Phân Loại Yếu Tố Nguy Hiểm Và Yếu Tố Có Hại

--- Bài mới hơn ---

  • Các Yếu Tố Nguy Hiểm Trong Lao Động
  • Yếu Tố Có Hại Là Gì
  • Yếu Tố Nguy Hiểm Là Gì? Trung Tâm Ungphosuco Ese
  • Các Yếu Tố Có Hại Trong Lao Động
  • Zalo Ads Là Gì? Tại Sao Nên Quảng Cáo Trên Zalo?
  • Phân loại yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại hay còn gọi là phân loại yếu tố nguy cơ an toàn vệ sinh lao động có thể gồm các nguồn tự nhiên hoặc nhân tạo, được phân thành các nhóm yếu tố hóa học, sinh học, vật lý, xã hội, tâm sinh lý lao động và éc gô nô my:

    • Các yếu tố vật lý bao gồm nóng, lạnh, tiếng ồn, các yếu tố cơ học, bức xạ mặt trời, bức xạ ion hóa (ví dụ như tia X) và bức xạ không ion hóa (ví dụ như các sóng cực ngắn), tiếng ồn và rung.
    • Các yếu tố hóa học gồm có các chất hóa học tổng hợp (ví dụ như hóa chất bảo vệ thực vật, các chất thải công nghiệp) hoặc các chất tồn tại trong môi trường tự nhiên (ví dụ như các mỏ kim loại, Asen trong nước ngầm, chất độc do vi khuẩn Clostridium Botulinum tạo ra…).
    • Các yếu tố sinh học bao gồm các vi rút, prion, vi khuẩn, ký sinh trùng và sâu hại.
    • Các yếu tố xã hội bao gồm nghèo đói và thất nghiệp, điều kiện sống (ví dụ như nước sạch và vệ sinh môi trường, v.v.).
    • Trong nghiên cứu sức khỏe nghề nghiệp cần quan tâm đến một nhóm yếu tố nữa là các yếu tố tâm sinh lý lao động và Éc gô no my: cường độ lao động cao, thời gian làm việc kéo dài, công việc đơn điệu lặp đi lặp lại, công cụ lao động không phù hợp với nhân trắc…

    Các yếu tố này tồn tại trong môi trường sống nói chung và môi trường lao động nói riêng và luôn có mối quan hệ tương tác lẫn nhau.

    Công việc tiếp theo:

    Mọi chi tiết yêu cầu khác, vui lòng liên hệ về Trung tâm ứng phó sự cố an toàn môi trường để được tư vấn

    Thông tin:

    TRUNG TÂM ỨNG PHÓ SỰ CỐ AN TOÀN MÔI TRƯỜNG – Tư vấn, đào tạo huấn luyện, diễn tập về an toàn lao động.

    160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 6, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

    Tel: 0903063599 (Ms Vân) – 0908 090 013 (Mr Minh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đào Tạo Bác Sĩ Xô Bồ, Làm Sao Có Tính Chuyên Nghiệp?
  • Y Đức Và Nghĩa Vụ Của Người Điều Dưỡng
  • Y Đức, Nên Hiểu Thế Nào?
  • Khái Niệm Về Cân Bằng Hóa Học Và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Thực Phẩm
  • Điều Kiện Lao Động Và Các Yếu Tố Nguy Hiểm Có Hại Trong Lao Động

    --- Bài mới hơn ---

  • Zalo Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • Zombie: Nguồn Gốc, Lịch Sử Phát Triển Và Những Lời Đồn Thổi Ghê Rợn
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản, Thơ Chi Tiết Cùng Ví Dụ
  • Tìm Hiểu Đặc Trưng Của Các Phong Cách Ngôn Ngữ Là Gì?
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy
  • 1. Điều kiện lao động:

    2. Các yếu tố nguy hiể m gây chấn thương trong lao động: 

    Là những yếu tố điều kiện lao động xấu, là nguy cơ gây ra tai nạn lao động đối với người lao động, bao gồm: 

    2.1 Các bộ phận truyền động và chuyển động: 

    Những trục máy, bánh răng, dây đai chuyền và các loại cơ cấu truyền động khác; sự chuyển động của bản thân máy móc như: ô tô, máy trục, tàu biển, sà lan, đoàn tàu hỏa, đoàn goòng… tạo nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt…; Tai nạn gây ra có thể làm cho người lao động bị chấn thương hoặc chết; 

    2.2 -Nguồn nhiệt: 

    Ở các lò nung vật liệu, kim loại nóng chảy, nấu ăn… tạo nguy cơ bỏng, nguy cơ cháy nổ; 

    2.3- Nguồn điện: 

    Theo từng mức điện áp và cường độ dòng điện tạo nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trường, cháy do chập điện…; làm tê liệt hệ thống hô hấp, tim mạch. 

    2.4-Vật rơi, đổ, sập: 

    Thường là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững, không ổn định gây ra như sập lò, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi, đá lăn trong khai thác đá, trong đào đường hầm; đổ tường, đổ cột điện, đổ công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hóa trong sắp xếp kho tàng… 

    2.5-Vật văng bắn: 

    Thường gặp là phoi của máy gia công như: máy nài, máy tiện, đục kim loại; gỗ đánh lại ở các máy gia công gỗ; đá văng trong nổ mìn… 

    2.6-Nổ bao gồm: 

    -Nổ vật lý: Trong thực tế sản xuất có thể nổ khi áp suất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực, các bình chứa khí nén, khí thiên nhiên hóa lỏng vược quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do sử dụng lâu và không được kiểm định. Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi người xung quanh. 

    -Nổ hóa học: Là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn làm hủy hoại các vật cản, gây tai nạn cho người trong phạm vi vùng nổ. 

    Các chất có thể gây nổ hóa học bao gồm các khí cháy và bụi khi chúng hỗn hợp với 

    không khí đạt đến một tỷ lệ nhất định kèm theo có mồi lửa thì sẽ gây nổ. Mỗi loại khí cháy nổ có thể nổ được khi hỗn hợp với không khí đạt được một tỷ lệ nhất định.

    Khoảng giới hạn nổ của khí cháy với không khí càng rộng thì sự nguy hiểm về giới hạn nổ hoá học càng tăng. 

    Ví dụ: 

    *Axêtylen có khoảng giới hạn nổ từ 3,5 ¸ 82% thể tích trong không khí. 

    *Amôniắc 

    -Nổ vật liệu nổ ( nổ chất nổ): Sinh công rất lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không khí và gây chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định. 

    -Nổ của kim loại nóng chảy: Khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị ướt, khi thải xỉ… có khoảng giới hạn nổ từ 12 ¸ 25% thể tích không khí.

    3. Yếu tố có hạI đối với sức khỏe trong lao động: 

    Là những yếu tố của điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khoẻ người lao động, gây bệnh nghề nghiệp. 

    Đó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc, các sinh vật có hại. 

    3.1- Vi khí hậu xấu: 

    – Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý con người. 

    – Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị…Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh… 

    – Độ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, có thể khó bài tiết qua mồ hôi. 

    – Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật và giảm khả năng lao động của con người.

    3.2- Tiếng ồn và rung sóc:

    Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, nó phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm… Rung sóc thường do các dụng cụ cầm tay bằng khí nén, do các động cơ nổ… tạo ra. 

    Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn và rung sóc quá giới hạn cho phép dễ gây các bệnh nghề nghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, rối loạn phát dục, tổn thương về xương khớp và cơ; hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén… Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ…Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh. Tình trạng trên dễ dẫn đến tai nạn lao động.

    3.3- Bức xạ và phóng xạ: 

    Nguồn bức xạ: 

    – Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại. 

    – Lò thép hồ quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại. 

    Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. 

    Phóng xạ: 

    Là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng ion hóa vật chất. Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ. 

    Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính; rối loạn chức năng của thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong. 

