Công Ước Khung Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hợp Quốc 1992

--- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì? Hiệp Định Paris Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu Năm 2014 (Phần 1)
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì ?! Những Nguyên Nhân Và Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Chủ Yếu !
  • Đề Tài Đề Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu, Điểm Cao
  • “giắt Túi” Những Khái Niệm Nền Tảng Trong Quản Trị Cơ Sở Vật Chất Khách Sạn, Nhà Hàng
  • VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

    Các Bên của Công ước này,

    Thừa nhận rằng sự biến đổi của khí hậu Trái đất và những hiệu ứng nguy hại của nó là mối quan tâm chung của nhân loại,

    Lo lắng rằng những hoạt động của con người đã và đang làm tăng thực sự nồng độ các chất khí nhà kính trong khí quyển, bằng những sự tăng ấy đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tính trung bình, điều đó sẽ dẫn đến sự nóng lên thêm của bề mặt và khí quyển Trái đất và có thể ảnh hưởng có hại đến các hệ sinh thái tự nhiên và con người,

    Ghi nhận rằng phần lớn nhất phát thải các khí nhà kính toàn cầu trong lịch sử và hiện tại bắt nguồn từ các nước phát triển, rằng sự phát thải theo đầu người ở các nước đang phát triển còn tương đối thấp và rằng phần phát thải toàn cầu bắt nguồn từ các nước đang phát triển sẽ tăng để đáp ứng các nhu cầu phát triển và xã hội của mình,

    Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng trong các hệ sinh thái biển và đất liền của các bể hấp thụ và bể chứa các khí nhà kính,

    Ghi nhận rằng có nhiều sự không chắc chắn trong các dự báo về biến đổi khí hậu, đặc biệt với thời hạn, đại lượng và các sơ đồ khu vực của chúng,

    Thừa nhận rằng tính chất toàn cầu của sự biến đổi khí hậu đòi hỏi sự hợp tác rộng lớn nhất có thể được của tất cả các nước và sự tham gia của họ vào sự ứng phó quốc tế thích hợp và có hiệu quả, phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các khả năng tương ứng cùng các điều kiện kinh tế và xã hội của mỗi nước,

    Nhắc lại những điều khoản thích hợp của Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường của con người, đã được thông qua ở Stockholm vào ngày 16 tháng 6 năm 1972,

    Cùng nhắc lại rằng các quốc gia, phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc và những nguyên tắc của luật quốc tế, có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo các chính sách về môi trường và phát triển của mình và có trách nhiệm bảo đảm rằng các hoạt động trong phạm vi quyền tài phán hoặc kiểm soát của mình không gây ra tổn hại đối với môi trường của các nước khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn quyền tài phán quốc gia,

    Khẳng định lại nguyên tắc chủ quyền của các quốc gia trong hợp tác quốc tế để đối phó với biến đổi khí hậu,

    Nhận thức rằng các quốc gia cần phải ban hành luật môi trường có hiệu quả, rằng các tiêu chuẩn về môi trường, các mục tiêu quản lý và các ưu tiên cần phải phản ánh hoàn cảnh môi trường và phát triển mà những điều đó áp dụng vào, và rằng các tiêu chuẩn do một số nước áp dụng có thể không thích hợp và gây phí tổn kinh tế và xã hội không xác đáng cho các nước khác, đặc biệt các nước đang phát triển,

    Nhắc lại những điều khoản của Nghị quyết Đại hội đồng 44/228 ngày 22 tháng 12 năm 1989 về Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển, và các Nghị quyết 43/53 ngày 6 tháng 12 năm 1988, 44/207 ngày 22 tháng 12 năm 1989, 45/212 ngày 21 tháng 12 năm 1990 và 46/169 ngày 19 tháng 12 năm 1991 về bảo vệ khí hậu toàn cầu cho các thế hệ hiện nay và mai sau của nhân loại,

    Cũng nhắc lại các điều khoản của Nghị quyết Đại hội đồng 44/206 ngày 22 tháng 12 năm 1989 về những ảnh hưởng nguy hại có thể có của mực nước biển dâng đối với các đảo và các vùng ven bờ, đặc biệt các vùng thấp ven bờ và các điều khoản thích hợp của Nghị quyết Đại hội đồng 44/172 ngày 19 tháng 12 năm 1989 về việc thi hành kế hoạch hành động để chống sa mạc hóa,

    Nhắc lại nữa Công ước Vienna về Bảo vệ tầng ôzôn, 1985 và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, 1987, như đã được điều chỉnh và sửa đổi ngày 29 tháng 6 năm 1990,

    Ghi nhận tuyên bố cấp Bộ trưởng của Hội nghị về khí hậu thế giới lần thứ hai đã được thông qua ngày 7 tháng 11 năm 1990,

    Thấy rõ công tác phân tích có giá trị đang được nhiều quốc gia tiến hành về biến đổi khí hậu và những đóng góp quan trọng của Tổ chức Khí tượng Thế giới. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc và các cơ quan, các tổ chức và các Ban khác của hệ thống Liên hợp quốc, cũng như các Ban Liên Chính phủ và quốc tế khác đối với việc trao đổi các kết quả nghiên cứu khoa học và điều phối sự nghiên cứu,

    Nhận thấy rằng các bước cần thiết để hiểu các đối phó với biến đổi khí hậu sẽ có hiệu quả nhất về kinh tế, xã hội và môi trường nếu chúng ta dựa trên những xem xét kinh tế, kỹ thuật và khoa học thích hợp và được đánh giá là một cách liên tục căn cứ vào những phát hiện mới trong lĩnh vực này,

    Nhận thấy rằng các hành động khác nhau để đối phó với biến đổi khí hậu có thể tự chúng được biện minh về mặt kinh tế và cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề môi trường khác,

    Cũng nhận thấy sự cần thiết của các nước phát triển có hành động trực tiếp theo một phương pháp mềm dẻo trên cơ sở những ưu tiên rõ ràng, như là một bước đầu tiên tiến tới những chiến lược ứng phó toàn diện ở mức toàn cầu, quốc gia, và nơi được thỏa thuận ở mức khu vực mà có tính đến tất cả các khí nhà kính, có xem xét thích đáng đến những đóng góp tương xứng của chúng vào việc tăng cường hiệu ứng nhà kính,

    Nhận thấy nữa rằng các nước đất thấp và đảo nhỏ khác, các nước có ven bờ thấp, các vùng khô cằn và nửa khô cằn hoặc các vùng dễ bị lụt, hạn và sa mạc hóa, và các nước đang phát triển với các hệ sinh thái vùng núi mong manh là đặc biệt dễ bị những ảnh hưởng nguy hại của biến đổi khí hậu,

    Nhận thấy những khó khăn đặc biệt của những nước, nhất là các nước đang phát triển có các nền kinh tế đặc thù phụ thuộc vào việc sản xuất, sử dụng và xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch, do hậu quả của hành động được tiến hành nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính,

    Khẳng định rằng những ứng phó đối với biến đổi khí hậu phải được phối hợp với phát triển kinh tế và xã hội một cách tổng hợp nhằm tránh những tác động có hại cho sự phát triển này tính đến một cách đầy đủ những nhu cầu chính đáng cần được ưu tiên của các nước đang phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững và loại trừ nạn nghèo khổ,

    Nhận thấy rằng tất cả các nước, đặc biệt các nước đang phát triển có quyền sử dụng các tài nguyên cần thiết để đạt tới sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội và để các nước đang phát triển tiến tới mục tiêu đó, việc tiêu thụ năng lượng của họ sẽ tăng lên có tính đến những khả năng đạt tới hiệu suất năng lượng lớn hơn và kiểm soát sự phát thải khí nhà kính nói chung, bao gồm thông qua việc áp dụng các công nghệ mới với những điều kiện làm cho việc áp dụng đó có lợi về kinh tế và xã hội,

    Quyết tâm bảo vệ hệ thống khí hậu cho các thế hệ hiện nay và mai sau.

    ĐÃ ĐỒNG Ý NHƯ SAU: ĐIỀU 1: CÁC ĐỊNH NGHĨA *

    Nhằm những mục đích của Công ước này:

    1. “Những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu” nghĩa là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học do những biến đổi khí hậu gây những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người.

    2. “Biến đổi khí hậu” nghĩa là biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được.

    3. “Hệ thống khí hậu” là tổng thể của khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và địa quyển và những tương tác của chúng.

    4. “Những phát thải” là sự thải ra các khí nhà kính và/ hoặc các tiền khí nhà kính vào khí quyển trên một khu vực và thời kỳ nhất định.

    5. “Các khí nhà kính” là những thành phần của khí quyển, cả tự nhiên lẫn nhân tạo, mà hấp thụ và phát lại bức xạ hồng ngoại.

    7. “Bể chứa” là một hoặc các thành phần của hệ thống khí hậu tại đó một chất khí nhà kính hoặc một tiền khí nhà kính được thu giữ.

    8. “Bể hấp thụ” là bất kỳ quá trình, hoạt động hoặc cơ chế khử khí nhà kính, một son khí hoặc một tiền khí nhà kính ra khỏi khí quyển.

    9. “Nguồn” là bất kỳ quá trình hoặc hoạt động thải ra một khí nhà kính, một son khí hoặc một tiền khí nhà kính vào khí quyển.

    ĐIỀU 3: CÁC NGUYÊN TẮC

    Trong các hành động của mình nhằm đạt tới mục tiêu của Công ước và thi hành các điều khoản của Công ước, ngoài những cái khác, các Bên sẽ tuân theo những nguyên tắc sau:

    1. Các Bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hiện nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng và phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt phải đi đầu trong việc đấu tranh chống biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng có hại của nó.

    2. Cần phải xem xét đầy đủ những nhu cầu riêng và những hoàn cảnh đặc thù của các Bên nước đang phát triển, nhất là những nước đặc biệt dễ bị những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, và của các Bên, nhất là các Bên nước đang phát triển sẽ phải chịu gánh nặng bất thường hoặc không cân xứng theo Công ước.

    3. Các Bên phải thực hiện những biện pháp thận trọng để đoán trước, ngăn ngừa hoặc làm giảm những nguyên nhân của biến đổi khí hậu và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng có hại của nó. Ở những nơi có các mối đe dọa bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc không thể đảo ngược, việc thiếu sự chắc chắn đầy đủ về khoa học không được dùng làm lý do để trì hoãn những biện pháp ấy, lưu ý rằng các chính sách và biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu phải là chi phí có hiệu quả để đảm bảo những lợi ích toàn cầu ở mức phí tổn thấp nhất có thể được. Để đạt được mục tiêu đó, những chính sách và biện pháp như vậy phải tính đến những tình huống kinh tế xã hội khác nhau, phải toàn diện, bao trùm mọi nguồn, bể hấp thụ và bể chứa các khí nhà kính và sự thích ứng và bao gồm mọi lĩnh vực kinh tế. Những nỗ lực đối phó với biến đổi khí hậu có thể được thực hiện một cách hợp tác bởi các Bên quan tâm.

    4. Các Bên có quyền và phải đẩy mạnh sự phát triển bền vững. Những chính sách và biện pháp để bảo vệ hệ thống khí hậu chống lại sự biến đổi do con người gây nên phải thích hợp với những điều kiện riêng của mỗi Bên và phải được kết hợp với những chương trình phát triển quốc gia, lưu ý rằng sự phát triển kinh tế là cốt yếu với việc chấp nhận những biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu.

    5. Các Bên phải hợp tác để đẩy mạnh một hệ thống kinh tế quốc tế mở cửa và tương trợ, hệ thống này sẽ dẫn tới sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững ở tất cả các Bên, đặc biệt các Bên nước đang phát triển, như vậy làm cho họ có thể đối phó tốt hơn các vấn đề của biến đổi khí hậu. Các biện pháp dùng để chống lại sự biến đổi khí hậu, bao gồm các biện pháp đơn phương, không được tạo thành một phương tiện phân biệt đối xử tùy tiện hoặc không chính đáng hoặc một sự hạn chế trá hình về thương mại quốc tế.

    ĐIỀU 4: NHỮNG CAM KẾT

    1. Tất cả các Bên, có tính đến những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và những ưu tiên, những mục tiêu và những hoàn cảnh của sự phát triển của khu vực và quốc gia riêng của mình, sẽ:

    a) Phát triển, cập nhật, công bố theo định kỳ, và gửi cho Hội nghị của các Bên, phù hợp với Điều 12, các kiểm kê quốc gia về những phát thải từ các nguồn do con người gây ra và trừ khử bởi các bể hấp thụ đối với tất cả các khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal, dùng những phương pháp so sánh đã được nhất trí bởi Hội nghị các Bên;

    b) Thiết lập, thi hành, công bố và cập nhật thường kỳ các chương trình quốc gia và khi thích hợp, các chương trình khu vực chứa đựng những biện pháp làm giảm nhẹ biến đổi khí hậu bằng cách đối phó với những phát thải từ các nguồn do con người gây ra và sự trừ khử bởi các bể hấp thụ đối với các khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal và những biện pháp tạo điều kiện dễ dàng cho sự thích ứng đầy đủ đối với biến đổi khí hậu;

    c) Đẩy mạnh và hợp tác trong việc phát triển áp dụng và truyền bá, bao gồm chuyển giao công nghệ, thực hành và các quá trình kiểm tra, giảm bớt và ngăn ngừa sự phát thải do con người gây ra về các khí nhà kính không kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal trong mọi lĩnh vực thích hợp, bao gồm năng lượng, vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và lĩnh vực quản lý chất thải;

    d) Tăng cường quản lý bền vững, tăng cường và hợp tác trong việc bảo toàn và nâng cao, khi thích hợp các bể hấp thụ và bể chứa tất cả các khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal bao gồm sinh khối, rừng và các đại dương cũng như các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác;

    e) Hợp tác trong việc chuẩn bị cho sự thích ứng đối với các tác động của biến đổi khí hậu; phát triển và kiện toàn các kế hoạch tổng hợp và thích hợp cho quản lý vùng ven bờ, tài nguyên nước và nông nghiệp, và cho việc bảo vệ và phục hồi các khu vực, đặc biệt ở Châu Phi, bị ảnh hưởng bởi hạn và sa mạc hóa, cũng như lũ lụt;

    f) Tính đến những xem xét về biến đổi khí hậu, tới mức độ khả thi, trong các chính sách và hành động về môi trường và kinh tế, xã hội thích hợp của mình, và dùng những phương pháp thích hợp, ví dụ như đánh giá tác động, được thiết lập và xác định về mặt quốc gia, nhằm làm giảm những ảnh hưởng có hại đến kinh tế, đến sức khỏe của công chúng và đến chất lượng của môi trường, về các dự án hoặc biện pháp được thực hiện để giảm nhẹ hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu;

    2. Các Bên nước phát triển và các Bên khác bao gồm trong phụ lục I tự cam kết một cách đặc biệt theo như qui định sau đây:

    (a) Mỗi nước trong các Bên này sẽ chấp nhận các chính sách quốc gia và thực hiện các biện pháp tương ứng về giảm nhẹ sự biến đổi khí hậu, bằng cách giới hạn những phát thải các khí nhà kính do con người gây ra, bảo vệ và tăng cường các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính của mình. Những chính sách và biện pháp này sẽ chứng tỏ rằng các nước phát triển đang dẫn đầu trong việc làm thay đổi các xu thế dài hạn trong các phát thải do con người gây ra phù hợp với mục tiêu của Công ước, nhận thức rằng việc quay trở lại, vào cuối thập kỷ này, những mức trước đây của các phát thải do con người gây ra về đioxit cacbon và các khí nhà kính khác không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal sẽ góp phần cho sự làm thay đổi như vậy, và tính đến những sự khác biệt trong các điểm xuất phát và các định hướng, các cấu trúc kinh tế và các cơ sở tài nguyên của các Bên này, nhu cầu duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững và mạnh mẽ, các công nghệ hiện có và các hoàn cảnh riêng khác, cũng như nhu cầu về những đóng góp công bằng và thích hợp bởi mỗi một trong các Bên này cho sự nỗ lực toàn cầu đối với mục tiêu đó. Các Bên này có thể thi hành những chính sách và biện pháp như vậy cùng với các Bên khác và có thể giúp các Bên khác trong việc đóng góp để đạt tới mục tiêu của Công ước và, đặc biệt, của tiểu mục này:

    (c) Những tính toán về sự phát thải bởi các nguồn và sự trừ khử bởi các bể hấp thụ các khí nhà kính nhằm các mục đích của tiểu mục (b) nói trên phải tính đến kiến thức khoa học tốt nhất hiện có được, bao gồm khả năng hiệu quả của các bể hấp thụ và những đóng góp tương ứng của các khí như vậy đối với biến đổi khí hậu. Hội nghị của các Bên sẽ xem xét và nhất trí về các phương pháp của các tính toán đó tại khóa họp đầu tiên và duyệt lại chúng thường kỳ sau đó;

    (d) Tại khóa họp đầu tiên Hội nghị các Bên sẽ duyệt lại sự thích đáng của các tiểu mục (a) và (b) nói trên. Sự duyệt lại như vậy sẽ được thực hiện dưới ánh sáng của thông tin khoa học tốt nhất có được và đánh giá về biến đổi khí hậu và những tác động của nó, cũng như thông tin kỹ thuật, kinh tế và xã hội thích hợp. Dựa trên sự duyệt lại đó, Hội nghị các Bên sẽ thực hiện hành động thích hợp, có thể bao gồm việc chấp nhận những sửa đổi đối với các cam kết trong các tiểu mục (a) và (b) nói trên. Tại khóa họp đầu tiên, Hội nghị các Bên cũng sẽ có những quyết định về các chỉ tiêu để cùng thực hiện được định rõ trong tiểu mục (a) nói trên. Sự duyệt lại lần thứ hai các tiểu mục (a) và (b) sẽ được tiến hành không muộn hơn 31 tháng 12 năm 1998 và sau đó tại các khoảng thời gian đều đặn được xác định bởi Hội nghị các Bên, cho tới khi đạt được mục tiêu của Công ước;

    (e) Mỗi một trong các Bên này sẽ:

    (ii) Nhận rõ và duyệt lại theo định kỳ các chính sách và các thực hành của mình mà khuyến khích các hoạt động dẫn tới những mức phát thải do con người gây ra về các khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal lớn hơn là nếu như không có các chính sách và các thực hành ấy;

    (g) Một Bên bất kỳ không bao gồm trong Phụ lục I có thể, trong văn bản phê chuẩn, chấp thuận, tán thành hoặc gia nhập của mình, hoặc vào bất kỳ thời gian nào sau đó, thông báo cho Người lưu chiểu rằng mình dự định được ràng buộc bởi các tiểu mục (a) và (b) nói trên. Người lưu chiểu sẽ thông báo cho các Bên ký khác và các Bên một sự thay đổi bất kỳ nào như vậy.

    3. Các Bên nước phát triển và các Bên phát triển khác bao gồm trong Phụ lục II sẽ cung cấp các nguồn tài chính mới và bổ sung để đáp ứng toàn bộ chi phí đã nhất trí mà các Bên nước đang phát triển gánh chịu trong việc tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Điều 12, mục 1. Họ cũng sẽ cung cấp các nguồn tài chính như vậy, kể cả cho việc chuyển giao công nghệ, mà các Bên nước đang phát triển cần thiết để đáp ứng toàn bộ những chi phí tăng thêm đã được nhất trí của việc thi hành các biện pháp được bao hàm bởi mục 1 của Điều này và được đồng ý giữa các Bên nước đang phát triển và thực thể hoặc các thực thể quốc tế được nói tới trong Điều 11, phù hợp với Điều đó. Việc thi hành các cam kết này sẽ tính đến yêu cầu đối với sự thích đáng và khả năng dự đoán nguồn các quỹ và tầm quan trọng của gánh nặng thích hợp chia sẻ giữa các Bên nước phát triển.

    4. Các Bên nước phát triển và các bên phát triển khác bao gồm trong Phụ lục II cũng sẽ giúp các Bên nước đang phát triển, đặc biệt nước dễ bị ảnh hưởng nguy hại của biến đổi khí hậu trong việc đáp ứng các chi phí để thích ứng với các ảnh hưởng xấu đó.

    6. Trong việc thi hành các cam kết của minh theo mục 2 nói trên, một mức độ mềm dẻo nhất định sẽ được cho phép bởi Hội nghị các Bên đối với các Bên bao gồm trong Phụ lục I đang trải qua quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, để tăng cường khả năng của những Bên này đối phó với biến đổi khí hậu, bao gồm đối với mức trong lịch sử của những phát thải do con người gây ra về các khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal được chọn làm tham khảo.

    (a) Các nước đảo nhỏ;

    (b) Các nước với vùng thấp ven bờ;

    (c) Các nước với các vùng khô cằn và nửa khô cằn, các vùng rừng và các vùng dễ bị suy thoái rừng;

    (d) Các nước với các vùng dễ bị thiên tai;

    (e) Các nước với những vùng bị khô hạn và sa mạc hóa

    (f) Các nước với các vùng bị nhiễm bẩn khí quyển đô thị cao;

    (g) Các nước với các vùng có hệ sinh thái mỏng manh, bao gồm các hệ sinh thái miền núi;

    (h) Các ước có nền kinh tế phụ thuộc cao và thu nhập phát sinh từ việc sản xuất, chế biến và xuất khẩu, và/ hoặc vào việc tiêu thụ các nhiên liệu hóa thạch và các sản phẩm liên đới với năng lượng cao; và

    (i) Các nước đóng kín trong đất liền và chuyển tiếp.

    Hơn nữa Hội nghị các Bên có thể tiến hành các hành động, khi thích hợp, đối với mục này.

    10. Các Bên sẽ, phù hợp với Điều 10, trong việc thi hành các cam kết của Công ước, xem xét tình hình của các Bên, đặc biệt các Bên nước đang phát triển với những nền kinh tế dễ chịu những ảnh hưởng nguy hại của việc thi hành các biện pháp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này áp dụng đặc biệt đối với các Bên có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thu nhập nảy sinh từ việc sản xuất, chế biến và xuất khẩu: và/ hoặc việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch mà các Bên đó gặp những khó khăn nghiêm trọng trong việc chuyển sang các phương án thay thế.

    ĐIỀU 5: NGHIÊN CỨU VÀ QUAN TRẮC CÓ HỆ THỐNG

    Trong việc thực hiện các cam kết của mình theo Điều 4, mục 1 (g), các Bên sẽ:

    b) Ủng hộ các nỗ lực liên Chính phủ và quốc tế nhằm tăng cường quan trắc có hệ thống và các khả năng và năng lực nghiên cứu khoa học và kỹ thuật quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nhằm đẩy mạnh việc tăng thêm và sự trao đổi các số liệu, từ đó các phân tích thu được từ những vùng ngoài giới hạn của quyền tài phán quốc gia; và

    c) Tính đến những quan tâm và nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển và hợp tác trong việc cải tiến những khả năng và năng lực nội địa để tham gia vào những nỗ lực được nói tới trong các tiểu mục (a) và (b) ở trên.

    ĐIỀU 6: GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO VÀ NHẬN THỨC CỦA CÔNG CHÚNG

    Trong việc thực hiện những cam kết của minh theo Điều 4 mục 1 (i), các Bên sẽ:

    a) Đẩy mạnh và tạo điều kiện dễ dàng ở các mức quốc gia, và khi thích hợp, mức tiểu khu vực và khu vực, và phù hợp với các luật và các qui chế quốc gia, và trong phạm vi khả năng tương ứng của mình:

    i) Sự phát triển và thi hành các chương trình về giáo dục và về nhận thức của công chúng đối với biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó;

    ii) Công chúng có thêm thông tin về biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó;

    iii) Sự tham gia của công chúng vào việc đối phó với biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó và phát triển các ứng phó thích đáng; và

    iv) Đào tạo các cán bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý.

