).

    26.1.2. Cơ quan quản lý đối với các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

    Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trong đó, Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán có chức năng quản lý trực tiếp các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

    a) Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thành lập ngày 28/11/1996. Thời điểm này, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của một cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; thực hiện quản lý, giám sát, thúc đẩy thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư. Đến ngày 19/02/2004, để thực hiện tái cơ cấu hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, Chính phủ chuyển Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào Bộ Tài chính. Ngày 08/10/2015, với mục tiêu cải cách tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong quản lý của ngành tài chính nói chung khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu với khu vực và thế giới, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 48/2015/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính, thay thế Quyết định số 112/2009/QĐ-TTg ngày 11/09/2009 của Thủ tướng Chính phủ (trước đó là các Quyết định số 63/2007/QĐ-TTg 10/05/2007, Quyết định số 161/2004/QĐ-TTg ngày 07/09/2004 của Thủ tướng Chính phủ).

    Theo Quyết định 48/2015/QĐ-TTg, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật.

    b) Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

    Theo Quyết định số 538/QĐ-BTC ngày 22/03/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Vụ và Văn phòng thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một số nhiệm vụ chính của Vụ Quản lý quỹ như sau:

    – Trình Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để trình Bộ trưởng Bộ Tài chính các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động của các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam và người hành nghề tại các công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán.

    – Trình Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định:

    + Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động các công ty quản lý quỹ, chi nhánh, văn phòng đại diện công ty quản lý quỹ; giấy chứng nhận văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam;

    + Cấp, thu hồi giấy chứng nhận, đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, phát hành riêng lẻ, đăng ký công ty đại chúng của công ty quản lý quỹ; giấy chứng nhận đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, phát hành riêng lẻ và giấy phép thành lập và hoạt động công ty đầu tư chứng khoán; giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ đầu tư chứng khoán; thông báo xác nhận thành lập quỹ thành viên;

    – Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đối với các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, chi nhánh, văn phòng đại diện công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; giám sát các thay đổi về tổ chức, hoạt động, khả năng đáp ứng, duy trì các điều kiện cấp phép hoạt động, các chỉ tiêu an toàn tài chính của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam và văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ Việt Nam tại nước ngoài; giám sát hoạt động của ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát; giám sát việc tuân thủ các quy định về người hành nghề của các công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán.

    – Thực hiện kiểm tra các đối tượng thuộc phạm vi quản lý theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

    – Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc hướng dẫn, tổ chức và giám sát các tổ chức nghề nghiệp quản lý quỹ, quản lý tài sản theo quy định của pháp luật.

    29.1.3. Cơ chế quản lý đối với công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

    Cơ chế quản lý đối với công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm các nội dung chính sau: xây dựng cơ chế chính sách (dự thảo Luật, Nghị định, Thông tư…); quản lý giám sát và tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

    a) Xây dựng cơ chế chính sách

    Chính thức hoạt động từ tháng 04/1997, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành xây dựng các điều kiện cho sự ra đời của thị trường chứng khoán, đặc biệt là công tác xây dựng cơ chế, chính sách, khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực chứng khoán nói chung và lĩnh vực quản lý quỹ nói riêng.

    Sau một thời gian triển khai vận hành thị trường, những hạn chế, bất cập của Nghị định 48/1998/NĐ-CP bước đầu xuất hiện, đòi hỏi cần thiết có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời. Ngày 28/11/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP.

    Trong năm 2004, Bộ Tài chính đã ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 144/2003/NĐ-CP, trong đó có Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/09/2004 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ; Quyết định số 92/2004/QĐ-BTC ngày 30/11/2004 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu giám sát tài chính đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ.

    Trong quá trình thực hiện Nghị định 144/2003/NĐ-CP, phạm vi điều chỉnh của Nghị định đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa bao quát và phù hợp với điều kiện thực tế cũng như định hướng chiến lược phát triển thị trường chứng khoán. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển đòi hỏi phải phát triển thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế và yêu cầu bức thiết là phải hoàn chỉnh thể chế về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Quốc hội đã thông qua Luật Chứng khoán ngày 29/06/2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007.

    Các văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán được gấp rút hoàn thiện, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành kịp thời. Để hướng dẫn Luật Chứng khoán, Chính phủ đã ban hành Nghị định 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán; Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/05/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ, Quyết định số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC; Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 05/06/2007 về việc ban hành Quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;

    Năm 2010, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2011) nhằm khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán và thực tế thi hành Luật Chứng khoán 2006; đảm bảo định hướng phát triển thị trường theo đúng mục tiêu; đồng thời từng bước tiếp cận với quy định và thông lệ quốc tế, cũng như tăng cường sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong năm này, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 14/2007/NĐ-CP; Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.

    Năm 2011, cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chính sách và thể chế cho thị trường chứng khoán. Để tạo khung pháp lý và chuẩn bị cho việc thành lập và quản lý quỹ mở, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/12/2011 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở.

    Trong năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Đây là văn bản quan trọng được xây dựng trên cơ sở gộp 3 Nghị định (Nghị định 14/2007/NĐ-CP, Nghị định 84/2010/NĐ-CP và Nghị định 01/2010/NĐ-CP) để đảm bảo văn bản thống nhất, hoàn chỉnh. Trên cơ sở Nghị định số 58/2012/NĐ-CP, hàng loạt Thông tư đã được Bộ Tài chính ban hành, trong đó có các Thông tư hướng dẫn về việc thành lập và hoạt động công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đóng, quỹ thành viên, quỹ đầu tư bất động sản, quỹ ETF, cụ thể:

    – Thông tư số 212/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ.

    – Thông tư số 165/2012/TT-BTC ngày 09/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/ 2010 của Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.

    – Thông tư số 224/2012/TT-BTC ngày 26/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đóng, quỹ thành viên.

    – Thông tư số 228/2012/TT-BTC ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư bất động sản.

    Trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay, để tiếp tục củng cố, hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định các sản phẩm mới; quy định hướng dẫn đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ và sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn về hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, cụ thể:

    – Quyết định số 427/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế hướng dẫn đánh giá, xếp loại công ty quản lý quỹ.

    – Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập, vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự quản lý.

    – Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/06/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.

    – Thông tư số 15/2016/TT-BTC ngày 20/01/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/12/2011 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở.

    – Thông tư số 105/2016/TT-BTC ngày 29/06/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của tổ chức kinh doanh chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.

    – Nghị định số 86/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán.

    – Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện.

    Như vậy, tính đến nay, Việt Nam đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cơ bản đầy đủ, toàn diện theo thông lệ quốc tế để quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

    b) Cơ chế quản lý giám sát

    – Quản lý cấp phép và các thay đổi cần chấp thuận:

    – Giám sát từ xa:

    Chế độ giám sát từ xa nhằm đánh giá rủi ro, nắm bắt và cập nhật đầy đủ các thông tin cần thiết (tình hình hoạt động, quản trị, năng lực tài chính, tính tuân thủ…), từ đó phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước, hoạch định chính sách.

    – Thanh tra, kiểm tra:

    Căn cứ vào kết quả giám sát từ xa các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ, xây dựng kế hoạch và thực hiện thanh kiểm tra định kỳ hoặc thanh kiểm tra chuyên đề/đột xuất để đi sâu làm rõ các mặt hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, từ đó có các biện pháp xử lý phù hợp, kịp thời, đảm bảo các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo tính toàn vẹn thị trường và bảo vệ an toàn tài sản của khách hàng.

     Hình 26.1. Mô hình quản lý giám sát các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán

     c) Tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

    Trong năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 phê duyệt Đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán nhằm mục đích cơ cấu hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô phát triển của thị trường; đồng thời củng cố hoạt động, nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị công ty, quản trị rủi ro tại tổ chức kinh doanh chứng khoán theo thông lệ quốc tế.

    Để triển khai quyết định nêu trên, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã tích cực thực hiện công tác tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

    – Đối với công ty quản lý quỹ: Để thị trường phát triển ổn định, bền vững, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước khuyến khích các công ty quản lý quỹ tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư theo hướng thay đổi cơ cấu cổ đông, tập trung phát triển cổ đông là tổ chức, đặc biệt cổ đông là tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp như ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán. Ngoài ra, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện rà soát, phân loại các công ty quản lý quỹ dựa trên mức độ rủi ro đối với thị trường (chỉ tiêu vốn khả dụng, tỷ lệ lỗ lũy kế/vốn điều lệ) quy định tại Thông tư 226/2010/TT-BTC, Thông tư 165/2012/TT-BTC, từ đó có biện pháp xử lý, thanh lọc đối với các công ty quản lý quỹ hoạt động yếu kém, không hiệu quả. Đối với trường hợp công ty quản lý quỹ không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tăng cường giám sát thông qua chế độ báo cáo hàng tuần/hàng ngày, xem xét đặt công ty quản lý quỹ vào các tình trạng kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động, đồng thời yêu cầu các công ty quản lý quỹ xây dựng phương án, kế hoạch khắc phục. Tính đến tháng 12/2016, thị trường có 47 công ty quản lý quỹ đang hoạt động, các công ty quản lý quỹ đang hoạt động đã nâng cao được chất lượng dịch vụ và cơ bản đáp ứng được các quy định hiện hành. Ngoài ra có 02 công ty quản lý quỹ đang thuộc diện tái cấu trúc (01 công ty đang tạm ngừng hoạt động, 01 công ty đã chấm dứt hoạt động).

    – Đối với quỹ đầu tư chứng khoán: công tác tái cấu trúc đã thực hiện có kết quả tương đối rõ rệt. Nếu như trước năm 2012, thị trường chỉ có các loại hình quỹ đóng, quỹ thành viên thì đến năm 2022 đã có nhiều loại hình quỹ mới như quỹ mở, quỹ ETF và quỹ bất động sản, đây là các sản phẩm quỹ đầu tư hiện đại, theo thông lệ quốc tế và được đánh giá cao trong bối cảnh hội nhập. Đến tháng 12/2016, thị trường có 31 quỹ đầu tư chứng khoán, bao gồm 02 quỹ ETF, 19 quỹ mở, 01 quỹ bất động sản, 01 quỹ đóng và 08 quỹ thành viên. Qua thời gian thực hiện tái cấu trúc, số lượng quỹ đại chúng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các quỹ mở, mô hình quỹ mở được đánh giá là hiện đại, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đáng chú ý là trong 19 quỹ mở đang hoạt động thì có 05 quỹ là quỹ trái phiếu, đây là loại hình quỹ mở có mức tăng trưởng ổn định và hoạt động hiệu quả trong thời gian qua.

    Bảng 26.1. Số lượng và loại hình quỹ đầu tư qua các năm

    NămQuỹ thành viênQuỹ đóngQuỹ mởQuỹ ETFQuỹ bất động sảnTổng các Quỹ đầu tư20121106000172013100406002020140701502024201509017020282016080119020131

    Nguồn: Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán – UBCKNN

    26.2. Cơ chế quản lý, giám sát đối với công ty quản lý quỹ

    26.2.1. Quản lý cấp phép và các thay đổi cần chấp thuận

    a) Quản lý cấp phép

    Chính phủ ban hành các quy định về điều kiện cấp phép, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý việc cấp phép thành lập và hoạt động đối với công ty quản lý quỹ. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp phép thành lập và hoạt động của công ty quản lý quỹ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện thẩm định hồ sơ, chấp thuận cấp phép đối với các trường hợp đủ điều kiện hoặc từ chối trong trường hợp không đủ điều kiện. Các điều kiện về cấp phép thành lập và hoạt động công ty quản lý quỹ cụ thể như sau:

    – Điều kiện về trụ sở làm việc, cơ sở vật chất và trang thiết bị: có trụ sở làm việc bảo đảm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán; có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính, phần mềm phục vụ cho hoạt động phân tích đầu tư, phân tích và quản lý rủi ro, lưu trữ, bảo quản chứng từ, tài liệu và các thiết bị bảo đảm an toàn, an ninh cho trụ sở làm việc của công ty.

    – Điều kiện về vốn: vốn đã góp tại thời điểm thành lập công ty tối thiểu bằng mức vốn pháp định là 25 tỷ đồng Việt Nam.

    – Điều kiện về nhân sự: có tối thiểu 05 nhân viên có chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ; có Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) phụ trách nghiệp vụ (nếu có) và phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

    + Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt tù hoặc bị tòa án cấm hành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật;

    + Không bị xử phạt theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán trong vòng 12 tháng;

    + Chưa từng có các hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 80 Luật Chứng khoán;

    + Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm tại các bộ phận nghiệp vụ của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoặc tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các doanh nghiệp khác;

    + Có Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ hoặc có một trong các văn bằng, chứng chỉ quốc tế sau: chứng chỉ hành nghề quản lý tài sản tại các quốc gia là thành viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); hoặc đã thi đạt chứng chỉ quốc tế về phân tích đầu tư CFA bậc II (Chartered Financial Analyst level II), hoặc CIIA bậc II (Certified International Investment Analyst – Final level).

    – Điều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn:

    + Đối với cá nhân tham gia góp vốn: không thuộc các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định pháp luật về doanh nghiệp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn thành lập công ty quản lý quỹ; chỉ được sử dụng vốn của chính mình và chứng minh đủ năng lực tài chính.

    + Đối với tổ chức tham gia góp vốn: có tư cách pháp nhân và không đang trong tình trạng hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản và không thuộc các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định pháp luật về doanh nghiệp; hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trước và không có lỗ luỹ kế trên báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán và báo cáo tài chính bán niên gần nhất đã được soát xét (nếu có). Ngoài ra: trường hợp là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán thì không đang trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt hoặc các tình trạng cảnh báo khác; đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được tham gia góp vốn, đầu tư theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp là các tổ chức kinh tế khác: có thời gian hoạt động tối thiểu là 05 năm liên tục liền trước năm tham gia góp vốn thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán; phần còn lại của vốn chủ sở hữu sau khi trừ đi tài sản dài hạn tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp; vốn lưu động tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp; chỉ được sử dụng vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn hợp lệ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Báo cáo tài chính năm gần nhất đã kiểm toán phải không có ngoại trừ.

    Ngoài ra, tổ chức nước ngoài tham gia góp vốn thành lập, mua để sở hữu 100% vốn của công ty quản lý quỹ phải đáp ứng thêm các điều kiện sau: là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và đã có thời gian hoạt động tối thiểu là 02 năm liền trước năm tham gia góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp; cơ quan quản lý, giám sát chuyên ngành ở nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ký kết thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương về trao đổi thông tin, hợp tác quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán.

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý một số thay đổi trọng yếu của công ty quản lý quỹ, đảm bảo các thay đổi không làm tăng rủi ro hoạt động của công ty. Các nội dung thay đổi phải được chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cụ thể như sau:

    – Thành lập/đóng cửa chi nhánh, văn phòng đại diện trong nước;

    – Thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài, chi nhánh ở nước ngoài, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;

    – Thay đổi tên công ty; địa điểm trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện;

    – Thay đổi người đại diện theo pháp luật;

    – Giao dịch chiếm từ 10% trở lên vốn điều lệ;

    – Giao dịch dẫn tới tỷ lệ sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn vượt qua hoặc xuống dưới các mức sở hữu 10%, 25%, 50%, 75% vốn điều lệ;

    – Tăng, giảm vốn điều lệ;

    – Bổ sung nghiệp vụ tư vấn và đầu tư chứng khoán;

    – Chuyển đổi loại hình công ty;

    – Hợp nhất, sáp nhập với công ty quản lý quỹ khác.