    3.4- Chiếu sáng không hợp lý (chói quá hoặc tối quá): 

    Trong đời sống và lao động, con mắt người đòi hỏi điều kiện ánh sáng thích hợp.

    Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi, tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động.

    Các đơn vị đo lường ánh sáng thường được dùng: cường độ ánh sáng, độ rọi; máy đo ánh sáng 

    Nhu cầu ánh sáng đòi hỏi tùy thuộc vào công việc, ví dụ như: 

    – Phòng đọc sách cần có độ rọi 200 lux. 

    – Xưởng dệt cần có độ rọi 300 lux. 

    – Sửa chữa đồng hồ cần có độ rọi 400 lux. 

    Khi chiếu sáng không cần đảm bảo tiêu chuẩn quy định, (thường là quá thấp) ngoài tác hại làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động… Về mặt kỹ thuật an toàn còn thấy rõ: khả năng gây tai nạn lao động tăng lên do không nhìn rõ hoặc chưa đủ thời gian để mắt nhận biết sự vật (thiếu ánh sáng); do lóa mắt (ánh sáng chói quá). 

    3.5- Bụi: 

    Bụi là tập hợp của nhiều hạt có kích thước nhỏ bé tồn tại trong không khí; nguy hiểm nhất là bụi có kích thước từ 0,5 ¸ 5 micrômét; khi hít phải loại bụi này sẽ có 70 – 80% lượng bụi đi 

    Bụi có thể phân loại theo nguồn gốc phát sinh: 

    – Bụi hữu cơ: nguồn gốc từ động vật, thực vật. 

    – Bụi nhân tạo: nhựa, cao su… 

    – Bụi kim loại: sắt, đồng… 

    – Bụi vô cơ: silic, amiăng… 

    Mức độ nguy hiểm của bụi phụ thuộc vào tính chất vật lý học, hóa học của chúng. 

    Về mặt kỹ thuật an toàn, bụi có thể gây tác hại dưới các dạng: 

    – Gây cháy hoặc nổ ở nơi có điều kiện thích hợp 

    – Gây biến đổi về sự cách điện: làm giảm khả năng cách điện của bộ phận cách điện gây chạm mạch… 

    – Gây mài mòn thiết bị trước thời hạn. Về mặt vệ sinh lao động, bụi gây tác hại dưới nhiều dạng: 

    – Tổn thương cơ quan hô hấp: xây xát, viêm kinh niên, tùy theo loại bụi có thể dẫn đến viêm phổi, ung thư phổi. 

    – Bệnh ngoài da: bịt lỗ chân lông, lở loét, ghẻ… 

    – Tổn thương mắt. 

    Bệnh bụi phổi phổ biến hiện nay bao gồm: chủ yếu hiện nay được dùng là Luxmet. vào phổi và làm tổn thương phổi hoặc gây bệnh bụi phổi. 

    + Bệnh bụi phổi silic (silicose) là do bụi silic, hiện nay ở nước ta có tỷ lệ rất cao, chiếm khoảng 87% bệnh nghề nghiệp. 

    + Bệnh bụi phổi amiăng (Asbestose) do bụi amiăng. 

    + Bệnh bụi phổi than (Antracose) do bụi than. 

    + Bệnh bụi phổi sắt (Siderose) do bụi sắt. 

    3.6- Các hoá chất độc 

    Hóa chất ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản… như: chì, Asen,Crôm, Benzen, rượu, các khí bụi (SO, NO, CO…), các dung dịch Axit, Bazơ, Kiềm, Muối…, các phế liệu, phế thải khó phân hủy. Hóa chất độc có thể ở trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi… tùy theo điều kiện nhiệt độ và áp suất. 

    Hoá chất độc có thể gây hại cho người lao động dưới các dạng: 

    – Vết tích nghề nghiệp như: mụn cóc, mụn chai, da biến màu… 

    – Nhiễm độc cấp tính khi nồng độ chất độc cao. 

    – Bệnh nghề nghiệp: khi nồng độ chất độc thấp dưới mức độ cho phép nhưng thời gian tiếp xúc với chất độc lâu đối với cơ thể suy yếu hoặc trên mức cho phép vào mức đề kháng cơ thể yếu. 

    Hoá chất độc thường được phân loại thành các nhóm sau: 

    Nhóm 1: Chất gây bỏng kích thích da như Axit đặc, Kiềm… 

    Nhóm 2: Chất kích thích đường hô hấp như Clo, NH3, SO3… 

    Nhóm 3: Chất gây ngạt như CO2, CH4, CO… 

    Nhóm 4: Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương như rượu C2H5O4, H2S, xăng…

    Nhóm 5: Chất gây độc cho hệ thống cơ quan của cơ thể như: Hyđrôcacbon các loại (gây độc cho nhiều cơ quan), Benzen, phênol (hệ tạo máu), Pb, AS (thiếu máu)… 

    Khi tiếp xúc với hóa chất độc, người lao động có thể bị nhiễm độc qua đường tiêu hoá, đường hô hấp hoặc qua da. Trong ba đường xâm nhập đó thì theo đường hô hấp là nguy hiểm nhất và chiếm tới 95% trường hợp nhiễm độc. 

    Chất độc thâm nhập vào cơ thể và tham gia các quá trình sinh hóa có thể đổi thành chất không độc, nhưng cũng có thể biến thành chất độc hơn như CH3CO thành 

    Focmandehyt. 

    Một số chất độc thâm nhập vào cơ thể còn tích đọng ở một số cơ quan như: Pb tích đọng ở 

    Mặt khác chất độc cũng có thể được thải ra khỏi cơ thể qua da, hơi thở, nước tiểu, mồ hôi, qua sữa… tùy theo tính chất của mỗi loại hóa chất 

    3.7- Các yếu tố vi sinh vật có hại: 

    Một số nghề người lao động phải tiếp xúc với các vi sinh vật gây bệnh, vi khuẩn, siêu 

    vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, nấm mốc…như các nghề: chăn nuôi, sát sinh, chế biến thực phẩm, người làm vệ sinh đô thị, người làm lâm nghiệp, nông nghiệp, người phục vụ tại các bệnh viện, khu điều trị, điều dưỡng phục hồi chức năng, các nghĩa trang… xương…tới lúc có điều kiện thuận lợi mới chúng độc. gây

    Cần có biện pháp phòng chống tích cực, cải thiện điều kiện lao động, cải tạo môi trường, theo dõi và phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp. 

    3.8- Các yếu tố về cường độ lao động, tư thế lao động gò bó và đơn điệu trong lao 

    động không phù hợp với hoạt động tâm sinh lý bình thường và nhân trắc của cơ thể người lao động trong lao động: 

    Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò bó trong thời gian dài, ngửa người, vẹo người, treo người trên cao, mang vác nặng, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ… hoặc với trách nhiệm cao gây căng thẳng về thần kinh tâm lý. 

    Điều kiện lao động trên gây nên những hạn chế cho hoạt động bình thường, gây trì trệ phát triển, gây hiện tượng tâm lý mệt mỏi, chán nản dẫn tới những biến đổi ức chế thần kinh… 

    Cuối cùng gây bệnh tâm lý mệt mỏi uể oải, suy nhược thần kinh, đau mỏi cơ xương, có khi dẫn đến tai nạn lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Một Số Yếu Tố Tác Động Đến Hành Vi Của Giảng Viên
  • Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam Từ Truyền Thống Đến Hiện Đại
  • Nguyên Tắc Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật Về Hợp Đồng
  • Xúc Tiến Thương Mại Là Gì? Các Hoạt Động Xúc Tiến Thương Mại Bị Cấm Là Gì?
  • Các Yếu Tố Nguy Hiểm Trong Lao Động

    --- Bài mới hơn ---

  • Yếu Tố Có Hại Là Gì
  • Yếu Tố Nguy Hiểm Là Gì? Trung Tâm Ungphosuco Ese
  • Các Yếu Tố Có Hại Trong Lao Động
  • Zalo Ads Là Gì? Tại Sao Nên Quảng Cáo Trên Zalo?
  • Zalo Official Account Là Gì? Cách Tạo Zalo Oa Phiên Bản 2022
  • Là những yếu tố có nguy cơ gây chấn thương hoặc chết người đối với người lao động, bao gồm:

    1. Các bộ phận truyền động, chuyển động: Trục máy, bánh răng, dây đai chuyền và các loại cơ cấu truyền động; sự chuyển động của bản thân máy móc như­: ô tô, máy trục, tàu biển, sà lan, đoàn tàu hỏa, đoàn goũng cú nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt; Tai nạn gây ra có thể làm cho người lao động bị chấn thương hoặc chết;

    2. Nguồn nhiệt: ở các lò nung vật liệu, kim loại nóng chảy, nấu ăn… tạo nguy cơ bỏng, nguy cơ cháy nổ;

    3. Nguồn điện: Theo từng mức điện áp và cường độ dòng điện tạo nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trường, cháy do chập điện..; làm tê liệt hệ thống hô hấp, tim mạch.