    (b) Hợp tác và đẩy mạnh, ở mức quốc tế, và nơi thích hợp, sử dụng các ban hiện có;

    i) Phát triển và trao đổi tài liệu về giáo dục và về nhận thức của công chúng đối với biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó; và

    ii) Phát triển và thi hành các chương trình giáo dục và đào tạo, bao gồm tăng cường các cơ quan quốc gia và sự trao đổi hoặc biệt phái các cán bộ để đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực này, đặc biệt cho các nước đang phát triển.

    ĐIỀU 7: HỘI NGHỊ CÁC BÊN

    1. Một Hội nghị các Bên được thiết lập theo Điều này.

    (a) Xem xét thường kỳ những nghĩa vụ của các Bên và các sắp xếp về tổ chức theo Công ước, dưới ánh sáng của mục tiêu của Công ước, kinh nghiệm thu được trong việc thi hành Công ước và sự tiến triển của kiến thức về khoa học và kỹ thuật;

    (b) Đẩy mạnh và tạo điều kiện dễ dàng trao đổi thông tin về các biện pháp được chấp thuận bởi các Bên để đối phó với biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó, có tính đến những hoàn cảnh trách nhiệm và năng lực khác nhau của các Bên và các cam kết tương ứng của các Bên theo Công ước;

    (c) Tạo điều kiện dễ dàng, theo yêu cầu của hai hay nhiều Bên, cho việc điều phối các biện pháp được họ tán thành để đối phó với biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó, có tính đến những hoàn cảnh, trách nhiệm và năng lực khác nhau, của các Bên và những cam kết tương ứng của họ theo Công ước;

    (d) Đẩy mạnh và hướng dẫn, phù hợp với mục tiêu và các điều khoản của Công ước, sự phát triển và sàng lọc thường kỳ các phương pháp so sánh được, đã được nhất trí bởi Hội nghị các Bên ngoài những điều khác, nhằm chuẩn bị những kiểm kê các phát thải khí nhà kính từ các nguồn và sự triệt khử bởi các bể hấp thụ và nhằm đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp nhằm hạn chế sự phát thải và tăng cường sự triệt khử các khí đó;

    (e) Đánh giá, trên cơ sở mọi thông tin có được sự phù hợp với những điều khoản của Công ước, việc thi hành Công ước bởi các Bên, những ảnh hưởng toàn diện của những biện pháp thực hiện theo Công ước, đặc biệt những ảnh hưởng kinh tế, xã hội và môi trường cũng như tác động tích lũy của chúng và mức độ của sự tiến tới mục tiêu của Công ước đang đạt được;

    (f) Xem xét và chấp thuận các báo cáo thường kỳ về việc thi hành Công ước và bảo đảm việc xuất bản;

    (g) Đưa ra các kiến nghị về những vấn đề bất kỳ cần thiết cho việc thi hành Công ước;

    (h) Tìm cách huy động các nguồn tài chính phù hợp với Điều 4, các mục 3, 4 và 5 và Điều 11;

    (i) Thiết lập các cơ quan bổ trợ khi cần thiết cho việc thi hành Công ước;

    (j) Duyệt lại các báo cáo do các cơ quan bổ trợ nộp và cung cấp hướng dẫn cho các cơ quan đó;

    (k) Đồng ý và chấp thuận bằng nhất trí các qui tắc và thủ tục và các qui tắc tài chính cho mình và cho các cơ quan bổ trợ bất kỳ;

    (l) Tìm tòi và sử dụng, khi nào thích hợp, những dịch vụ và sự hợp tác, và thông tin được cung cấp bởi các tổ chức quốc tế có thẩm quyền và các cơ quan liên chính phủ và phi chi phủ; và

    (m) Thực hiện những chức năng khác như được yêu cầu để đạt tới mục tiêu của Công ước cũng như tất cả các chức năng khác được giao cho nó theo Công ước.

    3. Tại khóa họp đầu tiên Hội nghị các Bên sẽ thông qua các qui tắc và thủ tục của mình cũng như những qui tắc và thủ tục của các cơ quan bổ trợ được thiết lập bởi Công ước, sẽ bao gồm các thủ tục đưa ra quyết định về các vấn đề chưa được bao hàm bởi các thủ tục ra quyết định được đặt ra trong Công ước. Các thủ tục như vậy có thể bao gồm đa số được định rõ cần thiết cho việc thông qua các quyết định đặc biệt.

    4. Khóa đầu tiên của Hội nghị các Bên sẽ được Ban thư ký lâm thời triệu tập, được đề cập tới trong Điều 21 và sẽ diễn ra không muộn hơn một năm sau ngày có hiệu lực của Công ước. Sau đó, các khóa thường kỳ của Hội nghị các Bên sẽ được tổ chức hàng năm trừ phi có quyết định khác của Hội nghị các Bên.

    6. Liên hợp quốc, các cơ quan chuyên môn của nó và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, cũng như các nước thành viên bất kỳ của nó hoặc các quan sát viên không phải một Bên của Công ước, có thể có đại diện tại các khóa họp của Hội nghị các Bên với tư cách là quan sát viên. Tổ chức hoặc cơ quan bất kỳ, dù là Quốc gia hay Quốc tế, Chính phủ hay phi Chính phủ, có trình độ về các vấn đề bao hàm bởi Công ước, khi đã báo cho Ban Thư ký mong muốn của mình được có đại diện tại khóa họp của Hội nghị các Bên như là một quan sát viên, có thể được phép trừ phi ít nhất một phần ba các Bên có mặt phản đối. Việc cho phép và tham gia của các quan sát viên sẽ tuân theo các qui tắc và thủ tục được Hội nghị các Bên thông qua.

    ĐIỀU 8: BAN THƯ KÝ

    1. Một Ban Thư ký được thiết lập theo Điều này.

    2. Các chức năng của Ban Thư ký sẽ là:

    (a) Sắp xếp cho các khóa họp của Hội nghị các Bên và các cơ quan bổ trợ của nó được thành lập theo Công ước và cung cấp các phục vụ cần thiết cho các khóa họp đó;

    (b) Tập hợp và chuyển các báo cáo đã được trình cho nó;

    (c) Tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ các Bên, đặc biệt các Bên nước đang phát triển, theo yêu cầu trong việc tập hợp và truyền thông tin cần thiết phù hợp với những điều khoản của Công ước;

    (d) Chuẩn bị các báo cáo về những hoạt động của mình và trình bày chúng với Hội nghị các Bên;

    (e) Bảo đảm sự phối hợp cần thiết với các Ban Thư ký của các cơ quan quốc tế khác thích hợp;

    (f) Theo chỉ dẫn tổng thể của Hội nghị các Bên, tiến hành những sắp xếp về hành chính và khế ước theo nhu cầu để thực thi có hiệu quả các chức năng của mình; và

    (g) Thực hiện các chức năng khác của Ban Thư ký được định rõ trong Công ước và trong các Nghị định thư bất kỳ của nó và những chức năng khác có thể được Hội nghị các Bên xác định.

    3. Hội nghị các Bên, tại khóa đầu tiên, sẽ chỉ định một Ban thư ký thường trực và tiến hành các sắp xếp cho nó hoạt động.

    2. Dưới sự chỉ đạo của Hội nghị các Bên, và theo các cơ quan quốc tế có thẩm quyền đang tồn tại, cơ quan này sẽ:

    (b) Chuẩn bị các đánh giá khoa học về ảnh hưởng của các biện pháp lấy từ việc thi hành Công ước;

    (c) Nhận biết các công nghệ mới, có hiệu quả và có tính chất kỹ xảo và bí quyết sản xuất và cố vấn về các cách và phương tiện đẩy mạnh sự phát triển và/ hoặc chuyển giao công nghệ như vậy;

    (e) Đáp ứng với các vấn đề khoa học, kỹ thuật và phương pháp mà Hội nghị các Bên và các cơ quan bổ trợ của nó có thể đặt ra cho cơ quan

    3. Các chức năng và điều khoản tham khảo của cơ quan này có thể được Hội nghị các Bên kiện toàn thêm.

    2. Theo hướng dẫn của Hội nghị các Bên, cơ quan này sẽ:

    (b) Xem xét thông tin được thông báo phù hợp với Điều 12, mục 2 để giúp Hội nghị các Bên thực hiện các xem xét lại theo yêu cầu Điều 4, mục 2 (d); và

    (c) Giúp Hội nghị các Bên, khi thích hợp, trong việc chuẩn bị và thi hành các quyết định của nó.

    2. Cơ chế tài chính sẽ có sự đại diện công bằng và cân đối của tất cả các Bên trong một hệ thống quản trị minh bạch.

    3. Hội nghị các Bên và một hay nhiều thực thể được giao phó việc điều hành cơ chế tài chính sẽ đồng ý về các sắp xếp cho các mục tiêu có hiệu quả, sẽ bao gồm những điều sau đây:

    4. Hội nghị các Bên sẽ có những thu xếp để thi hành cho điều khoản nói trên tại khóa họp đầu tiên của nó, duyệt lại và lưu ý tới những sắp xếp tạm thời được nói tới trong Điều 21, mục 3, và sẽ quyết định liệu các sắp xếp tạm thời đó có được duy trì hay không. Trong vòng bốn năm sau đó, Hội nghị các Bên sẽ duyệt lại cơ chế tài chính và thực hiện những biện pháp thích hợp.

    ĐIỀU 12: TRUYỀN ĐẠT THÔNG TIN LIÊN QUAN VỚI VIỆC THI HÀNH

    1. Phù hợp với Điều 4, mục 1, mỗi Bên sẽ truyền đạt tới Hội nghị các Bên, qua Ban Thư ký, các yếu tố thông tin sau đây:

    (a) Kiểm kê quốc gia về những phát thải do con người gây ra bởi các nguồn và sự trừ khử bởi các bể hấp thụ mọi khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal tới mức khả năng cho phép, sử dụng các phương pháp có thể so sánh được đã được tăng cường và nhất trí bởi Hội nghị các Bên;

    (b) Mô tả tổng quát về các bước đã được tiến hành hoặc dự kiến bởi Bên thi hành Công ước; và

    (c) Thông tin khác bất kỳ mà Bên đó coi là thích hợp cho việc đạt tới mục tiêu của Công ước và thích hợp để đưa vào truyền đạt, bao gồm, nếu có thể được, tài liệu thích hợp cho các tính toán những xu thế phát thải toàn cầu.

    2. Mỗi Bên nước phát triển và mỗi Bên khác bao gồm trong Phụ lục I sẽ đưa vào trong thông báo của mình các yếu tố thông tin sau:

    (a) Mô tả chi tiết về các chính sách và biện pháp Bên đó đã thông qua để thi hành cam kết của mình theo Điều 4, các mục 2 (a) và 2 (b); và;

    (b) Một đánh giá riêng về các ảnh hưởng mà các chính sách và biện pháp được nói tới trong tiểu mục (a) vừa nói ở trên sẽ gây ra những phát thải nhân tạo từ các nguồn và sự trừ khử bởi các bể hấp thụ của mình đối với các khí nhà kính trong thời kỳ nói tới trong Điều 4, mục 2 (a).

    3. Ngoài ra, mỗi Bên nước phát triển và mỗi Bên phát triển khác bao gồm trong Phụ lục II sẽ đưa ra các chi tiết các biện pháp thực hiện phù hợp với Điều 4, mục 3, 4 và 5.

    5. Mỗi Bên nước phát triển và mỗi Bên khác bao gồm trong Phụ lục I sẽ đưa ra thông báo ban đầu trong vòng sáu tháng kể từ khi bắt đầu có hiệu lực của Công ước đối với Bên đó. Mỗi Bên không trong danh sách đó sẽ đưa ra thông báo ban đầu trong vòng 3 năm kể từ khi bắt đầu có hiệu lực của Công ước đối với Bên đó, hoặc có hiệu lực của các nguồn tài chính phù hợp với Điều 4, mục 3. Các Bên thuộc các nước kém phát triển nhất có thể đưa ra thông báo ban đầu của mình tùy ý mình. Tần suất của các thông báo tiếp theo bởi tất cả các Bên sẽ được xác định bởi Hội nghị các Bên, lưu ý đến thời gian biểu có phân biệt đặt ra trong mục này.

    7. Từ khóa họp đầu tiên, Hội nghị các Bên sẽ thu xếp cho điều khoản đối với các Bên nước đang phát triển về giúp đỡ tài chính và kỹ thuật, theo yêu cầu, trong việc tập hợp và thông báo thông tin theo Điều này, cũng như trong việc nhận rõ những yêu cầu kỹ thuật và tài chính liên đới tới các dự án được đề xuất và các biện pháp ứng phó theo Điều 4. Sự giúp đỡ như vậy có thể được cung cấp bởi các Bên khác, bởi các Tổ chức quốc tế có thẩm quyền và bởi Ban Thư ký cung cấp khi thích hợp.

    8. Một nhóm các Bên bất kỳ có thể tuân theo những đường lối chỉ đạo được Hội nghị các Bên thông qua và theo thông báo trước cho Hội nghị các Bên, cùng nhau đưa ra thông tin về việc đó bao gồm thông tin về sự hoàn thành bởi mỗi một trong các Bên đó về các nghĩa vụ của riêng mình theo Công ước.

    9. Thông tin Ban Thư ký nhận được mà một Bên coi là bí mật, phù hợp với các tiêu chuẩn được Hội nghị các Bên thiết lập, sẽ được Ban Thư ký tập hợp để bảo vệ tính chất bí mật trước khi đưa cho bất kỳ các cơ quan nào tham dự vào việc truyền thông và duyệt lại thông tin.

    10. Tuân theo mục 9 ở trên và không có thành kiến gì đối với khả năng của bất kỳ Bên nào về việc công bố thông báo của mình vào bất cứ lúc nào, Ban Thư ký sẽ công bố các thông báo của các Bên, theo Điều này đồng thời với lúc chúng được đệ trình cho Hội nghị các Bên.

    (a) Đệ trình ý kiến bất đồng lên tòa án quốc tế và/ hoặc;

    (b) Phân xử của trọng tài theo các thủ tục được thông qua bởi Hội nghị các Bên ngay khi có thể thực thi được, trong một phụ lục về trọng tài.

    3. Một tuyên bố đưa ra theo mục 2 ở trên sẽ có hiệu lực cho tới khi hết hạn phù hợp với các điều khoản của nó hoặc cho tới 3 tháng sau khi thông báo bằng văn bản về việc hủy bỏ nó đã được lưu chiểu tại Người lưu chiểu.

    4. Một tuyên bố mới, một thông báo về việc hủy bỏ hoặc hết hạn của một tuyên bố sẽ hoàn toàn không có ảnh hưởng đến việc kiện tụng trong thời gian trước khi có Tòa án quốc tế hoặc Tòa án trọng tài, trừ phi các Bên bất đồng nhất trí theo cách khác.

    ĐIỀU 15: CÁC SỬA ĐỔI CÔNG ƯỚC

    1. Một Bên bất kỳ có thể đề xuất những sửa đổi đối với Công ước.

    2. Những sửa đổi đối với Công ước sẽ được thông qua tại khóa họp thường lệ của Hội nghị các Bên. Văn bản của sửa đổi bất kỳ đối với Công ước sẽ được Ban Thư ký Công ước thông báo tới các Bên và thông báo cho Người lưu chiểu biết.

    3. Các Bên sẽ hết sức cố gắng đạt tới thỏa thuận về đề nghị sửa đổi bất kỳ đối với Công ước bằng sự nhất trí. Nếu mọi nỗ lực đi đến nhất trí đã kiệt và không đạt tới sự thỏa thuận, cách cuối cùng là thỏa thuận sẽ được thông qua bởi đa số ba phần tư phiếu của các Bên có mặt và bỏ phiếu tại cuộc họp. Sửa đổi được thông qua sẽ được Ban Thư ký thông báo với Người lưu chiểu là người sẽ chuyển nó tới tất cả các Bên để họ chấp thuận.

    4. Các văn bản chấp thuận đối với một sửa đổi sẽ được lưu chiểu tại Người lưu chiểu. Một sửa đổi thông qua theo mục 3 nói trên sẽ có hiệu lực cho các Bên đã chấp thuận nó vào ngày thứ 90 sau ngày Người lưu chiểu nhận được một văn bản chấp thuận bởi ít nhất ba phần tư các Bên của Công ước.

    5. Sự sửa đổi sẽ có hiệu lực cho Bên bất kỳ nào khác vào ngày thứ 90 sau ngày của Bên đó gửi tới Người lưu chiểu văn bản chấp thuận của mình về sự sửa đổi ấy.

    ĐIỀU 16: THÔNG QUA VÀ SỬA ĐỔI CÁC PHỤ LỤC CỦA CÔNG ƯỚC

    1. Các phụ lục của Công ước sẽ lập thành một phần cấu thành của nó và trừ phi có giải trình khác, khi nói tới Công ước đồng thời cũng là nói tới các phụ lục bất kỳ của nó. Không thiệt hại gì cho các khoản mục của Điều 14, mục 2(b) và 7, những phụ lục như thế sẽ được giới hạn ở các danh sách, các mẫu và bất kỳ tài liệu nào khác có tính chất mô tả, tức là có tính chất khoa học, kỹ thuật, thủ tục hoặc hành chính.

    2. Các phụ lục của Công ước sẽ được đề xuất và thông qua phù hợp với thủ tục đặt ra ở Điều 15, mục 2, 3 và 4.

    3. Một phụ lục đã được thông qua phù hợp với mục 2 nói trên sẽ có hiệu lực cho tất cả các Bên của Công ước sáu tháng sau ngày mà Người lưu chiểu thông báo cho các Bên đó về việc thông qua phụ lục, trừ các Bên đã thông báo cho Người lưu chiểu bằng văn bản trong thời gian đó về việc họ không chấp thuận phụ lục ấy. Phụ lục sẽ có hiệu lực cho các Bên rút thông báo của họ về việc không chấp thuận vào ngày thứ 90 sau ngày Người lưu chiểu nhận được sự rút lui thông báo như vậy.

    4. Việc đề xuất, thông qua và có hiệu lực của các sửa đổi đối với các phụ lục của Công ước sẽ tuân theo cùng thủ tục như đối với việc đề xuất, thông qua và có hiệu lực của các phụ lục đối với Công ước phù hợp với các mục 2 và 3 nói trên.

    5. Nếu việc thông qua một phụ lục hoặc một sửa đổi đối với một phụ lục bao hàm một sự sửa đổi đối với Công ước, phụ lục đó hoặc sửa đổi đó đối với phụ lục sẽ không có hiệu lực cho tới khi sửa đổi đối với Công ước có hiệu lực.

    ĐIỀU 17: CÁC NGHỊ ĐỊNH THƯ

    1. Hội nghị các Bên có thể, tại khóa họp thường lệ bất kỳ thông qua các Nghị định thư đối với Công ước;

    2. Văn bản của bất kỳ Nghị định thư được đề nghị nào sẽ được Ban thư ký thông báo đến các Bên ít nhất sáu tháng trước khóa họp đó.

    3. Những yêu cầu cho việc có hiệu lực của Nghị định thư bất kỳ sẽ được thiết lập bởi văn bản đó.

    4. Chỉ các Bên của Công ước có thể là các Bên của Nghị định thư.

    2. Các tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực, trong các vấn đề nằm trong phạm vi thẩm quyền của mình, sẽ thực hiện quyền bỏ phiếu của mình với một số phiếu bằng số quốc gia thành viên của mình là các Bên của Công ước. Một tổ chức như vậy sẽ không thực hiện quyền bỏ phiếu của mình nếu các thành viên bất kỳ của nó thực hiện quyền của mình và ngược lại.

    ĐIỀU 19: NGƯỜI LƯU CHIỂU

    Tổng thư ký Liên hợp quốc sẽ là Người lưu chiểu của Công ước và của các Nghị định thư được thông qua Điều 17.

    ĐIỀU 20: KÝ

    Công ước này sẽ được mở để các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc hoặc của các cơ quan chuyên môn bất kỳ của nó hoặc các Bên của Đạo luật của Tòa án quốc tế và các tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực ký tại Rio de Janeiro, trong thời gian Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển, và sau đó tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York từ 20 tháng 6 năm 1992 đến 19 tháng 6 năm 1993.

    ĐIỀU 21: NHỮNG SẮP XẾP TẠM THỜI

    1. Các chức năng của Ban Thư ký nói tới trong Điều 8 sẽ được Ban thư ký thực hiện trên cơ sở lâm thời do Đại hội đồng Liên hợp quốc thành lập theo nghị quyết 45/212 ngày 21 tháng 12 năm 1990, cho tới khi hoàn thành khóa họp đầu tiên của Hội nghị các Bên.

    2. Người đứng đầu Ban Thư ký lâm thời nói tới trong mục 1 ở trên sẽ hợp tác chặt chẽ với Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu để đảm bảo rằng Ban này có thể đáp ứng yêu cầu về cố vấn khoa học và kỹ thuật khách quan. Các cơ quan khoa học thích hợp khác cũng có thể được hỏi ý kiến tư vấn.

    3. Quỹ Môi trường Toàn cầu của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc và Ngân hàng Quốc tế cho Tái thiết và Phát triển sẽ là thực thể quốc tế được giao phó việc điều hành cơ chế tài chính nói tới trong Điều 11 trên cơ sở lâm thời. Về phương diện này, Quỹ Môi trường Toàn cầu sẽ phải được cấu trúc lại một cách thích hợp và hội viên được phổ cập để nó có khả năng hoàn thành các yêu cầu của Điều 11.

    ĐIỀU 22: PHÊ CHUẨN, PHÊ DUYỆT, CHẤP THUẬN HOẶC GIA NHẬP

    1. Công ước sẽ được các quốc gia và các tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập. Nó sẽ được để ngỏ cho gia nhập từ sau ngày Công ước thôi cho ký. Các văn bản phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập sẽ được Người lưu chiểu lưu trữ.

    2. Tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực bất kỳ khi trở thành một Bên của Công ước mà không có quốc gia thành viên nào của nó là một Bên của Công ước sẽ bị ràng buộc bởi tất cả các nghĩa vụ theo Công ước. Trong trường hợp những tổ chức như vậy, một hoặc nhiều Quốc gia thành viên của nó là một Bên của Công ước, tổ cbức đó và các Quốc gia thành viên của nó sẽ quyết định về trách nhiệm tương ứng của họ trong việc thi hành các nghĩa vụ của mình theo Công ước. Trong những trường hợp như vậy, tổ chức đó và Quốc gia thành viên sẽ không có quyền thực hiện các quyền theo Công ước một cách đồng thời.

    3. Trong các văn bản phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập của mình, các tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực sẽ tuyên bố mức độ thẩm quyền của họ đối với các vấn đề bao trùm bởi Công ước. Các tổ chức này cũng báo cho Người lưu chiểu, người này, về phía mình, cũng sẽ thông báo cho các Bên về sửa đổi thực sự bất kỳ trong phạm vi thẩm quyền của họ.

    ĐIỀU 23: HIỆU LỰC THI HÀNH

    1. Công ước sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày thứ chín mươi sau ngày lưu trữ văn bản thứ năm mươi phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập.

    2. Đối với mỗi quốc gia hoặc tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực phê chuẩn, phê duyệt hoặc chấp thuận Công ước hoặc gia nhập nó sau khi lưu trữ văn bản thứ năm mươi phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập, Công ước sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày thứ chín mươi sau ngày Quốc gia đó hoặc tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực gửi lưu trữ văn bản của mình phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập.

    3. Đối với những mục đích của các mục 1 và 2 nói trên, văn bản bất kỳ được một tổ chức tổng hợp kinh tế khu vực gửi lưu trữ sẽ không được tính thêm vào những văn bản lưu trữ bởi các Quốc gia thành viên của tổ chức.

    ĐIỀU 24: CÁC BẢO LƯU

    Không được có bảo lưu nào đối với Công ước.

    ĐIỀU 25: XIN RA

    1. Vào bất kỳ lúc nào sau ba năm từ ngày Công ước bắt đầu có hiệu lực cho một Bên, Bên đó có thể xin ra khỏi Công ước bằng cách gửi văn bản thông báo cho Người lưu chiểu.

