Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Các Biện Pháp Tu Từ
  • Cách Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin
  • Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì
  • Khái Niệm Và Các Bộ Phận Cấu Thành Chủ Nghĩa Mác
  • Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản, Khái Niệm 3 Dòng Thác Cách Mạng, Khái Niệm Mạng Xã Hội, Khái Niệm Mạng Máy Tính, Khái Niệm Mảng 1 Chiều, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Khái Niệm Phong Cách Làm Việc, Khái Niệm Phong Cách Lãnh Đạo, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học, Khai Niêm Phong Cách Lam Viec Khoa Hoc, Khái Niệm Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Gvmn, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Vai Trò Của Chủ Nghĩa Mac Le Nin Đối Với Cách Mạng Việt Nam Và Cách Mạng Thế Giới, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Giáo Viên Mầm Non, Khai Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Về Phong Cách Làm Việc Cua Gvmn, Khai Niem Cau Truc Dac Diem Va Yeu Cau Ve Phong Cach Cua Nguoi Giao Vien Mam Non, Khái Niệm Cấu Truc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Người Gvmn, Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, . Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., 1. Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm , Quan Niệm Dân Gian Khi Mang Thai, Giáo án Chuyên Đề Giáo Dục Đạo Đức Cách Mạng Mang, Đạo Đức Cách Mạng, Quy Cách Xi Măng, Cách Mạng 4.0, Quy Cách Màng Pe, Cách Mạng 4.0 Là Gì, Cách Mạng Màu, Cách Mạng Cn Lần 5, Cách Mạng Tháng 8, Bản Chất Của Cách Mạng Xã Hội, Các Cuộc Cách Mạng Màu, âm Nhạc Cách Mạng, Đề Thi Môn Đường Lối Cách Mạng, Cách In Báo Cáo Thuế Qua Mạng, Tuyển Tập Thơ Cách Mạng, Mục Tiêu Cách Mạng 4.0, Chủ Nghĩa Mác Về Cách Mạng Xã Hội, Sau Cách Mạng Tháng 8, Cách Mạng 4.0 ở Việt Nam, Cách Mạng 4.0 Wiki, Học Tập Và Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng, Cách Mạng Việt Nam, Luận án Các Cuộc Cách Mạng Màu, Tiểu Luận Cách Mạng 4.0, Người Có Công Với Cách Mạng, Cách Mạng Công Nghiệp 4.0, Vai Trò Của Đảng Đối Với Cách Mạng Việt Nam, Bài Thu Hoạch Môn Đường Lối Cách Mạng, Tiet Tap Doc Bai Nha Tai Tro Dac Biet Cua Cach Mang, Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Luận Về Nhạc Cách Mạng, Nghị Quyết Về Cách Mạng 4.0, Luận Văn Đường Lối Cách Mạng, Các Câu Hỏi Tự Luận Môn Đường Lối Cách Mạng, Ren Luyen Dao Duc Cach Mang Quan Nha, ý Nghĩa Của Cách Mạng Tháng 8, âm Nhạc Cách Mạng Việt Nam, ảnh Hưởng Của Cuộc Cách Mạng 4.0, Văn Bản Ra Đời Trong Cách Mạng Tư Sản Pháp, Đề Cương Đường Lối Cách Mạng, Chuyên Đề 2 Học Tập Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng, Đề Cương Cách Mạng Miền Nam, Tiểu Luận Về Cách Mạng 4.0, Đạo Đức Cách Mạng Của Quân Nhân, Cách Mạng 4.0 Trong Giáo Dục, Chỉ Thị 16 Ttg Về Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ 4, Day Manh Hoc Tap, Ren Luyen Dao Duc Cach Mang, Tu Tuong Ho Chi Minh Ve Cach Mang Dan Toc, Cuộc Cách Mạng Nền Tảng, 5 Cách Đơn Giản Để Tăng Tốc Mạng Wi-fi, Cách Mạng Công Nghiệp Lần 3, Cách Mạng Công Nghiệp Lần 1, Văn Bản ưu Đãi Người Có Công Với Cách Mạng, Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Đến Sản, Đường Lối Cách Mạng, Đại Hội Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Cách Mạng Vô Sản, Phương án Nào Sau Đây Là Khai Báo Mảng Hợp Lệ, Văn Bản Yêu Cầu Kê Khai Thuế Qua Mạng, Văn Bản Đầu Tiên Ra Đời Trong Cách Mạng Tư Sản Pháp Là Gì, Tiểu Luận Đường Lối Cách Mạng, Lý Luận Cách Mạng Không Ngừng, Don Xin Xac Nhan Me Da Chet Che Do Co Cong Voi Cach Mang, Tiểu Luận Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa, Văn Bản Ra Đời Đầu Tiên Trong Cách Mạng Tư Sản Pháp, Dự Thảo Đường Lối Cách Mạng Miền Nam, Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0, Nghị Quyết Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0, Dự Thảo Đề Cương Cách Mạng Miền Nam,

    Khái Niệm Cách Mạng Tư Sản, Khái Niệm 3 Dòng Thác Cách Mạng, Khái Niệm Mạng Xã Hội, Khái Niệm Mạng Máy Tính, Khái Niệm Mảng 1 Chiều, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm 6 Phong Cách Ngôn Ngữ, Khái Niệm Phong Cách Làm Việc, Khái Niệm Phong Cách Lãnh Đạo, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học, Khai Niêm Phong Cách Lam Viec Khoa Hoc, Khái Niệm Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Gvmn, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Vai Trò Của Chủ Nghĩa Mac Le Nin Đối Với Cách Mạng Việt Nam Và Cách Mạng Thế Giới, Khái Niệm Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Giáo Viên Mầm Non, Khai Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Về Phong Cách Làm Việc Cua Gvmn, Khai Niem Cau Truc Dac Diem Va Yeu Cau Ve Phong Cach Cua Nguoi Giao Vien Mam Non, Khái Niệm Cấu Truc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Của Người Gvmn, Khái Niệm Rèn Luyện Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, . Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., 1. Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn., Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Gvmn, Khái Niệm Cấu Trúc Đặc Điểm Và Yêu Cầu Về Phong Cách Làm Việc Khoa Học Của Người Giáo Viên Mầm Non, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm, Khái Niệm, Cấu Trúc, Đặc Điểm Và Yêu Điểm Và Yêu Cầu Của Tác Phong, Phương. 3 Cầu Về Phong Cách Làm , Quan Niệm Dân Gian Khi Mang Thai, Giáo án Chuyên Đề Giáo Dục Đạo Đức Cách Mạng Mang, Đạo Đức Cách Mạng, Quy Cách Xi Măng, Cách Mạng 4.0, Quy Cách Màng Pe, Cách Mạng 4.0 Là Gì, Cách Mạng Màu, Cách Mạng Cn Lần 5, Cách Mạng Tháng 8, Bản Chất Của Cách Mạng Xã Hội, Các Cuộc Cách Mạng Màu, âm Nhạc Cách Mạng, Đề Thi Môn Đường Lối Cách Mạng, Cách In Báo Cáo Thuế Qua Mạng, Tuyển Tập Thơ Cách Mạng, Mục Tiêu Cách Mạng 4.0, Chủ Nghĩa Mác Về Cách Mạng Xã Hội, Sau Cách Mạng Tháng 8, Cách Mạng 4.0 ở Việt Nam, Cách Mạng 4.0 Wiki,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiểu Đúng Về Bảo Hiểm Nhân Thọ Để Đảm Bảo Quyền Lợi
  • Bảo Hiểm Nhân Thọ Là Gì?
  • Khái Niệm Và Tính Chất Của Bảo Hiểm Nhân Thọ:
  • Khái Quát Về Bán Hàng Và Xác Định Kết Quả Bán Hàng
  • Khái Luận Chung Về An Sinh Xã Hội
  • Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Chủ Trực Tiếp Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ Trực Tiếp
  • Mẫu Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở 2022 (Xây Dựng Báo Cáo)
  • Bí Ẩn Đế Chế Hùng Mạnh Nhất Trong Lịch Sử Loài Người
  • Lý Thuyết Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật Hay, Chi Tiết.
  • Bản Chất Của Nền Dân Chủ Xhcn Ở Nước Ta
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành chủ nghĩa xã hội học với đề tài: Những điểm tương đồng và khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản. Ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

