Khái Niệm Chất Và Khái Niệm Lượng

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Phân Loại Chất Điện Li, Sự Điện Li
  • Sự Điện Li. Phân Loại Các Chất Điện Li (Có Bài Tập Áp Dụng)
  • Sự Điện Li Là Gì, Phân Loại Chất Điện Ly Mạnh Và Chất Điện Li Yếu
  • Khái Niệm Về Chất Điện Li, Sự Điện Li. Phân Loại Chất Điện Li Ạnh Và Chất Điện Li Yếu
  • Bài 1. Sự Điện Li
  • a) Khái niệm chất

    Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng. Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng.

    Trong lịch sử triết học đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chất, lượng cũng như quan hệ giữa chúng. Những quan điểm đó phụ thuộc, trước hết và chủ yếu vào thế giới quan và phương pháp luận của các nhà triết học hay của các trường phái triết học. Phép biện chứng duy vật đem lại quan điểm đúng đắn về khái niệm chất, lượng và quan hệ qua lại giữa chúng, từ đó khái quát thành quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.

    Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.

    Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác.

    Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật,… Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó. Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lại với các sự vật, hiện tượng khác. Chúng ta chỉ có thể biết nhiệt độ cao hay thấp của không khí thông qua sự tác động qua lại của nó với cơ quan xúc giác của chúng ta. Chất của một người cụ thể chỉ được bộc lộ thông qua quan hệ của người đó với những người khác, với môi trường xung quanh, thông qua lời nói và việc làm của người ấy. Như vậy, muốn nhận thức đúng đắn về những thuộc tính của sự vật, chúng ta phải thông qua sự tác động qua lại của sự vật đó với bản thân chúng ta hoặc thông qua quan hệ, mối liên hệ qua lại của nó với các sự vật khác.

    Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật. Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất. Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau. Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật.

    Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó. Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật. Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật. Chính chúng quy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi.

    Nhưng thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác. Bởi vậy, sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối. Trong mối liên hệ cụ thể này, thuộc tính này là thuộc tính cơ bản thể hiện chất của sự vật, trong mối liên hệ cụ thể khác sẽ có thêm thuộc tính khác hay thuộc tính khác là thuộc tính cơ bản. Trong mối quan hệ với động vật thì các thuộc tính có khả năng chế tạo, sử dụng công cụ, có tư duy là thuộc tính cơ bản của con người còn những thuộc tính khác không là thuộc tính cơ bản. Song trong quan hệ giữa những con người cụ thể với nhau thì những thuộc tính của con người về nhân dạng, về dấu vân tay,… lại trở thành thuộc tính cơ bản.

    Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật. Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác. Ví dụ, kim cương và than chì đều có cùng thành phần hóa học do các nguyên tố các bon tạo nên, nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên tử các bon là khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Kim cương rất cứng, còn than chì lại mềm. Trong một tập thể nhất định nếu phương thức liên kết giữa các cá nhân biến đổi thì tập thể đó có thể trở nên vững mạnh, hoặc sẽ trở thành yếu kém, nghĩa là chất của tập thể biến đổi. Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc cả vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố ấy.

    b) Khái niệm lượng

    Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật.

    Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm cho nó khác với những cái khác. Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật và cũng có tính khách quan như chất của sự vật.

    Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm,… Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể như vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây, một phân tử nước bao gồm hai nguyên tử hyđrô liên kết với một nguyên tử ôxy,… bên cạnh đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độ tri thức khoa học của một người, ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một công dân,… trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa. Có những lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hóa học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội), có những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật).

    Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại. Chẳng hạn, số lượng sinh viên học giỏi nhất định của một lớp sẽ nói lên chất lượng học tập của lớp đó. Điều này cũng có nghĩa là dù số lượng cụ thể quy định thuần túy về lượng, song số lượng ấy cũng có tính quy định về chất của sự vật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 4. Chất Lượng Dịch Vụ
  • Chất Lượng Dịch Vụ Khách Sạn
  • Khái Niệm Quản Trị Chất Lượng Dịch Vụ Và Những Điều Cần Biết
  • Vai Trò Và Nhu Cầu Chất Béo Của Người Bình Thường
  • Tính Chất Hoá Học, Công Thức Cấu Tạo Của Lipit (Chất Béo) Và Bài Tập
  • Bài 13. Khái Niệm Về Năng Lượng Và Chuyển Hóa Vật Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Hình Thành Chất Hữu Cơ Trong Đất
  • Khái Niệm Về Chất Hữu Cơ Và Phân Hữu Cơ
  • Chất Hữu Có Và Mùn Trong Đất Chc Va Mun Trong Dat Ppt
  • Khái Niệm Nguyên Lý Phân Loại Và Ứng Dụng Công Nghệ Hấp Phụ
  • Bảng Hệ Thống Hóa Các Loại Hợp Chất Vô Cơ
  • Gv: Nguyễn Quang Anh THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai – Hà Tây

    Kiểm tra bài cũ:

    Câu 1 : Quan sát 3 hình vẽ sau và cho biết tế bào thực vật theo thứ tự hình (1), (2), (3) được đặt trong môi trường nào ?

    a. ưu trương – đẳng trương – nhược trương.

    b. Đẳng trương – nhược trương – ưu trương.

    c. Đẳng trương – ưu trương- nhược trương.

    (1)

    (2)

    (3)

    d. ưu trương – nhược trương – đẳng trương.

    Câu 2 : Quan sát 3 hình vẽ sau và cho biết tế bào hồng cầu theo thứ tự hình (1), (2), (3) được đặt trong môi trường nào ?

    a. ưu trương – đẳng trương – nhược trương.

    b. Đẳng trương – nhược trương – ưu trương.

    c. Đẳng trương – ưu trương- nhược trương.

    (1)

    (2)

    (3)

    d. ưu trương – nhược trương – đẳng trương.

    Chương III

    Bài 13 Khái quát

    về năng lượng và chuyển hóa vật chất.

    I. Năng lượng và các dạng năng lượng trong tế bào

    1. Khái niệm năng lượng :

    – Năng lượng là khả năng sinh công.

    – Có nhiều dạng năng lượng khác nhau:

    Nhiệt năng, điện năng, hóa năng, …

    Chuyển hóa vật chất

    và năng lượng trong tế bào

    TN

    Động năng

    Năng lượng tồn tại ở hai trạng thái

    Thế năng

    Dạng năng lượng

    sẵn sàng sinh ra công.

    Dạng năng lượng dự trữ, có tiềm năng sinh công.

    – Các dạng tồn tại của năng lượng trong tế bào:

    + Hóa năng.

    + Điện năng.

    + Nhiệt năng.

    – Dạng năng lượng chủ yếu trong tế bào:

    Hóa năng

    ATP

    2. ATP – đồng tiền năng lượng của tế bào:

    a. Cấu tạo của phân tử ATP (ađenôzin triphôtphat):

    Hai nhóm

    phốtphat cao năng

    Đường ribôzơ

    Bazơ nitơ

    Liên kết cao năng

    2. ATP – đồng tiền năng lượng của tế bào:

    a. Cấu tạo của phân tử ATP (ađenôzin triphôtphat):

    – Bazơ nitơ ađênin.

    – Đường ribôzơ.

    – 3 nhóm phốtphát.

    Dễ bị phá vỡ

    2. ATP – đồng tiền năng lượng của tế bào:

    a. Cấu tạo của phân tử ATP (ađenôzin triphôtphat):

    – Bazơ nitơ ađênin.

    – Đường ribôzơ.

    – 3 nhóm phốtphát.

    Phân tử ATP có chứa 2 liên kết cao năng rất dễ bị phá vỡ để giải phóng năng lượng.

    b. Sự chuyển đổi năng lượng của ATP trong tế bào.

    E

    ATP

    ADP

    Ađênozin điphốtphat

    ATP ? ADP

    + E (năng lượng)

    +

    E

    ATP

    ADP

    Ađênozin điphốtphat

    Ađênozin triphốtphat

    ADP +

    + E (năng lượng)

    ? ATP

    2. ATP – đồng tiền năng lượng của tế bào:

    a. Cấu tạo của phân tử ATP (ađenôzin triphôtphat):

    – Bazơ nitơ ađênin.

    – Đường ribôzơ.

    – 3 nhóm phốtphát.

    Phân tử ATP có chứa 2 liên kết cao năng rất dễ bị phá vỡ để giải phóng năng lượng.

    b. Sự chuyển đổi năng lượng của ATP trong tế bào.

    ATP truyền năng lượng cho các hợp chất khác thông qua chuyển nhóm phốtphat cuối cùng cho các chất để trở thành ADP và ngay lập tức ADP lại được gắn thêm nhóm Phốtphat để trở thành ATP.

    c. Chức năng của ATP:

    – Do ATP có khả năng cho nhận năng lượng dễ dàng, ATP trở thành nguồn cung cấp năng lượng trực tiếp cho các hoạt động sống của tế bào và cơ thể.

    d. Việc sử dụng năng lượng ATP trong tế bào:

    ATP

    Tổng hợp các chất hóa học

    Vận chuyển các chất qua màng

    Sinh công cơ học

    P

    ADP

    d. Việc sử dụng năng lượng ATP trong tế bào:

    – Tổng hợp nên các chất hóa học cần thiết cho tế bào:

    – Vận chuyển các chất qua màng:

    Những tế bào đang sinh trưởng mạnh hoặc những tế bào đang tiết ra các protein với tốc độ cao tiêu tốn nhiều ATP.

    Quá trình vận chuyển chủ động các chất qua màng tiêu tốn nhiều năng lượng.

    – Sinh công cơ học:

    + Quá trình co cơ cần nhiều năng lượng.

    + Trong quá trình cơ tim và cơ xương co cần lượng ATP khổng lồ.

    II. Chuyển hóa vật chất

    1. Khái niệm chuyển hóa vật chất trong trong tế bào

    Chuyển hóa vật chất là tập hợp các phản ứng sinh hóa xảy ra bên trong tế bào nhằm duy trì các hoạt động sống của tế bào..

    2. Vai trò của chuyển hóa vật chất:

    Nhờ chuyển hóa vật chất, tế bào thực hiện được các đặc tính đặc trưng khác của sự sống như:

    + Sinh trưởng.

    + Cảm ứng.

    + Sinh sản.

