Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức

--- Bài mới hơn ---

  • Chính Trị Là Gì ? Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị ?
  • Chính Trị Là Gì? Quan Điểm Về Chính Trị Qua Từng Thời Kỳ
  • Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Khái Niệm Về Chính Trị Chính Xác Cho Người Cần Biết
  • Công Chức Là Gì? Đặc Điểm, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chức?
  • Trong mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những người làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Chỉ một thời gian ngắn sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hổ Chí Minh đã kí sấc lệnh sô 76/SL quy định chế độ . Theo quy định của Sắc lệnh này thi chỉ những “công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng tuyển bổ giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ ” mới được coi là công chức (trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định). Như vậy, phạm vi công chức quy định trong sắc lệnh nêu trên rất hẹp.

    Từ năm 1954, Nhà nước thực hiện chế độ nên Sắc lệnh số 76/SL hầu như khống dược áp dụng mặc dù không có văn bản nào chính thức bãi bỏ nó. Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ thường được sử dụng là thuật ngữ “cán bộ. viên chức”. Cán bộ, viên chức bao gồm những người trong biên chế, làm việc trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội, trong các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang nhàn dán. Cán bộ. viên chức được hình thành từ bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, phân công khi tốt nghiệp. Như vậy, phạm vi khái niệm cán bộ, viên chức rất rộng và nguồn hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức cũng rất phong phú. Khái niệm nàv không phản ánh được đặc điểm nghe nghiệp, tính chất cồng việc, trình độ chuyên môn v.v. của cán bộ, viên chức. Đây là một trong những nguvên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc đào tạo bồi dưỡng, bố trí công tác, đánh giá và thực hiện chính sách đối với cán bộ, viên chức.

    Để tạo cơ sở pháp lí cho việc tuyển chọn đúng, sử dụng có hiệu quả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, từng bước xây dựng đội ngũ cổng chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, ngày 25/5/1991 Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 69/HĐBT về công chức nhà nước.

    Theo Nghị định số I69/HĐBT, công chức nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một cồng vụ thường xuvên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ờ trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp. Những đối tượng sau đây thuộc phạm vi công chức:

    – Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương.

    – Những người làm việc trong các đại sứ quán, lãnh sự quán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

    – Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách.

    – Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ quốc phòng.

    – Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuvên trong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp.

    – Những trường hợp riêng biệt khác do Chù tịch Hội đổng bộ trướng quy định.

    Như vậy, theo Nghị định số 169/HĐBT phạm vi công chức rộng hơn so với sắc lệnh số 76/SL, bao gồm không chỉ những người được tuyển dụng hay bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ mà cả ở các cơ quan khác của nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm này cũng không bao hàm hết phạm vi công chức.

    Ngày 26/2/1998 ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mói trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức.

    Theo Pháp lệnh cán bộ, cổng chức năm 1998 thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách, bao gồm:

    – Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuycn làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

    – Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

    Từ năm 1998 đến nay, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được sửa đổi 2 lần vào các năm 2000 và 2003.

    Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 thì cán bộ, công chức bao gồm:

    – Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện:

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ớ trung ương, cấp tính, cấp huyện;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội:

    – Thấm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm viộc trong cư quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhán quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phái là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

    – Những người do bầu cứ để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong thường trực hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân; bí thư, phó bí thư đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội cấp xã;

    – Những người được tuyến dụng, giao giữ một chức danh chuyên mồn nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã.

    Cán bộ, công chức được hướng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với những người được tuyển dụng, bố nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuvên trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.

    Pháp lệnh sửa đổi năm 2003 cũng đặt ra các quy định vẻ việc áp dụng chế độ công chức dự bị. Những quy định này dược cụ thể hoá trong Nghị định của Chính phủ số 115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị theo đó công chức dự bị là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức và được phân cống làm việc có thời hạn tại các cơ quan, tổ chức sau đây:

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Toà án nhân dân các cấp;

    – Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

    – Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phù;

    – Hội đổng nhân dân, uý ban nhân dân cấp tinh và cấp huyện;

    – Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;

    – Uỷ ban nhân dân cấp xã.

    Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Cán Bộ? Thế Nào Là Công Chức? Thế Nào Là Viên Chức?
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ Lớp 8
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ (Chi Tiết)
  • Khái Niệm Luân Chuyển Cán Bộ Theo Luật Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Điều Động Và Luân Chuyển Công Chức
  • Luân Chuyển Cán Bộ Là Gì?
  • Quan Điểm, Nguyên Tắc Và Thời Gian Luân Chuyển Cán Bộ
  • Phân Biệt Điều Động, Biệt Phái, Luân Chuyển
  • Một Số Suy Nghĩ Về Công Tác Đánh Giá Và Sử Dụng Cán Bộ Cơ Sở Ở Thanh Hóa Hiện Nay
  • Em thấy người ta nói là căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ thì có thể sẽ thực hiện hoạt động luân chuyển cán bộ theo quy định pháp luật. Vậy luân chuyển cán bộ là gì ạ? Anh/Chị có thể giải thích giúp em được không?

      Theo quy định của pháp luật thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

      Cán bộ bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.

      Trong quá trình công tác của cán bộ, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ, cán bộ được luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

      Theo đó, theo quy định tại Khoản 11 Điều 7 Luật cán bộ, công chức 2008 thì luân chuyển là việc cán bộ được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ.

      Việc luân chuyển cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

      Trong đó, việc luân chuyển cán bô là người có chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định cụ thể tại Quy định 98-QĐ/TW năm 2022 về luân chuyển cán bộ do Ban Chấp hành Trung ương ban hành.