    26.2.2. Giám sát từ xa

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện giám sát từ xa các công ty quản lý quỹ thông qua chế độ báo cáo, công bố thông tin; quy định an toàn tài chính và hệ thống đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ.

    a) Giám sát thông qua chế độ báo cáo và công bố thông tin

    – Chế độ báo cáo định kỳ:

    + Báo cáo tháng tình hình hoạt động;

    + Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính tháng, tháng 6 đã được soát xét, tháng 12 đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận;

    + Báo cáo quản trị rủi ro định kỳ 6 tháng;

    + Báo cáo kiểm toán nội bộ năm (nếu có), báo cáo kiểm soát nội bộ năm;

    + Báo cáo tình hình đầu tư chứng khoán năm;

    + Báo cáo năm về về các nhân viên đã được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán làm việc tại công ty;

    + Báo cáo tài chính hàng quý, báo cáo tài chính bán niên đã soát xét, báo cáo tài chính năm được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.

    – Chế độ báo cáo bất thường:

    + Thay đổi, tuyển dụng, bổ nhiệm mới thành viên hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên, ban điều hành, nhân viên nghiệp vụ, nhân viên bộ phận kiểm toán nội bộ, nhân viên kiểm soát nội bộ;

    + Mua, bán cổ phiếu quỹ;

    + Đầu tư vào các công ty con, công ty liên doanh, liên kết

    + Sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty;

    + Các sự kiện có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tài chính, hoạt động quản lý tài sản ủy thác.

    – Chế độ báo cáo theo yêu cầu: trong trường hợp cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích chung và lợi ích nhà đầu tư, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thể yêu cầu công ty quản lý quỹ báo cáo về hoạt động của công ty.

    – Chế độ công bố thông tin định kỳ: công ty quản lý quỹ phải công bố các thông tin định kỳ sau:

    + Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính tại ngày 30/6 đã được soát xét và tại ngày 31/12 đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán cùng thời điểm với việc công bố báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét và báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán;

    + Báo cáo tài chính quý;

    + Báo cáo thường niên;

    + Đại hội đồng cổ đông thường niên;

    + Thông tin về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

    – Chế độ công bố thông tin bất thường: công ty quản lý quỹ phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau:

    + Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa, ngoại trừ trường hợp phong tỏa theo yêu cầu của chính công ty;

    + Tạm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh; bổ sung hoặc rút bớt một hoặc một số ngành nghề đầu tư, kinh doanh; bị đình chỉ hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động; thay đổi thông tin trong Bản cáo bạch sau khi đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán;

    + Thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông;

    + Quyết định về mức cổ tức, hình thức trả cổ tức, thời gian trả cổ tức; quyết định tách, gộp cổ phiếu;

    + Quyết định về việc tổ chức lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp), giải thể doanh nghiệp; thay đổi tên công ty, con dấu của công ty; thay đổi địa điểm, thành lập mới hoặc đóng cửa trụ sở chính, chi nhánh, phòng giao dịch; sửa đổi, bổ sung Điều lệ; chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty;

    + Quyết định thay đổi kỳ kế toán, chính sách kế toán áp dụng (trừ trường hợp thay đổi chính sách kế toán áp dụng do thay đổi quy định pháp luật); thông báo doanh nghiệp kiểm toán đã ký hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính năm hoặc thay đổi doanh nghiệp kiểm toán (sau khi đã ký hợp đồng); doanh nghiệp kiểm toán từ chối kiểm toán báo cáo tài chính của công ty; kết quả điều chỉnh hồi tố báo cáo tài chính (nếu có); ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính;

    + Quyết định tham gia góp vốn thành lập, mua để tăng sở hữu trong một công ty dẫn đến công ty đó trở thành công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết hoặc bán để giảm sở hữu tại công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết dẫn đến công ty đó không còn là công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết hoặc giải thể công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết; đóng, mở chi nhánh, nhà máy, văn phòng đại diện;

    + Quyết định phát hành trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi;

    + Khi có sự thay đổi số cổ phiếu có quyền biểu quyết đang lưu hành.

    + Khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động của công ty được sửa đổi, bổ sung;

    + Công ty thay đổi, bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại, bãi nhiệm người nội bộ.

    + Khi nhận được quyết định khởi tố, tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của công ty;

    + Quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu dẫn đến tổng giá trị các khoản vay của công ty có giá trị từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên tính tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét.

    + Công ty nhận được thông báo của Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp;

    + Khi xảy ra các sự kiện khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình quản trị của công ty;

    + Thông tin về Đại hội đồng cổ đông bất thường hoặc thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông dưới hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản;

    + Vốn góp của chủ sở hữu bị giảm từ 10% trở lên hoặc tổng tài sản bị giảm từ 10% trở lên tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét.

    + Quyết định tăng, giảm vốn điều lệ; quyết định góp vốn đầu tư vào một tổ chức, dự án, vay, cho vay hoặc các giao dịch khác với giá trị từ 10% trở lên trên tổng tài sản của công ty tại báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét; quyết định góp vốn có giá trị từ 50% trở lên vốn điều lệ của một tổ chức (xác định theo vốn điều lệ của tổ chức nhận vốn góp trước thời điểm góp vốn); quyết định mua, bán tài sản có giá trị từ 15% trở lên trên tổng tài sản của công ty tính tại báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét.

    + Được chấp thuận hoặc bị hủy bỏ niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán;

    + Khi nhận được quyết định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với công ty, người hành nghề chứng khoán của công ty; khi Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán;

    + Khi nhận được quyết định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc đặt công ty vào diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt hoặc đưa ra khỏi diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt; đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động hoặc chấm dứt tình trạng đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động;

    + Các giao dịch chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp để trở thành cổ đông, thành viên góp vốn nắm giữ từ 10% trở lên vốn điều lệ đã góp của công ty chứng khoán không phải là công ty đại chúng; các giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp chiếm từ 10% trở lên vốn điều lệ hoặc giao dịch dẫn tới tỷ lệ sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn vượt qua hoặc xuống dưới các mức sở hữu 10%, 25%, 50%, 75% vốn điều lệ của công ty quản lý quỹ không phải là công ty đại chúng;

    + Khi nhận được quyết định chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đóng, thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh, phòng giao dịch ở trong nước hoặc nước ngoài.

    Nhằm đánh giá sức chịu đựng của các công ty quản lý quỹ trước các thiệt hại trong hoạt động kinh doanh, Bộ Tài chính ban hành quy định về tỷ lệ vốn khả dụng đối với công ty quản lý quỹ.

    Tỷ lệ vốn khả dụng =

    Trong đó:

    – Vốn khả dụng là vốn chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng 90 ngày.

    – Tổng giá trị rủi ro bao gồm giá trị rủi ro thị trường, giá trị rủi ro thanh toán và giá trị rủi ro hoạt động, cụ thể:

    + Giá trị rủi ro thị trường là giá trị tương ứng với mức độ tổn thất có thể xảy ra khi giá thị trường của tài sản đang sở hữu biến động theo chiều hướng bất lợi.

    + Giá trị rủi ro thanh toán là giá trị tương ứng với mức độ tổn thất có thể xảy ra khi đối tác không thể thanh toán đúng hạn hoặc chuyển giao tài sản đúng hạn theo cam kết.

    + Giá trị rủi ro hoạt động là giá trị tương ứng với mức độ tổn thất có thể xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trình nghiệp vụ, lỗi con người trong quá trình tác nghiệp, hoặc do thiếu vốn kinh doanh phát sinh từ các khoản chi phí, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc do các nguyên nhân khách quan khác.

    Tỷ lệ vốn khả dụng là thước đo mức độ an toàn tài chính, giúp khuyến khích các công ty quản lý quỹ tự bảo vệ mình bằng việc kiểm soát chi phí, hạn chế hoạt động đầu tư tài chính phiêu lưu. Trường hợp công ty quản lý quỹ không đáp ứng điều kiện về tỷ lệ này, tùy theo mức độ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét đặt công ty quản lý quỹ vào các trường hợp kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động và có thể thu hồi giấy phép. Để khôi phục hoạt động, công ty quản lý quỹ phải thực hiện các biện pháp khắc phục giảm rủi ro, giảm chi phí để nâng tỷ lệ vốn khả dụng, đảm bảo an toàn tài chính trong hoạt động của công ty.

    Hình 26.2. Giám sát chỉ tiêu vốn khả dụng của công ty quản lý quỹ

    – Kiểm soát: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt công ty quản lý quỹ vào tình trạng kiểm soát trong các trường hợp sau:

     + Tỷ lệ vốn khả dụng từ 120% tới 150% trong tất cả các kỳ báo cáo trong 03 tháng liên tục; hoặc

    + Tỷ lệ vốn khả dụng đã được soát xét hoặc được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận từ 120% tới 150%; hoặc

    + Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính mà tổ chức kiểm toán được chấp thuận đưa ra ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược), từ chối đưa ra ý kiến (hoặc không thể đưa ra ý kiến), ý kiến ngoại trừ một số các chỉ tiêu của báo cáo này mà nếu trừ các ảnh hưởng ngoại trừ ra khỏi vốn khả dụng sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng từ 120% tới 150%.

    Thời hạn kiểm soát không quá 12 tháng, kể từ ngày công ty quản lý quỹ bị đặt vào tình trạng kiểm soát. Công ty quản lý quỹ được đưa ra khỏi tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong 03 tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.

    – Kiểm soát đặc biệt: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt công ty quản lý quỹ vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong các trường hợp sau:

    + Tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%, bao gồm cả trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng do công ty tự tính và tỷ lệ vốn khả dụng sau khi đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận; hoặc

    + Không khắc phục được tình trạng kiểm soát trong thời hạn 12 tháng; hoặc

    + Không thực hiện báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính trong 02 kỳ báo cáo liên tiếp, hoặc không công bố thông tin về báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận theo quy định; hoặc

    + Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính mà tổ chức kiểm toán được chấp thuận đưa ra ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược), từ chối đưa ra ý kiến (hoặc không thể đưa ra ý kiến), ý kiến ngoại trừ một số các chỉ tiêu của báo cáo này mà nếu trừ các ảnh hưởng ngoại trừ ra khỏi vốn khả dụng sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%.

     Thời hạn kiểm soát đặc biệt không quá 04 tháng, kể từ ngày công ty quản lý quỹ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Công ty quản lý quỹ được đưa ra khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong 03 tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.

    – Tạm ngừng hoạt động: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước yêu cầu công ty quản lý quỹ tạm ngừng hoạt động trong trường hợp công ty quản lý quỹ không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) dưới 50% vốn điều lệ hoặc không bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

    Thời hạn tạm ngừng hoạt động tối đa là 2 năm. Việc tạm ngừng hoạt động công ty quản lý quỹ kéo dài cho tới khi: tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong 03 tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận; hoặc công ty quản lý quỹ hợp nhất, sáp nhập với công ty quản lý quỹ khác, hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.

    – Đình chỉ hoạt động: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt công ty quản lý quỹ vào tình trạng đình chỉ hoạt động trong các trường hợp sau:

    + Công ty quản lý quỹ không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt sau thời hạn theo quy định của pháp luật và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) đạt mức 50% vốn điều lệ trở lên; hoặc

    + Hồ sơ đề nghị cấp, điều chỉnh giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin sai sự thật; hoặc

    + Hoạt động sai mục đích, không đúng với nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được cấp phép; hoặc

    + Không duy trì các điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định; hoặc

    + Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm theo quy định; hoặc vi phạm các quy định của pháp luật khác dẫn tới thất thoát tài sản của khách hàng ủy thác mà không khắc phục hậu quả, bồi thường cho khách hàng ủy thác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; hoặc vi phạm các quy định của pháp luật đồng thời không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt, không khắc phục các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

    – Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động: Công ty quản lý quỹ bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động trong các trường hợp sau:

    + Không tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được cấp phép trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động;

    + Không khắc phục được các vi phạm dẫn tới buộc phải tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động trong thời gian tạm ngừng, đình chỉ hoạt động quy định;

    + Công ty giải thể, phá sản, hoặc bị hợp nhất, bị sáp nhập.

    c) Giám sát thông qua hệ thống đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ (CAMEL)

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng hệ thống đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ, hỗ trợ cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo dõi, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính của các công ty quản lý quỹ để thực hiện các mục đích sau:

    – Theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ; phân loại nhằm cảnh báo sớm và có biện pháp xử lý kịp thời đối với công ty hoạt động yếu kém, gặp nhiều rủi ro;

    – Hỗ trợ công tác quản lý, hoạch định chính sách, công tác thanh tra, kiểm tra các công ty quản lý quỹ; bảo vệ tính toàn vẹn của thị trường chứng khoán.

    Việc đánh giá các công ty quản lý quỹ được thực hiện định kỳ 02 lần/năm (bán niên và năm). Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sử dụng 05 chỉ tiêu để đánh giá, xếp loại công ty quản lý quỹ, bao gồm: (1) Vốn; (2) Chất lượng tài sản; (3) Năng lực quản trị; (4) Kết quả kinh doanh (lợi nhuận); (5) Khả năng thanh khoản. Mỗi chỉ tiêu bao gồm một hoặc một số nhân tố để thực hiện đánh giá và chấm điểm. Tùy thuộc vào điều kiện thị trường, khi xét thấy là cần thiết, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể điều chỉnh, bổ sung các nhân tố, chỉ tiêu đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ.

    Dữ liệu được xem xét để chấm điểm các chỉ tiêu bao gồm:

    – Số liệu từ báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán chấp thuận soát xét hoặc kiểm toán, báo cáo chỉ tiêu an toàn tài chính;

    – Số liệu qua công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

    – Các tài liệu khác như thư quản lý của tổ chức kiểm toán chấp thuận, báo cáo kiểm toán nội bộ, báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty;

    – Báo cáo công tác quản trị rủi ro của công ty theo hướng dẫn về quản trị rủi ro của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và kết quả điều tra, khảo sát, nghiên cứu về Năng lực quản trị công ty thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán Nhà nước;

    Căn cứ vào kết quả đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể thành lập các đoàn kiểm tra, thanh tra đột xuất, chuyên đề hoặc toàn diện và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.

    26.2.3. Thanh tra, kiểm tra

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước do Thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện thanh tra, kiểm tra định kỳ/đột xuất đối với các công ty quản lý quỹ.

    a) Các loại hình thanh tra, kiểm tra

    – Thanh tra, kiểm tra định kỳ:

    Đối với các công ty mới được cấp phép (dưới 12 tháng), hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ (nếu có) chỉ tập trung vào việc tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn tài chính, quản lý vốn chủ sở hữu và cơ cấu tổ chức, nhân sự hành nghề, các quy trình nghiệp vụ, quy chế, chính sách, quy định nội bộ mới ban hành.

    Đối với các công ty có mức độ rủi ro cao, hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ phải toàn diện và được thực hiện tối thiểu một lần/năm. Công tác thanh/kiểm tra định kỳ đối với các tổ chức này được thực hiện thường xuyên cho tới khi kết quả kiểm tra cho thấy, hoạt động của công ty là phù hợp với quy định của pháp luật, hoạt động kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ là hiệu quả, đáp ứng các tiêu chí quản trị và điều hành công ty.

    – Thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề, đột xuất:

    Thanh tra, kiểm tra đột xuất được tổ chức thực hiện đối với các công ty quản lý quỹ có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro đến thị trường hoặc các khách hàng của công ty, ví dụ, công ty có dấu hiệu lạm dụng, sử dụng sai mục đích tài sản của khách hàng… Kết quả một cuộc thanh tra, kiểm tra là phải đánh giá được mức độ rủi ro tiềm ẩn đối với khách hàng và thị trường. Thanh tra, kiểm tra đột xuất cũng được thực hiện đối với các công ty không bảo đảm an toàn tài chính, nằm trong các diện kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt… Trong trường hợp này, nội dung thanh tra, kiểm tra bao gồm cả việc đánh giá lại thực trạng tài chính, vốn chủ sở hữu và khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính, mức độ thanh khoản của công ty; đồng thời cũng phải đánh giá được khả năng duy trì hoạt động, mức độ rủi ro đối với lợi ích của khách hàng.

    b) Quy trình thanh tra, kiểm tra

    – Công tác chuẩn bị:

    Đoàn thanh/kiểm tra yêu cầu các công ty cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu cần thiết để phục vụ công tác thanh/kiểm tra và thông báo về việc thanh/kiểm tra công ty, kèm theo đề cương thanh/kiểm tra tối thiểu trước 10 ngày làm việc trước khi thực hiện (trừ trường hợp thanh/kiểm tra đột xuất).

