Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Công Vụ

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì? Phân Tích Khái Niệm Vbqppl
  • Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Qppl Là Gì?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022
  • Điểm Mới Của Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022
  • 1. Khái niệm: Đơn được viết ra giấy ( theo mẫu hoặc không theo mẫu) để đề đạt mọi nguyện vọng với một người hay một cơ quan, tổ chức có quyền hạn giải quyết nguyện vọng đó.

    – Đơn phải trình bày trang trọng, ngắn gọn và sáng sủa theo một số mục nhất định. Những nội dung bắt buộc trong đơn là: Đơn gửi ai? Ai gửi đơn? Gửi để đề đạt nguyện vọng gì?

    – Phần mở đầu: Quốc hiệu và tiêu ngữ, địa điểm làm đơn và ngày tháng năm làm đơn, tên đơn, nơi gửi đơn.

    + Họ tên, nơi công tác hoặc nơi ở của người viết đơn.

    + Trình bày sự việc, lí do và nguyện vọng (đề nghị).

    + Địa điểm làm giấy đề nghị và ngày tháng năm.

    + Tên văn bản: Giấy đề nghị (hoặc Bản kiến nghị).

    + Nêu sự việc, lí do và ý kiến cần đề nghị với nơi nhận.

    + Địa điểm làm báo cáo và ngày tháng.

    + Nêu lí do , sự việc và các kết quả đã làm được.

    + Địa điểm và thời gian làm tường trình.

    + Người (cơ quan) nhận bản tường trình.

    + Nội dung tường trình: người viết trình bày thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc, nguyên nhân vì đâu, hậu quả thế nào, ai chịu trách nhiệm. Thái độ tường trình nên khách quan, trung thực.

    – Phần kết thúc: Lời đề nghị hoặc cam đoan, chữ kí và họ tên người tường trình.

    – Văn bản thông báo phải cho biết rõ ai thông báo, thông báo cho ai, nội dung công việc, quy định về thời gian, địa điểm,… phải cụ thể, chính xác.

    – Văn bản thông báo phải tuân thủ thể thức hành chính, có ghi tên cơ quan, số công văn, quốc hiệu và tiêu ngữ, tên văn bản, ngày tháng, người nhận, người thông báo, thì mới có hiệu lực.

    + Tên cơ quan chủ quản và đơn vị trực thuộc ( góc trên bên trái).

    + Địa điểm và thời gian làm thông báo

    – Phần nội dung: Nội dung thông báo.

    + Nơi nhận ( phía dưới bên trái).

    + Kí tên và ghi đầy đủ họ tên, chức vụ của người có trách nhiệm thông báo ( phía dưới bên phải).

    Lời văn của biên bản cần ngắn gọn, chính xác.

    – Phần mở đầu ( thủ tục): Quốc hiệu và tiêu ngữ (đối với biên bản sự vụ hành chính), tên biên bản, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia và chức trách của họ.

    – Phần nội dung: Diễn biến và kết quả của sự việc.

    – Phần kết thúc: Thời gian kết thúc, chữ kí và họ tên của các thành viên có trách nhiệm chính, những văn bản hoặc hiện vật kèm theo ( nếu có).

    Lời văn của hợp đồng phải chính xác chặt chẽ.

    – Phần mở đầu: Quốc hiệu và tiêu ngữ, tên hợp đồng, thời gian, địa điểm, họ tên, chức vụ, địa chỉ của các bên kí kết hợp đồng.

    – Phần nội dung: Ghi lại nội dung của hợp đồng theo từng điều khoản đã được thống nhất.

    – Phần kết thúc: Chức vụ, chữ kí, họ tên của đại diện các bên tham gia kí kết hợp đồng và xác nhận bằng dấu của cơ quan hai bên ( nếu có).

    Lời văn ngắn gọn, súc tích, tình cảm chân thành.

    Những tin mới hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Hành Chính Thông Dụng Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Tính Chuẩn Xác, Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Phương Pháp Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Khái Niệm Luật Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Luật Hành Chính, Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính, Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính
  • Những Khái Niệm Chung Về Luật Hành Chính
  • Các Khái Niệm Trong Marketing
  • Khái Niệm Marketing Online Là Gì?
  • Marketing Là Gì? Định Nghĩa Marketing Chuẩn Của Philip Kotler
  • a, Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính

    Là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, những quan hệ này gọi là quan hệ quản lý hành chính nhà nước hay quan hệ chấp hành điều hành, bao gồm các quan hệ sau:

    Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc, như quan hệ giữa Chính phủ với Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh với huyện, Bộ Tư pháp với Sở Tư pháp,…

    Quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn như quan hệ giữa Chính phủ với Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân tỉnh với Sở Tư pháp,…

    Quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới trực tiếp nhằm thực hiện chức năng theo quy định của pháp luật như Bộ Tư pháp với Uỷ ban nhân dân tỉnh.

    Quan hệ giữa những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp. Khi cơ quan này có quyền hạn theo quyết định của pháp luật đối với cơ quan kia trong lĩnh vực quản lý, lĩnh vực chuyên môn nhất định nhưng không phụ thuộc về mặt tổ chức như quan hệ giữa Bộ Tài chính với Bộ Giáo dục Đào tạo, Sở Lao động – Thương binh và xã hội với Sở Tài chính nhằm thực hiện chính sách xã hội đối với công chức.

    Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương các đơn vị thực hiện trung ương đóng tại địa phương như quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế với Đại học Huế.

    Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh như quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân huyện với hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân thành phố Huế với doanh nghiệp tư nhân.

    Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội như quan hệ giữa Chính phủ với Đoàn thanh niên.

    Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước công dân – Người không quốc tịch – Người nước ngoài cư trú làm ăn, sinh sống ở Việt Nam như quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân thành phố với công dân có đơn khiếu nại, giữa Uỷ ban nhân dân xã với công dân đăng ký kết hôn.

    * Các nhóm đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính.

    Thứ nhất, các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động, chấp hành, điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Thứ hai, các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan nhằm ổn định tổ chức như quan hệ giữa thủ trưởng với nhân viên.

    Thứ ba, các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình cá nhân tổ chức được nhà nước trao quyền. Ví dụ: Tòa án nhân dân xử phạt hành chính – cá nhân, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động xét xử, người chỉ huy máy bay, tàu biển khi đã rời sân bay, bến cảng có quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

    b, Phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính

    c, Khái niệm Luật hành chính

    Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Hành Chính Là Gì? Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính?
  • Khái Niệm Chung Về Logistics
  • Khái Niệm Logistics Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Khái Niệm Dịch Vụ Logistics
  • Khái Niệm Lực Lượng Sản Xuất
  • Khái Niệm Quyết Định Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Khoa Học Của Luật Hiến Pháp
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Mối Quan Hệ Của Khoa Học Luật Hiến Pháp Với Các Ngành Khoa Học Pháp Lý Khác
  • Luật Hiến Pháp Là Gì ? Tìm Hiểu Quy Định Về Luật Hiến Pháp
  • Chiến Thuật Khám Xét Người Trong Khoa Học Điều Tra Tội Phạm ? Thời Hạn Điều Tra Vụ Án Hình Sự ?
  • Quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp

    Về quyết định của cơ quan hành pháp, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho ràng đó là quyết định quản lí hành chính nhà nước bởi lẽ những quyết định này là của chú thể quản lí hành chính nhà nước trong hộ thống cơ quan hành pháp. Có quan điểm lại cho rằng đó là quyết định quản lí nhà nước, tuy nhiên phải hiểu là quản lí nhà nước theo nghĩa hẹp (quản lí hành chính). Bên cạnh đó còn có khái niệm quyết định hành chính . Khái niệm này không những xuất hiện trong khoa học mà còn cả trong những quy định của luật thực định, như trong Luật khiếu nại, tố cáo, Pháp lênh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính… Chính vì vậy, việc làm rõ khái niệm về loại quyết định này cũng như việc giới hạn nội hàm của khái niệm là rất cần thiết.

