Khái Niệm Chính Sách Xã Hội, Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Hậu Quả Của Suy Giảm Chức Năng Tuyến Yên
  • Chức Năng Tuyến Yên Là Gì? Nó Nằm Ở Đâu?
  • Tuyến Yên: Vị Trí, Chức Năng, Các Bệnh Thường Gặp
  • Bài 50. Doanh Nghiệp Và Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • 1. Khái niệm chính sách xã hội

    1.1 Khái niệm chính sách xã hội trên thế giới

    Theo V.Z Ro-go-vin cho rằng: “Chính sách xã hội là lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thông về các quá trình xã hội, quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động, quản lý đến các quá trình đó.

    Có đầy đủ cơ sở để xem xét chính sách xã hội như là sự hoà quyện của khoa học thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận động thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy.

    Còn theo Giáo sư G.Winkler, nguyên viện trưởng Viện xã hội học và chính sách xã hội (thuộc Cộng hoà dân chủ Đức cũ) cho rằng: “Chính sách xã hội là tổng hoà các biện pháp và phương pháp của Đảng, của giai cấp công nhân, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các liên hợp công đoàn, của các đảng phải và các tổ chức chính trị khác, nhằm tiếp tục xây dựng quan hệ xã hội… phục vụ cho những yêu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tri thức và những người lao động khác”.

    Tạp chí Xã hội học và Chính sách xã hội, số 2, 1982, tr 1-21

    Theo quan điểm của G.Winler thì chính sách xã hội đề cập đến sự phát triển các quan hệ xã hội với tư cách là quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội trong quá trình xích lại gần nhau. Chính sách xã hội, chính sách kinh tế, chính sách văn hoá, chính sách dân tộc không tách rời nhau.

    Theo quan điểm của giáo sư Anthoay Giddens nhà xã hội học Mỹ thì chính sách xã hội là “sự nghiên cứu có hiệu quả về xã hội học, khoa học chính trị và khoa học kinh tế, được chờ đợi nhằm biến đổi hoạch định chính sách trong chính phủ và do đó dẫn đến tiến bộ xã hội và thịnh vượng kinh tế. Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách được xem như một công cụ, một phương tiện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu quả”.

    1.2 Khái niệm chính sách xã hội tại Việt Nam

    Trong “Lý thuyết xã hội và xã hội học hiện đại”, Nxb. KHXH, HN, 1980

    Như vậy có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện pháp của Nhà nước, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình độ phát triển đất nước về kinh tế, văn hoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.

    Ở nước ta hiện nay chính sách xã hội thường được nhìn nhận ở hai cấp độ. Thứ nhất, theo nghĩa hẹp là chính sách xã hội cho những nhóm lao động xã hội gọi là “đối tượng chính sách” và “đối tượng xã hội”. Thứ hai, theo nghĩa rộng bao hàm cả chính sách giai cấp, chính sách đối với các tầng lớp, những nhóm xã hội lớn như thanh niên, trí thức, chính sách dân tộc, tôn giáo…

    Vậy khái niệm chính sách xã hội là gì? “Chính sách xã hội là sự tác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đằng và cổng bằng xã hội trong một bổi cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định.

    2. Chức năng của chính sách xã hội

    Chính sách xã hội với những nhiệm vụ khám phá ra các quy luật, các điều kiện và mối quan hệ qua lại giữa các quan hệ xã hội, quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế giữa nhu cầu và lợi ích của những nhóm xã hội trong một cơ cấu xã hội cụ thể.

    Từ đó chính sách xã hội có thể phát hiện ra tính quy luật của xã hội, tính quy luật chính trị là sự vận động của hệ thông chính trị trong xã hội. Tính quy luật của đời sống tinh thần xã hội, nó phản ánh đời sông văn hoá và các quan hệ văn hoá xã hội khác.

    Tất cả các tính quy luật này đều phản ánh nội dung của chính sách và đóng vai trò quy định nội dung, phương hướng của chính sách xã hội, nên việc nhận thức nó là điều hết sức quan trọng của chính sách xã hội.

    Một chính sách xã hội khoa học gắn liền với thực tiễn xã hội sẽ giúp cho các nhà quản lý, lãnh đạo phân tích, dự báo những vấn đề xã hội trong một tương lai gần, hoặc xa, làm cơ sở để đề xuất một chính sách mơi phù hợp.

    Chính sách xã hội phản ánh đúng thực tiễn, phù hợp với thực tiễn và xâm nhập vào thực tiễn một các thích hợp, nó sẽ làm cho xã hội luôn ở trạng thái ển định, góp phần hoàn chỉnh cơ cấu xã hội, đẩy mạnh tính tích cực của các thành viên trong xã hội, sử dụng tốt tiềm năng lao động của đất nước.

    Sự hoàn thiện chính sách xã hội phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nhưng chính sách xã hội không hoàn toàn phụ thuộc một cách máy móc mà có tính độc lập tương đôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • Xoá Phông Là Gì? Cách Chụp Xoá Phông Trên Điện Thoại
  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Và Chức Năng Của Sound Card Xox Ks108 Chuyên Nghiệp
  • Cpu Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Cpu
  • Chính Sách Xã Hội Là Gì? Tại Sao Xã Hội Cần Chính Sách Xã Hội?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Công Và Khoa Học Chính Sách
  • Bàn Về Đọc Sách: Thực Chất Sách Là Gì? Yêu Sách Như Thế Nào Mới Đúng?
  • Công Ty Xuất Bản Sách Là Gì? Và Làm Thế Nào Để Bạn Có Thể Để Tìm Kiếm Một Công Ty Xuất Bản Sách Chuyên Nghiệp?
  • 50+ Mẫu Thiết Kế Bìa Sách Đẹp
  • Tại Sao Bìa Sách Lại Đóng Vai Trò Quan Trọng?
  • Việc làm Công chức – Viên chức

    1. Khái niệm chính sách xã hội là gì “chuẩn nhất”

    Chính sách xã hội là một dạng chính sách được nhà nước ban hành nhằm cung cấp cho người dân những dịch vụ xã hội tốt nhất và các chính sách xã hội nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn của xã hội. Chính sách xã hội là biện pháp được đưa ra bởi đảng và nhà nước nhằm hỗ trợ cho các đối tượng chính sách của xã hội, và phục vụ cho lợi ích chung của xã hội.

    Bạn có thể định nghĩa chính sách xã hội là gì không? Chính sách xã hội được hiểu đơn giản nó là tổng hợp của các phương thức, các biện pháp được các tổ chức chính trị, Đảng và nhà nước đưa ra với mục đích nhằm thỏa mãn cho nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn bộ người dân và các chính sách đưa ra phải phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước, sử phát triển văn hóa và xã hội của đất nước. Thông qua việc đưa ra các pháp luật hay các quy định do nhà nước ban hành để người dân phải thực hiện theo những hướng chính sách đó của nhà nước giúp đất nước phát triển với hướng đi đúng đắn.

    Hiện này chính sách ở nước ta có 2 cấp độ khác nhau đang hiện hành đó là:

    + Chính sách xã hội được bạn hành cho những người lao động trong xã hội và nhóm đối tượng này thường được gọi là đối tượng chính sách và đối tượng xã hội.

    + Chính sách về giai cấp là chính sách cho các tầng lớp trong xã hội hiện nay, với các nhóm xã hội cụ thể như: Tầng lớp thanh niên, tang lớp tri thức, chính sách về dân tộc, chính sách tôn giáo.

    Chính sách xã hội là các chính sách được ban hành bởi nhà nước nhằm ổn định xã hội thông qua những tác động cụ thể đến các đối tượng khác nhau và được phân theo nhóm để hưởng các chính sách xã hội mà nhà nước ban hành.

    2. Chức năng khi đưa ra các chính sách xã hội là gì?

    Chức năng của chính sách xã hội cần bao gồm những chức năng sau:

    + Ổn định xã hội, thông qua các chính sách khác nhau cho các tầng lớp để giám bới hoặc rút ngắn khoảng cách giàu nghèo. Đem đến cho người dân những điều kiện để cùng được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản của một con người được hưởng.

    + Đảm bảo sự an sinh xã hội khi các chính sách được bạn hành cho các nhóm đối tượng cụ thể. Thông qua việc xác định các nhóm đối tượng để đưa ra được chính sách xã hội phù hợp với nhóm đối tượng đó. Đảm bảo tất cả người dân có một cuộc sống tốt đẹp hơn trong sự phát triển chung của xã hội.

    + Giúp người dân có được được những ưu đãi với những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ nhanh chóng và có điều kiện để hoàn nhập và được hưởng các dịch vụ xã hội tốt hơn cho chính họ và gia đình họ

    + Thông qua việc nghiên cứu về chính sách xã hội giúp dực báo về tình hình xã hội cho các cấp quản lý và lãnh đạo, từ đó đưa ra được các chính sách thiết thực nhất với người dân, và hỗ trợ tốt nhất giúp an ninh xã hội.

    + Chính sách xã hội của một quốc gia càng hoàn thiện càng đánh giá được rằng quốc gia đó có sự phát triển đồng đều về kinh tế và xã hội.

    + Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững xã hội qua từng giai đoạn cụ thể phát triển của đất nước. Chính sách xã hội đi song song với chính sách kinh tế để hỗ trợ tốt nhất cho con người và phát triển đồng bộ đất nước.

    * Các vấn đề về chính sách xã hội cần quan tâm là gì?

    Bạn có biết vấn đề chính sách xã hội là gì và vấn đề nào cần được quan tâm và đưa ra các chính sách trong xã hội hiện nay? Vấn đề trong chính sách xã hội cần được quan tâm và đề cao. Thông qua việc đưa ra các vấn đề trong chính sách xã hội sẽ biết được là đối tượng nào cần được tác động và đối tượng nào cần có sự hỗ trợ của chính sách xã hội, và xã hội đang gặp vấn đề gì mà cần có sự giải quyết bởi các chính sách xã hội để đưa đất nước phát triển. Các vấn đề mà chính sách xã hội cần hướng đến hiện nay là:

    + Các chính sách với người có công và các đối tượng khó khăn trong xã hội

    + Đưa ra được các chính sách xã hội về an sinh xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước.

    + Nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của người dân trong xã hội, đặc biệt là người có công với đất nước.

    + Đa dạng hệ thống an sinh xã hội để thực hiện chức năng toàn diện nhất và đa dạng nhất. Đảm bảo sự phát triển đất nước bền vững của một quốc gia và sự công bằng của các tầng lớp trong xã hội.

    + Tạo điều kiện cho người dân có khả năng tự nâng cao khả năng tự đảm bảo an sinh xã hội cho mình và cho xã hội.

    3. Những đối tượng được hưởng chính sách xã hội

    Đối tượng chính sách là gì? Đối tượng chính sách bạn có thể hiểu đơn giản là các đối tượng thường thuộc nhóm những người lao động và có hoàn cảnh khó khăn có thể do kinh tế hoặc do các điều kiện tự nhiên bên ngoài, hoặc khó khăn từ chính bản thân họ. Những đối tượng này được hưởng chính sách xã hội từ nhà nước nằm hỗ trợ họ và giúp họ có được quyền lợi bình đẳng với các giai cấp xã hội khác trong xã hội, tăng khả năng tiếp cận với các thông tin, và dịch vụ xã hội tốt hơn.

    Hiện nay ở nước ta có các đối tượng chính sách cụ thể như sau:

    + Người dân tộc thiểu số tại nước ta

    + Công dân ưu tú trong sản xuất trực tiếp với 5 năm lao động và nhận được liên tục và trong đó cần có 2 năm là chiến sĩ thi đưa được tỉnh, thành phố, bộ công nhận và có cấp bằng khen.