    – Thực hiện thanh/kiểm tra:

    Đoàn thanh/kiểm tra lập báo cáo khảo sát, tổng hợp thông tin về đối tượng thanh/kiểm tra, bao gồm thông tin chung về công ty, từ khi thành lập cho tới thời điểm hiện tại, các thông tin về nghiệp vụ hoạt động, số lượng khách hàng, quỹ, tổng giá trị tài sản đang quản lý, tình hình tài chính… các thông tin về cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn, hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, ban điều hành, các công ty con, liên kết; cơ cấu, tổ chức của công ty quản lý quỹ, người điều hành các quỹ; kết quả kinh doanh; ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát; thông tin về tình hình chấp hành các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; đánh giá về việc duy trì điều kiện cấp phép; đánh giá về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh; đánh giá về việc chấp hành các quy định về nghiệp vụ kinh doanh, việc tuân thủ các hạn chế trong hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán; đánh giá tình hình thực hiện các nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán.

    Cuối cùng, đoàn thanh/kiểm tra hoàn thiện số liệu, chứng cứ; lập biên bản làm việc; dự thảo biên bản thanh/kiểm tra; lập biên bản vi phạm hành chính (nếu có đủ cơ sở xác minh vi phạm quy định pháp luật).

    Trong ngày làm việc cuối cùng, toàn bộ đoàn thanh/kiểm tra tham gia cuộc họp tổng kết hoạt động thanh/kiểm tra với đại diện theo pháp luật, đại diện Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên/Chủ sở hữu, Tổng Giám đốc và các thành viên ban điều hành (nếu có), trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ và các cán bộ lãnh đạo khác của công ty. Mục đích của buổi họp nhằm thống nhất lại nội dung và các phát hiện của đoàn thanh/kiểm tra, đồng thời tạo điều kiện cho ban lãnh đạo của công ty giải trình, cung cấp bổ sung thông tin về các phát hiện và làm rõ bối cảnh thực tế, những yếu tố có thể tác động đến việc phân tích và nhận định của đoàn thanh/kiểm tra.

    c) Giám sát sau đợt thanh tra, kiểm tra

    Sau khi kết thúc đợt thanh/kiểm tra, đoàn thanh/kiểm tra tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước kết quả thanh/kiểm tra trên cơ sở các thông tin, tài liệu, hồ sơ, chứng từ thu thập được trong đợt thanh/kiểm tra, kể cả các báo cáo giải trình của công ty, đồng thời đưa ra phương án xử lý cụ thể đối với từng trường hợp. Đoàn thanh/kiểm tra tiếp tục thực hiện giám sát sau thanh/kiểm tra, đề nghị Công ty khắc phục các vấn đề còn tồn tại, đồng thời bàn giao hồ sơ cho Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong trường hợp công ty có hành vi vi phạm quy định của pháp luật để xử lý theo quy định.

    Công ty quản lý quỹ thực hiện khắc phục các vấn đề còn tồn tại sau quá trình thanh/kiểm tra, báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Đoàn thanh/kiểm tra tiếp tục giám sát việc khắc phục của công ty, đảm bảo công ty thực hiện khắc phục đầy đủ, đúng tiến độ, làm cơ sở thực hiện tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

    26.3. Cơ chế quản lý, giám sát đối với quỹ đầu tư chứng khoán

    26.3.1. Quản lý cấp phép và các thay đổi cần chấp thuận

    a) Mô hình quản lý chung

    Hình 26.3. Mô hình quản lý và giám sát hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán

     – Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, giám sát toàn bộ các hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán và ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát.

    – Công ty quản lý quỹ: trực tiếp thực hiện việc quản lý quỹ, đưa ra các mục tiêu, chính sách đầu tư và thực hiện phân bổ tài sản đầu tư theo mục tiêu đã được Đại hội nhà đầu tư thông qua.

    – Ban đại diện quỹ: do Đại hội nhà đầu tư bầu ra, đại diện cho quyền lợi các nhà đầu tư, thực hiện giám sát các hoạt động của quỹ, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát.

    Đối với mỗi loại hình quỹ đầu tư chứng khoán, Bộ Tài chính ban hành từng Thông tư cụ thể, quy định hướng dẫn chi tiết về cấp phép, thay đổi cần chấp thuận, quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh, chế độ báo cáo, công bố thông tin… để quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.

    b) Quản lý cấp phép

    Bộ Tài chính ban hành các quy định về điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán ra công chúng, điều kiện thành lập quỹ đầu tư chứng khoán cũng như các quy định chi tiết về cách thức chào bán, phân phối chứng chỉ quỹ, thủ tục hồ sơ đăng ký chào bán, hồ sơ cấp phép thành lập quỹ đầu tư chứng khoán. Trên cơ sở các quy định đã ban hành, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý việc cấp phép thành lập và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán. Các điều kiện về cấp phép thành lập và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán cụ thể như sau:

    – Điều kiện thành lập quỹ thành viên:

    + Vốn thực góp tối thiểu là 50 tỷ đồng Việt Nam;

    + Có tối đa 30 thành viên góp vốn và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân trong nước, tổ chức nước ngoài;

    + Do một công ty quản lý quỹ quản lý. Công ty quản lý quỹ phải đáp ứng các điều kiện sau: có đầy đủ vốn theo quy định của pháp luật; không bị đặt trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động hoặc đang trong quá trình hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; không đang trong tình trạng bị xử phạt các hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực chứng khoán mà chưa thực hiện đầy đủ các chế tài và khắc phục hậu quả theo quyết định xử phạt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

    + Tài sản của quỹ thành viên được lưu ký tại một ngân hàng lưu ký độc lập với công ty quản lý quỹ.

    – Điều kiện thành lập quỹ đại chúng:

    Việc lập quỹ đại chúng tại Việt Nam được chia làm 02 giai đoạn: đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng và đăng ký lập quỹ đại chúng.

    Việc chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng phải đáp ứng các điều kiện sau:

    + Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu 50 tỷ đồng Việt Nam;

    + Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉ quỹ;

    + Công ty quản lý quỹ có đầy đủ vốn theo quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ; không bị đặt trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động hoặc đang trong quá trình hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; không đang trong tình trạng bị xử phạt các hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực chứng khoán mà chưa thực hiện đầy đủ các chế tài và khắc phục hậu quả theo quyết định xử phạt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Đối với chào bán chứng chỉ quỹ ETF, pháp luật Việt Nam quy định thêm một số điều kiện như sau:

    – Có tối thiểu 02 thành viên lập quỹ (công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới và tự doanh, ngân hàng lưu ký đã ký hợp đồng lập quỹ ETF với công ty quản lý quỹ);

    Sau khi thực hiện chào bán thành công chứng chỉ quỹ ra công chúng, quỹ đại chúng được thành lập nếu có ít nhất 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp mua chứng chỉ quỹ và tổng giá trị chứng chỉ quỹ đã bán đạt ít nhất là 50 tỷ đồng Việt Nam. Đối với quỹ ETF, quỹ ETF được đăng ký thành lập nếu vốn điều lệ của quỹ đạt không thấp hơn 50 tỷ đồng.

    Ngoài ra, Bộ Tài chính còn đưa ra các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ của nhà đầu tư, đại hội nhà đầu tư; điều kiện, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của ban đại diện quỹ để đảm bảo quyền, lợi ích của các nhà đầu tư tham gia góp vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán.

    c) Quản lý các thay đổi cần chấp thuận

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý một số nội dung thay đổi quan trọng của quỹ đầu tư chứng khoán, cụ thể như sau:

    – Thay đổi ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát;

    – Hợp nhất, sáp nhập quỹ đầu tư chứng khoán;

    – Giải thể quỹ đầu tư chứng khoán;

    – Chuyển đổi quỹ đóng thành quỹ mở;

    – Gia hạn thời gian hoạt động quỹ đóng, quỹ thành viên;

    – Tăng, giảm vốn điều lệ quỹ thành viên;

    – Đăng ký phát hành thêm chứng chỉ quỹ đại chúng;

    – Tách quỹ mở.

    26.3.2. Giám sát từ xa

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện giám sát từ xa các quỹ đầu tư chứng khoán thông qua chế độ báo cáo, công bố thông tin và thông qua ngân hàng giám sát.

    a) Giám sát thông qua chế độ báo cáo và công bố thông tin

    Công ty quản lý quỹ phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin cho quỹ đầu tư chứng khoán do công ty thực hiện quản lý theo quy định. Trên cơ sở chế độ báo cáo của công ty, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện giám sát từ xa hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, cập nhật, tổng hợp thông tin hoạt động của quỹ cũng như kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm (nếu có). Tùy thuộc vào đặc thù riêng, từng loại hình quỹ có chế độ báo cáo, công bố thông tin riêng. Quy định chung về chế độ báo cáo, công bố thông tin đối với quỹ đầu tư chứng khoán như sau:

    – Chế độ báo cáo định kỳ:

    + Báo cáo về thay đổi giá trị tài sản ròng;

    + Báo cáo về hoạt động đầu tư (bao gồm cả thông tin tài sản) của quỹ;

    + Báo cáo tài chính.

    – Chế độ báo cáo bất thường:

    + Thay đổi thành viên ban đại diện quỹ;

    + Tổ chức họp bất thường đại hội nhà đầu tư;

    + Định giá sai giá trị tài sản ròng.

    – Chế độ báo cáo theo yêu cầu: trong trường hợp cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích chung và lợi ích nhà đầu tư, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thể yêu cầu công ty quản lý quỹ báo cáo về hoạt động của quỹ.

    – Chế độ công bố thông tin định kỳ của quỹ đại chúng:

    + Công bố các báo cáo định kỳ của quỹ đại chúng;

    + Đại hội nhà đầu tư.

    ­– Chế độ công bố thông tin bất thường của quỹ đại chúng:

    + Được cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng;

    + Được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ, Quyết định điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ;

    + Quyết định thay đổi vốn điều lệ của quỹ đóng;

    + Bị đình chỉ, hủy bỏ đợt chào bán chứng chỉ quỹ; quỹ đại chúng chào bán không thành công;

    + Sửa đổi, bổ sung Điều lệ quỹ, Bản cáo bạch;

    + Khi có quyết định khởi tố, tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của quỹ đại chúng;

    + Khi có thay đổi, bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại, bãi nhiệm người nội bộ của quỹ đại chúng;

    + Công bố về ngày đăng ký cuối cùng, ngày thực hiện quyền cho nhà đầu tư của quỹ;

    + Quyết định hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, gia hạn thời gian hoạt động, thanh lý tài sản của quỹ đại chúng;

    + Định giá sai giá trị tài sản ròng của quỹ đại chúng;

    + Thay đổi ngân hàng giám sát, công ty quản lý quỹ; thay đổi thành viên lập quỹ, tổ chức tạo lập thị trường (đối với quỹ ETF);

    + Tạm ngừng giao dịch hoán đổi hoặc mức sai lệch so với chỉ số tham chiếu vượt quá mức cho phép (đối với quỹ ETF);

    + Đại hội nhà đầu tư bất thường hoặc việc lấy ý kiến Đại hội nhà đầu tư bằng văn bản.

    ­– Công bố thông tin theo yêu cầu: công bố khi có yêu cầu của của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán.

    b) Giám sát thông qua ngân hàng giám sát

    Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán có những điểm khá đặc thù: nhà đầu tư góp vốn vào quỹ nhưng không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ, đặc biệt đối với quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng. Chính vì vậy, để đảm bảo an toàn nguồn vốn đầu tư và minh bạch quá trình đầu tư, trong cơ chế quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát là đơn vị độc lập, thay mặt các nhà đầu tư giám sát hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng. Bộ Tài chính ban hành các quy định về điều kiện, nghĩa vụ của ngân hàng giám sát, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để ngân hàng giám sát thực hiện chức năng của mình.

    – Điều kiện của ngân hàng giám sát:

    + Là ngân hàng thương mại có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán có chức năng thực hiện các dịch vụ lưu ký và giám sát việc quản lý quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán.

    + Có tối thiểu 02 nhân viên có các chứng chỉ sau: (1) Chứng chỉ về pháp luật chứng khoán; (2) Chứng chỉ cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán; hoặc đã có chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán hoặc đã thi đạt chứng chỉ quốc tế về phân tích đầu tư chứng khoán CFA từ bậc 1 trở lên (Chartered Financial Analyst level 1), CIIA (Certified International Investment Analyst) từ bậc 1 trở lên; hoặc chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán cấp tại các quốc gia là thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); (3) Chứng chỉ kế toán, hoặc kiểm toán, hoặc đã có các chứng chỉ quốc tế trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán ACCA (Association of Chartered Certified Accountants), CPA (Certified Public Accountants), CA (Chartered Accountants), ACA (Associate Chartered Accountants).

    – Nghĩa vụ của ngân hàng giám sát đối với quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng:

    + Thực hiện lưu ký tài sản của quỹ đại chúng, quản lý tách biệt tài sản của quỹ đại chúng, và các tài sản khác của ngân hàng giám sát;

    + Giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin của công ty quản lý quỹ theo quy định của pháp luật;

    + Báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi phát hiện công ty quản lý quỹ vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán;

    + Định kỳ cùng công ty quản lý quỹ đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ đại chúng;

    – Nghĩa vụ báo cáo của ngân hàng giám sát:

    + Báo cáo giám sát định kỳ về hoạt động quản lý tài sản của quỹ do công ty quản lý quỹ thực hiện;

    + Báo cáo phát hiện công ty quản lý quỹ vi phạm các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; hoặc thiệt hại từ hoạt động quản lý tài sản do công ty quản lý quỹ gây ra là quá lớn và chi phí giải quyết hậu quả là quá cao;

    26.3.3. Thanh tra, kiểm tra

    Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra các quỹ đầu tư chứng khoán thông qua việc thanh/kiểm tra các công ty quản lý quỹ thực hiện quản lý các quỹ đầu tư.

    —————–

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ——————————-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Các Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Bàn Về Quản Lý, Phát Triển Đô Thị Theo Quy Hoạch
  • Hướng Dẫn Trong Công Tác Quản Lý Quy Hoạch Đô Thị
  • Khái Niệm Về Quy Hoạch Xây Dựng Đô Thị
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Với Lập Pháp Và Tư Pháp
  • Khái Niệm Quản Lý Quỹ Ngân Sách Nhà Nước Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Nên Bỏ Các Quỹ Tài Chính Ngoài Ngân Sách Nhà Nước?
  • Quỹ Ngân Sách Nhà Nước Là Gì? Hiểu Để Thực Hiện Đúng Nghĩa Vụ
  • Quản Lý Công & Chính Sách: Độ Phủ Việc Làm Rộng
  • 10 Quyển Sách Mà Các Nhà Quản Lý Giỏi Sẽ Không Bao Giờ Bỏ Qua
  • Sách Lược Là Gì? Phân Biệt Giữa Sách Lược Và Chiến Lược
  • Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước là việc xây dựng kế hoạch tạo lập, sử dụng ngân sách Nhà nước tập trung các khoản thu, tổ chức và điều hòa vốn tiền mặt đảm bảo thực hiện chi trả tiền ngân sách Nhà nước.

    Việc quản lý quỹ ngân sách Nhà nước phải đảm bảo tính thống nhất, tính đầy đủ và tính phân cấp.

    Tính thống nhất thể hiện trong các chế độ, chính sách, phương thức quản lý và sự thống nhất khi sử dụng đơn vị tiền tệ để hạch toán, Luật Ngân sách nhà nước quy định mọi khoản thu, chi ngân sách Nhà nước đều phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam).