    Những quan điểm nêu trên không chỉ khác nhau về tên gọi cứa quyết định mà còn khác nhau cá vê tính chất cũng nhu nội dung cúa quyết định. Có quan điểm cho rằng quyết định hành chính bao gồm cả hành vi vật chất của chủ thể ra quyết định và văn bán thể hiện hành vi đó (quyết định bằng hình thức văn bản) về chủ thể ra quyết định, theo họ có nhiều chủ thể có những chức năng khác nhau đuợc trao quyền ban hành những quyết định nàv. Ví dụ: Quyết định hành chính không những chi do các cơ quan hành pháp ban hành mà còn đuợc các cư quan lập pháp hoặc tư pháp ban hành.

    Theo Từ điển tiếng Việt thì “quyết định” là định một cách chắc chắn, với ý nhất định phải thục hiện.

    Theo Giáo trình luật hành chính (Khoa luật Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, năm 1994) thì “quyết định” đuợc bắt nguồn từ thuật ngữ La tinh – “Actus” nghĩa là hành động.

    Các tài liệu pháp lí nước ngoài khi nói về quyết định cũng xuất phát từ nghĩa đó của “Actus” đc chỉ những hành vi cụ thể. Chính vì vậy, trong khoa học pháp lí, quvết định là tạo ra hiệu lực pháp luật và đó chính là quvết định pháp luật. Quyết định hành chính là một dạng cùa quyết định pháp luật là như vậy.

    Để thực hiện quyền lực nhà nước, trên phương diện lí luận cũng như thực tiễn người ta đcu thừa nhận vị trí và vai trò quan trọng của hệ thống cơ quan nhà nước có chức năng quản lí hành chính nhà nước trên cơ sở của quyền hành pháp – lĩnh vực thể hiện quyền lực nhà nước một cách thiết thực nhất bởi lẽ đó là những hoạt động với mục đích thực hiện luật (thi hành luật) nhằm cụ thể hoá các quv định của luật vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, hình thức hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực nàv chủ yếu và quan trọng dó là ra quyết định hành chính đổ đổ ra những chủ trương, chính sách lớn, xây dựng quy tắc xử sự hoặc áp dụng pháp luật cho một công việc cụ thể (quyết định hành chính cá biệt) nhằm mục dích thực hiện chức năng của nhà nước thông qua quyền hành pháp.

    Từ những cơ sở nêu trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về quyết định hành chính như sau:

    Quyết định hành chính là một dạng của quyết định pháp luật, nó là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực của nhà nước thông qua những hành vi của các chủ thể được thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành theo một trình tự dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật, nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng những quy tắc đó giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước.

    Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Luật Hành Chính: Khái Niệm Và Đối Tượng Nghiên Cứu?
  • Khoa Học Luật Hành Chính Là Gì?
  • Lý Luận Cấu Thành Tội Phạm Trong Khoa Học Luật Hình Sự
  • Khoa Học Luật Hình Sự Và Các Ngành Khoa Học Khác Có Liên Quan
  • Miễn Phí Sách Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Hình Sự 2022 Pdf Word
  • Khái Niệm Thủ Tục Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Khái Niệm Cải Cách Và Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Phân Biệt Thể Chế Nhà Nước, Thể Chế Tư Và Thể Chế Hành Chính
  • Thể Chế Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Những Vấn Đề Có Liên Quan
  • Cải Cách Thể Chế Hành Chính Hiện Nay
  • Thủ tục là cách thức tiến hành một công việc và nội dung, trình tự nhất định, theo quy đinh của nhà nước. Như vậy, hoạt động quản lí nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định.

    Các hoạt động quản lí khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành. Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) là ba nhóm thủ tục: Thủ tục lập pháp, thủ lục hành chính, thủ tục tư pháp.

    Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là cách thức tiến hành một công việc và nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước. Như vậy, hoạt động quản lí nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định. Mỗi hoạt động quản lí theo cách nói thông thường (ví dụ, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật , hoạt động cấp giấy phép, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính …) thực chất là một chuỗi những hoạt động diễn ra theo trình tự nhất định mà mỗi hoạt động cụ thể trong đó có thể được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm những mục đích khác nhau. Kết quả của hoạt động quản lí phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụ thuộc một phần đáng kể vào số lượng, thứ tự các hoạt động cụ thể, mục đích, nội dung, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong một chuỗi hoạt động thống nhất, tức là phụ thuộc vào thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí. Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân. Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí nhà nước được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật và thực hiện thủ tục trên thực tế. Bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ thể hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà nước. Vì vậy, thủ tục bị quy định bởi chính các hoạt động quản lí. Nói cách khác, các hoạt động quản lí khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành. Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) là ba nhóm thủ tục: Thủ tục lập pháp, thủ lục hành chính, thủ tục tư pháp.

    Thủ tục lập pháp là thủ tục làm hiến pháp và làm luật, do các chủ thể sử dụng

    quyền lập pháp tiến hành. Thủ tục tư pháp là thủ tục giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh tế, do các chủ thể sử dụng quyền tư pháp tiến hành. Thủ tục hành chính là thủ tục tiến hành các hoạt động quản lí hành chính nhà nước được thực hiện bởi các chủ thể sử dụng quyền hành pháp. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục và thủ tục hành chính . Có quan điểm cho rằng thủ tục là trình tự giải quyết một công việc, một loại việc. Lẽ dĩ nhiên, thứ tự diễn biến về mặt thời gian (trình tự) của các hoạt động quản lí là nội dung quan trọng của thủ tục nhưng hiểu thủ tục theo nghĩa hẹp như vậy là hạ thấp vai trò, ý nghĩa của thủ tục trong quản lí. Ngược lại, quan điểm khác lại cho rằng trình tự nằm ngoài phạm vi khái niệm thủ tục, chẳng hạn Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật xác định “Luật này quy định thẩm quyển, thủ tục và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cách hiểu này cũng làm sai lệch khái niệm thủ tục bởi lẽ nói đến thủ tục trước hết phải nói đến trình tự thực hiện các hoạt động trong quá trình giải quyết một công việc nhất định. Cũng có quan điểm cho rằng thủ tục hành chính là tổng thể các quy phạm pháp luật xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ xã hội do luật hành chính xác lập nhằm thực hiện các quy phạm vạt chất của luật hành chính. Thực ra thủ tục hành chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định nên thủ tục hành chính là nội dung của một nhóm quy phạm pháp luật hành chính (thường gọi là quy phạm thủ tục) chứ thủ tục khống phải là quy phạm pháp luật.

