Cạnh Tranh Hoàn Hảo (Perfect Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Hoàn Hảo

--- Bài mới hơn ---

  • Cạnh Tranh Độc Quyền (Monopolistic Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Độc Quyền
  • Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Quát Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh
  • Cơ Sở Lý Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Trong Doanh Nghiệp
  • Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)

    Khái niệm

    Cạnh tranh hoàn hảo hay cạnh tranh nguyên tử trong tiếng Anh là Perfect Competition hay Atomic Competition.

    Cạnh tranh hoàn hảo là một loại hình cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi 4 đặc điểm:

    + Nhiều người mua và nhiều người bán: Trong thị trường này, có một số lượng lớn doanh nghiệp hoạt động độc lập với nhau. Mỗi doanh nghiệp và người mua nhỏ (nguyên tử) đến mức không tác động được tới giá thị trường của hàng hoá hoặc dịch vụ.

    + Sản phẩm đồng nhất: Đặc trưng này hàm ý sản phẩm mà các doanh nghiệp cạnh tranh chào bán giống hệt nhau, cả về các thuộc tính vật chất và quan niệm của người mua, do đó người mua không ưa thích sản phẩm của một doanh nghiệp nào đó hơn sản phẩm của các doanh nghiệp khác.

    + Tự do gia nhập và rời bỏ thị trường: Đặc trưng này có nghĩa là không có bất kì hàng rào hay trở ngại nào đối với sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới hoặc sự tự rời bỏ thị trường của các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường.

    + Hiểu biết và tính cơ động hoàn hảo: Người mua và người bán hiểu rõ và đầy đủ về thị trường; tất cả người mua đều có thể tiếp cận người bán mà không gặp trở ngại gì.

    Cạnh tranh hoàn hảo là một cấu trúc thị trường trên lí thuyết và không tồn tại trong thực tế. Như vậy, rất khó để tìm thấy những ví dụ thực tế về sự cạnh tranh hoàn hảo nhưng nó có những biến thể hiện diện trong xã hội thực tế.

    Xem xét tình hình tại một chợ nông dân, một nơi được đặc trưng bởi một số lượng lớn người bán và người mua nhỏ. Thông thường, có rất ít sự khác biệt giữa các sản phẩm và giá của chúng từ thị trường nông dân này đến thị trường khác.

    Xuất xứ của sản phẩm không là vấn đề (trừ khi chúng được phân loại là hàng hóa hữu cơ) trong những trường hợp như vậy và có rất ít sự khác biệt trong bao bì hoặc nhãn hiệu sản phẩm. Do đó, ngay cả khi có một trang trại sản xuất hàng hóa cho thị trường bị phá sản, điều này cũng sẽ không tạo ra sự khác biệt về giá bán sản phẩm trung bình.

    Ví dụ tương tự như trong trường hợp hai siêu thị cạnh tranh, có hàng hóa trên các kệ chứa nhập về từ cùng một nhóm các công ty. Một lần nữa, có rất ít sự khác biệt để phân biệt các sản phẩm giữa hai siêu thị với nhau và giá cả của chúng vẫn gần như nhau. Một ví dụ khác về sự cạnh tranh hoàn hảo là thị trường cho các sản phẩm không có thương hiệu, có các phiên bản rẻ hơn các sản phẩm nổi tiếng.

    Sự phát triển của các thị trường mới trong ngành công nghệ cũng có sự cạnh tranh hoàn hảo ở một mức độ nhất định. Ví dụ: có sự gia tăng các trang web cung cấp dịch vụ tương tự trong những ngày đầu của mạng truyền thông xã hội.

    Một số ví dụ về các trang web như vậy là chúng tôi chúng tôi và chúng tôi Không có trang web nào trong số chúng có thị phần chi phối và các trang web chủ yếu là miễn phí. Chúng tập hợp những người bán trên thị trường trong khi người tiêu dùng của các trang web đó, chủ yếu là những người trẻ tuổi, là người mua.

    Chi phí khởi nghiệp cho các công ty trong không gian này là tối thiểu, có nghĩa là các đơn vị khởi nghiệp và công ty có thể tự do tham gia và rời khỏi các thị trường này. Các công nghệ, như PHP và Java, phần lớn là nguồn mở và có sẵn cho bất kì ai. Chi phí vốn, dưới dạng bất động sản và cơ sở hạ tầng, là không cần thiết. Ví dụ, Mark Zuckerberg của Facebook bắt đầu phát triển công ty từ kí túc xá đại học của mình.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cho Ví Dụ Về Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Ở Nước Ta Hiện Nay ?
  • Bộ Sách Chiến Lược Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Mô Hình Năm Lực Lượng Cạnh Tranh Của Michael Porter (Porter’s Five Forces) Là Gì?
  • Cha Đẻ Thuyết Canh Tranh Michael Porter: Thoát ‘bẫy’ Cạnh Tranh Bằng Sự Khác Biệt
  • Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Về Chất Lượng Sản Phẩm
  • Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong mọi phương diện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo hướng suy nghĩ và hành động của con người. Họat động sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vươn lên không đơn thuần là mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà còn là tham vọng trở thành người đứng đầu. Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh bị chi phối rất nhiều bởi tính kinh tế khắc nghiệt. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình.