    1. 1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ THU MAI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC HÀ NỘI – 2022
    2. 2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ THU MAI NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Mã số: 62 22 03 08 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi NGUYỄN ĐỨC BÁCH HÀ NỘI – 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả luận án Lê Thị Thu Mai
    4. 5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân chủ vốn là một giá trị phổ biến xuất phát từ thực tiễn sản xuất và sinh hoạt của nhân loại từ thời nguyên thủy xa xưa – dân chủ nguyên thủy. Sau đó, dân chủ còn là khát vọng và là mục tiêu đấu tranh không ngừng của đại đa số nhân dân trong lịch sử hình thành và phát triển tiếp theo của xã hội loài người. Thực tế cho thấy, vấn đề dân chủ đã và đang được các nhà tư tưởng, các nhà hoạt động chính trị trong mọi thời đại, từ thời cổ đại đến nay, tiếp tục quan tâm và bàn luận. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển thực tiễn, lý luận và các chế độ dân chủ khác nhau: dân chủ nguyên thủy (khi chưa có chế độ tư hữu, giai cấp); chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ tư sản và ngày nay, theo quan điểm mácxít, là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa cộng sản là đích đến mà dù sớm hay muộn, tất cả nhân loại sẽ vươn tới; là xã hội tốt đẹp trong đó mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Dân chủ là một trong những giá trị, đặc trưng cơ bản thuộc về bản chất của xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội. Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, trong di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, tư tưởng về dân chủ và thực hành dân chủ là một trong những nội dung quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, dân chủ có nghĩa “dân là chủ” và “dân làm chủ”; rằng, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”. Trong thời đại ngày nay, đối với dân tộc Việt Nam, thực hiện tốt dân chủ là một trong những mục tiêu và động lực cơ bản để hội nhập và phát triển theo con đường cách mạng mà Đảng và dân tộc ta đã xác định. Có thể nói, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không nói đến nền
    5. 6. 2 dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho dù vẫn đang trong quá trình từng bước hoàn thiện, cụ thể hoá, thực thi và đã có nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, như Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế; tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm; có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội ; Nguyễn Đăng Quang, Một cách tiếp cận khái niệm dân chủ ; Cao Văn Thống, Nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay ; Lương Đình Hải, Xây dựng Nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hóa xã hội ở nước ta hiện nay . Đây là cuốn sách đã trình bày, phân tích nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ và dân chủ ở cơ sở như: tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; vai trò của dân chủ đối với phát triển cộng đồng; những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế trong thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta; vấn đề đặt ra và các giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta trong tiến trình đổi mới. Nguyễn Thanh Tuấn, Những quan điểm cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa ; Phan Xuân Sơn, Những nội dung mới về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ; Vũ Hoàng Công, Vấn đề dân chủ trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng . Các tác giả của công trình không chỉ nêu lên những vấn đề chung về dân chủ, về nhân quyền đang được các nhà lý luận ở nhiều nước trên thế giới sử dụng mà còn đi sâu phân tích, phê phán những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Lê Minh Quân, Dân chủ và dân chủ hóa từ một số cách tiếp cận cơ bản ; Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề về dân chủ . Công trình này đã trình bày, phân tích quá trình đổi mới, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Qua đó, nêu lên những nhận thức mới của Đảng về mục tiêu, đặc trưng và các nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hồ Sĩ Quý, Một số vấn đề về dân chủ, độc tài và phát triển , ở những khía cạnh khác, trong các quan hệ khác nhau của đời sống xã hội, tác giả còn nêu ra 11 quan niệm khác nhau về dân chủ. Một số quan niệm đó là: “Dân chủ là một lối sống dựa trên sự tôn trọng quyền cá nhân”; “Dân chủ là quyền bình đẳng của mỗi người trong việc nhận thức và hành động xây dựng xã hội, theo cách mà đa số đều đạt được lợi ích”, “Dân chủ là một tư tưởng chính trị, mà các giá trị cơ bản của nó là tự do, bình đẳng và thừa nhận lẫn nhau” hay “Dân chủ là một sự trao đổi và đối thoại được thực hiện một cách tự do nhất giữa các thành viên xã hội”; hoặc “Dân chủ là một hình thức tổ chức chính quyền, để tất cả mọi người đều có thể, trực tiếp hoặc gián tiếp, tham gia vào các quyết định quan trọng trong phân bổ các giá trị”… . 1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về thực hành dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Vũ Văn Hiền, Dân chủ cơ sở qua kinh nghiệm của Thụy Điển và Trung Quốc . Tác giả đã khái quát những nét chính về thể chế chính trị của các nước trong từng châu lục để có cách nhìn tổng quan hơn, so sánh đậm nét hơn về những nét giống và khác nhau của thể chế chính trị từng châu lục trên toàn thế giới, từ đó chỉ ra kinh nghiệm và những gợi mở đối với việc xây dựng thể chế chính trị Việt Nam. Phạm Văn Đức, Thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền . Những nhận định như vậy có ý nghĩa quan trọng để luận án tham khảo trong việc so sánh về thực tiễn hai nền dân chủ mà chúng tôi triển khai ở chương 3.
    6. 15. 11 Các công trình trên cũng đã chỉ ra những hạn chế, những “bế tắc” của nền dân chủ phương Tây trước yêu cầu phát triển mới. Đặc biệt, giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiếp tục đấu tranh đòi thực hiện nền dân chủ công bằng hơn, bảo vệ lợi ích cho họ. Từ một số công trình nghiên cứu trên có thể thấy, nền dân chủ tư sản hay “dân chủ phương Tây” không phải là “một mô hình lý tưởng”, một “khuôn mẫu” để các nước học tập hay mô phỏng. Bản thân các học giả phương Tây cũng thừa nhận điều này. Đây cũng là một bài học cho quá trình xây dựng và thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta học hỏi, tiếp thu các giá trị tiến bộ, tích cực của dân chủ phương Tây nhưng cũng phải biết loại bỏ những tính chất tiêu cực của nó, đặc biệt đấu tranh phê phán các quan điểm có tính chất áp đặt mô hình dân chủ phương Tây vào nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch. Nguyễn Tiến Phồn, Dân chủ và tập trung dân chủ: Lý luận và thực tiễn . Trong công trình này, tác giả luận giải nhiều nội dung về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như: cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng văn hóa pháp luật… Lê Minh Quân, Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay . Nguyễn Ngọc Hà, Luyện Thị Hồng Hạnh, Dân chủ và tính đặc thù của việc thực hành dân chủ ở Việt Nam . Trong cuốn sách này, các tác giả đã dành hẳn một chương để phân tích, tổng kết về xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, về đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền qua 30 năm đổi mới ở Việt Nam. Đây là những vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục làm rõ. Đỗ Thị Thạch, Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới đất nước . Trong bài viết này, tác
    7. 17. 13 giả đã phân tích những điểm chung – tương đồng của ba chế độ dân chủ đã có trong lịch sử: Dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản (hay dân chủ xã hội chủ nghĩa). Những điểm chung – tương đồng đó là: 1) Đều là một chế độ chính trị – một hình thức nhà nước khi xã hội còn giai cấp. 2) Đều có bộ máy nhà nước và quan chức do bầu cử. 3) Đều có hệ thống pháp luật nhà nước để buộc mọi người phải tuân thủ… 4) Đều chỉ có một giai cấp lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội… Đặc biệt, tác giả chỉ ra những khác biệt căn bản giữa các chế độ dân chủ khác nhau (dù có kế thừa nhau), suy cho cùng là ở bản chất – mục tiêu và lợi ích của các giai cấp lãnh đạo xã hội… đã chi phối sự khác nhau về ý thức hệ, về nội dung cụ thể của các luật pháp và các mối quan hệ về địa vị, về lợi ích… giữa các giai cấp lãnh đạo xã hội với các giai tầng còn lại trong mỗi chế độ dân chủ đó. Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo, Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa . Đây là công trình mà tác giả trình bày lịch sử hình thành phát triển dân chủ từ phương diện lý luận, thực tiễn; phân tích bản chất, thực
    8. 18. 14 trạng của dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; vấn đề xây dựng chế độ dân chủ ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp. Nguyễn Văn Quyết, Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa . Trong công trình này, tác giả đã dành một tiết của Chương IV để so sánh những điểm giống và khác nhau cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa so với dân chủ tư sản. Trong đó, về những điểm giống nhau, tác giả nêu rõ: Một là, cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa đều phải thực hành dân chủ thông qua hình thức nhà nước pháp quyền; Hai là, cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa đều đề cao nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân; Ba là, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng như chế độ dân chủ tư sản đều bị quy định bởi trình độ phát triển của kinh tế, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, dân trí và thông tin. Về những điểm khác nhau, theo tác giả Lô Quốc Toản, một là, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất làm cơ sở cho sự tồn tại của mình. Còn chế độ dân chủ tư sản lại lấy sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất làm cơ sở cho sự tồn tại của mình; hai là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ cho nhân dân, trong khi đó, trong nhà nước pháp quyền tư sản, giai cấp tư sản nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì vậy trên thực tế toàn bộ pháp luật cũng như cơ chế vận hành của xã hội đều thể hiện và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản; ba là, nền dân chủ xã hội
    9. 20. 16 chúng ta đã nhận thấy lý do vững chắc để không chấp nhận bất cứ mô hình nào, dù đó là mô hình cổ điển hay hiện đại” là một nghiên cứu trong đó chỉ ra các nguyên tắc nền tảng của dân chủ; cuộc khủng hoảng của dân chủ phương Tây; mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển ở các nước trên thế giới và ở Nga. Tác giả cho rằng, chính ảnh hưởng của Liên Xô và những thành tựu mà Liên Xô đạt được trong lĩnh vực xã hội đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình nhà nước phúc lợi. Theo đó, ở Nga hiện nay, việc xây dựng nhà nước phúc lợi theo mô hình Bắc Âu là phù hợp với tâm lý của nhiều người và phù hợp với kinh nghiệm lịch sử của thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Hồ Cẩm Đào, Bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa . Viện Quốc tế về dân chủ và hỗ trợ bầu cử, Dân chủ trực tiếp: sổ tay IDEA quốc tế . Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu lên một cách khá đầy đủ dự án “dân chủ xã hội” và những nhiệm vụ quan trọng nhất trong tương lai trong thế giới toàn cầu hóa. Theo đó, các quyền cơ bản về dân sự và chính trị phải được bổ sung bằng các quyền xã hội và kinh tế nhằm tạo dựng được những điều kiện sống có nhân phẩm cho tất cả mọi người. Trọng tâm mà cuốn sách muốn đề cập là nền dân chủ hiện đại được hợp thức hóa như thế nào, công bằng xã hội có vai trò ra sao đối với nền dân chủ hiện đại, nền dân chủ ấy dựa trên những quyền cơ bản nào và nó có ý nghĩa thế nào đối với sự ổn định và hiệu quả của một xã hội? Trên cơ sở các tiêu chuẩn cơ bản của dân chủ xã hội, cuốn sách giới thiệu một cách khái quát mô hình thể chế dân chủ ở 6 quốc gia khác nhau. Trong đó, Thụy Điển, Hà Lan và Cộng hòa Liên bang Đức là những quốc gia, thông qua con đường riêng của mình, đã xây dựng tương đối thành công những thể chế dân chủ đáp ứng được ở mức độ cao những đòi hỏi đối với một thể chế dân chủ xã hội; Mỹ và Anh là những quốc gia, cũng bằng cách riêng của mình và ở những mức độ khác nhau, đã xây dựng những thể chế dân chủ theo kiểu tân tự do. Nhật Bản là một quốc gia với một nền văn hóa khác hẳn nền văn hóa châu Âu, đã xây dựng được một thể chế dân chủ đáp ứng được phần lớn các tiêu chuẩn của mô hình dân chủ xã hội. Những luận điểm trong cuốn sách cung cấp thêm những cách nhìn đa chiều về mô hình dân chủ tư sản với những ưu điểm và cả những hạn chế của nó. Đây là một vấn đề mà luận án quan tâm làm rõ. Davit Held, Các mô hình quản lý nhà nước . Câu hỏi mà tác giả đặt ra là: tại sao những người tự do ở Nga không còn tin tưởng vào giá trị tự do của phương Tây và Mỹ nữa? Qua việc nghiên cứu nền dân chủ phương Tây, tiêu biểu là Mỹ, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản là: “Sự thật là bản thân chủ nghĩa tự do phương Tây hiện nay còn rất nhiều vấn đề, nhất là vấn đề xuất khẩu dân chủ”. Sự can thiệp của phương Tây vào các nước kém phát triển trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền bằng bạo lực đã lộ rõ bộ mặt bá quyền thế giới của họ. Trích dẫn các ý kiến của các học giả phương Tây như F.Fukuyama hay W.Galstom, bản thân họ cũng cho rằng: “Chúng ta cần một sự đổi mới cơ bản của tự do truyền thống nước Mỹ”. Còn Z.Brenzinski, cố vấn cao cấp của Tổng thống Mỹ cũng nhận định: “Châu Âu là nơi nghỉ hưu lý tưởng nhất thế giới”. Sự kém năng động của nền kinh tế các nước phương Tây trong những năm vừa qua chính là cơ sở để ông đi đến nhưng kết luận này. Như vậy, tự do, dân chủ phương Tây cũng đang đặt ra những vấn đề đòi hỏi phải được đổi mới, cải cách. Đài Tiếng nói quốc tế nước Nga, Những vấn đề của nền dân chủ Mỹ . 