      Theo đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quy định 98-QĐ/TW năm 2022 thì luân huyển cán bộ là việc cử có thời hạn cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong quy hoạch từ Trung ương về địa phương, từ cấp trên xuống cấp dưới và giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ và làm cơ sở lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Cán Bộ Của Đảng
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ
  • Đánh Giá Cán Bộ, Công Chức
  • Đề Tài: Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Xã Ở Tây Ninh, Hay
  • Luận Văn Hay: Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Phường Ở Quận Gò Vấp
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Cán Bộ, Công Chức Sau Ngày 01/7/2020 Có Gì Mới?
  • Đề Tài Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Là Công Việc Gốc Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Của Đảng Cong Tac Can Bo Ppt
  • Đề 5 Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ công chức Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ công chức. Những điểm mới. LỜI NÓI ĐẦU Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ thì: “Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.600.000 cán bộ, công chức, viên chức (không kể lực lượng vũ trang), trong đó có khoảng 200.000 người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; 83.000 người thuộc cơ quan Đảng, đoàn thể; chiếm khoảng 2% dân số cả nước…”. Có thể thấy được rằng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta thì số lượng cán bộ, công chức và viên chức là vô cùng lớn. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới (gồm: các định chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định. Việc có cái nhìn chính xác thế nào là cán bộ, thế nào là công chức thực sự có ý nghĩa quan trọng. Khái quát quá trình phát triển về pháp luật cán bộ, công chức Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn bản đầu tiên quy định chế độ công chức là Sắc lệnh số 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20/05/1950. Theo sắc lệnh này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,… Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Do những hạn chế của Nghị định 1991, ngày 26/02/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003. Tuy vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan vốn không ngừng vận động, phát triển, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức (CBCC) thay thế cho Pháp lệnh CBCC. Do vậy, Luật Cán bộ, công chức vừa có kế thừa những nội dung của Pháp lệnh CBCC vừa bổ sung những điểm mới phù hợp với thực tế. Luật CBCC 2008 gồm 10 Chương, 87 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Luật cán bộ, công chức 2008 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 về Cán bộ, công chức đã nêu rất cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;…;, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trước hết, có thể thấy rằng Luật CBCC 2008 đã chỉ ra rõ ràng như thế nào thì là “cán bộ”, là “công chức” và thế nào là “cán bộ xa, phường, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một ưu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp lý của những người này có sự khác biệt nhất định. Một người để có thể trở thành cán bộ, công chức ở bất kỳ cơ quan nào trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước dù là trung ương hay địa phương thì trước hết người đó phải là công dân Việt Nam. Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp 1992 thì công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Việc xác định thế nào là người có quốc tịch Việt Nam là căn cứ vào quy định của Luật Quốc tịch hiện hành, cụ thể là theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật Quốc tịch 2008. Đối với khái niệm về cán bộ có thể thấy một điểm chung nhất là làm việc theo nhiệm kỳ. Làm việc theo nhiệm kỳ tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, nhiệm kỳ đối với mỗi vị trí công tác là không giống nhau và đều đã được pháp luật quy định rất cụ thể. Như tại Điều 40 Luật tổ chức Quốc hội đã nêu rõ “Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội sau”. Hay nhiệm kỳ của Thủ tướng theo nhiệm kỳ của Quốc hội tức là 4 năm (Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ). Còn đối với công chức thì không đặt ra vấn đề nhiệm kỳ làm việc, điều này có nghĩa là thông thường họ làm việc cho đến khi về hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Thứ hai là về cách thức hình thành: của cán bộ là bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh; còn đối với công chức thì là được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh – nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với cán bộ ở cấp địa phương (tức là ở xã, phường, thị trấn) thì chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Tương tự với công chức cấp xã cũng chỉ theo một hình thức là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ và thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Nơi làm việc của cán bộ là trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Còn cán bộ cấp xã là trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và còn là người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội (CT- XH). Các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta gồm có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam. Còn công chức thì làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân (TAND) các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức CT-XH; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Đặc điểm thứ tư là nếu đã là cán bộ, công chức thì họ phải là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể lấy một số ví dụ điển hình cho những người thuộc đối tượng là cán bộ trong bộ máy nhà nước ta như: Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,… Đối với công chức, để có thể xác định những đối thượng là công chức có thể căn cứ vào quy định của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. Ngoài ra còn có một loại cán bộ khác, đó là Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, là các sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia (khoản 6 Điều 3 Luật An ninh quốc gia). Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh CBCC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…,công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân…; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Theo Pháp lệnh, những cán bộ công chức này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng các đối tượng thuộc ngạch viên chức hoặclàm việc trong đơn vị sự nghiệp thì được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật (Điểm này được Luật CBCC kế thừa). So với các văn bản trước đó Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Cũng không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức. Những điểm mới Như đã đề cập phía trên, khi xem xét về khái niệm cán bộ, công chức ta có thể thấy được những điểm mới của Luật CBCC so với Pháp lệnh CBCC. Đó là: Thứ nhất, Luật đã đưa “cán bộ, công chức” ra thành những khái niệm chứ không gọi đơn thuần như một thuật ngữ chung chung nữa. Luật CBCC năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Thứ hai, Luật đã phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa “cán bộ, công chức” với “viên chức”. Nói cách khác, Luật đã tách hoàn toàn “viên chức” ra khỏi “cán bộ, công chức”, thu hẹp đối tượng điều chỉnh. Thứ ba, Luật đã xếp những người làm việc trong cơ quan hành chính địa phương là công chức, và những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn là cán bộ. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Trong khi pháp lệnh lại không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp vào cùng nhóm để quy định về biên chế và lương… nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật CBCC sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003); Luật cán bộ, công chức năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 06/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 quy định về công chức; Nghị định của Chính phủ số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lí công chức. Luật tổ chức Chính phủ 2001 ; Luật tổ chức Quốc hội. Luật an ninh quốc gia 2004 Những nội dung mới của Luật cán bộ, công chức năm 2008, TS. Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ai Đủ Sức Chặn “chuyến Tàu Vét” Cuối Nhiệm Kỳ?
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Cán Bộ
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Quy Trình Bổ Nhiệm Cán Bộ Năm 2022
  • Bổ Nhiệm Là Gì? Ví Dụ Về Bổ Nhiệm?
  • Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Bổ Nhiệm Là Gì ? Khái Niệm Về Bổ Nhiệm ?
  • Tư Vấn Về Quy Trình Bổ Nhiệm Cán Bộ Theo Luật Công Chức ?
  • Bổ Nhiệm Là Gì? Ví Dụ Về Bổ Nhiệm?
  • Quy Trình Bổ Nhiệm Cán Bộ Năm 2022
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề 5 Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ công chức Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ công chức. Những điểm mới. LỜI NÓI ĐẦU Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ thì: “Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.600.000 cán bộ, công chức, viên chức (không kể lực lượng vũ trang), trong đó có khoảng 200.000 người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; 83.000 người thuộc cơ quan Đảng, đoàn thể; chiếm khoảng 2% dân số cả nước…”. Có thể thấy được rằng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta thì số lượng cán bộ, công chức và viên chức là vô cùng lớn. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới (gồm: các định chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định. Việc có cái nhìn chính xác thế nào là cán bộ, thế nào là công chức thực sự có ý nghĩa quan trọng. Khái quát quá trình phát triển về pháp luật cán bộ, công chức Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn bản đầu tiên quy định chế độ công chức là Sắc lệnh số 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20/05/1950. Theo sắc lệnh này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,… Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Do những hạn chế của Nghị định 1991, ngày 26/02/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003. Tuy vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan vốn không ngừng vận động, phát triển, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức (CBCC) thay thế cho Pháp lệnh CBCC. Do vậy, Luật Cán bộ, công chức vừa có kế thừa những nội dung của Pháp lệnh CBCC vừa bổ sung những điểm mới phù hợp với thực tế. Luật CBCC 2008 gồm 10 Chương, 87 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Luật cán bộ, công chức 2008 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 về Cán bộ, công chức đã nêu rất cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;…;, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trước hết, có thể thấy rằng Luật CBCC 2008 đã chỉ ra rõ ràng như thế nào thì là “cán bộ”, là “công chức” và thế nào là “cán bộ xa, phường, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một ưu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp lý của những người này có sự khác biệt nhất định. Một người để có thể trở thành cán bộ, công chức ở bất kỳ cơ quan nào trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước dù là trung ương hay địa phương thì trước hết người đó phải là công dân Việt Nam. Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp 1992 thì công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Việc xác định thế nào là người có quốc tịch Việt Nam là căn cứ vào quy định của Luật Quốc tịch hiện hành, cụ thể là theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật Quốc tịch 2008. Đối với khái niệm về cán bộ có thể thấy một điểm chung nhất là làm việc theo nhiệm kỳ. Làm việc theo nhiệm kỳ tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, nhiệm kỳ đối với mỗi vị trí công tác là không giống nhau và đều đã được pháp luật quy định rất cụ thể. Như tại Điều 40 Luật tổ chức Quốc hội đã nêu rõ “Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội sau”. Hay nhiệm kỳ của Thủ tướng theo nhiệm kỳ của Quốc hội tức là 4 năm (Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ). Còn đối với công chức thì không đặt ra vấn đề nhiệm kỳ làm việc, điều này có nghĩa là thông thường họ làm việc cho đến khi về hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Thứ hai là về cách thức hình thành: của cán bộ là bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh; còn đối với công chức thì là được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh – nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với cán bộ ở cấp địa phương (tức là ở xã, phường, thị trấn) thì chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Tương tự với công chức cấp xã cũng chỉ theo một hình thức là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ và thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Nơi làm việc của cán bộ là trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Còn cán bộ cấp xã là trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và còn là người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội (CT- XH). Các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta gồm có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam. Còn công chức thì làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân (TAND) các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức CT-XH; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Đặc điểm thứ tư là nếu đã là cán bộ, công chức thì họ phải là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể lấy một số ví dụ điển hình cho những người thuộc đối tượng là cán bộ trong bộ máy nhà nước ta như: Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,… Đối với công chức, để có thể xác định những đối thượng là công chức có thể căn cứ vào quy định của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. Ngoài ra còn có một loại cán bộ khác, đó là Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, là các sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia (khoản 6 Điều 3 Luật An ninh quốc gia). Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh CBCC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…,công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân…; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Theo Pháp lệnh, những cán bộ công chức này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng các đối tượng thuộc ngạch viên chức hoặclàm việc trong đơn vị sự nghiệp thì được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật (Điểm này được Luật CBCC kế thừa). So với các văn bản trước đó Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Cũng không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức. Những điểm mới Như đã đề cập phía trên, khi xem xét về khái niệm cán bộ, công chức ta có thể thấy được những điểm mới của Luật CBCC so với Pháp lệnh CBCC. Đó là: Thứ nhất, Luật đã đưa “cán bộ, công chức” ra thành những khái niệm chứ không gọi đơn thuần như một thuật ngữ chung chung nữa. Luật CBCC năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Thứ hai, Luật đã phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa “cán bộ, công chức” với “viên chức”. Nói cách khác, Luật đã tách hoàn toàn “viên chức” ra khỏi “cán bộ, công chức”, thu hẹp đối tượng điều chỉnh. Thứ ba, Luật đã xếp những người làm việc trong cơ quan hành chính địa phương là công chức, và những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn là cán bộ. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Trong khi pháp lệnh lại không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp vào cùng nhóm để quy định về biên chế và lương… nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật CBCC sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003); Luật cán bộ, công chức năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 06/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 quy định về công chức; Nghị định của Chính phủ số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lí công chức. Luật tổ chức Chính phủ 2001 ; Luật tổ chức Quốc hội. Luật an ninh quốc gia 2004 Những nội dung mới của Luật cán bộ, công chức năm 2008, TS. Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Vụ, Chức Danh Và Số Lượng Của Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Cấp Xã Ở Huyện Thuận Thành Tỉnh Bắc Ninh
  • Lv: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã Tại Huyện Triệu Phong
  • Luận Văn: Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức Chính Quyền Cấp Xã, Hot
  • Quy Định Mới Về Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Đề Tài Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Là Công Việc Gốc Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Của Đảng Cong Tac Can Bo Ppt
  • Cán Bộ Là Gì? Giúp Bạn Cập Nhật Nhanh Chóng Về Cán Bộ
  • Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Trong Tình Hình Mới
  • Đề 5 Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ công chức Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ công chức. Những điểm mới. LỜI NÓI ĐẦU Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ thì: “Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.600.000 cán bộ, công chức, viên chức (không kể lực lượng vũ trang), trong đó có khoảng 200.000 người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; 83.000 người thuộc cơ quan Đảng, đoàn thể; chiếm khoảng 2% dân số cả nước…”. Có thể thấy được rằng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta thì số lượng cán bộ, công chức và viên chức là vô cùng lớn. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới (gồm: các định chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định. Việc có cái nhìn chính xác thế nào là cán bộ, thế nào là công chức thực sự có ý nghĩa quan trọng. Khái quát quá trình phát triển về pháp luật cán bộ, công chức Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn bản đầu tiên quy định chế độ công chức là Sắc lệnh số 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20/05/1950. Theo sắc lệnh này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,… Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Do những hạn chế của Nghị định 1991, ngày 26/02/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003. Tuy vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan vốn không ngừng vận động, phát triển, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức (CBCC) thay thế cho Pháp lệnh CBCC. Do vậy, Luật Cán bộ, công chức vừa có kế thừa những nội dung của Pháp lệnh CBCC vừa bổ sung những điểm mới phù hợp với thực tế. Luật CBCC 2008 gồm 10 Chương, 87 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Luật cán bộ, công chức 2008 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 về Cán bộ, công chức đã nêu rất cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;…;, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trước hết, có thể thấy rằng Luật CBCC 2008 đã chỉ ra rõ ràng như thế nào thì là “cán bộ”, là “công chức” và thế nào là “cán bộ xa, phường, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một ưu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp lý của những người này có sự khác biệt nhất định. Một người để có thể trở thành cán bộ, công chức ở bất kỳ cơ quan nào trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước dù là trung ương hay địa phương thì trước hết người đó phải là công dân Việt Nam. Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp 1992 thì công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Việc xác định thế nào là người có quốc tịch Việt Nam là căn cứ vào quy định của Luật Quốc tịch hiện hành, cụ thể là theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật Quốc tịch 2008. Đối với khái niệm về cán bộ có thể thấy một điểm chung nhất là làm việc theo nhiệm kỳ. Làm việc theo nhiệm kỳ tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, nhiệm kỳ đối với mỗi vị trí công tác là không giống nhau và đều đã được pháp luật quy định rất cụ thể. Như tại Điều 40 Luật tổ chức Quốc hội đã nêu rõ “Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội sau”. Hay nhiệm kỳ của Thủ tướng theo nhiệm kỳ của Quốc hội tức là 4 năm (Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ). Còn đối với công chức thì không đặt ra vấn đề nhiệm kỳ làm việc, điều này có nghĩa là thông thường họ làm việc cho đến khi về hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Thứ hai là về cách thức hình thành: của cán bộ là bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh; còn đối với công chức thì là được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh – nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với cán bộ ở cấp địa phương (tức là ở xã, phường, thị trấn) thì chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Tương tự với công chức cấp xã cũng chỉ theo một hình thức là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ và thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Nơi làm việc của cán bộ là trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Còn cán bộ cấp xã là trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và còn là người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội (CT- XH). Các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta gồm có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam. Còn công chức thì làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân (TAND) các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức CT-XH; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Đặc điểm thứ tư là nếu đã là cán bộ, công chức thì họ phải là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể lấy một số ví dụ điển hình cho những người thuộc đối tượng là cán bộ trong bộ máy nhà nước ta như: Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,… Đối với công chức, để có thể xác định những đối thượng là công chức có thể căn cứ vào quy định của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. Ngoài ra còn có một loại cán bộ khác, đó là Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, là các sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia (khoản 6 Điều 3 Luật An ninh quốc gia). Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh CBCC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…,công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân…; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Theo Pháp lệnh, những cán bộ công chức này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng các đối tượng thuộc ngạch viên chức hoặclàm việc trong đơn vị sự nghiệp thì được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật (Điểm này được Luật CBCC kế thừa). So với các văn bản trước đó Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Cũng không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức. Những điểm mới Như đã đề cập phía trên, khi xem xét về khái niệm cán bộ, công chức ta có thể thấy được những điểm mới của Luật CBCC so với Pháp lệnh CBCC. Đó là: Thứ nhất, Luật đã đưa “cán bộ, công chức” ra thành những khái niệm chứ không gọi đơn thuần như một thuật ngữ chung chung nữa. Luật CBCC năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Thứ hai, Luật đã phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa “cán bộ, công chức” với “viên chức”. Nói cách khác, Luật đã tách hoàn toàn “viên chức” ra khỏi “cán bộ, công chức”, thu hẹp đối tượng điều chỉnh. Thứ ba, Luật đã xếp những người làm việc trong cơ quan hành chính địa phương là công chức, và những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn là cán bộ. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Trong khi pháp lệnh lại không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp vào cùng nhóm để quy định về biên chế và lương… nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật CBCC sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003); Luật cán bộ, công chức năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 06/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 quy định về công chức; Nghị định của Chính phủ số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lí công chức. Luật tổ chức Chính phủ 2001 ; Luật tổ chức Quốc hội. Luật an ninh quốc gia 2004 Những nội dung mới của Luật cán bộ, công chức năm 2008, TS. Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Cán Bộ, Công Chức Sau Ngày 01/7/2020 Có Gì Mới?
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức
  • Ai Đủ Sức Chặn “chuyến Tàu Vét” Cuối Nhiệm Kỳ?
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Cán Bộ
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Rủi Ro Tín Dụng Là Gì? Cách Phân Loại Rủi Ro Tín Dụng
  • Khái Niệm Và Sự Cần Thiết Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Rủi Ro Tín Dụng Là Gì?
  • Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non
  • Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non
  • Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đúng Về Anken, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Khí Hậu, Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Đúng Cho Máy Thu Hình, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Thế Nào Là Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Nhất Về Este, Khái Niệm Nào Đúng Về Quần Thể Sinh Vật, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Với Khối Chóp, Khái Niệm Nào Dưới Đây Đúng Khi Nói Về Người Có Đạo Đức, Khái Niệm Nào Về Môi Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng, Khái Niệm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Về Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Thời Tiết, Khái Niệm Nào Sau Đây Dùng Để Chỉ Hình Thức Tồn Tại Của Vật Chất Xét Về , Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Của Văn Phạm Được Sử Dụng Trong Chương Trình Dịch, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm 7p, Khái Niệm 331, Khái Niệm 3d, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm 4m, Khái Niệm 4p, Khái Niệm 4r, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm 811, Khái Niệm 500 Anh Em, Khái Niệm 5g, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm 5m, Khái Niệm 4k, Khái Niệm 4g, Khái Niệm 3g, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm 3r, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm 3t, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm 131, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm L/c, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Oda, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Lễ Hội, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm M&e, Khái Niệm M&a,

    Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đúng Về Anken, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Khí Hậu, Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Đúng Cho Máy Thu Hình, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Thế Nào Là Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Nhất Về Este, Khái Niệm Nào Đúng Về Quần Thể Sinh Vật, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Với Khối Chóp, Khái Niệm Nào Dưới Đây Đúng Khi Nói Về Người Có Đạo Đức, Khái Niệm Nào Về Môi Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng, Khái Niệm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Về Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Thời Tiết, Khái Niệm Nào Sau Đây Dùng Để Chỉ Hình Thức Tồn Tại Của Vật Chất Xét Về , Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Của Văn Phạm Được Sử Dụng Trong Chương Trình Dịch, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm 7p, Khái Niệm 331, Khái Niệm 3d, Khái Niệm Đô Thị Hóa,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rủi Ro Tín Dụng Là Gì? Nguyên Nhân, Phân Loại Và Hệ Quả
  • Khái Niệm, Nội Dung Và Ý Nghĩa Của Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Định Nghĩa Rủi Ro Tín Dụng Và Cách Phân Loại Rủi Ro Tín Dụng
  • Một Số Kiến Thức Về Rừng
  • Khái Niệm Rừng Theo Khoa Học Là Gì?
  • Bỏ Khái Niệm ‘người Tài’ Trong Luật Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Vì Sao Nêu Gương Là Một Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng?
  • Lv: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Ủy Ban Nhân Dân Huyện
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Huyện Ủy Huyện Mỹ Đức
  • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã, Hay!
  • Một Số Vấn Đề Về Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức (Phần Cuối)
  • Luật có bố cục gồm 3 Điều. Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức; Điều 2 quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Viên chức; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành.