    Khái niệm về cạnh tranh

    Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản (CNTB) phát triển vượt bậc Mác đã quan niệm: ” Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa (TBCN) và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là: quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để ý và tham gia. Ngược lại, những ngành, lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc là sự rút lui của các nhà đầu tư. Tuy nhiên sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tư không dễ dàng một sớm, một chiều thực hiện được mà là cả một chiến lược lâu dài đòi hỏi phải có sự tính toán kỹ lưỡng.

    CNTB phát triển đến đỉnh điểm chuyển sang chủ nghĩa đế quốc rồi suy vong và cho đến ngày nay nền kinh tế thế giới đã dần đi vào qũy đạo của sự ổn định và xu hướng chính là hội nhập, hoà đồng giữa các nền kinh tế, cơ chế hoạt động là cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước thì khái niệm cạnh tranh mất hẳn tính giai cấp, tính chính trị nhưng về bản chất thì vẫn không thay đổi. Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được những mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp đó.

    Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc bằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm có cùng đặc tính nhưng với dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau: ” Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận “.

    Thực chất cạnh tranh là sự tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “mua rẻ-bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường. Sở dĩ như vậy vì đối tượng tham gia vào thị trường là bên mua và bên bán; Đối với bên mua mục đích là tối đa hoá lợi ích của những hàng hoá mà họ mua được còn với bên bán thì ngược lại phải làm sao để tối đa hoá lợi nhuận trong những tình huống cụ thể của thị trường. Như vậy trong cơ chế thị trường tối đa hoá lợi nhuận đối với các doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng và điển hình nhất.

    Như vậy dù có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh nhưng tựu chung lại đều thống nhất ở các điểm:

    Mục tiêu cạnh tranh: Tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường đồng thời làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.

    Phương pháp thực hiện: Tạo và vận dụng những lợi thế so sánh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác.

    Thời gian: Trong bất kỳ tuyến thị trường hay sản phẩm nào, vũ khí cạnh tranh thích hợp hay đổi theo thời gian. Chính vì thế cạnh tranh được hiểu là sự liên tục trong cả quá trình.

    Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coi cạnh tranh là một tất yếu khách quan. ở Việt Nam, cùng với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đã từng bước được tiếp nhận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức quản lý và điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung, trong tổ chức và điều hành kinh doanh trong các doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Do đó quan điểm đầy đủ về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh trong kinh tế là cuộc chạy đua “Marathon kinh tế” nhưng không có đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy thì người đó sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khác vươn lên phía trước.

    Khái niệm sức cạnh tranh

    Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và muốn thị trường của nó ngày càng mở rộng thì nó điểm mạnh và có khả năng để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường đó. Sức cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh một các lâu dài và có ý nghĩa.

    Để đánh giá được một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì cần dựa vào các nhân tố sau:

    • Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí (khả năng giảm chi phí đến mức tối đa).
    • Chất lượng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
    • Các dịch vụ đi kèm sản phẩm.

    (Theo voer)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Thế Nào Là Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội Là Gì?
  • Bài Giảng Công Nghệ 8
  • Cạnh Tranh Độc Quyền (Monopolistic Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Độc Quyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Quát Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh
  • Cơ Sở Lý Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Trong Doanh Nghiệp
  • Lợi Thế Cạnh Tranh: Định Nghĩa, Nguồn Gốc Và Phương Pháp Xác Định
  • Khái niệm

    Cạnh tranh độc quyền trong tiếng Anh là Monopolistic Competition.

    Cạnh tranh độc quyền là đặc trưng của một ngành công nghiệp trong đó nhiều công ty cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự nhau, nhưng không phải là thay thế hoàn hảo.

    Rào cản gia nhập và rút lui trong một ngành cạnh tranh độc quyền là thấp, và các quyết định của một công ty không ảnh hưởng trực tiếp đến các đối thủ cạnh tranh.

    Cạnh tranh độc quyền là một hình thức cạnh tranh đặc trưng của một số ngành công nghiệp quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ nhà hàng, tiệm làm tóc, quần áo và đồ điện tử.

    Ví dụ về cạnh tranh độc quyền

    Minh họa các đặc điểm của cạnh tranh độc quyền qua ví dụ về các sản phẩm tẩy rửa gia dụng.

    Số lượng các công ty

    Khi một người đến hàng tạp hóa, người đó sẽ thấy rằng bất kì mặt hàng tẩy rửa nào- như nước rửa bát, xà phòng rửa tay, bột giặt, chất khử trùng, v.v… – đều có một vài loại. Đối với mỗi món hàng cần mua, có đến 5-6 sản phẩm của các công ty khác nhau để lựa chọn.

    Khác biệt hóa sản phẩm

    Bởi vì tất cả các sản phẩm đều có cùng chức năng, người bán có tương đối ít lựa chọn để phân biệt sản phẩm của các công ty khác nhau. Có thể có những mặt hàng giảm giá” có chất lượng thấp hơn, nhưng rất khó để biết liệu các mặt hàng giá cao có thực sự có tốt hơn không.

    Cạnh tranh độc quyền có xu hướng dẫn đến thực hiện nhiều hoạt động marketing vì các công ty cần phân biệt các sản phẩm tương tự nhau. Một công ty có thể lựa chọn hạ giá sản phẩm, công ty khác chọn tăng giá và sử dụng bao bì nhấn mạnh chất lượng. Trên thực tế, các sản phẩm trên có thể đều có hiệu quả như nhau.

