Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh

--- Bài mới hơn ---

  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Về Chất Lượng Sản Phẩm
  • Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong mọi phương diện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo hướng suy nghĩ và hành động của con người. Họat động sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vươn lên không đơn thuần là mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà còn là tham vọng trở thành người đứng đầu. Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh bị chi phối rất nhiều bởi tính kinh tế khắc nghiệt. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình.

    Khái niệm về cạnh tranh

    Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản (CNTB) phát triển vượt bậc Mác đã quan niệm: ” Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa (TBCN) và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là: quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để ý và tham gia. Ngược lại, những ngành, lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc là sự rút lui của các nhà đầu tư. Tuy nhiên sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tư không dễ dàng một sớm, một chiều thực hiện được mà là cả một chiến lược lâu dài đòi hỏi phải có sự tính toán kỹ lưỡng.

    CNTB phát triển đến đỉnh điểm chuyển sang chủ nghĩa đế quốc rồi suy vong và cho đến ngày nay nền kinh tế thế giới đã dần đi vào qũy đạo của sự ổn định và xu hướng chính là hội nhập, hoà đồng giữa các nền kinh tế, cơ chế hoạt động là cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước thì khái niệm cạnh tranh mất hẳn tính giai cấp, tính chính trị nhưng về bản chất thì vẫn không thay đổi. Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được những mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp đó.

    Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc bằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm có cùng đặc tính nhưng với dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau: ” Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận “.

    Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “mua rẻ-bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường. Sở dĩ như vậy vì đối tượng tham gia vào thị trường là bên mua và bên bán; Đối với bên mua mục đích là tối đa hoá lợi ích của những hàng hoá mà họ mua được còn với bên bán thì ngược lại phải làm sao để tối đa hoá lợi nhuận trong những tình huống cụ thể của thị trường. Như vậy trong cơ chế thị trường tối đa hoá lợi nhuận đối với các doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng và điển hình nhất.

    Như vậy dù có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh nhưng tựu chung lại đều thống nhất ở các điểm:

    Mục tiêu cạnh tranh: Tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường đồng thời làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.

    Phương pháp thực hiện: Tạo và vận dụng những lợi thế so sánh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác.

    Thời gian: Trong bất kỳ tuyến thị trường hay sản phẩm nào, vũ khí cạnh tranh thích hợp hay đổi theo thời gian. Chính vì thế cạnh tranh được hiểu là sự liên tục trong cả quá trình.

    Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coi cạnh tranh là một tất yếu khách quan. ở Việt Nam, cùng với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đã từng bước được tiếp nhận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức quản lý và điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung, trong tổ chức và điều hành kinh doanh trong các doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Do đó quan điểm đầy đủ về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh trong kinh tế là cuộc chạy đua “Marathon kinh tế” nhưng không có đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy thì người đó sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khác vươn lên phía trước.

    Khái niệm sức cạnh tranh

    Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và muốn thị trường của nó ngày càng mở rộng thì nó điểm mạnh và có khả năng để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường đó. Sức cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh một các lâu dài và có ý nghĩa.

    Để đánh giá được một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì cần dựa vào các nhân tố sau:

    • Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí (khả năng giảm chi phí đến mức tối đa).
    • Chất lượng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
    • Các dịch vụ đi kèm sản phẩm.

    (Theo voer)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Thế Nào Là Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội Là Gì?
  • Bài Giảng Công Nghệ 8
  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh
  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv..điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv..

    Khái niệm cạnh tranh

    Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv..điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv..

    Theo K. Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch “. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận.

    – Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là ” Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình.

    – Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.

    – Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho. Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).

    Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S. Fischer và R. Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết. Một cạnh tranh hoàn hảo, là nghành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua.

    – Cùng quan điểm như trên, R.S. Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả.

    – Các tác giả trong cuốn “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho: Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua.

    – Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong từ điển Hán việt giải thích: “Cạnh tranh là ganh đua hơn thua”

    – Ở Phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ thì. Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của người dân nứơc đó.

    – Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là” Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian.

    Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây.

    Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:

    – Phải có nhiều chủ thể cùng nhua tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiên và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hớng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tưng tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và đợc người mua chấp nhận. Còn với các chủ thể cạnh tranh bên muc là giành giật muc được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình.

    – Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các dianh nghiệp chính alf các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông kệ kinh doanh ở trên thị trường. Còn giữa người mua với người muc, hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua.

    – Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn 9 từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nứơc)

    2. Cạnh tranh trong kinh tế giữa các doanh nghiệp

    Là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của doanh nghiệp để giành lấy phần thắng, phần hơn về mình trước các doanh nghiệp khác trong quá trình kinh doanh, bảo đảm cho foanh nghiệp phát triển nhanh chóng và bền vũng.

    – Trong nền kinh tế thị trường, trớc mỗi nhu cầu cảu những người tiêu dùng (người muc- bên A) dới dạng các loại sản phẩn tương tự – sản phẩn thường có rất nhiều các nhà sản xuất (người bán – bên B) tham gia đáp ứng, họ luôn phải cố gắng để giành chiến thắng, sự cạnh tranh diễn ra là tất yếu trong môi trường luật pháp của nhà nước, các thông lệ của thị trường và các quy luật khách quan vốn có của nó.