    4. Vật rơi, đổ, sập: Thường là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững, không ổn định gây ra như sập lở, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi, đá lăn trong khai thác đá, trong đào đường hầm; đổ tường, đổ cột điện, đổ công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hoá trong sắp xếp kho tàng….

    5. Vật văng bắn: Thường gặp là phoi của các máy gia công như: máy mài, máy tiện, đục kim loại; gỗ đánh lại ở các máy gia công gỗ; đá văng trong nổ mìn….

    6. Nổ

    – Nổ vật lý: Trong thực tế sản xuất có thể nổ khi áp suất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực, bình chứa khí nén, khí thiên nhiên lỏng vượt quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do thời gian sử dụng lâu. Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi người xung quanh.

    – Nổ hóa học: Là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn phá hủy hoại các công trình, gây tai nạn cho người trong phạm vi vùng nổ.

    – Các chất có thể gây nổ hóa học bao gồm các khí cháy và bụi khi chúng hỗn hợp với không khí đạt đến một tỷ lệ nhất định kèm theo có mồi lửa thì sẽ gây nổ. Mỗi loại khí cháy nổ có thể nổ được khi hỗn hợp với không khí đạt được một tỷ lệ nhất định. Khoảng giới hạn nổ của khí cháy với không khí càng rộng thì sự nguy hiểm về giới hạn nổ hóa học càng tăng.

    – Nổ vật liệu nổ (nổ chất nổ): Sinh công rất lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không khí và gây chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định.

    – Nổ của kim loại nóng chảy: Khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị ướt, khi thải xỉ….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Yếu Tố Nguy Hiểm Và Yếu Tố Có Hại
  • Đào Tạo Bác Sĩ Xô Bồ, Làm Sao Có Tính Chuyên Nghiệp?
  • Y Đức Và Nghĩa Vụ Của Người Điều Dưỡng
  • Y Đức, Nên Hiểu Thế Nào?
  • Khái Niệm Về Cân Bằng Hóa Học Và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng
  • Các Yếu Tố Có Hại Trong Lao Động

    --- Bài mới hơn ---

  • Zalo Ads Là Gì? Tại Sao Nên Quảng Cáo Trên Zalo?
  • Zalo Official Account Là Gì? Cách Tạo Zalo Oa Phiên Bản 2022
  • Khái Niệm Hàng Giả Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Một Số Thuật Ngữ Và Khái Niệm Về Môi Trường
  • Không Đơn Thuần Chỉ Là Một Đại Dịch Phim Ảnh, Zombie Đã Tồn Tại Từ Lâu Trong Truyền Thuyết
  • Là những yếu tố của điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khỏe người lao động, gây bệnh nghề nghiệp. đó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc, các sinh vật có hại.

    1. Vi khí hậu xấu

    Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người.

    – Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị….Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh…

    – Độ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, cơ thể khó bài tiết qua mồ hôi.

    – Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh h­ưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật và giảm khả năng lao động của con người.

    2 . Tiếng ồn

    Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm. .

    Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn dễ gây các bệnh nghề nghiệp như điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén. Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ. Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh, dễ dẫn đến tai nạn lao động.

    3. Rung

    – Rung từng bộ phận có ảnh hưởng cục bộ xuất hiện ở tay, ngón tay khi làm việc với cưa máy, búa máy, máy đánh bóng. Rung gây ra chứng bợt tay, mất cảm giác, ngoài ra gây thương tổn huyết quản, thần kinh, khớp xương, cơ bắp, xúc giác và lan rộng, thâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn nội tiết.

    – Rung toàn thân thường xảy ra đối với những người làm việc trên phương tiện giao thông, máy hơi nước, máy nghiền… Chấn động làm co hệ thống huyết mạch, tăng huyết áp và nhịp đập tim. Tuỳ theo đặc tính chấn động tạo ra thay đổi ở từng vùng, từng bộ phận trên cơ thể người.

    4. Bức xạ và phóng xạ

    Nguồn bức xạ:

    – Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại.

    – Hồ quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại.

    Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

    Là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng iôn hoá vật chất. Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ.

    Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính; rối loạn chức năng của thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong.

    5. Chiếu sáng không hợp lý (chói quá hoặc tối quá)

    Chiếu sáng không đảm bảo làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động, dễ gây ra tai nạn lao động. Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi, tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động.

    6 . Bụi

    Bụi là tập hợp của nhiều hạt có kích thư­ớc nhỏ bé tồn tại trong không khí; nguy hiểm nhất là bụi có kích thước từ 0,5 – 5 micrômét; khi hít phải loại bụi này sẽ có 70 – 80% lượng bụi đi vào phổi và làm tổn thư­ơng phổi hoặc gây bệnh bụi phổi.

    – Bụi hữu cơ: nguồn gốc từ động vật, thực vật.

    – Bụi nhân tạo: nhựa, cao su…

    – Bụi kim loại: sắt, đồng …

    – Bụi vô cơ: silic, amiăng …

    Mức độ nguy hiểm, có hại của bụi phụ thuộc vào tính chất lý học, hóa học của bụi. Bụi có thể gây cháy hoặc nổ ở nơi có điều kiện thích hợp; làm giảm khả năng cách điện của bộ phận cách điện, gây chập mạch; Gây mài mòn thiết bị trư­ớc thời hạn; Làm tổn th­ương cơ quan hô hấp xây sát, viêm kinh niên, tuỳ theo loại bụi có thể dẫn đến viêm phổi, ung thư phổi; Gây bệnh ngoài da; Gây tổn thương mắt.

    Bệnh bụi phổi phổ biến hiện nay bao gồm:

    + Bệnh bụi phổi silíc (Silicose) là do bụi silic, hiện nay ở nước ta có tỷ lệ rất cao chiếm khoảng 87% bệnh nghề nghiệp.

    + Bệnh bụi phổi Amiăng (Asbestose) do bụi Amiăng.

    + Bệnh bụi phổi than (Antracose) do bụi than.

    + Bệnh bụi phổi sắt (Siderose) do bụi sắt.

    Hóa chất ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản như: Asen, Crụm, Benzen, rư­ợu, các khí bụi, các dung dịch axít, bazơ, kiềm, muối, các phế liệu, phế thải khó phân hủy. Hóa chất độc có thể ở trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi….tùy theo điều kiện nhiệt độ và áp suất.

    Hóa chất độc có thể gây ảnh hưởng tới người lao động dưới dạng nhiễm độc cấp tính, nhiễm độc mạn tính. Hoá chất độc thường được phân loại thành các nhóm sau:

    Nhóm 1: Chất gây bỏng kích thích da như­ Axít đặc, Kiềm…

    Nhóm 2: Chất kích thích đường hô hấp như Clo, amoniắc, SO3,…

    Nhúm 3: Chất gây ngạt nh­ư các oxít các bon (CO2, CO), mê tan (CH4)…

    Nhóm 4: Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương như H2S (mùi trứng thối) , xăng…

    Nhóm 5: Chất gây độc cho hệ thống cơ thể như hyđrôcacbon các loại (gây độc cho nhiều cơ quan), benzen, phênol, chỡ, asen ….