2.1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ ra đời trên cơ sở kế thừa các thành tựu của văn minh nhân loại; một mặt, các ông phát triển những tư tưởng dân chủ đã có, mặt khác bổ sung, phát triển quan điểm mới phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời. Quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển về dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, trên cơ sở từ “nội hàm gốc” của “dân chủ nguyên thủy” – với nghĩa thật sự là “quyền lực của nhân dân” trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, các ông đã tập trung nghiên cứu “vấn đề dân chủ” từ khi xã hội loài người có chế độ tư hữu và phân chia thành giai cấp và xuất hiện các loại nhà nước, dân chủ (chế độ dân chủ hoặc nền dân chủ). Đó là hình thức tổ chức nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể của quyền lực. Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta, C.Mác chỉ rõ: “từ “dân chủ” nếu chuyển sang tiếng Đức thì có nghĩa là “nhân dân làm chủ””. Thứ hai, chủ nghĩa Mác-Lênin sử dụng khái niệm dân chủ trên phương diện quyền lợi của nhân dân, là vấn đề quyền lợi dân chủ được hiểu theo nghĩa rộng. C.Mác cho rằng, nhân dân nên là chủ nhân của nhà nước. Quyền lợi căn bản nhất của nhân dân chính là quyền lực nhà nước phải thuộc sở hữu của nhân dân, sở hữu của xã hội; đồng thời, bộ máy nhà nước phải phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Chỉ khi mọi quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mới có thể căn bản đảm bảo việc nhân dân được hưởng quyền làm chủ, hưởng quyền lợi dân chủ khắp mọi nơi. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin cho rằng dân chủ là việc nhân dân được hưởng quyền tham gia quyết định chế độ nhà nước và quản lý nhà nước. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin khẳng định: Quần chúng phải có quyền được tự mình cử ra những người lãnh đạo có trách nhiệm, có quyền được thay đổi những người lãnh đạo của mình, có quyền được hiểu rõ và kiểm tra mỗi một bước nhỏ nhất trong hoạt động của những người đó. Quần chúng phải có quyền được đề bạt trong nội bộ của họ bất kỳ một công nhân nào lên phụ trách chức vụ lãnh đạo. Nhưng như vậy không mảy may có nghĩa là quá trình lao động tập thể có thể không cần một sự lãnh đạo nào, không cần có sự xác định chính xác chức trách của người lãnh đạo, không cần một trật tự hết sức nghiêm ngặt do ý chí thống nhất của người lãnh đạo lập ra .
    10. 34. 30 hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực làm chủ xã hội. Những thành tựu đạt được của dân chủ trước chủ nghĩa xã hội, mà đỉnh cao là dân chủ tư sản, xét về ý nghĩa khách quan, đều mang những tiến bộ xã hội, vì nó từng bước chuẩn bị tiến tới nền dân chủ đầy đủ, triệt để và hoàn thiện nhất trong chủ nghĩa xã hội. Mặc dù chưa đem lại quyền lực cho đa số người lao động, nhưng nền dân chủ tư sản vẫn cần thiết đối với tiến bộ xã hội. Nó tích lũy và làm chín muồi ý thức dân chủ, tinh thần phản kháng mọi hiện tượng bất công, mất dân chủ, tạo nên sự trưởng thành về chính trị, ý thức giai cấp của quần chúng, cung cấp cho họ kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để chuyển từ đấu tranh đòi cải thiện dân sinh dân chủ sang đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, tức là vì dân chủ thực sự, triệt để nhất. V.I. Lênin đã chỉ rõ, chính chủ nghĩa tư bản trong tiến trình phát triển của nó đã dẫn tới các tiền đề cho sự chín muồi đầy đủ của dân chủ và một khi dân chủ đã phát triển đầy đủ thì nó không thể dung nạp được trật tự tư sản. Do vậy, chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn. 2.1.1.3. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa Về nền dân chủ tư sản, nghiên cứu vấn đề dân chủ được đặt ra trong điều kiện phải đấu tranh trực tiếp với những quan điểm tư sản về dân chủ; sự tuyệt đối hóa những giá trị dân chủ đạt được trong chủ nghĩa tư bản đương thời cũng như nhu cầu thực tiễn phải vượt qua dân chủ tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen trước hết vạch trần bản chất giả dối của dân chủ tư sản. Ph.Ăngghen viết về chế độ dân chủ tư sản như sau: Chế độ dân chủ, giống như bất kỳ chính thể nào khác, cũng là sự dối trá, chẳng qua cũng chỉ là sự giả dối… Tự do chính trị là tự do giả, là chế độ nô lệ tồi nhất; nó chỉ là cái vẻ bề ngoài của tự do, và vì thế, trên thực tế, nó là chế độ nô lệ. Bình đẳng chính trị cũng như vậy, vì thế chế độ dân chủ (tức là dân chủ trong chủ nghĩa tư bản –
    11. 36. 32 C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng, việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng của công dân. Theo các ông: “… những quyền tự do như tự do báo chí, tự do lập hội và tự do hội họp, quyền đầu phiếu phổ thông, quyền tự trị của địa phương – những quyền mà nếu không có… thì công nhân sẽ không bao giờ có thể giải phóng được mình” . Rất nhiều công trình nghiên cứu sau này đều có nhận định, quyền bình đẳng xã hội của các công dân là tiền đề quan trọng nhất trong thực hiện dân chủ . Liên hệ với tình hình thực tế cuộc sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong những năm đầu thế kỷ XX – khi mà đại bộ phận nhân dân lao động tại các nước Á, Phi, Mỹ Latinh đang chịu cảnh nô lệ; giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại các nước tư bản đang bị bóc lột sức lao động một cách nặng nề sẽ thấy rõ, V.I.Lênin đã từ những ví dụ thực tế và sinh động đó mà đi đến kết luận: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” . Thứ hai, cách tiếp cận coi nhân quyền là bộ phận cốt lõi của dân chủ, đồng thời cho rằng nhân quyền cao hơn chủ quyền; và, xem dân chủ là một giá trị phổ biến, có tính toàn nhân loại, thời gian và không gian không có giá trị nhiều trong việc làm nó biến đổi. Ở vế thứ nhất, quan niệm trên có mặt hợp lý nhưng có điểm sai lầm. Đúng ở chỗ: nhân quyền là một bộ phận của dân chủ và đấu tranh cho quyền con người là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho dân chủ. Sai lầm ở chỗ, đã nhấn mạnh nhóm quyền dân sự, chính trị và tự do cá nhân, coi đây là “chuẩn mực quốc tế” về dân chủ, nhân quyền; coi “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhân quyền không còn là công việc thuộc nội bộ của một nước và cho rằng, cộng đồng quốc tế có quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia để can thiệp nhân đạo và bảo vệ nhân quyền… Quan điểm trên chỉ là một hình thức biến tướng của chủ nghĩa thực dân mới. Bởi vì trước đây, để mở rộng thuộc địa, các nước đế quốc thường sử dụng phương thức cổ điển là đánh thành và chiếm đất. Còn ngày nay, họ trắng trợn can thiệp vào nội bộ các nước có chủ quyền bằng nhiều âm mưu, thủ
    12. 40. 36 đoạn và hình thức khác nhau, không hẳn vì mục đích xâm chiếm lãnh thổ mà vì muốn áp đặt quan niệm “nhân quyền” của mình đối với quốc gia, dân tộc khác. Cần phải nói ngay rằng, những người đưa ra và cổ súy cho luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hay “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới”, ngay từ đầu họ đã cố tình hoặc lảng tránh một lẽ đơn giản là, trên thế giới không thể có một con người nào sống ngoài cộng đồng quốc gia, dân tộc; càng không có cái thế giới tồn tại mà không cần rạch ròi biên giới giữa các quốc gia. Họ cũng bỏ qua một sự thật hiển nhiên là, thời đại mà chúng ta đang sống có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng nghìn dân tộc khác nhau, theo những tôn giáo khác nhau và có truyền thống văn hóa khác nhau. Trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đó, con người thuộc các chế độ chính trị – xã hội khác nhau, cùng một lúc chịu sự tác động của hai mối quan hệ: quan hệ về nhân quyền và quan hệ về chủ quyền quốc gia. Quan hệ nhân quyền là quan hệ về cá nhân, còn quan hệ chủ quyền quốc gia là quan hệ cộng đồng các cá nhân trong quốc gia đó. Hai mối quan hệ cơ bản của con người là nhân quyền và chủ quyền quốc gia không cùng một bậc, không cùng một tuyến tiếp cận, và do đó, không thể đem so sánh cái này cao hoặc thấp hơn cái kia. Việc quy chủ quyền quốc gia về cùng một bậc với nhân quyền, rồi coi “nhân quyền” cao hơn “chủ quyền” là một việc làm khiên cưỡng, không lôgíc, phản khoa học và thiếu tính thuyết phục. Thực tế lịch sử cho thấy, đối với một dân tộc còn đang bị đế quốc đô hộ thì yêu cầu quan trọng nhất là quyền được sống trong một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Không có độc lập dân tộc, không có chủ quyền quốc gia thì không thể có quyền công dân, quyền con người theo đúng nghĩa của các từ đó. Truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông cho chúng ta bài học về quyền dân chủ, quyền con người. Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh thì nhà yên, dân cường. Giành được chủ quyền là điều kiện để có nhân quyền. Bảo đảm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là một bộ phận cốt lõi, là điều
    13. 41. 37 kiện khởi đầu trong cuộc đấu tranh cho quyền công dân, quyền con người. Nhân quyền trước hết là quyền của mỗi người, mỗi dân tộc được tự quyết, được sống trong độc lập, tự do và được phát triển về mọi mặt; các quyền dân sự, chính trị phải gắn liền với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; tự do cá nhân phải gắn với lợi ích chung của dân tộc và trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng. Bảo đảm và thực hiện quyền con người trước hết là trách nhiệm quốc gia, không thể có sự áp đặt, can thiệp từ bên ngoài. Vế thứ hai của quan niệm trên xem dân chủ là một giá trị phổ biến, có tính toàn nhân loại, phi giai cấp, phi lịch sử. Sai lầm của quan niệm này là đã tuyệt đối hóa cái chung, cái phổ biến của dân chủ, xem chúng tồn tại độc lập không phụ thuộc vào cái riêng. Những nước nào không thực hiện theo những cái chung này thì không được họ xem là dân chủ. Trên thực tế, quan niệm này tuyệt đối hóa các giá trị dân chủ, nhân quyền đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, nhất là ở phương Tây, đặc biệt là dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ. Họ xem nhân quyền phương Tây, dân chủ kiểu Mỹ là “khuôn vàng, thước ngọc” buộc mọi nước phải khuôn theo. Theo đó, dân chủ đồng nghĩa với Mỹ, với phương Tây. Họ xem nhân quyền phương Tây, dân chủ kiểu Mỹ là chuẩn mực quốc tế mà các nước tất yếu phải tuân thủ trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Chúng ta không phủ nhận, giữa các loại hình dân chủ, nhân quyền khác nhau đều có những giá trị chung, mang tính phổ biến. Nhưng thực tế lịch sử chứng minh rằng, những cái chung, phổ biến ấy bao giờ cũng biểu hiện sự tồn tại của nó bằng nhiều sắc thái, mức độ phong phú khác nhau thông qua những nền dân chủ cụ thể. Các giá trị dân chủ, nhân quyền đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử và văn hóa. Mô hình dân chủ của phương Tây và Mỹ chỉ là một trong những kiểu phát triển, một trong những phương án phát triển dân chủ của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù nó tạo ra không ít giá trị dân chủ có tính phổ biến nhưng thực chất đó chỉ là dân chủ của giai cấp tư sản, dân chủ của một số ít người trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Giải Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỉ Luật
  • Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật
  • Nền Dân Chủ Chủ Nô Và Sự Tác Động Của Nó Đến Sinh Hoạt Tinh Thần Của Xã Hội
  • Sử Dụng Lớp Thuộc Tính Trong C# Tạo Và Sử Dụng Đối Tượng Lớp
  • Dân Chủ Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Dân Chủ, Pháp Quyền, Cộng Hòa Và Xã Hội: Lý Thuyết Và Thực Tế
  • Thế Nào Là “dân Chủ”, “chế Độ Dân Chủ”, “nền Dân Chủ” Và “nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa”? Hãy Nêu Khái Quát Tính Tất Yếu Của Việc Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tiến Trình Cách Mạng Xã Hộ
  • 14 Định Nghĩa Về Dân Chủ
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Dân Chủ Cơ Sở Và Vai Trò Của Dân Chủ Cơ Sở
  • Evfta: Hành Trình 16 Năm Từ Ý Tưởng Đến Hiện Thực
  • Dân chủ là cách nói tắt về chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ.