    3. Các loại hình cạnh tranh

    Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phên ra thành nhiều loại.

    * Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại.

    – Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.

    – Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.

    – Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn.

    * Căn cứ theo phạm vu nghành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại.

    – Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.

    – Cạnh tranh giữa các nghành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giuqã các nghành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.

    – Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có nột hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.

    * Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành:

    – Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và đợc xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai.

    – Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hổ của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố vv…)

    van.vn – chuyên trang đánh giá, tư vấn và tin tức về công nghệ, sản phẩm hàng đầu Việt Nam.

    Link gốc: http://doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-canh-tranh-7678.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Thế Nào Là Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội Là Gì?
  • Bài Giảng Công Nghệ 8
  • Chọn Giống Vật Nuôi Và Cây Trồng Bằng Biến Dị Tổ Hợp
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Các Quan Điểm Về Cạnh Tranh
  • Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Cha Đẻ Thuyết Canh Tranh Michael Porter: Thoát ‘bẫy’ Cạnh Tranh Bằng Sự Khác Biệt
  • Mô Hình Năm Lực Lượng Cạnh Tranh Của Michael Porter (Porter’s Five Forces) Là Gì?
  • Khái niệm về cạnh tranh (compete)

    Có nguồn gốc latin: competere, nghĩa là tham gia đua tranh với nhau (Neufeldt, 1996). Cạnh tranh cũng có nghĩa là nổ lực hành động để thành công hơn, đạt kết quả tốt hơn người đang có hành động như mình. Do đó, sự cạnh tranh (competition) là sự kiện, trong đó, cá nhân hay tổ chức cạnh tranh nhau để đạt thành quả mà không phải mọi người đều giành được (Wehmeier, 2000).

    Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. (Michael Porter, 1996)

    Nhìn chung khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp cần xem xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hóa hay dịch vụ ở một mức giá thỏa hai điều kiện: (1) ngay bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến, (2) không phải có trợ cấp.

    Khái niệm về năng lực cạnh tranh

    Trong quá trình nghiên cứu cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ…Ở luận văn này, sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành.

    Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.

    Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.

    rên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình. Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. (Lê Công Hoa, 2006)

    Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác. Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình có để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, cộng nghệ, quản trị, hệ thống thông tin,…

    Như vậy, có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn có khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế.

    Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Luận Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Khung Phân Tích Vrio Hay Vrin Phát Triển Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Lý Thuyết Mô Hình Kim Cương Của Michael Porter Tạo Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững (Sustainable Competitive Advantage) Là Gì?
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Là Gì? Lợi Thế Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Về Chất Lượng Sản Phẩm
  • Khái Niệm Chất Lượng Dịch Vụ
  • 1. Quy định chung về cạnh tranh

    Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết hệ thống thị trường, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Cạnh tranh thúc đẩy các nhà kinh doanh phải luôn đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật trong sản xuất để tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng và vì vậy mang lại sự Ÿ tăng trưởng và cải thiện hiệu quả kinh tế.

    Cạnh tranh phải được diễn ra trong môi trường pháp lí tự do và bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, nếu không có môi trường pháp lí đó, cạnh tranh có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội.

    Cạnh tranh có thể biểu hiện bằng các hình thức với những tính chất khác nhau như cạnh tranh tự do, cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

    2. Khái niệm cạnh tranh

    Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao… và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh.

    Theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đổi về phía mình”. Theo Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là ” cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”.

    Trong khoa học kinh tế, đến nay các nhà khoa học dường như chưa thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi lẽ, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh và gắn với mọi chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận nghiên cứu của các nhà khoa học.

    Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cuốn “Các hoạt động hạn chế cạnh tranh và hoạt động thương mại không lành mạnh” của Tổ chức thống nhất, tín thác vì người tiêu dùng (Ấn Độ) đã diễn tả: “Cạnh tranh trên thị trường là quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức, biện pháp khác nhau”.

    Theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992 thì “cạnh tranh” được hiểu là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển tiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông cũng giải thích cạnh tranh theo nghĩa kinh tế là: Hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.

    Mặc dù được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh song nhìn chung theo các cách giải thích trên, trong khoa học kinh tế cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng. Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa những người bán hàng và cũng có thể xuất hiện giữa những người mua hàng nhưng cạnh tranh giữa những người bán hàng là phổ biến.