    Chú ý :

    3. Khái niệm đồng hóa, dị hóa:

    – Đồng hóa :

    + Tổng hợp các chất hữu cơ phức tạp từ các chất đơn giản.

    + Quá trình đồng hóa tích lũy năng lượng vào các liên kết C – C , C – H của các hợp chất hữu cơ được tổng hợp.

    Chuyển hóa vật chất luôn kèm theo chuyển hóa năng lượng vì vật chất luôn chứa năng lượng. Khi vật chất biến đổi thì năng lượng trong đó cũng biến đổi theo.

    – Dị hóa:

    + Phân hủy các hợp chất hữu cơ phức tạp thành các chất đơn giản hơn.

    + Quá trình dị hóa giải phóng năng lượng.

    – Quan hệ giữa đồng hóa và dị hóa với quá trình tổng hợp và phân giải ATP.

    – Quan hệ giữa đồng hóa và dị hóa với quá trình tổng hợp và phân giải ATP.

    ATP

    Năng lượng từ quá trình dị hóa

    Năng lượng dùng cho quá trình đồng hóa và các hoạt động sống khác của tế bào.

    E

    E

    – Quan hệ giữa đồng hóa và dị hóa với quá trình tổng hợp và phân giải ATP.

    + Đồng hóa tiêu thụ năng lượng ATP được tạo ra nhờ quá trình dị hóa.

    + Dị hóa cung cấp năng lượng ATP cho đồng hóa.

    Câu 1: Chọn câu trả lời đúng nhất: Năng lượng là gì?

    a. Là khả năng sinh công.

    b. Là sản phẩm các loại chất đốt(dầu lửa, than đá, củi…)

    c. Năng lượng là sự tích lũy ánh sáng mặt trời dưới dạng hóa năng.

    d. Cả a, b và c đều đúng.

    Câu 2. Chọn câu trả lời đúng nhất: Các trạng thái tồn tại của năng lượng là gì?

    a. Thế năng.

    b. Động năng.

    c. Hóa năng và quang năng.

    d. Cả a và b đều đúng

    Câu 3. Chọn phương án đúng. ATP là một phân tử quan trọng trong quá trình trao đổi chất:

    a. Nó có các liên kết phôtphat cao năng.

    b. Các liên kết phôtphat cao năng của nó rất dễ hình thành nhưng không dễ phá vỡ.

    c. Nó dễ dàng thu được từ môi trường ngoài của cơ thể.

    d. Nó vô cùng bền vững.

    Câu 4. Tại sao nói ATP là đồng tiền năng lượng của tế bào?

    Trả lời

    Vì ATP có chứa 2 liên kết cao năng, có đặc điểm là mang nhiều năng lượng và các liên kết cao năng này dễ dàng bị phá vỡ để giải phóng năng lượng. Vì vậy ATP có khả năng cung cấp đủ năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của tế bào như:

    Sinh tổng hợp các chất, co cơ, dẫn truyền xung thần kinh, vận chuyển chủ động các chất qua màng. Người ta nói ATP là đồng tiền năng lượng ý nói nó là dạng năng lượng được tiêu dùng dễ dàng và thường xuyên như tiền tệ vậy.

    Câu 5: Tìm nội dung thích hợp điền vào chỗ trống hoàn thành bảng sau:

    Là quá trình tổng hợp các chất hữu cơ phức tạp từ các chất đơn giản., tích lũy năng lượng vào các liên kết C – C ,

    C – H của các hợp chất hữu cơ được tổng hợp.

    Là quá trình phân giải các chất hữu cơ thành các chất vô cơ , chuyển hóa năng lượng hóa học trong các liên kết thành năng lượng hóa học trong liên kết cao năng của phân tử ATP.

    Câu 6 Hãy chọn cụm từ phù hợp trong các cụm từ cho sẵn và điền vào chỗ trống thay cho các số 1,2,3… để hoàn chỉnh câu sau:

    Năng lượng được định nghĩa là …………Có hai dạng năng lượng là …………..Trong tế bào ……….trong các chất hữu cơ. Tế bào chuyển hóa năng lượng từ dạng thế năng tích lũy trong chất hữu cơ thành động năng

    ( ATP) để thực hiện ……… như tổng hợp các chất, co cơ, hoạt tải, dẫn truyền…

    a. Khả năng sinh công.

    b. Năng lượng được tích lũy ở dạng thế năng

    c. Thế năng và động năng.

    d. Các hoạt động sống.

    a.

    c.

    b.

    d.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Cáp Quang Và Phân Loại Cáp Quang Thường Dùng
  • Tổng Quan Về Thuốc Chứa Dược Chất Đối Quang Và Tầm Quan Trọng Của Việc Phân Tích Các Đồng Phân Đối Quang
  • Những Điều Cần Biết Về Chất Diện Hoạt, Ứng Dụng Của Nó
  • Toàn Bộ Kiến Thức Hóa Học Lớp 8 Về Chất, Nguyên Tử, Phân Tử
  • Chất Và Hỗn Hợp (Hhpt)
  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Sản Xuất Vật Chất Và Tại Sao Quá Trình Sản Xuất Vật Chất Là Cơ Sở Của Sự Tồn Và Phát Triển Của Xã Hội
  • Bài 1: Sản Xuất Vật Chất Chuong Iii Docx
  • Câu 14: Vai Trò Của Phương Thức Sản Xuất Đối Với Sự Tồn Tại Và Phát Triển Xã Hội? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Câu 29. Sản Xuất Vật Chất Và Vai Trò Của Nó Đối Với Sự Tồn Tại, Phát Triển Của Xã Hội?
  • Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Là Gì?
  • Có phải hệ thần kinh chỉ hoạt động với hai phương thức như nhà bác học Páp-lốp đã nêu? Câu trả lời: Hệ thần kinh không chỉ hoạt động với hai phương thức đó mà còn với bad phương thức nữa dành cho các hệ thần kinh cao cấp. Hệ thần kinh ghi nhớ như thế nào?Có một nguyên lý của thế giới tự nhiên giải thích được cho những điều đó và không chỉ như vậy, nó còn giải thích được từ những cái ở tầm vĩ mô như sự tập trung với mật độ vật chất rất cao trong các hố đen, sự nở ra của vũ trụ đến những cái bình thường như tác dụng của các loại gia vị lên thức ăn, cơ chế tác động của các chất tẩy rửa, giả thích được sự hình thành bọt khí ở đầu quả trứng gà, giải thích được tại sao chất độc, trong một số trường hợp lại có lợi còn chất bổ khi dùng quá liều lại có hại. Bản chất của hiện tượng lão hóa cũng được nhìn dưới một góc độ mới để thấy rằng hiện tượng lão hóa không chỉ có trong cơ thể sống mà còn trong các chất hữu cơ vô sinh khác,v.v…Nguyên lý đó là nguyên lý của mối quan hệ đặc biệt giữa vật chất và năng lượng.

    Các chân lí khoa học luôn tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của con người. Quá ttrình nhận thức khoa học là quá trình đưa tư tưởng khoa học tiến đến chân lí khoa học. Tư tưởng khoa học là một nhân tố chủ quan được xây dựng từ các quan niệm khoa học, mà các quan niệm đó lại được xây dựng trên các quan điểm khoa học. Khi các quan niệm được xây dựng mà chưa có đủ các quan điểm để đảm bảo tính đúng đắn cho chúng thì các tư tưởng khoa học được xây dựng từ chúng cũng sẽ thiếu đi sự chính xác khi các tư tưởng đó nhằm phản ánh các nguyên lí và cao hơn là các chân lí khoa học. Vì vậy chúng ta có những tư tưởng khoa học đúng, gần đúng hoặc sai lệch. Trong khi chưa có một tư tưởng khoa học đúng đắn thì những tư tưởng gần đúng có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức bởi các chân lý khoa học không phải luôn sẵn sàng cho việc nhận thức chúng. Quá trình nhận thức là quá trình đúng dần.Trong quá trình phát triển của khoa học, những tư tưởng khoa học càng gần với các chân lí khoa học thì giúp ích cho sự phát triển khoa học càng nhiều. Lịch sử phát triển của loài người cũng là lịch sử của quá trình nhận thức.

    Quá trình nhận thức của loài người về vật chất đã chuyển dần từ nhận thức đơn giản đến nhận thức sâu sắc hơn và đúng đắn hơn. Từ xưa con người đã cho rằng vật chất gồm có các vật thể và các chất. Nhận thức về các vật thể không có nhiều sự thay đổi trong lịch sử nhận thức, nhưng nhận thức về chất đã có nhiều sự đổi thay, từ chỗ cho rằng các chất bao gồm lửa, nước, đất đá, gỗ, kim loại đến chỗ xác định được rằng các chất là các nguyên tố hoá học có cấu tạo từ các nguyên tử. Từ chỗ cho rằng các nguyên tử là các cấu trúc vật chất nhỏ nhất không thể phân chia đến chỗ xác định được rằng nguyên tử lại được hình thành từ các cấu trúc nhỏ hơn nữa, có nghĩa là nguyên tử cũng phân chia được. Từ ngữ không thay đổi, nhưng nội dung của khái niệm vật chất đã thay đổi để chứa đựng ý nghĩa mới. Và bắt đầu từ đây, khái niệm vật chất không chỉ còn là các vật thể và các chất, nó bao hàm một ý nghĩa lớn lao hơn, sâu sắc hơn, vật chất là một bản thể của vũ trụ. Những cái mà chúng ta vẫn gọi là vật chất từ xưa đến nay là các vật thể và các chất, đều là những dạng tồn tại của vật chất được gọi chung là các cấu trúc vật chất. Cấu trúc vật chất là hình thức biểu thị cho sự tồn tại của vật chất. Và để tồn tại ở hình thức biểu thị này, vật chất cần một yếu tố có quan hệ với nó đó là năng lượng. Thực tế, vạn vật trong vũ trụ được hình thành bởi hai yếu tố cơ bản là vật chất và năng lượng. Vật chất và năng lượng là hai khái niêm, hai phạm trù triết học riêng nhưng có mối quan hệ đặc biệt với nhau. Chúng là hai bản thể của vũ trụ. Vật chất luôn vận động, nhưng vận động không phải là thuộc tính của vật chất. Vật chất, với các cấu trúc của nó, là nơi trú ngụ và phát huy tác dụng của năng lượng, còn năng lượng giúp cho vật chất có cấu trúc và làm cho các cấu trúc đó vận động. Mối quan hệ này vì vậy trở nên đặc biệt. Không có năng lượng thì vật chất không có cấu trúc và sự vận động. Ngược lại, không có vật chất thì năng lượng không có nơi cư trú và phát huy tác dụng của nó. Đây là nguyên lý và cũng là ý nghĩa triết học của mối quan hệ đặc biệt giữa vật chất và năng lượng.