    Theo tinh thần, nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết đại hội Đảng VII, Nghị quyết trung ương lần thứ 8 khoá VII. Nghị quyết đại hội Đảng VIII, IX, X) và các văn bản pháp luật (Nghị quvết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010) thì thủ tục hành chính có nội dung rất rộng, bao gồm:

    – Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt động quản lí nhất định;

    – Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể;

    – Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể;

    – Trình tự của các hoạt động cụ thể; mối liên hệ giữa các hoạt động đó.

    Có thể nói, đây là cách hiểu đầy đủ nhất về thủ tục hành chính. Cách hiểu này cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của thủ tục hành chính trong quản lí nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướng, biện pháp thích hợp để cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lí nhà nước trong điều kiện hiện nay.

    Quản lí hành chính là hoạt động đa dạng và phức tạp nên thủ lục hành chính cũng đa dạng, phức tạp theo. Thủ tục hành chính hợp lí sẽ tạo nên sự hài hòa, thống nhất trong bộ máy nhà nước, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Thủ tục hành chính bất hợp lí là mảnh đất tốt cho tệ tham nhũng, cửa quyền, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền. Do vai trò quan trọng của thủ tục hành chính như vậy nên số lưựng quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính chiếm tỉ trọng khá lớn trong số quy phạm pháp luật hành chính nhằm tránh tình trạng các chủ thể thực hiện thủ tục không thực hiện thủ tục theo đúng thứ tự cần thiết, loại bỏ một số hoạt động quan trọng hay thực hiện những hoạt động không cần thiết.

    Như vậy, thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm trình tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lí hành chính nhà nước.

    Mặc dù có nhiều thủ tục hành chính khác nhau nhưng do tính thống nhất của quản lí hành chính nhà nước nên các thủ tục hành chính có một số đặc điểm chung sau đây:

    Thứ nhất, thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện các hoạt động quản lí nhà nước hay thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lí hành chính nhà nước.

    Thứ hai, thủ tục hành chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định.

    Quy phạm pháp luật hành chính bao gồm quy phạm nội dung và quy phạm thủ tục. Ọuy phạm nội dung trực tiếp quy định những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản lí và đối tượng quản lí hành chính nhà nước; quy phạm thủ tục quy định cách thức thực hiện quy phạm nội dung (bao gồm quy phạm nội dung luật hành chính và một số quy phạm nội dung của các ngành luật khác như hôn nhân gia đình, đất đai, dân sự…). Sở dĩ thủ tục hành chính phải được quy phạm pháp luật hành chính quy định, vì:

    1. Các quan hệ thủ tục hành chính là đối tượng điều chỉnh của luật hành chính;

    2. Thủ tục hành chính do nhiều chủ thể tiến hành, muốn tạo ra sự thống nhất trong hoạt động quản lí tất yếu phải được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thi hành;

    Thứ ba, thủ tục hành chính có tính mềm dẻo, linh hoạt.

    Hoạt động quản lí hành chính nhà nước vốn phong phú, đa dạng. Nội dung và cách thức tiến hành từng hoạt động cụ thể chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau như thẩm quyền, năng Ịực của chủ thể quản lí, đặc điểm của đối tượng quản lí, điều kiện, hoàn cảnh diễn ra hoạt động quản lí… Mỗi yếu tố đó lại chịu sự tác động đan xen phức tạp của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội khiến cho hoạt động quản lí hành chính trở nên hết sức sống động. Thủ tục hành chính với tính chất là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động quản lí đương nhiên phải linh hoạt mới có thể tạo nên quy trình hợp lí cho từng hoạt động quản lí cụ thể. Do vậy. không thể có một thủ tục hành chính duy nhất cho toàn bộ hoạt động quản lí hành chính nhà nước mà có rất nhiều thủ tục hành chính. Thậm chí để giải quyết một loại công việc nhất định cũng có thể cần các thủ tục hành chính khác nhau. Ví dụ, pháp luật quy định hai thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là thủ tục đơn giản và thù tục có lập biên bản. Việc định ra hai thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính vừa dơn giản, thuận tiện cho người xừ phạt và người bị xử phạt trong trường hợp có thể, vừa đảm bảo lính chặt chẽ, có cơ sở cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, so với thủ tục lập pháp và thủ tục tư pháp, nhu cầu bãi bỏ thủ tục hành chính cũ, đưa ra thủ tục mới, thay đổi các thủ tục đã có mặt khá thường xuyên đảm bảo thích ứng với sự biến đổi linh hoạt của hoạt động quản lí. Khi xây dựng thủ tục hành chính nếu nhận thức đúng đắn về đặc điểm này sẽ tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻo cho hoạt động quản lí, nếu phủ nhận đặc điểm này có thể làm đơ cứng hoạt động quản lí, kìm hãm quá trình phát triển xã hội. Sự cường điệu tính linh hoạt của thủ tục hành chính cũng có thể dẫn đến việc đặt ra quá nhiều thủ tục một cách không cần thiết hoặc thay đổi thủ tục một cách tuỳ tiện làm cho hoạt động quán lí thiếu ổn định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cải Cách Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Cải Cách Hành Chính ?
  • Ngành Giải Khát Nước Không Cồn Việt Nam
  • Nước Giải Khát Và An Toàn Sức Khỏe
  • Nước Giải Khát Hay Đồ Uống Không Cồn?
  • Tín Dụng Là Gì? Khái Niệm Cơ Bản Của Các Loại Tín Dụng
  • Cải Cách Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Cải Cách Hành Chính ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Thủ Tục Hành Chính
  • Khái Niệm Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Khái Niệm Cải Cách Và Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Phân Biệt Thể Chế Nhà Nước, Thể Chế Tư Và Thể Chế Hành Chính
  • Thể Chế Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Những Vấn Đề Có Liên Quan
  • Cải cách hành chính là một chủ trương, công cuộc có tính đổi mới nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước.

    Cải cách hành chính là vấn đề diễn ra ở tất cả các quốc gia và được coi là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, là trọng tâm của công việc cải cách bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, thống nhất, có đủ quyền lực, năng lực để thực hiện đúng đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, phục vụ đắc lực cho nhân dân.

    Ở Việt Nam, nội dung trọng tâm của cải cách hành chính gồm: 1) Cải cách thể chế – là xây dựng và hoàn thiện các thể chế mà trước hết là thể chế kinh tế trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới quy định xây dựng và ban hành văn bản quy phạm phápluật; đảm bảo tổ chức thực thi pháp luật nghiêm của các cơ quan Nhà nước; cải cách thủ tục hành chính phù hợp; 2) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính – là việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các cơ quan Bộ, ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lí nhà nước trong tình hình mới; khắc phục những chồng chéo về chức năng của các cơ quan nhà nước; chuyển một số công việc sang cho tổ chức phi chính phủ đối với các công việc dịch vụ; thực hiện phân cấp quản lý; cải tiến phương thức làm việc của cơ quan hành chính các cấp; hiện đại hoá nền hành chính; 3) Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức – bao gồm việc đổi mới chế độ quản lí công chức; cải cách chế độ tiền lương của cán bộ công chức; đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, nâng cao tỉnh thần trách nhiệm và đạo đức của công chức; 4) Cải cách tài chính công bao gồm đổi mới cơ chế phân cấp quản lí tài chính và ngân sách; bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương; đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công.