    3. Bản chất của cạnh tranh là gì ?

    Dưới giác độ kinh tế, cạnh tranh có bản chất sau:

    – Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để giành giật khách hàng

    Trong kinh tế học, thị trường được xác định là cơ chế ttao đổi đưa người mua và người bán của một loại hàng hoá hay dịch vụ đến với nhau. Đó đơn giản là giao dịch chứ không phải là địa điểm như mọi người thường nghĩ, nó hình thành khi người mua đồng ý trả một mức giá cho sản phẩm mà nhà cung cấp bán ra. Trên thị trường, giữa khách hàng và nhà cung cấp, luôn luôn thể hiện nhu cầu, lợi ích khác nhau. Khách hàng mong muốn mua được sản phẩm phù hợp nhất với giá rẻ nhất có thể, trong khi đó, nhà cung cấp mong muốn bạn được sản phẩm càng nhanh càng tốt để đầu tư phát triển sản xuất thu được nhiều lợi nhuận. Khuynh hướng này là nguồn gốc tạo ra sự cạnh tranh, sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để lôi kéo khách hàng về phía mình. Để ganh đua với nhau, các chủ thể kinh doanh phải sử dụng các phương thức, thủ đoạn kinh doanh được gọi là các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả của cuộc cạnh tranh trôn thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị phần, tăng lợi nhuận, kẻ thua cuộc mất khách hàng và phải ròi khỏi thị trường. Quá trình cạnh tranh, ganh đua buộc các chủ thể kinh doanh phải xem xét lại mình để làm sao sử dụng tất cả các nguồn lực một cách hiệu quả.

    Chủ thể của cạnh tranh là các tổ chức, cá nhân kinh doanh có tư cách pháp lí độc lập. Cạnh tranh chỉ diễn ra khi có sự ganh đua của ít nhất hai chủ thể trở lên và phần lớn là đối thủ của nhau. Nếu không có đối thủ hay nói cách khác là tồn tại tình trạng độc quyền thì cạnh ttanh không thể diễn ra.

    – Cạnh tranh chỉ diễn ra trong điều kiện của cơ chế thị trường

    Cạnh tranh là hoạt động nhằm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về phía mình của các chủ thể kinh doanh nên cạnh tranh chỉ diễn ra trong cơ chế thị trường khi mà công dân có quyền tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp, tự do tìm kiếm cơ hội để phát triển sản xuất kinh doanh. Trong thời kì phong kiến, nhà nước phong kiến luôn chủ trương hình thành và phát triển các phường, hội, các công xã nông thôn mang tính khép kín, tự cung tự cấp, do đó cạnh tranh không có điều kiện để phát triển. Trong nền kinh tể kế hoạch hoá tập trung – nơi mà nhà nước là nhà đầu tư duy nhất nắm quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế nên không thể nói đến kinh tế thị trường, không thể tồn tại quyền tự do kinh doanh của cá nhân, do đó cạnh tranh cũng không thể tồn tại với tính chất là sự ganh đua kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường.

    Trong khoa học pháp lí, các nhà nghiên cửu cũng rất khó có thể đưa ra khải niệm chuẩn chung cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách là mục tiêu điều chỉnh của pháp luật. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh tự do cạnh tranh, tự do sáng tạo ra các phương thức để ganh đua giành phần thắng về phía mình, do đó khái niệm cạnh tranh được pháp luật của rất ít nước định nghĩa. Trong cuốn “Tài liệu tham khảo luật về cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thố trên thế giới” do Bộ Thương mại ấn hành năm 2001 phục vụ cho việc xây dựng Luật cạnh tranh của Việt Nam có giới thiệu luật về cạnh tranh của 9 nước và vùng lãnh thổ trong đó chỉ có Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan đưa ra khái niệm cạnh tranh. Điều 3 Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Cạnh tranh có nghĩa là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ để quyết định các vấn đề kinh tế một cách độc lập. Điều 4 Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan quy định: “Cạnh tranh” là từ chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc những điều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh. Khái niệm về cạnh tranh theo quy định tại Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc có thể thấy tương tự cách hiểu về cạnh tranh dưới giác độ kinh tế đã được trình bày ở phần trên.

    Luật cạnh tranh năm 2014 (luật hiện hành) cũng như luật về cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Hàn Quốc, Bungari, Nhật Bản…), tuy đều không đưa ra. khái niệm cạnh tranh nhưng bao gồm các quy phạm nhằm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, đảm bảo sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh diễn ra theo trật tự và trong khung khổ được pháp luật quy định.

    4. Vai trò của cạnh tranh

    Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cả người tiêu dùng và nền kinh tế

    – Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.

    – Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ.

    – Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động lực phát triển của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cạnh tranh là biểu hiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Cạnh tranh là điều kiện giáo dục tính năng động của nhà doanh nghiệp bên cạnh đó góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm mới. Điều này chứng tỏ chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo có thể dẫn tới xu hướng độc quyền trong kinh doanh.

    5. Các loại hình cạnh tranh.

    Các loại hình cạnh tranh.

    Dựa trên các tiêu thức khác nhau người ta phân thành nhiều loại hình cạnh tranh khác nhau.

    Căn cứ vào chủ thể tham gia vào thị trường

    * Người ta chia cạnh tranh làm ba loại:

    – Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo “luật” mua rẻ bán đắt. Người mua luôn muốn mua được rẻ, ngược lại người bán lại luôn muốn được bán đắt. Sự cạnh tranh này được thực hiện trong quá trình mặc cả và cuối cùng giá cả được hình thành và hành động mua được thực hiện.

    * Cạnh tranh giữa người mua với người bán: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt và giá dịch vụ hàng hoá đó sẽ tăng. Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền. Đây là một cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình.

    * Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, nó có ý nghĩa sống còn đối với bất kì một doanh nghiệp nào. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, số người bán càng tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt bởi vì doanh nghiệp nào cũng muốn giành lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ và kết quả đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ, tăng thị phần và cùng với đó sẽ là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất. Trong cuộc chạy đua này những doanh nghiệp nào không có chiến lược cạnh tranh thích hợp thì sẽ lần lượt bị gạt ra khỏi thị trường nhưng đồng thời nó lại mở rộng đường cho những doanh nghiệp nào nắm chắc được “vũ khí” cạnh tranh và dám chấp nhận luật chơi phát triển.

    Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

    Người ta chia cạnh tranh thành hai loại:

    – Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường. Những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí phá sản.

    – Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lơị nhuận. Sự điều tiết tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên một sự phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn như nhau thì cũng chỉ thu được như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành.

    Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường

    * Người ta chia cạnh tranh thành 3 loại:

    – Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, người mua nhỏ, không ai trong số họ đủ lớn để bằng hành động của mình ảnh hưởng đến giá cả dịch vụ. Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán được tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành. Vì vậy một hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường. Hơn nữa nó sẽ không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu thế thì hãng sẽ chẳng bán được gì. Nhóm người tham gia vào thị trường này chỉ có cách là thích ứng với mức giá bởi vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả theo thị trường quyết định, tức là ở mức số cầu thu hút được tất cả số cung có thể cung cấp. Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có hiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế bởi biện pháp hành chính nhà nước. Vì vậy trong thị trường này giá cả thị trường sẽ dần tới mức chi phí sản xuất.

    – Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó một người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ sản phẩm hay hàng hoá bán ra thị trường. Thị trường này có pha trộn lẫn giữa độc quyền và cạnh tranh gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền. ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền. Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ, thị trường này không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được lợi nhuận tối đa. Những nhà doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị trường này phải chấp nhậnbán hàng theo giá cả của nhà độc quyền.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    Câu hỏi: Các quan điểm về khái niệm cạnh tranh?.

    Trả lời:

    Câu hỏi: Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường?

    Trả lời:

    Câu hỏi: Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường thì cạnh tranh được phân loại như thế nào?.

    Trả lời:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Thế Nào Là Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội Là Gì?
  • Khái Niệm Lợi Thế Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bốn Tiêu Chuẩn Của Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Quản Trị Chiến Lược (P12: Lợi Thế Cạnh Tranh)
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Là Gì? Lợi Thế Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững (Sustainable Competitive Advantage) Là Gì?
  • Lý Thuyết Mô Hình Kim Cương Của Michael Porter Tạo Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài.

    Theo Jack Welch, nếu không có lợi thế thì đừng cạnh tranh. Lợi thế là nền tảng cho sự cạnh tranh. Chính vì vậy, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, những cái mà các đối thủ cạnh tranh khác không có, doanh nghiệp đó sẽ hoạt động tốt hơn những doanh nghiệp khác. Lợi thế cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài, hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.

    Mỗi yếu tố đều có sự ảnh hưởng đến việc tạo ra sự khác biệt. Bốn yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn thông qua việc hạ thấp chi phí hay tạo sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ. Từ đó, doanh nghiệp có thể làm tốt hơn đối thủ và có lợi thế cạnh tranh.

    Theo Porter, lợi thế cạnh tranh (theo đó là lợi nhuận cao hơn) đến với các doanh nghiệp nào có thể tạo ra giá trị vượt trội. Và cách thức để tạo ra giá trị vượt trội là hướng đến việc giảm thấp chi phí kinh doanh và / hoặc tạo khác biệt sản phẩm vì thế khách hàng đánh giá nó cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng thêm.

    Hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một doanh nghiệp, và do đó biểu thị nó có lợi thế cạnh tranh hay không, đó là: lượng giá trị mà các khách hàng cảm nhận về hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp, và chi phí sản xuất của nó.

    Giá trị cảm nhận của khách hàng là sự lưu giữ trong tâm trí của họ về những gì mà họ cảm thấy thỏa mãn từ sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Nói chung, giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm của doanh nghiệp thường cao hơn giá mà doanh nghiệp có thể đòi hỏi về các sản phẩm, dịch vụ của mình. Theo các nhà kinh tế, phần cao hơn đó chính là thặng dư người tiêu dùng mà khách hàng có thể giành được. Cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các doanh nghiệp đã giúp khách hàng nhận được phần thặng dư này. Cạnh tranh càng mạnh phần thặng dư người tiêu dùng càng lớn. Hơn nữa, doanh nghiệp không thể phân đoạn thị trường chi tiết đến mức mà nó có thể đòi hỏi mỗi khách hàng một mức giá phản ánh đúng đắn những cảm nhận riêng của họ về giá trị sản phẩm – điều mà các nhà kinh tế gọi là sự bảo lưu giá của khách hàng. Hai lý do này khiến doanh nghiệp chỉ có thể đòi hỏi mức giá thấp hơn giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm.

    Để hiểu rõ hơn về các hoạt động của doanh nghiệp nhằm phát triển lợi thế cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng. Một công cụ hữu ích để phân cách doanh nghiệp trong một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng được gọi là: Chuỗi giá trị.