    + Thương binh, bệnh binh, quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học, hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ từ 12 tháng trở lên và hiện đã xuất ngũ tại khu vực 1.

    + Con thương binh, liệt sĩ, con bệnh binh, con bà mẹ Việt Nam anh hùng, con của thương binh mất sức lao động trên 81%, con của anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động.

    + Quân nhân, công an nhân dân được cử đi học hoặc quan nhân, công an đã hoàn thành nghĩa vụ từ trên 24 tháng và hiện nay đã xuất ngũ.

    Nhiều người sẽ thắc mắc và nghe rất nhiều đến hộ chinh sách. Vậy hộ chính sách xã hội là gì bạn có thể định nghĩa không? Hộ chính sách là nói đến hộ gia đình thuộc diện được hưởng các chính sách xã hội hiện nay như:

    + Hộ gia đình là người dân tộc thiểu số

    + Hộ gia đình có người là thương binh bệnh binh hay có công với cách mạng

    + Hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam do chiến tranh để lại

    Còn nhiều các họ gia đình trong xã hội thuộc vào diện được hưởng các chính sách xã hội của nhà nước nhằm giúp đỡ và hỗ trợ hộ phần nào đó về an sinh xã hội và có cơ hội để được tiếp cận thông tin và dịch vụ tốt hơn cho họ.

    4. Một số các chính sách xã hội hiện nay tại Việt Nam

    Các chính sách xã hội hiện nay đang được thực hiện ở nước ta bao gồm những chính sách sách sau:

    + Chính sách với người có công, đưa ra các chính sách ưu đãi và phù hợp với họ nhằm giúp họ tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, đào tạo, và tạo điều kiện để phát triển kinh tế và việc làm cho họ. Qua đó giúp họ ổn định cuộc sống và phát triển hơn về kinh tế của hộ gia đình.

    + Cách chính sách về an ninh xã hội như: Các chính sách về việc làm, chính sách về thu nhập, chính sách giảm thiệu nghèo trên cả nước, chính sách về bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chính sách về các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân (đảm bảo giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nước sách, thông tin).

    Ngân hàng chính sách xã hội hiện nay ở nước ta có những chương trình chính sách sau:

    + Cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

    + Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, nhà ở kiên cố

    + Cho vay với hộ cận nghèo để phát triển kinh tế

    + Hỗ trợ cho vay tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm

    + Cho vay để hỗ trợ công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm với người lao động bị thu hồi đất

    + Cho vay để cải tạo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

    Còn rất nhiều các chương trình cho vay để hỗ trợ người dân trong việc phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống của mình.

    Qua những chia sẻ trên về “chính sách xã hội là gì?”, hy vọng qua những chia sẻ này sẽ giúp bạn hiểu và có thêm được phần nào đó kiến thức cho bản thân về chính sách xã hội hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Chính Sách
  • Cơm Hộp Bento Là Gì, Cách Làm Cơm Hộp Bento Nhật Bản, Cơm Hộp Tình Yêu Với 60+ Mẫu Cơm Đẹp Đơn Giản
  • Bento Là Gì? Các Mẫu Cơm Hộp Bento Nhật Bản Đẹp Mắt
  • Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8 Hai Tập
  • Sách Tham Khảo Ngữ Văn Lớp 8 Chọn Lọc Hay &
  • Khái Niệm Và Những Chính Sách An Sinh Xã Hội Ngày Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận An Sinh Xã Hội: Chính Sách Đối Với Người Khuyết Tật
  • Chính Sách Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Bài 13: Chính Sách Giáo Dục
  • Chính Sách Khoa Học Và Công Nghệ (Science And Technology Policy) Là Gì?
  • Lý Luận Và Thực Tiễn Nâng Cao Năng Lực Hoạch Định Chính Sách Khoa Học Và Công Nghệ
  • 1. Tổng quan về an sinh xã hội

    An sinh xã hội là một loạt các biện pháp cộng đồng, chương trình mà xã hội thực hiện để bảo vệ các thành viên của mình nhằm chống lại các yếu tố xấu đến từ kinh tế, chính trị, xã hội,…làm chấm dứt hay giảm sút đáng kể về thu nhập do các sự kiện như:

    * Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già,…

    * Những dịch vụ về chăm sóc y tế và những quy định về hỗ trợ đối với gia đình có con nhỏ nhưng có hoàn cảnh khó khăn.

    * Nói một cách dễ hiểu thì an sinh xã hội là phạm vi rất rộng lớn và tác động đến nhiều người. Nó có thể ảnh hướng đến một con người từ khi chưa sinh ra đến khi người đó mất. Việc có một hệ thống an sinh xã hội tốt thì sẽ làm cho cuộc sống của con người trong xã hội đó phát triển theo chiều hướng đi lên và ngược lại.

    * Hệ thống an sinh xã hội của một nước có thể ảnh hưởng đến an sinh khu vực thậm chí là toàn thế giới.

    An sinh xã hội bao gồm các yếu tố sau:

    * Chăm sóc về y tế: là việc cung cấp những vật chất y tế cho những người được xã hội bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc của y tế có tính phòng bệnh hoặc chữa bệnh. Chẳng hạn như những trường hợp thai nghén, sinh đẻ, tai nạn lao động hoặc tình trạng đau ốm vì bất kỳ nguyên nhân nào thì đều nhận được sự bảo vệ của xã hội.

    * Trợ cấp ốm đau: là những trợ cấp cung cấp cho những người được xã hội bảo vệ do mất khả năng lao động do ốm đau, tai nạn gây ra và dẫn đến gián đoạn, giảm sút thu nhập.

    * Trợ cấp thất nghiệp: trợ cấp này dành cho những người được bảo vệ sẽ nhận một khoản trợ cấp mất việc làm không tự nguyện. ‘Ví dụ: công ty bị phá sản làm cho nhân viên bị mất việc làm đột ngột’. Trường hợp này bao gồm tình trạng gián đoạn khoản thu nhập và xảy ra do không thể có được một công việc phù hợp trong khi họ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc.

    * Trợ cấp tuổi già: là trợ cấp cho những công nhân viên chức phải nghỉ làm vì đã đến tuổi nghỉ hưu. Trợ cấp này giúp cho họ có một khoản tiền để trang trải cuộc sống về già.

    * Trợ cấp thai sản: là trợ cấp cho những người phụ nữ đang đi làm nhưng phải nghỉ vì đến giai đoạn sinh để hoặc trong thời gian mang thai, thai nghén,..là gián đoạn, giảm sút thu nhập.

    3. Thực trạng chế độ an sinh xã hội ở Việt Nam ngày nay

    Ở Việt Nam, thực hiện chế độ an sinh xã hội đang được Đảng và Chính phủ coi là nhiệm vụ thường xuyên và cấp bách của toàn xã hội.

    Những mục tiêu cụ thể mà Việt Nam hướng đến cho đến nay là:

    * Hướng tới người dân có việc làm ổn định, bền vững

    * Tăng cường hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang cần nhà nước giúp đỡ.

    * Bằng các phương tiện truyền thông làm cho người dân tham gia và thực hiện tốt các chính sách về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp.

    * Hướng tới một đất nước giàu mạnh bền vững với số lượng hộ nghèo giảm xuống nhiều nhất.

    Chúng ta đang hướng tới đến năm 2022 là sẽ đạt được những mục tiêu đó nhằm nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, hạnh phúc, công bằng, dân chủ, văn minh cho người dân Việt Nam.

    Kết luận: toàn bộ nội dung trên là chúng tôi đang đưa đến cho các bạn cái nhìn rõ nhất về tình trạng an sinh xã hội hiện nay của đất nước ta. Rất mong qua bài viết này sẽ cung cấp cho các bạn biết về những vấn đề an sinh xã hội nóng bỏng mà nước ta đang hướng tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Thuật Ngữ “an Sinh Xã Hội”
  • Chính Sách An Sinh Xã Hội Ở Việt Nam
  • Định Nghĩa Về An Sinh Xã Hội, Chế Độ Chính Sách Và Tư Vấn Pháp Luật
  • Đề Tài: Chính Sách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chdcnd Lào, Hay
  • Chính Sách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Của Tỉnh Hà Nam
  • Chính Sách Xã Hội Là Gì? Nhóm Đối Tượng Hưởng Chính Sách Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách (Policy) Là Gì? Vai Trò Của Chính Sách Trong Quản Trị Chiến Lược
  • Chính Sách Và Mối Quan Hệ Giữa Chính Sách Với Pháp Luật Trong Hoạt Động Lập Pháp
  • Tự Xuất Bản Sách Là Gì? Và Tại Sao Bạn Cần Tự Xuất Bản Sách?
  • “tìm Hiểu” Bookmark Là Gì? Cách Lưu Bookmark Trên Chrome, Firefox, Cốc Cốc…
  • Hướng Dẫn Cách Tự Thiết Kế Bìa Sách Đẹp Và Đơn Giản
  • Chính sách xã hội là gì?

    Đối với định nghĩa về ” chính sách xã hội “, bạn có thể hiểu một cách đơn giản nó chính là một dạng chính sách được phía nhà nước. Nó được thực hiện nhằm cung cấp cho người dân những dịch vụ xã hội một cách tốt nhất và hướng đến việc hỗ trợ cho nhiều đối tượng có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội hiện nay.

    Có thể coi chính sách này là phương pháp được đưa ra bởi đảng và nhà nước nhằm hỗ trợ phần nào những đối tượng thuộc diện chính sách của xã hội, cũng như phục vụ cho lợi ích chung trong xã hội.

    Chính sách này hoạt động dựa theo việc tổng hợp những phương thức, những biện pháp được các ban ngành, các tổ chức chính trị, Đảng và nhà nước đề ra. Mục đích nhằm thỏa mãn cho những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của toàn bộ nhân dân, và các chính sách được đem ra phải thực sự thích hợp với sự phát triển chung của kinh tế nước nhà, sự phát triển của nền văn hóa cũng như xã hội quốc gia.

    Các loại chính sách xã hội

    Hiện tại ở nước ta đang có 2 hướng chính sách về xã hội chính là:

    • Nhóm chính sách xã hội được đưa ra cho những người lao động trong xã hội và những đối tượng ấy vẫn hay được gọi là đối tượng xã hội và đối tượng chính sách.
    • Chính sách đối với giai cấp xã hội là những chính sách dành cho nhiều tầng lớp trong xã hội hiện tại, với những nhóm xã hội điển hình như: tầng lớp tri thức, tầng lớp thanh thiếu niên, chính sách về tôn giáo, chính sách dân tộc.

    Có thể xem đây là những chính sách được đưa ra bởi nhà nước, với mục đích ổn định an sinh xã hội thông qua những hành động động cụ thể. Nhiều nhóm đối tượng khác nhau sẽ được phân loại rõ ràng để hưởng những chính sách về xã hội do chính nhà nước áp dụng.

    ► THEO DÕI NGAY: Những thông tin việc làm HOT nhất hiện nay nhằm giúp bạn có công việc tốt để bạn hạnh phúc hơn với cuộc sống của mình.

    Nhóm đối tượng được hưởng chính sách xã hội

    Định nghĩa đối tượng chính sách

    Về định nghĩa ” đối tượng chính sách” bạn có thể hiểu một cách ngắn gọn chính là những đối tượng thuộc vào diện những người lao động nhưng vì hoàn cảnh, điều kiện sống khó khăn có thể từ kinh tế hoặc do những tác nhân tự nhiên chủ quan, hoặc hoàn cảnh từ chính bản thân họ.