    Cải cách hành chính là chủ trương được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra và thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Trong đó, mục tiêu cải cách hành chính là: “xây dựng một nền hành chính dân chủ, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất năng lực đáp ứng được công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”. Chủ trương cải cách hành chính tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII và các Nghị quyết trung ương 3, trung ương 6 (lần thứ 2) và trung ương 7 (khoá VIIl).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Giải Khát Nước Không Cồn Việt Nam
  • Nước Giải Khát Và An Toàn Sức Khỏe
  • Nước Giải Khát Hay Đồ Uống Không Cồn?
  • Tín Dụng Là Gì? Khái Niệm Cơ Bản Của Các Loại Tín Dụng
  • Tín Dụng Nhà Nước (State Credit) Là Gì? Nội Dung Hoạt Động Của Tín Dụng Nhà Nước
  • Hành Chính Tư Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Hành Chính Tư Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 4: Quản Lý Đất Đai, Địa Giới Hành Chính Và Xây Dựng Ở Cơ Sở. Ts. Bùi Quang Xuân
  • Quản Lý Là Gì? Khái Niệm Về Quản Lý Kinh Tế
  • Đề Cương Quản Lý Khu Vực Công
  • Quản Lý Theo Kết Quả Trong Khu Vực Công
  • Khái Niệm Quản Lý Khách Hàng Là Gì Và Những Điều Bạn Cần Biết
  • Hành chính tư pháp là hoạt động quản lí hành chính nhà nước đối với lĩnh vực tư pháp (ở đây, hành chính – tư pháp là cách gọi mang tính quy ước, rút gọn).

    Theo nghĩa này, hành chính tư pháp gắn chặt với hoạt động tư pháp và quyền tư pháp, mang nhưng nội dung, đặc điểm sau:

    1) Là hoạt động quản lí nhà nước mang tính chất chấp hành, điều hành đối với lĩnh vực tư pháp;

    2) Chủ thể quản lí: Chính phủ là cơ quan quản lí hành chính nhà nước cao nhất, có nhiệm vụ quản lí tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội (theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Chính phủ năm 2002). Bộ Tư pháp được Chính phủ giao cho thực hiện nhiệm vụ quản lí hành chính tư pháp;

    3) Nội dung quản lí: xuất phát từ đặc thù, cách phân mảng, lĩnh vực trong quản lí hành chính nhà nước (với tính chất chấp hành, điều hành) cho nên nội dung quản lí hành chính tư pháp được xác định bao gồm quản lí toàn bộ các hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, trong đó, có cả hoạt động tư pháp lẫn bổ trợ tư pháp.

    Ở Việt Nam, đối với hoạt động tư pháp, nhiệm vụ quản lí hành chính nhà nước đồng thời được giao cho nhiều cơ quan, trong đó có vai trò quan trọng của Bộ Tư pháp. Nội dung quản lí hành chính tư pháp của Bộ Tư pháp qua từng thời kì có những điểm chung, đồng thời cũng có những điểm khác nhau tùy theo quan điểm nhận thức của mỗi thời kì, cụ thể thời kì 1980 đến 1993 thì “Bộ Tư pháp là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, có chức năng giúp Hội đồng Bộ trưởng thực hiện quản lí thống nhất các công việc về tư pháp trong cả nước bao gồm công tác dự thảo pháp luật, quản lí về mặt tổ chức các Tòa án địa phương và các công tác tư pháp khác; công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa trong cán bộ và nhân dân; góp phần bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân”.

    Thời kì 1993 đến 2003, một số nội dung quản lí hành chính tư pháp khác do Bộ Tư pháp thực hiện, cụ thể là: “Thực hiện chức năng quản lí nhà nước thống nhất về công tác tư pháp; xây dựng và tham gia xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lí về mặt tổ chức Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực (gọi chung là Tòa án địa phương); đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lí và quản lí các công tác tư pháp khác được Chính phủ giao”.

    Từ năm 2003 đến nay, “Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lí nhà nước về công tác xây dựng pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và công tác tư pháp khác trong phạm vi cả nước”.

    Hoạt động quản lí mang tính chất hành chính nội bộ trong các cơ quan tư pháp, bao gồm: hoạt động quản lí hành chính, điều hành công việc nội bộ cơ quan tư pháp như xây dựng chính tổ chức bộ máy, quản lí điều hành cán bộ; quản lí công sản, tài chính ngân sách, văn thư giấy tờ.

    Hiểu rộng ra, còn có những hoạt động mang tính chất hành chính phục vụ được thực hiện tại các cơ quan tư pháp… thuộc thẩm quyền của cán bộ, công chức quản lí, lãnh đạo cơ quan đó (hoạt động quản lí hành chính nội bộ trong cơ quan tư pháp). Đây là hoạt động quản lí bên trong cơ quan tư pháp, do chính cán bộ, công chức có thẩm quyền của cơ quan tư pháp thực hiện. Theo cách hiểu này, khái niệm “Hành chính tư pháp” thường không phổ biến và ít được nhắc đến.

    Với nghĩa hành chính tư pháp là những hoạt động mang tính chất quản lí hành chính trong cơ quan tư pháp, ta thấy có hai loại hoạt động điển hình khác biệt nhau về chất, đó là hoạt động hành chính tư pháp (quản lí hành chính nội bộ như đã nêu ở trên) và hoạt động tư pháp – nhân danh nhà nước thực thi quyền tư pháp (là hoạt động của các cơ quan tư pháp theo quy định của luật tố tụng nhằm – thực thi quyền tư pháp của quyền lực nhà nước, thông qua đó, bảo đảm trật tự, kỉ cương của xã hội, ` bảo đảm công lí, sự công bằng và lẽ phải theo quy định của pháp luật).