    2. Bất kỳ sự xin ra nào như vậy sẽ có hiệu lực sau một năm tính từ ngày Người lưu chiểu nhận được thông báo xin ra hoặc vào ngày muộn hơn như được xác định trong thông báo xin ra.

    3. Bên nào rút khỏi Công ước sẽ được coi như đã rút khỏi bất kỳ Nghị định thư mà nó là một Bên tham gia.

    ĐIỀU 26: CÁC VĂN BẢN GỐC

    Bản gốc của Công ước này, trong đó các văn bản bằng tiếng Ả Rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha đều là văn bản gốc như nhau, sẽ được lưu nộp cho Tổng thư ký Liên hợp quốc.

    Những người được ủy quyền đầy đủ đã chứng kiến và ký Công ước này.

    Làm tại New York ngày mồng chín tháng năm năm một nghìn chín trăm chín mươi hai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu
  • Khái Niệm Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Biến đổi khí hậu có thể hiểu đơn giản là sự thay đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học, gây ra những biến đổi về khí hậu, thời tiết,….Trước đây, hiện tượng này chỉ xảy ra ở một vài nơi và trong một khoảng thời gian nào đó. Tuy nhiên, do những tác động từ con người (phá rừng, làm gia tăng khí CO2,…) và các yếu tố tự nhiên (sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi vị trí của mảng lục địa,…) mà ngày nay hiện tượng này đã xuất hiện thường xuyên hơn trên phạm vi toàn cầu.

    Dao động khí hậu: Là sự dao động quanh giá trị trung bình của khí hậu trên quy mô thời gian và không gian, dài hơn so với hiện tượng thời tiết riêng lẻ. Ví dụ như hiện tượng hạn hán kéo dài, lũ lụt kéo dài,….

    Hiệu ứng nhà kính: Hiện tượng các bức xạ sóng ngắn của mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển và chiếu xuống mặt đất. Những bức xạ này được trái đất hấp thụ làm nhiệt độ trái đất ấm lên. Chúng phản xạ lại vào khí quyển một bức xạ sóng dài khiến bầu không khí nóng lên. Biểu hiện rõ nhất của hiện tượng này là sự nóng lên toàn cầu.

    Nước biển dâng: Hiện tượng nước biển dâng do biến đổi khí hậu là sự dâng lên của mực nước đại dương trên toàn cầu nhưng không phải do thủy triều hay bão. Nước biển dâng cao gây ra ngập lụt ở nhiều nơi. Thậm chí là một số nơi có nguy cơ sẽ bị nhấn chìm hoàn toàn.

    Những hệ lụy của quá trình biến đổi khí hậu gây ra không ít khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống của con người. Tuy nhiên, hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu cũng mang lại một số ý nghĩa tích cực đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Các nước đã biến những tiêu cực của hiện tượng này thành có hội để phát triển kinh tế như: Hà Lan – biến những giải pháp phòng chống biến đổi khí hậu để sinh lời; Việt Nam – nhờ vào chiến lược về biến đổi khí hậu để mở ra cơ hội hợp tác với các nước phát triển. Đồng thời, biến đổi khí hậu cũng thúc đẩy con người tìm kiếm, phát triển những công nghệ mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Cách Tính Chu Vi Hình Bình Hành
  • Công Thức, Cách Tính, Định Nghĩa
  • Bài Tập Phần Hình Bình Hành
  • Định Nghĩa, Tính Chất, Dấu Hiệu Nhận Biết Hình Bình Hành Là Gì ?
  • Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu Năm 2014 (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì ?! Những Nguyên Nhân Và Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Chủ Yếu !
  • Đề Tài Đề Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu, Điểm Cao
  • “giắt Túi” Những Khái Niệm Nền Tảng Trong Quản Trị Cơ Sở Vật Chất Khách Sạn, Nhà Hàng
  • Cơ Sở Vật Chất Kĩ Thuật Trong Du Lịch Là Gì? Vai Trò
  • Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Về Cơ Sở Vật Chất Kỹ Thuật Tại Nhà Hàng Luxury, Khách Sạn Luxury
  • Ngày 23/09/2014 vừa qua, đại diện của các quốc gia trên thế giới đã tập trung tại New York (Mỹ) để tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Đây được cho là hội nghị quy tụ đông đảo nhất các vị lãnh đạo của thế giới, kể từ Hội nghị các nước thành viên Công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 2009 tại Copenhagen (Đan Mạch), với gần 120 Tổng thống, Thủ tướng và nhiều lãnh đạo cấp cao các nước. Ngoài ra, còn có đông đảo các đại diện của giới khoa học, tài chính, doanh nghiệp, các nhà hoạt động môi trường và báo giới.

    Hội nghị nhằm tạo thêm động lực chính trị, thúc đẩy quá trình thương lượng trong khuôn khổ UNFCCC để đạt được thoả thuận pháp lý có ý nghĩa trong năm 2022 tại Hội nghị các nước thành viên UNFCCC tại Paris.

    Phát biểu khai mạc hội nghị, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cho biết, biến đổi khí hậu là “mối đe dọa hòa bình và thịnh vượng đối với hàng tỷ người”, “Hôm nay, chúng ta phải cam kết đưa thế giới đến một con đường mới “. Ông Ban Ki-moon còn nhấn mạnh: “Chúng ta không ở đây để nói chuyện. Chúng ta đang ở đây để làm nên lịch sử”.

    Biến đổi khí hậu là gì?

    Biến đổi khí hậu, theo định nghĩa của UNFCCC là sự biến đổi cơ bản của khí hậu được quy trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người, làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu; sự thay đổi này cộng thêm khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong các thời kì có thể so sánh được.

    Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, về nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu, 90% là do con người gây ra, 10% là do tự nhiên. Những tác động từ biến đổi khí hậu đã khiến nhiệt độ toàn cầu trong thế kỷ XX tăng 0,55°C và dự báo sẽ tiếp tục tăng từ 2-5°C trong thế kỷ XXI, kèm theo đó là những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và hậu quả nặng nề cho muôn loài, trong đó có con người.

    Các nghiên cứu cũng cho thấy mỗi năm biến đổi khí hậu có thể làm kinh tế thế giới tổn thất 1,2 nghìn tỷ USD; khiến hơn 4,5 tỷ người (khoảng 64% dân số toàn cầu) phải sống tại các khu vực có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan, như hạn hán, mưa lớn, lũ lụt, bão, lốc xoáy…

    Trước thềm Hội nghị

    Trước khi diễn ra hội nghị, ngày 22/9, khoảng 600.000 người ở khắp nơi trên thế giới đã xuống đường tuần hành nhằm chứng tỏ “quyền lực nhân dân”, với thông điệp thống nhất là kêu gọi thế giới hành động cụ thể chống biến đổi khí hậu, thực hiện những cam kết nghiêm túc về cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Đây được xem là sự kiện toàn cầu kêu gọi chống biến đổi khí hậu lớn nhất trong lịch sử.

    Những cam kết cụ thể tại Hội nghị

    Đáng chú ý, lần đầu tiên, Trung Quốc đã đưa ra cam kết hành động mạnh mẽ để giải quyết tình trạng biến đổi khí hậu, khi Phó Thủ tướng nước này, ông Trương Cao Lệ, phát biểu rằng Trung Quốc sẽ giới hạn lượng khí thải và cắt giảm khí thải sâu vào năm 2022.

    Trước đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu rằng, biến đổi khí hậu đã diễn tiến nhanh hơn so với những nỗ lực để giải quyết nó và Mỹ cùng Trung Quốc có một trách nhiệm đi đầu trong nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Ông cũng lên tiếng thúc giục lãnh đạo của các quốc gia khác trên thế giới nên theo gương Hoa Kỳ đi đầu tiến hành chiến lược năng lượng sạch và giảm phát thải. Cam kết cơ bản nhất mà ông đưa ra là tuyên bố Mỹ sẽ thiết lập một Kế hoạch cắt giảm khí thải sau năm 2022 vào đầu năm tới.

    Liên minh Châu Âu cho biết, 27 quốc gia thành viên của khối này sẽ cắt giảm khí nhà kính, dự kiến đến năm 2030 sẽ giảm 40% so với mức năm 1990. Khối này cũng kêu gọi sử dụng năng lượng sạch và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng khoảng 30%.

    Phát biểu tại phiên họp về tài chính trong khuôn khổ hội nghị, ông Ban Ki-moon bày tỏ sự hài lòng về hội nghị này và cho biết hàng tỉ USD đã được cam kết để hỗ trợ cho Quỹ Khí hậu Xanh, trong đó, Pháp và Đức mỗi nước cam kết 1 tỉ USD, Hàn Quốc 100 triệu USD và Mexico 10 triệu USD.

    Ngoài ra, hội nghị cũng chứng kiến nhiều cam kết tài chính đáng chú ý khác, như Liên minh Châu Âu cam kết 3 tỉ USD giúp các nước đang phát triển giảm tác hại của biến đổi khí hậu từ nay tới năm 2022; liên minh các chính phủ, các tổ chức tài chính, xã hội và doanh nghiệp công bố kế hoạch huy động 200 tỉ USD cho các hoạt động phát triển thân thiện với môi trường…

    Một số quan ngại

    Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có ý kiến cho rằng, không có nhiều chính quyền đưa ra các cam kết thực sự.

    Tổ chức Oxfam thì đánh giá những sáng kiến được đưa ra tại hội nghị là hữu ích, tuy nhiên, lại không có nhiều sáng kiến mang tính đột phá.

    Trong khi đó, Brazil, nơi chủ yếu rừng bị hủy hoại, lên tiếng cho biết nước này từ nay đến năm 2030 sẽ không ký thỏa thuận cam kết ngưng nạn phá rừng. Điều này phá hỏng thời hạn được hơn 150 quốc gia tham dự hội nghị đề ra là chấm dứt nạn phá rừng vào năm 2030.

    Chính phủ Mỹ quyết định không tham gia cùng 73 quốc gia khác trong kế hoạch đánh thuế các-bon vì Quốc hội Hoa Kỳ cho biết sẽ bác bỏ kế hoạch này. Cho đến đầu năm sau, nước Mỹ mới công bố mục tiêu phát thải mới.

    Trung Quốc dù có ký thỏa thuận về đánh thuế các-bon nhưng người đại diện của Bắc Kinh tại hội nghị là Phó thủ tướng Trương Cao Lệ lên tiếng than phiền rằng thế giới đối xử với những quốc gia đang phát triển, trong đó có Trung Quốc, theo cách khác hẳn với những quốc gia phát triển khi cho phép những nước phát triển thải nhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

    Về phía Việt Nam

    Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là tác động của nước biển dâng, do Việt Nam có đường bờ biển dài, dân cư tập trung đông tại các vùng đồng bằng ven biển và các hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên và lâm nghiệp.

    Phát biểu tại Hội nghị, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định, Việt Nam luôn ưu tiên đẩy mạnh các hoạt động đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam đã đề ra các định hướng giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt đã đặt mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính từ 8-10% so với năm 2010, giảm lượng tiêu hao năng lượng tính trên GDP từ 1-1,5%/năm.

    Đồng thời, Phó Thủ tướng kêu gọi các nước phát triển tăng cường thực hiện các cam kết theo Nghị định thư Kyoto, cung cấp tài chính và công nghệ tiên tiến cho các nước đang phát triển đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu.

    Nguồn:

    Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye:

    http://www1.psident.go.kr/psident/speech.php?srh=7412&srh[detail_no]=98 (bản tiếng Hàn)

    http://www.un.org/climatechange/summit/list-speakers/ (bản tiếng Anh)

    http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/ChinhTri/2014/9/1302B682E65BF2BA/ http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ScienceAndEnvironment/un-climate-smit-in-ny-crit-point-fig-red-emis-gm-09302014082347.html http://www.baomoi.com/Khai-mac-Hoi-nghi-thuong-dinh-LHQ-ve-bien-doi-khi-hau/119/14887544.epi http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=10094&cn_id=676377 http://www.moitruong.com.vn/Home/Default.aspx?portalid=33&tabid=19&distid=21769

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì? Hiệp Định Paris Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Công Ước Khung Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hợp Quốc 1992
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Công Ước Khung Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hợp Quốc 1992
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì? Hiệp Định Paris Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu Năm 2014 (Phần 1)
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì ?! Những Nguyên Nhân Và Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Chủ Yếu !
  • Sự thay đổi khí hậu ở một địa điểm nào đó trong khoảng thời gian xác định được gọi là biến đổi khí hậu. Hiện tượng này xảy ra do một số yếu tố như: sự thay đổi cường độ sáng của mặt trời, núi lửa, sự thay đổi quỹ đạo của trái đất,….Ngày nay, do các tác động của con người đối với môi trường, cụ thể là phá rừng và thải ra các chất thải độc hại khiến hiện tượng này xảy ra trên toàn cầu. Người ta gọi đó là hiện biến đổi khí hậu toàn cầu hay hiện tượng nóng lên toàn cầu.

    Hiệu ứng nhà kính: Có thể hiểu là hiện tượng các tia bức xạ của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển, chiếu trực tiếp lên mặt đất, khí CO2 và hơi nước trên mặt đất hấp thụ các tia này, làm không khí nóng lên. Đây là nguyên nhân khiến nhiệt đồ toàn cầu ngày một tăng cao.

    Nước biển dâng: Là hiện tượng nước biển dâng cao do băng tan ở hai cực trái đất – Một hệ quả của hiện tượng trái đất nóng dần lên. Nước biển dâng quá cao có thể khiến mất đi vĩnh viễn một phần của lục địa.

    Dao động khí hậu: Là hiện tượng biến đổi của khí hậu có tính hệ thống, xảy ra thường xuyên hoặc không thường xuyên ở từng giai đoạn.

    Bên cạnh những tác hại mà biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra cho đời sống con người, hiện tượng này cũng mạng lại không ít ý nghĩa tích cực cho các quốc gia trên thế giới. Biến đổi khí hậu tạo nên những sự hợp tác, chuyển giao công nghệ giữa các nước, là cơ hội để những nước nghèo và đang phát triển tiếp thu công nghệ từ những nước phát triển. Biến đổi khí hậu cũng là lý do để thúc đẩy con người tìm kiếm, phát minh ra những sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây ô nhiễm. Không những thế, Hà Lan còn biến các giải pháp phòng chống biến đổi khí hậu thành một ngành kinh doanh sinh lời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu
  • Khái Niệm Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Tổng Quan Về Khí Hậu & Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Sở Hạ Tầng Vật Chất Kỹ Thuật Trong Du Lịch
  • Công Tác Quản Trị Cơ Sở Vật Chất Kỹ Thuật Tại Bộ Phận Buồng Của Khách San Bamboo Green Central
  • ” Cơ Sở Vật Chất Kỹ Thuật Là Gì, Cơ Sở Vật Chất
  • Cường Độ Dòng Điện Là Gì? – Ký Hiệu, Công Thức Tính
  • Cường Độ Dòng Điện Và Những Vấn Đề Cơ Bản Xoay Quanh Nó
  • 1.1 Thời tiết và khí hậu

    1.1.1 Định nghĩa thời tiết và khí hậu

    Hàng ngày chúng ta thường nghe các bản tin “dự báo thời tiết” trên đài phát thanh hoặc truyền hình, chẳng hạn, do ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường, đêm nay và ngày mai trời trở rét, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 12-14 độ C,…; hoặc chiều hôm qua một trận mưa lớn kéo dài chừng ba tiếng đồng hồ đã xảy ra ở Hà Nội gây ngập úng trên nhiều tuyến phố; v.v.Chúng ta cũng thường đọc hoặc nghe nói Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với miền Bắc có mùa đông lạnh,…; hoặc một đặc điểm quan trọng của khí hậukhu vực Hà Nội là sự tương phản sâu sắc về nhiệt độ giữa mùa nóng và mùa lạnh: về mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,0 độ C, cao nhất có thể lên tới trên 42,0 độ C, trong khi nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16,6 độ C, thấp nhất có thể xuống tới dưới 3,0 độ C. Vậy, thời tiết là gì, khí hậu là gì, và chúng khác nhau ở chỗ nào, chúng có mối liên hệ gì với nhau không? Ta sẽ làm rõ những vấn đề này thông qua các định nghĩa và khái niệm sau.

    Thời tiếtl à trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể, được đặc trưng bởi các đại lượng đo được, như nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa,… hoặc các hiện tượng quan trắc được, như sương mù, dông, mưa, nắng,…

    Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trưng bởi các giá trị trung bình thống kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố và hiện tượng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm. Một cách đơn giản, có thể hiểu khí hậu là trạng thái trung bình và những cực trị của thời tiết được xác định trên một khoảng thời gian đủ dài ở một nơi nào đó.

    Như vậy, trong khi thời tiết chỉ trạng thái vật lý tức thời của khí quyển ở một nơi nào đó thìkhí hậu là khái niệm dùng để mô tả khái quát mọi khả năng có thể xảy ra của thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài của nơi đó. Khí quyển được đặc trưng bởi những dao động ngẫu nhiên diễn ra khá nhanh theo thời gian và không gian. Do đó thời tiết biến đổi một cách liên tục. Còn khí hậu được xem là trạng thái thời tiết trung bình, được tổng hợp lại từ các yếu tố hợp thành nó thông qua một vài giới hạn có thể biến đổi được và từ những thông tin về sự xuất hiện các sự kiện cực trị. Một cách hình tượng hóa, có thể ví khí hậunhư một cái bọc mà bên trong nó bao hàm mọi khả năng xảy ra của thời tiết. Do đó, các yếu tố và hiện tượng xác định thời tiết, như nhiệt độ, lượng mưa, tốc độ và hướng gió, v.v. cũng chính là các yếu tố và hiện tượng dùng để mô tả khí hậu.

    Ta có thể nói thời tiết tại một thời điểm (ví dụ, bây giờ trời đang mưa), của một ngày (ví dụ,hôm qua sương mù dày đặc), của tuần, thậm chí của một hoặc vài năm (ví dụ, thời tiếtnăm nay có nhiều sự kiện bất thường hơn năm ngoái), nhưng ta không thể nói khí hậu của một ngày, một tháng hoặc một năm nào đó. Chẳng hạn, có thể nói thời tiết năm 2000 nhưng không thể nói khí hậu năm 2000!

    Thường có sự nhầm lẫn cơ bản giữa thời tiếtvà khí hậuthể hiện qua việc nhiều người hay đặt câu hỏi: tại sao có thể dự báo khí hậutrong nhiều năm tới trong khi không thể dự báo thời tiếtcho vài tuần tiếp theo? Bản chất dễ thay đổi của khí quyển làm nó không thể duy trì trạng thái cân bằng (hệ thống thời tiết) trong một thời gian dài hơn hai tuần nên ta không thể dự báo thời tiết (của một ngày cụ thể nào đó) với hạn dự báo vượt quá hai tuần. Còn dự báo khí hậu là dự báo điều kiện trung bình của thời tiết trong một thời đoạn dài dựa vào sự thay đổi của các thành phần khí quyển và các nhân tố khác, là một vấn đề khác hẳn. Có thể lấy ví dụ, hầu như ta không thể dự đoán được tuổi thọ của một thanh niên cụ thể nào đó, nhưng lại có thể nói với độ chính xác cao về tuổi thọ trung bình của người dân trong một nước. Hiểu theo nghĩa đơn giản, dự báo khí hậu tương tự như việc ước tính tuổi thọ trung bình của người dân một nước, còn dự báo thời tiết giống như việc dự đoán tuổi thọ của một thanh niên.

    1.1.2 Qui mô không gian, thời gian và các dạng thời tiết, khí hậu

    Thời tiết và khí hậu được xác định trên mọi qui mô không gian, từ vài chục mét đến hàng nghìn kilômét, thậm chí toàn cầu. Ví dụ, ở qui mô nhỏ người ta có thể dự báo thời tiết cho một vùng biển mà ở đó đang tổ chức đua thuyển buồn, có thể xác định điều kiện khí hậutrong các nhà máy, phân xưởng cho mục đích định mức bảo hộ lao động; ở qui mô lớn hơn, ta có thể theo dõi được quá trình hình thành, phát triển và tan rã của một cơn bão trong dự báo thời tiết, hoặc phân vùng và xác định các đặc điểm khí hậu cho một khu vực trên Trái đất.

    Tuy nhiên, do tính chất linh động của khí quyển, thời tiết luôn thay đổi từ thời điểm này đến thời điểm khác. Phụ thuộc vào bản chất của từng hiện tượng mà qui mô thời gian của thời tiết có thể kéo dài từ một vài giờ (thậm chí ngắn hơn nữa) đến tối đa khoảng hai tuần. Ví dụ, một đám mây dông tồn tại, từ lúc xuất hiện đến lúc tan đi, có thể chỉ trong khoảng nửa giờ đến một vài giờ, nhưng các hệ thống qui mô lớn, như sự di chuyển của một khối không khí lạnh, có thể kéo dài trên dưới mười ngày.

    Khác với thời tiết, khí hậu có tính ổn định tương đối. Theo nghĩa là trung bình của thời tiết có thể hiểu khí hậu là trạng thái “nền” (có tính ổn định) của khí quyển ở một nơi nào đó màthời tiết chính là những nhiễu động tức thời của khí quyển xung quanh trạng thái nền này. Nhưng khí hậu không phải là không biến đổi. Sự biến đổi của khí hậu chỉ có thể được nhận thấy sau một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng thập kỷ.

    1.2 Hệ thống khí hậu

    1.2.1 Định nghĩa hệ thống khí hậu

    Theo IPCC, hệ thống khí hậu là một hệ rất phức tạp bao gồm năm thành phần chính là khí quyển, thủy quyển, băng quyển, bề mặt đất và sinh quyển, và sự tương tác giữa chúng (hình 1.1). Mặc dù các thành phần này rất khác nhau về cấu trúc và thành phần cấu tạo, về các thuộc tính vật lý và các thuộc tính khác, chúng được liên kết với nhau thông qua các dòng khối lượng, dòng năng lượng và động lượng, tạo nên một thể thống nhất rộng lớn. Hệ thống khí hậu tiến hóa theo thời gian dưới tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài.

    Các nhân tố bên trong chi phối hệ thống khí hậu bao gồm các thuộc tính của khí quyển như thành phần cấu tạo, tính chất ổn định, hoàn lưu khí quyển, và các đặc tính địa phương, như khoảng cách xa biển hay độ lục địa, độ cao địa hình, điều kiện tự nhiên của bề mặt đất, lớp phủ thực vật cũng như trạng thái gần các hồ ao, v.v.

    Khí quyển là thành phần bất ổn định và linh động nhất của hệ thống khí hậu. Khí quyển bao gồm các chất khí, hơi nước, mây, xon khí, và các thành phần vật chất khác. Khí quyển có ảnh hưởng đến sự truyền bức xạ mặt trời và bức xạ Trái đất. Sự chuyển động của khí quyển, qua đó là sự di chuyển của các khối khí, đóng vai trò quan trọng trong sự vận chuyển và phân bố lại năng lượng bức xạ giữa các vùng trên Trái đất. Quá trình này bị chi phối bởi các nhân tố mang tính địa phương như độ cao địa hình, tính chất bề mặt, và do đó góp phần quyết định điều kiện khí hậu của các vùng.

    Hình 1.1: Sơ đồ mô tả các thành phần của hệ thống khí hậu và những mối tương tác giữa chúng (Nguồn IPCC, 2007)

    Các nhân tố bên ngoài tác động đến hệ thống khí hậu bao gồm bức xạ mặt trời, tính chất hình cầu của Trái đất, chuyển động của Trái đất xung quanh mặt trời và sự quay quanh trục của nó, sự tồn tại của lục địa và đại dương, cũng như những tác động do con người làm thay đổi các thành phần khí quyển, biến đổi sử dụng đất.