    Vậy, chuỗi giá trị được hiểu là chuỗi / tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp mà mọi hoạt động góp phần gia tăng giá trị để chuyển các nguồn lực thành sản phẩm / dịch vụ đến khách hàng. Porter định nghĩa các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ tạo ra giá trị gia tăng, được thể hiện bởi sơ đồ sau:

    Chuỗi giá trị cho thấy khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng của doanh nghiệp qua các hoạt động của nó. Bao gồm năm hoạt động cơ bản là: hậu cần đầu vào, vận hành, hậu cần đầu ra, tiếp thị và bán hàng, dịch vụ. Và bốn hoạt động hỗ trợ gồm: cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, phất triển kỹ thuật và cung ứng nguyên liệu.

    Chuỗi giá trị là một công cụ hữu ích trong việc xác định các năng lực cốt lõi của doanh nghiệp và các hoạt động chính của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị thích hợp và tích hợp cao sẽ tạo lợi thế cạnh tranh (mà đối thủ cạnh tranh khó có thể bắt chước) cho doanh nghiệp:

    Khác biệt hoá: bằng việc thích hợp và tích hợp cao tạo sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.

    Khái niệm lợi thế cạnh tranh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Xác Định Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững Của Doanh Nghiệp
  • Thị Trường Cạnh Tranh Hoàn Hảo Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm
  • Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền (Monopoly Capitalism) Là Gì?
  • Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Nhà Nước
  • Cạnh Tranh Là Gì? Vai Trò Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Sở Lý Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Trong Doanh Nghiệp
  • Lợi Thế Cạnh Tranh: Định Nghĩa, Nguồn Gốc Và Phương Pháp Xác Định
  • Các Khái Niệm Về Lợi Thế Cạnh Tranh
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Và Ý Nghĩa Của Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Marketing: 6 Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing
  • Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”.

    Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình.

    Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.

    Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.

    Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.

    Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.

    Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”.

    Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh.

    Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình. Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

    Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần. Còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới.

    Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản.

    Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới.

    Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế.

    Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

    Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.

    Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.

    Khái niệm năng lực cạnh tranh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Độc Quyền (Monopolistic Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Độc Quyền
  • Cạnh Tranh Hoàn Hảo (Perfect Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Hoàn Hảo
  • Cho Ví Dụ Về Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Ở Nước Ta Hiện Nay ?
  • Cạnh Tranh Lành Mạnh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh Lành Mạnh ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cạnh Tranh Lành Mạnh Là Gì? Khái Niệm Và Vai Trò Của Cạnh Tranh Lành Mạnh
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Giải Gdcd 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Giáo Dục Công Dân 11. Bài 4. Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá Giao An Bai 4 Doc
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Hay, Chi Tiết).
  • Cạnh tranh lành mạnh là sự ganh đua một cách hợp pháp, trong sạch, đàng hoàng giữa các nhà kinh doanh hoạt động trong cùng lĩnh vực, ngành nghề để chiếm lĩnh thị phần mà không sử dụng thủ đoạn mờ ám, bất chính nhằm loại bỏ đối thủ, tranh giành thị trường.

    Các nhà kinh doanh cạnh tranh lành mạnh bằng việc áp dụng các biện pháp cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng cũng như giá trị sử dụng của sản phẩm, hạ giá cung cấp sản phẩm, tạo sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với sản phẩm, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao đời sống xã hội.

    Ngược nghĩa với cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh không lành mạnh.

    Xác định vị trí độc quyền của doanh nghiệp theo luật cạnh tranh ?

    Điều 25 Luật cạnh tranh năm 2021 quy định:

    Một doanh nghiệp khi có vị trí độc quyền, thị trường sẽ trao cho nó quyền lực tuyệt đối của mình, đó là khả năng của doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định.(1) Như vậy, độc quyền là thuật ngữ để chỉ việc doanh nghiệp nào đó duy nhất tồn tại trên thị trường mà không có đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền có thể là độc quyền nguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền cầu (độc quyền mua) trên thị trường. Cả hai trường hợp này khi xảy ra đều đem lại cho doanh nghiệp độc quyền khả năng khống chế ý chí của đối tác hoặc của khách hàng. Bởi lẽ, với tư cách là người duy nhất mua hoặc bán, vị trí của doanh nghiệp độc quyền đã tước bỏ khả năng lựa chọn của khách hàng bởi họ chỉ còn một cơ may duy nhất là được giao dịch với doanh nghiệp. Khi ấy, sự chi phối đến giá cả và những điều kiện thương mại khác từ doanh nghiệp độc quyền là dễ xảy ra.