    Tại Điều 1, về chính sách đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ, Luật quy định Nhà nước có chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng; Chính phủ quy định khung chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ. Đồng thời, căn cứ vào quy định của Chính phủ, người đứng đầu cơ quan quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 39 của Luật này quyết định chế độ trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do tỉnh quản lý.

    Theo báo cáo giải trình của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thực tiễn cho thấy khái niệm “người có tài năng” là rất rộng; tương ứng với mỗi ngành, lĩnh vực thì các tiêu chí và yêu cầu đối với người có tài năng là không giống nhau.

    Từ thực tế đó, việc xây dựng một khái niệm chung về người có tài năng là khó khả thi.

    Hơn nữa phạm vi của Luật Cán bộ, công chức chỉ quy định về quản lý, sử dụng, chế độ, chính sách đối với “cán bộ, công chức”, nếu quy định về người có tài năng nói chung là không phù hợp.

    Vì những lý do đó, kết hợp với việc tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đưa định nghĩa về người có tài năng cũng như người có tài năng trong hoạt động công vụ vào dự thảo Luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Về Đánh Giá Năng Lực Công Chức Ở Việt Nam Hiện Nay
  • #1 Trách Nhiệm Kỷ Luật Công Chức Và Việc Truy Cứu Trách Nhiệm Kỷ Luật Công Chức
  • Xử Lý Kỷ Luật Cán Bộ, Công Chức
  • Công Chức Là Gì? Quyền, Nghĩa Vụ Và Vai Trò Của Công Chức?
  • Cán Bộ, Công Chức Và Những Hình Thức Kỷ Luật Cảnh Cáo Là Gì?
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Cán Bộ Quản Lý Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Cán Bộ Quản Lý Và Công Tác Cán Bộ
  • Đề Tài: Phẩm Chất, Năng Lực Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục Ở Sóc Trăng
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp Đáp Ứng Yêu Cầu Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • Luận Án: Xây Dựng Phong Cách Làm Việc Cho Cán Bộ Chủ Chốt, Hay
  • ở mỗi quốc gia khác nhau thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức là hoàn toàn khác nhau. ở nước ta, theo pháp lệnh cán bộ công chức được ban hành ngày 9/3/1998 thì cán bộ công chức là những người có Quốc tịch Việt Nam, trong biên chế, làm việc theo chế độ ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo luật định. Các tiêu chí để xác định cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay:

    • Là công dân Việt Nam.
    • Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào làm việc trong biên chế chính thức của bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội.
    • Được xếp vào một ngạch trong hệ thống ngạch bậc của công chức do Nhà nước qui định.
    • Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế là một bộ phận của cán bộ, công chức. Từ sau đại hội Đảng toàn quốc làn thứ VI(1986), nước ta đang chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của bộ phận này ngày càng quan trọng, nó đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế thích hợp với nó. Theo cách hiểu ngày nay, cán bộ quản lý kinh tế là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nói chung. Họ là những người làm việc trong lĩnh vực quản lý kinh tế, trong các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế, tham gia hoạch định chính sách kinh tế và thực hiện việc quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn quốc hoặc trong từng vùng hay lĩnh vực cụ thể.

