Giải Phóng Dân Tộc, Giải Phóng Con Người, Hạt Nhân Tư Tưởng Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Hồ Chí Minh Về Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc Và Ý Nghĩa Hiện Thực Với Công Cuộc Đổi Mới Đất Nước Hiện Nay
  • Văn Học Dân Gian Là Gì? Một Số Đặc Trưng Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian, I. Khái Niệm Văn Học Dân Gian : 1. Văn Học Dân Gian Là Gì ?…
  • Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy và Người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự giản dị vĩ đại chân lý ấy. Đó là điểm xuất phát của quá trình nhận thức, là tiêu chuẩn lựa chọn một học thuyết, là con đường tranh đấu, là hạt nhân chi phối các hoạt động lý luận và thực tiễn, là mục tiêu phấn đấu đồng thời cũng là giá trị đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh.

    1. Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân tộc xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân tha thiết với khát vọng giải phóng dân tộc và con người Việt Nam. Nguồn lực tinh thần là chủ nghĩa yêu nước – nhân văn ấy được hun đúcqua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, lao động và sáng tạo, bảo tồn và phát triển đã tạo nên truyền thống kép: yêu nước – thương dân, thương dân – yêu nước của dân tộc ta. Truyền thống đó thể hiện mối quan hệ hữu cơ, thống nhất về lợi ích giữa dân tộc với con người, làm cho con người Việt Nam gắn bó chặt chẽ với cộng đồng dân tộc trong sinh tồn và phát triển khi luôn phải đối diện với thiên nhiên nghiệt ngã và các thế lực xâm lược hung tàn. Chính vì thế, mối quan hệ tương tác Con người – Dân tộc, Tổ quốc – Đồng bào, Nước – Dân trở thành một tiêu chí đạo đức, văn hóa Việt Nam. Những giá trị đó được kế thừa và phát triển qua mọi thế hệ, tạo dựng nên sức mạnh, hun đúc thành bản lĩnh và ý chí, duy trì sự sinh tồn, nuôi dưỡng nguồn lực tinh thần cho sự phát triển của dân tộc và con người Việt Nam. Sự hòa quyện thành giá trị tinh thần ấy, vì thế, thực sự trở thành nguồn động lực phát triển của dân tộc, nó xuyên qua toàn bộ lịch sử, bao trùm lên các lĩnh vực của đời sống xã hội, duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong quá trình tiến hóa của mình.

    Với những nhận thức mới mang tính quốc tế, nhân loại về vấn đề dân tộc con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm hiểu nhiều học thuyết và xem xét thực tiễn các hình mẫu cách mạng điển hình ở Mỹ, Anh và Pháp và nhận thấy trên thực tế tính chất “không đến nơi” về giải phóng dân tộc và con người của các cuộc cách mạng này. Do đó, Người hướng tới nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga và xác định chủ nghĩa Mác-Lênin “là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”, đồng thời khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” 6. Theo Người, “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người, và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” 7.

    Như thế, với toàn bộ sức mạnh của truyền thống là chủ nghĩa yêu nước – nhân văn và vì vấn đề giải phóng dân tộc và con người Việt Nam để đi ra thế giới, nắm bắt được nhu cầu chung của nhân loại và hướng theo dòng tiến hóa của thời đại, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc, giải phóng con người hướng tới chủ nghĩa xã hội mang đầy đủ các yếu tố Dân tộc – Nhân loại – Thời đại. Sự thống nhất đó đã khẳng định ngay từ đầu những nhân tố cơ bản cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam và cho thấy con đường của cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người hướng đến chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là ý muốn chủ quan nào mà là đòi hỏi nội tại của dân tộc Việt Nam, là nhu cầu chung của các dân tộc, của nhân dân lao động bị áp bức trên thế giới và thuận theo hướng tiến hóa của nhân loại trong thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Con đường cách mạng Việt Nam, vì thế, hội đủ các yếu tố Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa. Điều đó giải thích tại sao trong khi các học thuyết khác không có cơ hội bám rễ ở Việt Nam thì con đường cách mạng vô sản được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá lại được nhân dân Việt Nam tiếp nhận nhanh chóng, cách mạng ở Việt Nam phát triển vững chắc và luôn được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các dân tộc và nhân dân lao động toàn thế giới. Điều đó cũng lý giải vai trò dẫn dắt dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được chính những nhà ái quốc như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu thừa nhận và gửi gắm kì vọng.

    Sự sáng tạo được thể hiện bắt đầu từ việc Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào yêu nước và phong trào của giai cấp công nhân để đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt Điều lệ vắn tắt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chiến lược là xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam nhưng Người cũng cụ thể hóa mục tiêu là làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, giải phóng công nông khỏi áp bức của đế quốc và phong kiến, thiết lập nền dân chủ mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người và tạo ra những điều kiện phát triển mới vì lợi ích của dân tộc và con người Việt Nam.

    Vấn đề giải phóng dân tộc và con người còn được thể hiện sâu sắc trong tổ chức lực lượng cách mạng và trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (1941) đã quyết định thay đổi chiến lược với việc đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nhưng trong Chương trình Việt minh vẫn có đầy đủ mục tiêu “Việt Nam độc lậpvề con người là làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do” là thể hiện rõ việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc – con người trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. Khơi dậy nguồn lực mạnh mẽ nhất của dân tộc – chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và lợi ích của các giai tầng, của mỗi con người là thống nhất với lợi ích dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công trong việc tập hợp hết thảy các lực lượng yêu nước, đoàn kết toàn thể nhân dân Việt Nam tạo nên lực lượng cách mạng vô cùng to lớn làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thiết lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tiêu chí Độc lập Tự do – Hạnh phúc. Tiêu chí vì lợi ích dân tộc và con người Việt Nam đó cũng là tiêu chí của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và con người được khẳng định trước toàn thế giới qua Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người khởi thảo. Thừa nhận những ” lời bất hủ” trong Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776) và “những lẽ phải không thể chối cãi được” của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” 8. Nâng quyền tự nhiên của con người lên quyền dân tộc và gắn chặt chẽ quyền con người với quyền dân tộc, với Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng cho một trật tự và pháp lý quốc tế mới về quyền con người, quyền dân tộc và sự bình đẳng giữa các quốc gia – dân tộc. Cần phải nhấn mạnh rằng: Đây là đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì 5 năm sau khi Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam được công bố, tới cuối năm 1960, khi mà vấn đề độc lập cho các dân tộc thuộc địa không thể không được đặt ra sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Liên hợp quốc mới có Tuyên ngôn trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và phải 10 năm sau đó nữa (1970) Liên hợp quốc mới có Nghị quyết để thi hành Tuyên ngôn năm 1960. Tiêu chí Độc lập Tự do Hạnh phúc đã được thực thi ngay trong những ngày tháng đầu tiên của chế độ mới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” 9. Bởi vậy, chỉ một ngày sau khi tuyên bố nước nhà độc lập, ngày 3-9-1945, Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách để giải quyết ngay các vấn đề quan hệ tới vận mệnh của dân tộc và sự sinh tồn của mỗi người Việt Nam. Cùng với việc xây dựng kế hoạch lâu dài để kiến thiết nước nhà, Người đã chỉ thị cho các cấp ngay từ bước đầu “phải giữ đúng phương châm” là “gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc” 10.. Người khẳng định: “Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”11. Từng bước thực hiện tiêu chí cho con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gia tăng gấp bội sức mạnh đoàn kết toàn dân để chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo, đưa Tổ quốc Việt Nam vào điểm xuất phát của kỷ nguyên Độc lập Tự do Hạnh phúc. Chủ nghĩa yêu nước – nhân văn đó đã được phát huy thành những phong trào toàn dân thi đua chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và tạo nên chỗ dựa vững chắc nhất trong lòng dân tộc để Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi thành công các sách lược nhằm bảo tồn chế độ mới và các thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Thành công đó còn được phát huy trong công cuộc Kháng chiến Kiến quốc, trong sự nghiệp chiến đấu vì chân lý Không có gì quý hơn độc lập, tự do và trong xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Như thế, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là mục tiêu, tiêu chí trong xây dựng lực lượng cách mạng, là cơ sở để vạch ra và thực thi các phương pháp cách mạng đặng đưa dân tộc Việt Nam tới các mục tiêu giải phóng, là lí do cho sự ra đời và tồn tại của Nhà nước của dân, do dân, vì dân và trong tổ chức xã hội mới mà còn là động lực chủ yếu trong công cuộc giải phóng, phục hưng dân tộc hướng tới xã hội xã hội chủ nghĩa vì dân tộc, vì con người Việt Nam.

    Để tiến tới xã hội xã hội chủ nghĩa có đầy đủ các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm thực hiện được hoàn chỉnh tiêu chí của xã hội xã hội chủ nghĩa cần có thời gian và phải trải qua thời kì quá độ. Tuy nhiên, ở những thời kỳ đầu, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đã dần dần được thể hiện khi tiến bước hình thành một chế độ chính trị dân chủ, một nền kinh tế hiện đại dựa trên cơ sở “gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, vô sự phát triển văn hóa của nhân dân” 18 và có sự “công bằng hợp lý” 19 về mặt xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “chúng ta tiến lên xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập, tức là nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” 20. Đó là sự định hướng xã hội chủ nghĩa trong tất cả các lĩnh vực và tất cả đều phải xuất phát, phải dựa trên những đặc điểm, giá trị văn hóa Việt Nam, không bao giờ xa rời mục tiêu Độc lập Tự do Hạnh phúc. Mục tiêu đó không chỉ là tiêu chí của tương lai, nó phải được thể hiện từng bước trong thực tiễn để xây đắp nền tảng vật chất và tinh thần cho sự tồn tại và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa nên đồng thời mục tiêu đó là động lực chính thúc đẩy cuộc cách mạng sáng tạo ở nước ta. Như vậy, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không chỉ thấm đậm yếu tố vì Dân tộc và Con người mà còn hiện rõ các nhân tố cấu thành: Dân tộc Nhân loại Thời đại.

    Lịch sử chính trị của nhân loại trong thế kỷ XX không có gì khác hơn là lịch sử đấu tranh vì quyền cơ bản của các dân tộc và con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy vấn đề giải phóng dân tộc và con người của Việt Nam, của nhân loại xuyên qua lịch sử loài người và Người đã thành công trong việc giải quyết những nhiệm vụ vĩ đại ấy khi dựa trên nền tảng văn hóa của dân tộc và giá trị chung của nhân loại. Kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX cho thấy: Ở nơi và thời điểm nào đó mà vấn đề giải phóng dân tộc và con người không được giải quyết đúng đắn, tự nó sẽ hạn chế, triệt tiêu động lực và thậm chí cả những thành quả cách mạng được xây đắp trong nhiều thập kỷ. Những thăng trầm của chủ nghĩa xã hội thế giới đều là những minh chứng làm sáng tỏ sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc và con người theo chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay.

    Kiên trì con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện thành công tiêu chí không thể đổi thay của Tổ quốc ta là Độc lập Tự do Hạnh phúc, chúng ta cần phải nắm chắc hạt nhân tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng con người, nắm chắc phương thức giải quyết mối quan hệ dân tộc – con người trên cơ sở nhận thức chính xác đặc điểm của dân tộc và những bước vận động, phát triển mới của thời đại. Chỉ có như vậy, chúng ta mới thành công trong nhiệm vụ đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống để giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Đó cũng là một trong những điều kiện quan trọng nhất đảm bảo cho thắng lợi cua cách mạng nước ta trước tất cả các sự biến hiện nay và trong tương lai.

    5: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr. 268.

    6: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.9, tr. 314.

    8, 9: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr. 152.

    10, 11: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr. 56, 152.

    12, 13, 16, 17: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.8, tr. 226, 396, 559, 560.

    14, 15: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.10, tr.97, 591.

    18, 19: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.9, tr. 175.

    20: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.9, tr. 476.