    Nhóm đối tượng này sẽ được hưởng các chính sách về xã hội do chính phủ hỗ trợ với mục đích giúp họ được sống với quyền lợi bình đẳng. Những tầng lớp khác trong xã hội, tăng điều kiện được tiếp cận với những thông tin, và dịch vụ xã hội được cải tiến.

    Đối tượng cụ thể

    • Nhóm đối tượng thuộc diện người dân tộc thiểu số tại Việt Nam
    • Những công dân ưu tú điển hình, trực tiếp tham gia vào những hoạt động sản xuất với trên 5 năm làm việc liên tục, và trong đó sẽ cần phải có 02 năm đạt danh hiệu “chiến sĩ thi đua” được phía tỉnh, thành phố, nơi địa phương cư trú công nhận và trao tặng bằng khen.
    • Trường hợp là những thương bệnh binh, công an nhân dân, quân nhân, tại ngũ được đơn vị cử đi học, hoặc đã thực hiện xong nghĩa vụ từ 12 tháng trở lên và hiện tại đã xuất ngũ ở khu vực 1.
    • Nhóm đối tượng là con của thương bệnh binh, liệt sĩ, con của bà mẹ Việt Nam anh hùng, con thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên, con anh hùng lao động, con anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
    • Đối tượng là công an nhân dân hoặc quân nhân, được đơn vị cử đi học tập hoặc quân nhân, công an đã thực hiện xong nghĩa vụ trên 24 tháng trở lên và hiện tại đã xuất ngũ.

    Các hộ được hưởng quyền lợi, chính sách nhà nước

    Hiện nay còn khá nhiều những hộ gia đình thuộc vào diện được hưởng những chính sáchcủa nhà nước, cần phải được giúp đỡ và hỗ trợ phần nào đó những khó khăn trong cuộc sống để họ có thể ổn định an sinh xã hội, cũng như có điều kiện được tiếp cận với những thông tin và dịch vụ tốt hơn trong cuộc sống.

    • Hộ nghèo
    • Gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
    • Gia đình thuộc hộ dân tộc thiểu số
    • Hộ gia đình có người là thương bệnh binh và có công với cách mạng
    • Những hộ gia đình bị ảnh hưởng từ chất độc màu da cam do hậu quả chiến tranh để lại

    Cập nhật các ngành nghề đang được quan tâm nhất hiện nay để tìm kiếm công việc tốt cho bản thân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trích Dẫn Sách “tôi Là Bento” Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Con Thích Nhất Bento Mẹ Làm
  • 8 Cuốn Sách Đắt Nhất Hành Tinh Mà Dù Có Nhiều Tiền Thì Chưa Chắc Bạn Đã Mua Được
  • Top 5 Cuốn Sách Cổ Có Giá Đắt Nhất Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Quyển Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8 Hay Nhất
  • Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn

    --- Bài mới hơn ---

  • Thể Thức Văn Bản Của Đảng Năm 2022
  • Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Của Đảng
  • Hd Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Của Đảng Vanbandang Ppt
  • Chuyên Đề Văn Bản Và Soạn Thảo Văn Bản
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng
  • Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Khái Niệm Kiến Thức Bản Địa, 5 Khái Niệm Cơ Bản Của Kinh Tế Học, Khái Niệm Kinh Tế, Khái Niệm Kinh Tế Số, Khái Niệm Kinh Doanh, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường, Khái Niệm An Ninh Kinh Tế, Khái Niệm Rủi Ro Kinh Doanh, Khái Niệm Về Kinh Doanh, Khái Niệm Luật Kinh Tế, Sách Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế, Khái Niệm Thông Tin Kinh Doanh, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Khái Niệm Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Bài Diễn Văn Khai Mạc Bài Diễn Văn Khai Mạc Bầu Cử Trưởn Bài Diễn Văn Khai Mạc Bầu Cử Trưởng Thông T, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đa Dạng Sinh Học, Khái Niệm Thế Nào Là Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Khí Hậu, Khái Niệm Nào Đúng Cho Máy Thu Hình, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đúng Về Anken, Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Bản Khai Lý Lịch Làm Nghề Kinh Doanh Có Điều Kiện, 3 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Lớp 8, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Sbt, 1 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Bình Đẳng Giới, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Sgk, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Với Khối Chóp, Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Về Quần Thể Sinh Vật, Khái Niệm Nào Dưới Đây Đúng Khi Nói Về Người Có Đạo Đức, Khái Niệm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khái Niệm Nào Về Môi Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Nhất Về Este, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Violet, Toán 8 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Soạn Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Vnen, Toán 8 Bài Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Vnen, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Violet, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Toán 8 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Thời Tiết, Khái Niệm Nào Về Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Nào Sau Đây Dùng Để Chỉ Hình Thức Tồn Tại Của Vật Chất Xét Về , Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Violet, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Toán Hình 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Mẫu Bản Khai Lý Lịch Của Người Làm Ngành Nghề Kinh Doanh Có Điều Kiện Về Antt, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Tải Những Nội Dung Cốt Lõi Trong Dự Thảo Các Văn Kiện Đại Hội Đảng Xiii Của Đảng, Bản Khai Lý Lịch Của Người Làm Ngành Nghề Đầu Tư Kinh Doanh Có Điều Kiện Về An Ninh Trật Tự, Khái Niệm Nào Của Văn Phạm Được Sử Dụng Trong Chương Trình Dịch, Bản Đăng Ký Sáng Kiến Kinh Nghiệm, Đơn Đăng Ký Sáng Kiến Kinh Nghiệm, Đơn Đăng Ký Đề Tài Sáng Kiến Kinh Nghiệm, Bản Mô Tả Nội Dung Sáng Kiến Kinh Nghiệm, Mẫu Tóm Tắt Nội Dung Sáng Kiến Kinh Nghiệm, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Thành Lập Chi Bộ Đảng, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Công Tác Dân Vận Của Đảng, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Văn Kiện Đại Hội 12 Về Xây Dựng Đảng, Nội Dung Văn Kiện Đại Hội Đảng Lần Thứ 5, Hướng Dẫn Đăng Ký Sử Dụng Tài Khoản Đăng Ký Kinh Doanh, Nội Dung Cơ Bản Và Cốt Lõi Trong Dự Thảo Các Văn Kiện Tại Đại Hội 13 Của Đảng,

    Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Khái Niệm Kiến Thức Bản Địa, 5 Khái Niệm Cơ Bản Của Kinh Tế Học, Khái Niệm Kinh Tế, Khái Niệm Kinh Tế Số, Khái Niệm Kinh Doanh, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường, Khái Niệm An Ninh Kinh Tế, Khái Niệm Rủi Ro Kinh Doanh, Khái Niệm Về Kinh Doanh, Khái Niệm Luật Kinh Tế, Sách Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế, Khái Niệm Thông Tin Kinh Doanh, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Khái Niệm Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Bài Diễn Văn Khai Mạc Bài Diễn Văn Khai Mạc Bầu Cử Trưởn Bài Diễn Văn Khai Mạc Bầu Cử Trưởng Thông T, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đa Dạng Sinh Học, Khái Niệm Thế Nào Là Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Khí Hậu, Khái Niệm Nào Đúng Cho Máy Thu Hình, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đúng Về Anken, Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Bản Khai Lý Lịch Làm Nghề Kinh Doanh Có Điều Kiện, 3 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Lớp 8, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Sbt, 1 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Bình Đẳng Giới, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Sgk, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Với Khối Chóp, Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Về Quần Thể Sinh Vật, Khái Niệm Nào Dưới Đây Đúng Khi Nói Về Người Có Đạo Đức, Khái Niệm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khái Niệm Nào Về Môi Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Loại Văn Bản Của Đảng
  • Cơ Sở Dữ Liệu Quốc Gia Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Kiến Nghị Hoàn Thiện Một Số Quy Định Của Luật Công Chứng
  • Công Chứng Là Gì? Phân Biệt Giữa Công Chứng Và Chứng Thực?
  • Khái Niệm Di Chúc Bằng Văn Bản Là Gì ?
  • Chính Sách Văn Hóa Và Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Văn Hoá (Cultural Policy) Là Gì? Nguyên Tắc
  • Chính Sách Xã Hội Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới
  • Chính Sách Đối Ngoại (Foreign Policy)
  • Khái Niệm Về Chính Sách Đối Ngoại Của Liên Bang Nga
  • Chính Sách Đối Ngoại Của Nga Với Những Khái Niệm Mới
  • Quy định chế độ kinh tế, các chính sách văn hóa, xã hội, đối ngoại an ninh quốc phòng trong Hiến pháp là những quy định riêng có của các Hiến pháp xã hội chủ nghĩa trong đó có cả của Hiến pháp Việt Nam hiện nay.

    1. Chính sách văn hóa và chính sách xã hội trong công cuộc phát triển của quốc gia

    Mọi chế độ nhà nước của dân, do dân và vì dân đều có mục đích làm cho cuộc sống của nhân dân không những phát triển về mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần, còn cả sự ổn định trong phát triển. Phát triển bền vững, an toàn, vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái hợp lý luôn luôn là mục tiêu của mọi hệ thống chính trị, tức là của mọi hệ thống nhà nước. Sự phát triển không chỉ được xem xét dưới góc độ vật chất đơn thuần, mà nó còn cả một đòi hỏi cấu trúc vật chất hợp lý, và cả mặt tinh thần của xã hội mà con người tạo ra. Muốn phát triển bền vững, các chế độ chính trị, thông qua các chủ trương, đường lối nhà nước phải tính đến yếu tố giữ gìn bản sắc dân tộc. Tức là phải tính đến vấn đề văn hóa:

    “Phát triển và văn hóa, văn hóa và phát triển là hai mặt của cùng một mục tiêu tồn tại và vươn tới của mọi con người, mọi gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia và nhân loại. Chính văn hóa là cái dùng để chế định cho sự phát triển bền vững, an toàn, hướng tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt, cái hợp lý”.

    Văn hóa theo cách hiểu thông thường là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình hoạt động xã hội. Văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất như các công trình kiến trúc, hệ thống công sở, công viên tượng đài, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, hệ thống kết cấu hạ tầng… và cả văn hóa tinh thần: tư tưởng, đạo đức, lối sống, trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật công nghệ.

    Văn hóa là chất keo giúp cho xã hội được gắn kết trong mỗi một quốc gia, nhờ đó mà quốc gia có khả năng bảo tồn và phát triển trước những thử thách của thời gian. Nhờ có văn hóa mà con người có thể chống trả thắng lợi trước mọi âm mưu xâm lược và nô dịch của ngoại bang, tiếp nhạn và chuyển hóa được văn hóa của các dân tộc khác góp phần phát triển quốc gia của mình.

    Văn hóa đóng một vai trò vừa là nền tảng, vừa mục tiêu và vừa là động lực điều kiện cho sự phát triển kinh tế – xã hội đối với mỗi quốc gia. “Văn hóa” được UNESCO định nghĩa như sau:

    “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính , có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”.

    Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng rất phổ biến trên diễn dàn khoa học và chính trị thời sự hiện nay. Đó là những phương thức, biện pháp có thể thành những nguyên tắc hành động được các chủ thể đưa ra nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra trên thực tế.