    Quan niệm cho rằng vật chất và năng lượng là hai yếu tố riêng, hai bản thể của vũ trụ có mối quan hệ đặc biệt khăng khít, vật chất ( nói chính xác hơn là các cấu trúc vật chất ) là nơi cư trú và phát huy tác dụng của năng lượng, còn năng lượng giúp cho vật chất có cấu trúc và sự vận động, không có vật chất thì không có nơi trú ngụ cho năng lượng hay có cái mang năng lượng và ngược lại, không có năng lượng thì vật chất không có cấu trúc và sự vận động là một quan niệm có thể giúp giải thích được những điều nói trên. Từ trước tới nay, khoa học nói chung và triết học nói riêng thường chỉ đề cập tới vai trò làm cho các cấu trúc vật chất vận động mà không chú ý tới vai trò tạo cho vật chất có cấu trúc của năng lượng. Đây là cái nhìn phiến diện về một bản thể của vũ trụ. Nguyên nhân của cái nhìn phiến diện này xuất phát từ mối quan hệ khăng khít giữa năng lượng và vật chất. Sự khăng khít khiến cho nhân loại đã nghĩ rằng năng lượng là vật chất mà biểu hiện cô đọng nhất là công thức Q = mc2 của Anh-xtanh. Thực tế đây chỉ là quan hệ tương đương chứ không phải quan hệ bằng.

    Tác dụng tạo cho vật chất có cấu trúc của năng lượng thể hiện ở chỗ năng lượng tạo ra lực liên kết. Với các tác dụng khác nhau của năng lượng mà vật chất có các dạng liên kết khác nhau. Có hai dạng liên kết cơ bản là liên kết vật lý và liên kết hoá học. Liên kết vật lý tạo ra các cấu trúc vật chất không có tổ chức hoặc tổ chức thấp. Liên kết hoá học tạo ra các cấu trúc vật chất có tính tổ chức. Liên kết vật lý được thức hiện bởi các lực hấp dẫn, lực điện tích trái dấu, lực từ. Liên kết hoá học được thực hiện bởi lưới lực điện từ. Trong một cấu trúc vật chất có thể tồn tại đồng thời cả hai hình thức liên kết này.

    Để có thể đi sâu vào những vấn đề mới này, trước hết, chúng ta cần thống nhất về khái niệm ” cấu trúc vật chất” . Khái niệm ” cấu trúc vật chất” không chỉ giới hạn trong phạm vi các nguyên tử, các nguyên tố, các hợp chất hoá học, các vật thể được xác định bằng các giác quan hay các phương tiện kỹ thuật và giữa các thành phần của chúng có những mối liên kết hoá học hay cơ học để có một tổ chức nào đó. Khi khái niệm ” cấu trúc vật chất” bị giới hạn như vậy thì chúng ta cũng sẽ dễ dàng làm giới hạn số lượng cũng như loại cấu trúc vật chất, đặc biệt là các cấu trúc vật chất vô cùng nhỏ, thậm chí chúng ta còn dễ dàng cho rằng các cấu trúc vật chất có mối liên kết bám dính không phải là các cấu trúc vật chất như các mẩu giấy bị quản bút nhựa hút khi quản bút nhựa đã được sát lên len dạ…Khái niệm cấu trúc vật chất trong quan niệm mới này được hiểu rất rộng. Một hạt bụi bám vào bức tường thì bức tường và hạt bụi làm nên một cấu trúc vật chất. Giọt sương bám ở đầu ngọn cỏ thì giọt sương và ngọn cỏ cũng tạo nên một cấu trúc vật chất. Nói cụ thể hơn, một cấu trúc vật chất là một tập hợp vật chất có liên kết mà sự liên kết đó đủ để chống lại một số tác động phá hoại cấu trúc từ bên ngoài. Quan niệm như vậy không chỉ mở rộng các hình thức liên kết tạo ra các cấu trúc vật chất mà còn không giới hạn số lượng hoặc số loại cấu trúc vật chất. Các nguyên tố hoá học, các vật thể, các hạt siêu nhỏ hoặc vô cùng nhỏ như nơ tri nô, các lượng tử ánh sáng cho đến các vật thể to lớn như các ngôi sao, các hành tinh, các hố đen, thậm trí khi tất cả vật chất trong vũ trụ tập hợp lại thành một vật thể đều là các cấu trúc vật chất. Bằng sự sắp xếp có trật tự trong cấu trúc, chúng ta có các cấu trúc vật chất có tổ chức, Bằng sự sắp xếp không có trật tự ( tất nhiên vẫn phải có liên kết ) ,chúng ta có các cấu trúc vật chất không có tính tổ chức. Việc tạo nên các cấu trúc có hay không có tổ chức bắt nguồn từ hình thức liên kết của các cấu trúc vật chất thành viên. Khi các cấu trúc vật chất thực hiên liên kết xuyên tâm thì vị trí liên kết có thể ở bất kì chỗ nào trên bề mặt ngoài của các thành viên, do đó sự sắp xếp các thành viên không đòi hỏi phải xác định vị trí. Đây là hình thức liên kết vật lí. Năng lượng đã tạo ra lực liên kết có đường tác dụng xuyên qua khối tâm của các thành viên, gắn kết các thành viên bằng lực hút. Nhưng không phải tất cả các cấu trúc vật chất thực hiện việc liên kết các thành viên của chúng bằng liên kết xuyên tâm là các cấu trúc không có tổ chức. Có hai yếu tố bắt buộc các cấu trúc vật chất liên kết xuyên tâm có sự tổ chức trong cấu trúc của nó, đó là hình dạng và các mức năng lượng của từng thành viên .Hình dạng của các thành viên xác định vị trí liên kết sao cho cường độ liên kết đạt mức cao nhất .Dạng, loại và mức năng lượng tạo ra tương tác giữa các thành viên làm hạn chế tính ngẫu nhiên trong sắp xếp, làm cho cấu trúc vật chất được tạo ra có một trật tự nào đó. Hai thanh nam châm hút nhau bằng lực từ xuyên tâm nhưng trái cực.Các prôtôn và êlectrôn liên kết với nhau bằng lực điện tích trái dấu xuyên qua tâm hạt nhân nguyên tử và các điện tử, nhưng các prô tôn ở trong hạt nhân, còn các điện tử luôn ở bên ngoài hạt nhân và tạo thành các lớp tuỳ theo mức năng lượng của các điện tử. Các nguyên tử của các nguyên tố hoá học là các cấu trúc vật chất có tổ chức.

    Tính tổ chức trong các cấu trúc liên kết xuyên tâm ( hay liên kết vật lý ) này không cao khi chúng có những đặc điểm sau :

    -Tính tổ chức không chi phối toàn bộ các thành viên trong cấu trúc.

    Khi trong cấu trúc tồn tại một hoặc mốt số thành viên liên kết xuyên tâm một cách tuỳ tiện thì trật tự của các thành viên có thể thay đổi. Điều này có nghĩa là có thể tạo ra nhiều các cấu trúc khác nhau từ cùng một số cấu trúc thành viên. Nhưng nếu các cấu trúc đó không mang lại những tính chất khác nhau thì việc tạo ra những cấu trúc như vậy sẽ không có nhiều ý nghĩa.

    -Một số thành viên trong cấu trúc chịu sự tác động từ bên ngoài để tạo nên tính tổ chức cho cấu trúc.

    Các điện tử trong một lõi sắt từ chuyển động hỗn loạn khiến lõi sắt từ không hút được sắt, nhưng khi cho dòng điện chạy qua ống dây dẫn bao quanh lõi sắt từ, các điện tử chuyển động có hướng tạo ra tác dụng từ cho lõi sắt, biến lõi sắt thành nam châm. Tính chất này chấm dứt khi dòng điện trong ống dây bị ngắt. Nói chung, khi các cấu trúc vật chất có thể thay đổi tổ chức và kéo theo sự thay đổi tính chất tác dụng thì chúng sẽ có những ý nghĩa nào đó khi chúng ta khai thác những tính chất, tác dụng này.

    Liên kết hoá học khác với liên kết vật lí ở chỗ các thành viên liên kết với nhau không phải bằng lực liên kết xuyên tâm mà bằng sự liên kết một số thành viên nằm ở bề mặt ngoài của cấu trúc này với một số thành viên nằm ở bề mặt ngoài của cấu trúc kia thông qua liên kết xuyên tâm giữa các thành viên đó với nhau và với điều kiện đường tác dụng của các lực này không trùng với đường xuyên qua khối tâm của các cấu trúc chính. Cũng có thể nói là khi các cấu trúc vật chất thực hiện liên kết hoá học, chúng đã thực hiện việc cài xen các thành viên ở bề mặt ngoài của chúng vào nhau. Đây là điểm khác với liên kết vật lí bởi trong liên kết vật lí,giữa bề mặt ngoài của các cấu trúc tồn tại khoảng cách,còn trong liên kết hoá học, khoảng cách này là không có.

    Do các thành viên ở bề mặt ngoài của cấu trúc không liên kết được hoặc liên kết không đồng thời với toàn bộ các thành viên ở bề mặt ngoài của cấu trúc đối tác nên các vị trí liên kết trong liên kết hoá học không xuất hiện ở bất kì vị trí nào trên bề mặt của một thành viên. Nói cách khác, các vị trí liên kết trong liên kết hoá học được định vị, điều này làm cho các cấu trúc mới được tạo ra có sự sắp xếp các thành viên của nó, hình thành nên tính tổ chức cho cấu trúc. Sự thay đổi tổ chức xuất hiện khi trên bề mặt cấu trúc có thể cho nhiều vị trí khác nhau để thực hiện một loại liên kết, và đây là tính biến đổi trong liên kết hoá học nếu sự thay đổi này có thể đem đến sự thay đổi tính chất, tính năng,tác dụng cho cấu trúc đó. Có thể đánh giá rằng về mặt số lượng thì sự biến đổi trong liên kết vật lí nhiều hơn trong kiên kết hoá học, nhưng sự biến đổi trong liên kết hoá học mang đến nhiều sự thay đổi tính chất hơn cho cho các cấu trúc so với liên kết vật lí.