    Khi tiếp xúc với hóa chất độc, người lao động có thể bị nhiễm độc qua đường tiêu hóa, đường hô hấp hoặc qua da. Trong đó, theo đường hô hấp là nguy hiểm nhất và chiếm tới 95% trường hợp nhiễm độc. Chất độc thâm nhập vào cơ thể và tham gia cỏc quá trình sinh hoá có thể đổi thành chất không độc, nhưng cũng có thể biến thành chất độc hơn. Một số chất độc xâm nhập vào cơ thể và tích tụ lại. Chất độc cũng có thể đư­ợc thải ra khỏi cơ thể qua da, hơi thở, nước tiểu, mồ hôi, qua sữa… tùy theo tính chất của mỗi loại hóa chất.

    8. Các yếu tố vi sinh vật có hại

    Một số nghề người lao động phải tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trựng, cụn trựng, nấm mốc như các nghề: chăn nuôi, sát sinh, chế biến thực phẩm, người làm vệ sinh đô thị, người làm lâm nghiệp, nông nghiệp, người phục vụ tại các bệnh viện, khu điều trị, điều dưỡng phục hồi chức năng, các nghĩa trang…

    9. Các yếu tố về cường độ lao động, tư thế lao động gò bó và đơn điệu trong lao động không phù hợp với hoạt động tâm sinh lý bình thường và nhân trắc của cơ thể người lao động trong lao động

    Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò bó trong thời gian dài, ngửa người, vẹo người, treo người trên cao, mang vác nặng, động tác lao động đơn điệu, buồn tẻ hoặc với phải tập trung chú ý cao gây căng thẳng về thần kinh tâm lý. Điều kiện lao động trên gây nên những hạn chế cho hoạt động bình thường, gây trì trệ phát triển, gây hiện tượng tâm lý mệt mỏi, chán nản dẫn tới những biến đổi ức chế thần kinh, gây bệnh tâm lý mệt mỏi, uể oải, suy nhược thần kinh, đau mỏi cơ xương, có khi dẫn đến tai nạn lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yếu Tố Nguy Hiểm Là Gì? Trung Tâm Ungphosuco Ese
  • Yếu Tố Có Hại Là Gì
  • Các Yếu Tố Nguy Hiểm Trong Lao Động
  • Phân Loại Yếu Tố Nguy Hiểm Và Yếu Tố Có Hại
  • Đào Tạo Bác Sĩ Xô Bồ, Làm Sao Có Tính Chuyên Nghiệp?
  • Vùng Nguy Hiểm Trong Sản Xuất Nhận Diện Yếu Tố Nguy Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Rủi Ro Trong Sản Xuất Theo Nhóm Các Yếu Tố Nguy Hiểm
  • An Toàn Lao Động Phần 1 Bai Giang An Toan Lao Dong Phan 1 Ppt
  • Những Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản Về Lao Động Và Bảo Hộ Lao Động
  • Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Cách Viết Văn Tự Sự Có Yếu Tố Miêu Tả Và Biểu Cảm
  • Vùng nguy hiểm trong sản xuất là khoảng không gian xác định trong đó tồn tại các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại có khả năng gây chấn thương trong sản xuất dưới dạng tai nạn lao động.

    Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động. (Theo điều 3 Luật số 84/2015/QH13). Cách nhận diện và đánh giá yếu tố nguy hiểm được quy định tại điều 5 Nghị định số 39/2016/NĐ-CP.

    + Cố định theo không gian, thời gian

    + Thay đổi theo không gian, thời gian

    + Yếu tố nguy hiểm có thể xuất hiện thường xuyên, chu kỳ hoặc bất ngờ

    Vùng nguy hiểm có thể xuất hiện một cách thường xuyên,chu kỳ hoặc bất ngờ ví dụ như:

    – Vùng giữa khuôn và đầu búa máy, máy đột dập …..

    – Vùng giữa các trục cán, giữa vành tiếp xúc của các cặp bánh răng ….

    – Khoảng không gian xung quanh đường dây dẫn điện dưới can của các can trục…

    – Khoanh vùng được phạm vi vùng nguy hiểm

    – Có các biện pháp bao che, che chắn an toàn

    – Xây dựng nội quy an toàn khi làm việc trong vùng nguy hiểm

    Nguyên nhân gây chấn thương khi sử dụng máy và trang thiết bị cũng được khoanh vùng là vùng nguy hiểm trong sản xuất.

    • Nguyên nhân thiết kế
    • Nguyên nhân chế tạo
    • Nguyên nhân bảo quản,sử dụng

    Xuất phát từ điều kiện làm việc thực tế của các thiết bị,yêu cầu kỹ thuật khi thiết kế phải tính toán độ bền,độ cứng,khả năng chống chịu điều kiện làm việc để đảm bảo máy làm việc ổn định,an toàn.Tuy nhiên khi thiết kế vì các lý do khác nhau không đảm bảo điều kiện an toàn của các thiết bị sẽ gây ra tai nạn.

    +Trên các loại máy móc như tiện,mài nếu không có các cơ cấu che chắn thì khi làm việc phoi bắn ra có thể gây tai nạn.

    +Khi thiết kế đá mài nếu không đủ độ kết dính thì có thể dẫn đến khi làm việc đá mài bị vỡ và bắn ra ngoài gây tai nạn.

    Về nguyên lý thiết kế đã đúng nhưng do quá trình chế tạo không đảm bảo các yêu cầu đề ra của máy do vậy khi làm việc thiết bị gây ra nguy hiểm cho người lao động.

    VD: Việc chọn các loại vật liệu chế tạo không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật,không đảm bảo độ bền,độ cứng,không đảm bảo tuổi thọ của chi tiết…

    Máy móc và các trang thiết bị trong quá trình sử dụng phải được bảo dưỡng định kỳ theo lịch định sẵn.Việc không bảo dưỡng sẽ gây độ mất tin cậy và làm việc không ổn định.Việc sử dụng các trang thiết bị không đúng kỹ thuật cũng tạo ra nguy hiểm cho người lao động.

    Việc xác định vùng nguy hiểm trong sản xuất sẽ giúp nhận diện yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại. Điều này giúp tổ chức phòng chống tai nạn lao động và giảm thiểu rủi ro mắc bệnh nghề nghiệp. Xác định vùng nguy hiểm trong sản xuất và kiểm soát yếu tố nguy hiểm là bước quan trọng đầu tiên trong công tác bảo hộ lao động.

    Mong rằng sự tư vấn của bộ phận tư vấn an toàn sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của mình. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900 0340 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất.

    Nếu quý vị cần thêm thông tin thì vui lòng liên hệ Trung tâm ứng phó sự cố môi trường ESE

    Address: 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 6, Quận 3, TP. HCM

    Email: [email protected]

    Các khóa học cấp chứng chỉ và tập huấn an toàn lao động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Yếu Tố Thần Kì Trong “tấm Cám”
  • Nguồn Gốc Và Vai Trò Của Yếu Tố Thần Kì Trong Truyện Dân Gian
  • Khái Niệm Cơ Bản Thường Sử Dụng Trong Lĩnh Vực Công Nghệ Y Tế
  • Tổng Quan Về His, Ris, Pacs Và Một Số Khái Niệm Công Nghệ Y Tế
  • Thiết Bị Vật Tư Y Tế Là Gì? Những Cần Biết
  • Khái Niệm Và Các Yếu Tố Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Thắng Lợi Của Cách Mạng Tháng Tám Năm 1945
  • Chương 7: Tthcm Về Văn Hóa Và Đạo Đức
  • Văn Hóa Ứng Xử Trong Trường Học: Góc Nhìn Cận Cảnh
  • Văn Hóa Ứng Xử Và Hành Vi Ứng Xử Có Văn Hóa Trong Hs
  • Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Trường Học
  • Kết quả

    Khái niệm và các yếu tố văn hóa:

    Văn hóa là một tổng thế phực hợp về những giá trị vật chất và tinh thần do con người kiến tạo nên và mang tính đặc thù riêng của mỗi dân tộc.