    Hiện nay, mọi nhà nước muốn phát triển đều phải tuân thủ theo nền kinh tế thị trường. Mặt tích cực của kinh tế thị trường là khuyến khích các năng suất, tính hiệu quả tính cơ động và đa dạng hóa các sản phẩm, phát huy một cách tối đa sự năng động sáng tạo của các cá nhân, tận dụng nguồn lực đẻ ra sức phát triển kinh tế, tăng năng xuất lao động. Nhưng mặt trái của thị trường cũng rất là nặng nề, thị trường có xu hướng biến tất cả mọi thứ thành hàng hóa vì động cơ lợi nhuận.

    Để khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị trường và cũng nhằm mục đích cho sự phát triển một bền vững, các nhà nước của thế giới đương đại thường dùng 2 chính sách cơ bản: Đó là chính sách văn hóa và chính sách xã hội. Đánh giá tầm quan trọng của văn hóa trong sự phát triển của quốc gia, Phan Ngọc là một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, trong tác phẩm của mình viết:

    “…muốn phát triển kinh tế ở một nước, thì điều quyết định không phải là tài nguyên giàu có, địa lý thuận lợi, dân số đông hay ít mà nơi ấy phải có sẵn một gia tài văn hóa tốt đẹp cho phép nhân dân tiếp thu được những thành tựu của văn hóa hậu công nghiệp. Nếu không chỉ là bán tài nguyên tạo sự chia cắt giữa một thiểu số giàu có và nhân dân nghèo khổ, rồi mua lấy những tệ nạn của nền văn hóa hiện đại: ma túy, mại dâm, siđa, tội ác, nạn chạy theo đồng tiền bán rẻ mọi giá trị của con người. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà những con rồng Châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc đều dựa trên Nho giáo. Sự phát triển kinh tế phải xây dựng trên cơ sở văn hóa mới ổn định và vững chắc”.

    Giữa doanh nghiệp và môi trường có nhưng mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp cần, và tiêu thụ những hàng hóa và dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Các giá trị chung của xã hội như tập tục truyền thống, lối sống của nhân dân, các hệ tương tưởng tôn giáo và cơ cấu dan số, thu nhập của dân chúng đều có tác động nhiều mặt đến hoạt động kinh doanh. Tạo ra môi trường văn hóa ổn định, thuận lợi cho hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường là nhà nước đã thực hiện vai trò kinh tế của mình đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.

    Thực chất của việc tạo ra môi trường văn hóa – xã hội thuận lợi cho hoạt động của các chủ thể kinh tế là việc nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội theo hướng tích cực cho phép các tổ chức kinh doanh hoạt động có hiệu quả hơn. Những vấn đề văn hóa – xã hội đòi hỏi nhà nước cần phải giải quyết để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế gồm:

    -Vấn đề xóa đói giảm nghèo;

    -Vấn đề cân bằng xã hội;

    -Vấn đề xóa bỏ những tệ nạn xã hội;

    -Vấn đề đạo đức kinh doanh;

    -Vấn đề bảo vệ môi trường, y tế và giáo dục.

    Những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có vai trò quản lý kinh tế của nhà nước và phải phát triển kinh tế kết hợp với gìn giữ văn hóa của dân tộc và phát triển chính sách xã hội.

    Vai trò của văn hóa ngày càng được coi trọng bậc nhất đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Phát triển văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Khác với quan niệm trước đây chỉ coi văn hóa là kết quả của kinh tế, không đóng góp trực tiếp vào sự tăng trưởng kinh tế. Ngày nay sự phát triển không chỉ đơn thuần do các nhân tố kinh tế quyết định, mà còn có nhiều nhân tố phi kinh tế. Bởi vì phát triển là do con người quyết định. Mà đã là con người thì bao giờ cũng gắn với một môi trường văn hóa nhất định.

    Nguồn gốc của sự phồn vinh và phát triển của mỗi quốc gia là ở trong văn hóa, trong kho tàng trí thức, tâm hồn, đạo đức, lối sống, nguồn sâu xa của sự sáng tạo của cá nhân và cả cộng đồng. Nghị quyết của UNESCO về phát triển như sau:

    “Khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như giá trị đạo đức và văn hóa, quy định sự nẩy nở và phẩm giá của con người trong xã hội. Nếu như con người là nguồn lực của sự phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân, vừa là người được thụ h ưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mục tiêu của sự phát triển.”Khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như giá trị đạo đức và văn hóa, quy định sự nẩy nở và phẩm giá của con người trong xã hội. Nếu như con người là nguồn lực của sự phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân, vừa là người được thụ hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mục tiêu của sự phát triển.Vì sao cộng đồng quốc tế UNESCO lại đề xướng và khuyến cáo các quốc gia đưa văn hóa vào bên trong sự phát triển. Bởi vì cho đến những 70, 80 (của thế kỷ 20 – NĐD) ” sự phát triển” đã bị đặt thành vấn đề do hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội, môi trường do nó gây ra”.Vì sao cộng đồng quốc tế UNESCO lại đề xướng và khuyến cáo các quốc gia đưa văn hóa vào bên trong sự phát triển. Bởi vì cho đến những 70, 80 (của thế kỷ 20 – NĐD) ” sự phát triển” đã bị đặt thành vấn đề do hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội, môi trường do nó gây ra”.

    Tình hình nêu trên đặt ra cho các nhà nước đương đại phải quản lý sự phát triển đồng thời trên cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường. Bởi vì hiện nay động lực của tăng trưởng kinh tế sẽ không chỉ nằm ở vốn, tài nguyên mà chủ yếu nằm ở trí tuệ, ở cả tiềm năng sáng tạo, tức là nguồn lực con người. Tức là nằm trong văn hóa.

    Tài nguyên con người của mỗi quốc gia nằm trong bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh mất bản sắc văn hóa là đánh mất tiềm năng của nguồn lực con người. Vì lẽ đó việc bảo vệ và phát huy những giá trị bẳn sắc của nền văn hóa truyền thống là một những vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia muốn phát triển.

    Cũng như những đòi hỏi của sự phát triển bền vũng của nền kinh tế thị trường phải gắn kết phát triển kinh tế với sự gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc, nhà nước bên cạnh những chính sách phát triển kinh tế phải có những chính sách xã hội.

    Văn hóa và xã hội gắn bó hữu cơ với nhau như hình với bóng. Có thể nói xã hội là bộ mặt của văn hóa và văn hóa phải thông qua xã hội, làm lên môi trường xã hội, để tác động vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của con người và cộng đồng con người.

    Mọi sự phát triển không gắn với văn hóa đều là sự phát triển què quặt nặng về tính kỹ thuật và tất yếu dẫn đến tới bất công xã hội, dẫn đến sự hy sinh số đông con người cho số ít các thế lực cầm quyền xã hội (trực tiếp và gián tiếp – đó là các nhà chính trị, các nhà kinh doanh xấu có trong tay các nhà khoa học và công nghẹ phục vụ).

    Trong Từ điển Bách khoa Việt nam, chính sách xã hội được định nghĩa như sau:

    “Chính sách xã hội một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay một chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của đời sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội. Một trong những đặc điểm quan trọng của cơ bản của chính sách xã hội là sự thống nhất biện chứng của nó với chính sách kinh tế. Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện để phát triển chính sách xã hội, và ngược lại, sự hợp lý, sự công bằng và tiến bộ được thực hiện qua chính sách xã hội lại tạo ra những động lực mạnh mẽ cho sự thưc hiện những mục tiêu kinh tế, nhằm làm cho dân giàu nước mạnh. Chính sách xã hội phải đạt được những mục tiêu đem lại đời sống tốt đẹp cho con người, mang lại sự công bằng, dân chủ cho mỗi con người, không theo chủ nghĩa bình quân. Trong những điều kiện của nền kinh tế hàng hóa có cơ cấu nhiều thành phần, chính sách xã hội phải hướng tới sự công bằng xã hội, bảo đảm sự bình đẳng giữa quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật. Chính sách xã hội vừa phải củng cố và phát triển những giai cấp cơ bản như công nhân, nông dân, vừa quan tâm thích đáng đến lợi ích và phát huy tiềm năng của các tầng lớp, các nhóm cư dân khác”.

    “Chính sách xã hội một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay một chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của đời sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội. Một trong những đặc điểm quan trọng của cơ bản của chính sách xã hội là sự thống nhất biện chứng của nó với chính sách kinh tế. Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện để phát triển chính sách xã hội, và ngược lại, sự hợp lý, sự công bằng và tiến bộ được thực hiện qua chính sách xã hội lại tạo ra những động lực mạnh mẽ cho sự thưc hiện những mục tiêu kinh tế, nhằm làm cho dân giàu nước mạnh. Chính sách xã hội phải đạt được những mục tiêu đem lại đời sống tốt đẹp cho con người, mang lại sự công bằng, dân chủ cho mỗi con người, không theo chủ nghĩa bình quân. Trong những điều kiện của nền kinh tế hàng hóa có cơ cấu nhiều thành phần, chính sách xã hội phải hướng tới sự công bằng xã hội, bảo đảm sự bình đẳng giữa quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật. Chính sách xã hội vừa phải củng cố và phát triển những giai cấp cơ bản như công nhân, nông dân, vừa quan tâm thích đáng đến lợi ích và phát huy tiềm năng của các tầng lớp, các nhóm cư dân khác”.

    Vì những lẽ đó, mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, phát triển kinh tế được coi là cơ sở, là tiền đề để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực phát triển kinh tế.

    Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính sách xã hội tác động trực tiếp đến việc hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giầu mạnh. Phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng để xứng đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Để đạt được mục tiêu nêu trên, nhà nước đã quy định những chính sách cụ thể mà trước hết là những chính sách bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Nhà nước chăm lo tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và tạo điều kiện cho mọi người lao động có việc làm, chăm lo cải thiện điều kiện lao động; Quy định chế độ và thi hành những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân về lao động, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật, phát huy tính tích cực sáng tạo của nhân dân làm cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, nền văn hoá mới và con người mới thực sự là của toàn dân; Có chính sách làm cho lao động trong các ngành nghề được cơ giới hoá, bảo hiểm và tổ chức lao động khoa học, có chính sách khuyến khích tăng thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng, cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập, nghỉ ngơi, đi lại vv…

    Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang có nguy cơ xâm phạm đến thuần phong, mỹ tục và những chuẩn mực văn hóa và đạo đức của dân tộc. Đó là những tệ nạn xã hội, và tâm lý chạy theo lợi nhuận đang được nhà nước khắc phục giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau. Những tệ nạ xã hội đó không hiện nguyên hình, mà nó lại được che dấu và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, chúng không hoạt đọng một cách công khai, mà lén lút trá hình tạo nên mối lo không những cho nhà nước, mà còn cả xã hội. Khắc phục những tệ đang là một chủ trương chính sách về mặt văn hóa và xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Việc khác phục những mặt trái trên bình diện xã hội hiện nay là một quá trình lâu dài cần phải được giải quyết từng bước, quan trọng nhất vẫn là tăng cường chức năng xã hội của nhà nước. Nhà nước cần phải biết gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế với những nhiệm vụ đảm bảo xã hội. Bên cạnh việc giải quyết có hiệu quả các biện pháp phát triển kinh tế, còn phải chú ý đến hậu quả xã hội của việc phát triển kinh tế. Nhà nước cần phải xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách xã hội sao chó vừa giải quyết được vấn đè công bằng xã hội về lợi ích, vừa lại bảo đảm không làm giảm đi sức sáng tạo của con người.