    Tính toán đầy đủ yêu cầu tất cả các khoản thu chi của ngân sách phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách Nhà nước. Các khoản thu do cơ quan thu trực tiếp thu phải nộp tiền vào kho bạc và phải báo cáo với cơ quan tài chính, kho bạc để hạch toán và làm các thủ tục cấp phát, thanh toán.

    Tính phân cấp đòi hỏi nguồn thu của ngân sách cấp nào phải tập trung vào ngân sách cấp đó, không được sử dụng quỹ của ngân sách cấp này để chi cho ngân sách cấp khác.

    Hoạt động quản lý quỹ ngân sách Nhà nước bao gồm các nội dung sau:

    Xây dựng kế hoạch tạo lập và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước, lập và cụ thể hóa thu chi ngân sách Nhà nước cả năm và theo định kỳ kế hoạch.

    Tập trung các nguồn thu là việc sử dụng hệ thống pháp luật thu hiện hành, các nghiệp vụ và kế hoạch thu được phân bổ để tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước, kể cả việc thực hiện các nghiệp vụ vay.

    Tổ chức điều tiết nguồn thu cho từng cấp ngân sách Nhà nước trên cơ sở kế hoạch đã được phân bổ, bảo đảm nguồn kinh phí kịp thời cho các cấp ngân sách Nhà nước.

    Thực hiện chi trả, cấp phát cho các đối tượng, kiểm tra việc sử dụng kinh phí theo chế độ chi tiêu của Nhà nước.

  • quỹ ngân sách là gì
  • Quỹ ngân sách nhà nước
  • quy ngan nha nuoc va ngan quy khac nhau
  • quỹ nhà nước
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Quyền Sách Trên Mạng: Lỗ Hổng Lớn
  • Vi Phạm Bản Quyền Là Gì
  • Làm Thế Nào Để Xuất Bản Một Quyển Sách Made By Me?
  • Từ Quyết Sách Của Chính Phủ
  • Quyết Sách Lớn Phải Khoa Học
  • Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Và Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Toàn Cầu (Global Governance)
  • Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế (International Business Administration) Là Gì?
  • Smart Investment: Khái Niệm Cơ Bản Về Quỹ Etf
  • Thành Lập Công Ty Quản Lý Quỹ
  • Khái Niệm Quản Lý Rủi Ro Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán
  • Published on

    1. 1. LOGO LOGO chúng tôi QUỸ ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN NHÓM : 3
    2. 2. chúng tôi Bùi Thị Thương DANH SÁCH THÀNH VIÊN : Nguyễn Ngọc Phan Văn Trần Thị Ánh Nguyệt Phan Thị Thu Luyến Đào Tú Trinh Phạm Thị Thu Thuỷ Nguyễn Trung Kiên
    3. 3. chúng tôi NỘI DUNG : Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán Công ty quản lý quỹ đầu tư
    4. 4. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 1. Khái niệm quỹ đầu tư chứng khoán. 1.1. Quỹ đầu tư. Là một hình thức chung vốn đầu tư được thiết lập trên cơ sờ có sự tham gia đóng góp của một số chủ thể có tiền và muốn thực hiên hoạt động đầu tư với nhau nhằm tăng cường tính chuyển nghiệp trong hoạt động đầu tư với mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá lợi ích của những người tham gia. Thực hiện trên cơ sở uỷ thác tài sản Góp tiền vào quỹ thông qua việc mua chứng chỉ quỹ Nhà đầu tư thu được lợi ích nhờ sự hoạt động của công ty quản lý quỹ Luôn gắn liền với sự xuất hiện và hoạt động của công ty quản lý quỹ Được tổ chức theo những hình thức khác nhau
    5. 5. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 1. Khái niệm quỹ đầu tư chứng khoán. 1.2. Quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Vốn đầu tư quỹ chủ yếu đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu là đa số. Thiết lập chủ yếu trên cơ sở huy động tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư. Tập hợp vốn đầu tư nhỏ lẻ thành vốn đầu tư có quy mô lớn. Hoạt động thường được thực hiện trên mối quan hệ của 3 chủ thể
    6. 6. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 2.Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 2.1. Theo hình thức tổ chức Quỹ đầu tư dưới dạng công ty đầu tư Quỹ đầu tư dưới dạng hợp đồng – Công ty đầu tư hoạt động trên cơ sở Luật doanh nghiệp và các quy định tài chính chuyên ngành. Được thiết lập dưới hình thức công ty cổ phần. – Công ty đầu tư huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư và bán cho người đầu tư. Nhà đầu tư là cổ đông với tư các h côt đông thường. Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ có thể niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường phi tập trung. – Là một cơ chế hoạt động gồm công ty quản lý quỹ, người lưu giữ tài sản của quỹ và người đầu tư. Nó không phải là một pháp nhân mà hoàn toàn là một lượng tiền nhất định do các nhà đầu tư đóng góp. – Quỹ này được tạo lập bằng việc ký hợp đồng tín thác giữa công ty quản lý quỹ và người được tín thác. Người đầu tư trở thành người hưởng lợi của quỹ bằng việc đóng tiền vào quỹ và sau đó được nắm giữ chứng chỉ quỹ
    7. 7. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 2.Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 2.2. Theo hình thức hoạt động. Quỹ đầu tư đóng ( quỹ đóng ) Quỹ đầu tư mở ( quỹ mở ) – Quỹ đầu tư đóng hoạt động như công ty có phát hành chứng khoán ra công chúng. Chứng chỉ quỹ đầu tư được niêm yết và giao dịch trên thị trường thứ cấp với giá tuân thủ theo quy luật của thị trường. – Quỹ đầu tư này thường không phát hành thêm chứng chỉ quỹ, không mua lại cổ phiếu của mình đã phát hành. – Quỹ mở có nghĩa vụ phát hành và mua lại cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ một cách thường xuyên. Chứng chỉ quỹ do quỹ mở pháy hành thường không được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. – Quỹ mở, công ty quản lý sẵn sàng mua lại các cổ phiếu với giá ngang bằng với giá trị ròng được công bố hằng ngày, thường vào các thời điểm thoả thuận trước . Quỹ mở cũng sẵn sàng bán chứng chỉ quỹ đầu tư với giá bằng giá trị tài sản ròng, có tính thêm phí bán và mua lại chứng chỉ quỹ.
    8. 9. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 2.Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 2.4. Theo đối tượng đầu tư. Quỹ đầu tư cổ phiếu Quỹ đầu tư trái phiếu – Quỹ đầu tư cổ phiếu là loại quỹ sử dụng hầu hết tiền vốn của quỹ để đầu tư vào các loại cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hay trái phiếu. Thường các quỹ này được chia thành quỹ phát triển, quỹ thu nhập phát triển, quỹ thu nhập. – Quỹ đầu tư trái phiếu là loại quỹ đầu tư duy nhất vào trái phiếu nhằm đạt sự ổn định về thu nhập. Các quỹ thường được phân loại theo sự tập trung đầu tư của quỹ. Thường được chia thành quỹ trái phiếu chính phủ, quỹ thị trường tiền tệ, quỹ trái phiếu công ty.
    9. 11. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 2.Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 2.6. Theo phạm vi góp vốn. Quỹ đại chúng Quỹ thành viên – Quỹ đại chúng là loại quỹ đầu tư được thiết lập trên cơ sở góp vốn chung của cộng đồng các nhà đầu tư nhằm tạo ra lợi nhuận tốt nhất trong mối tương quan với rủi ro ở mức thấp nhất có thể. Số lượng nhà đầu tư tham gia góp vốn là không hạn chế, trong đó chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư riêng rẻ. – Quỹ thành viên là loại quỹ đầu tư thực hiện huy động vốn đầu tư trong phạm vi một số lượng nhất định các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư tham gia góp vốn hình thành nên quỹ này thường là các pháp nhân, các tổ chức đầu tư. Ngưỡng chấp nhận rủi ro của quỹ loại này thường cao hơn nhiều so với quỹ đại chúng.
    10. 12. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 3. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.1. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán đối với thị trường chứng khoán Quỹ đầu tư chứng khoán tạo ra hiệu quả và góp phần ổn định thị trường chứng khoán: Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần tăng cung – cầu về chứng khoán: Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần phát triển thị trường vốn và tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp: Quỹ đầu tư chứng khoán là phương tiện hữu hiệu để thúc đẩy tiết kiệm cá nhân: Quản lý hiệu quả các quỹ đầu tư chứng khoán có thể tăng lượng tiền đầu tư: Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán giúp nâng cao chuẩn mực và chất lượng quản lý đầu tư:
    11. 13. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 3. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.2. Vai trò của quỹ đầu tu chứng khoán đối với nhà đầu tư – Phân tán rủi ro: – Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư: – Giảm chi phí lưu thông, nghiên cứu và giao dịch: – Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư tốt hơn:
    12. 14. chúng tôi I. Khái niệm, phân loại và vai trò của quỹ đầu tư 3. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.3. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán đối với nền kinh tế. Quỹ đầu tư vừa đóng vai trò là các chuyên gia tư vấn về quản lý tiếp thị thông tin và tài chính vừa là những người đánh giá hiệu quả dự án đầu tư, giúp cho các nhà đầu tư đánh giá được tính khả thi của dự án đầu tư. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
    13. 15. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 1. Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 1.1. Huy động vốn. Có thể phát hành trái phiếu, chứng chỉ quỹ, phát hành cổ phiếu để tiến hành huy động vốn tùy thuộc vào từng loại hình. Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu một phần tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và các lợi ích phát sinh từ phần sở hữa đó của người đầu tư. Hình thức phát hành Phát hành trực tiếp . Phát hành thông qua các tổ chức bảo lãnh
    14. 17. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 1. Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 1.3. Bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ. Tài sản của quỹ do người lưu giữ hoặc ngân hàng giám sát kiểm soát để bảo đảm công ty quản lý quỹ phải thực hiện đúng tôn chỉ, điều lệ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, trách nhiệm quản lý tài sản quỹ giao cho ngân hàng giám sát hoặc ngân hàng lưu ký.
    15. 18. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 1. Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 1.4. Thiết lập cơ chế thoát vốn cho các nhà đầu tư. Nhà đầu tư đánh giá đúng giá trị các khoản đầu tư của mình, để có thế tiếp tục đầu tư hoặc thu hồi vốn. Việc đánh giá giá trị tài sản của quỹ được thực hiện thông qua chỉ tiêu giá trị tài sản thuần của quỹ – Net Asset Value- NAV NAV= Tổng giá trị tài sản của quỹ – giá trị các khoản nợ của quỹ NAV một đơn vị quỹ đầu tư: NAV= 𝐍𝐀𝐕 𝐪𝐮ỹ đầ𝐮 𝐭ư 𝐭ổ𝐧𝐠 𝐬ố 𝐜ổ 𝐩𝐡𝐢ế𝐮 𝐜𝐡ứ𝐧𝐠 𝐜𝐡ỉ 𝐪𝐮ỹ đầ𝐮 𝐭ư đ𝐚𝐧𝐠 𝐥ư𝐮 𝐡à𝐧𝐡 Tỉ lệ phí bán= 𝐏𝐎𝐏−𝐍𝐀𝐕 𝐏𝐎𝐏 x 100% POP là giá chào bán đơn vị quỹ đầu tư POP= 𝐍𝐀𝐕 𝟏−𝐭ỉ 𝐥ệ 𝐩𝐡í 𝐛á𝐧 Nếu không tính chi phí bán thì POP= NAV
    16. 19. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 1. Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 1.5. Cung cấp thông tin cho người đầu tư. Nhằm giúp người đầu tư đánh giá đúng thực trạng của các khoản đầu tư, để đánh giá rủi ro và lợi nhuận Nâng cao uy tín (để thu hút vốn) Phải tuân theo quy định của nhà nước Nội dung là báo cáo tài chính, tình hình tài chính, tình hình đầu tư…..
    17. 21. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 2. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 2.2. Thu nhập của quỹ đầu tư. Thu nhập của quỹ đầu tư có được từ nhiều nguồn như: -Thu nhập từ cổ phiếu,lãi trái phiếu. -Các khoản lãi khi bán các khoản đầu tư. -Giá trị thu được từ cổ phiếu,chứng chỉ quỹ đầu tư được phát hành. -Lãi tiền gửi. -Các khoản thu nhập khác. Việc phân phối thu nhập của quỹ tuân thủ các quy định sau: -Phần còn lại của thu nhập của quỹ sau khi đã trừ đi chi phí của quỹ được phân phối cho người đầu tư theo nguyên tắc chỉ người đầu tư được ghi tên trong danh sách người đầu tư lập vào ngày đăng kí cuối cùng được quyền nhận thu nhập phân phối. -Quy trình và thủ tục phân phối thu nhập của quỹ cho ngườ đầu tư đươch thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng kí,lưu kí,thanh toán bù trừ và thanh toán chứng khoán .
    18. 22. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 2. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 2.3.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư 2.3.1. Tổng thu nhập của quỹ. Đây là 1 trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động của 1 quỹ đầu tư chứng khoán,nó được cấu thành từ 3 khoản thu chính: -Khoản thu nhập từ đầu tư ròng -Các khoản thu nhập ròng được thừa nhận là lãi vốn -Sự tăng(giảm) ròng trong giá trị tài sản ròng vì phản ánh giá trị các khoản đầu tư vào cổ phiếu mà quỹ đang nắm giữ. Tổng thu nhập được xác định bằng công thức sau: TR = 𝑝ℎâ𝑛 𝑝ℎố𝑖 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝+𝑙ã𝑖 𝑣ố𝑛+𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑐ℎê𝑛ℎ 𝑙ệ𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑁𝐴𝑉 𝑁𝐴𝑉 𝑡ạ𝑖 𝑡ℎờ𝑖 đ𝑖ể𝑚 đầ𝑢 𝑘ì Công thức tính thu nhập quỹ đóng: TR = 𝑝ℎâ𝑛 𝑝ℎố𝑖 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝+𝑙ã𝑖 𝑣ố𝑛+𝑐ℎê𝑛ℎ 𝑙ệ𝑐ℎ 𝑔𝑖á 𝑔𝑖á 𝑏𝑎𝑛 đầ𝑢
    19. 24. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 2. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 2.3.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư 2.3.3. Tỷ lệ thu nhập đầu tư. Tỷ lệ thu nhập đầu tư được tính bằng giá trị thu nhập đầu tư ròng chia cho giá trị tài sản ròng trung bình.
    20. 25. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 2. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 2.3.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư 2.3.4. Tỷ lệ doanh thu. Tỷ lệ này thể hiện tổng giá trị giao dịch (mua vào và bán ra) do công ty quản lý quỹ tiến hành đối với quỹ, được xác định bằng số lượng tài sản được bán hoặc mua chia cho giá trị tài sản ròng của quỹ trong năm.
    21. 32. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 3. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.1. Quản lý nhà nước về hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán Mục đích thiết lập hê thống pháp luật về quản lí quỹ đầu tư chứng khoán là nhằm để đảm bảo 1 số nguyên tắc cơ bản sau: -Việc lưu giữ các tài sản của quỹ được tách biệt với hoạt động quản lý quỹ. -Các xung đột quyền lợi cần được loại bỏ càng nhiều càng tốt bằng cách loại trừ các mối quan hệ chắc chắn và các giao dịch giữa các nhà quản lý quỹ,tổ chức lưu ký,các nhà tư vấn đầu tư và các thành viên của họ. -Các phương pháp kế toán và đánh giá phải được liệt kê rõ ràng,áp dụng thống nhất và trung thành mọi lúc mọi nơi. -Các cơ quan quản lý chứng khoán phải có quyền lực để phạt,cấm,loại bỏ tư cách và đình chỉ các cá nhân ,các công ty quản lý,các tổ vấn đầu tư,những tổ chức lưu ký hoặc các quỹ nếu họ vi phạm các quy tắc.
    22. 33. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 3. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.1. Quản lý nhà nước về hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán Mục đích thiết lập hê thống pháp luật về quản lí quỹ đầu tư chứng khoán là nhằm để đảm bảo 1 số nguyên tắc cơ bản sau: -Các quy tắc phải dứt khoát cấm việc xuất bản hoặc phổ biến thông tin sai lệch hoặc không chính xác cho các nhà đầu tư triển vọng và hiện tại. – Các nhà quản lý đầu tư không được phép lẩn tránh trách nhiệm đối với các nhà đầu tư. -Quyền của các nhà đầu tư phải được xác định rõ và các nhà đầu tư cần được có phương thức hiệu quả để chuyển nhưng kiến nghị của họ đến các cơ quan quản lý về chứng khoán,thị trường chứng khoán. -Bản cáo bạch và các tài liệu thông tin thị trường khác phải bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để nhà đầu tư có thể nghiên cứu,đánh giá để đưa ra quyết định phù hợp.
    23. 34. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 3. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.2. Quản lý hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán của các chủ thể tham gia thiết lập. – Người đầu tư + Là những người bỏ tiền ra mua cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ do các quỹ đầu tư chứng khoán phát hành.Đầu tư thường là cá nhân. + Nhà đầu tư không trực tiếp điều hành quá trình phân bổ vốn đầu tư hàng ngày của quỹ nhưng có trách nhiệm thiết lập chiến lược đầu tư,xác lập mục tiêu đầu tư.
    24. 35. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 3. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.2. Quản lý hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán của các chủ thể tham gia thiết lập. -Ngân hàng giám sát + Là một chủ thể thực hiện vai trò của người bảo quản,cất giữ tài sản của quỹ đồng thời có thể thực hiện vai trò của người thay mặt những người đầu tư kiểm tra,giám sát mọi mặt hoạt động của quỹ. + Trong mô hình quỹ đầu tư dạng hợp đồng,Ngân hàng giám sát còn thực hiện vai trò của một đối tác độc lập trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và công ty quản lý quỹ. + Trong mô hình,Ngân hàng không trực tiếp tham gia các hoạt động đầu tư mà chỉ thuần túy đóng vai trò là người bảo quản,cất giữ các tài sản quý. +Trong mô hình đầu tư dạng tín thác ,ngân hàng giám sát vừa đóng vai trò là người bảo quản,thanh toán bù trừ và lưu trữ tài sản vừa thực hiện chức năng giám sát hoạt động của công ty quản lý quỹ.
    25. 36. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 3. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.2. Quản lý hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán của các chủ thể tham gia thiết lập. -Tổ chức định giá,tổ chức kiểm toán + Là những tổ chức thực hiện cung ứng các dịch vụ cho hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán theo yêu cầu của công ty hoặc Hội đồng quản trị của công ty đầu tư.
    26. 37. chúng tôi II. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 3. Quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 3.2. Quản lý hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán của các chủ thể tham gia thiết lập. -Công ty quản lý quỹ + Là một trong những chủ thể giữ vai trò chủ đạo trong các bước đi nhằm hinh thành quỹ đầu tư chứng khoán,tổ chức và quản lý điều hành hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
    27. 38. chúng tôi III.Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 1. Khái niệm công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động dựa trên cơ chế ủy thác tài sản,gắn liền với sự xuất hiện,phát triển của quỹ đầu tư trên thị trường.Một công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có thể đồng thời quản lý nhiều quỹ đầu tư khác nhau nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tránh xung đột các lợi ích.
    28. 39. chúng tôi III.Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 2. Các loại hình công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Căn cứ vào tính pháp lý * Công ty quản lý quỹ dưới dạng công ty cổ phần * Công ty quản lý quỹ dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn Căn cứ vào mức độ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài * Công ty quản lý quỹ trong nước * Công ty quản lý quỹ liên doanh * Công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài Căn cứ vào đối tượng quản lý * Công ty quản lý quỹ đầu tư dạng đóng * Công ty quản lý quỹ đầu tư dạng mở
    29. 41. chúng tôi III.Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 3. Vai trò của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. 3.2. Vai trò của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán đối với các nhà đầu tư: – Giúp các nhà đầu tư cá nhân có những phương thức mới để tiếp cận thị trường. – Nhà đầu tư có thể trực tiếp tham gia thị trường,trực tiếp điều hành lượng vốn đầu tư của mình,đồng thời chuyển giao lượng vốn đó cho các công ty quản lý quỹ thay mình điều hành.
    30. 46. chúng tôi III.Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 4.Hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán . 4.2 Doanh thu,chi phí và lợi nhuận của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. : 4.2.2 Lợi nhuận của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán: – Là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. – Công ty quản lý quỹ muốn tối đa hóa lợi nhuậnthường phải kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí,tìm kiếm cơ hội để đạt doanh thu với mức chi phí thấp nhất.
    31. 47. LOGO LOGO chúng tôi chúng tôi Your company slogan in here