    Chế độ dân chủ là chế độ chính trị, trong đó, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện do nhân dân bầu ra.

    Chế độ dân chủ đã được thành lập rất sớm từ thời chiếm hữu nô lệ ở nhà nước Cộng hoà Aphina. đánh giá sự phát triển tiến bộ trong lịch sử xã hồ loài người, nhằm chống lại chế độ nô lệ, chế để quân chủ, mà thực chất là một người độc đoán quyết định tất cả mọi vấn đề của đất nước. Ở Cộng hoà Aphina, vai trò chủ yếu trong quản lí nhà nước thuộc Hội nghị quốc dân được lập để giải quyết tất cả các vấn đề chính sách đối nội và đối ngoại của đất nước. Tất cả những người có chức trách trong nhà nước Aphina đều được dân bầu ra và được thay đổi, bãi miễn nhiệm theo nguyên tắc đa số. Tất cả nam công dân Aphina từ đủ 20 tuổi trở lên đều được quyền tham gia Hội nghị quốc dân. Phụ nữ, người nước ngoài, những nô lệ được giải phóng và nô lệ không được phép hưởng các quyền chính trị tại nhà nước Aphina. Do vậy, chế độ dân chủ cộng hoà ở Aphina là chế độ dân chủ chiếm hữu nô lệ của thiểu số.

    Dân chủ tư sản ra đời cùng với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở các nước châu Âu. Dân chủ tư sản đã đưa lại sự tiến bộ lớn lao so với chế độ chuyên chế phong kiến trước đó. Lênin khẳng định: “Cộng hoà tư sản, nghị viện, phổ thông đầu phiếu đó là sự tiến bộ lớn lao xét từ quan điểm phát triển xã hội trên phạm vi toàn cầu”, “Nếu không có chế độ nghị viện, không có chế độ bầu cử… Chắc sự phát triển của giai cấp công nhân không thể Có được”.