    Nguồn năng lượng cung cấp cho hệ thống khí hậu chủ yếu là bức xạ mặt trời. Mặt trời là một trong khoảng 1011 ngôi sao trong hệ ngân hà Milky Way của chúng ta. Nhiệt độ phát xạ của mặt trời vào khoảng 6000 độ K (khoảng 5727 độ C). Do đó bức xạ mặt trời chủ yếu là bức xạ sóng ngắn với khoảng 99% nằm trong phổ bước sóng ánh sáng (0,4-0,7mm). Tính trung bình, lượng bức xạ mặt trời đến tại đỉnh khí quyển vào khoảng 342 W/m2 (hình 1.2) trong quá trình truyền qua lớp khí quyển để đến được bề mặt Trái đất nó đã bị phản xạ lại không trung khoảng 30% (107 W/m2). Phần còn lại bị hấp thụ bởi khí quyển (67 W/m2) và bề mặt Trái đất (168 W/m2). Khí quyển và bề mặt Trái đất sau khi được đốt nóng bởi bức xạ mặt trời sẽ ấm lên và phát xạ trở lại không trung. Do nhiệt độ của hệ thống Trái đất – khí quyển nhỏ hơn rất nhiều (vào khoảng 288 độ K, tương đương 15 độ C) nên bức xạ phát xạ của Trái đất là bức xạ sóng dài.

    Tuy nhiên, do Trái đất chuyển động xung quanh mặt trời theo quĩ đạo ellip với tốc độ một vòng trong một năm mà mặt trời nằm ở một trong hai tiêu điểm (hình 1.3), đồng thời trục quay của Trái đất nằm nghiêng một góc so với mặt phẳng quĩ đạo nên lượng bức xạ mặt trời đến tại đỉnh khí quyển cũng biến thiên theo thời gian trong năm và ở các nơi khác nhau của Trái đất cũng nhận được lượng bức xạ mặt trời khác nhau tùy thuộc vào vĩ độ địa lí. Ngoài ra, do sự khác nhau về khả năng hấp thụ và phản xạ bức xạ mặt trời giữa bề mặt đất và bề mặt nước nên sự phân bố không đồng đều của lục địa và đại dương cũng là nhân tố gây nên sự khác biệt trong sự phân bố năng lượng bức xạ mặt trời nhận được.

    Hoạt động sống của con người có thể làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển, làm biến đổi đất sử dụng gây nên sự biến đổi albedo, tính chất lớp phủ bề mặt, v.v. cũng được xem là nhân tố bên ngoài tác động đến hệ thống khí hậu.

    Hình 1.2: Sơ đồ mô tả sự truyền bức xạ và các dòng năng lượng trong hệ thống khí hậu (Nguồn IPCC, 2007)

     

    Hình 1.3: Sơ đồ mô tả sự chuyển động của Trái đất xung quanh mặt trời

    1.2.2 Các thành phần của hệ thống khí hậu

    1) Khí quyển: Khí quyển là thành phần quan trọng nhất của hệ thống khí hậu. Khí quyển có khối lượng khoảng 5,14 ´1018 kg, nhỏ hơn so với khối lượng của đại dương (1,39 ´1021 kg) và khối lượng của Trái đất thuần (5,98 ´1024 kg). Thành phần cấu tạo của không khí khô chủ yếu là Nitơ (N2, chiếm 78,1%), Ôxy (O2, chiếm 20,9%) và Acgon (Ar, chiếm 0,93%). Khoảng dưới 1% khối lượng khí quyển là các chất khí có vai trò quan trọng đối với sự hấp thụ và phát xạ năng lượng bức xạ. Những khí này bao gồm hơi nước (khoảng 3,3 ´10-3tổng khối lượng khí quyển), điôxit cacbon (CO2 – khoảng 5,3´10-7), ôzôn (O3 – khoảng 6,42 ´10-7) và các chất khí khác như mêtan (CH4), oxit nitơ (N2O), v.v. Khoảng 99% khối lượng khí quyển nằm trong lớp vài chục km tính từ bề mặt, nên quan trọng nhất đối với khí hậu là lớp khí quyển tầng thấp.Dựa trên sự phân bố nhiệt độ theo phương thẳng đứng khí quyển Trái đất có thể được chia thành bốn tầng chính (hình 1.4). Dưới cùng là tầng đối lưu trong đó nhiệt độ giảm theo độ cao do càng xa bề mặt khí quyển càng ít bị đốt nóng bởi bức xạ nhiệt từ bề mặt. Phía trên tầng đối lưu là tầng bình lưu ở đó nhiệt độ tăng theo độ cao do trên đỉnh tầng bình lưu tồn tại tầng ôzôn có khả năng hấp thụ bức xạ sóng ngắn của mặt trời. Tiếp đến là tầng trung quyển có nhiệt độ giảm theo độ cao, và ngoài cùng là tầng nhiệt quyển trong đó nhiệt độ tăng theo độ cao. Sự tăng nhiệt độ theo độ cao ở tầng nhiệt quyển là do các quá trình ion hóa và quang hóa các phân tử ôxy và nitơ bởi bức xạ mặt trời.

    Độ ẩm không khí đặc trưng cho lượng hơi nước chứa trong khí quyển. Khí quyển nhận nước từ bề mặt thông qua bốc thoát hơi và cung cấp lại nước cho bề mặt thông qua giáng thủy. Nước chảy từ đất liền ra biển qua các con sông được mang trở lại đất liền nhờ quá trình vận chuyển hơi nước trong khí quyển. Hơi nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phản xạ bức xạ mặt trời và làm giảm phát xạ bức xạ hồng ngoại của Trái đất.

    Hình 1.4: Các tầng chính của khí quyển xác định theo sự phân bố nhiệt độ thẳng đứng tại 150N trong điều kiện trung bình năm (Nguồn: Dennis L. Hartmann, 1994)

    2) Thủy quyển và đại dương thế giới: Khí quyển chỉ chứa một lượng nước rất nhỏ so với tổng lượng nước của hệ thống khí hậu – khoảng 1/105. Hầu hết nước trên bề mặt Trái đất chứa trong các đại dương và các tảng băng. Tổng lượng nước của Trái đất vào khoảng 1,35´109 km3, trong đó khoảng 97% là nước biển. Vì tất cả các đại dương hầu như liên thông với nhau nên có thể gọi đó là đại dương thế giới. Đại dương thế giới là một thành phần cơ bản của hệ thống khí hậu. Đại dương bao phủ khoảng 71% bề mặt Trái đất. Độ sâu trung bình của đại dương thế giới là 3729 m. Đại dương có khả năng dự trữ và giải phóng nhiệt vô cùng lớn, trên các qui mô thời gian từ mùa đến hàng thế kỷ. Đại dương thế giới đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển năng lượng từ xích đạo về các vùng cực để sưởi ấm các vùng này và làm mát vùng xích đạo. Đại dương thế giới cũng là kho dự trữ nước để cung cấp hơi nước cho khí quyển tạo thành giáng thủy rơi xuống bề mặt nói chung và các vùng lục địa nói riêng. Đại dương cũng đóng vai trò trong việc xác định thành phần khí quyển thông qua sự trao đổi khí và các hạt bụi qua mặt đất phân cách đại dương -khí quyển, phân huỷ CO2 trong khí quyển và tạo ra O2, tham gia vào các chu trình hoá học quan trọng khác làm điều hoà môi trường bề mặt Trái đất.

    3) Băng quyển: Băng quyển bao gồm các khối băng và tuyết lớn trên bề mặt Trái đất. Khoảng 2% lượng nước trên Trái đất bị đóng băng và khoảng 80% lượng nước đóng băng này là nước ngọt. Hầu hết khối lượng băng toàn cầu nằm ở Nam cực (89%) và Băng đảo (Greenland, 8,6%). Đối với khí hậu khối lượng của băng không phải là quan trọng nhất, mà quan trọng hơn là diện tích bề mặt phủ của băng, vì bề mặt băng phản xạ bức xạ mặt trời rất hiệu quả. Băng biển có thể tạo thành lớp cách ly tốt, làm cho nhiệt độ không khí khác xa nhiệt độ nước biển phía dưới băng. Hiện nay lớp băng vĩnh cửu chiếm khoảng 11% diện tích đất liền và 7% diện tích đại dương. Diện tích bề mặt bị phủ bởi băng, tuyết biến đổi theo mùa và cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết hàng năm.

    4) Sinh quyển: Sinh quyển bao gồm các hệ động vật, thực vật trên mặt đất và trong các đại d­ương. Sinh quyển là một thành phần quan trọng của hệ thống khí hậu. Thực vật làm thay đổi độ gồ ghề, albedo, sự bốc thoát hơi, dòng chảy mặt và khả năng chứa của đất. Sinh quyển cũng tham gia vào các quá trình trao đổi vật chất với khí quyển và đại dương, ảnh hư­ởng đến cân bằng CO2 trong khí quyển và đại dư­ơng thông qua quá trình quang hợp và hô hấp. Sinh quyển biến đổi cùng với sự biến đổi của khí hậu Trái đất, và thông qua những dấu hiệu hoá thạch trong quá khứ ta có thể nhận biết đ­ược những thông tin về khí hậu của Trái đất

    5) Bề mặt đất: Mặc dù bề mặt đất đóng vai trò nhỏ hơn trong hệ thống khí hậu so với khí quyển hoặc đại dương, khí hậu trên bề mặt đất cực kỳ quan trọng đối với loài người. Trên bề mặt đất, nhiệt độ và độ ẩm đất là những yếu tố quyết định cơ bản đối với đời sống thực vật tự nhiên và tiềm năng nông nghiệp. Lớp phủ thực vật, lớp phủ tuyết và điều kiện đất đai có ảnh hưởng đến khí hậu địa phương và do đó cũng ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu và ngược lại.

    Bề mặt đất chỉ chiếm khoảng 30% diện tích bề mặt Trái đất. Sự phân bố của các lục địa và đại dương trên Trái đất đóng vai trò quan trọng đối với khí hậu toàn cầu. Hiện nay khoảng 70% diện tích bề mặt đất của Trái đất nằm ở bắc bán cầu và sự bất đối xứng này gây nên những khác biệt đáng kể giữa khí hậu Bắc và Nam bán cầu. Địa hình bề mặt đất, vị trí địa lí, hướng, độ cao và qui mô của các dãy núi cũng là những nhân tố cơ bản quyết định khí hậu trên các vùng đất liền. 

    1.2.3 Mối tương tác giữa các thành phần của hệ thống khí hậu

    Có thể lấy một ví dụ về sự tương tác giữa khí quyển và đại dương. Nước từ các đại dương bốc hơi đi vào khí quyển mang theo một lượng nhiệt của đại dương. Hơi nước trong khí quyển có thể ngưng kết tạo thành mây, và có thể cho giáng thủy trên bề mặt đất, tạo nên dòng chảy; lượng nhiệt tỏa ra do quá trình ngưng kết là nguồn năng lượng cung cấp cho các hệ thống thời tiết. Mặt khác, giáng thủy trên đại dương cũng ảnh hưởng đến độ muối của đại dương, góp phần làm biến đổi hoàn lưu nhiệt muối. Khí quyển và đại dương cũng trao đổi vật chất, như điôxit cacbon, duy trì sự cân bằng của hệ thống bằng cách hòa tan chúng và nhấn chìm xuống dưới sâu ở những vùng nước lạnh các cực và giải phóng vào khí quyển ở những vùng nước trồi gần xích đạo.

    Giữa khí quyển, sinh quyển và bề mặt đất cũng xảy ra nhiều quá trình trao đổi nước, năng lượng và vật chất thông qua sự thoát hơi nước, quang hợp của thực vật, sự hô hấp của động thực vật nói chung. Sự biến đổi sử dụng đất có thể làm thay đổi albedo bề mặt qua đó ảnh hưởng đến các thành phần cân bằng năng lượng. Nhiệt độ khí quyển và đại dương tăng lên có thể làm tan chảy băng; băng tan sẽ bổ sung một lượng nước vào đại dương góp phần làm dâng mực nước biển. Diện tích lớp phủ băng bị giảm đi sẽ làm giảm albedo bề mặt và do đó làm tăng lượng bức xạ mặt trời hấp thụ được.

    1.2.4 Mặt trời và cân bằng năng lượng toàn cầu

    Nguồn năng lượng chủ yếu chi phối hệ thống khí hậu là bức xạ mặt trời. Khoảng một nửa lượng bức xạ mặt trời có bước sóng nằm trong khoảng phổ ánh sáng, nửa còn lại hầu như có bước sóng trong dải phổ gần hồng ngoại và một phần nằm trong dải phổ cực tím (ultraviolet). Trung bình trong một năm mỗi mét vuông tại đỉnh khí quyển Trái đất nhận được một lượng bức xạ mặt trời là 342W, trong đó khoảng 30% bị phản xạ trở lại không trung do mây, khí quyển và bề mặt Trái đất (hình 1.2). Khoảng 235W/m2 còn lại bị khí quyển hấp thụ một phần, phần lớn (168 W/m2) do bề mặt đất và đại dương hấp thụ. Bề mặt nóng lên và trở lại đốt nóng khí quyển thông qua các dòng bức xạ sóng dài và các dòng phi bức xạ (hiển nhiệt và ẩn nhiệt). Sự trao đổi năng lượng này giữa bề mặt và khí quyển là cơ chế duy trì điều kiện nhiệt độ toàn cầu khoảng 15 độ C ở gần bề mặt và giảm nhanh theo độ cao xuống đến khoảng -58 độ C ở đỉnh tầng đối lưu.

    Để duy trì khí hậu ổn định đòi hỏi phải có sự cân bằng của hệ thống giữa lượng bức xạ mặt trời đến và lượng phát xạ sóng dài vào không trung. Do đó hệ thống khí hậu tự nó phải phát xạ một lượng bức xạ sóng dài trung bình khoảng 235W/m2 trở lại không trung.

    1.2.5 Khái niệm về tác động bức xạ

    Trong trạng thái cân bằng khí hậu bức xạ thuần trung bình (lượng bức xạ mặt trời mà hệ thống nhận được trừ đi lượng phát xạ sóng dài ra khỏi hệ thống) tại đỉnh khí quyển bằng 0. Sự biến đổi của bức xạ mặt trời hoặc phát xạ sóng dài có thể làm biến đổi bức xạ thuần dẫn đến sự mất cân bằng. Nguyên nhân gây nên sự mất cân bằng đó gọi là tác động bức xạ (radiative forcing). Trong thực tế để xem xét vấn đề này đỉnh tầng đối lưu được coi là đỉnh khí quyển.

    Những tác động từ bên ngoài, như bức xạ mặt trời hoặc xon khí do núi lửa đưa vào khí quyển có khối lượng lớn, có thể biến thiên trên các qui mô thời gian rất khác nhau, gây nên những biến động tự nhiên đối với tác động bức xạ. Những biến động này có thể âm hoặc dương. Dù trong trường hợp nào hệ thống khí hậu cũng cần phải đáp ứng lại để phục hồi sự cân bằng. Tác động bức xạ dương có xu hướng làm ấm bề mặt trong khi tác động bức xạ âm có xu hướng làm lạnh bề mặt. Các quá trình khí hậu nội tại và sự hồi tiếp cũng có thể gây nên những biến động trong cân bằng bức xạ do tác động của chúng đối với phản xạ bức xạ mặt trời hoặc phát xạ sóng dài. Tuy nhiên những biến động này không được xem là bộ phận của tác động bức xạ.

    1.2.6 Hiệu ứng nhà kính

    Khái niệm “hiệu ứng nhà kính” dùng để mô tả một hiện tượng tự nhiên sau đây. Bức xạ sóng ngắn của mặt trời có thể truyền qua môi trường trong suốt (như mái nhà kính, cửa sổ bằng kính, lớp khí quyển Trái đất) đến một đối tượng nào đó và bị hấp thụ. Sau khi hấp thụ bức xạ mặt trời, đối tượng bị nóng lên và phát xạ bức xạ sóng dài. Bức xạ sóng dài này hầu như không thể “thoát” qua môi trường truyền và bị giữ lại trở thành nguồn năng lượng đốt nóng bổ sung (hình 1.5).

    Một ví dụ minh họa cho hiện tượng này là, nếu bạn để ôtô ngoài trời nắng và đóng kín hết các cửa kính lại một lúc vừa đủ lâu, sau đó bạn mở cửa và bước lên ôtô bạn sẽ cảm nhận ngay được bên trong ôtô nóng hơnnhiều so với bên ngoài. Điều đó được lí giải bởi, ngoài việc ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp vào trong ôtô, vỏ ôtô cũng bị đốt nóng do bức xạ mặt trời, kết quả là ôtô của bạn nóng lên và phát xạ nhiệt (phát xạ sóng dài). Lượng bức xạ sóng dài phát xạ từ chính các bộ phận bên trong ôtô không thể thoát ra ngoài do không xuyên qua được lớp kính cửa sổ (và cả lớp vỏ ôtô) và trở thành bộ phận đốt nóng bổ sung làm gia tăng nhiệt độ bên trong ôtô. Tuy nhiên trong trường hợp này nếu bạn mở hết cửa sổ ôtô thay vì đóng lại, chênh lệch nhiệt độ của không khí bên trong và bên ngoài ôtô hầu như không còn nữa.

    Hình 1.5:  Sơ đồ mô tả hiệu ứng nhà kính (Nguồn: http://www.comeniusweb.eu/wiki/index.php?title=Greenhouse_effect)

    Bức xạ mặt trời khi đi vào hệ thống khí hậu bị phản xạ trở lại không trung khoảng 30%, phần còn lại bị khí quyển và bề mặt Trái đất hấp thụ (hình 1.2). Bề mặt Trái đất nóng lên và trở thành vật phát xạ lên trên. Vì bức xạ mặt trời chủ yếu là sóng ngắn, còn bức xạ của Trái đất chủ yếu là sóng dài nên khí quyển có thể tác động đến bức xạ mặt trời và bức xạ Trái đất rất khác nhau. Trong khi khí quyển có thể được xem là hầu như “trong suốt” đối với bức xạ mặt trời thì nó lại gần như “mờ đục” đối với bức xạ Trái đất. Chỉ một phần rất nhỏ lượng bức xạ từ bề mặt Trái đất có thể xuyên qua được lớp khí quyển để thoát ra ngoài không trung. Phần còn lại bị khí quyển hấp thụ và nóng lên rồi phát xạ trở lại bề mặt. Đó chính là “hiệu ứng nhà kính” của khí quyển. Có thể chỉ ra rằng nếu không có lớp khí quyển thì nhiệt độ của bề mặt Trái đất chỉ vào khoảng -18 độ C, trong khi nhiệt độ trung bình quan trắc được vào khoảng 15 độ C. Như vậy, hiệu ứng nhà kính đã làm cho khí hậu Trái đất ấm hơn rất nhiều. Hiệu ứng nhà kính tự nhiên đã góp phần duy trì sự sống trên Trái đất.

    1.2.7 Các khí nhà kính trong khí quyển Trái đất

    Khí nhà kính là chất khí trong khí quyển có khả năng hấp thụ và phát xạ bức xạ sóng dài (bức xạ nhiệt) gây nên hiệu ứng nhà kính. Những chất khí nhà kính tự nhiên chủ yếu trong khí quyển Trái đất gồm hơi nước, điôxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ và ôzôn. Mặc dù chiếm trên 99,9% khối lượng khí quyển và đóng góp vào nhiều quá trình lí – hóa quan trọng của khí quyển, các chất khí nitơ, ôxy và argon không phải là khí nhà kính.

    Hơi nước khí nhà kính quan trọng nhất trong khí quyển. Hơi nước đóng góp khoảng 36-72% hiệu ứng nhà kính của khí quyển. Điôxit cacbon (CO2) là chất khí nhà kính quan trọng thứ hai. Nó đóng góp khoảng 9-26% hiệu ứng nhà kính của khí quyển. Còn mêtan đóng góp khoảng 4-9% và ôzôn là 3-7% hiệu ứng nhà kính của khí quyển.

    Mức độ đóng góp vào hiệu ứng nhà kính của khí quyển của các chất khí nói trên chỉ là ước tính. Trên thực tế khó có thể nói chính xác chúng đóng góp bao nhiêu phần trăm, vì một số chất khí hấp thụ và phát xạ bức xạ có cùng bước sóng với những chất khác và hiệu ứng nhà kính tổng cộng không đơn thuần là tổng đóng góp của từng chất khí. Ngoài ra, một số chất không phải là khí nhà kính, như mây chẳng hạn, cũng hấp thụ và phát xạ bức xạ nhiệt và do đó cũng có ảnh hưởng tới các thuộc tính bức xạ của các khí nhà kính.

    Một số chất khí khác, như ôxit cacbon (CO) hoặc clorua hydro (HCl) cũng hấp thụ bức xạ sóng dài nhưng “tuổi thọ” của chúng trong khí quyển thường rất ngắn nên chúng không đóng vai trò quan trọng đối với hiệu ứng nhà kính và thường không được đề cập đến.

    Hơi nước (H2O)là chất khí có đóng góp lớn nhất vào hiệu ứng nhà kính của khí quyển, nhưng nó không phải là chất khí nhà kính nguy hiểm, vì lượng hơi nước tự nhiên trong khí quyển biến đổi liên tục do hơi nước có thể ngưng tụ tạo thành mây và có thể cho mưa. Tuy nhiên, hoạt động của con người cũng có ảnh hưởng trực tiếp, dù không đáng kể, đến lượng hơi nước trong khí quyển. Nhưng con người có thể gây ảnh hưởng gián tiếp, tác động tiềm tàng đáng kể đến lượng hơi nước do làm biến đổi khí hậu. Chẳng hạn, không khí ấm hơn chứa nhiều hơi nước hơn. Hoạt động của con người cũng có thể làm gia tăng lượng hơi nước thông qua phát thải CH4, vì CH4 bị phân hủy do phản ứng hóa học trong tầng bình lưu, tạo ra một lượng nhỏ hơi nước.

    Điôxit cacbon (CO2)là chất khí nhà kính quan trọng sau hơi nước. Các quá trình tự nhiên chủ yếu sinh ra và tiêu hao điôxit cacbon trong khí quyển bao gồm: hô hấp của động, thực vật, quang hợp của thực vật; các quá trình trao đổi khí quyển – đại dương; hoạt động của núi lửa. Hoạt động của con người làm gia tăng lượng điôxit cacbon chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chế tạo các loại máy sưởi, máy làm lạnh, sản xuất xi măng, phá rừng, thay đổi sử dụng đất, v.v.

    Mêtan (CH4)là một chất khí tự nhiên cơ bản và là một nguồn năng lượng quan trọng. Tuổi thọ của mêtan trong khí quyển vào khoảng 9-15 năm. Nếu so sánh khả năng gây hiệu ứng nhà kính của một phân tử thì mêtan lớn gấp 8 lần so với điôxit cacbon. Nhưng do hàm lượng của mêtan trong khí quyển nhỏ hơn nhiều so với điôxit cacbon nên đóng góp tổng cộng của nó nhỏ hơn. Mêtan được sinh ra do các quá trình tự nhiên như ở các vùng đầm lầy, ở đại dương, hoặc do hoạt động của con người như sản xuất nông nghiệp, lấp đất và ủ các khí tự nhiên, khai thác than, v.v.

    Ôzôn (O3)là chất khí liên tục được tạo ra và phân ly do các phản ứng hóa học. Trong tầng bình lưu trên tồn tại một lớp có hàm lượng ôzôn khá lớn có tác dụng hấp thụ bức xạ cực tím của mặt trời và đóng vai trò rất quan trọng trong cân bằng bức xạ của hệ thống khí hậu. Lớp này được biết đến dưới tên gọi là tầng ôzôn. Còn ôzôn trong tầng đối lưu và tầng bình lưu dưới là chất khí hấp thụ bức xạ sóng dài rất hiệu quả. Trên thực tế người ta ước tính được khả năng gây hiệu ứng nhà kính của ôzôn lớn gấp 3000 lần ôxit cacbon. Do đó, mặc dù hàm lượng ôzôn rất nhỏ, vai trò của nó đối với hiệu ứng nhà kính của khí quyển vẫn rất đáng kể. Hoạt động của con người làm tăng ôzôn trong tầng đối lưu thông qua giải phóng các chất khí như ôxit cacbon, hydrocacbon và ôxit nitơ. Các chất khí này tác dụng hóa học với nhau và tạo ra ôzôn.