    Cán bộ, công chức nói chung và cán bộ quản lý kinh tế nó riêng cần phải được đào tạo và bồi dưỡng một cách thường xuyên, liên tục. Đối với mỗi loại cán bộ, công chức lại có một nội dung đào tạo khác nhau, theo đó sẽ có nội dung về chất lượng đào tạo khác nhau. Đối với cán bộ quản lý kinh tế thì chất lượng đào tạo dao gồm hai nội dung chính, đó là trình độ, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức chính trị.

    Trình độ và năng lực chuyên môn của người cán bộ quản lý kinh tế sẽ giúp cho họ có kiến thức để giải quyết công việc, phối hợp hoạt động của các nhân viên cấp dưới; đó là sự hiểu biết chung về xu hướng phát triển của xã hội và thời đại. Trình độ hiểu biết sẽ mở mang tầm nhận thức hướng về hiện đại hoá, hướng ra thế giới, hướng tới tương lai cho các cán bộ quản lý kinh tế. Đó còn là năg lực phân tiách vấn đề; khái quát các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội để có những giải pháp cho mọi vấn đề của đất nước được đặt ra. Người cán bộ quản lý kinh tế cũng cần phải thành thạo nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ thuật và có kinh nghiệm công tác vững vàng. Một người cán bộ quản lý kinh tế giỏi còn phải có năg lực quản lý bao gồm năng lực thực tế về phân tích tình huống, năng lực quyết sách và giải quyết các vấn đề, năng lực tổ chức và chỉ huy, năng lực kí kết và phối hợp hoạt động.Trình độ và năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý kinh tế được đánh giá chủ yếu qua các chỉ tiêu về bậc học, học vị của họ, ngạch, bậc công chức và họ được đào tạo dưới hình thức nào…Ngoài ra còn có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu khác như thâm niên công tác, vị trí công tác mà người đó đã từng nắm giữ, khả năng thành thạo công việc, cách giao việc và sử dụng nhân viên trong quá trình thực hiện quản lý.

    Phẩm chất đạo đức chính trị nói lên khả năng làm việc với con người và uy tín của người cán bộ quản lý kinh tế trong tổ chức, nó giúp người cán bộ quản lý kinh tế dễ dàng hơn trong việc hướng tới mục tiêu của tổ chức. Đó là ý thức chính trị, trình độ chính trị, ý thức tuân thủ luật pháp và các quy tắc điều lệ trong tổ chức của người cán bộ quản lý kinh tế. Cùng với những tư tưởng, quan điểm chính trị trên là đạo đức của bản thân những người cán bộ quản lý kinh tế: trung thực, cần mẫn, nhân hậu, có tinh thần trách nhiệm cao…Tất cả những điều đó sẽ tạo ra uy tín cho người cán bộ quản lý kinh tế.

    Mọi cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ù ở vị trí nào đi chăng nữa thì cũng đều có những vai trò nhất định đối với sự thành công hay thất bại của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước vì đây là nguồn lực giúp khai thông và sử dụng các nguồn lực khác nhau của đất nước. Trong đó nổi lên vai trò của các cán bộ quản lý kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế đã trở thành mộtlực lượng quan trọng trong hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vai trò của họ là:

    • Thứ nhất, các cán bộ quản lý kinh tế đặc biệt là các cán bộ cấp cao và các chuyên gia là những người tham gia vào quá trình hoạch định đường lối, chiến lược, định hướng, chính sách phát triển kinh tế; xây dựng nên cơ chế và thể chế quản lý kinh tế của đất nước. Các cán bộ quản lý kinh tế cùng với Nhà nước thiết lập những khuôn khổ chung cho thị trường hoạt động như hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế…để góp phần khắc phục các khuyết tật của thị trường và giúp cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn. Họ còn giúp Nhà nước xây đúng đắn dựng đường lối, chiến lược phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương, do đó đảm bảo công bằng xã hội và phát triển toàn diện nền kinh tế. Hơn thế nữa, họ còn là những người quyết định tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế và lựa chọn cán bộ để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ quản lý và tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
    • Thứ hai, các cán bộ quản lý kinh tế là những người biến chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách, kế hoạch và các dự án phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước thành hiện thực. Họ sử dụng quyền lực Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành các hoạt động của nền kinh tế theo nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và quản lý kinh tế ở phạm vi cả nước hay từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương cụ thể. Dựa trên cơ sở các chủ trương, đường lôi, chiến lược…phát triển kinh tế mà Nhà nước đưa ra, các cán bộ quản lý kinh tế thực hiện việc phối hợp các quá trình quản lý kinh tế để điều chỉnh kịp thời những mất cân đối, nhãng mâu thuẫn phát sinh giúp cho toàn bộ nền kinh tế vận hành đúng hướng và đạt được những mục tiêu đặt ra.
    • Thứ ba, các cán bộ quản lý kinh tế là người có thể thu thập được nhưngc nguyện vọng chính đáng và hợp lý của nhân dân, là cầu nối giũa Nhà nước với nhân dân và các tổ chức kinh tế. Công việc của họ gắn liền với cuộc sống của nhân dân, đôi khi họ phải làm việc trực tiếp với nhân dân để tìm hiểu mức sống của nhân dân và cả nguyện vọng của họ đối với Nhà nước. Trên cơ sở đó Nhà nước cùng các cán bộ quản lý kinh tế tìm ra các giải pháp, chính sách thích hợp để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
    • Thứ tư, các cán bộ quản lý kinh tế giúp Nhà nước có thể sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực và cơ hội quốc gia. Trong quá trình vạch ra chủ trương, đường lối phát triển kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn, họ có khả năng đưa ra các phương án tối ưu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội như tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động…Trong quá trình thực hiện công việc quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế, các cán bộ quản lý kinh tế chính là những người phát hiện ra những cơ hội và thách thức của đất nước trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, họ cùng Nhà nước tìm ra những việclà cụ thể nhằm hạn chế những nguy cơ thách thức và nắm bắt những cơ hội để phát triển đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Và Người Lao Động
  • Đôi Điều Chia Sẻ Về Cán Bộ Đoàn…
  • Quy Chế Cán Bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Thật Tự Hào Là Người Cán Bộ Đoàn
  • Tự Hào Là Cán Bộ Đoàn
  • Khái Niệm Hiệu Quả Tín Dụng Trung

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Quân Đội Vững Mạnh, Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Trong Tình Hình Mới
  • Đánh Giá Và Sử Dụng Cán Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Vì Sao Quy Định 214 Chỉ Cần Cán Bộ Chủ Chốt “hoàn Thành Tốt Nhiệm Vụ”?
  • Luận Văn Hay: Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Phường Ở Quận Gò Vấp
  • Đề Tài: Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Xã Ở Tây Ninh, Hay
  • Tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển trong nền kinh té nước ta, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Như đã nói ở phần trên, tín dụng trung dài hạn không chỉ tác động tới nền kinh tế mà còn tác động tới các DN mà hơn cả là tới NH. Thông qua việc xem xét hiệu quả của hoạt động cho vay trung- dài hạn sẽ giúp cho NH có thể đánh giá lại hoạt động cho vay của mình để từ đó có thể đưa ra những giải pháp thông qua nhằm khắc phục những tồn tại thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay.