    21: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.8, tr. 216.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 6 : Các Quốc Gia Phong Kiến Đông Nam Á
  • Qua Trinh Hinh Thanh Quoc Gia Phong Kien Dna Qua Trinh Hinh Thanh Va Phat Trien Cac Quoc Gia Phong Kien Dong Nam A Ppt
  • Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Các Quốc Gia Phong Kiến Đông Nam Á
  • Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Cần Chuẩn Xác Hơn Và Đầy Đủ Hơn Khái Niệm Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Và Dân Chủ Xhcn
  • Chiến Tranh Lạnh: Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Vật Kịch Là Gì ?
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Tư Pháp Quốc Tế (Có Đáp Án)
  • Quản Lý Xung Đột Chính Trị. Khoa Học Chính Trị
  • #1 Quy Phạm Xung Đột Tại Blds Về Pháp Luật Đối Với Quan Hệ Nhân Thân Tài Sản
  • Xung Đột Trong Kênh Phân Phối (Channel Conflict) Là Gì? Các Dạng Xung Đột
  • Tìm hiểu cuộc chiến tranh lạnh là gì?

    Không chỉ có thế, dù các lực lượng tham gia cuộc chiến tranh lạnh chủ yếu không bao giờ chính thức xẩy ra xung đột nhưng họ đã thể hiện sự xung đột của mình thông qua các liên minh quân sự chiến lược. Họ đã tiến hành triển khai lực lượng quy ước chiến lược và không thể thiếu một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, tình báo cũng như cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Ngoài ra, này còn là sự việc cạnh tranh kỹ thuật và cuộc chạy đua không gian. Đó cũng đó chính là tất cả những yếu tố quan trọng khi nhắc đến cuộc chiến tranh lạnh là gì?.

    Diễn biến của cuộc chiến tranh lạnh

    Khi tìm hiểu cuộc chiến tranh lạnh là gì lịch sử hào hùng 12, chắc chắn bạn không thể bỏ qua diễn biến phức tạp của trận đấu tranh này. Dù là các phe liên minh chống lại Phe Trục, Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh Quốc hay Pháp đều không đồng thuận sau chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt quan trọng là về vấn đề thiết lập thế giới thời hậu chiến. Do vậy, khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, họ đã nhanh chóng chiếm hầu hết các nước châu Âu cùng với việc Hoa Kỳ và Liên Xô là sự xuất hiện của không ít lực lượng quân sự chiến lược mạnh nhất.

    Không chỉ có thế, Liên Xô đã lập ra khối Đông Âu với những quốc gia mà người ta đã giải phóng được sau cuộc chiến tranh lạnh. Đồng thời, tiến hành sáp nhập một số nước trở thành các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết và vẫn duy trì hoạt động của không ít quốc gia khác ví như những nước liên minh của mình.

    Tính chất của cuộc chiến tranh lạnh là gì?

    Với những tìm hiểu về cuộc chiến tranh lạnh lịch sử hào hùng 12 là gì, chắc chắn các các bạn sẽ nhận thấy tính chất nổi bật của trận đấu tranh này đó đó chính là có những giai đoạn khá yên tĩnh nhưng cũng xuất hiện những giai đoạn căng thẳng được đẩy lên rất cao trào trong quan hệ quốc tế. Trong số đó nổi bật phải nói đến việc như cuộc phong tỏa Berlin (1948 – 1949), cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) hay rủi ro không may Berlin 1961, cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 – 1975) và rất nhiều những sự kiện khác nữa.

    Cũng trong thập niên 1980, Hoa Kỳ ngày càng tăng cường sức ép ngoại giao, quân sự chiến lược và kinh tế tài chính nhằm mục tiêu chống lại Liên Xô vốn đang gặp phải những khó khăn về kinh tế tài chính. Tiếp đó, tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đã phải đưa ra những cải phương pháp để khắc phục tình hình này. Không những thế, tìm hiểu cuộc chiến tranh lạnh là gì lịch sử hào hùng 12, các các bạn sẽ biết được Liên bang Xô Viết hoàn toàn sụp đổ vào năm 1991 khiến Hoa Kỳ trở thành cường quốc quân sự chiến lược có vị thế thống trị hàng đầu thế giới.

    Cuộc chiến tranh lạnh chấm hết (1985 – 1991)

    Cuộc chiến tranh lạnh là gì và sau lúc chấm hết nó đã tác động ảnh hưởng tới mạng lưới hệ thống Xô Viết ra sao? Cụ thể, khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, đến năm 1989, mạng lưới hệ thống liên minh của Liên Xô đã đứng trên bờ vực sụp đổ và không hề có sự giúp sức của quân sự chiến lược Liên Xô. Vì vậy, lãnh đạo của không ít đảng cộng sản tại những nhà nước nằm trong khối hiệp ước Warsaw mất dần quyền lực trong tay mình. Do vậy, tới tháng 2/1990, Liên Xô dần bị giải tán và quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản bắt đầu bị đánh mất nối dài 73 năm.

    • Tìm hiểu cuộc chiến tranh lạnh là gì và hậu quả của nó, các các bạn sẽ nhận thấy sau lúc trận đấu này kết thúc, thế giới luôn ở trong tình trạng căng thẳng. Thậm chí còn có những khi còn đứng trước nguy cơ phát triển mạnh của một trận đấu tranh thế giới mới.
    • Không chỉ có thế, các cường quốc trong trận đấu này đã phải chi ra một khối lượng khổng lồ về tiền bạc và sức người để chế tạo ra các loại vũ khí hủy diệt phục vụ cuộc chiến tranh
    • Đời sống nhân dân của nhiều nước bị giảm sút nghiêm trọng. Đồng thời, tình hình xã hội cũng luôn xẩy ra sự bất ổn do phải góp vốn đầu tư quá nhiều về kinh phí đầu tư và sức người phục vụ cho cuộc chạy đua vũ trang cũng như tham vọng của giới cầm quyền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Dân Tộc Đang Nổi Cộm
  • 6 Nguyên Nhân Xung Đột Sắc Tộc, Tôn Giáo Ở ​philippines
  • Thế Lưỡng Nan An Ninh Và Xung Đột Sắc Tộc
  • Muc Luc 1 Những Nguyên Nhân Dẫn Đến Xung Đột Sắc Tộc, Tôn Giáo 4
  • Xung Đột Và Giải Quyết Xung Đột Trong Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • Giá Trị Của Triết Học Phật Giáo Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Chương 2: Không Gian Và Thời Gian
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Đề Cương Ôn Tập Gdcd Lớp 10
  • 1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

    Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

    Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

    So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

    Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

    Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

    (Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

    Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

    + Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

    + Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

    Một số định nghĩa khác về dân tộc:

    Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

    Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

    Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

    Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

    Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

    Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

    Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

    1

    Công tác dân tộc

    Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Nghị định 05/2011/NĐ-CP

    6

    Dân tộc thiểu số tại chỗ

    Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

    15/2008/QĐ-UBND

    (Hết hiệu lực)

    Tỉnh Đắk Lắk

    7

    bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

    9

    Mạng Ủy ban Dân tộc

    Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

    10

    Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

    là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

    11

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

    12

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

    Tỉnh Đắk Lắk

    13

    Vùng dân tộc thiểu số

    Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

    Nguồn: Thư viện pháp luật

    3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

    Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

    – Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

    – Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

    – Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

    – Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

    4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

    Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

    – Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

    – Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

    – Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

    – Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

    – Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

    – Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    – Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Khái Niệm “dân Tộc” Và Hai Xu Hướng Phát Triển Của Dân Tộc Trong Chủ Nghĩa Tư Bản?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “vấn Đề Dân Tộc Và Chính Sách Dân Tộc”
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Học Thuyết Của Marx: Chủ Nghĩa Duy Vật Triết Học
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Là Gì? Nó Có Những Hình Thức
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học
  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như­ ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như­ chúng ta thấy hiện nay. Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được. Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như­ đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ­ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại.

    Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị – xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như­ trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển. Đã có tình hình nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá, thôn tính lẫn nhau. Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình. Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước. Bản thân nhà nước, đến l­ượt nó, lại có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới của mình. Bộ máy nhà nước trung ­ương tập quyền của nhà Tần ở Trung Quốc chẳng hạn, khi ban hành những pháp luật thống nhất trong cả nước, bắt mọi người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (th­ư đồng văn, xa đồng quỹ) đã đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên.

    Trước đây, các học giả phương Tây ch­ưa nghiên cứu nhiều về vấn đề dân tộc nói riêng. Các sách báo mácxít cũng dựa chủ yếu vào tình hình của châu Âu mà cho rằng, dân tộc chỉ trở thành dân tộc khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, khi xuất hiện thị trường dân tộc(1). Thực ra, trên thế giới, tính cố kết dân tộc có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân kinh tế, chính trị khác, như­ nhu cầu có những công trình trị thuỷ lớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lược, đô hộ và đồng hoá của ngoại tộc. Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn một nghìn năm mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người (Việt Nam) đã có ý thức về bản sắc của dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy. Ý thức về quốc gia – dân tộc đã thể hiện rõ trong hành động lịch sử của Lý Bí khi ông tự x­ưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư­” thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ “Bình Ngô đại cáo” thế kỷ thứ XV. Vậy mà cho đến thế kỷ thứ XX, Việt Nam vẫn ch­ưa đạt đến trình độ một nước tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng là, người Việt Nam đã hình thành nên dân tộc của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay từ khi bị ngoại tộc đô hộ mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nước phong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X.

    Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc. Con người được sinh ra trong cộng đồng, từ cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là cộng đồng dân tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Đứa trẻ sơ sinh chỉ mới là “con người dự bị”; nó phải tập ăn, tập nói như người, cảm xúc, ứng xử và suy nghĩ như người. Nắm được ngôn ngữ dân tộc – vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là phương tiện nhận thức – đứa trẻ càng nhanh chóng đi vào những khuôn nếp của xã hội, những tục lệ, tín ngưỡng, đạo lý, pháp luật sẵn có của một trình độ văn hoá nhất định. Đến tuổi thành niên, nó mới được xã hội công nhận là một thành viên đủ t­ư cách. Một cách rất tự nhiên, mỗi cá nhân con người đều cảm thấy rất rõ, trong cả thể xác và tâm hồn mình, là người của một dân tộc nhất định. Đó chính là ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc hay là chủ nghĩa dân tộc.

    Như­ vậy, ý thức dân tộc trước hết là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con người: mình từ đâu đến? Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ (đất nước), làm chủ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc mình. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc. Đó là quyền tự nhiên, mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ. Chủ nghĩa dân tộc còn là ý thức về phẩm giá dân tộc. Dân tộc tồn tại và phát triển là thành quả của sức lao động và đấu tranh sáng tạo của nhiều thế hệ tiền bối. Họ đã tạo ra tất cả những giá trị vật chất và tinh thần hợp thành nền văn hoá dân tộc, vừa có bản sắc riêng, vừa là bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại.

    Song, điều phức tạp của lịch sử là ở chỗ, các tộc người, các dân tộc hình thành và phát triển khi đã có sự phân tầng xã hội thành các giai cấp. Sự xuất hiện giai cấp không làm tan rã cộng đồng dân tộc, mà chỉ chia rẽ con người trong cộng đồng dân tộc, thậm chí đến mức đối kháng. Trong cùng một dân tộc, ý thức dân tộc của mỗi giai cấp lại được chiết quang qua ý thức về lợi ích giai cấp; vì vậy, nó không thể không mang thêm những sắc thái riêng bắt nguồn từ tính giai cấp.