    Trân trọng./.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cạnh Tranh Lành Mạnh Là Gì?
  • Các Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Bị Cấm Theo Quy Định
  • Giải Thích Về Khái Niệm Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì
  • Cạnh Tranh Không Lành Mạnh: Khái Niệm, Hành Vi Và Chế Tài Xử Lý
  • Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì?
  • Khái Niệm Chung Về Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Loại Khả Năng Cạnh Tranh
  • Pháp Luật Cạnh Tranh Và Chính Sách Cạnh Tranh Là Gì?
  • Đối Thủ Cạnh Tranh Là Gì? Động Lực Phát Triển Từ Đối Thủ Cạnh Tranh
  • Đối Thủ Cạnh Tranh Là Gì? Tìm Hiểu Để “trăm Trận Trăm Thắng”
  • Đối Thủ Cạnh Tranh Là Gì? Phân Tích Đối Thủ Cạnh Tranh Trong Kinh Doanh Trực Tuyến
  • Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch

    Doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế thị trường nên chịu sự chi phối hoạt động của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trường mọi cá nhân được tự do kinh doanh, đây chính là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh. Cạnh tranh trên thị trường rất đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể có lợi ích đối lập nhau chẳng hạn như cạnh tranh giữa những người mua, giữa những người bán, giữa những người bán với người mua, giữa các nhà sản xuất, giữa các doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp nước ngoài….Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa.

    Xét dưới giác độ các quốc gia thì cạnh tranh có thể được miêu tả là quá trình đương đầu của các quốc gia này với quốc gia khác.

    Xét dưới giác độ ngành kinh tế – kỹ thuật, từ trước đến nay, cạnh tranh được chia thành 2 loại là cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh nội bộ ngành.

    Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hàng hóa-dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trường trên cơ sở giá trị xã hội của loại hàng hóa dịch vụ đó. Những doanh nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh sẽ mở rộng quy mô hoạt động của mình trên thị trường, ngược lại những doanh nghiệp kém lợi thế trong cạnh tranh sẽ phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí còn có thể bị giải thể, phá sản.

    Đề cập tới cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế TBCN, K. Mark đã đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch”. Như vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế TBCN, cuốn sách “Từ điển kinh doanh” (xuất bản năm 1992, Anh) lại đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình” để đề cập tới sự cạnh tranh ở thị trường các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp.

    Nói tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các ngành kinh tế, giữa các quốc gia trong việc giành giật các lợi thế để thực hiện các mục tiêu khác nhau trong từng giai đoạn cạnh tranh nhất định. Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để từ đó luôn phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Mặt khác tránh cạnh tranh bất hợp pháp làm tổn hại lợi ích của cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình.

    Khái niệm chung về cạnh tranh

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia
  • Khái Niệm Quy Luật Cạnh Tranh Là Gì?
  • Những Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing
  • Những Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing (Phần Cuối)
  • Các Khái Niệm Marketing: 6 Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing
  • Cạnh Tranh Lành Mạnh Là Gì? Khái Niệm Và Vai Trò Của Cạnh Tranh Lành Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Giải Gdcd 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa
  • Giáo Dục Công Dân 11. Bài 4. Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá Giao An Bai 4 Doc
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 4: Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hóa (Hay, Chi Tiết).
  • Bài 4. Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá
  • Trình duyệt của bạn không hỗ trợ file này.

    1. Cạnh tranh lành mạnh là gì ? Tại sao doanh nghiệp phải cạnh tranh lành mạnh?

    Cạnh tranh lành mạnh là gì? Cạnh trạnh lành mạnh là khái niệm bao hàm tiêu chuẩn cơ cấu và hành vi thị trường. Doanh nghiệp cần tuân thủ cạnh tranh lành mạnh để đạt được hiệu quả mong muốn.

    Tiêu chuẩn của lành mạnh bao gồm:

    – Tiêu chuẩn kết cấu: Số lượng người bán sản phẩm, dịch vụ phải lớn hoặc đủ lớn để không có bất kỳ 1 đối tượng, tổ chức nào có thể chi phối cả thị trường. Thị trường chỉ được chi phối khi kinh tế quy mô cho phép họ làm điều đó; Không có trở ngại nào mang tính nhân tạo khi doanh nghiệp gia nhập; Sự phân biệt chất lượng vừa phải và nhạy cảm với giá cả.

    – Tiêu chuẩn hành vi: Giữa các nhà cung cấp phải có sự cạnh tranh mạnh mẽ. Doanh nghiệp không được phép thoả thuận cấu kết để cố định giá cả hay thị phần; Không sử dụng chiến thuật cô hay lôi kéo như từ chối cung cấp, hợp đồng ràng buộc với mục đích làm hại các nhà cung cấp cạnh tranh; Nhạy cảm nhu cầu người tiêu dùng về các mặt hàng.

    Khái niệm cạnh tranh là gì trong kinh tế là chỉ dẫn hữu ích cho việc nỗ lực hiện chính sách chống độc quyền. Thực tế, nó không phải trạng thái lý tưởng trong cạnh tranh hoàn hảo, người ta vẫn gặp khó khăn trong việc khuyến khích người khác chấp nhuận những tiêu chuẩn, chẳng hạn như số người bao nhiêu mới là đủ lớn, làm thế nào để đạt được con số đó, mức lợi nhuận phải thế nào thì mới hợp lý.

    Từ điển Black’s Law Dictionary định nghĩa rằng cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh với các dối thủ một cách công khai, công bằng trong kinh doanh.