    Xét trên quan điểm của NH thì hoạt động tín dụng trung- dài hạn được xem là có hiệu quả khi nó đảm bảo được ba yếu tố:

    1. Khả năng sinh lợi cho NH
    2. Khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn
    3. Khả năng thanh khoảnh từ phía nguồn.

    Điều này có nghĩa là các NH khi tiến hành cho vay trung- dài hạn thì khoản cho vay đó phải đem lại thu nhập cho NH, đảm bảo trang trải được chi phí trả cho lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí NH và rủi ro của NH. Song không phải các NH cứ cho vay nhiều, mang lại nhiều lợi nhuận là có hiệu quả cao bởi vì nếu cho vay ra mà không thu hồi được vốn cho vay hoặc cho vay không cân xứng với nguồn huy động được thì sớm hay muộn NH cũng dễ rơi vào tình trạng thua lỗ, đổ bể. Chính vì vậy, yếu tố hiệu quả trong kinh doanh là yếu tố quan trọng và cần thiết đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của NH.

    Xét trên quan điểm NH:

      Chỉ tiêu dư nợ:

      Chỉ tiêu sử dụng vốn:

      Chỉ tiêu nợ quá hạn:

      Chỉ tiêu nợ khó đòi :

      Chỉ tiêu lợi nhuận:

    Hoạt động tín dụng trung- dài hạn của các NHTM được thực hiện dưới hình thức sau:

    • Cho vay theo dự án (Cho vay trực tiếp): Là hình thức cho vay trực tiếp bằng đồng vốn của NH đối với các dự án.
    • Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị các động sản khác phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh được tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu của bên mua.

    Mặt khác, đây là một hoạt động tín dụng còn rất mới đối với DN đi thuê. Do vậy, dư nợ tín dụng trung hạn và dài hạn được thực hiện dưới dạng vay theo dự án là phổ biến. Đây là mảng tín dụng lớn mà các NHTM hiện nay đang cung cấp cho các DN. Vì vậy, vấn đề đặt ra là vốn trung- dài hạn cho nền kinh tế là một yêu cầu đang được quan tâm sâu sắc cuả các nhà lãnh đạo nhà nước kể cả nhà quản lý NH đều có quan điểm chung: Nền kinh tế muốn tăng trưởng thì các NHTM tìm cách thay đổi cơ cấu tín dụng, gia tăng tỷ trọng tín dụng trung- dài hạn.

    Như vậy, để đạt được một tỷ trọng dư nợ trung- dài hạn bao nhiêu là hợp lý. Điều đó phụ thuộc môi trường và điều kiện cụ thể của mỗi NH, trên cơ sở đó các NHTM xây dựng cho mình một chiến lược tín dụng riêng để đưa ra quy định mức độ nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng trung- dài hạn.

    Thẩm định dự án đầu tư:

    Khi đến vay vốn trung- dài hạn, NH thường phải mang đến một dự án đầu tư. Thẩm định dự án đầu tư giúp NH xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự án và đồng thời quyết định cho vay. Cũng từ việc thẩm định NH có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để có thể thực hiện dự án hiêụ quả hơn và NH có thể cho vay được.

    Thẩm định là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán riêng. Nếu việc thẩm định không được tiến hành chặt chẽ thì khả năng xảy ra rủi ro đối với NH sẽ rất lớn và khoản cho vay chắc chắn sẽ có hiệu quả không cao.

    Khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng:

    Tín dụng trung- dài hạn là một trong những nghiệp vụ phức tạp nhất trong các khâu nghiệp vụ của NH, nó đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải nắm được đặc thù của mỗi ngành sản xuất kinh doanh, am hiểu về pháp luật, nắm bắt được thông tin thị trường và điều quan trọng phải biết thẩm định dự án, có như vậy thì mới có thể làm tốt được nghiệp vụ này. Vì lẽ đó mà NH gặp không ít khó khăn bởi mỗi ngành sản xuất kinh doanh đều có chỉ tiêu định mức kinh tế và những yếu tố tạo nên giá thành sản phẩm khác nhau. Mà thực tế trình độ NH nói riêng và cán bộ tín dụng nói chung vẫn còn thiếu bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển cao của công việc. Do vậy, dễ dẫn đến tình trạng cấp tín dụng kém hiệu quả, mặc dù các NH đã có những nhân viên có nhiều kinh nghiệm trong cho vay ngắn hạn.

    Chính sách tín dụng của NH:

    Đối với mỗi NH và trong từng thời kỳ thường có những chính sách khác nhau. Chính sách tín dụng của NH ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các khoản cho vay, quy mô của từng khoản vay, các khoản đảm bảo và nhiều yếu tố khác. Chính sách tín dụng của NH không những phụ thuộc khá nhiều vào chính sách của Chính Phủ và các cơ quan quản lý. Chính sách tín dụng tạo ra sự quản hướng dẫn cần thiết cho các nhân viên tín dụng và rõ ràng có ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả tín dụng.

    Chính sách lãi suất:

    NHTM là định chế tài chính trung gian thực hiện đi vay để cho vay với lãi suất cao hơn. Nguồn vốn hoạt động của các NHTM chủ yếu bằng vốn huy động, khi huy động vào phải trả lãi suất cho người gửi tiền, và khi cho vay họ sẽ thu được lãi suất cho vay. Trong cơ chế thị trường thì lãi suất luôn biến động, phụ thuộc vào cung- cầu trên thị trường. Do đó, phải có một chính sách lãi suất phù hợp làm cơ sở cho NH nâng cao hiệu quả tín dụng trung- dài hạn tức là phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

    1. Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, ngoài tiền lãi còn có các lợi ích khác như sự an toàn, thanh toán lợi nhuận.
    2. Lãi suất cho vay phải bù đắp được chi phí về huy động vốn chi phí về nghiệp kinh doanh của NH có dự phòng bù đắp rủi ro và bảo đảm mức thu nhập ròng hợp lý cho NH.
    3. Lãi suất phải dược thay đổi theo cung- cầu thị trường nhưng sự biến động của nó luôn trong giới hạn.
    4. Lãi suất cho vay phải phù hợp với đối tượng của tín dụng có nghĩa là lãi suất cho vay dài hơn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn bởi cho vay dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn.

    Công tác tổ chức cho vay của NH:

    Tổ chức cho vay của NH tuỳ thuộc vào nhiều yêú tố như quy mô NH, quy mô các khoản tín dụng hay các loại cho vay. Nhân viên tín dụng thường tiếp súc trực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn người vay, quyết định xem xét đơn xin vay và thu thập thông tin từ phía khách hàng. Tại các NH nhỏ, các cán bộ tín dụng cho vay trung- dài hạn có thể được sắp xếp kết hợp với các loại cho vay khác hay có thể là với các nhiệm vụ khác. Mỗi nhân viên có những mức phán quyết nhất định. Tại các NH có quy mô vừa, có nhiều uỷ quyền và chuyên môn trong hoạt động cho vay hơn. Có thể có một uỷ ban cho vay để xử lý các yêu cầu xin vay lớn đến một mức độ nhất định. Tổ chức cho vay tại NH lớn thường được chuyên môn hoá thành các bộ phận phụ trách các loại cho vay khác nhau. Công tác thu thập xử lý thông tin cũng được thực hiện một cách có hệ thống và tạo nhiều thuận lợi cho cán bộ tín dụng. Tại các NH chi nhánh, công tác tổ chức cho vay về cơ bản cũng giống như tại các NHTW, nhất là các chi nhánh lớn chỉ khác là có các mức phán quyết dành cho giám đốc chi nhánh và mỗi chi nhánh có thể được chuyên môn hoá theo địa bàn hoặc đối tượng cho vay. Cách tổ chức cho vay tại các chi nhánh cũng có thể phụ thuộc nhiều vào cách tổ chức của NH cấp Trung ương.