    Quyền định giá

    Các công ty trong cạnh tranh độc quyền l à người quyết định giá, không phải người chấp nhận giá. Tuy nhiên, quyền định giá danh nghĩa của chúng được bù đắp bởi thực tế là nhu cầu cho các sản phẩm của họ có độ co giãn giá cao. Để có thể tăng giá, các công ty phải có khả năng phân biệt sản phẩm của họ với các đối thủ cạnh tranh.

    Độ co giãn của cầu theo giá

    Nhu cầu đối với các sản phẩm trong cạnh tranh độc quyền rất nhạy cảm với sự thay đổi giá cả. Nếu chất tẩy rửa yêu thích của một người đột nhiên tăng giá hơn 20%, có lẽ người đó sẽ không ngần ngại chuyển sang một sản phẩm thay thế.

    Lợi nhuận kinh tế

    Trong ngắn hạn, các công ty có thể tạo ra lợi nhuận kinh tế vượt mức thông thường. Tuy nhiên, vì rào cản gia nhập thấp, các công ty khác có động lực thâm nhập thị trường, làm tăng sự cạnh tranh, cho đến khi lợi nhuận kinh tế chung bằng không.

    (Theo investopedia)

    Hằng Hà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cạnh Tranh Hoàn Hảo (Perfect Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Hoàn Hảo
  • Cho Ví Dụ Về Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Ở Nước Ta Hiện Nay ?
  • Bộ Sách Chiến Lược Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Mô Hình Năm Lực Lượng Cạnh Tranh Của Michael Porter (Porter’s Five Forces) Là Gì?
  • Cha Đẻ Thuyết Canh Tranh Michael Porter: Thoát ‘bẫy’ Cạnh Tranh Bằng Sự Khác Biệt
  • Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Từ Là Gì? Khái Niệm Vai Trò Trong Câu & Ví Dụ
  • Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì
  • Khái Niệm Động Từ Khuyết Thiếu Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Booking Là Gì? Những Khái Niệm Về Booking Bạn Cần Biết
  • Tổng Quan Về Kỹ Năng Đọc Và Đọc Hiểu
  • Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm, Khái Niệm C, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm 4p, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ước, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Oop, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm P, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oda, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm M&e, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Iot, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm G,

    Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm, Khái Niệm C, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm 4p, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ước, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm ước Mơ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Văn Miêu Tả
  • Khái Niệm Lực Ở Lớp 6
  • Công Thức, Định Nghĩa, Lớp 4, Lớp 5, Lớp 7
  • Khái Niệm Là Gì Lớp 4
  • Không Thể Đánh Tráo Khái Niệm “lòng Yêu Nước”
  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh
  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv..điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv..

    Khái niệm cạnh tranh

    Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv..điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv..

    Theo K. Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch “. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vân thu đựơc lợi nhuận.

    – Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là ” Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình.

    – Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.

    – Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho. Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).

    Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S. Fischer và R. Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết. Một cạnh tranh hoàn hảo, là nghành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua.

    – Cùng quan điểm như trên, R.S. Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả.

    – Các tác giả trong cuốn “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho: Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua.

    – Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong từ điển Hán việt giải thích: “Cạnh tranh là ganh đua hơn thua”

    – Ở Phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ thì. Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của người dân nứơc đó.

    – Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là” Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian.

    Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây.

    Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:

    – Phải có nhiều chủ thể cùng nhua tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiên và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hớng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tưng tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và đợc người mua chấp nhận. Còn với các chủ thể cạnh tranh bên muc là giành giật muc được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình.

    – Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các dianh nghiệp chính alf các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông kệ kinh doanh ở trên thị trường. Còn giữa người mua với người muc, hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua.

    – Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn 9 từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nứơc)

    2. Cạnh tranh trong kinh tế giữa các doanh nghiệp

    Là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của doanh nghiệp để giành lấy phần thắng, phần hơn về mình trước các doanh nghiệp khác trong quá trình kinh doanh, bảo đảm cho foanh nghiệp phát triển nhanh chóng và bền vũng.

    – Trong nền kinh tế thị trường, trớc mỗi nhu cầu cảu những người tiêu dùng (người muc- bên A) dới dạng các loại sản phẩn tương tự – sản phẩn thường có rất nhiều các nhà sản xuất (người bán – bên B) tham gia đáp ứng, họ luôn phải cố gắng để giành chiến thắng, sự cạnh tranh diễn ra là tất yếu trong môi trường luật pháp của nhà nước, các thông lệ của thị trường và các quy luật khách quan vốn có của nó.

    3. Các loại hình cạnh tranh

    Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phên ra thành nhiều loại.

    * Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại.

    – Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.

    – Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.

    – Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn.

    * Căn cứ theo phạm vu nghành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại.

    – Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.

    – Cạnh tranh giữa các nghành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giuqã các nghành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.

    – Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có nột hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.

    * Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành:

    – Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và đợc xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai.

    – Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hổ của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố vv…)

    van.vn – chuyên trang đánh giá, tư vấn và tin tức về công nghệ, sản phẩm hàng đầu Việt Nam.