    Các yếu tố văn hóa bao gồm:

    -Gía trị và thái độ

    -Cách cư xử và phong tục

    -Các yếu tố vật chất

    Ngôn ngữ là sự thể hiện rõ nét nhất của văn hóa vì nó là phương tiện để truyền đạt thông tin và ý tưởng. Nếu thông thạo ngôn ngữ, có 4 lợi ích:

    -Trao đổi trực tiếp và hiểu rõ ràng

    -Dễ làm việc với đối tác vì chung ngôn ngữ

    -Hiểu và đánh giá đúng bản chất

    -Hiểu và thích nghi với văn hóa đối tác

    Ngược lại sẽ rất khó khăn khi tham gia thị trường nước ngoài

    Có nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Khổng giáo – Lão giáo, Ấn Độ giáo (Hindu).

    Các tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến lối sống, niềm tin, giá trị và thái độ, cách ứng xử của con người.

    Các tôn giáo còn ảnh hưởng đến chính trị và môi trường kinh doanh

    Các tôn giáo khác nhau, được xây dựng trên nền tảng triết lý khác nhau. Khi kinh doanh tại đâu, cần nghiên cứu tôn giáo ở đó cũng như đối tác kinh doanh theo tôn giáo nào?

    -Gía trị là những quan niệm làm căn cứ để con người đánh giá đúng sai, tốt xấu, quan trọng và không quan trọng.

    -Thái độ là những khuynh hướng không thay đổi của sự cảm nhận hành xử theo 1 hướng xác định đối với 1 đối tượng.

    Thái độ bắt nguồn từ những giá trị và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của con người đặc biệt là kinh doanh quốc tế.

    Ví dụ: việc chuộng hàng ngoại hay không chuộng hàng ngoại.

    4. Phong tục và cách ứng xử

    -Phong tục là nếp sống, thói quen, là những lề thói trong xã hội hay 1 địa phương

    -Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn, phù hợp với 1 xã hội đặc thù

    Phong tục thể hiện cách sự vật được làm, còn cách cư xử được dùng để thực hiện chúng

    Mỗi quốc gia, vùng miền đều có phong tục và cách cư xử riêng vì vậy nghiên cứu vấn đề này thì công việc trôi chảy, thuận lợi và ngược lại.

    Ví dụ: quan niệm về thời gian của Mỹ và người phương đông.

    5. Yếu tố vật chất của văn hóa

    Trong 1 mặt nào đó, văn hóa là:

    Vật chất là những gì con người có thể nhận biết: có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra

    Khi nghiên cứu văn hóa vật chất, cần:

    -Cách làm ra sản vật (khía cạnh kỹ thuật)

    -Ai làm, tại sao làm (khía cạnh kinh tế)

    Khi đánh giá yếu tố của nền văn hóa, cần:

    -Cơ sở hạ tầng kinh tế

    -Cơ sở hạ tầng xã hội

    -Cơ sở hạ tầng tài chính.

    Giáo dục là quá trình hoạt động ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tri thức về tự nhiên và xã hội, cũng như kỹ năng kỹ xảo cần thiết trong cuộc sống.

    Nguồn: chúng tôi (Biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Mưu, Định Hướng Chỉ Đạo Công Tác Văn Hoá
  • Đề Tài: Hoạt Động Văn Nghệ Quần Chúng Tại Quận Ngô Quyền, Hay
  • Văn Hóa Văn Nghệ Dân Gian Với Vấn Đề Phát Triển Bền Vững
  • Cần Khẳng Định Rõ Vai Trò Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Với Các Khái Niệm Văn Minh, Văn Hiến, Văn Vật
  • Yếu Tố Có Hại Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Yếu Tố Nguy Hiểm Là Gì? Trung Tâm Ungphosuco Ese
  • Các Yếu Tố Có Hại Trong Lao Động
  • Zalo Ads Là Gì? Tại Sao Nên Quảng Cáo Trên Zalo?
  • Zalo Official Account Là Gì? Cách Tạo Zalo Oa Phiên Bản 2022
  • Khái Niệm Hàng Giả Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Yếu tố có hại là gì ? Quy định pháp luật nào đề cập đến yếu tố có hại ? (anh Q tại Bình Dương hỏi)

    Trung tâm xin trả lời bạn như sau:

    Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động.

    Định nghĩa này được ghi rõ theo khoản 5 Điều 3. Giải thích từ ngữ Yếu tố có hại trong Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 được Quốc Hội ban hành ngày 25 tháng 06 năm 2022, Luật an toàn, vệ sinh lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022.

    Kiểm soát yếu tố có hại tại nơi làm việc:

    Người sử dụng lao động phải tổ chức đánh giá, kiểm soát yếu tố có hại tại nơi làm việc để đề ra các biện pháp kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động; thực hiện các biện pháp khử độc, khử trùng cho người lao động làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng.

    Đối với yếu tố có hại được Bộ trưởng Bộ Y tế quy định giới hạn tiếp xúc cho phép để kiểm soát tác hại đối với sức khỏe người lao động thì người sử dụng lao động phải tổ chức quan trắc môi trường lao động để đánh giá yếu tố có hại ít nhất một lần trong một năm. Đơn vị tổ chức quan trắc môi trường lao động phải có đủ điều kiện về cơ sở, vật chất, trang thiết bị và nhân lực.

    CÁC YẾU TỐ CÓ HẠI TRONG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG

    Yếu tố vi khí hậu bất lợi:

    – Nhiệt độ:

    – Độ ẩm:

    – Tốc độ gió:

    – Bức xạ nhiệt:

    – Tiếng ồn theo dải tần:

    – Rung chuyển theo dải tần:

    – Vận tốc rung đứng hoặc ngang:

    – Phóng xạ:

    – Điện từ trường tần số công nghiệp:

    – Điện từ trường tần số cao:

    – Bức xạ tử ngoại:

    – Các yếu tố vật lý khác (ghi rõ):

    Yếu tố bụi các loại:

    – Bụi toàn phần:

    – Bụi hô hấp:

    – Bụi thông thường:

    – Bụi silic: phân tích hàm lượng silic tự do:

    – Bụi amiăng:

    – Bụi kim loại (chì, mangan, cadimi,… đề nghị ghi rõ):

    – Bụi than:

    – Bụi talc:

    – Bụi bông:

    – Các loại bụi khác (ghi rõ):

    Yếu tố hơi khí độc (Liệt kê ghi rõ các yếu tố có giới hạn cho phép theo quy chuẩn vệ sinh lao động) như:

    – Thủy ngân:

    – Asen:

    – Oxit cac bon:

    – Benzen và các hợp chất (Toluene, Xylene):

    – Trinitro toluen (TNT):

    – Nicotin:

    – Hóa chất trừ sâu:

    – Các hóa chất khác (Ghi rõ):

    Yếu tố tâm sinh lý và ec-gô-nô-my

    – Đánh giá gánh nặng thần kinh tâm lý:

    – Đánh giá ec-gô-nô-my:

    Đánh giá yếu tố tiếp xúc nghề nghiệp

    – Yếu tố vi sinh vật:

    – Yếu tố gây dị ứng, mẫn cảm:

    – Dung môi:

    Mong rằng sự tư vấn của bộ phận tư vấn an toàn sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của mình. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất.