    Việc cải tiến công cụ lao động tuy chậm chạp nhưng liên tục trong xã hội nguyên thủy làm tăng dần năng suất lao động của con người; đến một độ nhất định (thời đại đồ đồng, đồ sắt), sản xuất xã hội đủ sức tạo ra những sản phẩm thặng d­ư. Tiền đề này đã dẫn đến một tất yếu lịch sử là sự hình thành giai cấp và kèm theo nó là sự phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc. Một số người có điều kiện chiếm dụng những sản phẩm thặng dư­ và sống trên lư­ng người khác, trở thành giai cấp ăn bám và thống trị. Đa số người còn lại vẫn buộc phải sản xuất trực tiếp đổ mồ hôi kiếm miếng ăn, đó là những giai cấp bị bóc lột và bị trị, là nhân dân lao động. Đồng thời, cũng chỉ có người nào không buộc phải trực tiếp lao động sản xuất mới có thì giờ rảnh để chuyên làm lao động trí óc, phát triển mọi năng khiếu tinh thần của con người và trở thành những nhà trí thức. Trong xã hội có giai cấp, tầng lớp trí thức phần nhiều xuất thân từ giai cấp thống trị hoặc phụ thuộc vào họ. Tình hình này đ­ưa đến sự lầm lẫn cho rằng, kẻ lao tâm thì trị người và được người nuôi, còn kẻ lao lực thì nuôi người và bị người trị (Mạnh Tử). Thực ra, những thành viên của các giai cấp thống trị trong lịch sử trước đây không phải đều là trí thức hoặc bắt đầu từ chỗ là trí thức. Sở dĩ họ thống trị là vì họ đã nắm được quyền lực, mà cơ sở vật chất của quyền lực là sự chiếm đoạt, chủ yếu bằng bạo lực.

    Sự hình thành các giai cấp và tầng lớp trí thức đánh dấu sự xuất hiện của bất bình đẳng xã hội giữa con người với nhau, xâm hại tính cộng đồng gắn liền với bản chất của con người là một động vật xã hội, có tính xã hội. Trong đấu tranh giai cấp, hiện t­ượng mạnh được yếu thua, cư­ờng quyền át công lý, “cá lớn nuốt cá bé” chẳng qua là biểu hiện của quy luật đấu tranh sinh tồn, của “luật rừng” trong giới sinh vật. Các giai cấp đấu tranh với nhau, song vẫn dựa vào nhau cùng tồn tại: đấu tranh giai cấp không làm tan rã được xã hội. Nó không phủ định bản chất con người đã bắt đầu định hình, mà chỉ ­minh hoạ cho thấy rằng, việc hình thành con người là một quá trình tiến hoá trường kỳ, từ tính động vật đơn thuần đến tính người hoàn thiện hơn, thực sự là con người. Tính động vật hay thú tính là cái nền tảng ban đầu nhưng được cải biến dần dần, còn tính người hay nhân tính thì ngày càng được trau dồi và nâng cao. Sự đối kháng giai cấp không điều hoà, tuy đã biến con người thành “chó sói đối với người”; nhưng cũng chính đấu tranh giai cấp lại là động lực làm cho xã hội tiến hoá đi lên, từ hình thức bóc lột và thống trị tàn nhẫn và thô bạo của chế độ chiếm nô, đến chế độ phong kiến hết sức chuyên chế nhưng đã ít tàn bạo hơn, đến chế độ tư bản bóc lột tinh vi hơn và thống trị một cách “dân chủ”, nghĩa là che đậy hơn. Tính động vật đơn thuần đã từng bước chuyển hoá, mở đường cho tính người được nâng lên dần dần một cách không thể đảo ng­ược được.

    Mặt khác, giai cấp xuất hiện cũng có nghĩa là con người đã làm gia tăng một cách đáng kể năng lực sản xuất và khai thác tự nhiên của mình. Con người đã v­ượt qua được giai đoạn tiền sử – giai đoạn dã man và tiến vào giai đoạn văn minh. Việc lao động trí óc được tách ra thành một dạng hoạt động chuyên biệt là thêm một đòn bẩy hết sức mạnh mẽ để phát triển năng lực nhận thức của con người: năng lực quan sát, chiêm nghiệm, năng lực tư duy, phân tích và tổng hợp, tổng kết, nâng nhận thức từ trình độ cảm ­tính lên trình độ lý tính. Tất cả những điều đó đã xây dựng nên nền văn hoá đặc trưng cho loài người: nền văn hoá dân gian rất phong phú của quần chúng nhân dân và cả một nền văn hoá bác học đồ sộ do những nhà trí thức các thế hệ sáng tạo ra. Sự phát triển tất cả các hình thái ý thức của con người: tư tưởng, các môn khoa học tự nhiên, các môn khoa học xã hội giúp con người không chỉ ngày càng nhận thức được và làm chủ tự nhiên, mà còn vươn lên nhận thức được và làm chủ xã hội và cả bản thân mình. Có thể nói, con người đã và còn tiếp tục sáng tạo ra cả một thế giới mang tính người, được “người hoá”. Thành tựu rực rỡ này làm vinh quang cho con người, đồng thời cũng là điểm tới của một lộ trình vô cùng gian nan và đau khổ, đẫm mồ hôi và máu: cái giá phải trả cho quá trình lịch sử mấy nghìn năm của xã hội có giai cấp.

    Cho đến nay, xã hội loài người vẫn chư­a thoát ra ngoài khuôn khổ của xã hội có giai cấp. Vậy, ý thức giai cấp đã tác động như thế nào tới ý thức cộng đồng, cụ thể ở đây là ý thức dân tộc?

    Nhìn một cách đại thể thì xã hội có giai cấp gồm hai lớp người: lớp trên là những giai cấp bóc lột, thống trị và lớp dưới là những giai cấp lao động, bị trị. Là thành viên của dân tộc, dĩ nhiên các giai cấp lớp trên cũng có ý thức về dân tộc mình, có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Là giai cấp thống trị, nắm bộ máy nhà nước, họ đồng hành với dân tộc mình và hiểu rằng, không có dân thì làm sao có nước. Lợi ích giai cấp của họ thời kỳ đầu nằm trong lợi ích của dân tộc. Vô số những anh hùng dân tộc trong lịch sử là những vua sáng, t­ướng tài, những nhà tư tưởng, nhà văn hoá thuộc thành phần lớp trên. Nhưng khi một triều đại phong kiến nào đó đã suy đồi thì cũng có những ông vua bán nước cầu vinh, “cõng rắn cắn gà nhà” hòng giữ lại lợi ích nhỏ nhen của triều đại mình. Bản thân giai cấp tư­ sản đã từng giương cao ngọn cờ cách mạng dân chủ, làm rung chuyển châu Âu phong kiến các thế kỷ XVII, XVIII. Đại cách mạng Pháp đã đem lại thống nhất, tự do và vinh quang cho dân tộc Pháp. Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, chính giai cấp t­ư sản Pháp đã trở thành bảo thủ và phản động; nó đã ký hiệp ư­ớc đầu hàng quân Phổ xâm lược trong khi công nhân và nhân dân lao động Pari ngoan c­ường chống lại (1871). Mặt khác, các giai cấp lớp trên đều là giai cấp thống trị, đều có tham vọng mở rộng sự thống trị của giai cấp mình ra bên ngoài. Trong tư tưởng của họ, ý thức về quốc gia, chủ nghĩa quốc gia luôn lấn át chủ nghĩa dân tộc. Đó là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh xâm lược, chinh phục triền miên trong lịch sử của chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

    Ng­ược lại là những giai cấp lao động ở lớp dưới. Họ không những duy trì được tính người, một động vật biết tạo ra công cụ lao động và lao động bằng công cụ, mà còn phát huy và hoàn thiện tính người với t­ư cách một động vật xã hội, n­ương tựa vào nhau mà sống, có tình thương đồng loại và đạo lý làm người: đó chính là chủ nghĩa nhân đạo. Dĩ nhiên, nhân dân lao động cũng có thể có biểu hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, vị kỷ, và ở thân phận bị trị có thể nhiều ít nhiễm tư tưởng của giai cấp thống trị; nhưng cùng với sự tiến bộ về dân trí, họ dễ hiểu ra rằng, lợi ích của mọi người lao động là thống nhất: suy ta ra người, vì thương thân nên cũng thương người, vì trọng dân tộc mình nên cũng biết trọng dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc của họ không đối kháng với các dân tộc khác. Giai cấp vô sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa không vư­ớng chút nào vào tư tưởng tư­ hữu, lại càng có điều kiện vật chất để đi tới tư tưởng chủ nghĩa quốc tế thực sự(2) – hoàn toàn đối lập với mọi dạng chủ nghĩa quốc gia từng có trong lịch sử. V.I.Lênin trước đây đã nhận xét: ” Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có những thành phần, thậm chí không phát triển, của một nền văn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ­ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong mỗi dân tộc, cũng còn có một nền văn hoá tư sản (…) không phải chỉ ở trong tình trạng là những “thành phần” mà là dưới hình thức nền văn hoá thống trị“(3).

    Nh­ư vậy, trong xã hội có giai cấp, chủ nghĩa dân tộc cũng có tính giai cấp. Có chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, cách mạng, cũng có chủ nghĩa dân tộc lỗi thời, phản động. Chủ nghĩa dân tộc của các giai cấp lớp trên thay đổi tính chính trị của nó tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, khi giai cấp đó còn vai trò tiến bộ hay đã lỗi thời. Chỉ có chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động là trước sau nh­ư một, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính.

    Ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và hoạt động cách mạng với bút danh Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, Người đã trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đầu năm 1946, Người công khai bày tỏ tâm tư­ của mình: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(4). Năm 1969, 50 ngày trước lúc đi xa, Người đã nhìn lại cả cuộc đời mình khi trả lời một phóng viên: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”(5). Động lực làm nên chí khí và sự nghiệp Hồ Chí Minh chính là điều mà Người đã mạnh dạn gọi là chủ nghĩa dân tộc. Đó là tư tưởng nền tảng, nhất quán trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc đã được làm giàu thêm bằng những tinh hoa trong tư tưởng chính trị của loài người: chủ nghĩa dân chủ chủ nghĩa xã hội.

    Hồ Chí Minh đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và cũng vì tất cả các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động; nó không tách rời mà trái lại, luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Học Thuyết Của Marx: Quan Niệm Duy Vật Lịch Sử
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Khái Niệm Về Tinh Thần Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Dan Toc Va Chinh Sach Dan Toc Dantocvachinhsachdantoc Ppt
  • Đường Lối Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hoá Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc?
  • Dân Tộc Học Hay Nhân Học ?
  • Dân Tộc Là Gì? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản “cương Lĩnh Dân Tộc” Của Chũ Nghĩa Mac
  • Maoa: Hiệp Hội Chủ Sở Hữu Căn Hộ Dân Tộc Thiểu Số
  • Riêng nước Việt Nam ta về phương diện địa lý có một hoàn cảnh đặc biệt: ở giữa núi cao biển rộng và bị kềm hãm giữa hai khối Trung Hoa và Ấn Độ. Phía Bắc giáp với Trung Hoa, một nước có nhiều dân và một nền văn minh rực rỡ từ lâu đời. Dân tộc Trung Hoa lại có khả năng đồng hóa các dân dộc lân bang. Phía nam gặp nền văn minh Ấn Độ. Dân tộc Chiêm Thành (chịu ảnh hưởng đậm đà của văn hóa Ấn), là một dân tộc hùng mạnh mà trong quá khứ đã nhiều phen làm ta điêu đứng. Phía Đông giáp biển Thái Bình Dương rộng rãi mênh mông. Phía Tây là dãy Trường Sơn dài, rộng, cao và hiểm trở. Lưu vực sông Hồng hà lại quá chật hẹp. Trong hoàn cảnh địa lý khắc khe như thế muốn được tự tồn tất phải có đấu tranh gian khổ cho nên lịch sử của dân tộc Việt Nam là một lịch sử đấu tranh. Đấu tranh vói thiên nhiên để tránh cảnh lụt lội triền miên của dòng sông Hồng quái ác, chống trả với sự đồng hóa của dân tộc Trung Hoa ở phương Bắc và phải vất vả nhiều với cuộc Nam tiến để được sinh tồn. Sau hơn hai ngàn năm lập quốc, hiện tại về phía Bắc ta dã ngăn chặn được kẻ hiếu chiến Trung Hoa, về phía Nam đã mở rộng bờ cõi đén tận vịnh Thái lan. Lập được những thành tích vẻ vang đó tức nhiên nhờ vào sức mạnh tinh thần dân tộc ta. Nhưng tinh thần đó như thế nào?

    Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và hơn tám mươi năm Pháp thuộc, tuy ngoại nhân tìm đủ mọi cách để đồng hóa dân ta, nhưng nhờ tinh thần ĐỘC LẬP và QUẬT KHỞI dân ta vẫn giữ nguyên bản sắc cố hữu và lần lượt đuổi được kẻ xâm lăng.

    Tinh thần độc lập tự chủ khiến cho dân ta biết tự cao về nòi giống, biết yêu thương đồng bào và tổ quốc, biết đoàn kết và tương trợ, biết biến đổi các tinh hoa tư tưởng ngoại lai để cho hợp với dân tộc tính. Thật thế tinh thần đọc lập đã được thể hiện trong câu nói khẳng khái của Trần Bình Trọng ‘ thà làm quỷ nước nam, không thèm làm vương đất bắc “. Trong bài thơ phá Tống ào hùng của Lý thường Kiệt:

    “Nam quốc sơn hà Nam đé cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

    Ngoài sự tôn trọng non sông dân tộc, dân ta cón có tinh thần đoàn kết tương trợ. Trong gia đình thì chị ngã em nâng, ngoài xã hội thì lá lành đùm lá rách. Trong lúc thường thì chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác, khi biến động thì nằm gai nếm mật chung nỗi ân ưu và muôn tấm lòng cùng đồng thanh Sát Thát. Hai câu thơ sau đây đã nói lên được tinh thần độc lập và đoàn kết của dân tộc ta:

    “Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy, Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương”

    Cũng vì có tinh thần độc lập nên dân ta biết hòa đồng các sắc thái ngoại lai. Trong khi đưa tau tiếp nhận gió muôn phương vẫn cố giữ những sắc hương riêng biệt. Trong tinh thần đó ta đã cố gắng biếng đổi những tinh hoa văn hóa của nước người cho thích hợp với tâm tình dân Việt Nam. Thí dụ người Trung Hoa dạy ta chữ Hán thì ta mượn chữ Hán để tạo thành chữ Nôm, người Pháp cho ta biết thể cách của thơ Pháp thì ta mượn thể cách ấy để sáng tạo thành thơ mới. Suy rộng ra từ cách trang phục, ẩm thực, kiến trúc… đến triết học, tư tưởng, tôn giáo… đều có sự biến đổi để cho hợp với dân tộc tính của ta.

    Nhưng quan hệ nhất là tinh thần QUẬT KHỞI của dân ta. Đó là một khả năng kỳ diệu giúp chúng ta không bị diệt vong dù trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Một người ngoại quốc, Paul Mus đã nhận định về tinh thần quật khởi như sau: “Dân tộc Việt Nam đã thụ hưởng của dân tộc láng giềng phía Bắc cái sức mạnh thắng mọi kẻ địch ở phía Nam. Nhưng không biết họ đã thừa hưởng được của ai cái năng lực chống đối lại chính cái dân tộc mà họ đã bắt chước để lật đổ ách đô hộ về chính trị của một ngàn năm nô lệ? Ngay từ khi lập quốc tất cả then chốt của lịch sử Việt Nam đều ở cả các tinh thần chống đối. Các tinh thần chống đối đó là một phối hợp kỳ diệu giữa một sức đồng hóa lạ lùng với năng lực quật khởi quốc gia không chịu khuất phục mặc dầu bị thụa trận, bị phân tán, bị chinh phục.” Quả thật cái tinh thần quật khởi ấy là nền tảng của ý chí kiên cường để tranh đấu chống ngoại xâm. Trưng Vương trong hoàn cảnh bi đát của đất nước vẫn vùng lên “Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân”. Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở lối khai đường cho nền độc lập huy hoàng của quốc gia dân tộc. Hưng Đạo Vương đã cản được bước tiến của quân Mông Cổ, một đạo quân bách chiến bách thắng từ Á sang Âu. Lê Lợi hy sinh cả gia đình và tài sản mười năm gian khổ chống trả giặc Minh giải phóng giống nòi, giành quyền tự chủ. Vua Quang Trung một sớm một chiều đã phá tan hai mươi vạn quân Thanh giữa một trời Xuân minh mị. Tất cả những chiến thắng vẻ vang đó đã nối tiếp nhau tạo thành những trang sử vàng son của dân tộc và truyền thống anh dũng bất khuất của giống nòi. Thế rồi ngọn gió Tây Phương thổi tới, gót giày xâm lược của Pháp in dấu khắp quê hương. Trước sức mạnh của nền văn minh cơ giới đất nước lần lần lọt vào tay người Pháp. Nhưng từ đó trở đi không lúc nào là dân ta không nuôi chí chống quân thù

    “Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở, Bủa lưới săn nai cũng có ngày…

    (Phan Văn Trị)

    Những cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ khoa Huận, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám đã gây biết bao khó khăn cho Pháp. Từ chiến thắng hỏa hồng Nhật Tảo đến tiếng bom Sa Điện, từ bài thơ Đập đá Côn Lôn đến mười ba tiếng hô Việt Nam Vạn tuế… các anh hùng liệt sĩ Việt Nam đã làm cho ngoại nhân khiếp sợ trước tinh thần quật khởi của dân ta.

    Ngoài tinh thần quật khởi, dân ta còn có tinh thần chống đối. tinh thần chống đối nfay nhận xét kỹ chỉ là một khía cạnh của tinh thần quật khởi mà dân ta dùng để bảo tồn cái hay cái đẹp sẵn có. Chính nhờ tinh thần này mà dân ta không bị đồng hóa diệt vong. Có khi chống đối âm thầm sự bất chính của kẻ quyền thế trong triều đình như Truyện Trê Cóc, có khi chống đối công khai những thói hư tật xấu của người ngoài xã hội như:

    “Sơ khảo khoa nầy bác Cử Nhu Thật là vừa dốt lại vừa ngu Văn chương nafp phải là đơn thuốc Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu!”

    Và đặc biệt nhất là chống đối bằng những lời nói bông đùa nhưng mỉa mai kín đáo:

    “Không chồng mà chửa mới ngoan Có chồng mà chửa thế gian sự thường”

    Cuối cùng dân ta còn có một tinh thần thực tế. Không cần để ý đến những điều cao xa chỉ lo lắng đến những ngu cầu thực tiễn:

    “Nhất sĩ nhì nông Hết gạo chạy rông Nhất nông nhì sĩ.”

    Chỉ để ý đến cái chắc chắn hiện tại chớ không tha thiết đến những cái đẹp hão huyền vượt khỏi tầm tay:

    Thằng Bờm có cái quạt mo Phú ông xin đổi ba bò chín trâu Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu, Phú ông xin đổi ao sâu cá mè Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè Phú ông xin đổi con chim đồi mồi Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi Phú ông xin đổi nắm xôi. Bờm cười!

    Tóm lại, qua những điều nhận xét trên, ta thấy tinh thần dân tộc Việt Nam được kết tinh bằng một lý trí thực tiễn, một tình cảm chân thành và một ý chí bất khuất. Nhờ có tinh thần quật khởi và độc lập dân ta mới có ý niệm quốc gia, biết yêu quê hương và đồng bào chủng tộc. Kế đến nhờ có tinh thần chống đối thể hiện trong các tác phẩm trào lộng mà dân ta bảo vệ được cái hay cái đẹp săn có của mình. Cuối cùng nhờ tinh thần thực tế dân ta có được thái độ khon ngoan cần thiết trong khi xử kỷ tiếp vật.

    *

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Chúng Ta Phải Nghiên Cứu Xây Dựng Một Khái Niệm Hoàn Chỉnh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Bài 1: Độc Lập Dân Tộc, Tình Cảm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Tư Tưởng Về Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Tại Sao Cần Mở Rộng Khái Niệm “độc Lập Dân Tộc”?
  • Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Lực Lượng Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Phân Tích Những Quan Điểm Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Tư Tưởng Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Li Khai Và Vấn Đề Li Khai Dân Tộc Ở Một Số Nước Đông Nam Á
  • Độc Lập Hay Ly Khai, Sứ Mệnh Hay Ảo Mộng?
  • Khái Niệm Led 7 Đoạn, Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc, Khái Niệm Đoạn Văn, Khái Niệm âm Mưu Và Thủ Đoạn Của Chiến Tranh Đặc Biệt, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm Là Gì, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm ăn, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Từ Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Mặc, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm 635, Khái Niệm 5s, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm 5m, Khái Niệm 811, Khái Niệm 5g, Khái Niệm 500 Anh Em, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm 4r, Khái Niệm 4p, Khái Niệm 821, Khái Niệm Oda, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 632, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm 7p, Khái Niệm P, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 4k, Khái Niệm 4g, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 3d, Khái Niệm 331, Khái Niệm 6s, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm 2g, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm 3r, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm 911, Khái Niệm A, Khái Niệm 4c, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm U Xơ,

    Khái Niệm Led 7 Đoạn, Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc, Khái Niệm Đoạn Văn, Khái Niệm âm Mưu Và Thủ Đoạn Của Chiến Tranh Đặc Biệt, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm Là Gì, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm ăn, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Từ Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Mặc, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Dân Tộc Kinh Tiếng Anh Là Gì?
  • Không Có Dân Tộc Kinh (?)
  • Tính Dân Tộc Trong Văn Học
  • Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu
  • Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc Ở Các Nước Thuộc Địa Và Nửa Thuộc Địa (1918

    --- Bài mới hơn ---

  • Icm: Phong Trào Độc Lập Công Dân’
  • Bài 20. Phong Trào Độc Lập Dân Tộc Ở Châu Á (1918
  • Giải Lịch Sử Lớp 8 Bài 20: Phong Trào Độc Lập Dân Tộc Ở Châu Á (1918
  • Quyền Dân Tộc Tự Quyết (Self
  • Quyền Dân Tộc Tự Quyết Và Quyền Của Dân Tộc Thiểu Số
  • Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười 1917 ở Nga thắng lợi, cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ phát triển mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Tiếng vang của Cách mạng tháng Mười Nga đã vượt qua biên giới của nó, tác động mạnh mẽ đến hầu khắp các quốc gia – dân tộc trên hành tinh. Trong đêm dài đen tối đầy bất công của chế độ: phong kiến, tư bản thực dân, nhất là quan những năm tháng khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), nhân dân ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, những người phải chịu đựng nhiều tai họa nhất của chiến tranh đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười những niềm hi vọng to lớn, đối với mình, thúc đẩy họ vùng dậy đấu tranh giành quyền sống, giành độc lập dân tộc.

    1. Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Á

    Châu Á là vùng đông dân cư nhất, bao gồm những nước có lãnh thổ lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú. Từ cuối thế kỷ XIX, các nước châu Á đã trở thành những nước thuộc địa, nửa thuộc địa và là thị trường chủ yếu của các nước đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan…

    Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước châu Á lên cao và lan rộng hơn cả so với châu Phi và Mĩ la tinh.

    Ở Trung Quốc, ngày 4-5-1919, phong trào cách mạng rộng lớn chống chủ nghĩa đế quốc đã bùng nổ, mở đầu cho cuộc cách mạng dân chủ mới tiếp diễn trong suốt 30 năm sau đó. Phong trào Ngũ Tứ đã thúc đẩy phong trào công nhân Trung Quốc nhanh chóng kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin và dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921.

    Trong những năm 1918 – 1922, nhân dânẤn Độđã tăng cường đấu tranh chống thực dân Anh. Nhiều cuộc bãi công lớn của công nhân với hàng chục vạn người tham gia, kéo dài hàng tháng, đã lan lộng khắp cả nước. Đồng thời, phong trào nổi dậy của nông dân cũng liên tiếp bùng nổ chống lại bọn địa chủ phong kiến và đế quốc Anh.