    Ví dụ: Tại Thông tư số 141-HCTP ngày 05.12.1957 của Bộ Tư pháp đã xác định hành chính tư pháp bao gồm có phần hoạt động chuyên môn (báo cáo thống kê, tổ chức hội nghị, phiên toà, công tác thi đua, công tác tổ chức, quản lí cán bộ…) và phần hoạt động hành chính quản trị (công tác kế toán, quản lí công sản, công văn giấy tờ…).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Quản Lý Hồ Sơ Hành Chính Văn Phòng
  • Phân Tích Khái Niệm Và Chứng Minh Rằng: Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Chủ Thể Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Quan Trọng Nhất
  • Quản Lý Hành Chính Là Gì? Vấn Đề Xoay Quanh Quản Lý Hành Chính
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Về Hàng Tồn Kho Và Quản Trị Hàng Tồn Kho.
  • Tìm Hiểu Về Quản Lý Giáo Dục
  • Phòng Tổ Chức – Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Tổ Chức Công Việc Hiệu Quả
  • Tổng Hợp Điểm Mới Về Kỷ Luật Công Chức
  • Tổ Chức Lãnh Thổ Công Nghiệp
  • Bài 33: Một Số Hình Thức Chủ Yếu Của Tổ Chức Lãnh Thổ Công Nghiệp (Có Trắc Nghiệm
  • Vai Trò, Vị Trí Của Công Đoàn Việt Nam
  • Lý luận. thực tiển

    Đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức

    Tác giả

    :

    Đổi mới công tác tuyển dụng công chức

    Công tác tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có tính quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan. Trong quá trình thực thi công vụ, việc tuyển dụng đúng người sẽ cho kết quả hoạt động của cơ quan tốt hơn. Luật cán bộ, công chức nêu rõ việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh. Hình thức thi, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Đối với một số trường hợp sẽ thực hiện xét tuyển theo quy định.

    Công tác tuyển dụng phải luôn đặt ở trạng thái “động” và “mở”. Để công tác tuyển dụng mang tính “động” và “mở”, đòi hỏi công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực phải dựa trên cơ sở của các hoạt động phân tích, đánh giá nguồn nhân lực hiện tại và dự báo về nguồn nhân lực tương lai; các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến nền hành chính công vụ. Ngoài ra, việc tuyển dụng mới công chức cần gắn với việc cơ cấu lại tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế theo mục tiêu đổi mới về chất, thay thế mạnh những người không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ trong nền hành chính hiện đại. Có như vậy mới xây dựng được nền công vụ “mở”, nghĩa là có tuyển dụng vào nếu đáp ứng được yêu cầu của vị trí việc làm và vị trí việc làm còn trống, có cơ chế chuyển ra (cho thôi việc, chuyển vị trí công tác khác…) nếu không còn đáp ứng được yêu cầu công việc.

    Một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức và thi nâng ngạch công chức là việc ứng dụng công nghệ tin học vào thi tuyển, thi nâng ngạch công chức. Việc ứng dụng công nghệ tin học vào thi tuyển công chức không phải là mới đối với các quốc gia có nền công vụ phát triển nhưng là mới đối với nước ta, hình thức thi này đảm bảo được nguyên tắc cạnh tranh khách quan, công bằng, minh bạch, thực tài và hạn chế được tiêu cực trong thi cử. Vấn đề đặt ra hiện nay lànên bổ sung khâu phỏng vấn trong thi tuyển để lựa chọn được người phù hợp nhất vào cơ quan. Bởi vì hoạt động công vụ của công chức bao gồm cả các kỹ năng giao tiếp, ứng xử giữa công chức với công chức cùng và khác cấp hành chính, giữa công chức với nhân dân, tổ chức. Do vậy, thông qua phỏng vấn mới có thể nhận biết, lựa chọn được ứng viên có phẩm chất, năng lực, kỹ năng thực sự trong quan hệ giao tiếp, ứng xử phù hợp nhất cho vị trí việc làm cụ thể cần tuyển dụng.

    Đồng hành cùng việc đổi mới tuyển dụng công chức, phải tập trung thực hiện chính sách nhân tài. Có cơ chế chính sách phù hợp góp phần phát hiện, tuyển chọn, tiến cử, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ người hiền tài vào làm việc tại các cơ quan hành chính. Nghiên cứu xây dựng và xác định đúng nội hàm của khái niệm nhân tài, tránh hình thức, đánh đồng nhân tài với người có bằng cấp cao nhưng thiếu kỹ năng nghề nghiệp, thiếu đạo đức trong thực thi công vụ.

    Đổi mới công tác đánh giá công chức

    Đánh giá công chức là một công việc quan trọng trong quá trình quản lý công chức. Kết quả đánh giá công chức sẽ giúp cho cán bộ quản lý có phương án bố trí, sử dụng công chức hợp lý, phát huy được năng lực cá nhân của mỗi công chức. Đồng thời việc đánh giá công chức sẽ khuyến khích được đội ngũ công chức nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của mình để có hướng phấn đấu, hoàn thiện bản thân, đáp ứng yêu cầu công việc. Luật Cán bộ, công chức nêu rõ hình thức đánh giá công chức chuyển từ cách thức tự kiểm điểm và bình bầu sang đánh giá trên các nội dung: chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm trong công tác; kết quả thực hiện được giao. Phương pháp đánh giá kết hợp giữa hình thức tự đánh giá của công chức, các góp ý của tập thể đơn vị công tác, và ý kiến của thủ trưởng đơn vị để xếp loại công chức hàng năm theo 4 mức: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và không hoàn thành nhiệm vụ.

    Một trong các lý do dẫn đến những hạn chế trên là do chúng ta đang trong giai đoạn chuyển từ một nền công vụ chức nghiệp sang chế độ công vụ kết hợp giữa hệ thống chức nghiệp và hệ thống vị trí việc làm, nói cách khác là kết hợp chế độ “công vụ khép kín” sang chế độ “công vụ mở”, chú trọng kết quả và thực tài. Nhằm đổi mới công tác đánh giá công chức, một số giải pháp được khuyến nghị như sau:

    Thứ nhất, đổi mới công tác đánh giá công chức phải bắt đầu từ việc thay đổi cách tiếp cận quan điểm, tư duy về đánh giá công chức, tiếp thu chọn lọc cách tiếp cận quản lý, quản trị hiện đại. Cách tiếp cận quản trị hiện đại với mục đích đánh giá là để phát triển cá nhân và tổ chức. Kết quả đánh giá nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, là đầu vào quan trọng cho công tác quản trị nhân lực, giúp bố trí, sử dụng cán bộ, công chức hợp lý. Cần có quy định cụ thể, công bằng, khách quan và sự tách bạch rõ ràng giữa trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức với kết quả đánh giá của công chức; sự tách bạch giữa kết quả đánh giá cá nhân công chức với kết quả thành tích của tập thể cơ quan, đơn vị để tránh tình trạng vì thành tích tập thể, trách nhiệm người đứng đầu mà “dĩ hòa vi quý” với từng cá nhân công chức trong tổ chức.

    Thứ hai, đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, trong đó chú trọng đến việc đánh giá cán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức; thẩm quyền đánh giá cán bộ, công chức thuộc về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức. Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới quy trình đánh giá công chức, đảm bảo dân chủ, công bằng, công khai, chính xác và trách nhiệm đối với việc đánh giá công chức.

    Thứ tư, cá nhân mỗi công chức lập kế hoạch công tác cá nhân trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình và kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị. Mặt khác, cá nhân công chức có bản mô tả công việc cụ thể sẽ là cơ sở cho việc theo dõi, giám sát tiến độ, chất lượng công việc để có đánh giá chuẩn xác về kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức

    Thứ sáu, thiết lập một bộ phận chuyên trách về đánh giá công chức một cách độc lập. Thực tiễn cho thấy công tác đánh giá luôn là khâu yếu của quá trình quản trị nguồn nhân lực hành chính công, do vậy cần thiết phải xây dựng một bộ phận chuyên trách công tác đánh giá công chức ở mỗi cơ quan, đơn vị.