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Khái Quát Về Quản Lý Quỹ Ngân Sách Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Ngành Quản Lý Đô Thị Là Gì? Học Gì? Ra Trường Làm Gì?
  • Đề Tài Vai Trò Của Quy Hoạch Xây Dựng Đô Thị Trong Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Địa Bàn Thủ Đô Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Khái Niệm Quản Lý Rủi Ro Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Lý Rủi Ro Khi Giao Dịch: Quy Tắc 2%
  • Khái Niệm Về Quản Lý Rủi Ro Thiên Tai (Qlrrtt) Trong Doanh Nghiệp (Dn)
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Lý Rủi Ro: Quy Luật 2%
  • Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Một Số Lý Luận Cơ Bản Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại
  • Khái niệm quản lý rủi ro doanh nghiệp (RiskManagement – ERM) chính thức xuất hiện vào đầu những năm 1950 trên thế giới. Theo đó, các nhà nghiên cứu thường đồng nhất một cách đơn giản quản lý rủi ro là việc xem xét từng loại rủi ro đối với doanh nghiệp từ đó thực hiện phòng hộ (Hedging) rủi ro thông qua các hợp đồng bảo hiểm hoặc các công cụ phái sinh (Derivatives).

    Nghiên cứu của Robert Mehr và Bob Hedges (1963) đã tạo ra một bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu về ERM bằng việc tổng kết các quan niệm trước đây về quản lý rủi ro và đưa ra một định nghĩa mới về vấn đề này. Theo đó, quản lý rủi ro là một quy trình xem xét đánh giá toàn diện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết những nguy cơ tiềm ẩn có thể tác động xấu đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp ứng phó, phòng ngừa phù hợp với từng nguy cơ .

    Quan điểm của Standard & Poor (2008) cho rằng một quy trình quản lý rủi ro doanh nghiệp hợp lý phải nhận diện được tất cả các nguy cơ rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đánh giá và đưa ra được biện pháp phù hợp. Tuy nhiên, quy trình này không nhằm mục tiêu loại bỏ hết các rủi ro của doanh nghiệp hoặc thay thế cho bộ phận kiểm soát nội bộ, thực chất quản lý rủi ro được xây dựng nhằm đảm bảo khẩu vị rủi ro của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu lợi nhuận đã đề ra .

    Các quan điểm về quản lý rủi ro nêu trên đều cho thấy đây là một quy trình trong đó doanh nghiệp tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đồng thời biến rủi ro thành những cơ hội để thành công. Quản lý rủi ro cũng được xem như một bộ phận không thể tách rời với chiến lược hoạt động, chính sách tài chính của doanh nghiệp hay nói cách khác chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng sự gắn kết với quản lý rủi ro.

    Khái niệm quản lý rủi ro Công ty cổ phần chứng khoán

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Lập Công Ty Quản Lý Quỹ
  • Smart Investment: Khái Niệm Cơ Bản Về Quỹ Etf
  • Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế (International Business Administration) Là Gì?
  • Quản Trị Toàn Cầu (Global Governance)
  • Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Và Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Đề Tài Quản Lý Công: Khái Niệm, Nội Dung Về Quản Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Kỳ Diệu Từ Chất Xơ
  • Chất Thơ Trong Văn Xuôi
  • Sự Kết Hợp Giữa Chất Văn Xuôi Và Chất Thơ Trên Bình Diện Ngôn Ngữ Và Giọng Điệu Trong Văn Xuôi Tự Sự Lưu Trọng Lư Trước 1945
  • Dung Dịch – Dung Môi – Chất Tan – Dung Dịch Bão Hòa Và Chưa Bão Hòa
  • Quản Trị Nhà Hàng Và Dịch Vụ Ăn Uống
  • Nội dung:

    Phân công trách nhiệm 2

    Mở đầu 3

    I. Quản lý và các yếu tố cơ bản của quản lý .4

    1.1. Khái niệm .4

    1.2. Đặc điểm của quản lý .6

    1.3. Các phương pháp quản lý .9

    1.4 Mục tiêu quản lý .14

    II. Nội dung cơ bản của quản lý .16

    2.1. Lập kế hoạch .16

    2.2. Tổ chức .26

    2.3. Lãnh đạo, điều hành 34

    2.4. Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh 38

    III. Ra quyết định trong quản lý 45

    3.1. Khái niệm và các tình huống ra quyết định quản lý .45

    3.2. Quy trình ra quyết định quản lý 48

    3.3. Hiệu lực, hiệu quả của quyết định quản lý .50

    IV. Lãnh đạo và quản lý .51

    4.1. Khái niệm lãnh đạo .51

    4.2. Lãnh đạo là phong cách quản lý hiện đại 54

    4.3. Các phong cách lãnh đạo, quản lý .58

    Tài liệu tham khảo 65

    MỞ ĐẦU

    Theo yêu cầu của môn học Quản lý công, Nhóm 1 – Lớp QLKT4 – K19 được phân công làm tiểu luận với đề tài nội dung của Chương I “Khái niệm, nội dung về quản lý”. Đây là một đề tài có nội dung khá rộng và có tính học thuật cao. Môn học phải nghiên cứu những vấn đề về quản lý: Vai trò, cơ cấu và những đặc điểm cơ bản của quản lý; Quy trình ra Quyết định trong quản lý; Lãnh đạo, các phong cách lãnh đạo và quản lý

    + Kiểm tra công tác tổ chức.

    + Kiểm tra công tác lãnh đạo.

    + Kiểm tra công tác kiểm tra

    2.4.4 Quy trình, phương pháp và yêu cầu kiểm tra

    *Quy trình kiểm tra

    -Quy trình kiểm tra cơ bản

    Quy trình kiểm tra cơ bản gồm các nội dung sau:

    Đo lường

    Thiết lập

    các tiêu chuẩn

    Các giải pháp điều chỉnh

    * Thiết lập các tiêu chuẩn

    Thiết lập tiêu chuẩn là công việc đầu tiên của quá trình kiểm tra. Nó đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đối với chất lượng của hoạt động kiểm tra.

    Tiêu chuẩn là yêu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ theo một quy trình khoa học để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao. Tiêu chuẩn được phân ra thành nhiều loại hình khác nhau:

    – Tiêu chuẩn định tính

    – Tiêu chuẩn định lượng

    Tiêu chuẩn cũng có thể được chia thành:

    – Tiêu chuẩn trong quy trình thực hiện công việc

    – Tiêu chuẩn về các dịch vụ và sản phẩm

    Một số yêu cầu khi xây dựng các tiêu chuẩn:

    – Về nội dung của tiêu chuẩn:

    + Tiêu chuẩn phải phù hợp với mục tiêu và năng lực của tổ chức

    + Cụ thể, rõ ràng, gắn liền với công việc và đối tượng

    + Chính xác, dễ sử dụng

    – Về cách thức xây dựng tiêu chuẩn:

    + Lựa chọn những người có năng lực

    + Đầu tư về thời gian và tài chính

    * Đo lường

    Việc đo lường phải xuất phát từ những tiêu chuẩn đã được xác lập. Đo lường bao gồm việc thực hiện công việc và kết quả của công việc. Đây là hoạt động đối chiếu, so sánh giữa hoạt động và kết quả hoạt động với tiêu chuẩn đề ra, từ đó có thể phát hiện những sai lầm và sai lệch. Việc đo lường không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng và chính xác, nhất là đối với những công việc và đối tượng phức tạp, tiêu chuẩn không rõ ràng hay mang tính định tính. Trong trường hợp như vậy, đôi khi nhà quản lý có thể dùng khả năng phân tích của mình để phán đoán và chỉ ra các sai lệch.

    – Một số phương pháp đo lường:

    + Đánh giá bằng điểm và đồ thị

    + Xếp hạng luân phiên

    + So sánh cặp đôi

    + Đo lường điểm mấu chốt

    + Sử dụng các công cụ ISO, hộp đen

    – Một số yêu cầu trong quá trình đo lường việc thực hiện kết quả:

    + Không được mang tiêu chuẩn của một công việc này sang để áp đặt, đánh giá một công việc khác.

    + Loại bỏ những thành kiến và định kiến cá nhân trong quá trình đo lường, đánh giá.

    + Tiến hành đo lường, đánh giá thường xuyên, đúng yêu cầu, đúng mục đích và quy trình

    + Kết quả đo lường phải phù hợp với công việc, chức năng, nhiệm vụ của người thực hiện công việc

    + Đo lường phải chỉ ra được sai lệch một cách chính xác và nguyên nhân của những sai lệch đó.

    * Các giải pháp điều chỉnh

    – Đối với ưu điểm

    Khi phát hiện những ưu điểm của hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức, các nhà quản lý phải đưa ra các giải pháp nhằm phát huy, kế thừa và nhân rộng nó. Bên cạnh đó phải kịp thời khích lệ, động viên bằng các hình thức khen thưởng đối với các cá nhân, bộ phận thực hiện công việc đó.

    – Đối với nhược điểm

    Khi phát hiện ra sai lầm và sai lệch, người quản lý cần phải tập trung phân tích vấn đề để tìm ra nguyên nhân sai lầm và sai lệch, từ đó có kế hoạch đưa ra những giải pháp điều chỉnh hữu hiệu.

    Nếu như công việc xác lập tiêu chuẩn, đo lường kết quả là những công việc khó khăn thì việc đưa ra các giải pháp điều chỉnh lại càng khó khăn hơn.

    – Quy trình kiểm tra chi tiết

    Quy trình kiểm tra chi tiết gồm tám bước cơ bản và được mô tả theo sơ đồ sau:

    Xác định

    Ưu &

    Nhược điểm

    So sánh

    với

    tiêu chuẩn

    Đo lường

    Hoạt động và

    Kết quả

    hoạt động

    Hoạt động và

    Kết quả

    hoạt động

    Phân tích

    Nguyên nhân

    Ưu &

    Nhược điểm

    Xây dựng

    các

    giải pháp

    Thực hiện

    các

    giải pháp

    Kết quả

    Mong muốn

    Quá trình kiểm tra chi tiết là sự cụ thể hoá của quy trình kiểm tra cơ bản và nó là một hệ thống mang tính phản hồi. Tính phản hồi của hệ thống kiểm tra chi tiết được biểu hiện ở chỗ: hệ thống này phân tích quá trình kiểm tra một cách toàn diện và chi tiết hơn so với tiến trình kiểm tra cơ bản (thiết lập tiêu chuẩn, đo lường và các giải pháp điều chỉnh). Các nhà quản lý tiến hành đo lường hoạt động và kết quả hoạt động đã thực hiện trong thực tế, so sánh kết quả đo lường này với các tiêu chuẩn đã được xác lập, rồi xác định và phân tích các nguyên nhân của các vấn đề. Sau đó, để thực hiện những giải pháp phù hợp cần thiết, các nhà quản lý phải đưa ra một chương trình cho các giải pháp và thực hiện chương trình đó để đạt tới kết quả mong muốn. Quy trình này lại tiếp tục một chu kỳ mới theo những nội dung trên nhưng ở một cấp độ và trình độ cao hơn.

    2.4.5 Phương pháp kiểm tra

    Phương pháp kiểm tra là toàn bộ cách thức đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở lựa chọn những công cụ, phương tiện và cách thức phù hợp nhằm đạt tới kết quả kiểm tra chính xác và khách quan.