    Như vậy, có thể thấy công tác tổ chức cho vay có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng và công tác này ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả tín dụng.

    Khả năng về nguồn vốn trung- dài hạn:

    Nguồn vốn cho vay bằng tiền là cơ sở để NH hoạt động tín dụng. Quy mô và cơ cấu vốn quyết định lựa chọn các hình thức đầu tư, nguyên tắc cơ bản mà NH luôn tuân thủ trong khi cho vay là: Chỉ được phép cho vay trung- dài hạn khi có nguồn vốn trung- dài hạn. Vì đầu tư trung- dài hạn là đầu tư cho tương lai, song các NH phải tính toán và chấp nhận rủi ro theo quy mô của từng khoản đầu tư.

    Nếu NH lạm dụng một lượng lớn nguồn vốn ngắn hạn quá quy định cho phép để cho vay trung- dài hạn thì có thể xảy ra tình trạng: NH không thanh toán kịp thờicho những khoản huy động ngắn hạn trong khi các khoản vay trung- dài hạn chưa đến hạn và gửi tiền mới thì chưa huy động được.

    Thực tế các NHTM trong giai đoạn hiện nay về huy động nguồn vốn này là hết sức nan giải. Chính vì lẽ đó, để thực hiện chiến lược đa dạng hoá, đa phương hoá các phương thức, giải pháp huy động vốn từ mọi nguồn, kể cả nước ngoài, NH phải tạo được cơ cấu hợp lý.

    Từ kinh nghiệm và thực tế, NHNN đã cho phép các NHTM được dùng 20% vốn ngắn hạn để đầu tư cho các dự án vay trung- dài hạn. Tất cả vì sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra và Chính Phủ đẫ cho phép các NHTM tiếp tục chuyển vốn ngắn hạn cho vay trung- dài hạn theo kế hoạch Nhà nước (Văn bản số 6213/ KTTH ngày 07/12/1996).

      Các nhân tố từ phía người xin vay

    Các DN khi đến vay đều phải tính đến chất lượng hiệu quả sử dụng vốn vay. Nếu họ thực hiện có hiệu quả dự án và có lợi nhuận thì có thể làm tăng hiệu quả của khoản vay. Tuy nhiên, rất có thể trong quá trình quản lý, chủ đầu tư mắc phải những sai sót nhất định, dẫn tới thiệt hại cho bản thân họ và thiệt hại cho NH để kiếm lợi riêng. NH chỉ có thể giảm thiểu những rủi ro này bằng cách thẩm định chặt chẽ dự án, quản lý sát sao việc thực hiện, nắm bắt kịp thời các thông tin để đưa ra những quyết định chính xác.

    Môi trường pháp lý:

    Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyyển sang nền kinh tế thị trường, nâng cao tín dụng trung- dài hạn sẽ đưa lại nhiều lợi ích cho DN, cho NH và nền kinh tế. Nếu NH có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn này sẽ tạo lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc dùng nó cho vay ngắn hạn.

    Bên cạnh khoản cho lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung- dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất có hiệu quả giữa các NH với nhau. Với sản phẩm này, NH sẽ phục vụ tốt hơn cho các DN và ngày càng nhiều khách hàng đến với NH. Khi đã xác định nâng cao hiệu quả cho vay trung- dài hạn, các NH không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà mong đợi lợi ích lâu dài hơn đó là: “Nâng cao tín dụng trung – dài hạn để đẩy mạnh cho vay ngắn hạn”. Các DN sau khi được NH cho vay vốn để đầu tư chiều rộng hoặc đầu tư chiều sâu năng lực sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên, từ đó nhu cầu về vốn lưu động lại càng tăng để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà DN sẽ dễ dàng tìm được sự thông cảm vì đã hiểu nhau qua các hợp đồng tín dụng. Về phía NH cũng muốn quan hệ với các DN để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của DN nhằm nắm vững sâu khách hàng hơn.

    DN được vay vốn để đầu tư đổi mới tài sản cố định sẽ đạt được các mục tiêu, tăng số lượng, chất lượng của sản phẩm, giá thành hạ, tăng tiêu thụ dẫn đến tăng lợi nhuận. Đó chính là cơ sở để DN tồn tại và phát triển. Xét trên góc độ tài chính DN, nhạy cảm trong đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ hạ thấp được chi phí sản xuất. Đây cũng là biện pháp để chống hao mòn vô hình. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tích luỹ thì phải mất một thời gian dài DN mới đổi mới được tài sản cố định do vậy sẽ bị tụt xa với các DN trường vốn đã trang bị hiện đại. Trong cuộc cạnh tranh đó, không có chỗ cho các sản phẩm lạc hậu. Vì thế, lối thoát duy nhất cho các DN là đi vay để đổi mới. Khi tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài, DN mong muốn có được các khoản tín dụng dài hạn từ NH. Có ý kiến cho rằng: Cách tốt nhất để huy động vốn là DN phát hành cổ phiếu trái phiếu để huy động vốn dài hạn. Chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực của thị trường chứng khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ sung vốn cho DN, nhưng hình thức này chỉ phát huy ở những nước có hệ thống thị trường chứng khoán và thị trường vốn hoàn hảo.

    Các khoản vay trung- dài hạn sẽ được trả dần theo định kỳ dựa trên hiệu quả kinh doanh thực tế của DN. DN được hưởng một khoản thời gian ân hạn, trong thời gian đó, DN không phải trả lãi. Thậm chí một số kỳ hạn của món vay cũng có thể thương lượng với NH để ra hạn khi có sự biến động trong thu nhập của DN.

    Một lý do khác làm cho các khoản vay trung dài hạn tại NH ngày một gia tăng là do sự ra đời của các DN có quy mô vừa và nhỏ, cũng tìm đến các nhà tài chính NH để vay vốn trang bị tài sản cố định. Cân đối với một số DN làm ăn kém hiệu quả, NH sẽ thực hiện đúng quy trình và điều khiển vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Từ đó bản thân DN phải tự đổi mới lại tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn để được vay vốn, hoặc phải sát nhập với DN lớn nếu không muốn phá sản.

    Xét trên phương diện toàn nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung- dài hạn của các NH nếu có hiệu quả sẽ tác động tốt tới mội lĩnh vực kinh tế- chính trị- xã hội. Phát triển cho vay tín dụng trung- dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. Với tư cách là trung gian tín dụng “Đi vay để cho vay” NH sẽ huy động giá trị thặng dư nằm rải rác trong các DN và cá nhân, biến nó thành nguồn lớn để đầu tư cho các dự án có khả thi cao. Tín dụng NH góp phần đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế. Mặc dù là một đơn vị kinh doanh nhưng các NH quốc doanh vẫn là bộ phận của Nhà nước. Hoạt động tín dụng trung- dài hạn nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi trong tín dụng. Về nguyên tắc, NH ưu đãi đối với những công trình sản xuất trực tiếp và thực hiện trực tiếp các điều kiện vay vốn cố định với các DN kinh doanh dịch vụ.