    Link gốc: http://doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-canh-tranh-7678.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Thế Nào Là Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội Là Gì?
  • Bài Giảng Công Nghệ 8
  • Chọn Giống Vật Nuôi Và Cây Trồng Bằng Biến Dị Tổ Hợp
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Các Quan Điểm Về Cạnh Tranh
  • Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Cha Đẻ Thuyết Canh Tranh Michael Porter: Thoát ‘bẫy’ Cạnh Tranh Bằng Sự Khác Biệt
  • Mô Hình Năm Lực Lượng Cạnh Tranh Của Michael Porter (Porter’s Five Forces) Là Gì?
  • Khái niệm về cạnh tranh (compete)

    Có nguồn gốc latin: competere, nghĩa là tham gia đua tranh với nhau (Neufeldt, 1996). Cạnh tranh cũng có nghĩa là nổ lực hành động để thành công hơn, đạt kết quả tốt hơn người đang có hành động như mình. Do đó, sự cạnh tranh (competition) là sự kiện, trong đó, cá nhân hay tổ chức cạnh tranh nhau để đạt thành quả mà không phải mọi người đều giành được (Wehmeier, 2000).

    Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. (Michael Porter, 1996)

    Nhìn chung khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp cần xem xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hóa hay dịch vụ ở một mức giá thỏa hai điều kiện: (1) ngay bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến, (2) không phải có trợ cấp.

    Khái niệm về năng lực cạnh tranh

    Trong quá trình nghiên cứu cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ…Ở luận văn này, sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành.

    Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.

    Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.

    rên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình. Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. (Lê Công Hoa, 2006)

    Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác. Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình có để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, cộng nghệ, quản trị, hệ thống thông tin,…

    Như vậy, có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn có khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế.

    Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Luận Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Khung Phân Tích Vrio Hay Vrin Phát Triển Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Lý Thuyết Mô Hình Kim Cương Của Michael Porter Tạo Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững (Sustainable Competitive Advantage) Là Gì?
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Là Gì? Lợi Thế Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Về Chất Lượng Sản Phẩm
  • Khái Niệm Chất Lượng Dịch Vụ
  • 1. Quy định chung về cạnh tranh

    Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết hệ thống thị trường, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Cạnh tranh thúc đẩy các nhà kinh doanh phải luôn đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật trong sản xuất để tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng và vì vậy mang lại sự Ÿ tăng trưởng và cải thiện hiệu quả kinh tế.

    Cạnh tranh phải được diễn ra trong môi trường pháp lí tự do và bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, nếu không có môi trường pháp lí đó, cạnh tranh có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội.

    Cạnh tranh có thể biểu hiện bằng các hình thức với những tính chất khác nhau như cạnh tranh tự do, cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

    2. Khái niệm cạnh tranh

    Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao… và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh.

    Theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đổi về phía mình”. Theo Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là ” cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”.

    Trong khoa học kinh tế, đến nay các nhà khoa học dường như chưa thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi lẽ, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh và gắn với mọi chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận nghiên cứu của các nhà khoa học.

    Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cuốn “Các hoạt động hạn chế cạnh tranh và hoạt động thương mại không lành mạnh” của Tổ chức thống nhất, tín thác vì người tiêu dùng (Ấn Độ) đã diễn tả: “Cạnh tranh trên thị trường là quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức, biện pháp khác nhau”.

    Theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992 thì “cạnh tranh” được hiểu là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển tiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông cũng giải thích cạnh tranh theo nghĩa kinh tế là: Hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.

    Mặc dù được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh song nhìn chung theo các cách giải thích trên, trong khoa học kinh tế cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng. Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa những người bán hàng và cũng có thể xuất hiện giữa những người mua hàng nhưng cạnh tranh giữa những người bán hàng là phổ biến.

    3. Bản chất của cạnh tranh là gì ?

    Dưới giác độ kinh tế, cạnh tranh có bản chất sau:

    – Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để giành giật khách hàng

    Trong kinh tế học, thị trường được xác định là cơ chế ttao đổi đưa người mua và người bán của một loại hàng hoá hay dịch vụ đến với nhau. Đó đơn giản là giao dịch chứ không phải là địa điểm như mọi người thường nghĩ, nó hình thành khi người mua đồng ý trả một mức giá cho sản phẩm mà nhà cung cấp bán ra. Trên thị trường, giữa khách hàng và nhà cung cấp, luôn luôn thể hiện nhu cầu, lợi ích khác nhau. Khách hàng mong muốn mua được sản phẩm phù hợp nhất với giá rẻ nhất có thể, trong khi đó, nhà cung cấp mong muốn bạn được sản phẩm càng nhanh càng tốt để đầu tư phát triển sản xuất thu được nhiều lợi nhuận. Khuynh hướng này là nguồn gốc tạo ra sự cạnh tranh, sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để lôi kéo khách hàng về phía mình. Để ganh đua với nhau, các chủ thể kinh doanh phải sử dụng các phương thức, thủ đoạn kinh doanh được gọi là các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả của cuộc cạnh tranh trôn thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị phần, tăng lợi nhuận, kẻ thua cuộc mất khách hàng và phải ròi khỏi thị trường. Quá trình cạnh tranh, ganh đua buộc các chủ thể kinh doanh phải xem xét lại mình để làm sao sử dụng tất cả các nguồn lực một cách hiệu quả.

    Chủ thể của cạnh tranh là các tổ chức, cá nhân kinh doanh có tư cách pháp lí độc lập. Cạnh tranh chỉ diễn ra khi có sự ganh đua của ít nhất hai chủ thể trở lên và phần lớn là đối thủ của nhau. Nếu không có đối thủ hay nói cách khác là tồn tại tình trạng độc quyền thì cạnh ttanh không thể diễn ra.

