Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hoá Doanh Nghiệp Là Gì? Đặc Trưng
  • Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam
  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Mẹo Nhỏ Để Trình Bày Văn Bản Đẹp Meo Nho Trong Stvb Doc
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Văn hóa doanh nghiệp khởi nguồn từ nước Mỹ, sau đó được Nhật Bản xây dựng và phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, văn hóa doanh nghiệp phải bám sâu vào nền văn hóa dân tộc mới phát huy được tối đa hiệu quả. Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp với bản sắc văn hóa dân tộc, người ta đã hình thành khái niệm văn hóa giao thoa, theo đó, các công ty đa quốc gia luôn biết kết hợp lợi ích của mình với văn hóa doanh nghiệp của nước chủ nhà.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự chuyển đổi cơ chế kinh doanh, các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước phải trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ. Doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh thị trường gay gắt nhất thiết phải tiến hành xây dựng văn hóa doanh nghiệp.

    Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ thống quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa trong nội bộ doanh nghiệp, một không khí văn hóa tích cực để phát huy thế mạnh văn hóa của tập thể, tăng cường nội lực và sức mạnh của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là một giai đoạn phát triển của tư tưởng quản lý doanh nghiệp hiện đại, thể hiện sự chuyển dịch chiến lược phát triển kỹ thuật nhằm tạo nên những sản phẩm hàm chứa hàm lượng văn hóa cao. Bởi thế, có thể coi văn hóa doanh nghiệp là yếu tố tối quan trọng của thực tiễn doanh nghiệp đương đại.

      Mỹ, Nhật là các quốc gia quản lý hiệu quả các doanh nghiệp của mình vì họ biết xây dựng văn hóa doanh nghiệp hợp lý, kích thích được hứng thú lao động và niềm say mê sáng tạo của công nhân. Điều đó phụ thuộc rất lớn vào việc các nhà quản lý doanh nghiệp biết gắn kết văn hóa doanh nghiệp với văn hóa của nơi sở tại.

    Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, mỗi nước phải biết lựa chọn một hướng đi đúng đắn để phát triển và quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp mình. Điều đó có thể thấy rõ khi chúng ta quan sát mô hình quản lý doanh nghiệp Nhật Bản. Một mặt, người Nhật tiếp thu cách quản lý doanh nghiệp và kỹ thuật tiên tiến của Mỹ; mặt khác, các doanh nghiệp Nhật đã chú trọng thích đáng đến việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, làm cho bản sắc văn hóa dân tộc hòa quyện trong văn hóa doanh nghiệp.

    Ai cũng biết sau thế chiến thứ hai, trong khi tiếp thu ở quy mô lớn hệ thống lý luận quản lý tiên tiến của Mỹ và châu Âu, Nhật Bản đã biết gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do vốn là cơ sở của lý luận quản lý Âu, Mỹ để giữ lại văn hóa quản lý kiểu gia tộc. Vì sao vậy? Vì chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân xung đột với văn hóa truyền thống của Nhật Bản. Văn hóa Nhật Bản suy cho cùng hòa đồng gắn bó mật thiết với tinh thần “trung thành hiếu đễ” của Khổng Tử. Với sự lựa chọn khôn ngoan đó, các doanh nghiệp Nhật Bản đã làm cho văn hóa doanh nghiệp hòa nhập với bản sắc văn hóa dân tộc, sáng tạo ra hệ thống quản lý độc đáo kiểu Nhật Bản. Cốt lõi của quản lý Nhật Bản là chế độ làm việc suốt đời, trật tự công lao hằng năm, công đoàn nằm trong nội bộ doanh nghiệp. Đây thực sự là ba bí quyết lớn của quản lý Nhật Bản. Rõ ràng, một trong những nguyên nhân làm cho các công ty lớn của Nhật phát triển mạnh mẽ chính là họ biết gắn công nghệ, kỹ thuật, cách thức quản lý doanh nghiệp hiện đại với văn hóa Nhật vốn lấy trung hiếu làm gốc.