    Đầu tư tín dụng trung- dài hạn của NH theo trọng điểm của ngành trên cơ sở trong nội bộ từng ngành đã sắp xếp lại các DN giữa các ngành góp phần hình thành cơ cấu hợp lý. Hoạt động đầu tư tín dụng theo chiều rộng, chiều sâu đã tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật vững chắc cho nền kinh tế phát triển lâu dài. Với năng lực sản xuất tăng, tạo ra sản phẩm hàng hoá nhiều hơn đủ tiêu chuẩn để dùng và dư thừa cho suất khẩu, nhiều DN với máy móc hiện đại sản xuất ra sản phẩm thay thế hàng nhập. Những kết quả đó đóng góp phần nào tiết kiệm chi ngoại tệ. Tạo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh. Ngoài ra tín dụng trung- dài hạn của NH còn đóng góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và hạn chế các tệ nạn xã hội khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tín Dụng Ngân Hàng Là Gì?
  • Khái Niệm Tín Dụng Trung Và Dài Hạn Ra Sao? Nguyên Nhân Và Rủi Ro Là Gì ?
  • Khái Niệm Tín Dụng Ngắn Hạn Là Gì ? Bao Gồm Những Hình Thức Nào?
  • Tín Dụng Là Gì? Nghề Tín Dụng Làm Những Gì?
  • Những Điểm Mới Trong Đề Án Xây Dựng Cán Bộ Cấp Chiến Lược
  • Tín Dụng Là Gì? Khái Niệm Cơ Bản Của Các Loại Tín Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nước Giải Khát Hay Đồ Uống Không Cồn?
  • Nước Giải Khát Và An Toàn Sức Khỏe
  • Ngành Giải Khát Nước Không Cồn Việt Nam
  • Cải Cách Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Cải Cách Hành Chính ?
  • Khái Niệm Thủ Tục Hành Chính
  • Tín dụng là thuật ngữ để chỉ về mối quan hệ giữa vay với bên cho vay. Trong đấy, người đi vay có thể là một cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nào đấy và đơn vị cho vay là ngân hàng, tổ chức tài chính nào đó. Sản phẩm vay và cho vay sẽ là tiền hoặc là hàng hóa.

    Tín dụng được chia thành ba dạng là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đối tượng thường xuyên của vay tín dụng chính là những người cần đến nguồn vốn để lưu động, đối tượng cần sử dụng đến vốn cố định.

    Thực tế, tín dụng mang lại cho người vay với người cho vay một lợi ích khá lớn. Từ đó nó có ảnh hưởng cũng như tác động và nền kinh tế của nhà nước, các khoản tín dụng sẽ đóng góp vào khả năng điều đồng nguồn tiền để giúp cá nhân, tổ chức,… có thể giải quyết được nhu cầu của mình.

    Tín dụng có đặc điểm là một nhà phân phối mang tính hoàn trả, cũng như hoạt động dựa vào sự vận động đặc biệt từ giá cả. Tín dụng còn có vai trò là một công cụ để thúc đẩy vào quá trình tái sản xuất, mở rộng cũng như góp phần vào việc điều tiết về vĩ mô của nền kinh tế; tín dụng cũng góp phần vào việc tích tụ, tập trung vốn; tín dụng giúp tiết kiệm về chi phí lưu thông của xã hội; góp phần vào việc thực hiện chính xã hội. Do đó, nó là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống, trong nền kinh tế hiện nay.

    Để hiểu rõ hơn về tín dụng, các bạn hãy đến với phần tiếp theo của bài viết với thông tin về khái niệm cơ bản của các loại tín dụng đang được áp dụng trong cuộc sống chúng ta. Hãy hiểu rõ về nó, để biết mình nên vay theo dạng tín dụng nào.

    Khái niệm cơ bản của các loại tín dụng

    Hiện nay tín dụng gồm có các loại chính là: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng, tín dụng thuê mua và tín dụng quốc tế. Khái niệm cụ thể của mỗi loại tín dụng là.

    Tín dụng thương mại: Với tín dụng thương mại là mối quan hệ của các doanh nghiệp theo hình thức, mua bán hàng hóa chịu. Đây là dạng tín dụng của nhà sản xuất, họ được kinh doanh theo dạng mua bán và bán hàng hóa chịu. Với hành vi mua bán chịu, thì đây là một hình thức của tín dụng và người bán sẽ chuyển giao sản phẩm cho người mua sử dụng vốn đó tạm thời ở một thời gian nhất định. Khi hết thời gian thỏa thuận giữa hai bên, thì bên mua có trách nhiệm hoàn vốn cho bên bán cả tiền gốc với tiền lãi mà họ chịu.

    Tín dụng ngân hàng: Đây là dạng giao dịch về tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (ở đây có thể là cá nhân trong nền kinh tế, có thể là một tổ chức kinh tế). Trong đấy, ngân hàng sẽ thực hiện công việc chuyển giao tài sản của mình cho bên đi vay để họ sử dụng ở một thời gian nhất định đã có trong thỏa thuận. Còn với bên đi vay, trách nhiệm của họ sẽ phải hoàn trả cả gốc với lãi một cách vô điều kiện khi đã đủ thời gian được vay và thanh toán.

    Tín dụng tiêu dùng: Đây là dạng tín dụng được áp dụng giữa dân cư với lại doanh nghiệp, với ngân hàng cũng như công ty cho thuê về tài chính. Dạng tín dụng này có vai trò trong việc thúc đẩy về sản xuất kinh doanh được phát triển, nhất là tình trạng hàng hóa bị ứ đọng. Nó cũng góp phần quan trọng vào việc nâng cao, cải thiện về đời sống dân cư giúp cho cư dân có được khả năng chi tiêu tốt hơn.

    Tín dụng thuê mua: Đây là dạng quan hệ phát sinh có giữa những công ty cho thuê về tài chính với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nào đó, cũng có thể là cá nhân ở hình thức cho thuê về tài chính. Tín dụng thuê mua, nó phụ thuộc vào thị trường của vốn. Dạng tín dụng này, nó góp phần vào việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sẽ thực hiện hiện đại hóa việc sản xuất, cũng như áp dụng về công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh của mình với một nguồn vốn từ chủ sở hữu vẫn còn hạn.

    Tín dụng quốc tế: Đây là dạng tín dụng của mối quan hệ giữa các nhà nước, các cơ quan trong nhà nước với nhau. Nó cũng có thể là của ngân hàng quốc tế cùng với các tổ chức quốc tế, của các nhân là người nước ngoài và những doanh nghiệp ở các nước hợp tác với nhau. Tín dụng quốc tế, nó góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu về vốn để giúp cho bên vay có thể phát triển nền kinh tế – xã hội trong điều kiện mà nguồn vốn ở trong nước còn bị hạn chế.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tín Dụng Nhà Nước (State Credit) Là Gì? Nội Dung Hoạt Động Của Tín Dụng Nhà Nước
  • Khái Niệm Các Nước Đông Âu Để Chỉ
  • Chức Năng Nhà Nước: Khái Niệm, Phân Loại, Các Yếu Tố Quy Định
  • Khái Niệm Chức Năng Nhà Nước Và Các Loại Chức Năng Nhà Nước?
  • Phân Tích Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Cơ Quan Nhà Nước
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100