    – Cạnh tranh chỉ diễn ra trong điều kiện của cơ chế thị trường

    Cạnh tranh là hoạt động nhằm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về phía mình của các chủ thể kinh doanh nên cạnh tranh chỉ diễn ra trong cơ chế thị trường khi mà công dân có quyền tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp, tự do tìm kiếm cơ hội để phát triển sản xuất kinh doanh. Trong thời kì phong kiến, nhà nước phong kiến luôn chủ trương hình thành và phát triển các phường, hội, các công xã nông thôn mang tính khép kín, tự cung tự cấp, do đó cạnh tranh không có điều kiện để phát triển. Trong nền kinh tể kế hoạch hoá tập trung – nơi mà nhà nước là nhà đầu tư duy nhất nắm quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế nên không thể nói đến kinh tế thị trường, không thể tồn tại quyền tự do kinh doanh của cá nhân, do đó cạnh tranh cũng không thể tồn tại với tính chất là sự ganh đua kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường.

    Trong khoa học pháp lí, các nhà nghiên cửu cũng rất khó có thể đưa ra khải niệm chuẩn chung cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách là mục tiêu điều chỉnh của pháp luật. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh tự do cạnh tranh, tự do sáng tạo ra các phương thức để ganh đua giành phần thắng về phía mình, do đó khái niệm cạnh tranh được pháp luật của rất ít nước định nghĩa. Trong cuốn “Tài liệu tham khảo luật về cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thố trên thế giới” do Bộ Thương mại ấn hành năm 2001 phục vụ cho việc xây dựng Luật cạnh tranh của Việt Nam có giới thiệu luật về cạnh tranh của 9 nước và vùng lãnh thổ trong đó chỉ có Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan đưa ra khái niệm cạnh tranh. Điều 3 Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Cạnh tranh có nghĩa là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ để quyết định các vấn đề kinh tế một cách độc lập. Điều 4 Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan quy định: “Cạnh tranh” là từ chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc những điều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh. Khái niệm về cạnh tranh theo quy định tại Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc có thể thấy tương tự cách hiểu về cạnh tranh dưới giác độ kinh tế đã được trình bày ở phần trên.

    Luật cạnh tranh năm 2014 (luật hiện hành) cũng như luật về cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Hàn Quốc, Bungari, Nhật Bản…), tuy đều không đưa ra. khái niệm cạnh tranh nhưng bao gồm các quy phạm nhằm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, đảm bảo sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh diễn ra theo trật tự và trong khung khổ được pháp luật quy định.

    4. Vai trò của cạnh tranh

    Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cả người tiêu dùng và nền kinh tế

    – Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.

    – Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ.

    – Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động lực phát triển của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cạnh tranh là biểu hiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Cạnh tranh là điều kiện giáo dục tính năng động của nhà doanh nghiệp bên cạnh đó góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm mới. Điều này chứng tỏ chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo có thể dẫn tới xu hướng độc quyền trong kinh doanh.

    5. Các loại hình cạnh tranh.

    Các loại hình cạnh tranh.

    Dựa trên các tiêu thức khác nhau người ta phân thành nhiều loại hình cạnh tranh khác nhau.

    Căn cứ vào chủ thể tham gia vào thị trường

    * Người ta chia cạnh tranh làm ba loại:

    – Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo “luật” mua rẻ bán đắt. Người mua luôn muốn mua được rẻ, ngược lại người bán lại luôn muốn được bán đắt. Sự cạnh tranh này được thực hiện trong quá trình mặc cả và cuối cùng giá cả được hình thành và hành động mua được thực hiện.

    * Cạnh tranh giữa người mua với người bán: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt và giá dịch vụ hàng hoá đó sẽ tăng. Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền. Đây là một cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình.

    * Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, nó có ý nghĩa sống còn đối với bất kì một doanh nghiệp nào. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, số người bán càng tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt bởi vì doanh nghiệp nào cũng muốn giành lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ và kết quả đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ, tăng thị phần và cùng với đó sẽ là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất. Trong cuộc chạy đua này những doanh nghiệp nào không có chiến lược cạnh tranh thích hợp thì sẽ lần lượt bị gạt ra khỏi thị trường nhưng đồng thời nó lại mở rộng đường cho những doanh nghiệp nào nắm chắc được “vũ khí” cạnh tranh và dám chấp nhận luật chơi phát triển.

    Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

    Người ta chia cạnh tranh thành hai loại:

    – Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường. Những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí phá sản.

    – Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lơị nhuận. Sự điều tiết tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên một sự phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn như nhau thì cũng chỉ thu được như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành.

    Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường

    * Người ta chia cạnh tranh thành 3 loại:

    – Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, người mua nhỏ, không ai trong số họ đủ lớn để bằng hành động của mình ảnh hưởng đến giá cả dịch vụ. Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán được tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành. Vì vậy một hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường. Hơn nữa nó sẽ không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu thế thì hãng sẽ chẳng bán được gì. Nhóm người tham gia vào thị trường này chỉ có cách là thích ứng với mức giá bởi vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả theo thị trường quyết định, tức là ở mức số cầu thu hút được tất cả số cung có thể cung cấp. Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có hiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế bởi biện pháp hành chính nhà nước. Vì vậy trong thị trường này giá cả thị trường sẽ dần tới mức chi phí sản xuất.

    – Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó một người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ sản phẩm hay hàng hoá bán ra thị trường. Thị trường này có pha trộn lẫn giữa độc quyền và cạnh tranh gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền. ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền. Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ, thị trường này không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được lợi nhuận tối đa. Những nhà doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị trường này phải chấp nhậnbán hàng theo giá cả của nhà độc quyền.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    Câu hỏi: Các quan điểm về khái niệm cạnh tranh?.