    Nếu quý vị cần thêm thông tin thì vui lòng liên hệ Trung tâm ứng phó sự cố an toàn môi trường

    Address: 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 6, Quận 3, TP. HCM

    Email: [email protected]

    Các khóa học cấp chứng chỉ và tập huấn an toàn lao động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Yếu Tố Nguy Hiểm Trong Lao Động
  • Phân Loại Yếu Tố Nguy Hiểm Và Yếu Tố Có Hại
  • Đào Tạo Bác Sĩ Xô Bồ, Làm Sao Có Tính Chuyên Nghiệp?
  • Y Đức Và Nghĩa Vụ Của Người Điều Dưỡng
  • Y Đức, Nên Hiểu Thế Nào?
  • Yếu Tố Nguy Hiểm Là Gì? Trung Tâm Ungphosuco Ese

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Yếu Tố Có Hại Trong Lao Động
  • Zalo Ads Là Gì? Tại Sao Nên Quảng Cáo Trên Zalo?
  • Zalo Official Account Là Gì? Cách Tạo Zalo Oa Phiên Bản 2022
  • Khái Niệm Hàng Giả Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Một Số Thuật Ngữ Và Khái Niệm Về Môi Trường
  • Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. (Theo điều 3 Luật số 84/2015/QH13).

    Luật 84/2015/QH13 là Luật quy định về An toàn vệ sinh lao động.

    • An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm. Nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
    • Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.

    Theo định nghĩa trên, Yếu tố nguy hiểm chính là mối nguy gây ra các tai nạn lao động, làm mất an toàn lao động.

    Bên cạnh đó, một trong những quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động cũng được quy định trong điều 6 bộ Luật 84/2015/QH13. Đó là: Được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống; được đào tạo, huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động.

    Song song đó, trách nhiệm của người sử dụng lao động là:

    • Thực hiện ngay biện pháp bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, thực hiện các biện pháp khắc phục.
    • Bảo đảm nơi làm việc phải đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố nguy hiểm…
    • Trang cấp đầy đủ cho người lao động các phương tiện bảo vệ cá nhân khi thực hiện công việc có yếu tố nguy hiểm.
    • Định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc.
    • Tuyên truyền, phổ biến hoặc huấn luyện cho người lao động quy định, nội quy, quy trình về an toàn vệ sinh lao động, biện pháp phòng, chống yếu tố nguy hiểm.

    Yếu tố nguy hiểm là mối nguy trước mắt của bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào. Phòng chống yếu tố nguy hiểm chính là giảm thiểu những tai nạn lao động, rủi ro sản xuất. Vì vậy, kiểm soát yếu tố nguy hiểm là việc làm vô cùng cần thiết đối với công tác an toàn vệ sinh lao động.

    Mong rằng sự tư vấn của bộ phận tư vấn an toàn sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của mình. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900 0340 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất.

    Nếu quý vị cần thêm thông tin thì vui lòng liên hệ Trung tâm ứng phó sự cố môi trường ESE

    Address: 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 6, Quận 3, TP. HCM

    Email: [email protected]

    Các khóa học cấp chứng chỉ và tập huấn an toàn lao động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yếu Tố Có Hại Là Gì
  • Các Yếu Tố Nguy Hiểm Trong Lao Động
  • Phân Loại Yếu Tố Nguy Hiểm Và Yếu Tố Có Hại
  • Đào Tạo Bác Sĩ Xô Bồ, Làm Sao Có Tính Chuyên Nghiệp?
  • Y Đức Và Nghĩa Vụ Của Người Điều Dưỡng
  • Đánh Giá Rủi Ro Trong Sản Xuất Theo Nhóm Các Yếu Tố Nguy Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • An Toàn Lao Động Phần 1 Bai Giang An Toan Lao Dong Phan 1 Ppt
  • Những Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản Về Lao Động Và Bảo Hộ Lao Động
  • Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Cách Viết Văn Tự Sự Có Yếu Tố Miêu Tả Và Biểu Cảm
  • Soạn Bài Miêu Tả Và Biểu Cảm Trong Văn Tự Sự Lớp 10
  • Một trong những vấn đề trọng tâm của quản lý và kiểm soát an toàn là giám sát và đánh giá an toàn các đối tượng (bao gồm thiết bị, máy móc, quá trình công nghệ, công việc và NLĐ) trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Tuy nhiên vấn đề này lại đang tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định do phương pháp và công cụ giám sát, đánh giá an toàn sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay không còn phù hợp với thực tế sản xuất, cũng như khả năng phòng ngừa sự cố, tai nạn thấp.

    Để đánh giá an toàn sản xuất (máy móc, thiết bị và quá trình công nghệ), có thể sử dụng những phương pháp khác nhau như phương pháp “cây sai phạm”; phương pháp “phiếu kiểm tra”; phương pháp “đánh giá phân loại theo thang điểm” (đề tài KX07-15, Viện BHLĐ, giai đoạn 1991-1995)…, nhưng nhìn chung các phương pháp này trong quá trình áp dụng thực tế đều bộc lộ những hạn chế như tính khả thi trong áp dụng đại trà không cao, hoặc khả năng và hiệu quả phòng ngừa tai nạn thấp v.v. Thí dụ như phương pháp “cây sai phạm”, đây là phương pháp đánh giá an toàn sản xuất mang tính tổng hợp, tuy nhiên để có thể áp dụng phương pháp này một cách phổ biến trong điều kiện thực tiễn sản xuất ở nước ta là không dễ, thậm chí có những hạn chế không thể khắc phục được. Thật vậy, nguyên tắc chung của phương pháp này là dựa trên đánh giá các đối tượng thiết bị, máy móc hoặc quá trình công nghệ một cách tổng hợp ở tất cả các khâu, từ giai đoạn thiết kế, chế tạo, lắp đặt đến vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng. Như vậy, để đánh giá mức độ an toàn của một đối tượng trong sản xuất đòi hỏi một mặt phải có đầy đủ các thông tin, dữ liệu kỹ thuật về đối tượng đánh giá ở toàn bộ các giai đoạn, mặt khác cũng rất quan trọng là cần phải có đầy đủ thiết bị, máy móc với độ chính xác cao để đo đạc, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại cần xác định đánh giá; hơn nữa cần phải có một đội ngũ chuyên viên giỏi, có trình độ kiến thức sâu trong từng lĩnh vực khác nhau. Trong khi đó, thực tế thiết bị, máy móc trong sản xuất ở nước ta lại phổ biến thuộc thế hệ máy cũ, thậm chí từ những năm 1980-1990 của thế kỷ trước, đặc biệt rất đa dạng về chủng loại và do nhiều nước chế tạo; hồ sơ lý lịch máy hầu như không quản lý được. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý nhà nước về AT-VSLĐ nói chung và giám sát ATLĐ nói riêng lại quá mỏng, chưa đủ khả năng để áp dụng những phương pháp trên trong điều kiện sản xuất ở nước ta hiện nay. Bộ máy hiện nay có lẽ chỉ đáp ứng cho công tác kiểm định hoặc giám định an toàn và cũng chủ yếu chỉ dừng lại đối với các thiết bị, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ.

    Mặt khác, hiện nay khái niệm về an toàn đã có nhiều thay đổi mang tính bản chất rõ rệt. Thay vì khái niệm an toàn được xem là tuyệt đối như trước đây, thì hiện nay an toàn được định nghĩa là sự không có những “rủi ro không thể chấp nhận được” (theo tiêu chuẩn TCVN 6450:1998-ISO/IEC Guide 2: 1996) và do đó vấn đề an toàn được đặt ra ở đây là xác định các “rủi ro cho phép” hay còn gọi là mức cân bằng tối ưu giữa an toàn tuyệt đối lý tưởng với các yêu cầu được đáp ứng bởi thiết bị, máy móc, quá trình công nghệ… trên cơ sở đánh giá rủi ro (phân tích và định giá rủi ro) với các bước từ nhận biết mối nguy hiểm (bao gồm cả tình trạng nguy hiểm và sự kiện nguy hiểm) có thể nảy sinh trong quá trình sản xuất, đến ước lượng và đánh giá rủi ro phát sinh từ những nguy cơ đã xác định. Như vậy, có thể thấy phương pháp giám sát, đánh giá an toàn theo hiện trạng mà hiện nay chúng ta đang sử dụng là hoàn toàn không còn thích hợp, mà thay vào đó cần phải nghiên cứu và áp dụng những phương pháp giám sát, đánh giá an toàn theo nguy cơ, rủi ro xảy ra các sự cố, tai nạn.