    Chính sách xã hội của nhà nước tập trung vào các vấn đề bảo trợ xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật, cho phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế, phù hợp với điều kiện nhà nước ta, mà không nên chạy theo thị trường bằng cách thả nổi hay thị trường hóa một cách hoàn toàn các lĩnh vực này.

    Bên cạnh đó nhà nước Việt Nam cũng cần phải xóa bỏ dần sự bao cấp tập trung trong lĩnh vực hoạt động văn hóa và xã hội do việc thực hiện chế độ bao cấp kế họach hóa tập trung gây ra. Các tổ chức giáo dục, khoa học, kỹ thuật, nghiên cứu khoa học cũng cần dần chuyển sang cơ chế thị trường, cạnh tranh và tư trang trải kinh phí… Song song với việc tự hoạch toán kinh tế theo cơ chế thị trường nhà nước vẫn có một khoản ngân sách nhất định chi cho những chính sách tối thiểu của sự phát triển văn hóa xã hội. Như việc xóa đói giảm nghèo, hoặc chính sách xóa mù chữ ở các vùng quê xa xôi hẻo lánh.

    Công bằng vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Công bằng không thể dựa vào thị trường nên nhà nước cần phải can thiệp để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển. Bảo đảm công bằng xã hội là việc nhà nước can thiệp vào thị trường nhằm mục đích tăng thu nhập của những người nghèo làm cho khoảng cách giữa người nghèo và người giàu không được tăng lên, mà còn cần phải giảm đi, mặt khác làm cho giá cả phản ánh đúng chi phí của xã hội bỏ ra. Thực chất của vấn đề giải quyết công bằng là phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các chủ thể kinh tế và xã hội mà người đại diện là nhà nước.

    Nội dung công bằng xã hội rất rộng lớn. Công bằng xã hội trên lĩnh vực phân phối giữ một vị trí quan trọng, vì nó là khau cuối cùng của hệ thống quan hệ sản xuất, quy định trực tiếp tiêu dùng của cá nhân.Công bằng xã hội trong thời kỳ quá độ không chỉ được thực hiện ở khâu kết quả sản xuất theo nguyên tắc “làm việc ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau,” mà cả ở phân phối tư liệu sản xuất, làm cho người lao động gắn bó chặt chẽ với tư liệu sản xuất. Đó là nhân tố quan trọng để giải phóng lực lượng sản xuất, tiềm năng lao động và các nguồn lực.

    Thực hiện công bằng xã hội trong phân phối tư liệu sản xuất trực tiếp góp phần thực hiện quyền làm chủ , quyền dân chủ về kinh tế của nhân dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ với nhận thức lại chủ nghĩa xã hội phải thực hiện nhiều hình thức phân phối. Trong đó lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, ngoài ra còn phân phối theo vốn, tài sản, hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp…nhằm kích thích và phát huy các nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, làm ra nhiều của cải cho xã hội. Thực hiện công bằng xã hội đòi hỏi những nhà doanh nghiệp phải tuân theo pháp luật, hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, tôn trọng các hợp đồng lao động, thực hiện tốt và nghiêm túc các quy tắc an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái.

    Chính vì những tầm quan trọng cho sự phát triển bền vững của quốc gia nên chính sách phát triển văn hóa và chính sách của Nhà nước Việt Nam được Hiến pháp hiện hành quy định thành một chương riêng. Chương 4 với tiêu đề là Chính sách Văn hóa – xã hội.

    2. Chính sách văn hóa

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hoá mới tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”.

    Trên tinh thần của cương lĩnh trên, Điều 30 của Hiến pháp hiện hành quy định:

    “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.

    Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục.”

    Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục. Khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời.

    Xây dựng văn hoá gắn liền với việc chăm lo bồi dưỡng hình thành con người mới. Đó là: con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có trí thức, sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và tình nghĩa, giầu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính.

    Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hoá…

    Nhà nước có biện pháp sử dụng, kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, đoàn thể, nhà trường, gia đình, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo và bồi dưỡng hình thành con người mới. Phát huy vai trò văn học, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng nâng cao tâm hồn Việt Nam.

    Văn hóa hiểu ở nghĩa hẹp nhất gắn liền với văn học và nghệ thuật. Văn học nghệ thuật, có vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp cho con người, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của nhân dân.

    Chính sách của Nhà nước về vấn đề này là: Các hoạt động văn nghệ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp đều được khuyến khích phát triển, các tài năng văn học nghệ thuật được chăm sóc.

    Để đảm bảo cho nhân dân được hưởng đầy đủ quyền nghiên cứu khoa học kỹ thuật sáng tạo văn học, nghệ thuật, Nhà nước đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền báo chí, xuất bản, thư viện, phát thanh, truyền hình, điện ảnh và các phương tiện thông tin đại chúng khác, giữ gìn, tu bổ và bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá, các công trình mỹ thuật công cộng, danh lam, thắng cảnh, nghiêm cấm những hoạt động phi văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt nam. Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh.

    Con người luôn luôn là yếu tố quyết định sự thành công của mọi công cuộc, trong đó có cả công cuộc phát triển kinh tế. Đối tượng của giáo dục và đào tạo là con người, nguồn nội lực cốt lõi của sự tồn tại và phát triển của mỗi một quốc gia. Vì vậy giáo dục và đào tạo là mối quan tâm hàng đầu của quốc gia nhằm tạo ra nguồn lực có trí tuệ, có tay nghề thành thạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Nếu như trước đây sự thiếu vốn sự nghèo nàn về cơ sở vật chất là nguyên nhân chủ yếu làm chậm sự phát triển của quốc gia, thì ngày nay không hoàn toàn như vậy. Vì ngày nay sự phtá triển cảu quốc gia lại phụ thuộc vào chất lượng của nguồn lực lao động. Kỷ nguyên phát triển mới coi đầu tư phát triển nguồn lực lao động, và chất lượng lao động hơn các nguồn đầu tư khác.

    Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào không có chính sách đào tạo đúng đắn, đất nước đó sẽ không có nguồn lực lao động có chất lượng, thì đất nước đó không có một sản phẩm nào có thể sánh vai được với các quốc gia khác trên thế giới.

    Giáo dục có vị trí vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa bằng cách rèn luyện kỹ năng, cải thiện sức khỏe, nâng cao dân trí và cải thiện các vấn đề xã hội. Giáo dục là đầu tư về mặt trí thức phải đi song song với đầu tư về mặt kinh tế.

    Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả 3 mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Nền giáo dục Việt Nam không ngừng được phát triển nhằm đào tạo có chất lượng những người lao động mới và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

    “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.

    Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

    Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Điều 35).

    Điều 36 Hiến pháp quy định tiếp:

    “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.

    Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học; thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác.

    Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác.

    Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.

    Các đoàn thể nhân dân trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”.

    “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.

    Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.

    Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.

    Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.

    Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp”.

    Nền giáo dục Việt Nam phát triển theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.

    Nhà nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ, phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và hình thức trường quốc lập và các hình thức giáo dục khác.

    Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục. Trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, việc Quốc hội khoá VIII tại kỳ họp thứ chín (6/1991) thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học một lần nữa khẳng định việc thực hiện Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đã được bắt đầu từ năm 1950 theo quy định của Sắc lệnh số 146-SL ngày 10/8/1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định nền giáo dục mới. Đặc biệt là mới đây Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục (1998). Nhà nước khuyến khích vận dụng nhiều loại hình tổ chức giáo dục (quốc lập, dân lập) và nhiều hình thức đào tạo (chính quy, mở rộng, chuyên tu, tại chức). Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.

    Đặc điểm quan trọng trong thời đại hiện nay là sự phát triển năng động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Khác với trước đây, khoa học công nghệ đã nhanh chóng ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội con người, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Vai trò có tính quyết định của khoa học công nghệ đối với công cuộc phát triển quốc gia đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Kinh tế học đã chính thức xem công nghệ như là một trong những nguồn lực cho phát triển kinh tế giống như vốn và nguồn lực lao động, và nguồn vốn..

    Đối với Việt Nam, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Điều 37 của Hiến pháp quy định:

    “Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.

    Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học, nghiên cứu, tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc

    Nhà nước tổ chức áp dụng kết quả khoa học vào việc xây dựng dự thảo kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân, hoạch định chủ trương, chính sách pháp luật. Dần dần chính ách phát triển khoa học công nghệ phải gắn với chính sách phát triển kinh tế, chấm dứt các hiện tượng phân tách giữa cơ sở nghiên cứu khoa học với các cơ sở săn xuất kinh doanh, trao quyền chủ động cho các cơ sở nghiên cứutham gia trực tiếp với cơ sở sản xuất thông qua các hợp đồng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học. Từ đó các cơ sở nghiên cứu khoa học có thể cung cấp các dịch vụ khoa học như tư vấn, sản xuất thử nghiệm, kể cả sự chuyển giao công nghệ..

    Nhà nước khuyến khích các nguồn đầu tư khác ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục, để phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường vì sự nghiệp giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

    Muốn cho xã hội phát triển, thì xã hội phải có nguồn lực. Sức khỏe của con người có quan hệ rất lớn đến nguồn nhân lực con người. Vì vậy, Nhà nước chăm lo và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển hệ thống chăm sóc sức khoẻ theo hướng dự phòng; Phát triển và kết hợp y dược học dân tộc cổ truyền với y dược học hiện đại, kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ một cách thuận lợi với chất lượng ngày càng cao.

    Nhà nước và xã hội bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, vận động sinh đẻ có kế hoạch. Gắn liền với bảo vệ sức khoẻ, nhà nước đẩy mạnh phát triển thể dục, thể thao, du lịch nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, bồi dưỡng thể lực của nhân dân, bồi dưỡng tài năng thể thao.

    Bài viết được thực hiện bởi: thạc sĩ, luật sư Phạm Ngọc Minh – Giám đốc Công ty Luật TNHH Everest, Giảng viên khoa Luật kinh tế – Trường Đại học Hòa Bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 13 Chính Sách Văn Hóa
  • Bài 2: Chính Sách Tiền Tệ Quốc Gia
  • Chính Sách Tiền Tệ Là Gì? Tại Sao Có Chính Sách Tiền Tệ?
  • Chính Sách Tiền Tệ Là Gì? Mục Tiêu Của Chính Sách Tiền Tệ
  • Khái Niệm Về Chính Sách Của Tiền Tệ
  • Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Là Gì ? Quy Định Về Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngân Hàng Số Là Gì? Khái Niệm Ngân Hàng Số Bidv, Tima, Tpbank, Vpbank,
  • Thu Ngân Sách Nhà Nước Là Gì? Cùng Tìm Kiếm Câu Trả Lời
  • Chấp Hành Ngân Sách Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Chấp Hành Ngân Sách Nhà Nước
  • Chính Sách Tiền Tệ (Monetary Policy) Là Gì? Công Cụ Của Chính Sách Tiền Tệ
  • Chi Thường Xuyên Là Gì? Chi Đầu Tư Phát Triển Là Gì? Phân Biệt Chi Thường Xuyên Và Chi Đầu Tư Phát Triển
  • Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng do Nhà nước thành lập để cho những người thuộc đối tượng chính sách vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

    Ngân hàng chính sách trước đây được gọi là ngân hàng phục vụ người nghèo, được thành lập theo Quyết định số 525/TTg ngày 31.8.1995 của Thủ tướng Chính phủ; là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, có bảng cân đối, có con dấu; trụ sở chính đặt tại Hà Nội. Vốn điều lệ ban đầu là 5 ngàn tỉ đồng, được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kì.