    Trả lời:

    Câu hỏi: Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường?

    Trả lời:

    Câu hỏi: Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường thì cạnh tranh được phân loại như thế nào?.

    Trả lời:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Thế Nào Là Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội Là Gì?
  • Cho Ví Dụ Về Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Ở Nước Ta Hiện Nay ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cạnh Tranh Hoàn Hảo (Perfect Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Hoàn Hảo
  • Cạnh Tranh Độc Quyền (Monopolistic Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Độc Quyền
  • Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Quát Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh
  • Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.

    Điều Luật Cạnh tranh năm 2022 quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm gồm các hành vi như sau:

    – Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

    – Xâm phạm bí mật kinh doanh;

    – Ép buộc trong kinh doanh;

    – Gièm pha doanh nghiệp khác;

    – Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

    – Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

    – Phân biệt đối xử của hiệp hội;

    – Bán hàng đa cấp bất chính;

    – Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo quy định của pháp luật.

    Cụ thể như sau:

    Ví dụ : Sản phẩm trà chanh N của của một thương hiệu nổi tiếng N và trà chanh F của Công ty sản xuất F chưa thực sự nổi tiếng, chưa được nhiều khách hàng viết đến.

    Sản phẩm trà chanh N hiện được ưa chuộng trên thị trường nhưng không ít khách hàng, nhất là khách hàng ở các tỉnh, bị nhầm lẫn với F của công ty F.

    Theo tài liệu của Công ty sở hữu trí tuệ B được công bố công khai trong cuộc hội thảo do Bộ Công thương tổ chức thì, công ty F (Có địa chỉ tại Hà Nội) đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

    Cụ thể, Công ty F đã sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn giữa hai sản phẩm trà chanh F và N. Sự tương tự về phần chữ: Cấu tạo, cách phát âm và tương tự cả về cách trình bày, bố cục, mầu sắc. Trông bề ngoài, nếu không để ý sẽ khó phát hiện hai gói trà chanh này là do hai công ty khác nhau sản xuất. Một số người tiêu dùng được hỏi thì cho rằng, cả F và N cùng là sản phẩm của công ty N, vì trông chúng rất… giống nhau!

    Cùng nằm trong dòng sản phẩm của công ty N, sản phẩm sữa M bị tới hai hãng khác cạnh tranh không lành mạnh thông qua các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Sản phẩm sữa G của Cty M được sản xuất với những điểm tương tự sữa M như: Tương tự về bao gói sản phẩm, cách thức trình bày, bố cục, mầu sắc.

    2. Xâm phạm bí mật kinh doanh

    Xâm phạm bí mật kinh doanh là việc doanh nghiệp có các hành vi như tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác, tiết lộ, sử dụng thông tin, bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu chân chính…

    3. Ép buộc trong kinh doanh

    Ép buộc trong kinh doanh là việc doanh nghiệp ép buộc, đe dọa khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ không cho họ giao dịch hoặc phải ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.

    4. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

    Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là việc một doanh nghiệp có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp “đối thủ”.

    – So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác;

    – Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công …

    6. Khuyến mại không lành mạnh

    Khuyến mại không lành mạnh là việc :

    – Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng, không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.

    – Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;

    – Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình;

    Ví dụ về khuyến mãi không đúng : Theo một công bố của Ban Điều tra và Xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thì Công ty M đã đưa ra chương trình khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại TP. Hồ Chí Minh.

    Cụ thể, công ty này đưa ra chương trình khuyến mại bột canh, người tiêu dùng có thể đem gói bột canh dùng dở đến đổi lấy sản phẩm M. Hành vi này được quy định là một trong các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: “Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử, nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại đang sử dụng do doanh nghiệp khác sản xuất”.

    Công ty U đã khiếu nại về chương trình khuyến mại này tới Sở Thương mại TP.Hồ Chí Minh. Thanh tra Sở đã lập biên bản và yêu cầu đình chỉ chương trình khuyến mại.

    7. Bán hàng đa cấp bất chính

    Bán hàng đa cấp bất chính là việc doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây:

    1. Yêu cầu người tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

    2. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;

    3. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

    4. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.

    N là một công ty phân phối sản phẩm nước trái nhàu ở Việt Nam. Công ty này qui định : Để có thể trở thành thành viên cấp I của mạng lưới phân phối, các phân phối viên phải mua 1 thùng 4 chai nước T với giá gốc là 2,7 triệu đồng, giá phân phối là 3,2 triệu đồng. Nếu thành viên cấp I giới thiệu thêm được 3 người khác tham gia vào mạng lưới (mỗi người lại đóng 2,7 triệu đồng) thì sẽ được hoa hồng 20% tổng số tiền những người này mua sản phẩm. 3 người sau này được coi là thành viên cấp II. Nếu các thành viên cấp II này giới thiệu thêm được 3 người khác tham gia vào mạng lưới thì thành viên cấp I sẽ tự động được hưởng thêm 5% tổng số tiền mà 3 thành viên cấp III nộp để mua sản phẩm.

    Theo tính toán, khi mạng lưới phát triển đến tầng thứ 8 thì số tiền hoa hồng được chuyển về tài khoản của “người lôi kéo” ban đầu là 56,2 triệu đồng mặc dù người này không phải làm gì ngoài việc rủ rê được 3 người mới tham gia vào mạng lưới phân phối. Như vậy theo mô hình trả hoa hồng này, thu nhập thu được không phải xuất phát việc bán sản phẩm mà là do chiếm dụng tiền của các thành viên tiếp theo trong mạng lưới.