    Phương pháp kiểm tra bao gồm các nhân tố:

    + Phân công chủ thể kiểm tra phù hợp với chức vị

    + Lựa chọn công cụ và phương tiện kiểm tra phù hợp

    + Lựa chọn cách đo lường phù hợp

    Sự phù hợp của công cụ, phương tiện và cách thức đo lường gắn liền với chủ thể, đối tượng, hoàn cảnh kiểm tra.

    Chủ thể kiểm tra có thể là một người, một nhóm người với các tầng nấc khác nhau. Tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung, tính chất của công việc, đối tượng và hoàn cảnh mà chủ thể kiểm tra lựa chọn những công cụ và cách thức kiểm tra phù hợp.

    Một số công cụ kiểm tra

    – Bảng tiêu chuẩn công việc

    – Nội quy, quy chế, pháp luật

    – Các công cụ kĩ thuật: Biểu đồ Gantt, PERT (Program Evaluation and Review Technique) v.v.

    Một số cách kiểm tra

    – Kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp

    – Kiểm tra khâu trọng điểm

    – Kiểm tra chéo giữa các bộ phận

    – Kiểm tra ngẫu nhiên và kiểm tra mặc nhiên

    – Kiểm tra toàn bộ với kiểm tra bộ phận

    2.4.6 Yêu cầu của kiểm tra

    – Công việc kiểm tra cần phải được thiết kế theo các kế hoạch và chức vị.

    – Công việc kiểm tra cần phải được thiết kế phù hợp với đặc điểm cá tính của nhà quản lý.

    – Việc kiểm tra phải được thực hiện tại những điểm trọng yếu trong toàn bộ hệ thống.

    – Kiểm tra phải khách quan.

    – Kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí và văn hoá tổ chức.

    – Kiểm tra phải tiết kiệm và hiệu quả

    – Kiểm tra phải tạo động lực để hoàn thiện và phát triển tổ chức.

    Các nội dung cơ bản của quản lý: Lập kế hoạch-Tổ chức-Lãnh đạo, điều hành – Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Cần xác định chính xác công việc của một người quản lý phải làm để đạt được các mục tiêu của tổ chức, cùng với và thông qua các cá nhân. 

    Thực tế công tác quản lý ở Việt Nam thời gian qua có rất nhiều bất cập, đặc biệt là quản lý nhà nước về kinh tế. Trong vòng 2-3 năm qua, có hàng trăm doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam do làm ăn yếu kém, hoặc không thuận lợi bị phá sản, giải thể hoặc do có dấu hiệu lừa đảo, chiếm dụng vốn từ đầu, tự giải thể, bỏ trốn. Những doanh nghiệp này đã không trả đủ, thậm chí không trả vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Tình trạng này cho thấy cần chấn chỉnh việc cấp phép, quản lý sau cấp phép các dự án FDI trong đó có yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư về tiến độ góp vốn, huy động vốn, cũng như hoạt động xây dựng, môi trường, chuyển giao công nghệ, thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động.

    III. RA QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN LÝ

    3.1.Khái niệm và các tình huống ra quyết định quản lý

    3.1.1. Khái niệm quyết định quản lý

    Quyết định quản lý là việc ấn định hay tuyên bố lựa chọn của chủ thể quản lý về một hoặc một số phương án để thực hiện những công việc cụ thể trong điều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức.

    * Đặc điểm của quyết định quản lý

    * Quyết định quản lý là hạt nhân của hệ thống quản lý

    * Quyết định quản lý vừa có tính tối ưu vừa có tính hạn định

    Tính tối ưu của quyết định quản lý thể hiện ở chỗ khi nhà quản lý đã ấn định và lựa chọn một phương án nào đó thì họ đã phải cân nhắc rất kỹ lưỡng để phân công đúng người đúng việc và cung cấp những điều kiện vật chất, tài chính phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

    Tuy nhiên, khi hoàn cảnh thay đổi (mà điều này diễn ra thường xuyên) thì phương án đã lựa chọn có thể không còn phù hợp. Mặt khác, khi thực hiện tốt phương án đã lựa chọn có thể xảy ra tình trạng ảnh hưởng không tốt tới phương án khác hoặc công việc khác của tổ chức.

    * Quyết định quản lý vừa mang tính chắc chắn vừa mang tính rủi ro

    Quyết định quản lý là một hàm biến số, bao gồm: con người thực hiện, công việc, công cụ, phương tiện và hoàn cảnh.

    Tính chắc chắn của quyết định quản lý chỉ có thể có được khi nhà quản lý nhận thức được bản chất của các biến số và kết hợp chúng một cách phù hợp.

    Tính rủi ro của quyết định quản lý có thể xảy ra nếu như nhà quản lý không thấy được một hoặc một số biến số đã thay đổi hoặc lệch pha nhau mà vẫn kết hợp chúng lại một cách chủ quan.

    Như vậy, quyết định quản lý với tư cách là những phương án lựa chọn tối ưu của chủ thể trong một điều kiện hoàn cảnh nhất định là biểu hiện rõ nét nhất của cái gọi là quản lý “theo tình huống”. Dưới góc nhìn khoa học và nhãn quan thực tiễn, chúng ta không nên phủ nhận hoàn toàn trường phái quản lý “theo tình huống” bởi vì nó vốn tồn tại thực sự trong thực tế. Chỉ có điều thực tiễn quản lý là hết sức đa dạng và phong phú mà quản lý theo tình huống là một trong những biểu hiện của sự đa dạng đó.

    * Quyết định quản lý phản ánh quan hệ lợi ích nhất định

    Các nhà quản lý có vai trò quyết định đối với việc giải quyết các xung đột về lợi ích trong tổ chức thông qua việc xây dựng và thực thi các quyết định quản lý đúng đắn và phù hợp. Muốn vậy, họ phải tuân theo “quy luật hoàn cảnh” trong việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý. Chỉ có những quyết định quản lý mang lại lợi ích chung, lợi ích tập thể thì mới đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả cho tổ chức.

    * Quyết định quản lý vừa mang dấu ấn của chủ thể, vừa phản ánh văn hoá tổ chức

    Thông qua việc ra quyết định và thực thi quyết định, có thể nhận biết được chủ thể quản lý đang lựa chọn phương pháp và phong cách quản lý nào. Nói cách khác, quyết định quản lý là sản phẩm của cách thức sử dụng quyền lực của chủ thể. Quyết định quản lý có thể được tạo ra bởi một người, một nhóm người hay một tổ chức. Việc lựa chọn cách thức nào cho việc ra quyết định là biểu hiện của văn hoá tổ chức.

    3.1.2. Các tình huống ra quyết định quản lý

    Tuỳ vào các căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thành nhiều loại quyết định quản lý:

    – Căn cứ vào phạm vi của quyết định:

    – Theo mức độ ổn định hay không ổn định của quyết định

    + Quyết định chương trình hoá: Là dạng quyết định về một vấn đề thường xuyên nảy sinh, quy trình thực hiện rõ ràng, có tính ổn định và lặp lại. Đây là những quyết định dễ ban hành và thường tốn ít thời gian.

    + Quyết định phi chương trình hoá: Đây là loại quyết định về những vấn đề chưa có tiền lệ, hay là một vấn đề phức tạp và quan trọng. Nội dung của loại quyết định này thường là mới và không có cấu trúc.

    – Theo chủ thể ra quyết định:

    + Quyết định cá nhân: Là quyết định do một cá nhân ban hành

    + Quyết định tập thể: Là quyết định do tập thể ban hành

    + Quyết định hỗn hợp: Là hình thức quyết định kết hợp cả hai phương thức ra quyết định tập thể và cá nhân

    Hoặc là:

    + Quyết định của người quản lý cấp cao

    + Quyết định của người quản lý cấp trung

    + Quyết định của người quản lý cấp thấp

    – Theo nội dung quyết định:

    + Quyết định về nhân sự

    + Quyết định về tài chính

    + Quyết định về cơ sở vật chất

    + Quyết định về lĩnh vực chuyên môn

    – Theo hình thức ban hành quyết định:

    + Quyết định bằng văn bản: Là quyết định được ban hành dưới dạng văn bản

    + Quyết định bằng lời nói: Là quyết định được ban hành dưới dạng lời nói

    – Theo cách thức tác động tới đối tượng thực hiện

    + Quyết định cưỡng chế

    + Quyết định hướng dẫn

    + Quyết định tuỳ nghi

    3.2. Quy trình ra quyết định quản lý

    * Quy trình xây dựng quyết định quản lý

    Bước 1: Xác định vấn đề

    Việc xác định vấn đề là công việc khó khăn. Nếu xác định vấn đề sai, thì mọi quyết định được ban hành đều sai.

    Để xác định được vấn đề ra quyết định, nhà quản lý dựa vào những chỉ báo sau đây:

    + Sự sai lệch giữa hiện tại với những gì đã xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn, sự khác biệt giữa thành tích hiện tại với những thành tích trong quá khứ hay một sự thay đổi đột ngột về chính sách.v.v. Khi đó, tình huống có vấn đề sẽ xuất hiện và là dấu hiệu cần quan tâm cho việc ra quyết định.

    + Sự sai lệch so với kế hoạch ban đầu. Khi các kết quả không đáp ứng mục tiêu dự kiến hoặc kế hoạch. Những sự cố này báo hiệu rằng kế hoạch đang bị chệch hướng.

    + Vấn đề phát sinh từ bên ngoài: Ví dụ, sự đòi hỏi của thị trường, khách hàng hay sự thay đổi của hệ thống pháp luật.v.v

    Việc xác định vấn đề là một công việc khó khăn. Những nguyên nhân cản trở quá trình xác định vấn đề có thể là do nhận thức, thiếu thông tin và từ chính sự phức tạp của vấn đề cần xác định.

    Các loại vấn đề thường gặp là: Cơ hội, khủng hoảng và những vấn đề thường lệ của tổ chức. Các nhà quản lý phải tự phát hiện ra các cơ hội còn những khủng hoảng và những vấn đề thường lệ của tổ chức thì tự nó bộc lộ ra. Các tổ chức thường bỏ qua những vấn đề khủng hoảng và thường lệ để tập trung vào những cơ hội và vấn đề lâu dài thông qua những hoạt động lập kế hoạch.

    Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin

    Bước 3: Dự kiến phương án thực hiện

    Khi vấn đề đã được xác định thì cần phải xem xét những phương án khả thi cho vấn đề đó. Quá trình xây dựng các phương án chính là quá trình khảo sát và tìm kiếm thông tin bên trong và bên ngoài của tổ chức.

    Việc xây dựng các phương án phải được thực hiện trong những giới hạn về các nguồn lực, thời gian và hiệu quả.

    Về mặt lý thuyết, càng có nhiều phương án được đưa ra thì càng có nhiều cơ hội lựa chọn. Tuy nhiên, trong thực tế thì không cần xây dựng quá nhiều phương án mà cần phải nỗ lực xây dựng được các phương án tối ưu nhất. Việc xây dựng những phương án cần phải chi tiết.

    Bước 4: Đánh giá các phương án

    Khi xây dựng xong các phương án thì cần phải đánh giá và so sánh chúng. Việc lựa chọn một quyết định chính là chọn lựa một phương án hành động được coi là tối ưu nhất.

    Khi lựa chọn một phương án, nhà quản lý phải hướng đến những mục đích và mục tiêu đã định trước. Mối quan hệ giữa phương án – kết quả dựa trên cơ sở ba khả năng có thể xảy ra như sau:

    Khả năng phương án chắc chắn: Người ra quyết định hoàn toàn biết rõ những kết quả của từng phương án.

    Khả năng phương án rủi ro: Người ra quyết định ước tính xác suất của những kết quả của từng phương án.

    Khả năng phương án thất thường: Người ra quyết định hoàn toàn không biết xác suất của kết quả của từng phương án.

    Việc đánh giá các phương án có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như:

    + Phân tích định lượng và định tính

    + Phân tích SWOT về các phương án

    + Phân tích lề (biên duyên)

    + Phân tích chi phí – lợi ích

    Bước 5: Ra quyết định

    Mục đích của việc lựa chọn phương án là nhằm đạt được mục tiêu định trước bằng. Các phương án được lựa chọn thường là phương án tối ưu nhất. Tuy nhiên, vẫn có những rủi ro xảy ra. Bởi lẽ, việc lựa chọn phương án là ở hiện tại, còn việc thực hiện nó là ở tương lai. Giữa hiện tại và tương lai không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau. Vì vậy, việc lựa chọn phương án không phải lúc nào cũng có được những giải pháp tối ưu.

    Chính vì những lý do trên, cho nên người lựa chọn phương án (ra quyết định) chỉ là người làm thoả mãn yêu cầu chứ không phải là người tối ưu hoá, khi lựa chọn phương án đáp ứng được một tiêu chuẩn có thể chấp nhận được (đạt yêu cầu).

    Việc lựa chọn phương án ra quyết định trong tình huống rủi ro thường là phổ biến hơn cả.

    * Các cơ sở ra quyết định quản lý

    + Kinh nghiệm

    + Trực giác

    + Thực nghiệm

    + Nghiên cứu và phân tích (vận trù học, cây quyết định, lý thuyết trò chơi)

    + Phương pháp chuyên gia

    3.3. Hiệu lực, hiệu quả của quyết định quản lý

    Để ra được một quyết định chính xác, hợp lý và mang lại hiệu quả cao cần phải thực hiện một số yêu cầu cơ bản như sau:

    – Khắc phục tình trạng thiếu thông tin trong xây dựng quyết định.

    Thông tin là yếu tố đầu vào của quá trình ra quyết định. Việc thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các lựa chọn quyết định. Những thông tin cơ bản về vấn đề ra quyết định cần phải được thu thập và xử lý từ trước. Quá trình ra quyết định chỉ là bước lựa chọn thông tin chính xác nhất mà thôi.

    – Thống nhất giữa các chủ thể (quan điểm, lợi ích.v.v.)

    Tình trạng giữa các cấp quản lý không thống nhất về hệ quan điểm và các giá trị kỳ vọng vào việc thực hiện quyết định cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng quyết định quản lý được ban hành. Vì vậy, trong quá trình ra quyết định, việc tuân thủ nguyên tắc quản lý “Thống nhất về mặt lãnh đạo và chỉ huy” là một đòi hỏi quyết định nhằm nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của quyết định quản lý.

    – Chấp nhận tính tương đối của quyết định quản lý.

    Khi ra quyết định quản lý thì đừng cố gắng tìm câu trả lời đúng. Tùy theo tầm nhìn, sự hiểu biết và hệ giá trị của mỗi người mà vấn đề có thể có nhiều câu trả lời đúng. Vì thế, đừng cố tìm một câu trả lời duy nhất đúng mà chỉ nên tìm câu trả lời hợp lý nhất.

    – Tính kịp thời

    Thông thường, việc ra quyết định quản lý được quy trình hoá dưới các bước đi cụ thể. Nhưng giữa tính quy trình ( tính logic) với sự sáng tạo và nhạy cảm không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau. Vì thế, đừng bao giờ thực hiện các nguyên tắc và quy trình cho trước một cách máy móc.

    – Dám chịu trách nhiệm

    Việc không dám chịu trách nhiệm sẽ dẫn đến tình trạng lựa chọn quyết định hợp lý với bản thân chứ không hợp lý so với hoàn cảnh. Sự lo sợ thất bại có thể làm tê liệt quyết tâm thực hiện những ý tưởng hay.

    IV. LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ

    4.1. Khái niệm

    4.1.1. Khái niệm lãnh đạo

    Có nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo.

    Theo James Gibson: lãnh đạo là một phần công việc của quản lý nhưng không phải toàn bộ công việc quản lý. Lãnh đạo là năng lực thuyết phục người khác hăng hái phấn đấu cho những mục tiêu đã xác định.

    George Tery: Lãnh đạo là hoạt động gây ảnh hưởng đến con người để họ phấn đấu tự nguyện cho các mục tiêu của tổ chức.