    Ở Thổ Nhĩ Kì, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 1919 – 1922 (do giai cấp tư sản lãnh đạo) đã kết thúc thắng lợi. Ngày 29-10-1923, chế độ cộng hòa được thiết lập Thổ Nhĩ Kì có điều kiện để trở thành một nước tư sản có chủ quyền và bước vào thời kì phát triển mới.

    Năm 1919, nhân dân Ápganixtan thu được thắng lợi trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, buộc đế quốc Anh phải công nhận quyền độc lập chính trị của mình. Cũng vào năm 1919, nhân dân Triều Tiên đã nổi dây khởi nghĩa chống đế quốc Nhật Bản.

    Những năm sau Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi và Mĩ la tinh cũng có những bước phát triển mới.

    2. Phong trào cách mạng ở châu Phi

    Ở châu Phi, phong trào đấu tranh mạnh mẽ nhất là ởAiCập.Năm 1918, những tiểu tổ xã hội chủ nghĩa xuất hiện ở Cairô, Alêchxanđri, Poócxait, rồi hợp nhất thành Đảng Xã hội và từ năm 1921 mang tên Đảng Cộng sản Ai Cập. Trong những năm 1918 – 1923, đã diễn ra cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn cho Ai Cập… bằng con đường hòa bình hợp pháp”, do giai cấp tư sản dân tộc khởi xướng. Bị thực dân Anh đàn áp, phong trào vẫn tiếp tục dâng cao và chuyển biến thành khởi nghĩa vũ trang trong nhiều thành thị. Công nhân xe điện, đường sắt ở Cairô, công nhân khuân vác ở Alêchxanđri, các viên chức cơ quan nhà nước đã bãi công.

    Trong nhiều làng xã, tỉnh thành, các ủy ban cách mạng (mang tên gọi Xô viết) được thành lập. Nhân dân Ai Cập đã anh dũng đấu tranh nhưng do thiếu sự lãnh đao thống nhất nên đến đầu tháng 4-1919, thực dân Anh đã đàn áp được khởi nghĩa vũ trang.

    Cuối năm 1921, cuộc khởi nghĩa mới lại bùng nổ. Thực dân Anh buộc phải đi đến những nhượng bộ bề ngoài. Tháng 2-1922, Chính phủ Anh phải tuyên bố hủy bỏ chế độ bảo hộ và trao trả “độc lập” cho Ai Cập. Xuntan Atmét Phuát đổi danh hiệu là vua Phuát I; tháng 5-1923, hiến pháp mới được ban hành. Tuy vậy, trên thực tế ảnh hưởng của đế quốc Anh vẫn giữ nguyên. Quân đội Anh vẫn đóng ở Ai Cập, thực dân Anh còn nắm quyền nội trị, ngoại giao và đô hộ trực tiếp vùng Xuđăng

    Ở Tuynidi, phong trào diễn ra sôi nổi trong những năm 1920 – 1922.

    Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ. Đồng thời giai cấp tư sản dân tộc, đứng đầu là Xaalibi, cũng dấy lên phong trào đòi hỏi những quyền lợi chính đáng cho Tuynidi. Thực dân Pháp chẳng những bác bỏ các yêu sách đó mà còn đàn áp phong trào. Lập tức làn sóng biểu tình phản đối và bãi công sôi sục diễn ra khắp cả nước. Phong trào đấu tranh chính trị lên tới đỉnh cao vào tháng 4-1922, đòi hỏi phải khẩn trương thực hiện những cải cách hiến pháp. Tháng 6-1922, chính phủ Pháp buộc phải ban hành sắc lệnh về cải cách hiến pháp ở Tuynidi. Phong trào đấu tranh vũ trang bùng lên mạnh mẽ ở nhiều vùng Marốc (thuộc Pháp) và đặc biệt Marốc thuộc Tây Ban Nha. Giữa năm 1921, các bộ lạc Rớp (thuộc Tây Ban Nha), dưới sự lãnh đạo của Ápđen Kêrim, đã đánh bại đạo quân của tướng Xinvéttôrơ gồm 12.000 binh lính với 120 khẩu đại bác. Ngày 19-9-1921, trong đại hội các bộ lạc, dưới sư lãnh đạo của Ápđen Kêrim, Cộng hòa Ríp độc lập đã ra đời và tồn tại được đến năm 1926.

    Ở châu Phi nhiệt đới cũng bùng nổ phong trào đấu tranh chống đế quốc. Phong trào bãi công rộng lớn ở Nạm Phi (diễn ra trong những năm 1918 – 1920, Đảng Cộng sản Nam Phi ra đời năm 1921, Đảng Đai hội quốc dân Tây Phi thành lập năm 1920 và Đại hội toàn Phi họp năm 1919 là những sự kiện quan trọng trong phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Phi. Đặc biệt, Đại hội toàn Phi lần thứ I họp năm 1919 ở Pari (có 17 Đại biểu tham dự) đã để ra nghị quyết về quyền của người Phi được tham gia cai quản đất nước, bắt đầu từ các cơ quan địa phương và dần dần đi đến những “nhiệm vụ chính quyền cấp cao để trong tương lai châu Phi phải do người Phi cai quản”.

    3. Phong trào cách mạng ở Mĩ latinh

    Ở Mĩ latinh, phong trào cách mạng lên cao ở nhiều nước. Trong những năm 1917 – 1921, ở Achentina đã xuất hiện cao trào đấu tranh của công nhân (riêng năm 1919 đã diễn ra 367 cuộc bãi công với 306.000 người tham gia).

    Trong những năm 1920 – 1921, tại một số thành phố và các bang ở Mêhicô đã ra đời các Xô viết. Ở Braxin, làn sóng bãi công tiếp diễn trong suốt năm 1920 đã buộc chính phủ phải có một số nhượng bộ (như thực hiện chế độ ngày làm 8 giờ và nâng cao tiền lương cho công nhân một số ngành; thi hành chế độ tiền lương mới cho công nhân, thi hành chế độ trợ cấp cho công nhân bị tai nạn lao động).

    Ở các nước Mĩ latinh khác, chính đảng vô sản và các tổ chức công đoàn lần lượt được thành lập nhằm lãnh đạo phong trào công nhân và nhân dân lao động chống đế quốc Mĩ và các lực lượng phản động trong nước.

    Nhìn chung, cao trào cách mạng giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ ở khắp các châu lục, tiến công vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong nước, đồng thời góp phần bảo vệ cách mạng Nga và nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới. Đặc điểm của cao trào cách mạng này là giai cấp vô sản non trẻ đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và ở nhiều nước, họ đã đóng vai trò lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Trong điều kiện đó, các Đảng Cộng sản lần lượt được thành lập ở nhiều nước: Đảng Cộng sản Inđônêxia (1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Aicập (1921), Đảng Cộng sản Braxin (1922), Đảng Cộng sản Cuba (1925)…

    II. Phong trào giải phóng dân tộc trong những năm 1924-1929

    Một đặc điểm nổi bật của phong trào cách mạng 1924 – 1929 là phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa xuống thấp nhưng phong trào giải phóng dân tộc vẫn tiếp diễn mạnh mẽ ở hầu khắp các nước châu Á, châu Phi và Mĩ latinh.

    Ở Ấn Độ, phong trào bãi công của công nhân tiếp diễn trong suốt những năm 1924 – 1927. Phong trào nông dân chống thuế, chống địa chủ tăng tô tức diễn ra mạnh mẽ vào năm 1927. Đảng Quốc đại, sau một thời gian suy giảm lực lượng, bắt đầu tăng cường hoạt động mở rộng đội ngũ.

    Ở các nước Đông Nam Á, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi. Đặc biệt ở Indônêxia, Đảng Cộng sản tích cực lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi thiết thân. Năm 1925, phong trào bãi công của công nhân dâng cao. Năm 1926, nhân dân Bativia (tức Giacacta ngày nay) khởi nghĩa vũ trang. Năm 1927, khởi nghĩa vũ trang bùng nổ ở đảo Xumatơra.

    Ở Việt Nam, trong những năm 20 của thế kỉ này, thông qua lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người cộng sản Việt Nam đầu tiên, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với nhân dân ta. Phong trào công nhân phát triển từ tự phát sang tự giác và tiến tới việc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương).

    Cuộc đấu tranh của nhân dân Xiri những năm 1925 – 1927 và cuộc đấu tranh vũ trang của Cộng hòa Ríp (Marốc thuộc Pháp) trong những năm 1925 – 1926, chống đế quốc Pháp đã nói lên tinh thần quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức và đóng góp nhiều kinh nghiệm quý báu cho phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Arập.

    Ở Braxin, chính sách phản động của chính phủ Bécnađét đã gây nên sự bất bình sâu sắc trong các lực lượng dân tộc dân chủ. Tháng 7-1924, một trại lính ở trung tâm công nghiệp Xan Paolô đã khởi nghĩa. Đến mùa thu năm ấy, làn sóng khởi nghĩa lan rộng đến lực lượng hải quân. Ở Tây – Nam Braxin, quân đội dưới quyền chỉ huy của đại úy Luít Cáclốt Pơretxtét đã khởi nghĩa. Cuôc đấu tranh lan rộng khắp vùng Tây-Nam. Nghĩa quân đề ra những yêu sách: tự do ngôn luận, tư do báo chí, thả tù chính trị, thực hiện bỏ phiếu kín, giải quyết nạn thất nghiệp, chia ruộng đất cho nông dân …và đòi chính phủ Bécnađét phải thực hiện những yêu sách nói trên.

    Tháng 10 – 1924, nghĩa quân của Pơretxtét bắt liên lạc được với nghĩa quân ở Xan Paolô. Nhưng cũng từ đây, chính phủ Bécnađét bắt đầu tấn công lại nghĩa quân.

    Trong thời gian 2 năm (từ tháng l0-1924 đến tháng 2-1927), nghĩa quân đã vượt qua 26.000 km), đánh thắng nhiều trận. Cuối cùng, do bị hao tổn lực lượng, nghĩa quân buộc phải rút qua biên giới Bôlivia để củng cố lực lượng. Cuộc khởi nghĩa vì mục tiêu dân tộc – dân chủ này đã thức tỉnh ý thức cách mạng của nhân dân bị áp bức ở Braxin.

    Ở Nicaragoa, từ năm 1924 đế quốc Mĩ thiết lập chính quyền tay sai Chamôrô và tiến hành can thiệp vũ trang vào Nicaragoa nhằm đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở nước này và uy hiếp phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và tay sai của nhân dân Mĩ latinh nói chung.

    Các tầng lóp nhân dân đông đảo – nông dân, công nhân nông nghiệp, lao động thành thị – ở Nicaragoa đã tham gia cuộc đấu tranh dân chủ chống chính phủ phản động Chamôrô, nổi tiếng nhất là các đơn vị du kích dưới sự lãnh đạo của Angutxtô Xêxa Xanđinô bị ám sát. Tháng 4-1927, nghĩa quân uy hiếp thủ đô Managoa. Đế quốc Mĩ đã đưa quân đội vào đối phó và tìm cách phá hoại các lực lượng dân tộc từ bên trong. Những người tư sản tự do do bị mua chuộc đã thỏa hiệp với bọn đế quốc. Chỉ có một bộ phân cách mạng kiên quyết, đứng đầu là Xanđinô, tiếp tục đấu tranh vũ trang. Cuối cùng, Xanđinô bị ám sát, phong trào dân tộc dân chủ ở Nicaragoa bị đàn áp.

    Nhìn chung, cao trào giải phóng dân tộc trong những năm 1924 – 1929 là một trong những nhân tố quan trọng làm cho sự ổn định của thế giới tư bản chỉ là tạm thời. Phong trào cách mạng lên cao và bị đàn áp đẫm máu, nhưng biểu hiện ý chí quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, dân chủ của các dân tộc bị áp bức.

    III. Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào mặt trận nhân dân chống phát xít trong những năm 1929 – 1939.