    So với châu Âu, văn hóa doanh nghiệp nước Mỹ cũng có những điểm khác biệt. Mặc dù đa số người Mỹ là người Anh và người châu Âu di cư, nhưng khi sang lục địa mới, họ nuôi dưỡng trong mình chí tiến thủ mạnh mẽ, tinh thần chú trọng thực tế cộng với tinh thần trách nhiệm nghiêm túc. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bản sắc văn hóa mới – bản sắc văn hóa Mỹ. Người Mỹ cho rằng, ai cũng có quyền lợi hưởng cuộc sống hạnh phúc tự do bằng sức lao động chính đáng của họ. Bản sắc văn hóa Mỹ làm cho người ta học được chữ tín trong khế ước và tất cả mọi người đều bình đẳng về cơ hội phát triển: ai nhanh hơn, thức thời hơn, giỏi cạnh tranh hơn thì người đó giành thắng lợi. Có thể nói, ý thức suy tôn tự do, chú trọng hiệu quả thực tế, phóng khoáng, khuyến khích phấn đấu cá nhân đã trở thành nhịp điệu chung của văn hóa doanh nghiệp nước Mỹ. Đây là những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu cho các nước phát triển trong quá trình tạo dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm phát triển đất nước.

      Việt Nam là quốc gia có hàng nghìn năm văn hiến. Qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, dân tộc Việt Nam đã xây dựng nên hệ quan điểm giá trị, nguyên tắc hành vi và tinh thần cộng đồng mang bản sắc Việt Nam đậm nét. Sự ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ và văn hóa phương Tây đã khiến cho văn hóa Việt Nam đa dạng, nhiều màu sắc. Hơn nữa, 54 dân tộc trên đất nước ta là 54 nền văn hóa khác nhau, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, một mặt, chúng ta phải tích cực tiếp thu kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của các nước phát triển. Mặt khác, cần nỗ lực xây dựng văn hóa doanh nghiệp tiên tiến, hài hòa với bản sắc văn hóa dân tộc, với văn hóa từng vùng, miền khác nhau thúc đẩy sự sáng tạo của tất cả các thành viên trong các doanh nghiệp khác nhau.

    Đặc điểm nổi bật của văn hóa dân tộc là coi trọng tư tưởng nhân bản, chuộng sự hài hoà, tinh thần cầu thực, ý chí phấn đấu tự lực, tự cường… đây là những ưu thế để xây dựng văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc Việt Nam trong thời hiện đại. Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam cũng có những điểm hạn chế: người Việt Nam phấn đấu cốt để “vinh thân phì gia”, yêu thích trung dung, yên vui với cảnh nghèo, dễ dàng thoả mãn với những lợi ích trước mắt, ngại cạnh tranh; tư tưởng “trọng nông khinh thương” ăn sâu vào tâm lý người Việt đã cản trở không nhỏ đến việc mở rộng kinh tế thị trường, làm ăn; tập quán sinh hoạt tản mạn của nền kinh tế tiểu nông không ăn nhập với lối sống hiện đại; thói quen thủ cựu và tôn sùng kinh nghiệm, không dám đổi mới, đột phá gây trở ngại cho sự phát triển của các doanh nghiệp hiện đại…

    Tuy nhiên, trong xã hội tri thức ngày nay, những mặt hạn chế dần được khắc phục bởi trình độ giáo dục của mọi người ngày càng được nâng cao, quan điểm về giá trị cũng có những chuyển biến quan trọng. Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới, nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, quản lý kinh doanh doanh nghiệp cần phải được tổ chức lại trên các phương diện và giải quyết hài hòa các mối quan hệ: quan hệ thiên nhiên với con người, quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại…

    Ngày nay, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới. Toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải có những bước tính khôn ngoan, lựa chọn sáng suốt. Không thể để xảy ra tình trạng quốc tế hóa văn hóa doanh nghiệp, mà phải trên cơ sở văn hóa Việt Nam để thu hút lấy tinh hoa của nhân loại, sáng tạo ra văn hóa doanh nghiệp tiên tiến nhưng phù hợp với tình hình và bản sắc văn hóa Việt Nam.