    Tuy có vai trò lớn như vậy nhưng dân chủ tư sản vẫn là hình thức thống trị chính trị của giai cấp tư sản, là chế độ dân chủ hình thức, bị cắt xén, chế độ dân chủ dành cho thiểu số. Còn đa số nhân dân lao động nghèo khổ thì bị hạn chế trong thực thi các quyền dân chủ đã được tuyên bố trong các hiến pháp tư sản. Nhiều chế định của dân chủ tư sản, trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đã bị hạn chế và bị xoá bỏ. Chế độ đế quốc chủ nghĩa, chế độ độc tài phát xít chuyên chế đã tạo lập đường lối chính trị gây chiến, nô dịch các nước kém phát triển và đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới cũng như phong trào của quần chúng lao động và giai cấp công nhân trong nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác lập ở các nước đã hoàn thành cảch mạng dân tộc dân chủ và bắt đầu tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền dân chủ của công dân không ngừng được được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, xã hội thông qua hệ thống cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội và tổ chức xã hội với sự tham gia tích cực vào hoạt động chính trị hàng ngày của đông đảo quần chúng nhận dân lao động. Mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xoá bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện triệt để công bằng xã hội, dân chủ, văn minh, công lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam và nữ, giữa các dân tộc, tạo cơ hội cho mọi người dân hạnh phúc thông qua việc thừa nhận và khẳng định các quyền dân chủ đó một cách chính thức trong hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật, đặt ra các bảo đảm vật chất và tinh thần để thực hiện các quyền đó và không ngừng mở rộng các quyền dân chủ; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với Nhà nước và xã hội, phát huy không ngừng quyền làm chủ của nhân dân lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tín Hiệu Là Gì?1.khái Niệm Về Thông Tin, Dữ Liệu, Tín Hiệu..
  • Lý Thuyết: Và Dữ Liệu
  • Bài Trả Lời Cho Ai Hỏi: Diễn Biến Hòa Bình Là Gì, Tại Sao Phải Chống? (*)
  • Chiến Lược Diễn Biến Hòa Bình Là Gì?
  • Khái Niệm Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch
  • “cách Mạng Dân Tộc Dân Chủ Nhân Dân” Là Gì? Nghĩa Của Từ Cách Mạng Dân Tộc Dân Chủ Nhân Dân Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 7. Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ
  • Dân Vận Khéo Là Phải Thực Sự Thực Hành Dân Chủ, Kỷ Cương, Công Khai Minh Bạch Và Trách Nhiệm
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Nét Đẹp Trong Ngôn Ngữ Dân Tộc Tày (Triệu Thị Kiều Dung)
  • Trang Tin Điện Tử Của Ủy Ban Dân Tộc
  • Pdm: Phong Trào Dân Chủ Nhân Dân
  • cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

    một loại hình đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước phụ thuộc, thuộc địa và nửa thuộc địa. Nhiệm vụ của cuộc cách mạng đó là đánh đổ chế độ thống trị của thực dân giành lại quyền độc lập cho dân tộc, xoá bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến (và tiền phong kiến) đem lại ruộng đất cho nông dân, thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân, xây dựng chế độ cộng hoà dân chủ, mở đường cho xã hội phát triển. Lực lượng của cuộc cách mạng đó là nhân dân được tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất. Tương quan lực lượng của các giai cấp và đảng phái chính trị của từng nước quy định cuộc cách mạng đó có thể do giai cấp tư sản hoặc do giai cấp công nhân, thông qua các đảng chính trị của giai cấp đó, nắm quyền lãnh đạo. Điều này quyết định mức độ triệt để cách mạng và xu thế phát triển tiếp theo sau khi cuộc cách mạng đó đã thắng lợi. Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp tư sản lãnh đạo thắng lợi sẽ mở đường đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa; nó thuộc phạm trù cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ. Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm thực hiện triệt để các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, dựa vào các lực lượng cách mạng của mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy liên minh công nhân, nông dân và tiểu tư sản làm động lực, xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến dần từng bước theo con đường xã hội chủ nghĩa – đó chính là CMDTDCND. Do hoàn cảnh lịch sử, đất nước, giai cấp, xã hội của các nước khác nhau nên cuộc cách mạng nhằm chống đế quốc và phong kiến có những đặc điểm riêng biệt, song trong tiến trình phát triển, các nước thường tập trung lực lượng cách mạng để giải quyết nhiệm vụ dân tộc, một nhiệm vụ quyết định phần lớn yếu tố độc đáo của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Yếu tố đó không những chỉ tác động đến công nhân, nông dân, tiểu tư sản mà còn có tác động đến cả giai cấp tư sản và địa chủ trong cuộc đấu tranh vì độc lập và tự do của dân tộc. Cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam tiến hành từ 1930 dưới ngọn cờ “độc lập tự do” của Hồ Chí Minh do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một cuộc CMDTDCND. Cuộc cách mạng đó đã kết thúc thắng lợi vào mùa xuân 1975, mở ra một kỉ nguyên mới – cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Nhận Thức Của Bạn Về Nền Văn Hóa Tiên Tiến Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Việt Nam
  • Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Tìm Hiểu Thêm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Công Tác Xã Hội Với Các Dân Tộc Thiểu Số
  • Sự Khác Nhau Giữa Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Mới Và Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Cũ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Dân Chủ Trong Đảng Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • 【Havip】Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Tổ Chức, Cán Bộ Của Đảng
  • Về Chủ Nghĩa Dân Túy Và Đấu Tranh Ngăn Ngừa Những Biểu Hiện Của Nó Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Lý Thuyết Mị Dân
  • Cập nhật lúc: 15:00 10-01-2018

    Mục tin: Lịch Sử Lớp 12

    Bài viết đưa ra những điểm khác nhau cơ bản giữa Chủ nghĩa thực dân kiểu mới so với Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ. Đồng thời, lấy ví dụ cụ thể trong chiến tranh Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Pháp Luật Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Việt Nam
  • Bảo Hiến, Chủ Nghĩa Lập Hiến Và Nhà Nước Pháp Quyền
  • Nhận Thức Về Dân Chủ Và Quá Trình Dân Chủ Hóa Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Các Hình Thức Dân Chủ Trực Tiếp Ở Một Số Nước Trên Thế Giới Và Gợi Mở Cho Việt Nam
  • Hiểu Đúng Về Bản Chất Của Chế Độ Dân Chủ Ở Việt Nam
  • Khẩu Hiệu Tuyên Truyền Cho Cuộc Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền Đông Dương

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Cương Chánh Trị Của Đảng Cộng Sản Đông Dương
  • Khái Niệm, Tính Chất Của Hội Đồng Nhân Dân Và Ủy Ban Nhân Dân
  • Dân Quân Tự Vệ Là Gì?
  • Dân Quân Tự Vệ Là Gì? Độ Tuổi Thực Hiện Nghĩa Vụ Tham Gia Dân Quân Tự Vệ
  • Hải Đội Dân Quân Tự Vệ Biển: Bước Phát Triển Quy Mô Và Hiện Đại
  • 1) Đả đảo đế quốc chủ nghĩa Pháp, Nhật và các thế lực phản động ngoại xâm. Đả đảo phong kiến bản xứ phản lại quyền lợi dân tộc.

    ……..

    3) Ban bố hiến pháp dân chủ, ban bố những quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do bãi công biểu tình, tự do đi lại, và tự do xuất dương, v.v..

    4) Thành lập nhân dân cách mạng quân.

    5) Tịch thu các xí nghiệp của đế quốc chủ nghĩa, tư sản bản xứ và tư sản ngoại quốc (Tàu, Ấn Độ, v.v.) phản động, giao cho thợ thuyền quản đốc.

    6) Sung công ruộng đất, tài sản của bọn thực dân, bọn phong kiến, cố đạo, cùng các đoàn thể hoặc cá nhân phản bội quyền lợi dân tộc.

    7) Quốc hữu hoá ruộng đất đã tịch thu, chia công điền và ruộng đất tịch thu cho cố, bần, trung nông và binh lính cách mạng. Đặt dưới quyền quản đốc của chính phủ những đồn điền không thể chia được (như đồn điền cao su, cà phê) và những đồn điền có thể tổ chức thành đồn điền công cộng.

    8) Quốc hữu hoá ngân hàng. Lập một quốc gia ngân hàng thống nhất.

    9) Quốc hữu hoá các cơ quan giao thông vận tải chính, các hải cảng, rừng, sông, biển.

    10) Chính phủ giữ độc quyền ngoại thương.

    11) Ngày làm tám giờ, ngày làm bảy giờ trong các ngành kỹ nghệ có hại cho sức khoẻ công nhân và các vùng nước độc.

    12) Việc làm ngang nhau tiền lương ngang nhau.

    13) Đặt luật xã hội bảo hiểm và ban bố luật lao động (cấm dùng đàn bà trẻ con trong các kỹ nghệ nguy hiểm), cấm dùng đàn bà trẻ con dưới 18 tuổi làm đêm, cấm dùng trẻ con dưới 14 tuổi trong các xí nghiệp, đàn bà lao động (lẫn lao động trí thức) được nghỉ một tháng trước và một tháng sau khi đẻ, được lĩnh cả lương, chủ thuê phải chịu trách nhiệm bồi thường những tai nạn lao động, thợ thuyền mỗi nǎm được nghỉ 15 ngày có lương, không kể các ngày lễ và chủ nhật, đặt quỹ hưu bổng cho thợ thuyền già, đặt quỹ cứu tế thất nghiệp, v.v..).

    14) Xoá bỏ thuế thân và các thứ thuế má nợ nần cũ, đặt thuế luỹ tiến lợi tức duy nhất.