    Ngân hàng phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn tín dụng của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác được Nhà nước cho phép để lập quỹ cho người nghèo vay, thực hiện chương trình của Chính phủ đối với người nghèo. Hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện cho vay trực tiếp đối với hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được vay vốn để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn vay và theo lãi suất quy định.

    Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn giảm thuế doanh thu (thuế giá trị gia tăng) và thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp), để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro bất khả kháng trong quá trình hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của Bộ Tài chính.

    Ngày 04.10.2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng chính sách xã hội, trong đó chỉ rõ: thành lập Ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 01.9.1995 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

    Ngân hàng chính sách xã hội được huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay.

    Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam có hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. Cơ cấu tổ chức gồm: trụ sở chính đặt tại Hà Nội, chỉ nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hội đồng quản trị gồm có 12 thành viên, trong đó có 9 thành viên kiêm nhiệm, do Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam làm Chủ tịch; 3 thành viên chuyên trách giữ chức Phó Chủ tịch thường trực, Tổng Giám đốc, Trưởng ban kiểm soát.

    Hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỈ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngân Hàng Chính Sách (Policy Banks) Là Gì?
  • Những Điểm Mới Của Sách Giáo Khoa Môn Toán Lớp 1
  • Sách Giáo Khoa Ở Mỹ
  • Sách Giáo Khoa Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Định Nghĩa Âm Tiết Trong Tiếng Anh
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố đó tồn tại trong mối thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau, tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhất biện chứng nhưng không đồng nhất. Mối quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau, đó là ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học,…

    Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận: ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm…của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiẽn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, qui luật. Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Cũng có thể phân tích ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội, đó là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí,…của những cộng đồng người nhất định; là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo,…; là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội đối với cùng một tồn tại xã hội, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tuy nhiên, không phải tâm lý xã hội tự nó sản sinh ra hệ tư tưởng xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp. Mỗi giai cấp đều có đời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó nhưng hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, nó có ảnh hưởng đến ý thức của các giai cấp trong đời sống xã hội. Theo quan niệm của Mác và Ăngghen: “giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • a) Khái niệm tồn tại xã hội

    Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    V.I.Lênin khi nghiên cứu tồn tại xã hội với tính cách vừa là đời sống vật chất vừa là những quan hệ vật chất giữa người và người đã cho rằng: việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh đẻ con cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao đổi sản phẩm, làm nảy sinh ra một chuỗi tất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển, không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh và ý thức này không bao giờ bao quát được toàn vẹn cái chuỗi đó.

    Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    b) Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội

    ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng,… của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    – Cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. ý thức của cá nhân đều phản ánh tồn tại xã hội với mức độ khác nhau. Do đó, nó không thể không mang tính xã hội. Song ý thức cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại xã hội nhất định.

    ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học,…

    Theo trình độ phản ánh có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận.

    ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm… của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Trong ý thức xã hội thông thường, tâm lý xã hội là bộ phận rất quan trọng.

    ý thức xã hội thông thường, thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó. ý thức thông thường tuy là trình độ thấp so với ý thức lý luận, nhưng những tri thức kinh nghiệm phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành các lý thuyết xã hội.

    ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

    Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, tâm trạng, tập quán… của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó.

    Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp điều kiện sinh sống hàng ngày của con người, là sự phản ánh có tính chất tự phát, thường ghi lại những mặt bề ngoài của tồn tại xã hội. Nó không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội của con người.

    Những quan niệm của con người ở trình độ tâm lý xã hội còn mang tính kinh nghiệm, chưa được thể hiện về mặt lý luận, yếu tố trí tuệ đan xem với yếu tố tình cảm. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tâm lý xã hội trong sự phát triển của ý thức xã hội. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nghiên cứu trạng thái tâm lý xã hội của nhân dân để hiểu nhân dân, giáo dục nhân dân, đưa nhân dân tham gia tích cực, tự giác vào cuộc đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp.

    Hệ tư tưởng là trình độ nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo), kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội. Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác nghĩa là tạo ra bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và được truyền bá trong xã hội.

    Cần phải phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội. Hệ tư tưởng không khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất của xã hội, nhưng dưới một hình thức sai lầm, hư ảo hoặc xuyên tạc.

    Với tính cách là một bộ phận của ý thức xã hội, hệ tư tưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học. Lịch sử các khoa học tự nhiên đã cho thấy tác dụng quan trọng của hệ tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học đối với quá trình khái quát những tài liệu khoa học.

    Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, chúng có cùng một nguồn gốc là tồn tại xã hội, đều phản ánh tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp. Mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học tiến bộ) với tâm lý xã hội, với thực tiễn cuộc sống sinh động và phong phú sẽ giúp cho hệ tư tưởng xã hội, cho lý luận bớt xơ cứng, bớt sai lầm. Trái lại hệ tư tưởng, lý luận xã hội, gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng khoa học thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ xã hội. Hệ tư tưởng phản khoa học, phản động kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.

    Tuy nhiên, hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội, không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội.

    Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng kế thừa những học thuyết xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó. Thí dụ, hệ tư tưởng tôn giáo thời trung cổ ở Tây Âu thể hiện lợi ích của giai cấp phong kiến, nhưng lại ra đời trực tiếp từ những tư tưởng triết học duy tâm có từ thời cổ đại và những tư tưởng của đạo Cơ đốc thời kỳ đầu Công nguyên. Hệ tư tưởng Mác – Lênin cũng không trực tiếp ra đời từ tâm lý xã hội của giai cấp công nhân lúc đó đang tự phát đấu tranh chống giai cấp tư sản, mà là sự khái quát lý luận từ tổng số những tri thức của nhân loại, từ những kinh nghiệm của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, đồng thời kế thừa trực tiếp các học thuyết kinh tế – xã hội và triết học vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX…

    Như vậy, hệ tư tưởng xã hội liên hệ hữu cơ với tâm lý xã hội, chịu sự tác động của tâm lý xã hội, nhưng nó không phải đơn giản là sự “cô đặc” của tâm lý xã hội.

    c) Tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội của mỗi giai cấp quy định, do đó, ý thức xã hội của các giai cấp có nội dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối lập nhau.

    Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện ở tâm lý xã hội cũng như ở hệ tư tưởng. Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng, có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hoặc tập đoàn xã hội khác. ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện sâu sắc hơn nhiều. Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những quan điểm tư tưởng hoặc những hệ tư tưởng đối lập nhau: tư tưởng của giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị ở thời đại đó.

    Nếu hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trị ra sức bảo vệ địa vị của giai cấp đó thì hệ tư tưởng của giai cấp bị trị, bị bóc lột thể hiện nguyện vọng và lợi ích của quần chúng lao động chống lại xã hội người bóc lột người, xây dựng một xã hội công bằng không có áp bức bóc lột.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân, ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh tiến trình khách quan của sự phát triển lịch sử. Hệ tư tưởng Mác – Lênin đối lập với hệ tư tưởng tư sản – hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ người bóc lột người. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản hàng thế kỷ nay diễn ra gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực hệ tư tưởng.

    Trong điều kiện xã hội ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ vẫn đang tiếp tục diễn ra. Trước những khó khăn và thử thách trên con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch đang ra sức tiến công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, muốn phủ nhận, xoá bỏ nó. Do vậy bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thế giới ngày nay, là một nhiệm vụ quan trọng của cuộc đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới nói chung.

    Khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời còn cho rằng, ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau. Trong xã hội có áp bức giai cấp, các giai cấp bị trị do bị tước đoạt tư liệu sản xuất, phải chịu sự áp bức về vật chất nên không tránh khỏi bị áp bức về tinh thần, không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, bóc lột. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”1. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp thống trị đối với xã hội tùy thuộc vào trình độ phát triển ý thức cách mạng của giai cấp bị trị.

    Không những giai cấp bị trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, mà trái lại giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị trị. Đặc biệt ở thời kỳ đấu tranh cách mạng phát triển mạnh, thường thấy một số người trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức tiến bộ từ bỏ giai cấp xuất thân của mình chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng, chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp đó. Một số người còn trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.

    ý thức cá nhân trong xã hội có phân chia giai cấp, về bản chất, là biểu hiện mức độ này hay mức độ khác ý thức giai cấp, do địa vị và những điều kiện sinh hoạt vật chất chung của giai cấp quyết định. Nhưng mỗi cá nhân lại có những hoàn cảnh sinh sống riêng như hoàn cảnh giáo dục, trường đời mà họ trải qua, ảnh hưởng tư tưởng chính trị và tư tưởng khác do họ tiếp thu được khi sống trong môi trường thân cận (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp), v.v.. Tất cả những cái đó làm cho ý thức của mỗi người vừa biểu hiện ý thức giai cấp vừa mang những đặc điểm cá nhân, tạo thành những cá tính và nhân cách riêng của cá nhân, làm cho thế giới tinh thần của cá nhân này khác với thế giới tinh thần của những cá nhân khác cùng giai cấp.

    Tuy nhiên, quá nhấn mạnh những điều kiện sinh hoạt của cá nhân, thổi phồng mặt cá nhân trong ý thức của con người sẽ dẫn tới hiểu sai bản chất của ý thức cá nhân. Vì vậy, khi đánh giá các hiện tượng ý thức trong xã hội có giai cấp phải nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa ý thức giai cấp và ý thức cá nhân.

    Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội không chỉ mang dấu ấn của những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc; những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc. Vì vậy, trong ý thức xã hội, ngoài tâm lý và hệ tư tưởng xã hội của giai cấp, còn bao gồm tâm lý dân tộc, tình cảm, ước muốn, tập quán, thói quen, tính cách, v.v. của dân tộc, phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống tinh thần của dân tộc, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo thành truyền thống dân tộc.

    Tâm lý dân tộc tuy phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc và mang tính chất toàn dân tộc, nhưng có mối liên hệ hữu cơ với ý thức giai cấp. Giai cấp cách mạng tiến bộ phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, ngược lại những tư tưởng giai cấp phản động mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị đó.

    Giai cấp công nhân được vũ trang bằng hệ tư tưởng Mác – Lênin luôn luôn quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Công Tác Xã Hội Với Người Cao Tuổi
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì?
  • Khái niệm “tồn tại xã hội” và “ý thức xã hội” phản ánh hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội.

    Nội dung bài viết bao gồm:

    • a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
    • b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội
    • c. Các hình thái ý thức xã hội

    a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội

    Khái niệm “tồn tại xã hội” dùng để chỉ mặt sinh hoạt (hoạt động) vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội; tức là các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn, phát triển của xã hội.

    Xét về thực chất, hoạt động vật chất của xã hội chính là hoạt động thực tiễn mà trước hết và cơ bản là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sinh tồn và phát triển của xã hội; đồng thời, gắn liền với hoạt động đó còn là quá trình hình thành, phát triển của các hình thức, phương thức giao tiếp, trao đổi kết quả của sản xuất vật chất giữa con người với nhau cũng như giữa các cộng đồng xã hội khác nhau.

    Các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn và phát triển của mỗi xã hội bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó có ba yếu tố cơ bản là điều kiện tự nhiên, dân cư và phương thức sản xuất; trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội.

    Điều kiện địa lí tự nhiên với tư cách là yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội – đó là toàn bộ những điều kiện vật chất tự nhiên tạo thành những điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của cộng đồng người trong lịch sử. Một cách hiển nhiên, không thể có cộng đồng người nào, dù là xã hội nguyên thủy hay xã hội hiện đại, có thể tồn tại ngoài những điều kiện vật chất tự nhiên nhất định. Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người. Chính từ trong điều kiện tự nhiên mà con người có thể thực hiện quá trình trao đổi chất, tiến hành sản xuất, cung cấp những điều kiện vật chất đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của mình.