    Có lợi thế cạnh tranh luôn là ước muốn của các doanh nghiệp và những nhà kinh tế vì nó đem lại hiệu quả tối ưu cho người dùng. Trong hoạt động giao lưu thương mại, nền kinh tế lúa nước Việt Nam cũng đã phản án quan niệm về cạnh tranh lành mạnh bằng việc nuôi nấng, tô vẽ các nét đẹp truyền thống ngàn năm văn hiến. “Buôn có bạn, bán có phường”, các thương nhân Việt Nam từ trước đến nay luôn yêu mến sự lành mạnh của cạnh tranh.

    Tuy nhiên, hiện nay khái niệm ấy chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. “Cạnh tranh lành mạnh” không phải luật định mặc dù bất cứ đạo luật cạnh tranh nào cũng đều hướng đến việc hoàn thiện và xây dựng thị trường kinh tế.

    “Cạnh tranh lành mạnh” không được định nghĩa trong khoa học pháp lý vì không có khái niệm nào mà tất cả các nhà khoa học đều đồng ý. Song họ cũng có một sự thống nhất khi chỉ ra những đặc trưng của loại hình cạnh tranh này: Doanh nghiệp chỉ được gọi là cạnh tranh lành mạnh khi họ cạnh tranh bằng chính tiềm năng vốn có của mình với mục đích thu hút khách hàng mà không đi ngược lại với pháp luật và tập quán kinh doanh.

    Cạnh tranh lành mạnh giúp nền kinh tế hoạt động hiệu quả, đem lại những sản phẩm đa dạng chất lượng cho người tiêu dùng, mang lại những thành tựu phát triển trong khong khoa học kỹ thuật và sử dụng nguồn lực kinh tế hiệu quả. Với doanhh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh như một công cụ “trọng tài” để lựa chọn những nhà kinh doanh có năng lực, có bản lĩnh để phát triển và tồn tại.

    Bên cạnh đó, cạnh tranh công bằng lành mạnh là một phương pháp, điều kiện đánh giá tuyển chọn nhân sự một cách hiệu quả nhất, là cơ sở lựa chọn nhân tài, người xuất sắc để trao giải, bổ nhiệm cán bộ. Đồng thời, nó cũng tạo động lực cho những người lao động tập trung vào công việc, giữ chân người tài, tăng cường hợp tác, nâng cao năng lực bản thân mang lại lợi ích cho tập thể.

    Cạnh tranh công bằng là một xu thế tất yếu của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta không thể dùng các ưu đãi nội bộ hay rào cản phi chính thức để hạn chế việc cạnh tranh. Hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế, sự minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình sẽ tạo ra thái độ đúng buộc các doanh nghiệp trong nước phải chú trọng xây dựng văn hoá doanh nghiệp, tạo nền tảng cho sự đổi mới sáng tạo.

    2. Doanh nghiệp cần làm gì để có thể cạnh tranh lành mạnh?

    Những phương pháp giúp doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh là gì? Cạnh tranh lành mạnh là một mục tiêu, tiến trình hướng tới, chứ chưa phải là tình hình thực tế. Để hoàn thiện nhiệm vụ cạnh tranh lành mạnh trong Doanh nghiệp, tổ chức cần làm những điều sau đây:

    – Đề cao sự tuân thủ pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách. Các đơn vị phải chủ động, tích cực hoàn thiện các phương thức, phong cách của cạnh tranh công bằng, bình đẳng cả trong và ngoài hệ thống của mình kết hợp với thực thi các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế.

    – Văn hoá doanh nghiệp phải được xây dựng và quản trị theo các chuẩn mực, giá trị, đoàn kết, chia sẻ để tạo động lực và kiến tạo môi trường làm việc phát triển bền vững của các Doanh nghiệp. Để các giá trị, chuẩn mực trở thành thói quen và bản sắc doanh nghiệp thì đội ngũ cán bộ phải tuyên truyền và gương mẫu thực hiện trong công việc và sinh hoạt.

    – Thực hiện nghiêm túc hình thức “xây” và “chống” trong văn hoá doanh nghiệp , quản trị lành mạnh khuyến khích sự phát triển và đổi mới của các tổ chức. Chúng ta cần chủ động thực hiện các điều kiện để cạnh tranh công bằng, khen thưởng, tôn vinh các gương mặt lao động hoạt động hiệu quả, có tinh thần đồng đội. Bên cạnh đó cần phòng ngừa, khắc phục và sửa chữa cơ chế cạnh tranh nói chung và cạnh tranh nội bộ nói riêng, loại bỏ những ưu đãi, ưu tiên quá mức làm mất đi sự công bằng xã hội.

    3. Những tồn đọng trong cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp hiện nay

    Khi môi trường kinh doanh ngày càng khó khăn thì vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp càng trở nên khốc liệt. Quyền sở hữu trong kinh tế đã kéo theo hàng loạt những sự cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh.

    Trong nội tại nền Kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức, tồn tại. 95% doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đều có thực lực yếu và không có khả năng tham gia chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Dù đã đạt được những thành tựu đáng kể song vẫn sẽ có sự tác động của các biến động kinh tế thế giới. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường giữa các Doanh nghiệp với nhau và giữa Doanh nghiệp với người tiêu dùng xảy ra. Năng lực và hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp vẫn ở mức thấp so với các nước cùng khu vực và thế giới. Các trụ cột thuộc nhóm gia tăng hiệu suất như mức độ tinh thông hoạt động kinh doanh, hiệu qảu thị trường hàng hoá cũng ít có sự cải thiện. Cạnh tranh không lành mạnh đã diễn ra trên tất cả các ngành nghề, lĩnh vực từ ngân hàng, tài chính đến sản xuất, thương mại, dịch vụ.