    15) Giảm địa tô chính (theo chế độ 3 – 7) và xoá bỏ các thứ địa tô phong kiến (địa tô lao động, lễ lạp, các thứ giao kèo nô lệ, v.v..).

    16) Lập quỹ toàn quốc chống “thiên tai thuỷ hoạ”.

    17) Thừa nhận quyền dân tộc tự quyết đối với các dân tộc thiểu số Đông Dương… Thống nhất các dân tộc.

    18) Toàn xá phạm nhân (cả chính trị phạm lẫn thường phạm).

    19) Phổ thông đầu phiếu, trừ bọn phản bội quyền lợi dân tộc, còn hễ là dân Đông Dương thì từ 18 tuổi trở lên đều được hưởng quyền ứng cử và tuyển cử không phân biệt trai gái, tín ngưỡng hay xu hướng chính trị.

    20) Nam nữ bình quyền về mọi phương diện.

    21) Lập nền quốc gia giáo dục, nâng cao trình độ vǎn hoá, thể dục; cưỡng bách giáo dục tới bậc sơ học, thủ tiêu nạn mù chữ, mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục của mình, lập các trường chuyên môn quân sự chính trị và kỹ thuật (tôn giáo phải biệt lập với chính trị và giáo dục).

    22) Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân (tổ chức vệ sinh và y tế).

    23) Bảo vệ nhi đồng và tàn tật.

    24) Thành lập Mặt trận thống nhất chống Nhật giữa hai dân tộc Đông Dương và Tàu. Thành lập Mặt trận thống nhất phản đế giữa các dân tộc bị áp bức ở Viễn Đông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Mật Độ Dân Số
  • Trách Nhiệm Dân Sự Là Gì? Quy Định Về Trách Nhiệm Dân Sự Theo Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Luật Dân Sự Là Gì? Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự
  • Học Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Bài 8. Công Tác Phòng Không Nhân Dân
  • Dân Chủ Trực Tiếp Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ Trực Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫu Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở 2022 (Xây Dựng Báo Cáo)
  • Bí Ẩn Đế Chế Hùng Mạnh Nhất Trong Lịch Sử Loài Người
  • Lý Thuyết Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật Hay, Chi Tiết.
  • Bản Chất Của Nền Dân Chủ Xhcn Ở Nước Ta
  • Bài 4. Ền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Nen Dan Chu Xa Hoi Chu Nghia Va Nha Nuoc Xhcn Pptx
  • Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền dân chủ của các thành viên trong tổ chức, hội đó được thực hiện một thành viên đó.

    Các hoạt động Cụ thể nhằm thực hiện dân chủ trực tiếp có thể là việc đóng góp Ý kiến vàc các quyết sách và văn bản quản lí của chính t6 chức đó hoặc bầu cử trực tiếp dân chủ trực tiếp đượi một loạt các thiết chế pháp lí cụ thể về các hình thức. phương tiện, CƠ chế, thông qua đó, nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ, thể hiện quyền làm chủ xã hội của mình. Thông thường, trong chế định dân chủ trực tiếp, trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất, qua đó, nhân dân trực tiếp biểu thị ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề có tính quốc sách. Trên thế giới, Ở nhiều nước, trưng cầu ý dân được xem là hình thức dân chủ thuần khiết.

    Ở Việt Nam, qua bốn bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 4992 đều có quy định về trưng cầu ý dân (Hiến pháp năm 1946 – Điều 32. 70; Hiến pháp năm 4959 – Điều 53; Hiến pháp năm 1980 – Điều 100; Hiến pháp năm 1992 – Điều 84). Do những điều kiện khách quan, chủ quan, cho đến nay, chưa có cuộc trưng cầu ý dân nào được tiến hành. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XI đã có dự án luật về trưng cầu ý dân. Bầu cử các đại biểu thay mặt mình ở cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp là hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng. Nghị quyết của các cuộc họp dân chủ trực tiếp ở cơ sở cũng là hình thức dân chủ trực tiếp khá phổ biến ở nhiều nước. Các cuộc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về các dự án luật tuy không trực tiếp, nhưng cũng là hình thức dân chủ được coi trọng.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Giải Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỉ Luật
  • Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật
  • Nền Dân Chủ Chủ Nô Và Sự Tác Động Của Nó Đến Sinh Hoạt Tinh Thần Của Xã Hội
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học
  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như­ ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như­ chúng ta thấy hiện nay. Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được. Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như­ đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ­ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại.

    Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị – xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như­ trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển. Đã có tình hình nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá, thôn tính lẫn nhau. Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình. Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước. Bản thân nhà nước, đến l­ượt nó, lại có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới của mình. Bộ máy nhà nước trung ­ương tập quyền của nhà Tần ở Trung Quốc chẳng hạn, khi ban hành những pháp luật thống nhất trong cả nước, bắt mọi người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (th­ư đồng văn, xa đồng quỹ) đã đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên.

    Trước đây, các học giả phương Tây ch­ưa nghiên cứu nhiều về vấn đề dân tộc nói riêng. Các sách báo mácxít cũng dựa chủ yếu vào tình hình của châu Âu mà cho rằng, dân tộc chỉ trở thành dân tộc khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, khi xuất hiện thị trường dân tộc(1). Thực ra, trên thế giới, tính cố kết dân tộc có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân kinh tế, chính trị khác, như­ nhu cầu có những công trình trị thuỷ lớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lược, đô hộ và đồng hoá của ngoại tộc. Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn một nghìn năm mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người (Việt Nam) đã có ý thức về bản sắc của dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy. Ý thức về quốc gia – dân tộc đã thể hiện rõ trong hành động lịch sử của Lý Bí khi ông tự x­ưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư­” thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ “Bình Ngô đại cáo” thế kỷ thứ XV. Vậy mà cho đến thế kỷ thứ XX, Việt Nam vẫn ch­ưa đạt đến trình độ một nước tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng là, người Việt Nam đã hình thành nên dân tộc của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay từ khi bị ngoại tộc đô hộ mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nước phong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X.

    Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc. Con người được sinh ra trong cộng đồng, từ cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là cộng đồng dân tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Đứa trẻ sơ sinh chỉ mới là “con người dự bị”; nó phải tập ăn, tập nói như người, cảm xúc, ứng xử và suy nghĩ như người. Nắm được ngôn ngữ dân tộc – vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là phương tiện nhận thức – đứa trẻ càng nhanh chóng đi vào những khuôn nếp của xã hội, những tục lệ, tín ngưỡng, đạo lý, pháp luật sẵn có của một trình độ văn hoá nhất định. Đến tuổi thành niên, nó mới được xã hội công nhận là một thành viên đủ t­ư cách. Một cách rất tự nhiên, mỗi cá nhân con người đều cảm thấy rất rõ, trong cả thể xác và tâm hồn mình, là người của một dân tộc nhất định. Đó chính là ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc hay là chủ nghĩa dân tộc.

    Như­ vậy, ý thức dân tộc trước hết là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con người: mình từ đâu đến? Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ (đất nước), làm chủ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc mình. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc. Đó là quyền tự nhiên, mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ. Chủ nghĩa dân tộc còn là ý thức về phẩm giá dân tộc. Dân tộc tồn tại và phát triển là thành quả của sức lao động và đấu tranh sáng tạo của nhiều thế hệ tiền bối. Họ đã tạo ra tất cả những giá trị vật chất và tinh thần hợp thành nền văn hoá dân tộc, vừa có bản sắc riêng, vừa là bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại.

    Song, điều phức tạp của lịch sử là ở chỗ, các tộc người, các dân tộc hình thành và phát triển khi đã có sự phân tầng xã hội thành các giai cấp. Sự xuất hiện giai cấp không làm tan rã cộng đồng dân tộc, mà chỉ chia rẽ con người trong cộng đồng dân tộc, thậm chí đến mức đối kháng. Trong cùng một dân tộc, ý thức dân tộc của mỗi giai cấp lại được chiết quang qua ý thức về lợi ích giai cấp; vì vậy, nó không thể không mang thêm những sắc thái riêng bắt nguồn từ tính giai cấp.

    Việc cải tiến công cụ lao động tuy chậm chạp nhưng liên tục trong xã hội nguyên thủy làm tăng dần năng suất lao động của con người; đến một độ nhất định (thời đại đồ đồng, đồ sắt), sản xuất xã hội đủ sức tạo ra những sản phẩm thặng d­ư. Tiền đề này đã dẫn đến một tất yếu lịch sử là sự hình thành giai cấp và kèm theo nó là sự phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc. Một số người có điều kiện chiếm dụng những sản phẩm thặng dư­ và sống trên lư­ng người khác, trở thành giai cấp ăn bám và thống trị. Đa số người còn lại vẫn buộc phải sản xuất trực tiếp đổ mồ hôi kiếm miếng ăn, đó là những giai cấp bị bóc lột và bị trị, là nhân dân lao động. Đồng thời, cũng chỉ có người nào không buộc phải trực tiếp lao động sản xuất mới có thì giờ rảnh để chuyên làm lao động trí óc, phát triển mọi năng khiếu tinh thần của con người và trở thành những nhà trí thức. Trong xã hội có giai cấp, tầng lớp trí thức phần nhiều xuất thân từ giai cấp thống trị hoặc phụ thuộc vào họ. Tình hình này đ­ưa đến sự lầm lẫn cho rằng, kẻ lao tâm thì trị người và được người nuôi, còn kẻ lao lực thì nuôi người và bị người trị (Mạnh Tử). Thực ra, những thành viên của các giai cấp thống trị trong lịch sử trước đây không phải đều là trí thức hoặc bắt đầu từ chỗ là trí thức. Sở dĩ họ thống trị là vì họ đã nắm được quyền lực, mà cơ sở vật chất của quyền lực là sự chiếm đoạt, chủ yếu bằng bạo lực.