    Ôxit Nitơ (N2O)cũng là một chất khí nhà kính quan trọng khác. Ôxit nitơ tự nhiên sinh ra do hoạt động của vi khuẩn, sự phóng điện trong khí quyển, đốt sinh khối do cháy rừng, cháy đồng cỏ, các quá trình tự nhiên trong đất và trong đại dương, v.v. Mặc dù lượng ôxit nitơ sinh ra do hoạt động của con người không nhiều nhưng nó có khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ sóng dài nhiều hơn điôxit cacbon khoảng gần 300 lần. Ước tính ôxit nitơ đóng góp khoảng 7% vào sự gia tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển.

    Ngoài ra, một số chất khí thuộc nhóm halo-cacbon (CFC, HCFC) chủ yếu là do hoạt động của con người sinh ra, như chlorofluorocarbons (CFC-11 và CFC-12), hydro chlorofluorocarbons (HCFC). Các chất khí này được sử dụng khi sản xuất các thiết bị làm lạnh và trong các quá trình công nghiệp khác. Sự có mặt của chúng trong khí quyển là một trong những nguyên nhân gây nên sự suy giảm ôzôn tầng bình lưu trên. Tuy nhiên, sau khi có công ước quốc tế về bảo vệ tầng ôzôn sự tăng lên của các chất này đã được kiểm soát.

    1.3 Biến đổi khí hậu

    1.3.1 Khái niệm và định nghĩa

    Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu.

    BĐKH hiện đại được nhận biết thông qua sự gia tăng của nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu. Biểu hiện của BĐKH còn được thể hiện qua sự dâng mực nước biển, hệ quả của sự tăng nhiệt độ toàn cầu.

    Hiện nay khái niệm “biến đổi khí hậu” không còn xa lạ nữa, ngược lại nó được nhìn nhận như là tiềm ẩn của nhiều nguy cơ do hậu quả tác động của nó. Sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tác động tiêu cực và ngày càng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, kinh tế – xã hội. Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bố năng lượng trên bề mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương mà hậu quả của nó là sự biến đổi của các cực trị thời tiết và khí hậu. Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện tượng cực đoan có nguồn gốc khí tượng ngày càng gia tăng ở nhiều vùng trên Trái đất mà nguyên nhân của nó là do sự biến đổi bất thường của các hiện tượng thời tiết, khí hậu. Sự nóng lên toàn cầu cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự dâng mực nước biển do băng tan và dãn nở vì nhiệt của nước biển, làm cho nhiều vùng đất thấp bị ngập chìm vĩnh viễn, hiện tượng xâm nhập mặn gia tăng, v.v.

     

    1.3.2 Những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

    BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất. Hiểu rõ và định lượng được mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân gây BĐKH hoàn toàn không đơn giản. Trong báo cáo lần thứ nhất (FAR) của IPCC năm 1990 chỉ nêu được rất ít bằng chứng về ảnh hưởng của con người đến khí hậu. Báo cáo lần thứ hai (SAR) năm 1995 đã đưa ra được những minh chứng cụ thể về vai trò của con người đối với khí hậu trong thế kỷ 20. Báo cáo lần thứ ba (TAR) năm 2001 đã kết luận rằng, sự ấm lên toàn cầu quan trắc được trong 50 năm cuối của thế kỷ 20 dường như chủ yếu do sự tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển. Những tiến bộ đạt được về quan trắc cũng như các mô hình gần đây càng cung cấp thêm những hiểu biết vững chắc, cho phép kết luận rằng BĐKH có nguồn gốc từ hai nguyên nhân:nguyên nhân tự nhiên vànguyên nhân con người (báo cáo lần thứ tư – AR4).

    Các nguyên nhân tự nhiên được cho là những nguyên nhân nằm ngoài hệ thống khí hậu Trái đất cũng như do sự thay đổi bên trong và tương tác giữa các thành phần của nó, bao gồm:

    1) Sự biến đổi của các tham số quĩ đạo Trái đất. Trái đất chuyển động xung quanh mặt trời theo quĩ đạo ellip phụ thuộc vào ba tham số chính là độ lệch tâm, độ nghiêng của trục quay của Trái đất và tiến động. Những biến đổi của các tham số này sẽ làm biến đổi lượng bức xạ mặt trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và hậu quả là làm khí hậu Trái đất biến đổi.

    (a) Độ lệch tâm là tham số phản ánh “độ méo” của quĩ đạo so với đường tròn. Sự biến đổi của tham số này chi phối biên độ biến trình năm của lượng bức xạ mặt trời đến cũng như sự khác biệt của lượng bức xạ mặt trời đến ở hai Bán cầu do khoảng cách giữa mặt trời và Trái đất biến thiên trong năm. Giá trị của độ lệch tâm biến thiên trong khoảng từ 0 (không méo, tức đường tròn) đến 0,07 (méo 7% so với đường tròn), và giá trị hiện nay là 0,0174, tương ứng với Nam Bán cầu nhận được nhiều bức xạ mặt trời hơn Bắc Bán cầu khoảng 6,7%. Tham số này có chu kỳ dao động khoảng 96.000 năm;

    (b) Độ nghiêng của trục quay của Trái đất. Trái đất quay quanh trục của nó một vòng trong một ngày. Độ nghiêng của Trục Trái đất so với pháp tuyến của mặt phẳng quĩ đạo biến thiên trong khoảng từ 21,5 độ đến 24,5 độ và có chu kỳ dao động khoảng 41.000 năm. Khi độ nghiêng này lớn sẽ làm tăng sự tương phản giữa các mùa, làm biến đổi độ dài các mùa trong năm do các cực hướng về phía mặt trời hoặc phía đối diện dài hơn.

    (c) Tiến động. Ellip quĩ đạo Trái đất, ngoài sự biến đổi của độ lệch tâm, hướng của trục dài (hay bán trục lớn) của nó cũng quay một cách chậm chạp. Hiện tượng đó được gọi là tiến động. Tiến động có thể làm cho các mùa trở nên cực đoan hơn. Chẳng hạn vào những thời kỳ nhất định điểm xa mặt trời nhất sẽ xuất hiện vào mùa đông Bắc Bán cầu (làm cho các mùa ở Bắc Bán cầu cực đoan hơn, vì mùa đông trùng với thời kỳ xa mặt trời nhất và mùa hè trùng với thời kỳ gần mặt trời nhất), còn vào những thời kỳ khác điểm xa mặt trời nhất lại xuất hiện vào mùa hè Bắc Bán cầu (làm cho các mùa ở Bắc Bán cầu ít cực đoan hơn, vì mùa đông gần mặt trời nhất và mùa hè xa mặt trời nhất). Chu kỳ tiến động nằm trong khoảng từ 19.000 năm đến 21.000 năm.

    2) Sự biến đổi trong phân bố lục địa – biển của bề mặt Trái đất. Bề mặt Trái đất bao gồm các lục địa và các đại dương. Bề mặt Trái đất có thể bị biến dạng qua các thời kỳ địa chất do sự trôi dạt lục địa, các quá trình vận động tạo sơn, sự phun trào núi lửa, v.v. Sự biến dạng này sẽ làm thay đổi phân bố lục địa – biển, hình thái bề mặt Trái đất, dẫn đến sự biến đổi trong phân bố bức xạ mặt trời nhận được, trong cân bằng bức xạ và cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu chung khí quyển, đại dương.

    3) Sự biến đổi trong tính chất phát xạ của mặt trời và hấp thụ bức xạ của Trái đất. Mặt trời là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho Trái đất. Nguồn năng lượng này cũng biến thiên theo thời gian. Từ khi Trái đất hình thành cho đến nay (khoảng 5 tỷ năm) độ chói của mặt trời tăng khoảng 30%.Sự phát xạ của mặt trời đã có những thời kỳ yếu đi gây ra băng hà và có những thời kỳ hoạt động mãnh liệt gây ra khí hậu khô, nóng trên bề mặt Trái đất. Thành phần khí quyển Trái đất cũng đã thay đổi rất nhiều qua các thời kỳ địa chất. Nguyên nhân có thể do các đợt phun trào núi lửa, thải vào không khí nham thạch nóng nhiều khói, bụi giàu sunfua điôxit, sunfit hữu cơ, mêtan và những loại khí khác. Có những bằng chứng cho thấy nhiều đợt phun trào núi lửa trong quá khứ có qui mô lớn hơn so với những đợt phun trào chúng ta đã từng chứng kiến, gây biến đổi mạnh mẽ về cân bằng bức xạ trong khí quyển.

    Biến đổi tự nhiên của khí hậu có thể được nhận thấy qua các thời kỳ băng hà, gian băng tương ứng với những thời kỳ khí hậu lạnh giá và khí hậu ấm áp của Trái đất. Qui mô thời gian của những biến đổi này cỡ hàng trăm nghìn năm (trung bình giữa hai lần băng hà vào khoảng hai trăm nghìn năm).

    Vì nhu cầu mưu sinh, con người đã “can thiệp” vào các thành phần của hệ thống khí hậu, làm thay đổi thuộc tính tự nhiên của nó. Từ chỗ đốt rừng làm nương rẫy, chặt cây lấy củi, khai thác tài nguyên, xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, con người ngày càng sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển càng nhiều các chất khí gây hiệu ứng nhà kính (hình 1.6). Nền công nghiệp càng phát triển, lượng chất phát thải đó ngày càng tăng, làm gia tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái đất.

    Các khí nhà kính trong khí quyển Trái đất có thể có nguồn gốc tự nhiên hoặc hoàn toàn do con người sinh ra. Chúng có nồng độ rất khác nhau và ảnh hưởng đến khí hậu Trái đất cũng rất khác nhau. Có những khí nhà kính tồn tại lâu trong khí quyển như CO2, CH4, N2O, ổn định về mặt hóa học nên được pha trộn kỹ trong khí quyển, do đó mật độ trung bình toàn cầu của chúng có thể ước lượng được khá chính xác. Bên cạnh đó cũng có những khí nhà kính tồn tại ngắn (ví dụ SO2 (sulfua điôxit), CO) có thể dễ dàng bị ôxy hóa trong khí quyển hoặc dễ bị loại bỏ do mưa. Các chất khí này có mật độ biến động lớn và không đồng nhất trên toàn cầu.

    Với mức độ hiểu biết hiện nay, những khí nhà kính có ảnh hưởng quan trọng đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu do hoạt động của con người gây ra là điôxit cacbon (CO2), mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) và ôzôn (O3) tầng đối lưu. Ngoài ra còn có các chất khí thuộc nhóm halo-cacbon (CFC, HCFC) và các xon khí.

    CO2: Số liệu phân tích lõi băng khoan được ở Greenland và Nam cực cho thấy khoảng 18.000 năm trước, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ vào khoảng 180 đến 200 ppm (phần triệu), bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển bắt đầu tăng lên và đạt 379 ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa hàm lượng CO2 tự nhiên (hình 1.6). Tốc độ tăng của CO2 giai đoạn 1960-2005 vào khoảng 1,4 ppm/năm. Trong giai đoạn 1995-2005, tốc độ tăng của CO2 nhanh hơn, lên tới 1,9 ppm/năm. Người ta đã ước tính được rằng sự tăng của CO2 từ thời kỳ tiền công nghiệp đã tạo ra tác động bức xạ dương tới +1,66±0,17W/m2 và là nhân tố chủ yếu làm thay đổi cân bằng bức xạ toàn cầu. Nguyên nhân chính làm tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển được cho là do sử dụng nhiên liệu hóa thạch và biến đổi sử dụng đất làm gia tăng lượng phát thải CO2. Từ những năm 1990, gần 80% lượng phát thải CO2 nhân tạo là do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, 20% do biến đổi sử dụng đất.

    CH4: Khí CH4 là loại khí quan trọng thứ hai trong số các khí nhà kính do hoạt động của con người tạo ra. Nguồn khí CH4 được sản sinh chủ yếu từ sự phân giải yếm khí của cây cỏ trong các đầm lầy, ruộng lúa, phân súc vật, các bãi rác thải, v.v. Khí CH4cũng thoát ra từ các mỏ than, các giếng khoan dầu hoặc do rò rỉ các ống dẫn khí. Khí CH4trong khí quyển được biết đến từ khoảng những năm 1940, nhưng chỉ đến khoảng cuối những năm 1960 mới có những số liệu đo đạc chính thức. Hàm lượng khí nhà kính CH4 cũng tăng từ 715ppb (phần tỷ) trong thời kỳ tiền công nghiệp lên đến giá trị gấp đôi là 1774 ppb vào năm 2005 (hình 1.6). Trong vòng 10.000 năm trước đó, mật độ CH4 thay đổi chậm trong khoảng từ 550 đến 730 ppb. Sự tăng hàm lượng khí CH4 hiện nay phần lớn là do tăng phát thải nhân tạo. Từ cuối những năm 1970 đầu những năm 1980, CH4 có tốc độ tăng lớn nhất, xấp xỉ 1%/năm. Tuy nhiên kể từ năm 1999, theo các đo đạc ghi nhận được, hàm lượng CH4 có xu hướng tăng chững lại. Sự gia tăng hàm lượng CH4 trong khí quyển làm gia tăng cân bằng bức xạ toàn cầu khoảng +0,48±0,05W/m2, đứng thứ hai sau CO2.

    N2O: Nguồn sinh khí N2O hiện nay chủ yếu do đốt các loại nhiên liệu, sử dụng phân hóa học, sản xuất các hóa chất, đốt sinh khối, phá rừng, v.v. Những hoạt động của con người đóng góp khoảng 40% lượng phát thải N2O vào trong khí quyển. Việc đo nồng độ N2O trong khí quyển cũng chỉ mới chính thức thực hiện gần đây. Năm 2005 hàm lượng N2O là 319 ppb, cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp khoảng 18%. Xu hướng tăng của N2O gần như tuyến tính, xấp xỉ 0,8 ppb/năm trong vài thập kỷ qua (hình 1.6). Sự gia tăng N2O đóng góp khoảng +0,16±0,02W/m2 vào sự gia tăng cân bằng bức xạ toàn cầu.

    O3 tầng đối lưu: O3 trong tầng đối lưu là một loại khí nhà kính quan trọng đứng hàng thứ ba sau khí CO2 và CH4. Nguồn O3 nhân tạo chủ yếu từ động cơ ôtô, xe máy hoặc các nhà máy điện. Trong tầng đối lưu, O3 là một loại khí nhà kính mạnh nhưng vì thời gian tồn tại ngắn và biến động theo không gian và thời gian lớn, nên việc xác định được tác động bức xạ của sự tăng O3 do hoạt động của con người hiện mới chỉ ở mức hiểu biết trung bình. Các quan trắc cho thấy xu thế của O3 tầng đối lưu trong vài thập kỷ qua thay đổi về dấu và biên độ ở nhiều nơi khác nhau, tuy nhiên xu thế tăng tương đối rõ ở vùng vĩ độ thấp. O3tầng đối lưu đóng góp khoảng +0,35 W/m2 (+0.25 đến +0.65)vào sự thay đổi cân bằng bức xạ toàn cầu. Đối với khí O3, con người phải đứng trước hai thử thách: một là phải tìm cách tăng O3 tầng bình lưu, củng cố “lá chắn” các tia bức xạ cực tím của mặt trời; mặt khác phải giảm nồng độ O3 tầng đối lưu để hạn chế hiệu ứng nhà kính do nó gây ra.

    CFC và HCFC: Khác với các chất khí có nguồn gốc tự nhiên, các chất CFC và HCFC hoàn toàn là sản phẩm do con người tạo ra. Các chất khí này bắt đầu xuất hiện từ những năm 1930 và là một loại hóa chất được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật làm lạnh như tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, các loại máy lạnh, các bình xịt mỹ phẩm, chất tẩy rửa linh kiện điện tử, v.v. Do những đặc tính kỹ thuật tốt, nên việc sử dụng các chất này đã tăng lên nhanh chóng kể từ khi được chế tạo lần đầu tiên cho tới những năm 1970, khi người ta phát hiện ra nó có khả năng phá hoại tầng ôzôn. Cho đến cuối những năm 1980, nồng độ các CFC và HCFC trong khí quyển vẫn tăng khá mạnh. Mặc dù lượng khí CFC và HCFC không nhiều nhưng xu hướng tăng lên của chúng đã làm các nhà khí hậu lo ngại do đặc tính nguy hiểm phá hoại tầng ôzôn. Vì vậy các chất CFC và HCFC đã nằm trong danh sách hàng đầu của các chất bị cấm trong các hiệp ước về bảo vệ tầng ôzôn. Từ năm 1995, dưới hiệu lực của nghị định thư Montreal, nồng độ của các chất khí CFC và HCFC đã tăng chậm lại hoặc có xu hướng giảm. Từ năm 2010 trở đi, sẽ ngừng sản xuất các chất này trên toàn thế giới theo Nghị định thư Montreal.

    Xon khí: Xon khí tự nhiên bao gồm bụi vô cơ từ bề mặt, các hạt bụi muối biển, phát thải sinh vật từ đất và đại dương, và bụi sinh ra do núi lửa phun trào. Một số loại xon khí được thải trực tiếp vào khí quyển, một số khác được hình thành trong khí quyển từ những hợp chất phát thải. Hoạt động của con người cũng góp phần làm gia tăng hàm lượng xon khí trong khí quyển. Việc đốt nhiên liệu hóa thạch và sinh khối có thể làm tăng hàm lượng các xon khí chứa sunfua, các chất hữu cơ và muội (black carbon – soot).

    Hình 1.6 Sự biến đổi của nồng độ các chất khí CO2, CH4, N2O trong khí quyển từ 20000 năm trước đến 2005 (Nguồn IPCC, 2007)

    1.3.3 Dao động khí hậu và các hiện tượng cực đoan

    Có sự khác biệt nhất định giữa hai khái niệm “biến đổi khí hậu” và “dao động khí hậu” hay “biến động khí hậu” (Climate Variability). BĐKH có nguồn gốc từ sự mất cân bằng năng lượng của hệ thống dẫn đến việc hệ thống phải tự điều chỉnh để lập lại trạng thái cân bằng mới. Thời gian cần thiết cho quá trình thiết lập trạng thái cân bằng này thường là hàng chục năm. Hơn nữa, khái niệm BĐKH gắn liền với khái niệm xu thế biến đổi, nghĩa là sự biến đổi cần phải duy trì theo một hướng nào đó. Trong khi đó dao động khí hậu là sự biến đổi thăng giáng của khí hậu xung quanh trạng thái trung bình. Những biến đổi này thường ngược pha nhau, xảy ra có tính lặp đi lặp lại trong những khoảng thời gian nào đó, nghĩa là dao động khí hậu thường gắn liền với khái niệm chu kỳ. Có những dao động có chu kỳ ngắn và dễ dàng nhận thấy, nhưng cũng có những dao động với chu kỳ lặp lại khá dài (các chu kỳ băng hà – gian băng). Một trong những ví dụ điển hình của dao động khí hậu là hiện tượng ENSO với các pha El Nino (pha nóng) và La Nina (pha lạnh). Các pha này có thể xuất hiện luân phiên nhưng không nhất thiết kế tiếp nhau. Chu kỳ xuất hiện các hiện tượng này khoảng từ 2 đến 8 năm với những hậu quả thời tiết, khí hậu có thể trái ngược nhau.

    Cụ thể hơn, có thể hiểu dao động (hay biến động) khí hậu như là sự biến đổi thăng giáng của các biến khí hậu (như nhiệt độ và lượng mưa) xung quanh trạng thái trung bình nhiều năm (thường là vài chục năm), nghĩa là hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị trung bình nhiều năm. Chẳng hạn, nhiệt độ cao nhất trung bình tháng 7 (30 năm qua) ở Hà Nội là 33,5 độ C, nhưng giá trị hàng năm của nó có thể vượt quá hoặc thấp hơn giá trị trung bình nhiều năm này. Tuy nhiên, nếu so sánh giá trị nhiệt độ cao nhất hàng ngày trong tháng 7 của từng năm với giá trị trung bình nhiều năm đó thì sự chênh lệch có thể lớn hơn nhiều. Những dao động đó thường mang tính ngẫu nhiên, được đặc trưng bởi biên độ và chu kỳ lặp lại. Ứng với mỗi sự kiện được quan tâm có thể có xác suất xảy ra nhất định nào đó. Xác suất này có thể lớn hoặc nhỏ. Ví dụ, xác xuất để nhiệt độ cao nhất trung bình tháng 7 ở một nơi nào đó vượt quá ngưỡng 33,0 độ C là 60%, nhưng nếu lấy ngưỡng là 35,0 độ C thì xác suất này chỉ bằng 10%. Xác suất càng nhỏ thì sự kiện càng ít xảy ra và do đó khoảng thời gian lặp lại càng dài.

    Những hiện tượng có xác xuất xảy ra rất nhỏ và khi xảy ra nó có thể có ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và hoạt động của con người được xem là những hiện tượng cực đoan. Nói cách khác, hiện tượng cực đoan được hiểu là những hiện tượng thỏa mãn các điều kiện: 1) Hiếm, tức có xác suất xuất hiện tương đối thấp trong một khoảng thời gian tương đối dài; 2) Có cường độ lớn; và 3) Khắc nghiệt, tức là có khả năng gây ra những ảnh hưởng lớn hoặc dữ dội đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sống trên Trái đất.

    Theo IPCC (2007), hiện tượng thời tiết cực đoan (an extreme weather event) là hiện tượnghiếm ở một nơi cụ thể vào một thời gian cụ thể trong năm. Định nghĩa “hiếm” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng hiện tượng thời tiết cực đoan được hiểu là hiện tượng có xác suất xuất hiện nhỏ, thông thường được chọn là nhỏ hơn 10%. Theo định nghĩa này, các tính chất của cái gọi là “thời tiết cực đoan” có thể rất khác nhau giữa nơi này và nơi khác. Khi hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra vào một thời gian nào đó trong năm, chẳng hạn một mùa, khá ổn định, nó có thể được gọi là hiện tượng khí hậu cực đoan. Nói cách khác, hiện tượng khí hậu cực đoan là sự tổng hợp của hiện tượng thời tiết cực đoanđược đặc trưng bởi trung bình và các cực trị tuyệt đối của các hiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định. Cũng cần phân biệt khái niệm cực đoan với khái niệmcực trị tuyệt đối của chuỗi nhiều năm mà người ta vẫn gọi là giá trị kỷ lục.

    Hình 1.7: Sơ đồ minh họa ảnh hưởng của sự biến đổi của nhiệt độ trung bình và độ lệch chuẩn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan

    1.4 Đánh giá biến đổi khí hậu

    1.4.1 Khái niệm

    Đánh giá BĐKH là một khái niệm hết sức rộng. Trên qui mô toàn cầu, đánh giá BĐKH nhằm trả lời được những câu hỏi như: Làm thế nào để xác định và giám sát được nhiệt độ bề mặt Trái đất trong quá khứ và trong tương lai? Ý nghĩa và tính hữu dụng của nhiệt độ trung bình toàn cầu làgì? Khí hậu Trái đất đã thay đổi như thế nào trong thế kỷ qua, trong thời kỳ băng hà trẻ và trước nữa, và từ đó có thể suy luận gì về dao động tự nhiên của khí hậu trước thời kỳ công nghiệp hóa của con người? Hoặc, xu thế nóng lên toàn cầu hiện nay như thế nào so với những biến động khí hậu trong quá khứ, và có phải xu thế nóng lên hiện nay chỉ là sự dao động tự nhiên của khí hậu chứ không phải trực tiếp do con người tạo ra các khí nhà kính? Các mô hình khí hậu đáng tin tưởng đến mức nào khi cho rằng các khí nhà kính là nguyên nhân chính gây ra sự tăng nhiệt độ trong thế kỷ 20 và dự báo rằng sẽ tác động mạnh hơn trong thế kỷ 21? v.v.