    Nguyên nhân dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh đó là hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất và tính khả thi chưa cao, chưa ứng dụng nhiều vào cuộc sống. Việc hoàn thiện các quy định kiểm soát hành vi cạnh tranh và cơ chế xây dựng là rất cần thiết bởi chúng vẫn còn bất cập, chưa hợp lý và chỉ mang tính hình thức. Điều này đã tạo kẽ hở để doanh nghiệp trong nước lợi dụng nhằm giành giật thị trường, loại bỏ, chèn ép đối thủ.

    Mong rằng bài viết đã giúp bạn giải đáp câu hỏi cạnh tranh lành mạnh là gì. Các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh bằng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao và tham gia vào chuỗi giá trị để ổn định nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cạnh Tranh Lành Mạnh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh Lành Mạnh ?
  • Cạnh Tranh Lành Mạnh Là Gì?
  • Các Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Bị Cấm Theo Quy Định
  • Giải Thích Về Khái Niệm Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Là Gì
  • Cạnh Tranh Không Lành Mạnh: Khái Niệm, Hành Vi Và Chế Tài Xử Lý
  • Khái Niệm Về Năng Lực Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Năng Lực Cạnh Tranh (Competitiveness) Là Gì? Các Cấp Độ Năng Lực Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Pháp Luật Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh
  • Luật Cạnh Tranh 2021 Của Việt Nam
  • Khái Niệm Và Các Cấp Độ Năng Lực Cạnh Tranh
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Quốc Gia Của Việt Nam Trong Hội Nhập Asean Hiện Nay
  • Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống, môi trường xã hội, kinh tế đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm . Cạnh tranh kinh tế chính là những quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường, là sự ganh đua của các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy lợi ích (lợi nhuận) cao nhất trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và các lợi ích khác …. Theo nhà kinh tế học Mỹ, Michael Porter, Đại học Harvard Mỹ thì cạnh tranh kinh tế là sự giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh kinh tế ở cả 3 cấp độ: Nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo” nên năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

    Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa. Trong sản xuất hàng hóa, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hóa, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh.

    Cạnh tranh kinh tế chính là những quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường, là sự ganh đua của các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy lợi ích (lợi nhuận) cao nhất trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và các lợi ích khác …. Theo nhà kinh tế học Mỹ, Michael Porter, Đại học Harvard Mỹ thì cạnh tranh kinh tế là sự giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh kinh tế ở cả 3 cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo” nên năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

    Theo từ điển bách khoa của Việt Nam thì: Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.

    Khái niệm năng lực cạnh tranh. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: ” Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế “.

    Một mặt, tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế. Trong đó, các cam kết quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành/sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó.

    UNCTAD thuộc Liên hợp quốc cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là:” Năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc nó cũng có thể được định nghĩa là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền đẹp, rẻ của doanh nghiệp, hoặc nó còn được định nghĩa là sức cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận”.

    Cạnh tranh hiện nay là khái niệm chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, nơi cung cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản, là linh hồn của sức sống thị trường. Theo quan điểm của P. Samuelson thi: ” Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường. , từ điển thuật ngữ chính sách thương mại lại quan niệm năng lực cạnh tranh là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”.

    Theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ lại quan niệm “năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”.

    Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh thì thì khái niệm về năng lực cạnh tranh được đề cập và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Trong luận án này chỉ tập trung vào năng lực cạnh tranh của ngành.

    Năng lực cạnh tranh của ngành là thể hiện thực lực và lợi thế của ngành so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng để đạt doanh thu cao. Đây là yếu tố nội hàm của mỗi ngành không chỉ được tính bằng các tiêu chí về tài chính, công nghệ, nhân lực, tổ chức quản trị ngành, doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trong cùng một lĩnh vực.

    Trong giai đoạn hội nhập kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của các ngành kinh tế và của quốc gia cũng như các doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất lao động của quốc gia đó và là nhân tố đảm bảo thu nhập, sự phát triển bền vững của quốc gia tăng trưởng ổn định và lâu dài của nền kinh tế.

    Khái niệm về năng lực cạnh tranh

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cạnh Tranh Là Gì? Vai Trò Của Sự Cạnh Tranh Đối Với Nền Kinh Tế Ra Sao?
  • Khái Niệm Về Quần Thể Và Mối Quan Hệ Giữa Các Cá Thể Trong Quần Thể
  • Bài 4. Cạnh Tranh Trong Sản Xuất Và Lưu Thông Hàng Hoá Bai 4 Canh Tranh Trong San Xuat Va Luu Thong Hang Hoa Docx
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Marketing Mix Đối Với Doanh Nghiệp
  • Cách Phân Tích Đối Thủ Cạnh Tranh Trong Kinh Doanh
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100