    Trong liên kết hoá học, nếu các thành phần tham gia liên kết thực hiện được việc liên kết đồng thời với nhiều thành viên với nhau, tạo nên một mạng lưới mà mỗi mắt lưới là một thành phần tham gia liên kết thì độ bền của liên kết sẽ tăng lên. Đây là cơ sở cho độ bền hoá học của các cấu trúc vật chất. Độ bền này đặc biệt được nâng cao khi mạng lưới được khép kín và bao quanh toàn bộ cấu trúc.

    Hình thức liên kết hoá học không phải luôn được tạo ra từ các phản ứng hoá học và cũng không phải chỉ có các phản ứng hoá học mới tạo ra được các mối liên kết hoá học( với những phản ứng có tính kết hợp giữa các chất). Một cấu trúc chính (như nước đóng băng) cũng có liên kết hoá học. Tuỳ từng trường hợp và tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà chúng ta xác định ý nghĩa của hình thức liên kết hoá học theo nghĩa rộng hay hẹp, nhấn mạnh hay giảm nhẹ ý nghĩa của các đặc điểm, các tính chất của liên kết theo một chiều hướng nào đó. Nói chung, liên kết hoá học không phải chỉ có trong phạm vi các cấu trúc vật chất là các nguyên tố hoá học, nhưng với các nguyên tố hoá học thì nó mang tính phổ biến và dễ nghiên cứu. Mặt khác, điều kiện để thiết lập mối liên kết hoá học là các lực liên kết không trùng với đường xuyên qua khối tâm của các thành viên chính, nên dạng năng lượng tạo ra liên kết hoá học là không cùng dạng với lực liên kết vật lí của các cấu trúc chính ( trong trường hợp này là lực hấp dẫn). Điều kiện này quy định và làm hạn chế số lượng các mối liên kết hoá học. Các mối liên kết hoá học không phải được thành lập giữa các thành viên bất kì , ở đây có sự chọn lọc các thành viên phù hợp với nhau ( chủ yếu là phù hợp về năng lượng) để tạo ra liên kết. Lực hấp dẫn tạo ra liên kết vật lí giữa bất kì cấu trúc nào miễn là chúng có khối lượng và khoảng cách thích hợp. Còn lực điện tích, lực từ, lực điện từ chỉ tạo ra một số mối liên kết giữa một số dạng cấu trúc nhất định. Lực hấp dẫn không tạo được liên kết hoá học. Lực điện từ có khả năng tạo được lưới lực điện từ cho nên nó có thể tạo nên liên kết hoá học. Ví dụ về tác dụng tạo nên cấu trúc cho vật chất có rất nhiều và rất dễ nhận ra, từ việc đánh phèn để lọc nước đến việc nấu canh cua. Cặn vôi bám vào xoong nồi khi nấu nước và việc tạo ra các nhũ đá trong các hang động đá vôi đều do tác dụng của năng lượng. Các lớp bùn trầm tích ghi lại dấu ấn của lịch sử phát triển sự sống đã hoá đá sau hàng triệu năm cũng bởi năng lượng. Tế bào chất trong các tế bào thần kinh hấp thụ năng lượng trong các kích thích thần kinh để tạo ra một cấu trúc nhớ cho hệ thần kinh. Các vết thương hở được cầm máu nhanh hơn các vết thương kín nhờ vào việc chúng được tiết xúc với nguồn năng lượng sẵn có trong không khí. Khi dùng vita min C nhiều thì nguy cơ tạo ra sỏi thận tăng lên bởi vitamin C là nguồn cung cấp năng lượng cho việc tạo sỏi thận. Các phân tử prôtêin để tạo ra tơ nhện hay tơ tằm hấp thụ năng lượng trong không khí để liên kết với nhau tạo thành sợi, điều mà trước đó khi còn trong bụng nhện hay bụng tằm chúng không thực hiện được vì không có năng lượng. Khi luộc trứng là khi các prôtêin trong trứng hấp thụ năng lượng (dưới dạng nhiệt năng) để tạo ra một khối vật chất ở thể rắn.

    Một đặc điểm của các cấu trúc vật chất là chúng không có tính liên tục. Mỗi cấu trúc vật chất, dù nhỏ đến đâu, cũng đều được tạo ra từ các cấu trúc thành viên nhỏ hơn với một hình thức liên kết nào đó và có khoảng cách giữa các thành viên. Đây là một đặc điểm quan trọng giúp cho các cấu trúc có thể vận động, hấp thụ và giải phóng năng lượng.

    Tính không liên tục của các cấu trúc vật chất có ý nghĩa rất quan trọng bởi trước hết, tính chất này tạo ra không gian, sau đó là tạo điều kiện để năng lượng có thể xâm nhập và nén vật chất lại. Vật chất càng được nén với mật độ càng cao thì tác dụng của năng lượng càng lớn bởi lúc đó sự tập trung của năng lượng cũng rất lớn, Sự thể hiện tác dụng của năng lượng lúc này là sức hút mạnh mẽ. Sức hút càng tăng thì vất chất bị nén càng chặt. Đây là quá trình tập trung năng lượng và vật chất của các hố đen trong vũ trụ nói riêng và toàn thể vũ trụ nói chung để sau đó tạo nên các vụ nổ Big bang. Khi nén vật chất, năng lượng làm cho khoảng không giữa các thành viên của cấu trúc, giữa các cấu trúc vật chất thu hẹp lại, tạo nên sự co lại của các cấu trúc vật chất.( còn tiếp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lê
  • Khái Niệm Chất Lượng Cho Vay Của Nhtm

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Cho Vay Và Hình Thức Cho Vay Cơ Bản Của Ngân Hàng
  • Khái Niệm Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Vai Trò Của Vốn Đối Với Ngân Hàng Thương Mại
  • Khái Niệm, Vai Trò Của Hoạt Động Huy Động Vốn Của Ngân Hàng
  • Pháp Luật Về Tái Cơ Cấu Quản Trị Nội Bộ Của Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Trong hoạt động của ngân hàng thì cho vay là hoạt động chủ yếu đem lại thu nhập chính cho ngân hàng, cho vay còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy vấn đề chất lượng cho vay luôn được quan tâm thích đáng, nhưng thực chất chất lượng cho vay là gì?

    Một cách khái quát, chất lượng của một khoản vay được hiểu là lợi ích kinh tế mà khoản vay đó mang lại cho cả người đi vay và người cho vay. Một khoản vay của ngân hàng được coi là có chất lượng tốt khi nó mang lại lợi ích kinh tế cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là vốn vay đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra một số tiền lớn đủ để trang trải chi phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng và có lợi nhuận, góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.

    Quan hệ cho vay có sự tham gia của hai chủ thể ngân hàng và khách hàng, mối quan hệ này được đặt trong sự vận động chung của nền kinh tế xã hội. Vì thế sẽ thật phiến diện khi xem xét chất lượng cho vay của ngân hàng chỉ từ góc độ của ngân hàng hay khách hàng. Việc xem xét chất lượng cho vay phải có sự đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau: từ phía ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.

    – Xét từ góc độ ngân hàng thì chất lượng cho vay thể hiện ở mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động này mang lại. Khi cho vay, điều mà ngân hàng quan tâm là khoản vay đó phải được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.

    – Xét từ góc độ khách hàng

    Một khoản tín dụng được khách hàng đánh giá là tốt khi nó thoả mãn được nhu cầu của họ. Mức độ thoả mãn của khách hàng thể hiện ở chỗ khoản tín dụng đó được cung ứng một cách đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của họ với lãi suất, kỳ hạn, phương thức giải ngân, thu nợ hợp lý, các thủ tục vay vốn được tiến hành nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí.

    – Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội

    Chất lượng cho vay là khả năng đáp ứng những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong lĩnh vực mà khoản tín dụng ngân hàng tham gia hoạt động .

    Chất lượng các khoản tín dụng tốt đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả, sản phẩm cung ứng với chất lượng tốt và giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu trong nước, một phần cho xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên thị trường góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ngoài ra nó còn thể hiện tính an toàn cao của hoạt động ngân hàng, nâng cao khả năng thanh toán, chi trả và hạn chế được rủi ro.

    Như vậy chất lượng tín dụng cao là thoả mãn được đồng thời cả ba mục tiêu của ngân hàng, của khách hàng và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Trong khi ba mục tiêu này lại có mặt mâu thuẫn với nhau: ngân hàng muốn đạt được lợi nhuận cao nhất từ các khoản vốn vay vì thế họ muốn khoản tín dụng đó có lãi suất cao mà lại được hoàn trả gốc và lãi đúng hạn; còn với khách hàng tiền lãi là một khoản chi phí, muốn đạt lợi nhuận cao họ phải tối thiểu hoá chi phí, nên họ mong muốn có được khoản vốn vay với mức lãi suất thấp; mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi hoạt động tín dụng của ngân hàng phải giải quyết được công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế công cộng, bảo vệ môi trường hướng tới việc phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững. Vì thế hoạt động tín dụng tốt là phải dung hoà được lợi ích của ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế – xã hội, có như vậy ngân hàng mới hoạt động và phát triển bền vững.

    * Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại

    Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, trong đó ngân hàng sử dụng số vốn huy động được từ nền kinh tế để cho vay đối với khách hàng. Trong các hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, tuy nhiên đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, ngân hàng luôn tìm cách khắc phục, hạn chế những rủi ro mà hoạt động tín dụng gây ra, nâng cao chất lượng tín dụng để mang lại sự ổn định đảm bảo cho mục tiêu an toàn và sinh lợi của Ngân hàng thương mại.