    Hiểu một cách đơn giản, đánh giá BĐKH là xác định xem khí hậu có biến đổi không, nếu có thì biến đổi như thế nào, và những nguyên nhân nào cũng như tầm quan trọng của chúng gây ra sự biến đổi đó.

    Theo Beckman và Mahoney [Donald Rapp, 2008], về mặt khoa học, các nhà khí tượng học, khí hậu học và vật lí khí quyển, những người có trách nhiệm nghiên cứu sự đóng góp vào hiệu ứng nhà kính toàn cầu do con người, đã kiên trì đấu tranh cho tầm quan trọng của vấn đề này, trong khi cộng đồng các nhà vật lí năng lượng mặt trời, đặc biệt những người quan tâm đến mối quan hệ mặt trời – Trái đất lại nhấn mạnh hơn về tầm quan trọng của những dao động dài hạn của hằng số mặt trời như là nguyên nhân chính gây nên BĐKH. Do đó, đánh giá BĐKH là đánh giá sự biến đổi của khí hậu quá khứ, khí hậu hiện tại và khí hậu tương lai trên cơ sở phân tích sự biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu, đồng thời xem xét vai trò của các tác nhân gây nên sự biến đổi của khí hậu, qua đó làm sáng tỏ vai trò của hoạt động con người đối với sự BĐKH.

    Ở qui mô khu vực, ngoài việc đánh giá sự biến đổi của khí hậu quá khứ, hiện tại và tương lai nói chung, đánh giá BĐKH còn chú trọng đến việc phân tích xu thế biến đổi, sự biến đổi đột ngột và tính chất biến động của các yếu tố và hiện tượng khí hậu. Bên cạnh đó, sự biến đổi của các hợp phần cấu thành khí hậu khu vực cũng được đề cập, như biến đổi của chế độ thủy văn, địa hình, bề mặt đệm, .v.v.

    Ở qui mô quốc gia, vùng lãnh thổ và qui mô địa phương, đánh giá BĐKH được thực hiện ở mức độ chi tiết hơn, trong đó mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho việc đánh giá tác động của BĐKH. Nói cách khác, đánh giá BĐKH ở qui mô quốc gia và địa phương nhằm trả lời các câu hỏi: 1) Khí hậu có thực sự biến đổi không, hay chỉ là những dao động tự nhiên? 2) Những biểu hiện của BĐKH là gì? 3) Xu thế, mức độ và tính chất biến đổi của khí hậu như thế nào? v.v.

    1.4.2 Phương pháp đánh giá BĐKH

    1) Nguyên tắc chung

    Về nguyên tắc, bài toán đánh giá BĐKH sẽ bao gồm: Đánh giá sự biến đổi của các khí nhà kính và xon khí trong khí quyển; sự biến đổi quan trắc được của nhiệt độ không khí, nhiệt độ đất và nhiệt độ đại dương, của lượng mưa, của các sông băng và các tảng băng, của mực nước biển và đại dương; sự BĐKH trong quá khứ và cổ khí hậu. Để giải quyết các bài toán đó một loạt vấn đề khác cũng cần phải được thực hiện, như nghiên cứu về các quá trình sinh địa hóa và chu trình carbon, các chất khí và xon khí; số liệu vệ tinh và các nguồn số liệu khác; các mô hình khí hậu; dự tính khí hậu, những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu (http://www.ipcc.ch).

    Cho mục đích ứng dụng, đánh giá BĐKH có thể được chia thành hai lớp bài toán: 1) Nghiên cứu, khảo sát những dấu hiệu, bằng chứng của sự BĐKH trong quá khứ và hiện tại; và 2) Dự tính sự biến đổi của khí hậu trong tương lai cho đến vài thập kỷ hoặc đến hết thế kỷ, thậm chí xa hơn nữa. Lớp bài toán thứ nhất được thực hiện dựa vào các chuỗi số liệu quan trắc lịch sử. Lớp bài toán thứ hai được thực hiện dựa trên sản phẩm của các mô hình khí hậu chạy với các kịch bản phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, cả hai lớp bài toán đều thực hiện việc phân tích, đánh giá sự biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu dựa trên việc khảo sát những thuộc tính của chuỗi thời gian của các yếu tố và hiện tượng tương ứng. Những thuộc tính của chuỗi cần được nghiên cứu có thể là xu thế biến đổi (tăng, giảm theo thời gian), mức độ biến đổi (có thể dựa vào tốc độ của xu thế) và tính chất biến đổi.

    Về phân bố không gian, trên qui mô toàn cầu, việc đánh giá BĐKH có thể tiến hành đối với các thành phần của phương trình cân bằng năng lượng và nước, tác động bức xạ, cấu trúc của các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương, thành phần khí quyển, các trường khí hậu cơ bản, các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực trị, v.v. Trên qui mô khu vực và các châu lục, việc đánh giá được chú trọng hơn vào cơ cấu của các trường khí hậu, đại dương, sự biến đổi của sử dụng đất và các hiện tượng cực trị. Còn ở qui mô quốc gia và địa phương, biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu, trong đó bao gồm cả các hiện tượng cực trị được đặc biệt nhấn mạnh.

    Về cấu trúc thời gian, đánh giá BĐKH cần chỉ ra được những dao động và biến đổi nhiều năm, biến trình năm, biến trình ngày, như biến đổi giữa các thập kỷ, thậm chí giữa các thế kỷ, những biến đổi đột biến, cấu trúc mùa và biên độ dao động, v.v.

    2) Một số phương pháp cụ thể

    Xu thế tuyến tính của chuỗi cũng có thể được xác định bằng phương pháp kiểm nghiệm Mann – Kendall. Xu thế của chuỗi thời gian được xác định thông qua việc so sánh độ lớn tương đối của các thành phần trong chuỗi chứ không phải xét chính giá trị của các thành phần. Nói cách khác, các thành phần trong chuỗi thời gian được so sánh với nhau theo thứ hạng lớn bé và không tính đến giá trị của chúng sai khác nhau bao nhiêu. Lợi thế của kiểm nghiệm này là không cần biết tập mẫu tuân theo luật phân bố nào. Một cách vắn tắt có thể mô tả phương pháp này như sau.

    Giả sử ta có chuỗi thời gian {xt, t=1..n}. Mỗi một thành phần trong chuỗi sẽ được so sánh với tất cả các thành phần còn lại đứng sau nó (về thời gian). Giá trị thống kê Mann – Kendall (S) ban đầu được gán bằng 0 (tức là chuỗi không có xu thế). Nếu thành phần sau lớn hơn thành phần trước thì tăng S lên 1 đơn vị. Ngược lại nếu thành phần sau nhỏ hơn thành phần trước thì S bị trừ đi 1 đơn vị. Nếu hai thành phần có giá trị bằng nhau thì S sẽ không thay đổi. Tổng S sau tất cả các lần so sánh sẽ được dùng để đánh giá xu thế chung của chuỗi. Tức là ta có:

    trong đó:

    Giá trị tuyệt đối của S càng lớn xu thế càng rõ. S dương thể hiện xu thế tăng của chuỗi và S âm thể hiện xu thế giảm của chuỗi. Để có được nhận định chính xác về xu thế của chuỗi ta cũng cần kiểm nghiệm độ rõ rệt của S.

    Ngoài ra cũng có thể sử dụng phương pháp kiểm nghiệm Spearman. Đây cũng là dạng kiểm nghiệm phi tham số mà nội dung của nó là kiểm nghiệm độ rõ rệt của hệ số tương quan Spearman (hay hệ số tương quan hạng) giữa hai chuỗi số liệu.

    So với phương pháp hồi qui, các phương pháp kiểm nghiệm Mann – Kendall và kiểm nghiệm Spearman có ưu điểm là chúng không nhạy với những số liệu có chứa sai số thô và thích hợp hơn với những chuỗi số liệu biến động mạnh. Nhược điểm chính của các phương pháp này là không định lượng hóa được mức độ biến đổi.

    Khi xét xu thế của chuỗi các yếu tố hoặc sự kiện khí hậu cực trị, hệ số góc của phương trình xu thế tuyến tính là thước đo mang tính chính xác về định lượng. Nhưng do tính biến động mạnh của các đặc trưng cực trị, các kiểm nghiệm Mann – Kendall và Spearman có thể sẽ có ưu thế hơn, mặc dù chúng không cho phép ước lượng được mức độ tăng giảm của xu thế.

    c. Đánh giá tính chất biến đổi: Tính chất biến đổi có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Nếu quan tâm đến sự lặp lại của hiện tượng hoặc trị số xác định của yếu tố thì việc khảo sát tính chất biến đổi là xem xét tính dao động chu kỳ của chuỗi. Nếu quan tâm đến tính biến động của yếu tố hoặc hiện tượng thì tính chất biến đổi là sự biến đổi của độ lệch chuẩn, của biên độ, hoặc của hệ số biến thiên.

    Sự biến đổi của các cực trị tuyệt đối trong từng thời đoạn có thể được xem là biểu hiện của mức độ và tính chất biến đổi. Ở một chừng mực nhất định, các trị số này phản ánh tác động của biến đổi toàn cầu đến sự biến đổi của khí hậu địa phương và khu vực. Chẳng hạn, đối với nhiệt độ, nếu xu thế chung của nhiệt độ trung bình là tăng, nhưng sự tăng của nhiệt độ cực tiểu lớn hơn sự tăng của nhiệt độ cực đại, khi đó biên độ trung bình của nhiệt độ sẽ giảm. Tuy nhiên vẫn có thể xảy ra tình huống trong chuỗi số liệu nhiệt độ cực tiểu, giá trị cực tiểu tuyệt đối của những thời đoạn sau nhỏ hơn các thời đoạn trước. Như vậy tính biến động của nhiệt độ cực tiểu sẽ tăng lên theo thời gian.

    1.4.3 Số liệu

    Số liệu quá khứ và hiện tạicó thể bao gồm hai bộ phận: Loại số liệu quan trắc gián tiếp hoặc tài liệu ghi chép, và loại số liệu đo đạc bằng các dụng cụ, thiết bị quan trắc.

    Số liệu quan trắc gián tiếp có thể là kết quả của những phân tích các mẫu hóa thạch, lõi băng, vân cây, v.v., hoặc tài liệu ghi chép trong các kho lưu trữ, trong dân gian. Nói chung những số liệu này không nhiều và cũng chỉ đạt được độ chính xác nhất định.

    Số liệu đo đạc trực tiếp bằng máy móc, dụng cụ mới chỉ có từ khoảng thế kỷ 17, nhưng chuỗi số liệu dài nhất ở qui mô toàn cầu mới chỉ bắt đầu có từ 1850. Tuy nhiên, tùy từng khu vực cụ thể độ dài của chuỗi quan trắc sẽ khác nhau. Chẳng hạn, ở Việt Nam số liệu quan trắc khí tượng mới chỉ có từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, và rất nhiều trạm khí tượng mới chỉ bắt đầu quan trắc từ sau ngày giải phóng miền Nam. Mật độ phân bố mạng lưới trạm cũng rất khác nhau giữa các vùng khác nhau trên thế giới và nói chung phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia.

    Từ các tập số liệu quan trắc ban đầu (số liệu gốc), các đặc trưng dẫn xuất hoặc các tập mẫu sẽ được xác định để lập thành các chuỗi số liệu mới làm cơ sở cho việc xử lí, tính toán, phân tích.

    Do độ phân giải ngang của các mô hình toàn cầu hiện nay còn tương đối thô (thông thường khoảng 200-300km), chưa đủ chi tiết để mô tả điều kiện khí hậu địa phương và khu vực, nên để xây dựng các kịch bản BĐKH ở cấp quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương người ta thường hạ thấp qui mô (downscale) sản phẩm của mô hình toàn cầu bằng các mô hình thống kê hoặc mô hình khí hậu khu vực. Kết quả của việc hạ thấp qui mô này là các trường khí hậu có độ phân giải cao hơn, chi tiết hơn, phản ánh đầy đủ hơn các quá trình qui mô vừa và nhỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Nguyên Nhân Và Hậu Quả
  • Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • “Công Thức Vàng” Cho Học Sinh Lớp 4 Muốn Tính Diện Tích Hình Bình Hành
  • Internal Link Là Gì? Tạo Link Liên Kết Nội Bộ Thúc Đẩy Seo
  • Thuật Toán Facebook Là Gì? Chúng Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Công Ước Khung Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hợp Quốc 1992
  • Biến đổi khí hậu là nỗi lo chung của toàn nhân loại, vậy trên thực tế biến đổi khí hậu là gì, nguyên nhân biến đổi khí hậu ở Việt Nam và toàn cầu do đâu? hậu quả của biến đổi khí hậu nghiêm trọng như thế nào?

    Tất cả sẽ được Thanh Bình giải đáp trong bài viết hôm nay. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ đề xuất các biện pháp phòng chống, khắc phục biến đổi khí hậu để trang bị cho quý khách những kiến thức thiết thực nhất.

    Khí hậu là định nghĩa phổ biến dùng để chỉ thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định, bao gồm các yếu tố chính như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, cùng các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác.

    Vậy khí hậu ở Việt Nam như thế nào? Việt Nam là đất nước có lãnh thổ nằm hoàn toàn trong vùng nhiệt đới, tuy nhiên theo cách phân loại khí hậu Köppen thì khí hậu của Việt Nam vẫn sẽ bao gồm 3 vùng khí hậu riêng biệt với miền Bắc và Bắc Trung Bộ thuộc khí hậu cận nhiệt đới.

    Trong đó, miền Bắc có 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông rõ rệt. Miền Trung và Nam Trung Bộ thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, Miền cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ lại mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới Xavan.

    Miền Nam có 2 mùa, gồm mùa khô và mùa mưa. Ngoài ra, do nằm giáp biển Đông nên khí hậu Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở những vùng có vĩ độ thấp.

    Đối với khí hậu ở Việt Nam quý khách cũng có thể hiểu một cách đơn giản hơn, đó là bắc phần có 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông nên hoàn toàn trong vùng ôn đới, còn nam phần có 2 mùa (mùa khô và mùa mưa) nên hoàn toàn trong vùng nhiệt đới.

    Thông tin từ giới chuyên gia, biến đổi khí hậu là khái niệm, định nghĩa dùng để chỉ sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, sinh quyển, thủy quyển, băng quyển, thạch quyển ở hiện tại và trong tương lai do tác động của những nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định, thường tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm.

    Sự biến đổi khí hậu có thể là sự thay đổi thời tiết bình quân hoặc thay đổi sự phân bổ những sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình, có thể giới hạn trong một vùng nhất định (ví dụ biến đổi khí hậu ở Việt Nam). Còn trường hợp biến đổi khí hậu toàn cầu là gì? đó là định nghĩa chỉ sự biến đổi khí hậu xuất hiện ở tất cả mọi vị trí trên toàn bộ Địa Cầu.

    Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là nỗi lo chung của nhân loại nên có rất nhiều tài liệu tiếng Anh đề cập đến vấn đề này, vì thế quý khách có thể tìm hiểu thêm. Trước khi tìm hiểu quý khách cần phải biết được biến đổi khí hậu tiếng Anh là gì để tiện cho việc truy vấn, nếu chưa biết thì Climate Change chính là gợi ý của Thanh Bình.

    Nắm rõ các biểu hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như biến đổi khí hậu Việt Nam sẽ giúp mỗi người dân tự ý thức được mức độ nguy hiểm của vấn đề đang xảy ra, chứ không phải chỉ là trên giả thuyết.

    Biểu hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu

    Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng cao

    Tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay ngày càng chuyển biến theo chiều hướng xấu, điển hình là sự nóng lên trái đất Nói cách khác, nhiệt độ trung bình ngày càng tăng cao do sự nóng lên của bầu khí quyển chính là một trong những biểu hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Phát biểu về vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay vào ngày 23/9/2019, chuyên viên khoa học cấp cao của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) – ông Omar Baddour cho biết, nhiệt độ trung bình toàn cầu đang trên đà chạm mức tăng ít nhất từ 1.2 – 1.3 °C so với mức của thời kỳ tiền công nghiệp trong 5 năm tới.

    WMO cũng cho biết thêm, trong giai đoạn 2022 – 2022 nhiệt độ trung bình toàn cầu có xu hướng cao kỷ lục, cao hơn 0.2 °C so với giai đoạn từ năm 2011 – 2022. Dự đoán tốc độ tăng nhiệt sẽ không dừng lại, trái đất sẽ tiếp tục nóng lên.

    Hạn hán xuất hiện nhiều nơi trên Trái Đất

    Biểu hiện biến đổi khí hậu trên Trái Đất tiếp theo là hạn hán ngày càng gia tăng ở nhiều vùng, miền trên thế giới. Đây chính là thực trạng biến đổi khí hậu toàn cầu rất nguy hiểm, đe dọa sự sống của con người và sinh vật.

    Kể từ năm 1970, diện tích chịu sự ảnh hưởng của hạn hán ngày càng gia tăng. Biểu hiện của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu này dễ dàng nhận thấy nhất ở các nước khu vực Châu Âu, phía Tây của Hoa Kỳ và Châu Úc.

    Lượng mưa tăng giảm thất thường

    Trái ngược với hạn hán thì lượng mưa gia tăng và thay đổi thất thường cũng chính là biểu hiện biến đổi khí hậu trên thế giới mà quý khách nên bổ sung thêm vào kho tàng kiến thức của mình ngay hôm nay.

    Theo đó, thay vì mưa theo quy luật vào một số mùa nhất định trong năm thì hiện nay thường xuất hiện những cơn mưa lớn trái mùa ở nhiều khu vực trên thế giới. Thống kế từ 1900 – 2005, tại các khu vực phía Bắc vĩ độ 30°N lượng mưa có xu hướng gia tăng gây lũ lụt, trong khi đó lượng mưa vùng nhiệt đới lại có xu hướng giảm khiến nguồn nước tưới tiêu khan hiếm.

    Mực nước biển dâng cao, axit hóa đại dương

    Biến đổi khí hậu nguyên nhân và biểu hiện mực nước biển dâng cao là do nhiệt độ tăng cao và băng tan khiến nước bị giãn nở. Theo nguồn thông tin chính thống của NASA, dự đoán đến năm 2100, mực nước có khả năng dâng cao thêm 0.3 – 1.2m.

    Bên cạnh đó, sự phát thải khí CO2 của con người vào tầng khí quyển cũng khiến lượng CO2 bị hấp thụ ở đại dương tăng dẫn đến hiện tượng axit hóa đại dương. Hiện nay, mỗi năm tỷ lệ CO2 bị hấp thụ vào đại dương tăng 2 tỷ tấn.

    Liên tục xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan

    Thêm một biểu hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu điển hình nữa, đó là sự xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan. Có thể là sự gia tăng đột biến về cả số lượng và cường độ của những cơn bão lớn, mưa đá, lốc xoáy, hiện tượng EL Nino … mỗi năm.

    Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương và các khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương … là những trọng điểm quý khách có thể nhìn thấy rõ nét nhất những hiện tượng thời tiết cực đoan khiến toàn thế giới hoang mang, lo sợ.

    Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay có chuyển biến phức tạp hơn các thập niên trước. Trong đó, tình hình biến đổi khí hậu ở Cà Mau, biến đổi khí hậu ở Tây Nguyên và khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long có những biểu hiện nặng nề nhất.

    Cụ thể, biến đổi khí hậu tại Việt Nam sẽ bao gồm tất cả các biểu hiện của biến đổi khí hậu toàn cầu. Bên cạnh đó, vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam còn kèm theo một số biểu hiện đặc thù sau đây:

    • Mức nhiệt độ nền tăng cao khiến ngày lạnh bị rút ngắn, ngày nắng nóng kéo dài, mùa Đông và mùa Hạ không còn phân biệt rõ rệt như trước đây.
    • Thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lũ, sạt lở đất ở nhiều địa điểm, vùng miền trên toàn quốc.
    • Mưa đá, lốc xoáy, sấm sét … xuất hiện ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên.
    • Nước nhiễm mặn, nhiều vùng bị xâm lấn, nhất là ở Cà Mau do địa hình thấp so với mực nước biển, lại chịu tác động của cả hai chế độ thủy triều.
    • Hạn hán kéo dài ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

    Đối với giới chuyên môn, kịch bản biến đổi khí hậu không còn là khái niệm xa lạ, nhưng đối với những người dân bình thường thì kịch bản biến đổi khí hậu là gì lại là một câu hỏi không phải ai cũng trả lời được.

    Vậy thực tế kịch bản biến đổi khí hậu là gì? Đó là những giả định có cơ sở khoa học và có mức độ tin cậy cao về xu hướng khí hậu trong tương lai dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế xã hội, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng.

    Mục đích xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu nói chung, kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam nói riêng là nhằm dự báo về những trường hợp có thể xảy ra và mức độ ảnh hưởng để giúp các Bộ, Cơ quan chủ động tìm hướng giải quyết, ứng phó và khắc phục kịp thời.

    Tính đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có 4 kịch bản biến đổi khí hậu, gồm:

    Tại Việt Nam, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng được Bộ Tài Nguyên và Môi Trường công bố lần đầu vào năm 2009 dựa trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu và có tham khảo các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu của Liên Hợp Quốc.

    Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Bao gồm:

    Quỹ đạo Trái đất thay đổi

    Trái Đất tự quanh quanh Mặt Trăng và quay xung quanh trục của nó nghiêng một góc 23.5 độ. Bất kỳ sự thay đổi nào ở các tham số quỹ đạo Trái Đất đều là nguyên nhân biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Tuy nhiên, sự thay đổi chuyển động Trái Đất diễn ra khá chậm chạp, cụ thể sự thay đổi độ lệch tâm có chu kỳ lên đến 96.000 năm, độ nghiêng trục dao động khoảng 41.000 năm, tiến động của trục Trái Đất khoảng 19.000 – 23.000 năm.

    Thay đổi dòng hải lưu ở đại dương

    Biến đổi khí hậu nước biển dâng là một trong những biểu hiện điển hình, bởi đại dương là nền tảng quan trọng của hệ thống khí hậu, dòng hải lưu giữ vai trò vận chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh. Do đó, sự thay đổi trong lưu thông ở dòng hải lưu trong đại dương cũng chính là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Sự thay đổi về phát xạ của mặt trời và hấp thụ bức xạ của trái đất

    Thêm một nguyên nhân của biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu nữa, đó là sự thay đổi phát xạ của mặt trời và sự hấp thụ bức xạ của trái đất. Theo đó, phát xạ của mặt trời yếu đi sẽ gây ra băng hà, còn phát xạ mặt trời mãnh liệt dẫn đến khí hậu khô và nóng trên bề mặt trái đất. Cùng với đó, các vết đen trên mặt trời sẽ làm cường độ bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, dẫn đến thay đổi về khí hậu.

    Do các hoạt động địa chất, phun trào núi lửa

    Qua các thời kỳ địa chất do quá trình kiến tạo, phun trào núi lửa, sự trôi dạt của các lục địa … bề mặt Trái Đất cũng sẽ bị biến dạng, dẫn đến thay đổi trong phân bố lục địa – đại dương, Khi hình thái bề mặt Trái Đất thay đổi thì sự phân bố bức xạ mặt trời và cân bằng nhiệt cũng biến đổi.

    Bên cạnh đó, khí và tro được tạo ra khi núi lửa phun trào vào khí quyển có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khí hậu trong nhiều năm. Đồng thời, các SOL khí do núi lửa phản chiếu bức xạ mặt trời trở lại vào không gian cũng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt Trái Đất.

    Những tác động của con người

    Cụ thể, đó là tất cả những hoạt động phát thải quá mức các khí nhà kính như CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs … vào bầu khí quyển khiến trái đất nóng lên và bị thay đổi khí hậu do hiện tượng hiệu ứng nhà kính.