    Đổi mới công tác tuyển dụng và đổi mới đánh giá công chức sẽ góp phần thực hiện thành công cải cách hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra một hệ thống giá trị để phục vụ tốt hơn nền hành chính công vụ.

    Vi Tiến Cường – Viện Nghiên cứu và Phát triển, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

    Các tin khác

    • Đổi mới hoạt động tuyển dụng nhân sự trong cơ quan hành chính nhà nước

      (21/08/2015)

    Góp ý

    Họ và tên:

    *

     

    Email:

    *

     

    Tiêu đề:

    *

     

    Mã xác nhận:

     

    RadEditor – HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.

    RadEditor’s components – toolbar, content area, modes and modules

       

    Toolbar’s wrapper

     

    •  
    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

     

    Content area wrapper

    RadEditor hidden textarea

    RadEditor’s bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.

    It contains RadEditor’s Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer

    Editor Mode buttons

    Statistics module

    Editor resizer

    • Design

    • HTML

    • Preview

     

     

    RadEditor – please enable JavaScript to use the rich text editor.

    RadEditor’s Modules – special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.

       

     *

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Viện Báo Chí Và Tuyên Truyền: Giáo Trình Xây Dựng Đảng Về Tổ Chức
  • Công Chức Dự Bị – Nên Hiểu Như Thế Nào?
  • Một Số Điểm Mới Của Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ, Công Chức
  • Thế Nào Là Suy Thoái Về Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống Ở Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay – Nhân Văn Việt
  • Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Trong Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Trị Là Gì ? Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị ?
  • Chính Trị Là Gì? Quan Điểm Về Chính Trị Qua Từng Thời Kỳ
  • Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Khái Niệm Về Chính Trị Chính Xác Cho Người Cần Biết
  • Công Chức Là Gì? Đặc Điểm, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chức?
  • Trong mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những người làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Chỉ một thời gian ngắn sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hổ Chí Minh đã kí sấc lệnh sô 76/SL quy định chế độ . Theo quy định của Sắc lệnh này thi chỉ những “công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng tuyển bổ giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ ” mới được coi là công chức (trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định). Như vậy, phạm vi công chức quy định trong sắc lệnh nêu trên rất hẹp.

    Từ năm 1954, Nhà nước thực hiện chế độ nên Sắc lệnh số 76/SL hầu như khống dược áp dụng mặc dù không có văn bản nào chính thức bãi bỏ nó. Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ thường được sử dụng là thuật ngữ “cán bộ. viên chức”. Cán bộ, viên chức bao gồm những người trong biên chế, làm việc trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội, trong các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang nhàn dán. Cán bộ. viên chức được hình thành từ bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, phân công khi tốt nghiệp. Như vậy, phạm vi khái niệm cán bộ, viên chức rất rộng và nguồn hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức cũng rất phong phú. Khái niệm nàv không phản ánh được đặc điểm nghe nghiệp, tính chất cồng việc, trình độ chuyên môn v.v. của cán bộ, viên chức. Đây là một trong những nguvên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc đào tạo bồi dưỡng, bố trí công tác, đánh giá và thực hiện chính sách đối với cán bộ, viên chức.

    Để tạo cơ sở pháp lí cho việc tuyển chọn đúng, sử dụng có hiệu quả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, từng bước xây dựng đội ngũ cổng chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, ngày 25/5/1991 Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 69/HĐBT về công chức nhà nước.

    Theo Nghị định số I69/HĐBT, công chức nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một cồng vụ thường xuvên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ờ trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp. Những đối tượng sau đây thuộc phạm vi công chức:

    – Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương.

    – Những người làm việc trong các đại sứ quán, lãnh sự quán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

    – Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách.

    – Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ quốc phòng.

    – Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuvên trong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp.

    – Những trường hợp riêng biệt khác do Chù tịch Hội đổng bộ trướng quy định.

    Như vậy, theo Nghị định số 169/HĐBT phạm vi công chức rộng hơn so với sắc lệnh số 76/SL, bao gồm không chỉ những người được tuyển dụng hay bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ mà cả ở các cơ quan khác của nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm này cũng không bao hàm hết phạm vi công chức.

    Ngày 26/2/1998 ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mói trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức.

    Theo Pháp lệnh cán bộ, cổng chức năm 1998 thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách, bao gồm:

    – Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuycn làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

    – Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

    Từ năm 1998 đến nay, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được sửa đổi 2 lần vào các năm 2000 và 2003.

    Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 thì cán bộ, công chức bao gồm:

    – Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện:

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ớ trung ương, cấp tính, cấp huyện;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội:

    – Thấm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm viộc trong cư quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhán quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phái là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

    – Những người do bầu cứ để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong thường trực hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân; bí thư, phó bí thư đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội cấp xã;

    – Những người được tuyến dụng, giao giữ một chức danh chuyên mồn nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã.

    Cán bộ, công chức được hướng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với những người được tuyển dụng, bố nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuvên trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.

    Pháp lệnh sửa đổi năm 2003 cũng đặt ra các quy định vẻ việc áp dụng chế độ công chức dự bị. Những quy định này dược cụ thể hoá trong Nghị định của Chính phủ số 115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị theo đó công chức dự bị là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức và được phân cống làm việc có thời hạn tại các cơ quan, tổ chức sau đây:

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Toà án nhân dân các cấp;

    – Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

    – Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phù;

    – Hội đổng nhân dân, uý ban nhân dân cấp tinh và cấp huyện;

    – Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;

    – Uỷ ban nhân dân cấp xã.

    Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Cán Bộ? Thế Nào Là Công Chức? Thế Nào Là Viên Chức?
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ Lớp 8
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ (Chi Tiết)
  • Khái Niệm Cải Cách Thủ Tục Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cải Cách Và Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Phân Biệt Thể Chế Nhà Nước, Thể Chế Tư Và Thể Chế Hành Chính
  • Thể Chế Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Những Vấn Đề Có Liên Quan
  • Cải Cách Thể Chế Hành Chính Hiện Nay
  • Xử Lý Nước Thải Và Tổng Quan Về Các Quy Trình Xử Lý
  • Thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy Nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan Nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân.

    Hiện nay thủ tục hành chính ở nước ta còn những nhược điểm: Hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân; nặng nề, nhiều cửa, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm; không phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mở cửa và hội nhập. Thủ tục hành chính thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tuỳ tiện, thiếu công khai, minh bạch.

    Hiệu quả của nhược điểm trên là gây phiền hà cho việc thực hiện quyền tự do, lợi ích và công việc chung của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hoành hành.

    Chính vì vậy, cải cách thủ tục hành chính là yêu cầu bức xúc của nhân dân, doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình cải cách hành chính Nhà nước. Trong tiến trình phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính có một vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu thủ tục hành chính nói riêng, nền hành chính nói chung không được hay chậm cải cách thì sẽ là một rào cản kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ta. Nghị quyết 38/CP ngày 1/5/1994 của Chính phủ “Về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức” là khâu đột phá trong cải cách hành chính Nhà nước đã phát huy tác dụng và đạt được những kết quả nhất định trong thời gian qua. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, thủ tục hành chính cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa.