    Những năm 1929 – 1939 là thời kì khủng hoảng kinh tế sâu sắc và toàn diện của thế giới tư bản. Khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị. Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và chuẩn bị gây chiến tranh thế giới.

    Vào giữa những năm 30, ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc, Mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân yêu nước nhằm chống bọn phản động thuộc địa, chống nguy cơ phát xít và chiến tranh xâm lược.

    Trên bán đảo Triều Tiên, nhân dân tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng…tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật.

    Ở Đông Nam Á, đầu những năm 30, một số Đảng Cộng sản được thành lập, mở ra một thời kì mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Riêng ở Việt Nam, cuộc khởi nghĩa Yên Bái tháng 2-1930 (do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức) bị thất bại đã chấm dứt vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp tư sản dân tộc, đồng thời cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1930- 1931, mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ -Tĩnh, đã mở ra thời kì cách mạng Việt Nam đi theo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính Đảng mácxít – lêninnít của nó – Đảng Cộng sản Đông Dương. Ở Philíppin, cuộc khởi nghĩa nông dân chống ách bóc lột của địa chủ phong kiến gắn liền với cuộc đấu tranh chống đế quốc bùng nổ năm 1931 đã buộc Mĩ phải trao trả quyền tự trị cho nước này. Ở Miến Điện, phong trào khởi nghĩa nông dân được diễn ra từ cuối năm 1930 đến mùa xuân năm 1932. Đầu năm 1933, ở Inđônêxia đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của thủy binh trên tàu chiến Đơ Giơven Pơrôvinxien.

    Trong cả nước đã bùng nổ cuộc bãi công chính trị, đặc biệt mạnh mẽ ở Cairô và Poóc Xít, quần chúng đã xung đột vũ trang với bọn cảnh sát và quân đội.

    Ở Êtiôpi, cuộc đấu tranh anh dũng và chính nghĩa của nhân dân chống phát xít Italia xâm lược có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành phong trào chống đế quốc trên toàn lục địa Phi.

    Trong các nước châu Phi nhiệt đới ở phía nam sa mạc Xahara, vào cuối những năm 20 đến những năm 39 của thế kỉ XX đã diễn ra sự tập hợp dần dần các lực lượng yêu nước và cách mạng trong cuộc đấu tranh giành được độc lập dân tộc, giành quyền sống. Mầm mống của giai cấp công nhân được phát sinh và phát triển trong nhiều nước. Quá trình hình thành giai cấp tư sản dân tộc cũng bắt đầu trong một số nước.

    Liên bang Nam Phi, một thuộc địa di dân của đế quốc Anh, nước phát triển nhất về mặt kinh tế, đã có ảnh hưởng hai mặt đối với tình hình chính trị của châu Phi nhiệt đới. Bọn thống trị ở đây là người da trắng đã thi hành chế độ phân biệt chủng tộc dã man, tàn bạo nhất. Phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Nam Phi đã có ảnh hưởng tích cực đối với phong trào cách mạng châu Phi.

    Mùa hè năm 1931, các cuộc đấu tranh của quần chúng ở Chilê đẫ lật đổ chính phủ độc tài thân Mĩ của Ibaniét. Phong trào quần chúng tiếp diễn đòi thiết lập chế độ cai trị theo hiến pháp, chống lại ảnh hưởng của các độc quyền Mĩ ở trong nước, đòi giải quyết nạn thất nghiệp và khắc phục tình trạng sinh hoạt đắt đỏ. Đầu tháng 9-1931, binh sĩ trong hạm đội Chilê khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, nhiều cuộc bãi công của công nhân đã bùng nổ ở những thành phố hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Cuối cùng, cuộc khởi nghĩa bị thất bại vì quân đội phản động tập trung sức mạnh đàn áp. Tháng 6-1932, chính phủ mới đứng đầu là Gơrôvơ được thành lập Chilê tuyên bố là nước ”Cộng hòa xã hội chủ nghĩa”, chứng tỏ mong muốn của đông đảo nhân dân Chilê về một xã hội công bằng. Nhưng các lực lượng phản động trong nước và bọn đế quốc bên ngoài đã lật đổ chính phủ Gơrôvơ. Mùa thu năm 1932, lãnh tụ Đảng Tự do là Ácturô Alêchxanđri lên làm tổng thống. Chính sách phản nhân dân của chính phủ Alêchxanđri đã gây nên làn sóng phản đối không chỉ trong quần chúng lao động, mà cả trong tầng lớp tiểu tư sản và tư sản hạng trung.

    Ở Cuba, năm 1933 cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài thân Mĩ – Machađô phát triển mạnh mẽ. Đế quốc Mĩ đưa Xétpêđét, nguyên đại sứ Cuba ở Mĩ, lên thay. Phong trào đấu tranh vẫn tiếp diễn, bao gồm các tầng lớp nhân dân đông đảo, kể cả giai cấp tư sản dân tộc. Binh lính yêu nước cũng vùng dậy đấu tranh. Đầu tháng 9-1933, đã diễn ra một cuộc đảo chính tiến bộ ở Cuba. Xétpêđét bi lật đổ, chính phủ mới do giáo sư Gơrây Xan Mactin đứng đầu được thành lập. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử Cuba, một chính phủ của giai cấp tư sản dân tộc lên cầm quyền và đã thi hành một số biện pháp dân chủ, như chế đó ngày làm 8 giờ, nâng cao tiền lương công nhân, hạn chế hoạt động của một số công ti độc quyền Mĩ…Đầu năm 1934, lực lượng thân Mĩ – Batixta gây áp lực buộc chính phủ Xan Mactin từ chức và chiếm đoạt mọi quyền hành ở Cuba. Tuy nhiên cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Cuba vẫn tiếp diễn trong những năm trước Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Trong những năm 1935 – 1939, ở nhiều nước Mĩ latinh. Mặt trận nhân dân đã được thành lập, tập hợp đông đảo lực lượng nhân dân trong nước: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức tiến bộ và một bộ phận giai cấp tư sản dân tộc.

    Ở Mêhicô, những năm 1934 – 1939 chính phủ của giai cấp tư sản dân tộc đứng đầu là Laxarô Cácđênát – lãnh tụ cánh tả của giai cấp tư sản dân tộc, được sự giúp đỡ của Đảng Cách mạng Mêhicô (đảng của giai cấp tư sản dân tộc) đã thi hành một số biện pháp tiến bộ có lợi cho nhân dân, hạn chế ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc. Năm 1935, phong trào quần chúng nhân dân rộng lớn mà lực lượng cơ bản là công nhân đã đập tan âm mưu đảo chính của lực lượng phản động trong nước. Năm 1936, Tổng liên đoàn lao động Mêhicô ra đời, tập hợp hầu hết các công đoàn trong nước để lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trước cao trào đấu tranh của quần chúng công nông, chính phủ Cácđênát đã tuyên bố thi hành ”luật cải cách ruộng đất”. Ngày 23-6-1937, luật quốc hữu hóa các đường sắt chủ yếu được thực hiện, đưa 700 km đường sắt vào tay Nhà nước. Tháng 3-1938, Cácđênát tuyên bố quốc hữu hóa 17 công ty dầu lửa nước ngoài. Các nước tư bản Anh – Mĩ tìm cách phá hoại, bao vây kinh tế Mêhicô. Trước áp lực đó, chính phủ Cácđênát ngày càng thiên hữu và cuối cùng đã bị đổ. Tuy vậy, phong trào đấu tranh của quần chúng vẫn tiếp tục phát triển. Tháng 9-1938, theo sáng kiến của các công đoàn Mêhicô, Tổng liên đoàn Mĩ latinh được thành lập ở Mêhicô (bao gồm tổ chức công nhân trong nhiều nước Mĩ latinh) đòi độc lập dân tôc, thủ tiêu tàn tích phong kiến, xây dựng một chế độ xã hội dựa trên ”sự tôn trọng độc lập kinh tế và chính trị của mỗi nước và tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới”.

    Ở Chilê, Mặt trân nhân dân ra đời năm 1936 trong cao trào đấu tranh chống chính phủ Alêchxanđri. Mặt trận bao gồm Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, những người cấp tiến và những người dân chủ, với yêu sách chủ yếu là tự do, dân chủ, độc lập dân tộc thực sự, cải thiện đời sống nhân dân lao động. Tháng 12-1938, chính phủ Mặt trận nhân dân do Péđơrô Cácđa, lãnh tụ Đảng Cấp tiến, làm tổng thống đã được thành lập. Chilê là nước đầu tiên ở Tây bán cầu có chính phủ của Mặt trận nhân dân. Chính phủ Cácđa đã thực hiện một số biện pháp tiến bộ trong nước và giữ cho Chilê khỏi rơi vào tay lực lượng phát xít.

    Ở Áchentina, cuộc đấu tranh thành lập Mặt trận nhân dân diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn: giới cầm quyền có những liên hệ chặt chẽ với nước Đức phát xít, các tổ chức phát xít hoạt động mạnh, Đảng Cộng sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Mặc dù vậy, quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, đòi dân chủ và cải thiện đời sống. Tháng 3-1936, Tổng liên đoàn lao động đã thống nhất với Liên đoàn các thủy thủ và Liên hiệp các nhân viên điện thoại. Mặt trận nhân dân ra đời trên cơ sở lực lượng của giai cấp công nhân được tập hợp lại. Trong cuộc bầu cử Quốc hội, Mặt trận nhân dân đã giành được ít nhiều thắng lợi.

    Cuộc đấu tranh xây dựng Mặt trận nhân dân ở Braxin đã diễn ra dưới nhiều hình thức đấu tranh quyết liệt chống chế độ độc tài Vácgát. Năm 1934, Vácgát ban hành đạo luật an ninh nhằm thủ tiêu những dấu vết cuối cùng của nền dân chủ. Bọn phát xít Braxin đã tăng cường hoạt động khủng bố nhân dân.

    Trong những năm 1934 – 1935, giai cấp công nhân Braxin đã đi hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống phát xít và 1,5 triệu công nhân đã tham gia các cuộc bãi công. Phong trào đấu tranh tự phát của nông dân cũng phát triển. Sự bất mãn lan rộng trong cả tầng lớp tiểu tư sản thành thị.

    Tháng 3-1935 theo sáng kiến của Đảng Cộng sản, Đồng minh giải phóng dân tộc được thành lập dưới sự lãnh đạo của Cáclốt Luít Pơrettéc, bao gồm công nhân, nông dân, quân nhân, nhiều nhóm tư sản dân tộc. Đồng minh tập hợp được hơn 1,5 triệu người và trở thành bức tường ngăn chặn chủ nghĩa phát xít. Ngày 5-7-1935, khẩu hiệu ”Tất cả chính quyền về tay Đồng minh” được nêu ra. Chính phủ Vácgat ra lệnh nghiêm cấm hoạt động của Đồng minh nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục dâng cao và chuyển sang đấu tranh vũ trang. Chính quyền dân tộc cách mạng được thiết lập ở Natalia, rồi ở bang Riu Gơranđiđu Noócđi. Ngày 27-11, cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Riô đê Gianêrô. Tháng 11-1937, trước ngày bầu cả tổng thống Vácgat đã làm cuộc đảo chính, giải tán Quốc hội, đặt các chính đảng ra ngoài vòng pháp luật, tuyên bố Braxin là “Nhà nước nghiệp đoàn”.

    Nhìn chung, phong trào giải phóng dân tộc trong những năm 1929-1939 đã có những bước tiến so với mấy năm trước, với sự tham gia của đông đảo quần chúng công nông và các tầng lớp trung gian ở thành thị. Sự tăng cường vai trò của giai cấp công nhân là một đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc trong thời kỳ này. Các Đảng Cộng sản trẻ tuổi phương Đông đã chiến đấu như những chiến sĩ kiên cường vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vào giữa những năm 30 đã diễn ra phong trào đấu tranh của các lực lượng yêu nước trong Mặt trận thống nhất chống đế quốc thực dân phản động, chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình và dân chủ.