    Mặt khác, rừng và biến đổi khí hậu cũng có mối liên kết với nhau. Nạn chặt phá rừng, đốt rừng cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. Lý do, rừng chính là “Lá phổi xanh” của Trái Đất, có tác dụng hấp thụ CO2.

    Đặc biệt, trong thời kỳ tiền công nghiệp, con người đã sử dụng rất nhiều nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt) vì thế tốc độ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính gia tăng mạnh, khiến trái đất ngày một nóng hơn.

    Đến năm 2011, nồng độ khí nhà kính tăng 40% ppb, CH4 (metan) tăng 150% và N2O tăng 20% so với thời kỳ tiền công nghiệp. Đây là mức tăng khủng khiếp chưa từng có trong suốt 22.000 năm qua.

    Kết luận: Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu toàn cầu trực tiếp trong giai đoạn này chính là do tác động của con người, còn các nguyên nhân tự nhiên khách quan khác chỉ ảnh hưởng rất nhỏ vì chu kỳ biến đổi rất dài.

    Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay sẽ bao gồm tất cả các nguyên nhân biến đổi khí hậu toàn cầu khách quan như: Thay đổi quỹ đạo trái đất, thay đổi dòng hải lưu đại dương, thay đổi địa chất, các hoạt động phun trào núi lửa, sự thay đổi phát xạ của mặt trời.

    Ngoài ra, nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu ở Việt Nam còn do:

    • Kỹ thuật canh tác còn lạc hậu
    • Kỹ thuật chăn nuôi còn nhiều hạn chế, phân thải từ vật nuôi vẫn được xả trực tiếp ra môi trường.
    • Nạn chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy
    • Đốt rơm rạ sau vụ mùa
    • Những vùng quê nghèo vẫn còn đun nấu bằng các nguyên liệu thô sơ như củi, rơm, than tổ ong …
    • Lượng khói thải từ phương tiện giao thông, sản xuất nông nghiệp rất nhiều.
    • Các chất thải từ nhà máy, xí nghiệp.
    • Nhu cầu sử dụng các thiết bị làm lạnh ngày càng tăng do khí hậu ngày càng nóng.
    • […]

    Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu nói chung, Việt Nam nói riêng đầu tiên mà chúng tôi muốn nhắc đến là những ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe con người.

    Bởi vì, biến đổi khí hậu dẫn đến nhiệt độ trái đất tăng cao, nắng nóng kinh hoàng xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Điều này đe dọa đến tính mạng của nhiều người, đặc biệt là nhóm người già, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, những người có cơ địa yếu, có tiền sử mắc bệnh thần kinh, tim mạch.

    Cụ thể, đợt nắng nóng kỷ lục vào năm 2003 kéo dài hai tháng đã cướp đi tính mạng của 70.000 người trên toàn Châu Âu, trong đó nước Pháp chiếm 13.000 người. Năm 2022 tại nước Đức cũng có 1000 người thiệt mạng. Gần đây hơn là vào tháng 7 năm 2022, gần 3.000 người Hà Lan cũng bị mất vì thời tiết quá khắc nghiệt.

    Bên cạnh đó, hậu quả của việc biến đổi khí hậu toàn cầu khiến bão lụt gia tăng, tạo điều kiện cho các loại muỗi, ký sinh trùng, côn trùng và những sinh vật có hại phát triển, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền như sốt xuất huyết, thổ tả, kiết lỵ, viêm não ngựa, viêm não nhật bản, dịch hạch … khiến nhiều người phải bỏ mạng.

    Bên cạnh ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến Việt Nam và toàn cầu ở khía cạnh con người thì hiện tượng này còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế của mọi miền đất nước trên thế giới.

    Bởi vì lũ lụt và hạn hán gia tăng đã tàn phá đi hàng triệu công trình kiến trúc, hoa màu; nước biển dâng cao nhấn chìm nhiều nhà cửa, đất đai tại những khu vực trũng gây thiệt hại hàng tỷ USD mỗi năm.

    Bên cạnh đó, việc chống biến đổi khí hậu tại Việt Nam và trên toàn cầu cũng tiêu tốn rất nhiều tiền của, chi phí cho cuộc chiến biến đổi khí hậu là một con số khổng lồ, khiến kinh tế quốc gia bị thâm hụt nặng nề.

    Bên cạnh đó, những tổn thất về kinh tế còn ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, lương thực thực phẩm khan hiếm, người dân phải chịu cảnh giá cả leo thang, chính phủ mất đi nguồn thu từ ngành du lịch và công nghiệp.

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến trồng trọt và các hoạt động nông nghiệp cũng là câu trả lời cho những ai còn phân vân chưa biết biến đổi khí hậu gây ra hậu quả gì. Ở khía cạnh này, Việt Nam là một trong những nước chịu hậu quả nặng nề nhất vì nền nông nghiệp nước ta còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên.

    Theo đó, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam ở khía cạnh nông nghiệp khá nghiêm trọng, lũ lụt và nước biển dâng cao sẽ làm mất đi nhiều diện tích canh tác nông nghiệp, đất bị nhiễm mặn, năng suất giảm, thậm chí mất trắng khiến đời sống của bà con nông dân đã khó khăn nay lại càng thêm nghèo đói, đặc biệt là khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long và các vùng ven biển.

    Tác động của biến đổi khí hậu cũng khiến tài nguyên rừng ở Việt Nam và trên thế giới bị suy thoái do diện tích rừng bị ngập mặn ngày càng gia tăng, cũng như các vụ cháy rừng tự phát do trái đất không ngừng nóng lên.

    Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên rừng Việt Nam còn do nạn chặt phá rừng làm đất canh tác nông nghiệp bởi vì diện tích đất đai trồng trọt ngày càng bị xâm lấn, nhiễm mặn và bị thu hẹp do mực nước biển dâng cao.

    Không chỉ cây rừng mà những loại sinh vật, động vật quý hiếm sống trong rừng cũng suy kiệt dần, thậm chí còn đối diện với nguy cơ tuyệt chủng do hậu quả của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến môi trường sống, hủy diệt hệ sinh thái, nguồn thức ngăn và nơi trú ngụ của chúng.

    Hậu quả của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam và toàn cầu tiếp theo là khiến nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu trở nên khan hiếm hơn, nguồn nước nhiễm phèn, nhiễm mặn gia tăng, nguồn nước ngầm suy giảm.

    Trong khi đó, nước là cội nguồn của sự sống, không có nước thì con người, sinh vật, các hoạt động canh tác nông lâm nghiệp … đều rơi vào bế tắc. Nếu không có giải pháp của biến đổi khí hậu phù hợp thì hậu quả do tài nguyên nước thiếu hụt sẽ vô cùng nghiêm trọng.

    Đất đai ngày càng thu hẹp trong khi dân số không ngừng tăng, lương thực cùng nguồn nước ngọt khan hiếm, giá cả leo thang … do tác hại của biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến xung đột, tranh chấp giữa các nước và vùng lãnh thổ, điển hình là ở Darfur do suốt 20 năm nơi đây chỉ có mưa nhỏ giọt, thậm chí không mưa.

    Dưới tác động theo chiều hướng xấu của biến đổi khí hậu cũng khiến vấn đề an ninh quốc gia bất ổn, khó kiểm soát hơn, dễ xảy ra tệ nạn xã hội, ẩu đả giữa các cá nhân, cơ quan và tổ chức.

    Nhắc đến các hậu quả của việc biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam và toàn cầu không thể không kể đến những ảnh hưởng đối với ngành ngư nghiệp.

    Dự tính Việt Nam có khoảng 460 nghìn người trực tiếp tham gia đánh bắt hải sản, 100 nghìn người làm việc trong lĩnh vực chế biến thủy hải sản, hơn 2 triệu người tham gia vào các dịch vụ nghề cá dựa vào sự phong phú nguồn lợi ven biển. Bởi thế, trước tác động của biến đổi khí hậu ngư nghiệp cũng là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.

    Rừng và biến đổi khí hậu có ảnh hưởng qua lại, nếu hệ sinh thái rừng bị suy thoái thì sẽ gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường vì không còn “lá phổi xanh” để hấp thụ khí CO2 c – một trong những loại khí gây hiệu ứng nhà kính chủ yếu khiến trái đất ngày càng nóng lên.

    Chính vì thế, bảo vệ rừng và trồng thêm cây xanh có khả năng hấp thụ CO2 cao là giải pháp ứng phó, khắc phục và chống biến đổi khí hậu toàn cầu mà mỗi người dân, mỗi quốc gia trên thế giới đều phải nghiêm túc thực hiện.

    Biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu toàn cầu thứ hai là hạn chế tối đa việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ, đá phiến, khí đốt. Bởi vì đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến phát tán các chất gây hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Sử dụng năng lượng sạch là cách khắc phục và cũng là biện pháp chống biến đổi khí hậu toàn cầu đe dọa sự sống còn của toàn thể nhân loại. Năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều … là những nguồn năng lượng từ thiên nhiên, vô cùng thân thiện với môi trường sống của trái đất.

    Cập nhật thường xuyên các thông tin về biến đổi khí hậu là biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu một cách chủ động. Quý khách có thể tìm hiểu về những chính sách biến đổi khí hậu ở địa phương, quốc gia mình đang sinh sống hoặc theo dõi các cuộc họp bảo vệ môi trường mang tính quốc tế như Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.

    Thêm một biện pháp để ứng phó, giảm nhẹ biến đổi khí hậu mà ai trong số chúng ta cũng đều làm được. Theo đó, quý khách có thể sử dụng nguồn ánh sáng mặt trời vào ban ngày thay vì dùng điện để thắp sáng, khi ra khỏi phòng nên tắt các thiết bị đang chạy bằng điện, sử dụng đèn compact thay vì đèn neon và đèn sợi đốt.

    Còn đây là cách khắc phục, phòng chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam và các nước có nền nông nghiệp lúa nước vô cùng thông minh. Chúng ta có thể thay các loại cây trồng dài hạn bằng cây trồng ngắn hạn để tránh bão lũ, sử dụng nhóm cây có khả năng chịu mặn, chịu phèn tốt.

    Trong chăn nuôi, quý khách nên xây dựng hầm biogas cải tiến, hầm cầu tự hoại để ngăn chặn phân thải xả trực tiếp ra môi trường làm khí gây hiệu ứng nhà kính gia tăng, dẫn đến những biến đổi khí hậu khôn lường.

    Đây cũng là cách ứng phó với biến đổi khí hậu hữu hiệu. Ví dụ, khi sử dụng một chiếc tủ lạnh có dán nhãn tiết kiệm năng lượng nghĩa là quý khách đã giảm được gần một nửa tấn khí CO2 mỗi năm so với việc sử dụng một chiếc tủ lạnh thông thường.

    Nếu làm việc gần nhà, quý khách có thể đi bộ hoặc đi xe đạp thay vì di chuyển bằng xe máy, ô tô nên sẽ hạn chế tối đa việc phát thải các khí gây ô nhiễm môi trường. Trường hợp làm việc xa nhà thì chọn các phương tiện giao thông công cộng để lưu thông cũng là biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cần tuyên dương.

    Theo thống kê khoa học, nhà ở chiếm tới ⅓ lượng phát tán khí thải gây ra hiện tượng nhà kính dẫn đến biến đổi khí hậu. Vì vậy, giải pháp khắc phục biến đổi khí hậu tiếp theo là cải tạo cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà ở thân thiện môi trường, sử dụng cầu thang điều chỉnh nhiệt, tăng cường hệ thống chống ồn… Các công trình cầu đường cũng nên được đầu tư thỏa đáng để đảm bảo lưu thông thuận lợi, giảm thải nguồn nhiên liệu tiêu thụ cho xe cộ.

    Túi nilon gây tác hại cho môi trường ngay từ khâu sản xuất vì phải sử dụng nguyên liệu dầu mỏ và khí đốt, các chất phụ gia, phẩm màu, kim loại nặng. Do đó, không sử dụng hoặc hạn chế sử dụng túi nilon là một trong những biện pháp ngăn chặn, phòng chống, giảm nhẹ hậu quả của biến đổi khí hậu mà chúng ta nên thực hiện ngay từ hôm nay.

    Thanh Bình mong rằng, sau bài viết này tất cả chúng ta đã hiểu rõ biến đổi khí hậu là gì, cũng như biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả và cách khắc phục biến đổi khí hậu ở Việt Nam và trên toàn cầu. Nếu quý khách còn bất kỳ thắc mắc gì, xin vui lòng liên hệ với công ty chúng tôi theo số HOTLINE : 0975 252 999 để được tư vấn hỗ trợ trực tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Cách Tính Chu Vi Hình Bình Hành
  • Công Thức, Cách Tính, Định Nghĩa
  • Bài Tập Phần Hình Bình Hành
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Công Ước Khung Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hợp Quốc 1992
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì? Hiệp Định Paris Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu Năm 2014 (Phần 1)
  • Hiện nay thì việc biến đổi làm gia tăng nhiệt độ toàn cầu và khiến cho mực nước biển đang dâng lên là một trong những thách thức hàng đầu mà nhân loại phải giải quyết.

    Sự biến đổi về thời tiết có thể được diễn ra ở một vùng nhất định hoặc cũng có thể diễn ra trên toàn thế giới.

    Biến đổi khí hậu thường được đề cập tới sự thay đổi thời tiết hay còn được gọi bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu.

    Hiện nay thì nguyên dân dẫn tới biến đổi khí hậu gồm 2 nguyên nhân chính:

    Nguyên nhân chủ quan:

    • Nguyên nhân này phần lớn là do sự tác động của con người vào. Do việc thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng khí thải và một số loại khí nhà kính khác từ các hoạt động kinh tế của con người.
    • Những tác động này sẽ là biến đổi bầu khí quyển của trái đất. Khi mật độ khí nhà kính vượt mức báo động sẽ làm cho nhiệt độ của trái đất cũng tăng dần lên. Điều này sẽ làm thay đổi thời tiết ở nhiều vùng trên trái đất.

    Nguyên nhân khách quan

    • Đây là nguyên nhân do sự biến đổi của tự nhiên như: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, trái đất thay đổi quỹ đạo, quá trình kiến tạo núi và kiến tạo các thềm lục địa, sự biến đổi của nhiều dòng hải lưu và sự lưu chuyển bên trong của hệ thống khí quyển.
    • Như vậy nguyên nhân dẫn tới biến đổi khí hậu là do hiện tượng hiệu ứng nhà kính hay còn được gọi là sự nóng lên của trái đất và nhiều nguyên nhân từ tự nhiên khác.
    • Hiện nay các nhà khoa học đã chứng minh được mối quan hệ giữa sự tăng nhiệt độ của trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển. Hiện nay thì hàm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển đang tăng cao với một tốc độ nhanh. Chính vì hàm lượng khí CO2 tăng lên sẽ làm cho nhiệt độ của trái đất tăng dần lên.

    Hệ sinh thái bị phá hủy

    Biến đổi khí hậu ngày càng thay đổi sẽ làm cho hệ sinh thái của trái đất bị thay đổi. Việc biến đổi sẽ làm cho nguồn nước ngọt bị thiếu hụt, môi trường không khí bị ô nhiễm, Các nguồn năng lượng tự nhiên dần bị cạn kiệt và một số vấn đề khác.

    Điển hình hậu quả của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái như làm cho san hô bị tẩy trắng do nước biển ấm lên.

    Do mất đi sự đa dạng sinh học

    Nhiệt độ trái đất ngày một tăng nên điều này sẽ khiến cho một số loài có nguy cơ bị biến mất và thậm chí là bị tuyệt chủng. Nguyên nhân chính là do môi trường sống của các loại động vật này đang bị đe dọa do nạn phá rừng của con người.

    Đối với chúng ta thì cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng, tình trạng đất bị hoang hoắc và nước biển xâm lấn cũng đe dọa tới nơi cư trú của chúng ta.

    Dịch bệnh

    Khi nhiệt độ môi trường tăng lên kéo theo đó là các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, hạn hán điều này sẽ tạo điều kiện cho các con vật truyền nhiễm như chuột, muỗi có thể sinh sôi. Truyền nhiễm sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới.

    Tổ chức y tế thế giới đa có cảnh báo một số loại dịch bệnh nguy hiểm đã lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều khu vực trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện một số bệnh nhiệt đới.

    Mức nước biển dâng lên

    Ngày nay do nhiệt độ tăng lên khiến cho mực nước biển cũng dần tăng lên. Khi nhiệt độ tăng nên sẽ khiến cho các con sông băng, biển băng hay một số lục địa băng trên thế giới bị tan chảy và khiến cho lượng nước đổ ra biển và đại dương cũng tăng lên.

    Tình trạng nước biển dâng lên sẽ làm cho các bờ biển bị biến mất.

    Việt Nam năm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa lên tình trạng thường xuyên xuất hiện những cơn bão từ biển vào và phải ứng phó với tình trạng ngập lụt do biến đổi khí hậu gây ra.

    Tình trạng biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới Việt Nam được biểu hiện rõ nhất là diện tích đất ở sẽ bị ngập nước điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của người dân.

    Cứ mỗi năm thì Việt Nam phải gánh chịu hơn 10 cơn bão đổ bộ vào do khí hậu gây ra.

    Để có thể giảm tình trạng biến đổi khí hậu thì đã có nhiều công ước chung của Liên hợp quốc đưa gia về biến đổi khí hậu, và đây cũng là phát lý cho các nỗ lực của thế giới trong việc chống lại sự biến đổi khí hậu trên toàn thế giới.

    • Để có thể ứng phó tốt với biến đổi khí hậu thì quốc gia phải thực hiện một số hoạt động như:
    • Hạn chế sử dụng những nguyên liệu từ hóa thạch.
    • Cải tạo và nâng cấp hạ tầng.
    • Ngăn chặn các hành vi chặt phá rừng.
    • Ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ môi trường và Trái đất.

    Tìm hiểu khí hậu nhiệt đới là gì

    Một số người cho rằng từ khí hậu nhiệt đới đề cập đến điểm nghỉ mát ấm áp yêu thích của họ. Tuy nhiên, điều này hơi xa sự thật vì từ nhiệt đới được định nghĩa khác trong khí tượng học. Khí hậu nhiệt đới được xác định là đặc điểm khí hậu của vùng nhiệt đới.

    Phân loại khí hậu nhiệt đới

    Khí hậu rừng mưa nhiệt đới (Af) thường xảy ra gần xích đạo, thường trong phạm vi 10 hoặc 15 độ vĩ độ bắc và nam của xích đạo. Khí hậu này bị chi phối bởi các vùng ảm đạm hoặc vùng hội tụ liên vùng và khu vực không khí chìm, gió lặng và mưa thường xuyên. Lượng mưa theo mùa rất lớn, thường là hơn 200 cm hàng năm. Ở vùng khí hậu nhiệt đới nhiệt đới, không có mùa khô hoặc nhiều nhất là hai tháng khô. Tất cả 12 tháng có lượng mưa trung bình ít nhất 60 mm.

    Các lưu vực sông Amazon của Nam Mỹ, các lưu vực sông Congo của xích đạo châu Phi và lề đại dương của các bộ phận của vùng nhiệt đới tây Phi có khí hậu rừng mưa nhiệt đới. Khu vực bán đảo và bán đảo của Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan, Philippines, New Guinea. Indonesia, v.v.) bao gồm khu vực rộng lớn nhất với khí hậu rừng mưa nhiệt đới. Đông Trung Mỹ và một phần của các đảo Caribbean , rìa Đại Tây Dương của Brazil , phía đông đảo Madagascar và miền nam Ceylon bao gồm các khu vực nhỏ hơn với khí hậu rừng mưa nhiệt đới.

    Một số nơi có khí hậu này thực sự ẩm ướt đồng đều và đơn điệu trong suốt cả năm (ví dụ: bờ biển phía tây bắc Thái Bình Dương của Nam và Trung Mỹ , từ Ecuador đến Costa Rica ; ví dụ, Andagoya , Colombia ), nhưng trong nhiều trường hợp, thời gian mặt trời lên cao hơn và ngày dài hơn rõ rệt nhất (như tại Palembang , Indonesia ) hoặc thời gian mặt trời thấp hơn và những ngày ngắn hơn có thể có nhiều mưa hơn (như tại Sitiawan , Malaysia ).

    Khí hậu rừng mưa nhiệt đới

    Kiểu khí hậu này là kết quả của gió mùa thay đổi hướng theo mùa. Trong kiểu khí hậu nhiệt đới này, có một mùa khô ngắn nhưng khác biệt. Do đó, khu vực này nằm dưới ảnh hưởng của khu vực hội tụ liên vùng vào thời điểm mặt trời cao (mùa hè) và dưới ảnh hưởng của gió mậu dịch khô hơn vào thời điểm mặt trời thấp (mùa đông). Khí hậu này có một tháng khô nhất (gần như luôn luôn xảy ra vào hoặc ngay sau ngày “mùa đông” ở phía bên kia của đường xích đạo) với lượng mưa nhỏ hơn 60 mm, nhưng hơn 1/25 tổng lượng mưa hàng năm.

    Khí hậu nhiệt đới ẩm và khô có mùa khô rõ rệt, với tháng khô nhất có lượng mưa nhỏ hơn 60 mm và dưới 1/25 tổng lượng mưa hàng năm. Trong khí hậu nhiệt đới này, mùa khô thường là vài tháng và có thể nghiêm trọng, với hầu hết đời sống thực vật và động vật thích nghi với điều kiện khô hạn trong vài tháng. Khí hậu nhiệt đới ẩm và khô thường xuyên (nhưng không phải lúc nào cũng như ở châu Phi) xảy ra ở các vĩ độ nhiệt đới cao hơn, giữa 15 và 20 bắc và nam. Khí hậu thường có những cánh đồng cỏ rợp bóng cây, thay vì rừng rậm. Chính sự xuất hiện rộng rãi của cỏ cao, thô (được gọi là savanna) đã dẫn đến khí hậu Aw thường được gọi là savanna nhiệt đới. Tuy nhiên, có một số nghi ngờ liệu đồng cỏ nhiệt đới có gây ra khí hậu hay không. Ngoài ra, thảo nguyên nguyên chất, không có cây là ngoại lệ.

    Kiểu khí hậu nhiệt đới này xảy ra ở miền bắc Australia, trên khắp Sudan và miền đông châu Phi, và một phần phía nam trung tâm Brazil và các vùng lân cận của Bolivia và Paraguay và phía tây Madagascar ở nam bán cầu. Ở phía bắc bán cầu, khí hậu nhiệt đới savanna xảy ra ở phía bắc Amazon ở Venezuela và Colombia , cũng như một phần của miền tây Trung Mỹ , miền tây Cuba và vùng cực nam của Florida ở Hoa Kỳ.

    Khí hậu nhiệt đới gió mùa

    Do các nguyên nhân khác nhau của một số nơi trong vùng nhiệt đới không có khí hậu nhiệt đới, chẳng hạn như một số khu vực sa mạc và vùng núi cao.

    Ví dụ:

    Khí hậu nhiệt đới ẩm và khô

    • Phần phía nam của bán đảo Ả Rập .
    • Các sa mạc Sahara .
    • Vùng núi cao của vùng nhiệt đới. Đỉnh núi trong vùng nhiệt đới, ví dụ: Núi Kenya , có thể lạnh. Tuy nhiên, giống như vùng đất thấp ở vùng nhiệt đới (và không giống như vùng ôn đới mùa đông lạnh ), có rất ít sự thay đổi nhiệt độ theo mùa.