    BrainMark Consulting & Training

    596 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 3, Quận 3, TP HCM, Việt Nam

    Hotline: 0909 363 363

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Quyết Định Hành Chính
  • Nội Dung Cơ Bản Môn Kỹ Thuật Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Quy Trinh Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật ?
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Quy Chế Là Gì? Hiểu Thế Nào Cho Đúng Quy Chế, Quy Định Và Quy Trình?
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Phân Tích Văn Hóa Việt Nam Từ Góc Độ Giao Lưu
  • Giao Lưu Và Tiếp Biến Văn Hoá
  • Tiếp Biến Văn Hóa Vn Trong Bối Cảnh Hội Nhập
  • Ngày đăng: 16/04/2019

    Bất kỳ một giá trị biểu hiện nào cũng đều có nguồn gốc hình thành của nó. Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như vậy. Vậy, khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc có từ đâu?

    Bản sắc, xét một chút ngữ nghĩa thì ta thấy rằng; trong Hán cổ , , cũng có nghĩa là sắc tướng, hình dáng cái chất cố hữu vốn có, cái tính đã hình thành. Trong ngôn ngữ Anh thường sử dụng là Characterization– nghĩa là sự tiêu biểu. So sánh đối chiếu về mặt ngôn ngữ, ta có thể tóm gọn, bản sắc là cái tính chất tiêu biểu vốn có, là nét đặc trưng riêng không lẫn vào cái khác.

    Cùng với từ manjunimana có nghĩa là làm cho trở nên đẹp đẽ hoặc văn hóa, cho đến nay có rất nhiều cách định nghĩa, cách hiểu về văn hóa; chẳng hạn như trong Hán cổ, nó có nghĩa là những cái đẹp được biểu hiện ra bên ngoài. Đặc biệt, trong Sanskrit मञ्जुनिर्माण cái gì có sức mạnh để làm cho đẹp hơn thì gọi là manjunimana- dịch tương đương với tiếng Việt của ta là Văn hóa. Từ đó có thể nhận diện ra rằng, tự thân Văn hóa đã là những giá trị đẹp trên phương diện hình dáng và tính chất, đồng thời nó đã tích chứa sức mạnh để có thể thay đổi cái chưa đẹp thành cái đẹp, vừa biểu hiện kết quả vừa là hành động- nimana để cho kết quả. Còn phương tây thì lại gọi bằng từ kultur – tiếng German có nghĩa là hạt giống trồng trọt; tây nhưng triết lý biểu tượng rất “ta” và hơn cả “đông”! Nó gần với manjunimana của Sanskrit, đều biểu hiện sự ươm mầm, từ hạt giống mà trưởng thành. Cái khác là ngôn ngữ và cách đặt danh tính cho nó chứ kỳ thực đều diễn đạt một nội dung: văn hóa là cái đẹp từ trong ra ngoài trong phạm vi loài người– đó là một cách hiểu văn hóa.

    Từ hai tiểu dẫn trên gộp vào ta có cách hiểu về Bản sắc văn hóa dân tộc: là tổng hợp những giá trị văn hóa tiêu biểu, riêng biệt của dân tộc Việt Nam, phổ quát nhưng đặc sắc, tồn tại linh hoạt nhưng không bị biến dạng, được hình thành trên nền tảng những giá trịcốt lõi của văn hóa Việt Nam.

    KHOA DU LỊCH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa
  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • 1. Khái niệm văn hóa

    Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó. Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng. Điều đó, theo tôi, có những nguyên nhân sau đây:

    Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hóa, hoặc, như người ta thường gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tính chất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp. Họ thường qui văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hóa, cũng như bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể.

    Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu.

    Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người. Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo.

    Tôi cho rằng văn hóa, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa.

    Ở đây, tôi gần gũi với cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình”.

    Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối.

    Gần đây, có ý kiến cho rằng trên thế giới đang diễn ra hiện tượng xâm lược về văn hóa như là sự tiếp tục của những cuộc xâm lược bằng súng đạn và kinh tế. Tôi không đồng ý như vậy. Bởi văn hóa là hoà bình, văn hóa là không xâm lược. Cảm giác bị xâm lược, nếu có, chẳng qua là cái cảm giác và sĩ diện của kẻ yếu. Chúng ta đang sống trong một thế giới duy nhất và cũng có thể nói là thống nhất. Chúng ta phải bắt đầu từ mô hình kinh tế mà Alvin Tofler từng mô tả bằng hình ảnh “con tàu vũ trụ”. Trái đất là một kho chứa hữu hạn các nguồn năng lượng sống và toàn cầu hóa là một quá trình để tiết kiệm nguồn năng lượng ấy bằng cách đảm bảo không sản xuất thừa, không sử đụng nguyên liệu một cách bừa bãi trên phạm vi toàn cầu. Nhưng cùng với quá trình hội nhập về mặt kinh tế còn có một quá trình khác luôn luôn tồn tại bên cạnh, và thậm chí đã đi trước, đó là sự hội nhập về mặt văn hóa. Sự hội nhập về mặt văn hóa chính là quá trình con người đi tìm ngôn ngữ chung cho một cuộc sống chung. Quan niệm về sự xâm lược văn hóa là

    quan niệm của những cộng đồng người chỉ có kinh nghiệm hình thành trong quan hệ phát triển lưỡng cực, những kinh nghiệm chiến tranh, nhất là chiến tranh lạnh. Văn hóa không phải là ý thức của tôi, của anh hay của bất kỳ ai, mà thuộc về con người một cách tự nhiên. Con người khi sống chung với nhau sẽ gây ảnh hưởng lẫn nhau. Đến phương Tây ta sẽ nhìn thấy rằng trong ngôi nhà nào của người Mỹ, người Anh, người Pháp…cũng có một vài vật dụng gì đó, một vài thứ souvenirs gì đó từ phương Đông. Đôi khi trong xã hội phương Tây người ta có xu hướng xem sự hiện hữu của một vài kỷ vật, một vài đồ trang trí từ phương Đông như là dấu hiệu của tầng lớp thượng lưu hoặc văn minh. Đó là sự đan xen lẫn nhau của cuộc sống, đấy là sự chung sống hoà bình của quá khứ, và đấy cũng chính là cơ sở văn hóa của sự chung sống hoà bình trong tương lai.

    2. Văn hóa và văn minh

    Hai khái niệm rất hay bị đồng nhất này tuy rất gần gũi nhưng thực ra không phải là một và chỉ có thể coi như đồng nghĩa trong một vài trường hợp cụ thể, chẳng hạn khi người ta đối lập văn minh với bạo tàn.

    Thông thường, văn minh được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của nhân loại đến một thời kỳ lịch sử nào đó. Một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn Alvin Tomer, sử dụng chúng để phân chia lịch sử thành văn minh tiền nông nghiệp, văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Có quan điểm lại cho rằng văn minh là một khái niệm rộng hơn văn hóa, rằng văn minh là sự tổng hoà của văn hóa và xã hội, là sự thể hiện được những hình thức thực tiễn cụ thể của văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như lao động sản xuất, lối sống, hành vi ứng xử…