    Nội dung phương pháp “giám sát an toàn sản suất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm” Cơ sở phương pháp luận

    An toàn và TNLĐ là hai mặt đối lập của quá trình sản xuất, chúng luôn song song tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau, khi TNLĐ cao thì mức độ an toàn của sản xuất là thấp và ngược lại. Chính vì vậy để quản lý an toàn cho một đối tượng trong sản xuất (máy móc, thiết bị và quá trình công nghệ), có thể hoặc là thông qua đánh giá, kiểm soát mức độ an toàn của đối tượng. Tuy nhiên việc đánh giá, kiểm soát tình hình TNLĐ xảy ra ở đối tượng thường có hạn chế lớn là những số liệu đánh giá chỉ thuần túy mang tính thống kê, không xét tới quá trình tích lũy tiềm tàng dẫn tới các tai nạn. Từ những phân tích trên, cũng như dựa trên quan điểm hiện nay về an toàn, một phương pháp mới để đánh giá an toàn sản xuất phù hợp hơn đã được nghiên cứu đưa ra, đó là phương pháp “Giám sát an toàn sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm”. Phương pháp này đã bước đầu áp dụng khá thành công trong quá trình khảo sát đánh giá tình hình an toàn sản xuất của 10 CSSX công nghiệp điển hình ở khu vực phía Bắc, cũng như vận dụng trong các luận văn tốt nghiệp của các khóa sinh viên Khoa BHLĐ, Trường Đại học Công đoàn.

    Trước hết, cơ sở phướng pháp luận của phương pháp nêu trên là dựa trên việc giám sát an toàn của đối tượng, thông qua đánh giá trực tiếp chỉ thị an toàn với nguyên tắc: nguy cơ sự cố, TNLĐ tối thiểu – an toàn sản xuất tối đa và như vậy là hoàn toàn phù hợp với quan điểm về an toàn hiện nay. Hơn nữa, đây còn là một xu thế chung và khá phổ biến nhằm phát hiện sớm các trạng thái nguy hiểm gây TNLĐ và đặc biệt có ý nghĩa tích cực trong việc góp phần ngăn ngừa TNLĐ trong sản xuất ở nước ta hiện nay.

    Một số khái niệm và định nghĩa

    – Chỉ số an toàn nhóm (Ski) là chỉ số đánh giá mức độ an toàn theo nhóm yếu tố nguy hiểm của từng đối tượng khảo sát (thiết bị, máy móc, quy trình công nghệ hoặc công việc), trong đó:

    K- Chỉ số đặc trưng cho nhóm yếu tố nguy hiểm và được ký hiệu như sau:

    K = 1 – Nhóm yếu tố nguy hiểm cơ học

    K = 2 – Nhóm yếu tố nguy hiểm về điện

    K = 3 – Nhóm yếu tố nguy hiểm về hóa chất

    K = 4 – Nhóm yếu tố nguy hiểm về nổ

    K = 5 – Nhóm yếu tố nguy hiểm về nhiệt

    i – Chỉ số thứ tự đối tượng khảo sát (i = 1, 2, 3…n)

    Như vậy, sẽ có 5 loại chỉ số an toàn nhóm Ski tương ứng: S1i, S2i, S3i, S4i và S5i

    – Bậc điểm: chỉ số an toàn nhóm Ski được cho theo thang bảng điểm từ 1 đến 5 theo nguyên tắc “Nguy cơ tai nạn tối thiểu – An toàn tối đa” và được định nghĩa với các bậc điểm từ 1 đến 5, tương ứng với các mức xuất hiện nguy cơ và tác động của các yếu tố nguy hiểm,

    từ Mức rất nguy hiểm, nguy cơ xảy ra tai nạn rất cao: là tồn tại vùng nguy hiểm với sự tác động thường xuyên, liên tục của các yếu tố nguy hiểm;

    Mức không an toàn, có nguy cơ xảy ra TNLĐ: là tồn tại vùng nguy hiểm và các yếu tố nguy hiểm có thể tác động một cách bất kỳ;

    Mức an toàn, song cần phải có biện pháp bổ sung, hoàn thiện: là có thể xuất hiện vùng và tác động của các yếu tố nguy hiểm nếu như không có các biện pháp an toàn bổ sung thích hợp;

    hay Mức bảo đảm an toàn: là có thể xuất hiện yếu tố nguy hiểm nhưng không tồn tại vùng nguy hiểm;

    và mức Rất an toàn: là không xuất hiện những yếu tố nguy hiểm cũng như tồn tại vùng nguy hiểm.

    – Chỉ số an toàn nhóm trung bình (Sk): là chỉ số đánh giá mức độ an toàn theo từng nhóm yếu tố nguy hiểm của toàn bộ các đối tượng khảo sát tại CSSX và được khẳng định bằng biểu thức:

    Trong đó:

    i,j và k là các số nguyên và có các giá trị từ 1÷ 5

    αj là trọng số điểm an toàn, với j là chỉ số tương ứng với bậc điểm từ 1 đến 5 và có các giá trị aj tương ứng là: 0,38; 0,58; 0,72; 0,92 và 1,00 (tất cả đều có xác suất tác động của các yếu tố nguy hiểm ở đối tượng khảo sát nhỏ hơn hoặc bằng 1.10-4).

    – Mức an toàn sản xuất của cơ sở theo nhóm các yếu tố nguy hiểm (L): chỉ số an toàn nhóm trung bình Sk sau khi được xác định sẽ được xếp theo 5 mức an toàn L khác nhau từ I đến V tương ứng với các giá trị của Sk là = 1,9; 2,0÷2,9; 3,0÷3,6; 3,7÷4,6; 4,7÷5,0.

    Đánh giá tổng hợp và phân loại an toàn sản xuất của cơ sở (G): được dựa trên kết quả đánh giá các mức an toàn L và phân làm 5 loại theo các mức:

    + rất kém: khi có một trong 5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn I;

    + kém: khi có một trong 5 yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn II;

    + đạt: khi có tối thiểu 3/5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn III và không có nhóm nào ở mức II hoặc I;

    + tốt: khi có tối thiểu 3/5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn IV;

    + rất tốt: khi có 4/5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn V và không có nhóm nào ở mức III, II hoặc I.

    Phiếu đánh giá an toàn sản xuất của cơ sở: các kết quả khảo sát đánh giá tình hình an toàn sản xuất của cơ sở sẽ được đưa vào các mẫu phiếu và gửi cho các cơ sở để lưu giữ hằng năm (3 màu phiếu: đỏ – trắng – xanh).

    Quy trình áp dụng phương pháp:

    – Nghiên cứu sơ bộ CSSX:

    + Xác định cụ thể số lượng, chủng loại các đối tượng ở CSSX cần phải khảo sát, đánh giá. Đặc biệt chú ý tới các thiết bị, máy móc, quy trình công nghệ, công việc, vật tư, hoá chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ theo quy định hiện hành;

    + Xây dựng chương trình và kế hoạch khảo sát chi tiết ở cơ sở: lập phiếu thống kê đối tượng khảo sát và thông số kiểm tra, đo đạc theo mẫu phiếu PTK-M1 và lập phiếu khảo sát theo nhóm các yếu tố nguy hiểm (PKS.1-11; PKS.2-M1; PKS.3-M1; PKS.4-M1 và PKS.5-M1).