    Vùng hội tụ liên vùng

    Do ảnh hưởng của góc mặt trời đến khí hậu, hầu hết các khu vực trong vùng nhiệt đới đều nóng quanh năm, với sự thay đổi nhiệt độ ban ngày vượt quá sự thay đổi theo mùa. Sự thay đổi theo mùa của khí hậu nhiệt đới bị chi phối bởi sự thay đổi lượng mưa, do đó chịu ảnh hưởng lớn từ vành đai mưa nhiệt đới hoặc Vùng hội tụ liên vùng (ITCZ), một phần của tế bào Hadley (được đặt tên theo George Hadley). Các khu vực không khí tăng dần có lượng mưa lớn; khu vực không khí giảm dần là khô. Vùng hội tụ liên vùng phần nào theo đường xích đạo mặt trời trong suốt cả năm, nhưng với các biến đổi địa lý và ở một số khu vực (Ấn Độ) chịu ảnh hưởng nặng nề của gió mùa quy mô lớn tại địa phương .

    Ô nhiễm tiếng ồn là gì

    Nhiều người trong chúng ta, chắc hẳn sẽ đặt ra câu hỏi ô nhiễm tiếng ồn là gì? Theo các chuyên gia thì ô nhiễm tiếng ồn là tiếng ồn trong môi trường vượt quá ngưỡng định, gây khó chịu cho con người cũng như các loài động vật.

    Những tác hại của ô nhiễm tiếng ồn

    Tiếng ồn luôn là nỗi ám ảnh của những người sống ở những thành phố lớn, nơi có tốc độ đô thị hóa cao. Người dân không những phải chịu cảnh ùn tắc giao thông hàng ngày, hàng giờ, đồng thời phải gánh chịu thêm nhiều tiếng ồn đến mức báo động.

    Nhất là vào những giờ cao điểm bạn sẽ nhận thấy đầy đủ những âm thanh hỗn độn như tiếng động cơ xe tham gia giao thông, hào lẫn với tiếng còi, hay các loại âm thanh từ các nhà hàng, trung tâm điện máy được bật với công suất lớn để thu hút sự chú ý của khách hàng.

    Ngoài ra còn phải kể đến tiếng ồn từ các công trình xây dựng xung quanh, khiến cho mọi người phải sống chung với tiếng ồn suốt ngày, không những ban ngày mà kể cả ban đêm.

    Theo các chuyên gia môi trường đã cảnh báo, tiếng ồn ở các đô thị được ví như những kẻ sát nhân giấu mặt, bởi vì gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Tuy nhiên, mọi người thường không quan tâm, và cảm thấy bình thường, chấp nhận sống chung với nó, chứ rất ít khi để ý đến tác hại nguy hiểm gây ra sau đó.

    Ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng như thế nào tới chất lượng sống?

    Tổ chức Y tế thế giới WHO đã cho biết, trong ba thập niên trở lại đây thì ô nhiễm tiếng ồn đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Còn các chuyên gia y tế đã xếp ô nhiễm tiếng ồn chỉ đứng sau ô nhiễm không khí.

    Tiếng ồn không chỉ khiến mọi người cảm thấy khó chịu, rối loạn, phiền toái mà còn xâm phạm đời sống riêng tư của mỗi người, gây cản trở công việc. Ngày càng có nhiều bằng chứng chứng minh cho thấy tiếng ồn trong suốt thời gian dài phát ra trên 1 tần số nhất định, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của con người, về cả thể chất và tinh thần.

    Bên cạnh đó, các âm lượng lớn của tiếng ồn gây hại, với âm thanh dao động tần số cao vượt ngưỡng nghe của tai người, tác động lớn đến cơ thể. Sau đó tiếng ồn sẽ tác động đến hệ thần kinh trung ương, đến dạ dày, đến hệ tim mạch cùng với rất nhiều cơ quan khác, và sau cùng mới đến cơ quan thính giác.

    Ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam, đã cho thấy những tác hại nguy hiểm như làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người, và hành vi theo nhiều cách khác nhau như khó chịu, mất ngủ, huyết áp cao, khó tiêu, bệnh điếc, bệnh tim…

    Khi tiếng ồn tác động đến các cơ quan khác như hệ thần kinh trung ương, tiếng ồn sẽ gây kích đến hệ thần kinh trung ương, gây kích thích não bộ, khiến mọi người bị đau đầu, sợ hãi, chóng mặt, và nổi giận vô cớ. Thậm chí tiếng ồn còn làm ảnh hưởng đến hệ tim mạch, rối loạn nhịp tim, và sự tuần hoàn máu, làm tăng nguy cơ các bệnh về huyết áp.

    Đồng thời tiếng ồn còn làm rối loạn quá trình tiết dịch và tăng axit trong dạ dày, rối loạn sự co bóp, gây viêm loét dạ dày. Nếu như mọi người sống chung với tiếng ồn trong suốt thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ, làm cho giấc ngủ không được sâu và ngon giấc, khi thức dậy sẽ khiến cho mọi người mất tập trung, đồng thời công việc không được hiệu quả.

    Đối với người già, thì tiếng ồn chính là thủ phạm gây ra chứng mất ngủ, gia tăng các loại hormone gây stress, tăng lượng mỡ trong máu, và đường huyết tăng cao Còn với đối tượng là các em nhỏ, sẽ ảnh hưởng đến học tập, và khả năng ghi nhớ kém hơn.

    Do vậy, chống ô nhiễm tiếng ồn thì các chuyên gia đã đưa ra một số giải pháp bằng chính ý thức trách nhiệm của mỗi người, thay đổi hành vi, thói quen tại nơi sinh sống cũng sẽ làm giảm hiệu quả tiếng ồn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu
  • Khái Niệm Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Cách Tính Chu Vi Hình Bình Hành
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Chúng ta biết rằng, việc biến đổi khí hậu đã, đang ảnh hưởng đến các hệ sinh thái trên Trái đất và tác động trực tiếp đời sống hàng ngày của con người.

    Biến đổi khí hậu là gì?

    Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu trên Trái đất.

    Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: Khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai, bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định.

    Biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội, đến sức khỏe và phúc lợi của con người.

    Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

    Những nhân tố có thể làm cho sự biến đổi khí hậu xuất hiện là thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình như biến đổi bức xạ mặt trời, độ lệch quỹ đạo của Trái Đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính. Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu. Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn như các đại dương và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn. Do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài.

    Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.

    Hiện tượng mưa axit.

    Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu Trái đất

    • Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
    • Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.
    • Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
    • Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
    • Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
    • Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.

    Cách phó với biến đổi khí hậu

    • Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch
    • Cải tạo, nâng cấp hạ tầng
    • Làm việc gần nhà
    • Tiết kiệm, giảm chi tiêu
    • Ăn uống thông minh, tăng cường rau, hoa quả
    • Chặn đứng nạn phá rừng
    • Tiết kiệm điện
    • Khai phá những nguồn năng lượng mới
    • Ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ Trái đất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Chu Vi Hình Bình Hành
  • Công Thức, Cách Tính, Định Nghĩa
  • Bài Tập Phần Hình Bình Hành
  • Định Nghĩa, Tính Chất, Dấu Hiệu Nhận Biết Hình Bình Hành Là Gì ?
  • Bài Tập Toán Lớp 4: Hình Bình Hành (Có Đáp Án)
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì? Hiệp Định Paris Về Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Thượng Đỉnh Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu Năm 2014 (Phần 1)
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì ?! Những Nguyên Nhân Và Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Chủ Yếu !
  • Đề Tài Đề Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu, Điểm Cao
  • “giắt Túi” Những Khái Niệm Nền Tảng Trong Quản Trị Cơ Sở Vật Chất Khách Sạn, Nhà Hàng
  • Cơ Sở Vật Chất Kĩ Thuật Trong Du Lịch Là Gì? Vai Trò
  • Biến đổi khí hậu là hiện tượng gây tác động tiêu cực tới đời sống con người cũng như hệ sinh thái. Hiện nay, vấn đề này ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức, quốc gia và khu vực.

    Biến đổi khí hậu ” chắc chắn là một cụm từ đã quá quen thuộc với mỗi người. Đây được coi là một vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia. Hiện tượng này không chỉ ảnh hưởng tới vấn đề môi trường, tác động xấu tới sức khỏe và đời sống con người mà còn gây ra những hệ lụy lớn đến tương lai. Vậy sự biến đổi khí hậu là gì? Khái niệm biến đổi khí hậu được định nghĩa cụ thể như thế nào?

    “Khí hậu” là mức độ trung bình của thời tiết được tính trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

    Nếu xét trên nghĩa thực nhất của cụm từ này thì “Biến đổi khí hậu là gì” có thể được hiểu là sự thay đổi về mức độ trung bình của thời tiết ở một khu vực nào đó và trong một khoảng thời gian nhất định.

    Theo Wikipedia, câu hỏi “Biến đổi khí hậu toàn cầu là gì?” được định nghĩa là sự thay đổi của hệ thống khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và thạch quyển cả ở thời điểm hiện tại và tương lai do tác động của tự nhiên và con người trong một khoảng thời gian nhất định, khoảng thời gian này có thể được tính bằng thập kỷ hoặc thế kỷ.

    Sự biến đổi được nhắc tới ở đây có thể là sự biến đổi thời tiết bình quân hoặc sự thay đổi sự phân bố các hiện tượng thời tiết quanh mức trung bình. Hiện tượng này cũng có thể được giới hạn trong một khu vực nhất định hoặc có thể diễn ra trên toàn cầu.

    Cũng theo Wikipedia thì câu hỏi thế nào là biến đổi khí hậu được định nghĩa chung nhất như sau: Sự biến đổi khí hậu là sự thay đổi những đặc điểm mang tính thống kê của hệ thống khí hậu khi nghiên cứu trên những chu kỳ thời gian dài được tính bằng thập kỷ hoặc, thế kỷ, thiên niên kỷ mà không kể đến những nguyên nhân gây nên.

    Như vậy có thể thấy rằng, với câu hỏi biến đổi khí hậu là gì thì hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Đứng trên nhiều góc độ từ khoa học cho tới nghiên cứu thì sự thay đổi khí hậu với mỗi cơ quan, tổ chức cũng có cách định nghĩa biến đổi khí hậu không hoàn toàn giống nhau.

    Tuy nhiên, Hút bể phốt 247 có thể đưa ra một khái niệm biến đổi khí hậu giúp bạn dễ hiểu hơn, đó là:

    Sự biến đổi khí hậu là những thay đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học có những tác động xấu đến thành phần, sự sinh trưởng và khả năng phục hồi của hệ sinh thái tự nhiên. Thậm chí, hiện tượng này còn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh tế – xã hội cũng như sức khỏe, đời sống của con người. Sự tác động của chúng cũng có thể tác động trong thời điểm hiện tại hoặc cũng có thể là những mối nguy hại trong tương lai.

    Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu được tổ chức từ ngày 30/11/2015 đến ngày 12/12/2015. Đây là phiên họp thứ 21 của hội nghị các bên tham gia công ước khung của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992, đồng thời đây cũng là lần họp thứ 11 của các bên tham gia nghị định thư Kyoto năm 1997.

    Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu đã thành công tốt đẹp với những vấn đề nóng được thông qua. Trong đó, có 4 nội dung chính sau đây:

    • Nhanh chóng đạt mức phát thải lớn nhất và hạ mức phát thải vào nửa sau của thế kỷ 21.
    • Giữ nhiệt độ tăng của toàn cầu không quá 2 độ, giới hạn mức tăng là 1,5 độ.
    • Thực hiện đánh giá kết quả công tác này 5 năm / lần.
    • Đến thời điểm năm 2022, hỗ trợ 100 tỷ USD/ năm cho những nước đang phát triển và cam kết tiếp tục cung cấp nguồn vốn này trong tương lai.

    Có thể nói, hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là bước ngoặt lịch sử của cộng đồng quốc tế trong việc đối phó với tình trạng Trái đất nóng lên và thay đổi khí hậu. Sự chung tay của cộng đồng quốc tế sẽ giúp cải thiện sự ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Từ đó, hạn chế được tối đa những tác động xấu của sự biến đổi khí hậu.

    Những nội dung trong thỏa thuận chung trong hiệp định Paris về biến đổi khí hậu ít nhất có tính ràng buộc pháp lý đối với 55 quốc gia. Dự kiến, những nội dung này sẽ chính thức có hiệu lực vào năm 2022.

    Quý khách có thể tìm hiểu thêm về nội dung của các thỏa thuận trong hiệp định Paris TẠI ĐÂY

    Kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu nói chung và kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam nói riêng là văn bản cung cấp những thông tin mới nhất về những biểu hiện, xu hướng biến đổi trong quá khứ cũng như những kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai.

    Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và công bố lần đầu tiên vào năm 2009. Văn bản đầu tiên này đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực trong đời sống, thu thập số liệu thông kê về biến đổi khí hậu để từ đó phục vụ cho những quy hoạch, chiến lực phát triển kinh tế từ 2010 – 2022.

    Tiếp theo đó, đến năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Kịch bản được phân tích số liệu chi tiết cho từng tỉnh/ thành phố.

    Và gần đây nhất, vào năm 2006 thì Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong thế kỷ 21. Những số liệu thống kế về biến đổi khí hậu được đưa ra một cách chi tiết, cụ thể.

    Nếu bạn còn có bất kể thắc mắc nào về việc thay đổi khí hậu toàn cầu thì có thể liên hệ ngay cho Hút bể phốt 247 để nhận được những lời giải đáp chi tiết nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ước Khung Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hợp Quốc 1992
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Là Gì?
  • Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến An Ninh Lương Thực Quốc Gia.

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảm Bảo An Ninh Nông Thôn
  • Nông Thôn Mới Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • An Ninh Nguồn Nước Đảm Bảo Cấp Nước An Toàn
  • Để Đảm Bảo An Ninh Nguồn Nước
  • Chuẩn Thức Triết Lý Cơ Bản Của An Ninh Quốc Tế – Phần I
  • TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN AN NINH LƯƠNG THỰC QUỐC GIA

     

    TS. Tô Văn Trường

    Ban chủ nhiệm chương trình

     trọng điểm cấp nhà nước KC08/06-10

     

    I.                    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Liên hợp quốc cho hay năm 2008, khoảng 1 tỷ 100 triệu người trên thế giới bị đói tăng hơn 100 triệu so năm 2007 do cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cơ quan lương thực Liên hợp quốc (FAO) cho rằng con số này lớn đến mức kỷ lục. Giám đốc FAO nói rằng tỷ lệ người đói trên thế giới chiếm khoảng 1/6 dân số toàn cầu đang là mối đe dọa nguy hiểm cho an ninh và hòa bình trên thế giới. Phần lớn người suy dinh dưỡng sống ở các nước đang phát triển. Hơn một nửa số này khoảng 642 triệu người là cư dân vùng Á châu Thái Bình Dương.

    Nhiều nhà khoa học và hoạch định chính sách càng lo lắng với tình trạng biến đổi khí hậu trên toàn cầu và khu vực có xu thế ngày càng bất lợi như nước biển dâng, nhiệt độ tăng cao tác động xấu đến giống cây trồng vv…sẽ càng làm cho tình trạng cung cấp lương thực trên toàn cầu trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết.

    Khái niệm về An ninh lương thực: Hội nghị lương thực thế giới 1974, khái niệm an ninh lương thực được hiểu theo nghĩa hẹp là “sự sẵn có của nguồn cung lương thực thế giới ở mọi lúc nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong điều kiện biến đổi về sản xuất và giá cả lúa gạo”.

    Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 đã mở rộng khái niệm an ninh lương thực theo chuỗi từ cấp độ cá nhân đến cấp độ toàn cầu và chuyển hóa từ lượng sang chất  “An ninh lương thực đạt được ở mỗi cá nhân, mỗi hộ, mỗi  quốc gia, vùng lãnh thổ, và cấp độ toàn cầu cầu khi tất cả mọi người, ở mọi lúc, mọi nơi đều có đủ chất dinh dưỡng cho cuộc sống”

                Có thể hiểu một cách nôm na, an ninh lương thực chính là đủ lương thực cho xã hội để không ai bị đói, người làm ra lương thực không bị nghèo đi so với mặt bằng chung của xã hội.

    Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.

    Khả năng bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu.

    Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu.

    Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.

    Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính.

    Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động.

    Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão. Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác.

    II.         TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP- NÔNG THÔN- NÔNG DÂN

    Mục tiêu của Việt Nam thoát khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp trước năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2022 với khẩu hiệu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” càng đòi hỏi chúng ta phải giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân một cách triệt để và đồng bộ. Tuy nhiên, điều đó quả thực không dễ dàng chút nào, khi mà ở nước ta tầng lớp người dân nghèo, đặc biệt là nông dân vùng sâu, vùng xa được hưởng các thành quả tăng trưởng kinh tế còn ít ỏi, lại phải hứng chịu hậu quả nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát, giá cả leo thang, cùng các hệ lụy của nạn ô nhiễm môi trường. Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội, chống khủng hoảng kinh tế tài chính là thách đố đối với những người quản lý, điều hành đất nước.

                Thế giới nhìn chung, công bằng xã hội đi theo hình Parabol gần như  dạng chữ “U” lộn ngược có nghĩa là họ cũng trải qua giai đoạn phát triển ban đầu phải chấp nhận mất công bằng xã hội tăng lên rồi giảm dần theo đường tiếp cận. Vấn đề công bằng xã hội ở Việt Nam luôn được đề cập, nhấn mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng và nhiều diễn đàn từ trung ương đến địa phương nhưng vì sao thực tế khoảng cách giàu nghèo ngày càng dãn ra như vậy? Rõ ràng, cần phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra những giải pháp phù hợp giải quyết một cách cơ bản vấn đề “tam nông” của chúng ta.

    Nông thôn nước ta còn lạc hậu, nông nghiệp bấp bênh thể hiện rõ nhất là khả năng chống chịu với thiên tai, dịch bệnh còn nhiều yếu kém, bất cập. Thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh hàng năm khoảng 1% GDP, tác động chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và người nông dân nghèo khó. Theo thống kê, nông dân chiếm đến 90% tổng số người nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn chưa bằng một nửa khu vực thành thị nhưng đang đóng góp khoảng 20% GDP, trong khi Nhà nước nước đầu tư cho nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản giảm chỉ còn khoảng 8,5% (chủ yếu cho thủy lợi phục vụ đa mục tiêu), đáp ứng được 17% nhu cầu phát triển. 

    Trong cơn bão giá và khan hiếm lương thực hiện nay, thế giới hình như cũng đã nhìn ra những hệ lụy đau xót của sự đối xử không đúng mức đối với “tam nông”. Một vựa lúa của thế giới, với những thành tựu nhảy vọt về công nghệ giống như Philippin cũng nhiều lúc phải nhăn nhó vì thiếu lương thực do sự phát triển tràn lan, đặc biệt là công nghiệp. Một nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo do luôn dư thừa dự trữ như Thái Lan cũng có lúc phải lên tiếng xiết chặt hầu bao và lo lắng cho kho gạo xuất khẩu của mình. Một số nước do thiếu lương thực đã xảy ra bạo động, mất ổn định xã hội. Việt Nam nếu không kịp thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh quy hoạch phát triển giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp thì chắc chắn cũng sẽ gánh chịu những hệ quả còn nặng nề hơn. Một số nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đã cảnh báo Việt Nam sẽ là một trong số ít quốc gia bị mất nhiều diện tích sản xuất nông nghiệp do biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao.  

     

    III.        THỰC TRẠNG CUNG CẦU LƯƠNG THỰC.

    Một số nhà khoa học cho rằng từ “lương thực” theo nghĩa tiếng Việt chỉ những nông sản có chứa tinh bột, do đó nếu nói an ninh lương thực là chưa đủ bởi vì theo nghĩa tiếng Anh “FOOD” có nghĩa bao hàm cả lương thực và thực phẩm (thịt, rau, đậu, trứng, quả, thủy sản) có giá trị dinh dưỡng cho con người và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau. Trong phạm vi bài viết này, sẽ tập trung vào khái niệm an ninh lương thực lấy lúa gạo là đối tượng chủ yếu.  

    Theo mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam năm 2008, trên thế giới, sản lượng lương thực năm 1950 là 673,4 triệu tấn, bình quân 270 kg/người, năm 1980 đạt 1.565,7 triệu tấn, bình quân 352 kg/người, năm 1990 đạt 1.954,67 triệu tấn đạt 369 kg/người, năm 2007 đạt 2,125 triệu tấn. Để giảm bớt phụ thuộc vào dầu mỏ, hiện có 41 nước trên thế giới khuyến khích sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học ethanol từ mía đường, ngô sắn làm cho sản lượng ngũ cốc trên thế giới năm 2007 đạt hơn 2,1 tỷ tấn tăng 4,3% nhưng có  đến 33 nước vẫn bị thiêú lương thực.

    Nhu cầu lương thực của thế giới khá đa dạng, trong đó lúa gạo là mặt hàng lương thực quan trọng. Từ năm 2005, hàng năm thế giới sản xuất ra gần 650 triệu tấn thóc (tương đương 420-430 triệu tấn gạo). Trong đó, Trung Quốc trên 180 triệu tấn, Ấn Độ gần 140 triệu tấn, Indonesia khoảng 55 triệu tấn, Bangladesh 40 triệu tấn, Việt Nam 38 triệu tấn và Thái Lan trên 30 triệu tấn vv…Tiêu dùng lúa gạo của thế giới hàng năm khoảng 520 triệu tấn, còn lại khoảng 100 triệu tấn thóc đưa vào dự trữ. Theo số liệu của phòng nông nghiệp Mỹ, dự trữ gạo cuối năm 2007 chỉ có 72 triệu tấn, giảm 5% so với năm 2006 và là mức dự trữ thấp nhất từ năm 1983 trở lại đây. Phần lớn lúa gạo sản xuất tiêu dùng tại trong nước, thương mại lúa gạo chiếm tỷ trọng nhỏ chưa đến 7-8% sản lượng sản xuất ra. Năm 2006-2007, hàng năm xuất khẩu gạo xấp xỉ 28 triệu tấn, chiếm 6,6% sản lượng sản xuất.      

    Từ đầu năm 2008, trên thế giới đã diễn ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về lương thực. Nguyên nhan do việc gia tăng dân số, đất đai sản xuất bị thu hẹp, sử dụng lương thực để phát triển năng lượng sinh học, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu vv…Trong giai đoạn khủng hoảng lương thực vừa qua, Thái Lan là một nước thành công trong việc dự báo, dự trữ và có chính sách đối xử rất khôn ngoan nên đã giành được cả về lợi ích kinh tế và thương mại thông qua việc duy trì xuất khẩu gạo.

    3.1        Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

      -         Giai đoạn 1979-1989: diện tích gieo trồng lúa ổn định khoảng 5,4-5,8 triệu ha

    .-          Giai đoạn 1990-1999: diện tích lúa tăng từ 6 triệu tấn/ha năm 1990 lên 7,66 triệu ha năm 1999, sản lượng gạo giai đoạn này tăng trung bình 7,2%/năm.

    -           Giai đoạn từ 2000 – 2007: diện tích lúa liên tục giảm, năng suất  lúa tăng chậm. Riêng trong giai đoạn 2001-2002, sản lượng lúa tăng mạnh từ 32 triệu tấn lến 34,5 triệu tấn.

    -           Năm 2008, diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 7,4 triệu ha, tăng 200 nghìn ha so năm 2007. Năng suất trung bình đạt 5,2 triệu tấn/ha, tăng so với 5 tấn/ha của năm 2007.  Năm 2008 là năm đạt sản lượng cao nhất từ trước đến nay do diện tích lúa được mở rộng và năng suất tăng. Săn lượng lúa cả năm 2008 đạt 38,6 triệu tấn, tăng 2,7 triệu tấn so với năm 2007.

     

    Download (PDF; 621KB)

    du học anh quốc

    --- Bài cũ hơn ---

  • An Ninh Lương Thực Không Phải Chỉ Là Số Lượng Lúa Gạo
  • An Ninh Lương Thực: Không Chỉ Là Số Lượng
  • Bài 1: An Ninh Kinh Tế: “Việt Nam Có Phải Điều Thần Kỳ Mới?”
  • An Ninh Quốc Gia
  • Chuyên Ngành Quản Lý Hoạt Động Tư Tưởng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100