    R. Tannenbaum, R. Weschler và F. Massarik: Lãnh đạo là ảnh hưởng liên nhân cách được thực hiện trong tình huống và được định hướng thông qua quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích chung hoặc những mục đích chuyên biệt.

    H. Koontz và các tác giả: Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự giác và hăng hái thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

    P. Hersey và Ken Blanc Hard: Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong tình huống nhất định.

    Có nhiều quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý. Nhưng có thể khái quát thành hai khuynh hướng điển hình:

    Một là: Lãnh đạo và quản lý là đồng nhất với nhau.

    Hai là: Lãnh đạo và quản lý là hoàn toàn khác biệt.

    Thực chất, lãnh đạo và quản lý vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt. Để thấy được lãnh đạo và quản lý vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt, cần phải căn cứ vào các phương diện sau:

    Thứ nhất, xét về chủ thể hoạt động.

    Sự đồng nhất giữa lãnh đạo và quản lý là ở chỗ một nhà lãnh đạo cũng có thể được gọi là một nhà quản lý, và ngược lại, một nhà quản lý có thể được coi là một nhà lãnh đạo.

    Sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý được biểu hiện: chỉ những nhà quản lý cấp cao mới là những nhà lãnh đạo đúng nghĩa; còn các nhà quản lý cấp trung và cấp thấp thường không được gọi là nhà lãnh đạo.

    Thứ hai, xét về phương diện mục tiêu (Nội dung) hoạt động.

    Sự đồng nhất giữa lãnh đạo và quản lý đó là các hoạt động này dù được thực thi theo cách nào thì cũng nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức.

    Sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý thuộc về tính chất của mục tiêu mà chúng hướng tới. Mục tiêu của lãnh đạo mang tính định hướng, chiến lược, định tính; Mục tiêu của quản lý mang tính chất cụ thể, chiến thuật, định lượng.

    Thứ ba, về phương thức hoạt động.

    Sự đồng nhất giữa lãnh đạo và quản lý: hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý đều phải được thực hiện trên cơ sở khoa học và nghệ thuật để phối hợp các nguồn lực nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất.

    Sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý thể hiện ở chỗ: hoạt động lãnh đạo là hoạt động nhằm hướng dẫn, động viên, khích lệ nhân viên và duy trì kỷ luật, kỷ cương của họ, do vậy, yếu tố nghệ thuật phải được đặt lên hàng đầu và cùng với nó là phải sử dụng yếu tố khoa học; hoạt động quản lý là hoạt động nhằm duy trì kỷ luật, kỷ cương và động viên, khích lệ nhân viên, do vậy, yếu tố khoa học được đặt lên trước và cùng với nó là yếu tố nghệ thuật

    Từ những quan niệm về lãnh đạo và về mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý, xuất phát từ thực tiễn lãnh đạo và quản lý, có thể đưa ra một định nghĩa về lãnh đạo (theo nghĩa rộng) như sau:

    Lãnh đạo là tác động bằng nghệ thuật và khoa học để gây ảnh hưởng tích cực tới con người để phát huy và phối hợp tiềm năng và năng lực của họ nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức.

    4.1.2. Định nghĩa nhà lãnh đạo

    Dù nhìn nhận theo cách nào, thì một nhà lãnh đạo phải đảm bảo được 3 yếu tố: khả năng tạo tầm nhìn, khả năng truyền cảm hứng và khả năng gây ảnh hưởng. Hiểu một cách đơn giản, nhà lãnh đạo là người có khả năng tạo ra tầm nhìn cho một tổ chức hay một nhóm và biết sử dụng quyền lực của mình để gây ảnh hưởng cho những người đi theo thực hiện tầm nhìn đó.

    – Tùy theo từng khía cạnh nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có các định nghĩa khác nhau về nhà lãnh đạo.

    Theo Stogdill (1974), nhà lãnh đạo phải luôn được định nghĩa cùng với sự ràng buộc của tính cách , cách ứng xử, ảnh hưởng đối với người khác, các chuỗi hoạt động tương tác, quan hệ, vị trí quản lý, và nhìn nhận của người khác về tính hợp pháp của quyền lực và sự tạo dựng ảnh hưởng.

    House (2004) định nghĩa rằng nhà lãnh đạo là cá nhân có khả năng gây ảnh hưởng, kích thích và khuyến khích người khác đóng góp vào các hoạt động có hiệu quả và thành công của tổ chức họ trực thuộc.

    Theo Maxwell thì định nghĩa nhà lãnh đạo là người có khả năng gây ảnh hưởng.

    – Trong bất cứ tình huống nào, một nhóm từ hai người trở lên luôn luôn có một người có ảnh hưởng nổi bật, người đó là lãnh đạo. Vì vậy mỗi chúng ta đều gây ảnh hưởng và bị ảnh hưởng từ người khác. Điều này có nghĩa là: tất cả chúng ta lãnh đạo người khác trong một vài lĩnh vực; ngược lại ở một số lĩnh vực khác chúng ta được người khác dẫn dắt. Không ai nằm ngoài quy luật này: hoặc là nhà lãnh đạo hoặc là người bị lãnh đạo.

    Nhà lãnh đạo có thể xuất hiện ở mọi vị trí, từ những người có chức vụ quan trọng đến những người có vị trí bình thường như chủ tịch nước, tổng thống, vua, các bộ trưởng, chủ tịch các tập đoàn đa quốc gia, giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng, nhân viên, thuyền trưởng, cha xứ, giáo chủ một giáo phái, hay thậm chí là đội trưởng đội bóng, cha mẹ trong gia đình, trưởng nhóm trong một nhóm bạn học… Có thể thấy lãnh đạo luôn xuất hiện trong các nhóm hoặc tổ chức với tư cách là người đại diện, dẫn đầu, có khả năng đề xướng hướng đi cho mọi người, và quyết định cho các hoạt động nội bộ.

    – Chúng ta nên chú ý tới hai cụm từ: “lãnh đạo” và “Nhà lãnh đạo”. Lãnh đạo là động từ, chỉ hoạt động, còn nhà lãnh đạo là danh từ chỉ chủ thể thực hiện hành động. Nhưng lãnh đạo và nhà lãnh đạo không phải bao giờ cũng gắn với nhau. Đôi khi người được mệnh danh là nhà lãnh đạo thì không thực hiện được công việc lãnh đạo. Vì vậy, trong thực tế, thường có hai kiểu nhà lãnh đạo: nhà lãnh đạo chức vị và nhà lãnh đạo thật sự.

    Nhà lãnh đạo chức vị có quyền hành do vị trí, nghi thức, truyền thống và các cơ cấu tổ chức đem lại. Nhà lãnh đạo này sử dụng chức vụ để gây ảnh hưởng lên người khác khi mất chức rồi thì không còn gây ảnh hưởng lên người khác được nữa. Mọi người sẽ không phục tùng nhà lãnh đạo này nếu sự việc nằm ngoài thẩm quyền của ông ta.

    Nhà lãnh đạo thât sự là nhà lãnh đạo dùng tài năng, phẩm chất của mình để gây ảnh hưởng tới mọi người, lôi cuối mọi người đi theo con đường của họ. Đây mới là những nhà lãnh đạo có giá trị bền vững, sức mạnh của họ đến tự nhiên xuất phát từ con người họ chứ không phải từ cái gì bên ngoài họ.

    4.2 Lãnh đạo là phong cách quản lý hiện đại

    Trong quyển sách “Nền tảng lãnh đạo”, Daniel Goleman miêu tả 6 phong cách lãnh đạo khác nhau. Những nhà lãnh đạo tài tình nhất có thể áp dụng các phong cách khác nhau, tùy từng tình huống cụ thể.

    Có tầm nhìn

    Đặc biệt khi công ty cần hướng đi mới thì rất cần một lãnh đạo có tầm nhìn. Người này sẽ dẫn dắt tập thể đến giấc mơ và con đường tươi sáng. Có thể họ chưa biết cách đạt đến những mục tiêu cao vợi, nhưng nhìn thấy tương lai và mở ra không gian tự do cho nhân viên sáng tạo, tiến hành thí nghiệm, chấp nhận liều lĩnh.

    Chú trọng huấn luyện

    Người lãnh đạo tuýp này thường tập trung vào việc phát triển từng thành viên nhóm, khuyến khích cấp dưới nâng cao năng lực, và giúp kết nối mục tiêu của cá nhân vào mục tiêu chung của doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo kiểu huấn luyện viên “hợp rơ” với tập thể có óc sáng tạo, tài năng và khao khát phát triển tối đa. Tuy nhiên, nếu huấn luyện quá đà thì đồng nghĩa với việc can thiệp sâu vào đường đi nước bước của một cá thể mà dần cướp mất sự tự tin và độc lập của người đó.

    Nâng cao dân chủ

    Tập trung vào việc phát triển kiến thức và kỹ năng của nhân viên, tạo ra nhóm cam kết thực hiện mục tiêu chung. Doanh nghiệp chưa có hướng đi rõ ràng cần người lãnh đạo tuýp này để thâu thập trí khôn của tập thể. Tuy nhiên, người lãnh đạo dân chủ sẽ dễ lúng túng nếu gặp lúc khủng hoảng, cần gấp quyết định dứt khoát của người dẫn đầu.

    Người dẫn dắt

    Luôn đặt những mục tiêu cao vợi. Bản thân họ bị ám ảnh làm thế nào để tốt hơn, nhanh hơn, và đòi hỏi nhân viên cũng phải nỗ lực không kém. Người lãnh đạo tuýp này thường gây áp lực quá sức chịu đựng cho nhân viên, phá hỏng và nhiệt tình cống hiến đầy niềm vui của tập thể.

    Tướng chỉ huy

    Đây là phong cách lãnh đạo thường được áp dụng nhất, nhưng tỏ ra ít hiệu quả nhất. Người lãnh đạo tuýp này chỉ trích, phê bình nhiều hơn ngợi khen, động viên, nên khiến cấp dưới chán nản, sầu não, giảm hiệu suất lao động. Lãnh đạo kiểu này chỉ thích hợp trong giai đoạn khủng hoảng, khi cần những thay đổi bước ngoặc.

    Những ví dụ về phong cách quản lý hiện đại:

    1. Suy nghĩ nhanh – thực hiện sớm. Từ trước khi thành lập công ty phân tích trực tuyến Omniture, anh Josh James luôn tự nhận mình mắc sai lầm nhiều hơn bất kỳ ai vì thói quen cứ nghĩ là làm, nhanh chóng, tức thì. Anh luôn mang theo mình quyển sổ ý tưởng để lập tức ghi chép những sáng kiến nảy ra hằng ngày, hằng giờ. Tích góp những phát kiến nhỏ, dần dần, anh tự tìm ra cách lập kế hoạch kinh doanh, tiếp thị, phân phối của riêng mình, để xây dựng và phát triển doanh nghiệp thành công nhất.

    2. Dũng cảm nói “không”. Chị Kelly Cutrone từng là nhà sáng lập công ty PR People’s Revolution. Chị cho biết: để làm việc với nhân viên và thương thảo với khách hàng một cách chuyên nghiệp thì cần học cách sử dụng sức mạnh của từ “không” một cách có hiệu quả. Khi cần, phải từ chối để vạch rõ giới hạn cần thiết trong công nghiệp dịch vụ. Không ôm đồm để tránh tạo sức ép dư thừa.

    3. Giao tiếp có giới hạn. Joel Spolsky, nhà sáng lập kiêm CEO của Fog Creek Software nhận thấy rằng khi doanh nghiệp phát triển, các phòng ban được chuyên môn hóa, công việc của nhân viên dần đi vào chiều sâu. Tuy nhiên, giao tiếp lại càng mở rộng. Thường xuyên phải hội họp, gặp gỡ, tiếp chuyện điện thoại, gửi e-mail… Tốn nhiều thời gian mà chưa hẳn có hiệu quả tích cực. Vậy nên, cần cân nhắc giới hạn của những hoạt động giao tiếp đối ngoại.

    4. Phát triển hoạt động từ thiện. Khi công ty phát triển, kinh doanh phát đạt, để nhân viên đừng ngủ quên trong chiến thắng, chị Amy Simmons, chủ doanh nghiệp Amy’s Ice Cream, đã tổ chức ngày tình nguyện tại bệnh viện và khuyến khích các nhân viên hành động cho cộng đồng. Vừa tạo sinh khí mới cho mọi người hằng say lao động, vừa để tiếng thơm cho công ty.

    5. Biến văn phòng thành xưởng sản xuất ý tưởng. Rob Dyrdek là vận động viên trượt ván chuyên nghiệp, nên khi thành lập công ty và trở thành doanh nhân, anh luôn tạo điều kiện để nhân viên có môi trường làm việc tốt nhất mà anh gọi là Fantasy Factory. Không chỉ nhân viên, mà thậm chí khách hàng và các ngôi sao cũng tìm đến công ty của anh để tận hưởng cảm giác thoải mái và không khí vui vẻ để nảy sinh nhiều phát kiến mới.

    6. Mọi nhân viên đều phải chăm sóc khách hàng. Bất cứ e-mail nào gửi đến công ty Kayak đều được trả lời tận tình. Nhà đồng sáng lập Paul English còn trực tiếp trả lời điện thoại khách hàng. Vậy nên, nhân viên hay kỹ thuật viên bất cứ phòng ban nào cũng phải thực hiện công việc như phòng dịch vụ chăm sóc khách hàng. Theo lời anh English thì: “Kỹ thuật viên trực tiếp nghe phàn nàn từ khách hàng thì sẽ có thể hiểu và phản hồi đúng đắn, sát hợp, đem lại thay đổi có hiệu quả cho sản phẩm và dịch vụ của công ty”.

    9. Không chỉ xã giao mà cần đi sâu sát vào từng nhân viên. Theo chị Cutrone, mỗi nhân viên có những kỹ năng khác nhau với những tính cách khác nhau, nên không thể đối xử ngang bằng với tất cả mọi người. Chị không dừng lại ở mức quan hệ xã giao đều nhau với mọi người mà cố tìm dịp để trò chuyện với từng người về cuộc sống, những gì đang diễn ra, về khách hàng, về những mối lo…

    10. Dẹp họp hành và bớt gặp mặt trực tiếp. Mark Cuban, chủ doanh nghiệp Dallas Mavericks và CEL của HDNet thấy rằng họp hành thật mất thời gian. Theo anh, nếu gặp gỡ trực tiếp hay gọi điện thoại cho khách hàng và đối tác thì tiêu tốn từ 5 đến 10 giờ/ngày. Vậy nên, tốt nhất là liên lạc qua e-mail dẫu cho là trao đổi công việc giữa nhân viên với nhau, nhân viên với khách hàng, đối tác…

    11. Quản lý vi mô. Hầu hết doanh nghiệp thế hệ mới nghĩ rằng nhà quản lý giỏi không phải là người ôm đồm mà phải biết giao việc cho đúng người tài. Tuy nhiên, theo Joel Spolsky, thỉnh thoảng, để khắc phục vấn đề hay giải quyết nhiều khó khăn tồn đọng trong thời khủng hoảng thì cần một quản lý tài năng, có thể sâu sát và dẫn dắt hoạt động của nhân viên để nhanh chóng tháo gỡ trở ngại.

    12. Để nhân viên làm việc linh hoạt. Alden Mills của Perfect Fitness thấy rằng chẳng cần thiết phải ép nhân viên vào khuôn khổ giờ làm việc cố định, cứ để họ tự đến và đi bất cứ lúc nào. Giữ nhân viên ở công ty khi họ không tha thiết chẳng bằng để họ về nhà hoặc đi du lịch mà cứ phải nghĩ đến công việc và trách nhiệm với công ty.