    Trong thực tế, chúng ta thấy có những tộc người chưa có văn minh vẫn có văn hóa của mình. Đôi khi trên sách báo, chúng ta gặp những nhận xét, đánh giá độ cao thấp của các nền văn minh, trong khi đó lại có những người cho rằng các nền văn hóa thực ra là như nhau, rằng việc chúng ta đánh giá cái này cao hơn, cái kia mạnh hơn là do cách nhìn của chúng ta, còn các nền văn minh, những nền văn hóa ở Aztec chẳng hạn, từ cách đây mấy nghìn năm cũng không kém gì nền văn minh ở phương Tây hiện nay…

    Tôi nghĩ rằng, tất cả những nhà nghiên cứu về văn hóa đang lấy cái mẫu của thời xưa, khi chỉ cần sự ngăn cách về địa lý là đủ để ngăn cách các cộng đồng người. Nhân loại hiện đại, bằng các phương tiện của mình, không còn bị giam hãm bởi các khái niệm khu trú như vậy. Nếu như các nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XXII mà vẫn lấy hình mẫu của thế kỷ XX để noi theo thì chắc chắn cũng vẫn đi đến những kết luận khác với những kết luận của những nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XX.

    Chúng ta phải phân biệt nghiên cứu về văn hóa như một quá trình vận động, như một yếu tố xã hội, với nghiên cứu lịch sử văn hóa, nghĩa là xem xét nó như một phiên bản tĩnh. Chúng ta cũng không nên phê phán những người lấy sự phát hiện và phân biệt những khía cạnh khác nhau của các nền văn minh làm mục đích nghiên cứu. Bởi vì họ nghiên cứu lịch sử văn hóa chứ không phải nghiên cứu văn hóa. Văn hóa đang và sẽ còn bớt đần sự cát cứ, còn nghiên cứu lịch sử văn hóa thì không bao giờ có sự cát cứ như vậy. Nói như vậy không có nghĩa là không có sự khác nhau về ảnh hưởng. Một cộng đồng lớn sẽ có khả năng tạo ra một vùng ảnh hưởng lớn hơn, đa dạng hơn, bởi càng đông thì tính đa dạng càng lớn. Tính đa dạng về mặt tính cách của con người sẽ tạo ra tính đa dạng về mặt đời sống văn hóa. Sự lan toả của một cộng đồng lớn sẽ mạnh hơn.

    Tuy vậy, khi nghiên cứu văn hóa không nên đặt mục tiêu là xác định nó lớn hay bé, mà nên xem nó có độc đáo hay không, có lạ lẫm hay không, có những sáng tạo gì, có đóng góp gì và đặc biệt là nó có đóng góp gì cho văn hóa chung của nhân loại. Tôi nghĩ rằng nghiên cứu như thế mới giúp ta tìm ra được giá trị thật của văn hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa.

    Trong từ điển, văn hóa được định nghĩa là “hành vi của những năng lực đạo đức và tư duy phát triển, đặc biệt thông qua giáo dục”.

    Văn hóa cũng có một số định nghĩa khác như:

    Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương, mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

    Theo chúng tôi Ngô Đình Giao: “Văn hóa là tập hợp những giá trị, những ý niệm, niềm tin truyền thống được truyền lại và cùng chia sẻ trong một quốc gia. Văn hóa cũng là cách sống, những nếp suy nghĩ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hóa bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán v.v…”.

    2. Văn hóa doanh nghiệp – giá trị cốt lõi của doanh nghiệp mạnh

    Văn hóa doanh nghiệp – một khái niệm chưa từng có trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, đó là một lĩnh vực mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ trở lại đây, nên các định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp còn rất khác nhau. Thời gian gần đây, thuật ngữ “văn hóa doanh nghiệp” rất hay được sử dụng và phổ biến trong giới doanh nhân và các nhà quản lý. Các doanh nghiệp bắt đầu chú trọng đến việc xây dựng văn hóa cho mình. Tuy nhiên, “văn hóa doanh nghiệp” là một trong những “khái niệm” tương đối khó hiểu trong quản trị kinh doanh. Có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp.

    Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm, các niềm tin chủ đạo, các quy tắc, thói quen, các tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích; tóm lại: văn hóa doanh nghiệp là tất cả những gì làm cho doanh nghiệp này khác với một doanh nghiệp khác.

    Theo chuyên gia người Pháp, khái niệm văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa: :Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức, tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.

    “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộng lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.

    Những thành phần của văn hóa doanh nghiệp gồm 3 phần chính : tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi. Biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp thể hiện qua 2 yếu tố:

    – Hữu hình: Đồng phục, khẩu hiệu, nghi thức, quy định, nhạc phim công ty, tập san nội bộ, các hoạt động,…

    – Vô hình: Thái độ, phong cách, thói quen, nếp nghĩ của những con người trong tổ chức.

    Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa doanh nghiệp, nhưng nhìn chung, mọi khái niệm đều cho rằng văn hóa doanh nghiệp chính là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển thương hiệu vì hình ảnh văn hóa doanh nghiệp sẽ góp phần quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp.

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    – Công ty TNHH ANCORIC

    – Văn phòng: Tầng 3 số 51 Cầu Lớn- Nam Hồng- Đông Anh- Hà Nội

    – Điện thoại: 024.668.44.446 / 0947.024.112

    – Email: [email protected]

    – Website: http://Ancoric.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Tim Hieu Khai Niem Van Hoa Va Van Hoa Doanh Nghiep Tai Luan Van Viet
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ?
  • Khái Niệm Về Văn Hoá Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì
  • Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Mẹo Nhỏ Để Trình Bày Văn Bản Đẹp Meo Nho Trong Stvb Doc
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Giải Bài Tập Và Thực Hành 7: Định Dạng Đoạn Văn Bản Tin Học 10
  • Thế Nào Là Đoạn Văn ?
  • Trong số những công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, tác phẩm ” Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS Phan Ngọc có một vị trí vô cùng đặc biệt. Đặc biệt vì đây là một trong số rất ít những quyển sách với mục tiêu xây dựng những khái niệm nền tảng, những phương pháp cơ bản cho ngành văn hóa nói chung và ngành nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói riêng để ngành này sớm trở thành một ngành khoa học độc lập.

    Đặc biệt cũng là vì đây là công trình nghiên cứu của một người vốn nổi tiếng là một nhà “lập thuyết” với những quan điểm đôi khi rất cực đoan vì yêu cầu muốn đi đến tận cùng bản chất vấn đề trong nghiên cứu khoa học.

    “Bản sắc văn hóa Việt Nam” bao gồm 14 chương và được chia làm ba phần:

    Phần I: “Những khái niệm mở đầu” sẽ cung cấp cho độc giả những khái niệm cơ bản của văn hóa học với những cách tiếp cận riêng của tác giả trong nghiên cứu văn hóa.

    Phần III: “Bảo vệ và phát huy văn hóa” được trình bày như một phần kết luận với những suy nghĩ, giải pháp đề xuất của tác giả để bảo vệ văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập như: Cách phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúc văn hóa hiện nay, Ưu thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn kinh tế thị trường…

    Là một công trình nghiên cứu công phu và tâm huyết, ” Bản sắc văn hóa Việt Nam” chứa đựng nhiều ý tưởng độc đáo, mang tính đột phá và góp phần cơ bản vào quá trình xây dựng và hoàn chỉnh ngành văn hóa học Việt Nam. Người đọc chắc chắn cũng sẽ vô cùng tâm đắc với những khái niệm và cách tiếp cận đầy sáng tạo như: “khúc xạ văn hóa”, “tiếp xúc văn hóa”, “truyền thống vượt gộp trong văn hóa Việt Nam”, “nhân cách luận Việt Nam”, “một định nghĩa thao tác luận về văn hóa”…