    Hơn nữa, ngân hàng Nhà nước kiểm soát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc và chính sách lãi suất đã làm ảnh hưởng tới mức cung tiền tệ. Sự tăng trưởng của hoạt động tín dụng là điều kiện cần thiết cho sự phát triển vững chắc của nền kinh tế, hoạt động tín dụng có hiệu quả sẽ làm mức cung ứng tiền luôn được điều chỉnh cho phù hợp với mức cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Điều này góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, giá cả, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Như vậy, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng là vấn đề sống còn đối với hoạt động của ngân hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng là nhu cầu bức thiết, nó không chỉ có ý nghĩa đối với ngân hàng thương mại mà còn có ý nghĩa với các chủ thể kinh tế và đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng tín dụng tạo cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Khái niệm chất lượng cho vay của NHTM

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Cơ Sở Lí Luận Về Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Cho Vay Là Gì? Các Hình Thức Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại Hiện Nay
  • Khái Niệm Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Nguon Von Va Quan Ly Nguon Von Cua Ngan Hang Thuong Mai Doc
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Nhiệm Vụ Của Quản Trị Chất Lượng Sản Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Về Quản Trị Chất Lượng Trong Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Quản Trị Chất Lượng Đồng Bộ
  • Một Số Khái Niệm Liên Quan Đến Quản Trị Chất Lượng
  • Khái Niệm Về Quản Lý Chất Lượng
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Trong Quản Lý Chất Lượng Xét Nghiệm
    • Theo tiêu chuẩn quốc gia Liên Xô: ” Quản trị chất lượng là việc xây dựng, đảm bảo và duy trì mức tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng” – Quản trị chất lượng đồng bộ, JonhS Oakland.
    • Theo tiêu chuẩn công nghiệp của Nhật Bản ( JIS – Japan Industrial Standards ):

    “Quản trị chất lượng là hệ thống các phương pháp tạo điều kiện sản xuất những hàng hoá có chất lượng hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng”

    * Theo ISO 8402:1994: “Quản trị chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản trị chung, nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”.

    Trong khái niệm trên, chính sách chất lượng là ý đồ và định hướng chung về chất lượng của một tổ chức do lãnh đạo cấp cao nhất của tổ chức đề ra.

    Lập kế hoạch chất lượng là các hoạt động thiết lập mục đích và yêu cầu chất lượng cũng như yêu cầu về việc thực hiện các yếu tố của hệ thống chất lượng.

    Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp được sử dụng nhằm thực hiện các yêu cầu chất lượng.

    Đảm bảo chất lượng là tập hợp những hoạt động có kế hoạch và có hệ thống được thực hiện trong hệ thống chất lượng và được chứng minh ở mức cần thiết rằng thực thể ( đối tượng ) sẽ hoàn thành đầy đủ các yêu cầu chất lượng.

    * Theo ISO 9000: 2000: “Quản trị chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm chỉ đạo và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”.

    Trong khái niệm trên chỉ đạo hoặc kiểm soát một tổ chức về chất lượng thường bao gồm thiết lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo và cải tiến chất lượng.

    Mục tiêu chất lượng là một phần của quản trị chất lượng là điều quan trọng nhất được tìm kiếm hoặc hướng tới về chất lượng.

    Kiểm soát chất lượng là một phần của quản trị chất lượng tập trung vào việc thoả mãn các yêu cầu chất lượng.

    Đảm bảo chất lượng là một phần của quản trị chất lượng tập trung vào việc tạo lòng tin rằng các yêu cầu được thoả mãn.

    Quản trị chất lượng là việc ấn định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ, tìm con đường đạt tới một hiệu quả cao nhất. Mục tiêu của quản trị chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảo chất lượng phù hợp với yêu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất. Đó là sự kết hợp giữa nâng cao những đặc tính kinh tế – kỹ thuật hữu ích của sản phẩm đồng thời giảm lãng phí và khai thác mọi tiềm năng để mở rộng thị trường. Thực hiện tốt công tác quản trị chất lượng sẽ giúp các doanh nghiệp phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường, mặt khác cũng góp phần giảm chi phí trong sản xuất kinh doanh.

    Thực chất của quản trị chất lượng là một tập hợp các hoạt động chức năng quản trị như hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh. Đó là một hoạt động tổng hợp về kinh tế – kỹ thuật và xã hội. Chỉ khi nào toàn bộ các yếu tố về kinh tế – xã hội, công nghệ và tổ chức được xem xét đầy đủ trong mối quan hệ thống nhất rằng buộc với nhau trong hệ thống chất lượng mới có cơ sở để nói rằng chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo.

    Quản trị chất lượng phải được thực hiện thông qua một số cơ chế nhất định bao gồm những chỉ tiêu, tiêu chuẩn đặc trưng về kinh tế – kỹ thuật biểu thị mức độ thoả mãn nhu cầu thị trường, một hệ thống tổ chức điều khiển về hệ thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng. Chất lượng được duy trì, đánh giá thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê trong quản trị chất lượng.

    Hoạt động quản trị chất lượng không chỉ là hoạt động quản trị chung mà còn là các hoạt động kiểm tra, kiểm soát trực tiếp từ khâu thiết kế triển khai đến sản xuất sản phẩm, mua sắm nguyên vật liệu, kho bãi, vận chuyển, bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng.

    Biểu đồ 1.3 : Sơ đồ biểu diễn hoạt động quản trị chất lượng.

    Tiêu chuẩnMua sắm nguyên vật liệuQuá trìnhsản xuấtKiểm chứngđo lườngthử nghiệmkiểm địnhKiểm traĐạtTác động ngượcBỏ đi hoặcxử lý lại

    Quản trị chất lượng được thực hiện thông qua chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo và cải tiến chất lượng.

    Nhiệm vụ của quản trị chất lượng là xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong các doanh nghiệp. Trong đó:

    + Nhiệm vụ đầu tiên: Xác định cho được yêu cầu chất lượng phải đạt tới ở từng giai đoạn nhất định. Tức là phải xác định được sự thống nhất giữa thoả mãn nhu cầu thị trường với những điều kiện môi trường kinh doanh cụ thể.

    + Nhiệm vụ thứ hai là: Duy trì chất lượng sản phẩm bao gồm toàn bộ những biện pháp nhằm bảo đảm những tiêu chuẩn đã được quy định trong hệ thống.

    + Nhiệm vụ thứ ba: Cải tiến chất lượng sản phẩm. Nhiệm vụ này bao gồm quá trình tìm kiếm, phát hiện, đưa ra tiêu chuẩn mới cao hơn hoặc đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của khách hàng. Trên cơ sở đánh giá, liên tục cải tiến những quy định, tiêu chuẩn cũ để hoàn thiện lại, tiêu chuẩn hoá tiếp. Khi đó chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp không ngừng được nâng cao.

    + Nhiệm vụ thứ tư là: Quản trị chất lượng phải được thực hiện ở mọi cấp, mọi khâu, mọi quá trình. Nó vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang tính tác nghiệp.

    Ở cấp cao nhất của doanh nghiệp thực hiện quản trị chiến lược chất lượng. Cấp phân xưởng và các bộ phận thực hiện quản trị tác nghiệp chất lượng. Tất cả các bộ phận, các cấp đều có trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và lợi ích trong quản trị chất lượng của doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Hn Gn: Stgt Nvđcbt Quản Trị Doanh Nghiệp Th St C2 Nh Ng V N Co B N C A Qu N Tr Doanh Nghi P Doc
  • Bản Chất Của Nhận Thức
  • Lý Thuyết Hiện Tượng Quang Điện Trong
  • Lý Thuyết Và Bài Tập Về Hiện Tượng Quang Điện Trong. Sự Phát Quang
  • Khái Niệm Và Phân Loại Chất Lượng Sản Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Sở Lý Luận Về Chất Lượng Dịch Vụ Ăn Uống
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Ăn Uống Trong Nhà Hàng, Hay!
  • Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Ăn Uống Tại Nhà Hàng Moobeefsteak 1, Công Ty Tnhh Thương Mại Và Dịch Vụ Trần Gia, Hà Nội
  • Giáo Án Dạy Học Tích Hợp
  • Bài 5. Cách Thức Vận Động, Phát Triển Của Sự Vật Và Hiện Tượng Tuan 7 Gdcd 10 Tiet 7 Dung Docx
  • Chất lượng là một phạm trù rộng và phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình, nhất là lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội, tâm lý, thói quen của con người. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng sản phẩm tuỳ thuộc vào góc độ xem xét, quan niệm của mỗi nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định và nhằm những mục đích riêng biệt. Nhưng nhìn chung mỗi quan niệm đều có những căn cứ khoa học và ý nghĩa thực tiễn khác nhau, đều có những đóng góp nhất định thúc đẩy khoa học quản trị chất lượng không ngừng hoàn thiện và phát triển.

    Theo quan niệm của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây mà Liên Xô là đại diện: “Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc tính kinh tế – kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó, đáp ứng những nhu cầu định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kinh tế – kỹ thuật”. Về mặt kinh tế quan điểm này phản ánh đúng bản chất của sản phẩm qua đó dễ dàng đánh giá được mức độ chất lượng sản phẩm đạt được, vì vậy mà xác dịnh được rõ ràng những đặc tính và chỉ tiêu nào cần được hoàn thiện. Tuy nhiên chất lượng sản phẩm chỉ được xem xét một cách biệt lập, tách rời với thị trường, làm cho chất lượng sản phẩm không thực sự gắn với nhu cầu và sự vận động, biến đổi nhu cầu trên thị trường với điều kiện cụ thể và hiệu quả kinh tế của từng doanh nghiệp. Khiếm khuyết này xuất phát từ việc các nước xã hội chủ nghĩa sản xuất theo kế hoạch, tiêu thụ theo kế hoạch, do đó mà sản phẩm sản xuất ra không đủ để cung cấp cho thị trường, chất lượng sản phẩm thì không theo kịp nhu cầu thị trường nhưng vẫn tiêu thụ được. Mặt khác, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế phát triển khép kín, chưa có sự mở cửa hội nhập với các nước trên thế giới nên không có sự cạnh tranh về sản phẩm, chất lượng vẫn chưa được đánh giá cao trên thị trường.

    Nhưng khi nền kinh tế nước ta bước sang cơ chế thị trường, các mối quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng, các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh thì nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng về sản phẩm là điểm xuất phát cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Một nhà kinh tế học đã nói: “Sản xuất những gì mà người tiêu dùng cần chứ không sản xuất những gì mà ta có”. Do vậy định nghĩa trên không còn phù hợp và thích nghi với môi trường này nữa. Quan điểm về chất lượng phải được nhìn nhận một cách khách quan, năng động hơn. Khi xem xét chất lượng sản phẩm phải luôn gắn liền với nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có những quan niệm chưa chú ý đến vấn đề này:

    – Các chuyên gia kỹ thuật cho rằng: “Chất lượng sản phẩm là một hệ thống các đặc tính kinh tế – kỹ thuật nội tại của các sản phẩm được xác định bằng các thông số có thể so sánh được”. Quan niệm này chỉ chú ý đến một mặt là kỹ thuật của sản phẩm mà chưa chú ý đến chi phí và lợi ích của sản phẩm.