    Theo nghĩa chung nhất, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định.

    Vậy Cải cách hành chính là gì? Cải cách hành chính có thể được hiểu như là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính Nhà nước. Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân. Cải cách thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động.

    – Phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính

    – Bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống thủ tục hành chính

    – Bảo đảm tính hợp lý của thủ tục hành chính

    – Bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các thủ tục hành chính đã ban hành.

    – Bảo đảm tính rõ ràng và công khai của các thủ tục hành chính

    – Dễ hiểu, dễ tiếp cận

    – Có tính khả thi.

    – Bảo đảm tính ổn định cần thiết của quy trình thủ tục hành chính

    Để đáp ứng yêu cầu trên (cũng là yêu cầu của hành chính phát triển và hội nhập) cần phải xây dựng những cơ chế thích hợp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính đã ban hành.

    Những cơ chế đã, đang được nghiên cứu, xây dựng và đưa vào áp dụng; trong tiến trình phát triển và hội nhập hiện nay là:

    – Thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng “một cửa” tiến tới “một dấu”.

    – Giao dịch điện tử

    – Chính phủ điện tử

    – Áp dụng ISO.

    Khái niệm cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Thủ Tục Hành Chính
  • Cải Cách Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Cải Cách Hành Chính ?
  • Ngành Giải Khát Nước Không Cồn Việt Nam
  • Nước Giải Khát Và An Toàn Sức Khỏe
  • Nước Giải Khát Hay Đồ Uống Không Cồn?
  • #1 Khái Niệm Quyết Định Hành Chính Trong Quản Lí Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Quản Lý Chất Lượng Sản Phẩm
  • Quy Trình Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Quy Trình Trong Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Quy Trình Quản Lý Dự Án
  • Quy Trình Quản Lý Kho Chuẩn Với 7 Bước Cho Các Cửa Hàng Bán Lẻ
  • Quy Trình Quản Lý Chất Lượng Được Chứng Nhận Tuân Thủ Tiêu Chuẩn Iso
  • Xã hội ngày càng phát triển thì càng có nhiều những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Do đó, việc quản lí của nhà nước, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước sẽ càng phức tạp, khó khăn hơn. Để thực hiện tốt chức năng quản lí này đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải ban hành nhiều quyết định hành chính hơn. Vậy quyết định hành chính là gì, vai trò của nó là như thế nào trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước? Qua bài viết này chúng tôi Luật Quang Huy sẽ đi sâu phân tích và tìm hiểu vấn đề: “Phân tích khái niệm quyết định hành chính và nêu vai trò của quyết định hành chính trong quản lí hành chính nhà nước “.

    Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính

    Khái niệm về quyết định hành chính

    Quyết định hành chính là một dạng quyết định pháp luật, là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực Nhà nước thông qua những hành vi của chủ thể được thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước, tiến hành theo trình tự dưới hình thức nhất định theo quy định pháp luật nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng những quy tắc đó để giải quyết công việc cụ thể trong đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính của Nhà nước.

    Đặc điểm chung của quyết định hành chính

    *Quyết định hành chính mang tính pháp lý : Quyết định hành chính do nhà nước ban hành đều có giá trị pháp lý, trước hết quyết định hành chính xuất hiện đã tác động ngay đến cơ chế điều chỉnh pháp luật, quyết định hành chính có thể đưa ra những biện pháp, hoặc những chủ trương lớn trong lĩnh vực quản lý hành chính. Ví dụ như : Quyết định số 38/CP, ngày 4/05/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của công dân và tổ chức. Mặt khác tính pháp lý của quyết định hành chính còn thể hiện ở việc làm xuất hiện quy phạm pháp luật thay thế hoạc hủy bỏ quy phạm pháp luật, hoặc làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể ( quyết định áp dụng pháp luật).

    Đặc điểm riêng của quyết định hành chính

    Ngoài những đặc điểm chung của một quyết định pháp luật, thì quyết định hành chính còn mang những đặc trưng riêng gắn liền với đặc thù của hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Đó là tính dưới luật, tính đa dạng, phong phú về nội dung và chủ thể ban hành, về nội dung mục đích và hình thức tồn tại của các loại quyết định hành chính: Thứ nhất, Tính dưới Luật của quyết định hành chính. Chủ thể có thẩm quyền khi ra quyết định hành chính là hoạt động quản lí hành chính nhà nước chủ yếu mà các chủ thể quản lí nhà nước nắm quyền hành pháp tiến hành. Hoạt động quản lí quản lí hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều hành, trong đó nội dung chấp hành xuất phát từ vị trí của cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước. Do vậy, khi chủ thể quản lí hành chính ra quyết định hành chính luôn mang tính dưới Luật sâu sắc, tức là khi chủ thể ban hành quyết định hành chính thì các quyết định phải dựa trên cơ sở là các văn bản Luật do cơ quan quyền lực ban hành. Nội dung và mục đích của quyết định hành chính là để thực hiện Luật, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật vào đời sống xã hội. Ví dụ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, do vậy, mọi văn bản do Chính phủ ban hành là văn bản dưới Luật. Nghị định do Chính phủ ban hành là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Luật. Hay là Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ – cơ quan chấp hành của Quốc hội, nên các quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành cũng là văn bản dưới Luật. Ngoài ra các Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cũng là văn bản bản ban hành dưới Luật. Thứ hai, Quyết định hành chính mang tính đa dạng, phong phú về chủ thể ban hành quyết định. Quyết định hành chính do chủ thể quản lí hành chính nhà nước ban hành. Chủ thể quản lí hành chính nhà nước là các cơ quan nhà nước mà chủ yếu và quan trọng nhất là cơ quan hành chính nhà nước, các cá nhân có quyền, cùng các cá nhân, tổ chức khi được nhà nước trao quyền quản lí hành chính nhà nước trong những trường hợp cụ thể. Những chủ thể này ở những cấp quản lí khác nhau, và ở những lĩnh vực không hoàn toàn giống nhau. Sự phân cấp quản lí từ trung ương đến địa phương, từ cơ quan hành chính có thẩm quyền chung, cho đến cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn. Ví dụ như : Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các sở. Do sự đa dạng về chủ thể, nên khi ban hành quyết định hành chính sẽ rất đa dạng, phong phú. Thứ ba, Tính đa dạng, phong phú về nội dung, mục đích của quyết định hành chính. Nội dung và mục đích của quyết định hành chính là rất đa dạng và phong phú, đặc điểm này xuất phát từ đăch điểm của hoạt động quản lía hành chính nhà nước. Đây là một hoạt động phức tạp, thường xuyên biến đổi không ngừng, lien quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ : Vấn đề lien quan đến kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, các vấn đề lien quan đến đối ngoại, lĩnh vực an ninh quốc phòng, hay các lĩnh vực mang tính chất nhạy cảm như, vấn đề dân số, dân tộc, tôn giáo… Do vậy, ở từng lĩnh vực, các quyết định hành chính được ban hành phải có những nội dung, mục đích phù hợp với từng vấn đề, lĩnh vực cụ thể riêng biệt, nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng các quy tắc đó giải quyết một công việc cụ thể trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội, và đây là lí do làm cho quyết định hành chính có sự đa dạng và phong phú về nội dung cũng như mục đích của quyết định hành chính. Thứ tư, Quyết định hành chính đa dạng, phong phú về hình thức tồn tại của quyết định hành chính. Mặc dù trong Luật khiếu nại, tố cáo, Luật tố tụng hành chính đưa ra khái niệm hình thức tồn tại của Quyết định hành chính tồn tại dưới hình thức là văn bản. Nhưng đây không phải là hình thức tồn tại duy nhất của quyết định hành chính, mà đây chỉ là hình thức tồn tại chủ yếu và quan trọng nhất trong quyết định hành chính. Bởi vì quyết định hành chính thường cụ thể hóa từ một văn bản Luật, nên nội dung phải thể hiện bằng văn bản. Ví dụ như: NGhị định do Chính phủ ban hành, các thông tư của Bộ, quyết định của Thủ tướng Chính Phủ… Ngoài hình thức văn bản thì quyết định hành chính còn tồn tại dưới dạng như, hành vi, lời nói hay các hành động cụ thể khác. Về hình thức văn bản, quyết định hành chính tồn tại dưới những tên gọi khác nhau như : Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư. Luật ban hành văn bản quy pham pháp luật năm 2008, và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 đã quy định rõ về vấn đề này.