    Bản sắc văn hóa Việt Nam” là một cuốn sách dành cho tất cả những ai quan tâm đến văn hóa học và văn hóa Việt Nam, những ai muốn hiểu được những gì đã, đang và sẽ làm nên thế giới bên trong của người Việt, như lời tác giả: “Hy vọng những cố gắng tìm hiểu chính mình khá nghiêm túc suốt một đời sẽ giúp các bạn hiểu được chính các bạn”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hoá Doanh Nghiệp Là Gì? Đặc Trưng
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Quyết Định Hành Chính
  • Nội Dung Cơ Bản Môn Kỹ Thuật Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Quy Trinh Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật ?
  • Bản Sắc Văn Hoá Doanh Nghiệp Là Gì? Đặc Trưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam
  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Mẹo Nhỏ Để Trình Bày Văn Bản Đẹp Meo Nho Trong Stvb Doc
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Giải Bài Tập Và Thực Hành 7: Định Dạng Đoạn Văn Bản Tin Học 10
  • Bản sắc văn hoá doanh nghiệp

    Khái niệm

    Bản sắc văn hoá doanh nghiệp hay bản sắc riêng mang triết lí văn hoá của doanh nghiệp.

    Bản sắc văn hoá doanh nghiệp là những biểu hiện đặc trưng về phong cách hành động và hành vi của tổ chức thể hiện những giá trị và triết lí hành động đã được lựa chọn để theo đuổi.

    Trong đó:

    Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn hoá được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó.

    Bản sắc văn hoá của một doanh nghiệp được thể hiện thông qua hành vi của các thành viên và là dấu hiệu thể hiện sự thống nhất trong nhận thức và hành động ở mức độ cao khi thể hiện các giá trị và triết lí chủ đạo của doanh nghiệp.

    Mỗi tổ chức, doanh nghiệp chọn ra những giá trị riêng để theo đuổi và tôn trọng. Họ cũng chọn cách thức thể hiện chúng theo phong cách riêng. Qua đó chúng được nhận diện và ghi nhớ. Mỗi doanh nghiệp sẽ tạo ra và cố gây dựng nên bản sắc riêng của mình.

    Quan điểm và hành vi đạo đức của người lãnh đạo có thể được truyền đến các thành viên khác theo nhiều con đường khác nhau, như qua các bài phát biểu, các ấn phẩm, các tuyên bố về chính sách, và đặc biệt là qua hành vi của người lãnh đạo.

    Một khi những người lãnh đạo đều thể hiện sự nhất quán trong việc tôn trọng sự công bằng và trung thực trong kinh doanh, chúng sẽ trở thành tài sản chính yếu của doanh nghiệp và được mọi thành viên khác cùng tôn trọng.Bản sắc không chỉ là nhận thức và mong muốn.

    Bản sắc thể hiện trong hành động của tổ chức, hành vi của cá nhân. Nhân tố quan trọng bậc nhất trong quá trình lựa chọn các giá trị, triết lí và thể hiện chúng thành hành động là vai trò tiên phong của những người lãnh đạo.

    Những nhân cách then chốt, những người ở vị trí quản lí cấp cao trong việc thể hiện sự cam kết, sự chỉ đạo sát sao và sự gương mẫu trong việc thực hành các giá trị đạo đức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Quyết Định Hành Chính
  • Nội Dung Cơ Bản Môn Kỹ Thuật Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Quy Trinh Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật ?
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Văn hóa có bản sắc riêng lại có sự giao thoa, tiếp biến; nó kết tinh từ trong hoạt động của con người theo dòng chảy của lịch sử, đồng thời bổ sung những giá trị mới từ cuộc sống hiện tại.

    1. Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa.

    Năm 1967, Abraham Molo, nhà nghiên cứu người Pháp đã thống kê được 250 định nghĩa. Giáo Sư Phan Ngọc cho biết: Một nhà Dân tộc học Mỹ đã dẫn ra ngót 400 định nghĩa về Văn hóa.

    Có người đã phải thốt lên: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó”.