    Sự hình thành các giai cấp và tầng lớp trí thức đánh dấu sự xuất hiện của bất bình đẳng xã hội giữa con người với nhau, xâm hại tính cộng đồng gắn liền với bản chất của con người là một động vật xã hội, có tính xã hội. Trong đấu tranh giai cấp, hiện t­ượng mạnh được yếu thua, cư­ờng quyền át công lý, “cá lớn nuốt cá bé” chẳng qua là biểu hiện của quy luật đấu tranh sinh tồn, của “luật rừng” trong giới sinh vật. Các giai cấp đấu tranh với nhau, song vẫn dựa vào nhau cùng tồn tại: đấu tranh giai cấp không làm tan rã được xã hội. Nó không phủ định bản chất con người đã bắt đầu định hình, mà chỉ ­minh hoạ cho thấy rằng, việc hình thành con người là một quá trình tiến hoá trường kỳ, từ tính động vật đơn thuần đến tính người hoàn thiện hơn, thực sự là con người. Tính động vật hay thú tính là cái nền tảng ban đầu nhưng được cải biến dần dần, còn tính người hay nhân tính thì ngày càng được trau dồi và nâng cao. Sự đối kháng giai cấp không điều hoà, tuy đã biến con người thành “chó sói đối với người”; nhưng cũng chính đấu tranh giai cấp lại là động lực làm cho xã hội tiến hoá đi lên, từ hình thức bóc lột và thống trị tàn nhẫn và thô bạo của chế độ chiếm nô, đến chế độ phong kiến hết sức chuyên chế nhưng đã ít tàn bạo hơn, đến chế độ tư bản bóc lột tinh vi hơn và thống trị một cách “dân chủ”, nghĩa là che đậy hơn. Tính động vật đơn thuần đã từng bước chuyển hoá, mở đường cho tính người được nâng lên dần dần một cách không thể đảo ng­ược được.

    Mặt khác, giai cấp xuất hiện cũng có nghĩa là con người đã làm gia tăng một cách đáng kể năng lực sản xuất và khai thác tự nhiên của mình. Con người đã v­ượt qua được giai đoạn tiền sử – giai đoạn dã man và tiến vào giai đoạn văn minh. Việc lao động trí óc được tách ra thành một dạng hoạt động chuyên biệt là thêm một đòn bẩy hết sức mạnh mẽ để phát triển năng lực nhận thức của con người: năng lực quan sát, chiêm nghiệm, năng lực tư duy, phân tích và tổng hợp, tổng kết, nâng nhận thức từ trình độ cảm ­tính lên trình độ lý tính. Tất cả những điều đó đã xây dựng nên nền văn hoá đặc trưng cho loài người: nền văn hoá dân gian rất phong phú của quần chúng nhân dân và cả một nền văn hoá bác học đồ sộ do những nhà trí thức các thế hệ sáng tạo ra. Sự phát triển tất cả các hình thái ý thức của con người: tư tưởng, các môn khoa học tự nhiên, các môn khoa học xã hội giúp con người không chỉ ngày càng nhận thức được và làm chủ tự nhiên, mà còn vươn lên nhận thức được và làm chủ xã hội và cả bản thân mình. Có thể nói, con người đã và còn tiếp tục sáng tạo ra cả một thế giới mang tính người, được “người hoá”. Thành tựu rực rỡ này làm vinh quang cho con người, đồng thời cũng là điểm tới của một lộ trình vô cùng gian nan và đau khổ, đẫm mồ hôi và máu: cái giá phải trả cho quá trình lịch sử mấy nghìn năm của xã hội có giai cấp.

    Cho đến nay, xã hội loài người vẫn chư­a thoát ra ngoài khuôn khổ của xã hội có giai cấp. Vậy, ý thức giai cấp đã tác động như thế nào tới ý thức cộng đồng, cụ thể ở đây là ý thức dân tộc?

    Nhìn một cách đại thể thì xã hội có giai cấp gồm hai lớp người: lớp trên là những giai cấp bóc lột, thống trị và lớp dưới là những giai cấp lao động, bị trị. Là thành viên của dân tộc, dĩ nhiên các giai cấp lớp trên cũng có ý thức về dân tộc mình, có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Là giai cấp thống trị, nắm bộ máy nhà nước, họ đồng hành với dân tộc mình và hiểu rằng, không có dân thì làm sao có nước. Lợi ích giai cấp của họ thời kỳ đầu nằm trong lợi ích của dân tộc. Vô số những anh hùng dân tộc trong lịch sử là những vua sáng, t­ướng tài, những nhà tư tưởng, nhà văn hoá thuộc thành phần lớp trên. Nhưng khi một triều đại phong kiến nào đó đã suy đồi thì cũng có những ông vua bán nước cầu vinh, “cõng rắn cắn gà nhà” hòng giữ lại lợi ích nhỏ nhen của triều đại mình. Bản thân giai cấp tư­ sản đã từng giương cao ngọn cờ cách mạng dân chủ, làm rung chuyển châu Âu phong kiến các thế kỷ XVII, XVIII. Đại cách mạng Pháp đã đem lại thống nhất, tự do và vinh quang cho dân tộc Pháp. Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, chính giai cấp t­ư sản Pháp đã trở thành bảo thủ và phản động; nó đã ký hiệp ư­ớc đầu hàng quân Phổ xâm lược trong khi công nhân và nhân dân lao động Pari ngoan c­ường chống lại (1871). Mặt khác, các giai cấp lớp trên đều là giai cấp thống trị, đều có tham vọng mở rộng sự thống trị của giai cấp mình ra bên ngoài. Trong tư tưởng của họ, ý thức về quốc gia, chủ nghĩa quốc gia luôn lấn át chủ nghĩa dân tộc. Đó là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh xâm lược, chinh phục triền miên trong lịch sử của chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

    Ng­ược lại là những giai cấp lao động ở lớp dưới. Họ không những duy trì được tính người, một động vật biết tạo ra công cụ lao động và lao động bằng công cụ, mà còn phát huy và hoàn thiện tính người với t­ư cách một động vật xã hội, n­ương tựa vào nhau mà sống, có tình thương đồng loại và đạo lý làm người: đó chính là chủ nghĩa nhân đạo. Dĩ nhiên, nhân dân lao động cũng có thể có biểu hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, vị kỷ, và ở thân phận bị trị có thể nhiều ít nhiễm tư tưởng của giai cấp thống trị; nhưng cùng với sự tiến bộ về dân trí, họ dễ hiểu ra rằng, lợi ích của mọi người lao động là thống nhất: suy ta ra người, vì thương thân nên cũng thương người, vì trọng dân tộc mình nên cũng biết trọng dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc của họ không đối kháng với các dân tộc khác. Giai cấp vô sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa không vư­ớng chút nào vào tư tưởng tư­ hữu, lại càng có điều kiện vật chất để đi tới tư tưởng chủ nghĩa quốc tế thực sự(2) – hoàn toàn đối lập với mọi dạng chủ nghĩa quốc gia từng có trong lịch sử. V.I.Lênin trước đây đã nhận xét: ” Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có những thành phần, thậm chí không phát triển, của một nền văn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ­ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong mỗi dân tộc, cũng còn có một nền văn hoá tư sản (…) không phải chỉ ở trong tình trạng là những “thành phần” mà là dưới hình thức nền văn hoá thống trị“(3).

    Nh­ư vậy, trong xã hội có giai cấp, chủ nghĩa dân tộc cũng có tính giai cấp. Có chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, cách mạng, cũng có chủ nghĩa dân tộc lỗi thời, phản động. Chủ nghĩa dân tộc của các giai cấp lớp trên thay đổi tính chính trị của nó tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, khi giai cấp đó còn vai trò tiến bộ hay đã lỗi thời. Chỉ có chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động là trước sau nh­ư một, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính.

    Ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và hoạt động cách mạng với bút danh Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, Người đã trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đầu năm 1946, Người công khai bày tỏ tâm tư­ của mình: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(4). Năm 1969, 50 ngày trước lúc đi xa, Người đã nhìn lại cả cuộc đời mình khi trả lời một phóng viên: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”(5). Động lực làm nên chí khí và sự nghiệp Hồ Chí Minh chính là điều mà Người đã mạnh dạn gọi là chủ nghĩa dân tộc. Đó là tư tưởng nền tảng, nhất quán trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc đã được làm giàu thêm bằng những tinh hoa trong tư tưởng chính trị của loài người: chủ nghĩa dân chủ chủ nghĩa xã hội.