    Yếu tố dân cư bao gồm toàn bộ các phương diện về số lượng, cơ cấu, mật độ phân bố, cấu trúc tổ chức dân cư….tạo thành điều kiện vật chất khách quan đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của xã hội. Thí dụ, cấu trúc cư dân nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam, với tổ chức làng xã ổn định có những khác biệt khá lớn so với cách thức cấu trúc dân cư của các cộng đồng dân du mục thường xuyên di động. Sự phân bố và tổ chức dân cư trong xã hội nông nghiệp truyền thống cũng có sự khác biệt cơ bản với xã hội công nghiệp – thị trường ở các nước có trình độ sản xuất vật chất phát triển cao. Trong các xã hội nông nghiệp truyền thống, tổ chức dân cư thường phân tán, tách biệt với quy mô nhỏ, đó là các mô hình “công xã nông thôn” (mô hình tổ chức làng, bản…), việc quan hệ trao đổi hàng hóa rất hạn chế, chỉ là sự liên kết ngẫu nhiên. Ngược lại, trong các xã hội công nghiệp phát triển gắn kết với phương thức kinh tế thị trường, tổ chức dân cư cũng có những biến đổi cơ bản. Đó là quá trình di dân làm hình thành nên những khu công nghiệp và thành thị với quy mô lớn, nhằm tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho quá trình phát triển nền sản xuất vật chất hiện đại.

    Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và dân cư là những yếu tố tiền đề cho việc xác lập một phương thức sản xuất nhất định, đồng thời các yếu tố đó cũng biến đổi theo yêu cầu khách quan của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.

    Phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp quy định sự sinh tồn, phát triển của mỗi con người cũng như của toàn bộ cộng đồng xã hội, quy định trực tiếp phương thức hoạt động vật chất của mỗi xã hội. Phương thức sản xuất nào cũng được tạo nên từ hai mặt, đó là mặt vật chất – kĩ thuật của quá trình sản xuất (biểu hiện tập trung ở trình độ phát triển phương thức kĩ thuật, công nghệ) và mặt kinh tế – xã hội của quá trình ấy (thể hiện tiêu biểu ở trình độ phát triển của phương thức tổ chức kinh tế). Trong hai mặt đó, mặt kinh tế – xã hội phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của mặt vật chất – kĩ thuật; nó trực tiếp quy định tính chất và trình độ phát triển của một tồn tại xã hội nhất định.

    Thí dụ, phương thức sinh tồn cơ bản và truyền thống của cư dân người Việt trong lịch sử là phương thức kĩ thuật canh nông lúa nước với trình độ công cụ và lao động thủ công (xét về mặt phương thức kĩ thuật). Thích ứng với phương thức kĩ thuật đó là phương thức tổ chức kinh tế với quy mô nhỏ và phân tán theo nguyên lí lấy tổ chức kinh tế hộ gia đình cùng cấu trúc tổ chức “công xã nông thôn” hay làng xã truyền thống làm cơ sở (phương thức tổ chức kinh tế). Giữa các công xã đó chỉ có sự liên kết không thường xuyên qua hình thức trao đổi hàng hóa dư thừa tương đối để đảm bảo sự cân bằng trong sinh hoạt vật chất giữa các cộng đồng người. Phương thức tổ chức kinh tế ấy là cơ sở trực tiếp quy định tính ổn định theo nhịp điệu tuần hoàn lặp đi lặp lại giữa các chu kì theo tính chất mùa vụ của quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Trong lịch sử, người Việt Nam về cơ bản là theo phương thức sản xuất đó.

    Giữa các yếu tố hợp thành tồn tại xã hội có mối quan hệ quy định và chi phối lẫn nhau, tạo nên sự biến đổi trong lĩnh vực hoạt động, sinh hoạt vật chất khách quan của mỗi cộng đồng xã hội. Trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định trình độ phát triển của tồn tại xã hội. Khi phương thức sản xuất có sự phát triển nhờ những tiến bộ về kĩ thuật, công nghệ sản xuất, tất yếu sẽ dẫn tới những biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên và cơ cấu, phân bố dân cư để đảm bảo cho quá trình xác lập phương thức sản xuất mới.

    Thí dụ, xuất phát từ tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên của đất nước, người Việt Nam trong lịch sử đã tiến hành quá trình sản xuất theo phương thức canh nông lúa nước. Để tiến hành quá trình đó nhất định con người phải liên kết lại dưới hình thức tổ chức lao động gia đình và tổ chức dân cư theo mô hình làng xã ổn định, bền vững. Sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản đó tạo thành điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của người Việt Nam. Đó cũng chính là cơ sở hiện thực quy định những nội dung và tính chất cơ bản nhất trong đời sống tinh thần, truyền thống của người Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình công nghệ hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp hiện nay tất yếu dẫn tới sự biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên truyền thống và làm thay đổi cấu trúc nông thôn Việt Nam sang một hình thức mới, trên cơ sở đó dẫn tới sự biến đổi, phát triển đời sống văn hóa – tinh thần của nông thôn mới và con người mới.

    b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Khái niệm: ý thức xã hội, ý thức cá nhân và ý thức giai cấp

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ mặt tinh thần của đời sống xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội; bao gồm trong đó toàn bộ đời sống tư tưởng và tâm lí xã hội, được biểu hiện phong phú trong sinh hoạt tư tưởng, văn hóa, tập quán…của mỗi cộng đồng xã hội.

    Thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, ý thức xã hội không tự tồn tại cảm tính như các hình thức tồn tại của vật chất tự nhiên mà phải thông qua các hình thức văn hóa của xã hội. Thông thường có thể nhận biết nó qua ba hình thức cơ bản và phổ biến: 1) Các sinh hoạt tư tưởng mang tính học thuật như: sinh hoạt chính trị, pháp luật, khoa học… của cộng đồng xã hội; 2) Các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng và xã hội như: sinh hoạt lễ hội truyền thống, tôn giáo, nghệ thuật…; 3) Các tập tục và nếp sống mang đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng người.

    Ngoài ra, ý thức xã hội với tư cách là “cái chung” thuộc đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội còn biểu hiện trực tiếp qua nhận thức và nếp sống của mỗi cá nhân con người với tư cách là thành viên của nó. Trong trường hợp này, ý thức cá nhân tồn tại với tư cách là “cái riêng” trong đó có sự biểu hiện của “cái chung” là ý thức xã hội mà ít hay nhiều cá nhân đó đã tiếp nhận được từ sự giáo dục của xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước của dân tộc Việt Nam là cái chung, thể hiện một cách phong phú ở đời sống tình cảm và sinh hoạt của mỗi người Việt Nam trong lịch sử, với mức độ và phương thức biểu hiện khác nhau ở mỗi con người cụ thể, ở mỗi hoàn cảnh cụ thể.

    Ý thức giai cấp và tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Khái niệm ý thức giai cấp dùng để chỉ ý thức đặc thù của mỗi giai cấp, phản ánh địa vị và lợi ích của mỗi giai cấp đó trong xã hội. Thí dụ, có sự đối lập giữa ý thức hệ tư tưởng của giai cấp tư sản và hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, phản ánh địa vị và lợi ích căn bản đối lập giữa hai giai cấp ấy trong đời sống xã hội.

    Khác với khái niệm ý thức giai cấp, khái niệm tính giai cấp của ý thức xã hội là khái niệm dùng để chỉ tính chất của ý thức xã hội trong điều kiện mỗi cộng đồng người có sự phân hóa thành các giai cấp nhất định. Thí dụ, trong một cộng đồng dân tộc có sự phân hóa giai cấp thì ý thức dân tộc đó cũng có tính giai cấp và bị chi phối bởi tính giai cấp.

    Trong xã hội có sự phân hóa giai cấp thì ý thức của các giai cấp có sự ảnh hưởng qua lại với nhau. Trong nhiều trường hợp, đời sống tinh thần của giai cấp này không thể không chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố thuộc đời sống tinh thần của các giai cấp khác. Thông thường, ý thức của giai cấp thống trị bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn nhất tới ý thức của các giai cấp khác và giữ địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội.

    Mác và Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    Như vậy, khi nghiên cứu về ý thức xã hội, một mặt cần phân tích ý thức giai cấp với tư cách là hiện tượng ý thức đặc trưng, đặc thù của mỗi giai cấp nhất định; mặt khác, cũng cần phải phân tích tính giai cấp của ý thức xã hội, sự ảnh hưởng lẫn nhau về phương diện ý thức giai cấp mới có thể có được cách nhìn nhận đúng đắn về đời sống tinh thần phong phú của mỗi cộng đồng người.

    – Hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Có hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là trình độ phản ánh ở tầm tâm lí xã hội (tình cảm, khát vọng, ý chí….chung của cộng đồng xã hội) và trình độ phản ánh ở tầm các tư tưởng xã hội (các quan niệm, quan điểm chung, có tính chất phổ biến trong mỗi cộng đồng xã hội nhất định) mà hình thức phát triển cao nhất của nó là các học thuyết, các lí luận xã hội, cũng tức là sự phát triển của các tư tưởng xã hội đạt đến cấp độ là hệ tư tưởng xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng độc lập, tự do…. của cộng đồng dân tộc Việt Nam là sự phản ánh ở trình độ tâm lí xã hội; còn chủ nghĩa yêu nước với những quan niệm, quan điểm về dân tộc độc lập, quyền tự quyết định vận mệnh dân tộc, không có gì quý hơn độc lập tự do… của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước là trình độ phản ánh ở cấp độ hệ tư tưởng xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lí và tư tưởng xã hội ấy hợp lại thành tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tâm lí xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh trực tiếp và tự phát đối với tồn tại xã hội, đối với hoàn cảnh sống khách quan của cộng động, được cấu thành từ các nhân tố tình cảm, khát vọng, ý chí… của các cộng đồng người nhất định. Thí dụ, tình cảm yêu quê hương đất nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng tự do… của cộng đồng người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử là thuộc đời sống tâm lí xã hội.

    Tâm lí xã hội khi đã trở thành yếu tố bền vững của một cộng đồng người thì nó thường được thể hiện trong các phong tục, tập quán…của cộng đồng đó. Khi đó chúng đã được văn hóa và trở thành các thành tố quan trọng trong nền văn hóa truyền thống. Thí dụ, trong truyền thống của người Việt Nam, tình cảm yêu nước, khát vọng độc lập, tình yêu quê hương xóm làng… đã được thăng hoa thành một nét đẹp truyền thống, được thể hiện qua các biểu tượng văn hóa, các lễ hội, các sinh hoạt văn hóa dân gian… Những yếu tố này giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hiện thực của cộng đồng.

    Tư tưởng xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách tự giác và gián tiếp; chúng tồn tại dưới hình thức là những quan niệm, quan điểm có tính chất phổ biến trong một cộng đồng người. Thí dụ, tinh thần yêu nước của người Việt Nam không phải chỉ được phân tích từ giác độ là tình cảm yêu nước, ý chí độc lập…mà còn được phân tích từ giác độ là những quan niệm, quan điểm về dân tộc và dân tộc độc lập… thậm chí có thể đạt tới tầm là chủ nghĩa yêu nước – tức hệ thống quan niệm, quan điểm nhất định. Như vậy, giữa khái niệm tư tưởng xã hội và khái niệm hệ tư tưởng xã hội là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất. Về mặt ngoại diên, khái niệm hệ tư tưởng xã hội nằm trong khái niệm tư tưởng xã hội. Tư tưởng xã hội không nhất thiết ở tầm hệ tư tưởng xã hội, chỉ khi những quan niệm của con người đạt tới trình độ có tính hệ thống thì khi đó nó trở thành hệ tưởng xã hội. Thí dụ, những triết lí trong cuộc sống của một cộng đồng xã hội chưa phải là ở trình độ hệ tư tưởng xã hội nhưng nó không phải là yếu tố tâm lí xã hội với đặc tính phản ánh tự phát và trực tiếp đối với hoàn cảnh sống của cộng đồng.