    – Khảo sát đo đạc:

    + Phương pháp khảo sát:

    • Phương pháp quan trắc: quan sát, kiểm tra trực tiếp tại máy và khu vực sản xuất để xác định nguy cơ xuất hiện và tác động của các yếu tố nguy hiểm theo 5 loại chỉ thị an toàn (thiết bị, cơ cấu, dụng cụ an toàn; PTBVCN được trang bị; quy trình, biện pháp làm việc an toàn (nội quy an toàn); mức độ huấn luyện kỹ thuật an toàn và các chỉ thị khác (tự động hoá…).
    • Phương pháp đo đạc: sử dụng máy móc và thiết bị đo đạc chuyên dụng xác định thông số và chỉ tiêu tương ứng (điện trở nối đất, nối “0” thiết bị; cường độ điện từ trường, cảm ứng tĩnh điện; nhiệt độ vùng làm việc; kiểm tra khuyết tật, kiểm định chiều dày – độ bền thiết bị áp lực; nồng độ hoá chất, hơi khí độc; trạng thái rung động của thiết bị, máy móc.

    + Nội dung khảo sát, đo đạc: áp dụng hai phương pháp khảo sát trên, đánh giá nguy cơ xuất hiện và tác động của 5 nhóm yếu tố nguy hiểm đối với từng đối tượng khảo sát như đã được xác định. Các kết quả đánh giá từng đối tượng theo 5 loại chỉ thị an toàn được mã hoá dưới dạng chỉ số “0” và “1” với ý nghĩa:

    “0” – không đảm bảo an toàn (chỉ thị là không hoặc có nhưng không đảm bảo an toàn; “1” – đảm bảo an toàn (chỉ thị là có và đảm bảo an toàn).

    + Mối quan hệ giữa bậc điểm và mã chỉ thị an toàn: bậc điểm là 5 khi tất cả 5 chỉ thị đều là “1”; bậc điểm là 4 khi có 4 chỉ thị là “1”; bậc điểm là 3 khi tối thiểu 2/4 chỉ thị là “1”, và trong đó có ít nhất chỉ thị (1) và (2) phải là “1”; bậc điểm là 2 khi chỉ thị (1) và (2) đều là “0”, và một trong hai chỉ thị còn lại phải là “1”; hoặc một trong hai chỉ thị (1) và (2) là “1”, các chỉ thị khác còn lại đều là “0”; và bậc điểm là 1 khi tất cả 4 chỉ thị đều là “0”.

    – Xử lý kết quả, số liệu khảo sát: dựa trên bản chất của an toàn là sự tồn tại những rủi ro có thể chấp nhận được và để khả thi trong việc áp dụng phương pháp quản lý an toàn sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm, Bộ chương trình phần mềm “Quản lý kiểm soát AT-VSLĐ và Môi trường – OSHEP_MM.01/06” đã phát triển một công cụ trợ giúp để xử lý các số liệu trong quá trình đánh giá an toàn sản xuất theo nguy cơ xuất hiện và tác động của các yếu tố nguy hiểm.

    Tóm lại, có thể nói “Giám sát an toàn sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm” là phương pháp đánh gía tình hình an toàn sản xuất theo nguy cơ rủi ro và việc áp dụng phương pháp này khá đơn giản, phù hợp đối với bất kỳ loại hình sản xuất nào, đồng thời không những cho phép đánh giá chung, tổng hợp tình hình an toàn của toàn bộ CSSX, mà còn có thể đánh giá mức độ an toàn của CSSX theo từng lĩnh vực cụ thể như: an toàn cơ học; an toàn điện; an toàn hoá chất v.v.. một cách định lượng (tỷ lệ phần trăm, chủng loại và số lượng máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… không đảm bảo an toàn) làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và biện pháp khắc phục, đảm bảo an toàn sản xuất một cách chủ động và phù hợp với tình hình thực tế của từng CSSX.

    nguồn: TS. TRIỆU QUỐC LỘC

    Viện N/c KHKT Bảo hộ lao động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vùng Nguy Hiểm Trong Sản Xuất Nhận Diện Yếu Tố Nguy Hiểm
  • Vai Trò Của Yếu Tố Thần Kì Trong “tấm Cám”
  • Nguồn Gốc Và Vai Trò Của Yếu Tố Thần Kì Trong Truyện Dân Gian
  • Khái Niệm Cơ Bản Thường Sử Dụng Trong Lĩnh Vực Công Nghệ Y Tế
  • Tổng Quan Về His, Ris, Pacs Và Một Số Khái Niệm Công Nghệ Y Tế
  • Khái Niệm Tự Kỷ Và Yếu Tố Làm Tăng Nguy Cơ Mắc Bệnh Tự Kỷ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Bệnh Rối Loạn Tự Kỷ Ở Trẻ Em
  • Bệnh Học Và Điều Trị Nội Khoa
  • Sốc Nhiễm Khuẩn Xảy Ra Khi Nào?
  • Chẩn Đoán, Điều Trị Sốc Nhiễm Trùng
  • Bệnh Lao Phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Tự kỷ là một rối loạn thuộc nhóm các rối loạn về phát triển nghiêm trọng còn được gọi là những rối loạn phổ tự kỷ, xuất hiện sớm trong thời thơ ấu, thường trước 3 tuổi. Mặc dù các triệu chứng và mức độ nặng của bệnh không hằng định, nhưng tất cả các rối loạn phổ tự kỷ đều ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và tương tác của trẻ với những người xung quanh.

    Số trẻ em được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ dường như đang tăng lên, mặc dù vẫn chưa rõ là do sự cải thiện trong khả năng phát hiện và báo cáo các trường hợp mắc tự kỷ hay do sự gia tăng thực sự số trường hợp mắc rối loạn này hoặc do kết hợp cả hai nguyên nhân.

    Hiện vẫn chưa có cách chữa khỏi hoàn toàn rối loạn tự kỷ, nhưng điều trị sớm và tích cực có thể tạo nên sự thay đổi lớn trong cuộc sống của nhiều trẻ mắc rối loạn này.

    Yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh tự kỷ?

    Tự kỷ ảnh hưởng đến trẻ em thuộc mọi chủng tộc và quốc gia, nhưng có một số yếu tố nhất định làm tăng nguy cơ mắc bệnh của trẻ, bao gồm:

    • Giới tính: Trẻ nam có nguy cơ phát triển rối loạn tự kỷ cao gấp 4-5 lần so với trẻ nữ.
    • Tiền sử gia đình: Những gia đình có một trẻ mắc tự kỷ sẽ tăng nguy cơ có một đứa con khác cũng mắc rối loạn này. Và cũng khá thường gặp tình huống cha mẹ hoặc người thân của trẻ mắc tự kỷ cũng có những vấn đề nhẹ về kỹ năng xã hội hoặc giao tiếp, hoặc có đôi chút hành vi thuộc tự kỷ.
    • Các rối loạn khác: Trẻ mắc một số tình trạng bệnh lý nhất định có nguy cơ mắc rối loạn tự kỷ cao hơn bình thường. Những tình trạng này gồm hội chứng nhiễm sắc thể X dễ gãy; những rối loạn di truyền ảnh hưởng sự phát triển trí tuệ; bệnh xơ cứng củ với biểu hiện gồm các khối u lành tính phát triển trong não; hội chứng Tourette; động kinh.
    • Tuổi bố mẹ: Dường như cũng có mối liên kết giữa rối loạn tự kỷ và tuổi của bố mẹ khi sinh con, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn để khẳng định mối liên kết này.

    Tài liệu tham khảo

    1. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/autism-spectrum-disorder/basics/definition/con-20021148
    2. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/autism-spectrum-disorder/basics/risk-factors/con-20021148

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Dấu Hiệu Bệnh Tự Kỷ Ở Người Lớn
  • Bệnh Tự Kỷ: Khái Niệm, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Phòng Ngừa
  • Định Nghĩa Mới Về Sepsis 3.0
  • Nhiễm Khuẩn Và Sốc Nhiễm Khuẩn
  • Viêm Khớp: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100