    Hồ Chí Minh đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và cũng vì tất cả các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động; nó không tách rời mà trái lại, luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Học Thuyết Của Marx: Quan Niệm Duy Vật Lịch Sử
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Khái Niệm Cách Mạng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Mạng Xã Hội: Khái Niệm, Bản Chất, Nguyên Nhân, Nguồn Gốc, Vai Trò?
  • Cách Mạng Xã Hội Là Gì? Cách Mạng Xã Hội Có Nguyên Nhân Khách Quan Nào? Thế Nào Là Cải Cách Xã Hội? Theo Quan Điểm Duy Vật Lịch Sử, Cách Mạng Xã Hội Và Cải Cách Xã Hội Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Tiến B
  • Câu15 :cách Mạng Xhcn Là Gì ?mục Tiêu Đông Lực Và Nội Dung Của Cách Mạng Xhcn.
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Nhận Thức Về Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Qua 90 Năm Ra Đời Và Phát Triển
  • Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì?
  • Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội là sự biến đổi có tính chất bước ngoặt và căn bản về chất trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, là phương thức thay thế hình thái kinh tế – xã hội lỗi thời bằng hình thái kinh tế – xã hội cao hơn.

    Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội là việc lật đổ một chế độ chính trị đã lỗi thời, thiết lập một chế độ chính trị tiến bộ hơn.

    Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, giành chính quyền vẫn là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Bởi vì, chỉ khi nào giành được chính quyền, giai cấp cách mạng mới xác lập được nền chuyên chính của mình, tiến tới bảo đảm được quyền lực của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Tiến hóa xã hội cũng là hình thức phát triển của xã hội. Nhưng khác với cách mạng xã hội, nó là quá trình phát triển diễn ra một cách tuần tự, dần dần với những biến đổi cục bộ trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định. Song tiến hóa xã hội và cách mạng xã hội thống nhất biện chứng với nhau: cách mạng xã hội chỉ trở thành tất yếu lịch sử khi những tiền đề của nó được tạo ra nhờ tiến hóa xã hội. Ngược lại, c ách mạng xã hội mở đường cho tiến hóa như là những quá trình kế tiếp nhau không ngừng trong sự phát triển của xã hội.

    Cải cách xã hội cũng tạo nên sự thay đổi về chất nhất định trong đời sống xã hội, nhưng khác về nguyên tắc với cách mạng xã hội ở chỗ: cải cách xã hội chỉ tạo nên những biến đổi riêng lẻ, bộ phận trong khuôn khổ chế độ xã hội đang tồn tại; những cải cách xã hội có ý nghĩa thúc đẩy quá trình tiến hóa tạo tiền đề dẫn tới cách mạng xã hội. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong các chế độ xã hội có đối kháng giai cấp, phần lớn những cải cách xã hội là kết quả của phong trào đấu tranh của lực lượng tiến bộ, và trong những hoàn cảnh nhất định, chúng trở thành những bộ phận hợp thành của cách mạng xã hội.

    Đảo chính là thủ đoạn giành quyền lực nhà nước bởi một cá nhân hoặc một nhóm người nhằm xác lập một chế độ xã hội có cùng bản chất. Đảo chính không động đến chế độ xã hội và không phải là phong trào cách mạng của quần chúng, cho nên đảo chính khác hoàn toàn với cách mạng xã hội.

    Khái niệm cách mạng xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu, Động Lực Và Nội Dung Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Vấn Đề 8. Vấn Đề Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì? Hãy Phân Tích Nguyên Nhân Khách Quan Của Nó?
  • Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nguyên Nhân Của Nó
  • Khái Niệm “bạo Lực Cách Mạng”

    --- Bài mới hơn ---

  • Năng Lực Là Gì? Toàn Tập Từ Điển Năng Lực
  • Nguồn Nhân Lực Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực
  • Khái Niệm Nguồn Lực Và Vai Trò Của Chúng
  • Nguồn Lực Là Gì? Tại Sao Công Ty Chú Trọng Phát Triển Nguồn Lực?
  • Nguồn Lực Là Gì? Làm Thế Nào Để Biến Nguồn Lực Thành Lợi Ích Kinh Tế?
  • Theo nghĩa thông thường: Dùng sức mạnh để cưỡng bức, đàn áp, buộc đối phương phảikhuất phục nếu không thì quật ngã, tiêu diệt.

    Bạo lực trong đấu tranh giai cấp được hiểu là bạo lực chính trị : bạo lực của giai cấp thống trị dùng để trấn áp, bảo vệ quyền lực nhà nước và bạo lực của giai cấp bị thống trị dùng để đánh đổ giai cấp thống trị, giành lấy quyền lực nhà nước về tay mình. Do tính chất giai cấp của bạo lực như trên, người ta phân chia bạo lực chính trị thành hai loại: bạo lực cách mạng và bạo lực phản cách mạng.

    Bạo lực cách mạng là một phạm trù dùng để chỉ một phương pháp giành chính quyền của quần chúng. Việc dùng bạo lực cách mạng là cần thiết và tất yếu trong mọi cuộc cách mạng của quần chúng, nhằm lật đổ một chế độ chính trị lỗi thời và phản động, thiết lập nên một chế độ chính trị tiên tiến và cách mạng. C.Mác và F.Anghen từng nêu một luận điểm nổi tiếng: “Bạo lực là bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới”. Đối với cuộc cách mạng vô sản, V.I.Lênin cũng khẳng định rằng “không có cách mạng bạo lực thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được”.

    Phươngpháp bạo lực cách mạng phân biệt với phương pháp được gọi là hoà bình cách mạng, tức là từ chối việc dùng bạo lực mà dùng cách thương lượng hoà bình đòi giai cấp thống trị phải nhượng lại quyền lực, hoặc là bằng con đường tranh cử nghị viện giành đa số phiếu để đứng ra lập chính quyền mới.

    Thực hiện bạo lực cách mạng phải dựa vào hai lực lượng và hai hình thức đấu tranh cơ bản: chính trị và vũ trang (quân sự) và kết hợp chặt chẽ giữa hai lựclượng và hai hình thức đấu tranh đó một cách linh hoạt, thích hợp với so sánh lực lượng và nhằm phục vụ yêu cầu của từng thời kỳ đấu tranh cách mạng. Có quan niệm bạo lực cách mạng tổng hợp như vậy, mới thấy hết sức mạnh của cách mạng, mới dám phát động quần chúng đứng lên khởi nghĩa, cũng như sau khi quần chúng đã nổi dậy rồi, mới dám tiếp tục tiến côngđể đưa cách mạng tiến lên, hoặc khi đã phát động đấu tranh vũ trang rồi sẽ khôngbị sa vào chiến lược phòng ngự mà vẫn kiên quyếtgiữ vững chiến lược tiến công.

    Trên vấn đề phương pháp cách mạng, bằng phương pháp nào để giành chính quyền? – bạo lực cách mạng hay hoà bình cách mạng-, từng diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa những người mácxít với những người phi mácxít cùng những người theo chủ nghĩa cải lương, cơ hội và xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

    Ở Việt Nam, cuộc đấu tranh đó cũng từng diễn ra gay gắt vào những thời điểm mà cách mạng phải quyết định, không được do dự chần chừ, về con đường tiến lên giành chính quyền. Đó là thời điểm trước cuộc Cách mạng tháng Tám, 1945 sau khi Nhật đảo chính Pháp, lập chính phủ Trần Trọng Kim. Đó còn là thời điểm củacủa những năm 1956 – 1959 ở miền Nam, khi Mỹ và chính Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương tổ chức tổng tuyển cử cả nước.

    Ở Việt Nam, nét nổi bật của phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp của cách mạng miền Nam đã được tổng kết là: lực lượng chính trị quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân; bắt đầu từ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa quần chúng với đấu tranh cách mạng, kết hợp nổi dậy với tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược : nông thôn rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công : chính trị, quân sự và binh vận; kết hợp ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh của các binh đoàn chủ lực; kết hợp đánh lớn, đánh vừa và đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời biết tạo ra thời cơ mở những đòn tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, giành thắng lợi cuối cùng.

    Khi sử dụng phạm trù bạo lực cách mạng cần phân biệt những cặp khái niệm sau: Bạo lực không đồng nghĩa vớivũ lực, vũ lực chỉ là một trong hai hình thức của bạo lực. Bạo lực chính trị không đồng nghĩa với đấu tranh chính trị, đấu tranh chính trị là một trong hai hình thức của bạo lực chính trị. Không phải bất cứ hình thức đấu tranh chính trị nào cũng đều là bạo lực cách mạng, mà chỉ được coi là bạo lực cách mạng, những hành động của quần chúng ngoài khuôn khổ pháp luật nhà nước của giai cấp thống trị, nhằm mục đích trực tiếp đánh đổ chính quyền của chúng, giành chính quyền về tay nhân dân khi vấn đề chính quyền đang được đặt ra một cách trực tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năng Lực Là Gì? Hướng Dẫn Xây Dựng Từ Điển Năng Lực Cho Doanh Nghiệp
  • Quyền Lực Cứng, Quyền Lực Mềm, Quyền Lực Thông Minh
  • Quan Niệm Và Vận Dụng Quyền Lực Mềm Trong Quản Lý Tổ Chức
  • Quyền Lực Mềm (Soft Power) Là Gì? Nguồn Của Quyền Lực Mềm
  • Hp Là Gì? Tìm Hiểu Vể Khái Niệm Và Cách Quy Đổi Đơn Vị Hp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100