    Vai trò của quyết định hành chính trong quản lý hành chính nhà nước

    Quyết định hành chính giữ vai trò quan trọng trong quản lí hành chính nhà nước, không có quyết định hành chính thì các quy phạm pháp luật không thể đi vào thực tế cuộc sống được, vai trò của quyết định hành chính được thể hiện qua những nội dung sau:

    Quyết định hành chính đề ra những chủ trương, chính sách lớn trong quản lý hành chính nhà nước.

    Quyết định hành chính có vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, thông qua quyết định hành chính cơ quan hành chính nhà nước đề ra những chủ trương, đường lối, nhiệm vụ, biện pháp lớn để quản lý hành chính nhà nước. Nhiều quyết định hành chính quan trọng của Chính phủ đẽ được đưa vào cuộc sống và có tác động tích cực. Ví dụ như : Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP về các biện pháp kiềm chế lạm phát, phát triển ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Nghị quyết 31/2010/NQ-CP do chính phủ ban hành về kế hoạch hành động của Chính phủ giai đoạn 2010-2015. Thực hiện kết luận số 14-KL/TW ngày 01/04/2009 của Bộ chính trị và kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết 47/NQ-TW ngày 22/03/2005 của Bộ chính trị ( Khóa IX) về “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình.

    Quyết định hành chính hướng dẫn thi hành luật, cụ thể hóa, chi tiết hóa Luật, thể chế đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng

    Là một bộ phận của quyết định pháp luật nói chung, quyết định hành chính chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lí của nhà nước, đó là phương tiện không thể thiếu của các cơ quan quản lí của nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lý. Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước ban hành để thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật, chuyển tải luật vào cuộc sống, góp phần tạo nên giá trị thực tiễn của luật. Ví dụ như Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật khoáng sản hay nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng là hai văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực môi trường. Hai văn bản này được ban hành theo hướng thông thường hơn, minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong lĩnh vực môi trường trong việc thực thi pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khoáng sản cũng như bảo vệ và phát triển rừng. Việc quy định này tạo cơ sỏ cho việc thực hiện Luật dễ dàng hơn làm cho các quy định của luật đi vào cuộc sống.

    Quyết định hành chính có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải chủ trương của Đảng vào quản lý hành chính nhà nước. Có thể nói, ở một mức đọ đáng kể, Pháp luật là sự thể chế hóa quan điểm, chính sách của nhà nước. Đường lối chính trị định hướng cho xây dựng pháp luật, định hướng nội dung pháp luật. Nếu pháp luật không kịp thời thể chế hóa quan điểm, chính sách của nhà nước thành các quy phạm pháp luật thì có thể làm chậm trễ quá trình thực hiện các nhiệm vụ, mục đích của nhà nước đặt ra trong quản lý nhà nước; quản lý xã hội. Với tính cách là công cụ điều chỉnh trực tiếp, chi tiết các quá trình xã hội, quyết định hành chính phải thể chế hóa quan điểm, chính sách của nhà nước, các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, một mặt đảm bảo sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt khác tích cực mở rộng dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền công dân.

    Thông thường, Đảng ít thường ít can thiệp vào những công việc cụ thể thuộc thẩm quyền của nhà nước nhưng về những vấn đề quan trọng và khi cấp ủy Đảng có thẩm quyền đã có ý kiến chỉ đạo thì các chủ thể quản lí hành chính nhà nước luôn cân nhắc, tôn trọng các ý kiến đó trong việc hình thành nội dung văn bản. Nhờ đó, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước được thực thi có hiệu quả, tạo ra sự biến đổi lớn lao và tích cực cho đời sống xã hội, đạt được thành tựu to lớn và quan trọng.

    Quyết định hành chính đặt ra các quy tắc xử sự để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong thực tiễn quản lí hành chính nhà nước

    Xã hội thường được ví như một cơ thể sống để nói đến sự vận động không ngừng của đời sống xã hội mà ở đó có rất nhiều mối quan hệ khác nhau. Để duy trì trật tự xã hội đòi hỏi phải có quyết định hành chính để điều chỉnh các mối quan hệ đó trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Nhìn một cách khái quá nhất có thể thấy số lượng các quyết định hành chính ngày càng nhiều và chiếm tỉ trọng rất lớn trong số các quyết định pháp luật. Các quyết định hành chính đã bao quát được một phạm vi rộng lớn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh. Quy trình xây dựng được thực hiện đúng luật và dân chủ hơn. Chất lượng các quyết định hành chính ngày càng được nâng cao. Đa số các quyết định hành chính được ban hành đáp ứng được các nhu cầu của thực tiễn quản lý, góp phần tích cực vào việc tăng cường pháp chế, ổn định, phát triển xã hội. Ví dụ như nghị định số 130/2005 ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lí đối với cơ quan nhà nước. Nghị định này đặt ra cho các cơ quan nhà nước chế đọ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lí và thông qua đó tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lí hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tố chức năng, nhiệm vụ được giao, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lí hành chính và nâng cao hiệu quả hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí quản lí hành chính, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức.

    Quyết định hành chính được dùng để giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống xã hội nhằm thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước( quyết định hành chính áp dụng pháp luật).

    Trân trọng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ra Quyết Định Là Gì? Những Kỹ Năng Ra Quyết Định Chiến Lược
  • Quyết Định Quản Trị Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Của Quyết Định Quản Trị
  • Qa Là Gì? Qc Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Qa Và Qc
  • Qa Là Gì? Công Việc Qa Là Làm Gì?
  • Qa Là Gì? Những Kỹ Năng Cần Thiết Để Trở Thành Nhân Viên Qa Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100