    Một ví dụ điển hình khác cho trường hợp này là hành vi của các nhân viên công ty bán hàng đa cấp Công ty T. Theo đó, Công ty T hướng tới đối tượng chủ yếu là các bạn sinh viên năm nhất, năm hai có ham muốn kiếm tiền, khao khát làm giầu nhưng lại không muốn vất vả. Họ yêu cầu các bạn sinh viên khi tham gia phải đóng một khoản tiền nhất định để mua của công ty và bán lại cho người khác. Nếu người đó không bán được thì coi như họ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra, công ty không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại. Hơn nữa, họ còn hứa sẽ có tiền hoa hồng, tiền thưởng, được tăng cấp, bậc nếu rủ được nhiều người vào mạng lưới bán hàng đó….

    8. Gièm pha doanh nghiệp khác

    Gièm pha doanh nghiệp khác là việc doanh nghiệp bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.

    Nội dung được đưa ra rất đa dạng, như chất lượng sản phẩm, tình hình tài chính, uy tín và đạo đức của người quản lý, về cổ phiếu… Những thông tin này tác động đến nhận thức và đánh giá của khách hàng về sản phẩm dịch vụ cũng như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khác. Qua đó khách hàng sẽ quyết định có hay không việc giao dịch hoặc tiếp tục giao dịch với doanh nghiệp bị gièm pha. Trong trường hợp này quyền được thông tin của khách hàng đã bị xâm phạm để qua đó các quyết định không giao dịch với doanh nghiệp bị gièm pha không còn đúng đắn.

    Hậu quả của hành vi là gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Uy tín của doanh nghiệp phản ảnh niềm tin và sự yêu thích của khách hàng đối với doanh nghiệp hoặc sản phẩm dịch vụ. Sự giảm sút uy tín thể hiện giảm sút giao dịch, giảm doanh số bán, giảm số lượng khách hàng.

    Đối với hành vi này, mọi sự suy đoán về hậu quả đều không được coi là cơ sở để kết luận về sự vi phạm.

    Thế nhưng theo diễn đàn trên đã xây dựng diễn đàn “Bó toàn thân với Công ty cổ phần ô tô X – kinh nghiệm cho các bác sửa xe” để các thành viên của diễn đàn bêu xấu Công ty X. Hành vi trên của diễn đàn ô tô chính là một trong những hành vi gièm pha doanh nghiệp khác.

    9. Phân biệt đối xử của Hiệp hội

    Phân biệt đối xử của Hiệp hội được thể hiện bằng những hành vi sau đây:

    + Từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh;

    Ngoài các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm như trên, Luật Cạnh tranh còn cấm nhiều hành vi có dấu hiệu “hạn chế cạnh tranh”. Hiểu theo nghĩa nôm na, là những hành vi đơn lẻ hoặc giữa một nhóm doanh nghiệp cùng ngành kinh doanh, nhằm mục đích tạo ra những sự “cản trở”, không cho các doanh nghiệp khác có cơ hội cạnh tranh với mình.

    Có 2 dạng hành vi hạn chế cạnh tranh, gồm :

    – Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh;

    – Làm dụng vị trí thống lĩnh hay độc quyền trên thị trường.

    Trong một số trường hợp, các hành vi có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh như trên có thể bị cấm.

    Công ty phát thanh A và Công ty phát thanh S là hai nhà cung cấp hệ thống cáp duy nhất tại một địa phương ở Nhật Bản. Họ thường thu phí sử dụng truyền hình cáp của người dân địa phương là 300 yên/tháng và những người dân ngoài địa phương là 400-500 yên/tháng.

    Tuy nhiên, từ giữa năm 2003, A và S đã cùng gửi thư đến những người sử dụng dịch vụ của họ để thông báo về việc tăng phí. Cả hai đã thừa nhận là do chi phí cho các kênh chương trình tăng giá và sự cạnh tranh khốc liệt lãng phí giữa họ nên cả hai đều phải chịu thua lỗ.

    Vì vậy, A và S đã thỏa thuận với nhau và quyết định chấm dứt cạnh tranh về giá và xóa bỏ việc giảm giá cho những người sử dụng cư trú ở các khu nhà ở và các khu liên hợp. Hai bên cũng nhất trí là sẽ điều chỉnh giá dịch vụ.

    Theo quyết định Uỷ ban cạnh tranh Nhật Bản, A và S bị yêu cầu chấm dứt việc thực hiện hành động trên. Đối với trách nhiệm hình sự của họ, vụ việc này sẽ được chuyển cho công tố viên để điều tra thêm.

    Vụ việc trên của A và S là một dấu hiệu cảnh báo đối với các doanh nghiệp muốn dùng cách “thông đồng” để thu lợi nhuận lớn ngay trước mắt thay vì sử dụng chính năng lực cạnh tranh và khả năng thực tế của mình để thu hút khách hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Sách Chiến Lược Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Mô Hình Năm Lực Lượng Cạnh Tranh Của Michael Porter (Porter’s Five Forces) Là Gì?
  • Cha Đẻ Thuyết Canh Tranh Michael Porter: Thoát ‘bẫy’ Cạnh Tranh Bằng Sự Khác Biệt
  • Mô Hình 5 Áp Lực Cạnh Tranh Của Michael Porter
  • Các Quan Điểm Về Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Lợi Thế Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bốn Tiêu Chuẩn Của Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Quản Trị Chiến Lược (P12: Lợi Thế Cạnh Tranh)
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Là Gì? Lợi Thế Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững (Sustainable Competitive Advantage) Là Gì?
  • Lý Thuyết Mô Hình Kim Cương Của Michael Porter Tạo Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững
  • Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài.