    Tâm lí xã hội và tư tưởng xã hội là hai lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của mỗi cộng đồng người nhất định nên có mối quan hệ biện chứng với nhau và đều cùng bị quy định bởi tồn tại xã hội của cộng đồng đó, do vậy giữa chúng có thể phát sinh mối quan hệ cộng hưởng. Tuy nhiên, đây là hai trình độ và phương thức phản ánh khác nhau đối với tồn tại xã hội nên giữa chúng cũng có thể phát sinh mối quan hệ loại trừ – bất cộng hưởng, có thể làm triệt tiêu các giá trị của nhau ở một mức độ nhất định và ở một số phạm vi nhất định. Thí dụ, trong tinh thần yêu nước của người Việt Nam thì giữa tình cảm yêu nước và tư tưởng yêu nước thường phát sinh quan hệ cộng hưởng, bổ sung cho nhau, được thể hiện song trùng và tích hợp trong mỗi hoạt động của cộng đồng. Ngay trong một lễ hội truyền thống của người Việt Nam đã có sự tích hợp và cộng hưởng giữa tình cảm và nhưng quan niệm, thậm chí có thể đạt tới những triết lí sống thể hiện những quan niệm về đất nước và dân tộc. Ngay trong “Bài thơ thần” tương truyền của Lý Thường Kiệt đã bao hàm trong đó cả khát vọng, ý chí và quan niệm thuộc tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hệ tưởng xã hội không phải là cái được nảy sinh trên cơ sở tâm lí xã hội. Cũng không phải có tâm lí xã hội thì sẽ có được tư tưởng và hệ tư tưởng xã hội. Sở dĩ như vậy là vì phương thức hình thành của tâm lí xã hội và hệ tư tưởng xã hội là khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, nếu tư tưởng xã hội và tâm lí xã hội có sự phù hợp với nhau thì sẽ phát sinh mối quan hệ cộng hưởng, ngược lại sẽ phát sinh mối quan hệ loại trừ.

    c. Các hình thái ý thức xã hội

    Phân tích đời sống tinh thần của xã hội thành các hình thái ý thức xã hội là một phương pháp tiếp cận phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Phương pháp tiếp cận như vậy cho thấy tính chất phong phú của đời sống tinh thần của xã hội bởi vì mỗi hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của nó. Đó là các hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của n ó. Đó là các hình thái ý thực: chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, khoa học, thẩm mĩ… Mỗi hình thái ý thức xã hội đều bao gồm trong nó hai trình độ phản ánh là trình độ phản ánh tâm lí và trình độ phản ánh ở mức độ tư tưởng xã hội. Tuy nhiên, về cơ bản, các hình thái ý thức xã hội thường được phân tích ở trình độ là hệ tư tưởng xã hội.

    – Hình thái ý thức chính trị

    Hình thái ý thức chính trị là hình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước.

    Hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định phản ánh trực tiếp tập trung lợi ích giai cấp của chính nó. Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp, chính sách nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị. Hệ tư tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác. Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xây dựng và truyền bá. Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị. Thông qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi ích của giai cấp của mình.

    Ý thức chính trị (đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước, nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể, trong những giới hạn nhất định thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, đồng thời thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác.

    Tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chính trị (cũng như ý thức chính trị nói chung) phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cách mạng hoặc phản tiến bộ, phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó. Khi giai đoạn còn tiến bộ, cách mạng – tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của lịch sử, thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển xã hội. Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, phản động, thì hệ tư tưởng chính trị của nó tác động tiêu cực, kèm hãm sự phát triển xã hội.

    – Hình thái ý thức pháp quyền

    Hình thái ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ cho nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội, cùng với nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp của nhà nước.

    Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước. Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật.

    Trong xã hội có giai cấp, pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành luật, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật không những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật của xã hội.

    – Hình thái ý thức đạo đức

    Hình thái ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, những hiểu biết và các trạng thái xúc cảm tâm lí chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.

    Hình thái ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức ra đời từ rất sớm trong lịch sử, ngay từ xã hội nguyên thủy.

    Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng… phản ánh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy định đạo đức của con người, cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Với ý nghĩa đó, sự phát triển ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã hội.

    Trong ý thức đạo đức, yếu tố tình cảm đạo đức là yếu tố đặc biệt quan trọng, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận được bằng con đường lí tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạo đức.

    Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau. Đó là những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người, cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày của mọi người.

    Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp và có tính giai cấp. Trong các phạm trù đạo đức thường phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp. Mỗi giai cấp trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ, còn các giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Ăngghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp, hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”.

    – Hình thái ý thức khoa học

    Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức khoa học là hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là một trong những sự khác biệt giữa ý thức khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác.

    Hình thức biểu hiện chủ yếu của ý thức khoa học là phạm trù, định luật, quy luật,… Ý thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình thành các khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức đó. Thí dụ: Ý thức chính trị và chính trị học, ý thức đạo đức và đạo đức học, ý thức nghệ thuật và nghệ thuật học… Nhờ ý thức khoa học, con người không ngừng vươn tới cái mới, sáng tạo ra “thế giới nhân tính hóa” và ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.

    Xét theo đối tượng nghiên cứu, có thể phân chia khoa học thành: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội – nhân văn và khoa học về tư duy. Các khoa học đó đều có mục đích khám phá những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học là một khoa học bởi nó nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi tồn tại trong tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng nên phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Trong mỗi khoa học có thể phân chia thành các cấp độ kinh nghiệm và lí luận (hay lí thuyết). Cấp độ kinh nghiệm là những tư liệu hiện thực đã tích lũy được qua sự tổng kết quan sát và thí nghiệm; lí luận là sự khái quát kinh nghiệm thể hiện trong những lí thuyết về quy luật và nguyên lí tương ứng. Cấp độ lí luận của các khoa học cụ thể kết hợp với nhau trong sự giải thích các nguyên lí và quy luật chung được phát hiện ở tầm nghiên cứu triết học, hình thành thế giới quan và phương pháp luận của toàn bộ nhận thức khoa học.

    – Hình thái ý thức thẩm mĩ

    Hình thái ý thức thẩm mĩ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo “cái đẹp”. Trong các hình thức hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp thì nghệ thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mĩ.

    Nghệ thuật ra đời từ rất sớm, ngay từ khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp. Quá trình hình thành nghệ thuật gắn liền với lao động của con người, với thực tiễn xã hội. Những dấu vết đầu tiên của nghệ thuật đều thuộc về thời kì con người đã biết sản xuất ra những công cụ bằng đá, xương, sừng…

    Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, nghệ thuật bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Nếu khoa học và triết học phản ánh thế giới hiện thực bằng khái niệm, phạm trù, quy luật thì nghệ thuật lại phản ánh thế giới một cách sinh động, cụ thể bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật tuy cũng phản ánh bản chất của đời sống hiện thực nhưng phản ánh thông qua cái cá biệt, cụ thể – cảm tính, sinh động. Hình tượng nghệ thuật cũng nhận thức cái chung trong cái riêng, nhận thức cái bản chất trong cái hiện tượng, nhận thức cái phổ biến trong cái cá biệt, song cái cá biệt trong nghệ thuật phải là cái cá biệt có tính điển hình và nếu nhà nghệ thuật tạo ra cái điển hình thì phải là cái điển hình đã được cá biệt hóa.

    Sự phát triển của nghệ thuật, cả về nội dung và hình thức, không thể tách khỏi sự phát triển của tồn tại xã hội. Nhưng nghệ thuật có tính độc lập tương đối rất rõ nét trong sự phát triển của mình. Nó không phải bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội một cách trực tiếp, dễ thấy.

    Nghệ thuật chân chính gắn bó với đời sống hiện thực của nhân dân; là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ xã hội thông qua việc đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ của con người. Khi phản ánh thế giới hiện thực trong các hình tượng nghệ thuật chân thực và có giá trị thẩm mĩ cao, nghệ thuật đã tác động đến lí trí và tình cảm của con người, kích thích tính tích cực của con người, xây dựng ở con người những hành vi đạo đức tốt đẹp.

    Trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật bao giờ cũng mang tính giai cấp. Tính giai cấp của nghệ thuật biểu hiện trước hết ở chỗ nó không thể k hông chịu sự tác động của thế giới quan, các quan điểm chính trị của một giai cấp, không thể đứng ngoài chính trị và các quan hệ kinh tế. Do vậy không thể phủ nhận được mối liên hệ giữa nghệ thuật và chính trị.

    Khi nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật trong xã hội có giai cấp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận tính nhân loại chung của nó. Không ít tác phẩm nghệ thuật mà giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế giới qua các thời đại, mặc dù tác giả là đại biểu của một giai cấp nhất định. Có những nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn hóa tiêu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật cách mạng và tiến bộ không những không mâu thuẫn với tính nhân loại, mà ngược lại còn làm sâu sắc những giá trị toàn nhân loại.

    – Hình thái ý thức tôn giáo

    Ý thức tôn giáo với tư cách là hình thái ý thức xã hội bao gồm tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo.

    Tâm lí tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm, tâm trạng thói quen của quần chúng về tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng tôn giáo là các quan niệm, quan điểm tôn giáo do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra và truyền bá trong xã hội. Đứng về mặt lịch sử, tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo là hai giai đoạn phát triển của ý thức tôn giáo, nhưng chúng liên hệ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau.

    Ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thực hiện “chức năng đền bù hư ảo” trong một xã hội cần đến sự đền bù hư ảo. Chức năng đó làm cho tôn giáo có một đời sống lâu dài, một vị trí đặc biệt trong xã hội. Chức năng đền bù hư ảo nói lên khả năng của tôn giáo có thể bù đắp, bổ sung tâm lí hay tư tưởng cho cái hiện thực mà trong đó con người còn bất lực, chưa làm chủ được trước những sức mạnh tự nhiên và những điều kiện khách quan của đời sống xã hội. Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực, những bất lực trong thực tiễn của con người được giải quyết theo phương thức đền bù hư ảo trong ý thức của họ. Vì vậy, trong lịch sử, tôn giáo đã từng được một số giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ để thực hiện sự cai trị của nó.

    Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, điều kiện tiên quyết để khắc phục những hạn chế của tôn giáo (với tư cách là một hình thái ý thức xã hội) là phải xóa bỏ nguồn gốc xã hội của nó, nghĩa là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội triệt để nhằm cải tạo cả tồn tại xã hội lẫn ý thức xã hội. Bằng hoạt động tích cực cách mạng của mình, quần chúng không những cải tạo xã hội mà còn cải tạo bản thân, giải phóng ý thức mình khỏi những quan niệm sai lầm, những ảo tưởng tôn giáo trong đời sống tinh thần của chính họ. Mặt khác, trong ý thức tôn giáo cũng bao hàm những nhân tố tư tưởng tích cực cần được nghiên cứu, kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100