    IV. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)

    Cùng với chiến thắng của các lực lượng đồng minh dân chủ, đứng đầu là Liên Xô, đối với chủ nghĩa phát xít thế giới và trong những điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi nước, nhân dân các dân tộc thuộc địa, đặc biệt là ở châu Á, sau những năm tháng đấu tranh gian khổ, đã giành được độc lập ở những mức độ khác nhau.

    Ở Trung Quốc, cuộc chiến tranh chống Nhật kéo dài 8 năm liền (1937 – 1945) với những hi sinh to lớn của nhân dân Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi và góp phần cống hiến không nhỏ vào cuộc chiến tranh chống phát xít của nhân dân các nước trên thế giới.

    Trên bán đảo Triều Tiên, cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật của các lực lượng yêu nước đã làm suy yếu lực lương phát xít Nhật chiếm đóng, góp phần dẫn tới thất bại của phát xít Nhật trên bán đảo Triều Tiên. Quân du kích Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, đã hoạt động mạnh mẽ ở nhiều vùng trong nước, sát cánh với quân giải phóng Trung Quốc.

    Ở các nước Đông Nam Á, đã diễn ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ chống lại sự xâm lược của phát xít Nhật và chống lại ”trật tự mới” của phát xít Nhật (thiết lập từ năm 1940) nhằm thủ tiêu hoàn toàn nền độc lập của các dân tộc. Trong cuộc đấu tranh này, các lực lượng yêu nước chống phát xít đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất để hòa nhập vào phong trào dân chủ chống phát xít trên thế giới. Đồng thời, các lực lượng vũ trang cũng được thành lập ở những thời điểm khác nhau và góp phần vào việc giải phóng đất nước, tiêu diệt phát xít Nhật.

    Sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh là thời cơ ”có một không hai”, tạo ra tình thế hết sức thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á. Chớp lấy thời cơ đó, các dân tộc ở Đông Nam Á đã vùng dậy tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước. Tháng 8-1945, cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi. Ở Lào, ngày 23-8 nhân dân Lào nổi dậy thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi. Ngày 12-10-1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Inđônêxia, ngay sau khi Nhật đầu hàng, ngày 17-8-1945 Tuyên ngôn độc lập được công bố, nước Cộng hòa Inđônêxia thành lập.

    V. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á (từ 1918 đến 1945) 1. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc từ năm 1918 đến năm 1945

    Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đế quốc đều tăng cường chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa để giải quyết những khó khăn trong nước. Tình hình đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến các nước Đông Nam Á. Đời sống nhân dân ngày càng cùng cực, mâu thuẫn dân tộc với đế quốc càng thêm sâu sắc.

    Bắt đầu từ những năm 20, trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á đã xuất hiện và phát triển một xu hướng mới: xu hướng vô sản. Giai cấp vô sản trẻ tuổi ở Đông Nam Á bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, mở ra triển vọng mới cho phong trào cách mạng ở Đông Nam Á: từ giải phóng dán tộc tiến lên giải phóng giai cấp. Điều đó không chỉ phản ánh ảnh hưởng to lớn của Cách mạng tháng Mười Nga đối với các dân tộc ở Đông Nam Á, mà còn cho thấy những biến đổi lớn lao đã diễn ra trong từng nước. Đó là sự hình thành và phát triển nền công nghiệp dân tộc, cùng với quá trình đó là sự trưởng thành của giai cấp công nhân cả về số lượng và ý thức giai cấp. Đồng thời quá trình bần cùng hoá nông dân cũng diễn ra nhanh chóng. Tất cả những yếu tố đó đã làm bùng nổ một cao trào cách mạng mới, một xu hướng mới trong phong trào đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á – xu hướng vô sản. Như vậy, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc Đông Nam Á đã tồn tại và phát triển song song hai xu hướng tư sản và vô sản. Trong giai đoạn này, đã xuất hiện hàng loạt các Đảng Cộng sản trong khu vực, mở đầu là sự thành lập Đảng Cộng sản Inđônêxia (5-1920). Đảng Cộng sản Inđônêxia đã nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị quan trọng và là đại diện chân chính cho những nguyện vọng của nhân Inđônêxia.

    Tiếp theo Inđônêxia, năm 1930 ở Đông Nam Á đã xuất hiện Đảng Cộng sản ở Việt Nam (tháng 2), ở Mã Lai và Xiêm (tháng 4), ở Philippin (tháng 11).

    Ở Miến Điện, Đảng Công sản được thành lập năm 1939. Sự thành lập các Đảng Cộng sản là kết quả của quá trình phát triển phong trào yêu nước kết hợp với phong trào công nhân, tiếp nhận và vận dụng học thuyết Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của các nước Đông Nam Á. Đó cũng là hậu quả của cuộc khủng hoàng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 1929 làm cho mâu thuẫn vốn có giữa các dân tộc với chủ nghĩa đế quốc càng trở nên gay gắt. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động cùng những người yêu nước đã hướng về Đảng Cộng sản với nguyện vọng thiết tha là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động một số nước đã vùng dậy đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Nổi bật là cuộc khởi nghĩa ở Xumatơra 1926 – 1927 và sự thành lập chính quyền Xô viết ở Nghệ-Tĩnh.

    Mặc dù bị thất bại nhưng những cuộc nổi dậy đó chính là sự xuất hiện trên vũ đài chính trị những cuộc đấu tranh yêu nước mang màu sắc vô sản, diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Như vậy, giai cấp công nhân dù mới ra đời cũng đã tham gia vào cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.

    Trong những năm 20 và 30, phong trào dân tộc tư sản đã có những bước tiến rõ rệt so với những năm đầu thế kỉ. Nếu như trước đây, những hoạt động chính trị chỉ nhằm mục đích ”khai trí để chấn hưng quốc gia” thì đến nay mục tiêu giành độc lập được đề xuất rõ ràng: đòi quyền tự chủ về chính trị, quyền tự do trong kinh doanh, quyền dùng tiếng ”mẹ đẻ” trong giáo dục…Nếu như trước đây mới xuất hiện các học hội hay nhóm phái mà vai trò quan trọng thuộc về những người cấp tiến trong sĩ phu phong kiến thì đến giai đoạn này đã hình thành các chính đảng có tôn chỉ mục đích rõ ràng và có ảnh hưởng xã hội rộng lớn.

    Lực lượng đóng vai trò nổi bật trong phong trào dân tộc tư sản thời kì này là tầng lớp trí thức. Họ là học sinh, sinh viên, các nhà kĩ thuật, viên chức tiếp thu ảnh hưởng văn hóa nước ngoài, từ tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp đến chế độ cộng hòa của Hợp chủng quốc Hoa Kì, từ “chủnghĩa Tam dân”của Tôn Trung Sơn đến học thuyết ”bất bạo động” của Găngđi. Họ trở thành bộ phân cấp tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản, là ngòi nổ trong những cuộc đấu tranh lớn ở Đông Nam Á.

    Những tổ chức sinh viên ở Miến Điện đã dấy lên những cuộc đấu tranh đòi cải cách quy chế đại học, đòi tự trị, dẫn đến ”phong trào Thakin” (có nghĩa là những người chủ đất nước) trong những năm 30. Tổ chức đại hội toàn Mã Lai từ đầu thế kỉ đòi cải cách Hồi giáo và dùng tiếng Mã Lai trong nhà trường, phát triển thành phong trào đấu tranh chống thực dân Anh đòi tư trị. Ở Inđônêxia, năm 1927 Đảng Dân tộc do Xucácnô đứng đầu được thành lập. Trải qua nhiều năm tháng, đến cuối năm 1939, Xucácnô đã tổ chức Đại hội nhân dân Inđônêxia bao gồm 90 đảng phái và tổ chức chính trị biểu thị sự thống nhất dân tộc, thông qua nghị quyết về ngôn ngữ (Bahasa Inđônêxia), về quốc kì (đỏ-trắng), về quốc ca (Inđônêxia Raya).

    Ý chí về cuộc đấu tranh cho một quốc gia Inđônêxia thống nhất và độc lập đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh trong toàn dân ở giai đoạn tiếp theo.

    Hai phong trào tư sản và vô sản cùng tồn tại ở Đông Nam Á có nhiều điểm khác biệt về ý thức hệ, về mục tiêu cuối cùng. Nhưng đứng trước mục tiêu chung là độc lập dân tộc nên cả hai phong trào đã tồn tại song song, có những lúc kết hợp với nhau trong một chừng mực nhất định. Bởi lẽ đối với nhân dân Đông Nam Á, kẻ thù lớn nhất là chủ nghĩa đế quốc, không một lực lượng cứu nước nào có thể đứng riêng lẻ hoặc chống đối lẫn nhau. Điều đó đã tạo nên những tiền đề khách quan cho sự thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn sau.

    Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã đưa lịch sử Đông Nam Á bước sang giai đoạn mới.

    2. Phong trào dầu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai

    Năm 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Nam Á và cũng từ đây cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Nam Á chĩa mũi nhọn vào chủ nghĩa phát xít Nhật.

    Do cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật đã trở thành nội dung chính của phong trào giải phóng dân tộc lúc này, đồng thời để hòa nhập với phong trào dân chủ chống chủ nghĩa phát xít trên thế giới, hai xu hướng tư sản và vô sản đã từng tồn tại song song trong giai đoạn trước nay đã tụ hội theo một hướng chung là cứu nước, mặc dù điều đó chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định và ở một chừng mực nhất định.

    Vì vậy, nét mới của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trong giai đoạn này là sự thành lập ở hầu hết các nước Đông Nam Á Mặt trận dân tộc thống nhất và lực lượng vũ trang cách mạng. Mở đầu là Việt Nam độc lập đồng minh (5-1941) và các đội Cứu quốc quân, sau là Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Trong những năm 1942 – 1944, lần lượt xuất hiện Đồng minh dân chủ Philippin với đội quân Húcbalaháp, Liên hiệp nhân dân Mã Lai chống Nhật cùng các đơn vị Quân đội nhân dân, Liên minh tự do nhân dân chống phát xít cùng Quân đội quốc gia Miến Điện…

    Thất bại của chủ nghĩa phát xít trên thế giới, thời điểm quân phát phiệt Nhật Bản đầu hàng đồng minh là thời cơ ”có một không hai”, tạo ra tình thế mới hết sức thuận lợi cho phong trào giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á. Chớp lấy thời cơ, nhân dân các nước Đông Nam Á đã nhất tề vùng dậy tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước.

    Trong hoàn cảnh chung đó, cách mạng Việt Nam có những nét riêng tiến đến thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. Trong nửa đầu những năm 40, cuộc đấu tranh giành quyền lực diễn ra rất quyết liệt giữa các lực lượng chính trị ở trong và ngoài nước. Nhưng Đảng Cộng sản và giai cấp vô sản đã nắm trong tay ngọn cờ dân tộc, có uy tín lớn trong nhân dân, trải qua nhiều thử thách của lịch sử, xác định đúng kẻ thù của cách mạng. Trong khi tranh thủ mọi khả năng để tập hợp lực lượng, Đảng ta đã tự giải quyết lấy nhiệm vụ cách mạng của mình, giữ lấy địa vị người chủ đất nước để đón tiếp phe Đồng minh. Chủ trương sáng suốt đó đã đưa những người lãnh đạo cách mạng nắm đúng thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa, tuyên bố độc lập và thành lập Nhà nước cộng hòa dân chủ trước khi quân Anh và quân Tưởng vào nước ta giải giáp quân Nhật. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam là trường hợp điển hình của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và trên thế giới.