    13. Tự thực hiện những cuộc gọi quan trọng. Jordan Zimmerman, nhà sáng lập công ty Zimmerman Adcertising luôn trực tiếp gọi điện đến và trao đổi công việc với những khách hàng quan trọng hằng ngày. Mục đích là duy trì quan hệ thân tình, tạo thành nhóm bạn bè, thường xuyên cập nhật phản hồi từ họ, đáp ứng tốt nhất yêu cầu thay đổi nhanh và ngày càng cao của khách hàng.

    4.3. Các phong cách lãnh đạo, quản lý

    4.3.1. Ba phong cách lãnh đạo lớn.

    4.3.1.1. Phong cách lãnh đạo trực tiếp (Phong cách độc đoán)

    Những nhà  quản lý theo phong cách này thường nói với nhân viên rằng họ phải làm gì, làm như thế nào và khi nào thì phải hoàn thành. Họ phân công vai trò và gắn trách nhiệm cho từng người, thiết lập các tiêu chuẩn và dự kiến kết quả mà họ mong muốn đạt được.

    – Cách thức giao tiếp với nhân viên: Nhà quản lý nói, nhân viên lắng nghe và sau đó phát biểu ý kiến của mình. Thông thường, những nhà quản lý có phong cách này thường đưa ra các chỉ dẫn chi tiết, vì vậy, nhân viên biết chính xác họ phải làm gì. Cách giao tiếp của nhà quản lý là rõ ràng, ngắn gọn và xúc tích, những gì màu mè và kiểu cách không hợp với họ. Khi muốn nhận thông tin phản hồi từ nhân viên, họ thường chỉ đặt một câu hỏi: anh đã hiểu cần phải làm gì chưa?

    – Thiết lập mục tiêu: Nhà quản lý sẽ thường thiết lập các mục tiêu ngắn hạn với nhân viên, ví dụ: “Mục tiêu của anh trong tháng này là phải bán được 15 chiếc xe ô-tô”. Khi mục tiêu đã được xác định rõ ràng và thời gian cũng được ấn định, thì người nhân viên biết rõ nhà quản lý mong chờ ở anh ta điều gì. Các mục tiêu và thời hạn thường là động lực thúc đẩy con người.

    – Cách thức ra quyết định: “Tôi muốn anh dừng ngay những việc đang làm và giúp cô Nga chuẩn bị một phòng họp dành cho hội thảo”. Nhà quản lý thường quyết định phần lớn nếu không muốn nói là tất cả mọi việc từ lớn đến nhỏ. Khi nảy sinh vấn đề cần giải quyết, nhà lãnh đạo đánh giá các sự lựa chọn, ra quyết định và trực tiếp hướng dẫn nhân viên những hành động họ cần phải thực hiện.

    – Kiểm soát sự thực hiện và cung cấp thông tin phản hồi: Những nhà quản lý thường thiết lập các khâu kiểm soát nhất định để điều khiển quá trình thực hiện công việc. Cách đưa mệnh lệnh của họ thường là: “Hãy quay trở lại gặp tôi vào lúc 11h trưa và báo cáo tóm tắt những công việc mà anh đã làm xong”. Các nhà lãnh đạo này thường xuyên cung cấp thông tin dưới dạng các hướng dẫn cụ thể về cách làm thế nào để cải tiến công việc tốt hơn.

    – Sự khen thưởng và ghi nhận công việc: Điều gì khiến cho nhà lãnh đạo theo phong cách trực tiếp cảm thấy hạnh phúc? Đó là khi nhân viên dưới quyền làm đúng theo sự hướng dẫn của họ. Đó là câu nói thể hiện thái độ hài lòng của họ đối với nhân viên.

    Phong cách lãnh đạo trực tiếp rất thích hợp khi có một mệnh lệnh từ cấp trên mô tả những gì cần phải làm và phải làm nó như thế nào. Khi đó, nhà quản lý là người chỉ huy thực hiện nhiệm vụ, làm đúng những gì được yêu cầu. Phong cách quản l‎ý này cũng thích hợp trong trường hợp các nhân viên còn hạn chế về kinh nghiệm hoặc thiếu những kỹ năng cần thiết để hoàn thành công việc. Nhà quản lý theo phong cách này đưa ra các bước đi và hành động, kiểm soát những khâu quan trọng để các nhân viên có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ.

    – Ra quyết định: Quyết định chỉ được đưa ra sau khi có sự cộng tác và phối hợp của nhân viên. Cả nhà quản lý và nhân viên đều đóng vai trò chủ động, tích cực trong việc xác định vấn đề, đánh giá sự lựa chọn và ra quyết định.

    4.3.1.3. Phong cách lãnh đạo ủy thác, giao phó (Phong cách tự do)

    Những nhà quản lý sử dụng phong cách này thường giải thích hoặc có những cam kết về các công việc cần được thực hiện và khi nào phải hoàn thành công việc đó. Còn cách thức làm việc thì toàn quyền do người nhân viên quyết định.

    – Ra quyết định: Quyết định thực hiện nhiệm vụ được chuyển cho nhân viên, người nhân viên có quyền chọ lựa những phong cách thích hợp để đạt được kết quả mong đợi. Nhà quản lý phải tránh “tiếp tục duy trì sự giao phó” khi nhân viên không muốn tự ra quyết định mà tìm cách “trả lại” quyền ra quyết định cho nhà quản lý.

    – Kiểm soát quá trình thực hiện và cung cấp thông tin: Nhà quản lý thuộc phong cách này thường quyết định cách thức kiểm soát công việc. Số lần kiểm soát phụ thuộc vào tính chất ưu tiên của nhiệm vụ và người thực hiện nó. Cung cấp thông tin phản hồi là trách nhiệm của nhân viên. Việc giữ để nhà quản lý không nổi giận và mất bình tĩnh, đặc biệt khi kế hoạch bị chệch hướng, là điều rất quan trọng.

    – Khen thưởng và ghi nhận kết quả: Nhà quản lý thường khen thưởng và ghi nhận những ai chứng minh được khả năng làm việc một cách độc lập. Phong cách lãnh đạo này rất thích hợp khi nhân viên là người hiểu biết, có kỹ năng và động lực để hoàn thành công việc. Bởi vì, những nhân viên có kinh nghiệm sẽ không cần một nhà quản lý nói rằng họ phải làm gì. Họ muốn tự do lựa chọn cách thức thực hiện công việc. Phong cách lãnh đạo này cũng tạo cho các nhà quản lý có nhiều thời gian để dành cho việc thực hiện các nhiệm vụ khác như xây dựng các tiêu chuẩn, suy nghĩ chiến lược và lên kế hoạch.

    Mặc dù là ba phong cách lãnh đạo khác nhau, song không nhất thiết một nhà quản lý chỉ áp dụng một loại phong cách lãnh đạo nhất định trong quá trình điều khiển và giám sát công việc. Nó chỉ mang một ý nghĩa tương đối và được xác định hoặc thay đổi tùy vào những hoàn cảnh cụ thể của từng nhà lãnh đạo.

    Như vậy, phong cách lãnh đạo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý nói chung và quản lý công nói riêng. Việc thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý một cách hiệu quả làm cho mọi việc thông suốt và định hướng các nội dung công việc khác.

    * 4 mô thức quản lý của R. Likert:

    1. Quản lý quyết đoán – áp chế

    2. Quản lý quyết đoán – nhân từ

    3. Quản lý tham vấn

    4. Quản lý tham gia theo nhóm

    * 5 mô thức quản lý của Jane Mouton và R. Blake:

    1. Phong cách “quản lý suy giảm” (1.1)

    2. Phong cách “quản lý đồng đội” (9.9)

    3. Phong cách “quản lý theo kiểu câu lạc bộ ngoài trời” (1.9)

    4. Phong cách “các nhà quản lý chuyên quyền theo công việc” (9.1)

    5. Phong cách “quản lý chuyên quyền rộng lượng” (5.5)

    1. Xây dựng quyết định rồi công bố cho cấp dưới

    2. Tuyên truyền quyết định với cấp dưới

    3. Báo cáo quyết định cho cấp dưới và khuyến khích họ nêu ý kiến

    4. Dự thảo quyết định và cấp dưới đưa ra ý kiến sửa đổi

    5. Nêu vấn đề, nghe ý kiến cấp dưới sau đó ra quyết định

    6. Nêu yêu cầu và cho cấp dưới quyền ra quyết định

    7. Uỷ quyền cho cấp dưới ra quyết định trong phạm vi vấn đề nhất định.

    Gắn các hành vi ra quyết định với các phong cách lãnh đạo từ độc đoán đến dân chủ

    Sự lãnh đạo lấy cấp dưới làm trung tâm

    Sự lãnh đạo lấy chủ làm trung tâm

    Mức độ sử dụng quyền hạn của nhà quản trị

    Khu vực dành quyền tự do cho

    những người cấp dưới

    Nhà quản trị xác định giới hạn; yêu cầu nhóm ra quyêt định

    Nhà quản trị đưa ra quyết định thăm dò có thể thay đổi

    Nhà quản trị nêu vấn đề, tiếp nhận ý kiến đề xuất, ra quyết định

    Nhà quản trị cho phép cấp dưới hoạt động trong giới hạn cấp trên quy định

    Nhà quản trị “bán” quyết định

    Nhà quản trị trình bày ý tuởng và yêu cầu chất vấn

    Nhà quản trị ra quyết định và phổ biến

    Tuy nhiên, sở dĩ có nhiều loại mô thức và phong cách quản lý như vậy là do người ta căn cứ vào những tiêu chí khác nhau mà những tiêu chí đó chưa phải là biểu hiện của bản chất của quản lý. Thực chất, nếu căn cứ vào quan hệ quyền lực và cách thức sử dụng quyền lực, có thể phân chia phong cách quản lý thành ba loại điển hình:

    – Phong cách quản lý chuyên quyền

    – Phong cách quản lý dân chủ

    – Phong cách quản lý “tự do”

    Từ ba phong cách này có thể phái sinh những phong cách khác. Các nhà quản lý căn cứ vào điều kiện khách quan cũng như những nhân tố chủ quan để lựa chọn phong cách quản lý cho phù hợp.

    – Phong cách lãnh đạo thư lại: Lãnh đạo theo phong cách này chú ý đến sự tôn trọng triệt để các luật lệ, quy chế, đến sự duy trì và mở rộng phạm vi của tổ chức. Người lãnh đạo đòi hỏi ở nhân viên sự trung thành. Động cơ thúc đẩy hoạt động của nhà lãnh đạo là sự yên tâm.

    – Phong cách chuyên chế: Người lãnh đạo chuyên chế muốn dùng nghị lực và kinh nghiệm của bản thân, đòi hỏi nhân viên sự tôn trọng triệt để các mệnh lệnh riêng của mình. Mục tiêu của người lãnh đạo chuyên chế là phát triển bản ngã. Người lãnh đạo có khuynh hướng coi nhân viên là những người tuân lệnh, không phải nghĩ ngợi gì cả.

    – Phong cách lãnh đạo ngoại giao: Người lãnh đạo chú ý vào cá nhân nhân viên. Người lãnh đạo ngoại giao biết rõ từng nhân viên, biết cách cư xử với từng nhân viên để chi phối hành động củ họ. Người lãnh đạo ngoại giao muốn nhân viên có những tham vọng riêng, vì người nào cso nhiều tham vọng mới dễ thúc đẩy và do đó chính người lãnh đạo mới thực hiện được tham vọng của bản thân mình.

    – Phong cách lãnh đạo dân chủ: Mục tiêu của phong cách lãnh đạo này là pt tinh thần đoàn kết. Quyền hành căn cứ vào những dư luận của các hệ thống không chính thức trong nhóm. Người lãnh đạo dân chủ cho rằng những luật lệ, những mệnh lệnh chỉ hiệu lực khi những luật lệ và chỉ thị ấy phản ánh những ý tưởng mà trong nhóm đã chấp nhận; phong cách lãnh đạo này đòi hỏi ở nhân viên sự cộng tác thực sự và tinh thần tập thể.

    Như vậy, mỗi phong cách lãnh đạo tạo ra cho tập thể một bầu không khí riêng biệt, ảnh hưởng đến thái độ và cách cư xử của nhân viên, và do đó ảnh hưởng đến năng suất làm việc của họ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Hành chính công, NXB Thống kê, Hà nội, 2007;

    Vũ Huy Từ, Võ Kim Sơn, Lê Chi Mai (2000), Quản lý khu vực công, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội;

    Phân tích chính sách công, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2008;

    Phan Huy Đường (2010), Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB ĐHQGHN;

    Báo cáo phát triển Việt Nam 2005 (WB) – Quản lý và Điều hành;

    Các tài liệu khác.

    Các file đính kèm theo tài liệu này:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Chất Lượng
  • Một Số Khái Niệm Về Quản Lý Chất Lượng (Tham Khảo)
  • Nhân Tố Tác Động Đến Phẩm Chất Chính Trị Của Cán Bộ, Công Chức Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tìm Hiểu Nội Dung 4 Phẩm Chất Đạo Đức “Tự Tin
  • Phẩm Chất Là Gì? Những Phẩm Chất Của Người Thành Công
  • Khái Quát Về Quản Lý Quỹ Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Và Công Ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán
  • Quản Trị Toàn Cầu (Global Governance)
  • Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế (International Business Administration) Là Gì?
  • Theo Luật ngân sách nhà nước năm 2022, Cơ quan chủ quản chính quản lý quỹ ngân sách nhà nước là kho bạc nhà nước.

    Khái niệm, đặc điểm quỹ ngân sách nhà nước

    (i) Quỹ ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay có trên tài khoản của ngân sách nhà nước các cấp tại một thời điểm.

    (ii) Đặc điểm quỹ ngân sách nhà nước: Quỹ ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, thuộc sở hữu của Nhà nước; quỹ ngân sách nhà nước có nguồn hình thành đa dạng: thuế, phí, lệ phí; hoạt động kinh tế của Nhà nước, …; quỹ ngân sách nhà nước có mục đích sử dụng rất phong phú, dựa trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và được thể hiện thông qua các khoản chi chính mà quỹ ngân sách nhà nước đảm nhận.

    Khái niệm, đặc điểm quản lý quỹ ngân sách nhà nước

    Khái niệm quản lý quỹ ngân sách nhà nước

    Quản lý quỹ ngân sách nhà nước là quá trình tác động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến quỹ ngân sách nhà nước, nhằm làm cho quỹ ngân sách nhà nước được hình thành và sử dụng đúng quy định của pháp luật, tránh bỏ sót nguồn thu và tình trạng thất thoát ngân quỹ, bảo đảm sử dụng hiệu quả và tiết kiệm quỹ ngân sách nhà nước.

    (i) Phải đảm bảo tập trung đầy đủ, đúng hạn các khoản thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước; (ii) Phải đảm bảo thực hiện các khoản chi ngân sách tiết kiệm, có hiệu quả, tránh thất thoát tài sản trong quỹ ngân sách nhà nước; (iii) Phải thực hiện tốt công tác điều hòa vốn trong hệ thống kho bạc nhà nước, bảo đảm khả năng thanh toán của các đơn vị cũng như toàn hệ thống.

    Đặc điểm quản lý quỹ ngân sách nhà nước

    (i) Luôn có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó, cơ quan chủ quản chính là kho bạc nhà nước; (ii) Luôn gắn liền với các khoản tiền có trên tài khoản ngân sách nhà nước các cấp, chính là quỹ ngân sách nhà nước; (iii) Quản lý quỹ ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động quản lý việc tập trung các khoản thu ngân sách; cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách và tổ chức điều hòa vốn trong hệ thống kho bạc ngân hàng.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

    1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Ngành Quản Lý Đô Thị Là Gì? Học Gì? Ra Trường Làm Gì?
  • Đề Tài Vai Trò Của Quy Hoạch Xây Dựng Đô Thị Trong Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Địa Bàn Thủ Đô Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Quản Lý Quy Hoạch Và Kế Hoạch Sử Dụng Đất
  • Khái Niệm Quy Hoạch Xây Dựng Là Gì ?
  • Quản Lý Xây Dựng Theo Quy Hoạch Đô Thị
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100