    Theo Jack Welch, nếu không có lợi thế thì đừng cạnh tranh. Lợi thế là nền tảng cho sự cạnh tranh. Chính vì vậy, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, những cái mà các đối thủ cạnh tranh khác không có, doanh nghiệp đó sẽ hoạt động tốt hơn những doanh nghiệp khác. Lợi thế cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài, hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.

    Mỗi yếu tố đều có sự ảnh hưởng đến việc tạo ra sự khác biệt. Bốn yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn thông qua việc hạ thấp chi phí hay tạo sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ. Từ đó, doanh nghiệp có thể làm tốt hơn đối thủ và có lợi thế cạnh tranh.

    Theo Porter, lợi thế cạnh tranh (theo đó là lợi nhuận cao hơn) đến với các doanh nghiệp nào có thể tạo ra giá trị vượt trội. Và cách thức để tạo ra giá trị vượt trội là hướng đến việc giảm thấp chi phí kinh doanh và / hoặc tạo khác biệt sản phẩm vì thế khách hàng đánh giá nó cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng thêm.

    Hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một doanh nghiệp, và do đó biểu thị nó có lợi thế cạnh tranh hay không, đó là: lượng giá trị mà các khách hàng cảm nhận về hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp, và chi phí sản xuất của nó.

    Giá trị cảm nhận của khách hàng là sự lưu giữ trong tâm trí của họ về những gì mà họ cảm thấy thỏa mãn từ sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Nói chung, giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm của doanh nghiệp thường cao hơn giá mà doanh nghiệp có thể đòi hỏi về các sản phẩm, dịch vụ của mình. Theo các nhà kinh tế, phần cao hơn đó chính là thặng dư người tiêu dùng mà khách hàng có thể giành được. Cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các doanh nghiệp đã giúp khách hàng nhận được phần thặng dư này. Cạnh tranh càng mạnh phần thặng dư người tiêu dùng càng lớn. Hơn nữa, doanh nghiệp không thể phân đoạn thị trường chi tiết đến mức mà nó có thể đòi hỏi mỗi khách hàng một mức giá phản ánh đúng đắn những cảm nhận riêng của họ về giá trị sản phẩm – điều mà các nhà kinh tế gọi là sự bảo lưu giá của khách hàng. Hai lý do này khiến doanh nghiệp chỉ có thể đòi hỏi mức giá thấp hơn giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm.

    Để hiểu rõ hơn về các hoạt động của doanh nghiệp nhằm phát triển lợi thế cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng. Một công cụ hữu ích để phân cách doanh nghiệp trong một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng được gọi là: Chuỗi giá trị.

    Vậy, chuỗi giá trị được hiểu là chuỗi / tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp mà mọi hoạt động góp phần gia tăng giá trị để chuyển các nguồn lực thành sản phẩm / dịch vụ đến khách hàng. Porter định nghĩa các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ tạo ra giá trị gia tăng, được thể hiện bởi sơ đồ sau:

    Chuỗi giá trị cho thấy khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng của doanh nghiệp qua các hoạt động của nó. Bao gồm năm hoạt động cơ bản là: hậu cần đầu vào, vận hành, hậu cần đầu ra, tiếp thị và bán hàng, dịch vụ. Và bốn hoạt động hỗ trợ gồm: cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, phất triển kỹ thuật và cung ứng nguyên liệu.

    Chuỗi giá trị là một công cụ hữu ích trong việc xác định các năng lực cốt lõi của doanh nghiệp và các hoạt động chính của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị thích hợp và tích hợp cao sẽ tạo lợi thế cạnh tranh (mà đối thủ cạnh tranh khó có thể bắt chước) cho doanh nghiệp:

    Khác biệt hoá: bằng việc thích hợp và tích hợp cao tạo sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.

    Khái niệm lợi thế cạnh tranh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Xác Định Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững Của Doanh Nghiệp
  • Thị Trường Cạnh Tranh Hoàn Hảo Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm
  • Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền (Monopoly Capitalism) Là Gì?
  • Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Nhà Nước
  • Cạnh Tranh Là Gì? Vai Trò Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Sở Lý Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Trong Doanh Nghiệp
  • Lợi Thế Cạnh Tranh: Định Nghĩa, Nguồn Gốc Và Phương Pháp Xác Định
  • Các Khái Niệm Về Lợi Thế Cạnh Tranh
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Và Ý Nghĩa Của Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Marketing: 6 Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing
  • Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”.

    Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình.

    Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.

    Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.

    Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.

    Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.

    Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”.

    Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh.

    Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình. Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

    Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần. Còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới.

    Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản.

    Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới.

    Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế.

    Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

    Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.

    Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.

    Khái niệm năng lực cạnh tranh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Độc Quyền (Monopolistic Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Độc Quyền
  • Cạnh Tranh Hoàn Hảo (Perfect Competition) Là Gì? Ví Dụ Về Cạnh Tranh Hoàn Hảo
  • Cho Ví Dụ Về Hành Vi Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Ở Nước Ta Hiện Nay ?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100