    Ở Inđônêxia, ngay sau khi Nhật đầu hàng, ngày 17-8-1945, đại diện các đảng phái và đoàn thể yêu nước đã soạn thảo và kí vào Tuyên ngôn độc lập. Trước cuộc mít tinh của đông đảo quần chúng ở thủ đô Giacácta, Xucácnô đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, thành lập nước Cộng hoà Inđônêxia. Ngày 4-9-1945, chính phủ Inđônêxia được thành lập, đứng đầu là Xucácnô. Hiến pháp mới của Inđônêxia được thông qua, mở ra thời kì mới trong lịch sử Inđônêxia.

    Ở Lào, sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 23-8-1945, nhân dân Lào đã nổi dậy thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi.

    Ngày 12-10-1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền, Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng tuyên bố trước thế giới nền độc lập của Lào.

    Tuy nhiên, để bảo vệ nền độc lập dân tộc, nhân dân các nước Việt Nam, Lào, Inđônêxia còn phải trải qua cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong nhiều năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Ở các nước khác, các lực lượng yêu nước và quân đội vũ trang đã đấu tranh anh dũng chống phát xít Nhật, giải phóng phần lớn đất đai trong nước. Tuy vậy, thời cơ giành độc lập ở các nước này đã bị bỏ lỡ, quân Mĩ trở lại Philippin, quân Anh trở lại Miến Điện, Mã Lai, Xingapo và Brunây. Đến đây đã khép lại thời kì đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á và mở ra một thời kì mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này.

    BVK (Theo “Lịch sử thế giới hiện đại”, Nxb Giáo dục, 2009)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc
  • Bài 1: Chủ Nghĩa Mác
  • Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số Trong Pháp Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam
  • Xác Định Rõ Tiêu Chí Để Hỗ Trợ Phát Triển Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Đề Xuất Tiêu Chí Phân Định Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Khái Niệm Dân Tộc Và Nội Dung Cơ Bản Của Cương Lĩnh Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch
  • Chiến Lược Diễn Biến Hòa Bình Là Gì?
  • Bài Trả Lời Cho Ai Hỏi: Diễn Biến Hòa Bình Là Gì, Tại Sao Phải Chống? (*)
  • Lý Thuyết: Và Dữ Liệu
  • Tín Hiệu Là Gì?1.khái Niệm Về Thông Tin, Dữ Liệu, Tín Hiệu..
  • 1.Khái niệm dân tộc:

    Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

    Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất.

    Một là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó- Quốc gia dân tộc.

    Hai là: dân tộc chỉ mọt cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia- Quốc gia có nhiều dân tộc.

    2.Nội dung cơ bản: “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mac-Lênin.

    Nội dung cơ bản: “Cương lĩnh dân tộc” có 3 vấn đề sau.

    Thứ nhất: các dân tộc được quyền tự quyết định

    1. Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnhcủa dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình, quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành mổ quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc, quyền tự nguyện liên hiệp lại các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia-dân tộc.

    1. Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả bộ tộc và chủng tộc) không phân biệt trình độ cao thấp đèu có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức bóc lột dân tộc khác.

    2. Trên phạm vi giữa các quốc gia dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẵng giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ ngiã phân biệt chủng tộc, gắn với cuộc đáu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bảnphát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tê.Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc.

    Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc đoàn kết lại.

    3. Trong các quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ như nhau, khắc phục chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc do lịch sư để lại.

    1. Nó quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc, đồng thời nó là yếu tố sức mạnh bảo đảm cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

    2. Đây là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin: nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Nó đảm bảo cho dân tộc có đủ sực mạnh để giành thắng lợi.

    3. Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết nhân dân lao động trong các dân tộc để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy , nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể.

    Tóm lại:”Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác-Lênin (của Đảng cộng sản) là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Dịch Vụ Khách Hàng
  • Dịch Vụ Là Gì? Đặc Điểm Và Bản Chất Của Dịch Vụ
  • Khái Niệm Về Dịch Vụ
  • Danh Từ Và Phân Loại Danh Từ
  • Du Lịch Và Du Lịch Côn Đảo Là Gì ?
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Phân Tích Văn Hóa Việt Nam Từ Góc Độ Giao Lưu
  • Trình duyệt của bạn không hỗ trợ file này.

    “Bản sắc” theo từ điển trong tiếng Việt được hiểu là từ để chỉ tính chất, màu sắc riêng biệt, độc đáo góp phần tạo nên phẩm chất đặc biệt đối với một sự vật nào đó. Có thể hiểu đây chính là những sắc thái, đặc thù riêng mà chỉ có ở sự vật đó. Và trên thực tế, khi nhắc đến cụm từ “bản sắc”, con người ta thường có dụng ý chỉ cái rất riêng của sự vật để có thể phân biệt được so với các sự vật khác xung quanh.

    Và hiện nay, thuật ngữ bản sắc này thường được sử dụng đi liền với văn hóa dân tộc. Khi nhắc đến một quốc gia, dân tộc nào đó là phải nhắc đến bản sắc nền văn hóa của họ. Do đó, có thể hiểu về bản chất của khái niệm “bản sắc văn hóa dân tộc” có nghĩa là hệ thống các giá trị đặc trưng nhất của một nền văn hóa đã được xác lập trong dân tộc đó, nó tồn tại và phát triển trong suốt quá trình lịch sử và được thể hiện qua rất nhiều sắc thái văn hóa khác nhau. Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện được linh hồn, cốt cách, tinh thần cũng như bản lĩnh sinh tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Đây được xem là dấu hiệu để có thể phân biệt được giữa các quốc gia này với các quốc gia khác.

    Trong suốt quá trình hình thành, phát triển của mình, bản sắc văn hóa dân tộc luôn trở thành yếu tố quan trọng, mang đến sức mạnh về tinh thần dân tộc to lớn, giúp cho các dân tộc có thể vượt qua được những khó khăn, thử thách. Bởi thực tế, bản sắc văn hóa dân tộc chính là toàn bộ những phẩm chất, tính cách và là khuynh hướng cơ bản nhất của mỗi dân tộc, mang trong mình sức mạnh tiềm tàng, sức sáng tạo và giúp các quốc gia, dân tộc có thể tồn tại, phát triển cũng như phát huy những giá trị tốt đẹp nhất.

    2. Kết cấu của bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện như thế nào?

    – Tầng diện 2 chính là cách tư duy và lối sống lý tưởng, cái nhìn về thẩm mỹ trong văn hóa dân tộc. Đây được xem là tầng nấc trung gian để có thể hiện thực hóa được mọi thứ trong thế giới quan và nhân sinh quan. Thông qua đó sẽ làm bật được văn hóa dân tộc trong đời sống xã hội và con người. Theo đó, tại tầng diện này, những yếu tố của quá khứ và hiện tại sẽ được liên kết với nhau thông qua các mối liên hệ trong lịch sử, các tư duy logic. Và tại tầng diện này, bản sắc văn hóa dân tộc sẽ được thể hiện một cách đa dạng, phong phú hơn với rất nhiều biến đổi liên tục.

    3. Sự khác biệt giữa bản sắc văn hóa dân tộc và sắc thái văn hóa

    + Còn biểu hiện của sắc thái văn hóa chính là hình thức thể hiện của các nghi thức, hiện tượng, sự vật,… đó. Theo đó, mặc dù bạn không hiểu về bản chất nhưng vẫn có thể nhìn thấy và cảm nhận được về sắc thái văn hóa thông qua các hình thức bên ngoài như là trang phục, ngôn ngữ, phong tục tập quán,…

    + Còn đối với sắc thái văn hóa thì lại có thể linh hoạt theo thời gian, theo những sự biến đổi của xã hội. Sắc thái văn hóa sẽ thể hiện một nền văn hóa văn mình và sự phát triển của xã hội con người. Do đó, nó chỉ mang tính chất tương đối và dễ bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác trên thế giới.

    4. Một số yếu tố có tính định hướng trong nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc

    – Cần xét trong một mối quan hệ giữa các nền văn hóa, bản sắc văn hóa của từng dân tộc được thể hiện qua tính thống nhất, tính đa dạng. Tính thống nhất ở đây được thể hiện qua những nét chung ở nền văn hóa theo từng cấp độ khác nhau, ví dụ như là văn hóa vùng, văn hóa khu vực, văn hóa quốc gia,… Còn tính đa dạng thì sẽ thể hiện những sắc thái riêng, các đặc thù của mỗi nền văn hóa dân tộc. Theo đó, khi nghiên cứu, tìm hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc chính là đi tìm hiểu về cái riêng, cái đặc trưng nhất của các dân tộc đó.

    + Xét về tính biến đổi thì bản sắc văn hóa không phải là một thực thể bất biện, nó sẽ luôn vận động, biến đổi không ngừng theo thời gian. Trong suốt quá trình phát triển, những giá trị lỗi thời, những gì đã cũ và không phù hợp sẽ cần được loại bỏ để thay thế bằng những cái mới tốt đẹp hơn. Do đó, bản sắc văn hóa dân tộc có thể được xem là một quá trình trưởng thành, phát triển của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa
  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Văn Hóa Bản Địa Trong Xây Dựng Môi Trường Cư Trú Truyền Thống
  • Bài Viết Một Số Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Văn Hóa Truyền Thông
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Phân Tích Văn Hóa Việt Nam Từ Góc Độ Giao Lưu
  • Giao Lưu Và Tiếp Biến Văn Hoá
  • Tiếp Biến Văn Hóa Vn Trong Bối Cảnh Hội Nhập
  • Ngày đăng: 16/04/2019

    Bất kỳ một giá trị biểu hiện nào cũng đều có nguồn gốc hình thành của nó. Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như vậy. Vậy, khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc có từ đâu?

    Bản sắc, xét một chút ngữ nghĩa thì ta thấy rằng; trong Hán cổ , , cũng có nghĩa là sắc tướng, hình dáng cái chất cố hữu vốn có, cái tính đã hình thành. Trong ngôn ngữ Anh thường sử dụng là Characterization– nghĩa là sự tiêu biểu. So sánh đối chiếu về mặt ngôn ngữ, ta có thể tóm gọn, bản sắc là cái tính chất tiêu biểu vốn có, là nét đặc trưng riêng không lẫn vào cái khác.

    Cùng với từ manjunimana có nghĩa là làm cho trở nên đẹp đẽ hoặc văn hóa, cho đến nay có rất nhiều cách định nghĩa, cách hiểu về văn hóa; chẳng hạn như trong Hán cổ, nó có nghĩa là những cái đẹp được biểu hiện ra bên ngoài. Đặc biệt, trong Sanskrit मञ्जुनिर्माण cái gì có sức mạnh để làm cho đẹp hơn thì gọi là manjunimana- dịch tương đương với tiếng Việt của ta là Văn hóa. Từ đó có thể nhận diện ra rằng, tự thân Văn hóa đã là những giá trị đẹp trên phương diện hình dáng và tính chất, đồng thời nó đã tích chứa sức mạnh để có thể thay đổi cái chưa đẹp thành cái đẹp, vừa biểu hiện kết quả vừa là hành động- nimana để cho kết quả. Còn phương tây thì lại gọi bằng từ kultur – tiếng German có nghĩa là hạt giống trồng trọt; tây nhưng triết lý biểu tượng rất “ta” và hơn cả “đông”! Nó gần với manjunimana của Sanskrit, đều biểu hiện sự ươm mầm, từ hạt giống mà trưởng thành. Cái khác là ngôn ngữ và cách đặt danh tính cho nó chứ kỳ thực đều diễn đạt một nội dung: văn hóa là cái đẹp từ trong ra ngoài trong phạm vi loài người– đó là một cách hiểu văn hóa.

    Từ hai tiểu dẫn trên gộp vào ta có cách hiểu về Bản sắc văn hóa dân tộc: là tổng hợp những giá trị văn hóa tiêu biểu, riêng biệt của dân tộc Việt Nam, phổ quát nhưng đặc sắc, tồn tại linh hoạt nhưng không bị biến dạng, được hình thành trên nền tảng những giá trịcốt lõi của văn hóa Việt Nam.

    KHOA DU LỊCH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa
  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100