    – Còn theo các nhà sản xuất lại cho rằng: “Chất lượng của một sản phẩm nào đó là mức độ mà sản phẩm đó thể hiện được những yêu cầu, những chỉ tiêu thiết kế hay những chỉ tiêu cho sản phẩm ấy”. Quan niệm này cũng chưa chú ý tới mặt kinh tế.

    Những quan niệm trên đánh giá về chất lượng chưa đầy đủ, toàn diện, do đó những quan niệm mới được đưa ra gọi là quan niệm chất lượng hướng theo khách hàng:

    “Chất lượng nằm trong con mắt của người mua, chất lượng sản phẩm là tổng thể các đặc trưng kinh – tế kỹ thuật của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”.

    Quan niệm này tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu, tìm hiểu khách hàng. Các đặc điểm kinh tế – kỹ thuật phản ánh chất lượng sản phẩm khi chúng thoả mãn được những đòi hỏi của người tiêu dùng. Chỉ có những đặc tính đáp ứng được nhu cầu của hàng hoá mới là chất lượng sản phẩm. Còn mức độ đáp ứng nhu cầu là cơ sở để đánh giá trình độ chất lượng sản phẩm đạt được. Đây là quan niệm đặc trưng và phổ biến trong giới kinh doanh hiện đại. Có rất nhiều tác giả cũng theo quan niệm này với những cách diễn đạt khác nhau:

    • Grosby: “Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định”.
    • J.Juran: “Chất lượng là sự phù hợp với sử dụng, với công dụng”.

    A.Feigenboun: “Chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sản phẩm nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng”.

    Phần lớn các chuyên gia về chất lượng trong nền kinh tế thị trường coi chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng.

    Tuy nhiên, theo những quan niệm này chất lượng sản phẩm không được coi là cao nhất và tốt nhất mà chỉ là sự phù hợp với nhu cầu. Do vậy, để có thể khái quát hoá nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những mặt hạn chế của các quan niệm trên, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO ( International Organization for Standardization ) đưa ra khái niệm:

    “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”.

    Giáo trình ” Quản lý chất lượng trong các tổ chức ” – NXB giáo dục 2002.

    Để thoả mãn nhu cầu khách hàng, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lưọng sản phẩm. Để theo đuổi chất lượng cao, các doanh nghiệp cần phải xem xét giới hạn về khả năng tài chính, công nghệ, kinh tế, xã hội. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc các loại chất lượng sản phẩm:

    • Chất lượng thiết kế: Là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm được phác hoạ qua văn bản trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường, các đặc điểm của sản xuất – tiêu dùng đồng thời có so sánh với chỉ tiêu chất lượng các mặt hàng tương tự cùng loại của nhiều hãng, nhiều công ty trong và ngoài nước.
    • Chất lượng tiêu chuẩn: Là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng được cấp có thẩm quyền phê chuẩn. Dựa trên cơ sở nghiên cứu chất lượng thiết kế, các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp … điều chỉnh, xét duyệt những chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm hàng hoá.

    Như vậy, chất lượng chuẩn là căn cứ để các doanh nghiệp đánh giá chất lượng hàng hoá dựa trên những tiêu chuẩn đã được phê chuẩn.

    • Chất lượng thực tế: Chất lượng thực tế của sản phẩm phản ánh giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thực tế đạt được do các yếu tố chi phối như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, phương pháp quản lý … .
    • Chất lượng cho phép: Là mức độ cho phép về độ lệch các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm giữa chất lượng thực tế với chất lượng chuẩn.

    Chất lượng cho phép của sản phẩm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – kỹ thuật, trình độ lành nghề của công nhân, phương pháp quản lý của doanh nghiệp.

      Chất lượng tối ưu: Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định. Nói cách khác, sản phẩm hàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng, có khả năng cạnh tranh với nhiều hãng trên thị trường, sức tiêu thụ nhanh và đạt hiệu quả cao.

    Phấn đấu đưa chất lượng của sản phẩm hàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là một trong những mục đích quan trọng của quản lý doanh nghiệp nói riêng và quản lý kinh tế nói chung.

    Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng đặt ra những thách thức đối với doanh nghiệp qua sự chi phối của các qui luật kinh tế trong đó có qui luật cạnh tranh.

    Nền kinh tế thị trường cho phép các doanh nghiệp tự do cạnh tranh với nhau trên mọi phương diện. Chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua. Mỗi sản phẩm có rất nhiều các thuộc tính chất lượng khác nhau, các thuộc tính này được coi là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Khách hàng hướng quyết định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có các thuộc tính phù hợp với sở thích, nhu cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình. Họ so sánh các sản phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính kinh tế – kỹ thuật thoả mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản phẩm có các thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định lựa chọn mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp công nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường. Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chiến lược Marketing, mở rộng thị trường, tạo uy tín và danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường. Từ đó, người tiêu dùng sẽ tin tưởng vào nhãn mác của sản phẩm và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp, nếu có thể sẽ mở rộng thị trường ra nước ngoài. Chính điều này đã tạo động lực to lớn buộc các doanh nghiệp ngày càng phải hoàn thiện để phục vụ khách hàng được tốt nhất.

    Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển sản xuất có năng suất cao, tiêu thụ với khối lượng lớn mà còn được tạo thành bởi sự tiết kiệm đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị và lao động trong quá trình sản xuất. Muốn làm được điều này, chỉ có thể thực hiện bằng cách luôn nâng cao chất lượng sản phẩm với mục tiêu ” Làm đúng ngay từ đầu” sẽ hạn chế được chi phí phải bỏ ra cho những phế phẩm. Việc làm này không những đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp mà còn tác động tích cực đến nền kinh tế của đất nước thông qua việc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt những vấn đề về ô nhiễm môi trường.

    Nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đi sâu tìm tòi nghiên cứu các tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng nó vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ nhằm giảm lao động sống, lao động quá khứ, tiết kiệm nguyên vật liệu và nâng cao năng lực sản xuất. Do vậy, giảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm từ đó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh của mình là nâng cao lợi nhuận, đây đồng thời cũng là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Khi doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao, sẽ có điều kiện đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động, tăng thu nhập cho họ, làm cho họ tin tưởng gắn bó với doanh nghiệp từ đó đóng góp hết sức mình vào công việc sản xuất kinh doanh.

    Đối với nền kinh tế quốc dân, việc tăng chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc người dân được tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng tốt hơn với tuổi thọ lâu dài hơn, góp phần làm giảm đầu tư chi phí cho sản xuất sản phẩm và hạn chế được phế thải gây ô nhiễm môi trường. Hơn nữa, nâng cao chất lượng còn giúp cho người tiêu dùng tiết kiệm được thời gian và sức lực khi sử dụng sản phẩm do các doanh nghiệp cung cấp. Suy cho cùng đó là những lợi ích mà mục tiêu của việc sản xuất và cung cấp sản phẩm đưa lại cho con người. Bởi vậy, chất lượng đã và luôn là yếu tố quan trọng số một đối với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.

    Chất lượng sản phẩm không chỉ làm tăng uy tín của nước ta trên thị trường quốc tế mà còn là cách để tăng cường nguồn thu nhập ngoại tệ cho đất nước qua việc xuất khẩu sản phẩm đạt chất lượng cao ra nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Độ Tan Của Một Chất Trong Nước
  • Dung Dịch Là Gì? Dung Dịch Bão Hòa, Chưa Bão Hòa Là Gì? Chất Tan Và Dung Môi
  • Định Nghĩa Chất Tan Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Chất Tan
  • Bài 41. Độ Tan Của Một Chất Trong Nước
  • Em Hãy Cho Biết Chất Thơ Trong Văn Bản Là Gì?
  • Phân Tích Khái Niệm Sản Xuất Vật Chất Và Tại Sao Quá Trình Sản Xuất Vật Chất Là Cơ Sở Của Sự Tồn Và Phát Triển Của Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Sản Xuất Vật Chất Chuong Iii Docx
  • Câu 14: Vai Trò Của Phương Thức Sản Xuất Đối Với Sự Tồn Tại Và Phát Triển Xã Hội? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Câu 29. Sản Xuất Vật Chất Và Vai Trò Của Nó Đối Với Sự Tồn Tại, Phát Triển Của Xã Hội?
  • Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Là Gì?
  • Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Pti 2022
  • 1.Sản xuất vật chất là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội.

    2.Phương thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người; cách thức mà con người tiến hành sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. Mỗi phương thức sản xuất đều có yếu tố kỹ thuật và kinh tế của mình; trong đó yếu tố kỹ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nào để tác động biến đổi các đối tượng của quá trình đó; còn yếu tố kinh tế của phương thức sản xuất là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sản xuất được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế nào. Hai yếu tố trên của phương thức sản xuất vận động theo hướng tách biệt và phụ thuộc lẫn nhau tạo ra vai trò của phương thức sản xuất là quy định tính chất, kết cấu, sự vận động và phát triển của xã hội.

    3) Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội

    Sản xuất vật chất luôn giữ vai trò quy định sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người; là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội; là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của xã hội loài người

    a) Mọi thành viên trong xã hội đều tiêu dùng (ăn, uống, ở, mặc v.v). Những thứ có sẵn trong tự nhiên không thể thoả mãn mọi nhu cầu của con người, nên nó phải sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan cơ bản; là một hành động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm trước đây con người vẫn phải tiến hành. Cùng với việc cải biến giới tự nhiên, con người cũng cải biến chính bản thân mình và cải biến cả các mối quan hệ giữa con người với nhau và chính việc cải biến đó làm cho việc chinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn.

    b) Xã hội loài người tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất. Lịch sử xã hội loài người, do vậy và trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất.

    c) Sản xuất vật chất là cơ sở để hình thành nên các mối quan hệxãhội khác. Xã hội loài người là một tổ chức vật chất và giữa các yếu tố cấu thành nó cũng có những kiểu quan hệ nhất định. Các quan hệ xã hội về nhà nước, chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, khoa học v.v (cái thứ hai) đều được hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất vật chất (cái thứ nhất) nhất định. Trong quá trình đó, con người đồng thời cũng sản xuất ra và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của mình.

    d) Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tiến bộ xã hội.Sản xuất vật chất không ngừng được các thế hệ người phát triển từ thấp đến cao. Mỗi khi phương thức sản xuất thay đổi, quan hệ giữa người với người trong sản xuất cũng thay đổi; và do vậy, mọi mặt của đời sống xã hội đều có sự thay đổi theo sự tiến bộ của phương thức sản xuất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng
  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Khái Niệm Chất Lượng Dịch Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Chính Sách Công
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá
  • Đề Và Đáp Án Bài Kiểm Tra 45 Phút Môn Gdcd Lớp 11C, Giữa Học Kỳ I, Năm Học 2022
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Cơ Sở Dữ Liệu
  • Cơ Sở Dữ Liệu Và Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Chất lượng dịch vụ là một yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ một ngân hàng thương mại nào.

    Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng đã được thực hiện từ nhiều năm mang lại sự phát triển cả về lý thuyết và thực tiễn đặc biêt là việc phát triển và kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ trong ngành ngân hàng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới.

    Từ những năm 1930s, chất lượng trong lĩnh vực sản xuất đã được xác định như một yếu tố để cạnh tranh nhưng yếu tố chất lượng thực sự trở nên quan trọng kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2. Những tác giả tiên phong trong lĩnh vực này là W.Edwards Deming, Joseph M.Juran và Kaoru Ishikaw. Thực tế cho thấy chất lượng cảm nhận của sản phẩm đang trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất trong kinh doanh trên toàn cầu. Đó cũng là lý do của việc đặt tên thời đại kinh doanh hiện nay là “thời đại chất lượng” (Peeler, 1996).

    Ví dụ, Berry (1998, trang 423) gọi đó là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ nhất và Clow (1993) gọi đây là yếu tố sống còn của một tổ chức. Đặc biệt người tiêu dùng thích chất lượng dịch vụ khi giá và các yếu tố chi phí khác được hoàn thiện, cải tiến liên tục (Boyer và Hult, 2005). Nó đã trở thành một khía cạnh khác biệt và quan trọng của việc chào bán sản phẩm và dịch vụ (Wal et al., 2002).

    Theo Leisen và Vance (2001) chất lượng dịch vụ giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cần thiết bởi đó là một yếu tố khác biệt có hiệu quả. Chất lượng dịch vụ đã được bắt đầu vào những năm 1980 như một xu hướng trên toàn thế giới, khi các nhà tiếp thị nhận ra rằng chỉ có sản phẩm chất lượng mới có thể được bảo đảm để duy trì lợi thế cạnh tranh (Wal et al., 2002).

    Lợi thế cạnh tranh là một chiến lược tạo giá trị, đồng thời nó không được thực hiện bởi bất kỳ đối thủ cạnh tranh hiện tại hoặc tiềm năng (Barney, 1991). Hơn nữa, theo họ, một lợi thế cạnh tranh cũng được duy trì khi các công ty khác không thể lặp lại trong các lợi ích của chiến lược này.

    Theo Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Như vậy, từ định nghĩa trên ta thấy rằng nếu một sản phẩm vì một lý do nào đó không được khách hàng chấp nhận thì bị coi là chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó rất hiện đại.

    Tuy nhiên, định nghĩa và phương pháp đánh giá chất lượng được các nhà nghiên cứu hay đề cập trong các nghiên cứu của mình là: Chấtlượngdịchvụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ (Parasurman, Zeithaml and Berr, 1985, 1988).

    Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa chất lượng mang tính khách quan và cảm nhận chất lượng. (Garvin 1983, Dodds và Monroe 1984, Holbrook và Corfman 1985, Jacoby và Olson1985, Zeithaml 1987).

    Lehtinen, U & J. R. Lehtinen (1982) đưa ra một thang đo chung gồm 3 thành phần về chất lượng dịch vụ, bao gồm các thành phần “sự tương tác”, “phương tiện vật chất” và “yếu tố tập thể” của chất lượng. Phát triển cao hơn, xét trên bản chất từ cảm nhận của khách hàng, các nhà nghiên cứu phát hiện ra chất lượng một thang đo hai thành phần, bao gồm “chất lượng kỹ thuật” và “chất lượng chức năng”. Một mô hình được đề nghị bởi Gronroon (1984, 1990) đã nhấn mạnh đến vai trò của chất lượng kỹ thuật (hay năng suất) hoặc chất lượng chức năng (hay quy trình). Trong mô hình này, chất lượng kỹ thuật được quy cho việc phát biểu về khách hàng, như một bữa ăn trong nhà hàng hay các giải pháp của một doanh nghiệp cung cấp tư vấn.

    Chất lượng chức năng được đề cập là kết quả cuối cùng của quy trình cung cấp dịch vụ đã được chuyển cho khách hàng. Cả hai yếu tố tâm lý này dễ bị ảnh hưởng bởi nhà cung cấp dịch vụ, bởi thái độ nhân viên phục vụ. Như vậy, trong khi chất lượng kỹ thuật có thể được dễ dàng đánh giá khách quan nhưng đối với chất lượng chức năng thì khó khăn hơn. Cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng là kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ, là những gì khách hàng mong đợi, kinh nghiệm của họ và những ảnh hưởng từ hình tượng của doanh nghiệp (Caruana, 2000).

    Nền tảng khái niệm về mức thang đo SERVQUAL đã được hình thành từ những điều tra của một nhóm các nhà nghiên cứu khi họ khảo sát ý nghĩa của chất lượng dịch vụ. (Sasser, Olsen, và Wyckoff năm 1978, Gronroos năm 1982). Từ cuộc khảo sát định tính này, các nhà nghiên cứu đã định hình được khái niệm chất lượng dịch vụ và chỉ ra được những tiêu chí mà người tiêu dùng nhận thức và đánh giá nó (Parasuraman, Zeithaml và Berry, 1985).

    Đối với dịch vụ thì việc đánh giá chất lượng của nó khó khăn hơn nhiều vì dịch vụ có những đặc điểm khác với sản phẩm hữu hình. Lý thuyết về marketing dịch vụ cho rằng dịch vụ bao gồm ba đặc điểm cơ bản là vô hình, không đồng nhất và không thể tách ly.

    Thứ nhất, phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Dịch vụ không thể cân, đong, đo, đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua, để kiểm tra chất lượng. Với lý do vô hình, nên công ty cảm thấy rất khó khăn trong việc tìm hiểu khách hàng nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ.

    Thứ hai, dịch vụ không đồng nhất, đặc biệt đối với những dịch vụ có hàm lượng cao về sức lao động của con người. Lý do là hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ các nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng, và chất lượng dịch vu cung cấp cũng không như nhau theo từng ngày, tháng và năm kinh doanh. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rất khó đảm bảo. Lý do là những gì mà công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà khách hàng nhận được.

    Thứ ba, sản xuất và tiêu thụ đối với nhiều loại hình dịch vụ thì không thể tách rời. Chất lượng của dịch vụ không thể sản xuất trong nhà máy, rồi chuyển nguyên hiện trạng dịch vụ đến khách hàng. Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ.

    Chính vì những đặc điểm trên, vấn đề đánh giá chất lượng dịch vụ không phải là vấn đề đơn giản và dễ thực hiện. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ.

    Khái niệm chất lượng dịch vụ

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Chất Lượng Sản Phẩm
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?
  • Khái Niệm Quản Lý Chất Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Quản Lý Công: Khái Niệm, Nội Dung Về Quản Lý
  • Điều Kỳ Diệu Từ Chất Xơ
  • Chất Thơ Trong Văn Xuôi
  • Sự Kết Hợp Giữa Chất Văn Xuôi Và Chất Thơ Trên Bình Diện Ngôn Ngữ Và Giọng Điệu Trong Văn Xuôi Tự Sự Lưu Trọng Lư Trước 1945
  • Dung Dịch – Dung Môi – Chất Tan – Dung Dịch Bão Hòa Và Chưa Bão Hòa
  • Khái niệm quản lý chất lượng:

    1 Khái quát.

    Các khái niệm và nguyên tắc quản lý chất lượng nêu trong tiêu chuẩn này mang lại cho tổ chức khả năng đáp ứng những thách thức của môi trường hoàn toàn khác trong những thập niên gần đây. Ngày nay, bối cảnh trong đó tổ chức thực hiện công việc được đặc trưng bởi những thay đổi sâu rộng, toàn cầu hóa thị trường và sự nổi lên của tri thức như một nguồn lực chính yếu. Ảnh hưởng của chất lượng vượt xa hơn cả sự thỏa mãn của khách hàng: nó cũng có thể có ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của tổ chức.

    Xã hội có sự giáo dục tốt hơn và đòi hỏi nhiều hơn, làm cho các bên quan tâm ngày càng gia tăng ảnh hưởng. Bằng việc đưa ra các khái niệm và nguyên tắc cơ bản được sử dụng khi xây dựng hệ thống quản lý chất lượng (QMS), tiêu chuẩn này đưa ra cách thức tư duy rộng hơn về tổ chức.

    Tất cả khái niệm, nguyên tắc và mối quan hệ giữa chúng cần được nhìn nhận một cách tổng thể và không tách rời từng khái niệm, nguyên tắc. Không có một khái niệm hay nguyên tắc riêng nào quan trọng hơn khái niệm hay nguyên tắc khác. Ở mọi thời điểm, thấy được sự cân bằng thật sự trong việc áp dụng là điều then chốt.

    Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng.

    2 Các khái niệm cơ bản

    2.1 Chất lượng

    Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ không chỉ bao gồm chức năng và công dụng dự kiến mà còn bao gồm cả giá trị và lợi ích được cảm nhận đối với khách hàng.

    Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng.

    2.2 Hệ thống quản lý chất lượng

    Một hệ thống quản lý chất lượng bao gồm các hoạt động theo đó tổ chức nhận biết các mục tiêu của mình và xác định các quá trình và nguồn lực cần thiết để đạt được kết quả mong muốn.

    Hệ thống quản lý chất lượng giúp lãnh đạo cao nhất tối ưu việc sử dụng nguồn lực có tính đến các hệ quả dài hạn và ngắn hạn của các quyết định của mình.

    Hệ thống quản lý chất lượng đưa ra phương thức nhận biết các hành động nhằm giải quyết các hệ quả dự kiến, ngoài dự kiến khi cung cấp sản phẩm và dịch vụ.

    Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng.

    2.3 Bối cảnh của tổ chức

    Việc hiểu bối cảnh của tổ chức là một quá trình. Quá trình này xác định các yếu tố ảnh hưởng tới mục đích, mục tiêu và sự bền vững của tổ chức. Quá trình này xem xét các yếu tố nội bộ như giá trị, văn hóa, tri thức và kết quả thực hiện của tổ chức. Quá trình này cũng xem xét các yếu tố bên ngoài như môi trường pháp lý, công nghệ, cạnh tranh, thị trường, văn hóa, xã hội và kinh tế.

    Ví dụ về cách thức có thể thể hiện mục đích của tổ chức bao gồm tầm nhìn, sứ mệnh, chính sách và mục tiêu của tổ chức.

    Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng.

    2.4 Bên quan tâm.

    Khái niệm cơ bản về quản lý chất lượng để tra lời câu hỏi quản lý chất lượng là gì?.

    2.5 Hỗ trợ

    2.5.1 Khái quát

    Hỗ trợ của lãnh đạo cao nhất trong hệ thống quản lý chất lượng và sự tham gia của mọi người giúp:

    • cung cấp đầy đủ nguồn nhân lực và các nguồn lực khác;
    • theo dõi các quá trình và kết quả;
    • xác định và định mức rủi ro và cơ hội;
    • thực hiện các hành động thích hợp.

    Việc đạt được, triển khai, duy trì, nâng cao và xử lý có trách nhiệm các nguồn lực sẽ hỗ trợ tổ chức trong việc đạt được các mục tiêu của mình.

    2.5.2 Con người

    Con người là nguồn lực quan trọng trong tổ chức. Kết quả thực hiện của tổ chức phụ thuộc vào cách thức con người hành xử trong hệ thống họ làm việc.

    Trong một tổ chức, con người trở nên gắn bó và hòa hợp thông qua cách hiểu chung về chính sách chất lượng và kết quả mong muốn của tổ chức.

    2.5.3 Năng lực

    Hệ thống quản lý chất lượng có hiệu lực nhất khi tất cả nhân viên hiểu và áp dụng các kỹ năng, đào tạo, giáo dục và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình. Trách nhiệm của lãnh đạo cao nhất là mang lại các cơ hội cho mọi người phát triển những năng lực cần thiết này.

    2.5.4 Nhận thức

    Nhận thức thu được khi mọi người hiểu trách nhiệm của mình và cách thức hành động của họ góp phần vào việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.

    2.5.5 Trao đổi thông tin

    • bối cảnh của tổ chức;
    • hệ thống quản lý chất lượng.

    Một số thông tin trên đã trả lời quản lý chất lượng là gì?

    Sao bài viết!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Về Quản Lý Chất Lượng (Tham Khảo)
  • Nhân Tố Tác Động Đến Phẩm Chất Chính Trị Của Cán Bộ, Công Chức Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tìm Hiểu Nội Dung 4 Phẩm Chất Đạo Đức “Tự Tin
  • Phẩm Chất Là Gì? Những Phẩm Chất Của Người Thành Công
  • Giáo Án Lớp 8 Môn Hóa Học
  • Sự Khác Biệt Giữa Vật Chất Tối Và Năng Lượng Tối Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Địa Chỉ Website Là Gì? Lưu Ý Khi Cài Đặt Địa Chỉ Trang Web Hiệu Quả
  • Website Doanh Nghiệp Là Gì? Lợi Ích Khi Thiết Kế Website Doanh Nghiệp
  • Website Là Gì? Lợi Ích Của Website
  • Web Tĩnh Và Web Động Là Gì ?
  • Trang Web Tĩnh Là Gì? Phân Biệt Web Tĩnh Và Web Động
  • Vũ trụ của chúng ta bị chi phối bởi các dạng vật chất và năng lượng bí ẩn. Chúng vô hình mà ta vẫn chưa được hiểu rõ.

    Vật chất tối hoạt động giống như một lực hấp dẫn – giữ vũ trụ của chúng ta lại với nhau. Điều này do vật chất tối tương tác với lực hấp dẫn. Nhưng nó không phản xạ, hấp thụ hoặc phát ra ánh sáng. Trong khi đó, năng lượng tối là một lực đẩy. Là một loại phản trọng lực – thúc đẩy sự giãn nở ngày càng nhanh của vũ trụ.

    Năng lượng tối là lực chiếm ưu thế hơn trong hai loại. Chiếm khoảng 68% tổng khối lượng và năng lượng của vũ trụ. Vật chất tối chiếm 27%.  5% còn lại là tất cả những vấn đề thường xuyên mà chúng ta nhìn thấy và tương tác hàng ngày.

    Vào những năm 1930, nhà thiên văn học Thụy Sĩ Fritz Zwicky đã nghiên cứu hình ảnh của khoảng 1.000 thiên hà tạo nên Cụm sao Coma. Ông phát hiện ra điều gì đó thú vị về hoạt động của chúng. Các thiên hà di chuyển nhanh đến mức chúng dễ dàng bị tách ra xa nhau. Ông suy đoán rằng một số loại “vật chất tối” đã giúp giữ chúng lại với nhau. 

    Nhiều thập kỷ sau, các nhà thiên văn học Vera Rubin và Kent Ford đã tìm thấy hiện tượng tương tự. Khi họ nghiên cứu tốc độ quay của các thiên hà riêng lẻ. Các ngôi sao ở rìa ngoài của thiên hà sẽ quay tròn chậm hơn các ngôi sao gần trung tâm. Đó là cách các hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta quay quanh quỹ đạo. Thay vào đó, họ nhận thấy rằng các ngôi sao ở ngoại vi quỹ đạo của thiên hà cũng nhanh. Hoặc nhanh hơn so với các ngôi sao ở gần hơn. Rubin và Ford đã tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy một dạng vật chất vô hình nào đó. Chúng đang giữ vũ trụ lại với nhau.

    Rubin giải thích trong một cuộc phỏng vấn với Discover : “Ngay cả các ngôi sao ở ngoại vi cũng quay quanh với vận tốc lớn . Phải có nhiều trọng lượng để làm cho các ngôi sao quay xung quanh nhanh như vậy. Tuy nhiên ta không thể nhìn thấy nó. Chúng tôi gọi đây là khối lượng vật chất tối vô hình ”.

    Các nhà thiên văn học hiện có nhiều bằng chứng khác cho thấy vật chất tối là có thật. Trên thực tế, sự tồn tại của vật chất tối được chấp nhận rộng rãi. Đến mức nó được coi là mô hình vũ trụ học tiêu chuẩn , tạo nền tảng cho cách các nhà khoa học hiểu được sự ra đời và tiến hóa của vũ trụ.

    Điều đó gây áp lực lên các nhà vũ trụ trong việc tìm ra bằng chứng. Xác thực rằng vật chất tối tồn tại và mô hình vũ trụ của họ là đúng. Trong nhiều thập kỷ, các nhà vật lý trên toàn thế giới đã sử dụng các thiết bị công nghệ ngày càng cao. Với mục đích thử và phát hiện vật chất tối . Cho đến nay, họ không tìm thấy dấu hiệu của nó.

    Các nhà thiên văn biết rằng vũ trụ của chúng ta đang giãn nở trong khoảng một thế kỷ nay. Quan sát bằng kính thiên văn chỉ ra rằng hầu hết các thiên hà đang di chuyển ra xa nhau. Điều này có nghĩa là các thiên hà đã gần nhau hơn trong quá khứ. Kết quả là, bằng chứng cho vụ nổ Big Bang . Tuy nhiên, các nhà thiên văn học cho rằng lực hấp dẫn tổng hợp của tất cả các ngôi sao và thiên hà trong vũ trụ đã làm chậm quá trình giãn nở của vũ trụ. Có lẽ một ngày nào đó nó sẽ tự sụp đổ trở lại trong một Vụ Co Lớn.

    Tuy nhiên, khái niệm đó đã bị bác bỏ vào cuối những năm 1990. Khi hai nhóm các nhà thiên văn học phát hiện ra điều gì đó không có ý nghĩa. Các nhà nghiên cứu các siêu tân tinh trong các thiên hà xa nhất đã tìm ra một điều thú vị. Các thiên hà ở xa đang di chuyển ra xa chúng ta nhanh hơn các thiên hà gần đó. Vũ trụ không chỉ giãn nở mà sự giãn nở còn đang tăng tốc.

    Nhà thiên văn học Brian Schmidt trả lời với The New York Times năm 1998 : “cảm nhận của tôi là kinh ngạc và kinh hãi . “Kinh ngạc bởi vì tôi không mong đợi kết quả này. Kinh hãi khi biết rằng nó có thể sẽ bị đa số những người cũng như tôi nghi ngờ về điều bất ngờ đó”

    Hiện nay, điều đó không có nghĩa là các nhà nghiên cứu biết năng lượng tối là gì. Họ có thể mô tả vai trò của nó trong vũ trụ, nhờ vào thuyết tương đối của Albert Einstein. Einstein không biết về năng lượng tối. Nhưng các phương trình của ông cho thấy rằng sẽ có không gian mới ra đời. Và bao gồm một yếu tố sai lệch trong thuyết tương đối được gọi là hằng số vũ trụ. Ông đã thêm vào – và sau đó hối tiếc – để giữ cho vũ trụ không thu hẹp vào bên trong. Ý tưởng này cho phép bản thân không gian có năng lượng. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa bao giờ thực sự nhìn thấy lực này trên Trái Đất.

    Một số lý thuyết của các nhà vật lý cho rằng có cả một vùng tối của các hạt và trọng lực ở ngoài đó. Chúng chỉ đang chờ được khám phá. Dù năng lượng tối và vật chất tối được tạo ra từ đâu đi chăng nữa. Chúng dường như đang chơi trò kéo co với vũ trụ của chúng ta. Cả hai giữ nó lại với nhau và tách ra xa nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Louis De Broglie: Người Đưa Ra Khái Niệm “sóng Vật Chất”
  • Tính Chất Hóa Học Của Crom Và Bài Tập Vận Dụng
  • Vật Liệu Dẫn Điện: Cấu Tạo, Cách Lắp Đặt, Tính Chất
  • Tài Liệu Môn Mác – Lê
  • Adn Không Phải Là Vật Chất Di Truyền Duy Nhất — Idna
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100