    Sở dĩ như vậy là vì văn hóa là một phạm trù rất rộng, cả vật chất lẫn tinh thần, cả tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, truyền thống và lối sống. Văn hóa có bản sắc riêng lại có sự giao thoa, tiếp biến; nó kết tinh từ trong hoạt động của con người theo dòng chảy của lịch sử, đồng thời bổ sung những giá trị mới từ cuộc sống hiện tại.

    Hệ thống cầu vượt giao thông đô thị xây mới trung tâm TP. Hà Nội. Ảnh: tạp chí kiến trúc Việt Nam.

    Có thể trích ra đây hai định nghĩa, mà theo tôi, phản ánh tương đối đầy đủ khái niệm Văn hóa:

    – Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. (Định nghĩa của UNESCO đưa ra năm 1982 tại Mexico).

    – Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân và cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, cấu thành nên một hệ các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình (Cựu Tổng giám đốc UNESCO Frederico Mayor).

    Đặc trưng của Văn hóa là sự đa dạng, giá trị của Văn hóa là sự khác biệt. Trong văn hóa, chỉ có hợp tác và giao lưu; phát huy và quảng bá bản sắc văn hóa độc đáo của đất nước mình, dân tộc mình, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Vì vậy, theo suy nghĩ của tôi, khái niệm “hội nhập” về văn hóa là không chuẩn xác.

    Văn hóa tuy không phải là tất cả nhưng lại có mặt trong tất cả, nó thấm đậm trong quá trình phát triển, trong mọi hoạt động, mọi hành vi, ứng xử của con người.

    Di sản văn hóa có di sản vật thể và di sản phi vật thể. Di sản, nhất là di sản phi vật thể có cái cái tốt, tích cực, cũng có cái không tốt, tiêu cực. Người có tư duy lành mạnh, hành động đúng đắn là biết phát huy và tạo ra những di sản tốt đẹp, khắc phục và loại bỏ những di sản xấu.

    2. Văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nói chung và kinh tế nói riêng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Văn hóa soi đường cho Quốc dân đi”. Cương lĩnh chính trị được Đại Hội Đảng lần thứ XI thông qua khẳng định: “Văn hóa là “nền tảng tinh thần vững chắc, là sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”

    “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Và, dân tộc nào bị thống trị về văn hóa ngoại bang thì dân tộc đó không thể có độc lập thật sự. (Nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm; các dân tộc ở phía Nam sông Dương Tử đều bị “Hán hóa” nhưng dân tộc ta không bị “Hán hóa” là do sức sống mãnh liệt của văn hóa người Việt).

    “Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới, những công trình vượt trội lên bản thân ” (Tuyên bố của UNESCO về những chính sách văn hóa)

    Trong mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, văn hóa không phải là cái thứ hai, “không phải là cái ăn theo, không phải là sự phản ánh thụ động sự phát triển của kinh tế”. Văn hóa là một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế.

    Trong thời đại của một nền văn minh mới, động lực của tăng trưởng kinh tế không chỉ ở vốn, càng không phải ở tài nguyên mà chủ yếu ở trí tuệ, tiềm năng sáng tạo, ở bản lĩnh, khả năng giao tiếp, kết nối và tương tác với người khác của mỗi cá nhân tức là ở nguồn lực con người, là ở trong văn hóa. Và, chúng ta khẳng định: văn hóa là động lực của phát triển.

    3. Kinh doanh, không chỉ là hoạt động kinh tế mà bản chất là hoạt động văn hóa. Hoạt động đó đáp ứng nhu cầu của con người: Cả người sản xuất và người tiêu dùng, cả người mua lẫn người bán; nó mang đến cho con người sự thỏa mãn, sự tiện nghi. Đối với người sản xuất là sự sáng tạo, đối với người mua là đáp ứng nhu cầu để phục vụ cho cuộc sống và rốt cuộc cũng là để sáng tạo. Sự đáp ứng gắn chặt với cách đáp ứng. Nhiều khi cách đáp ứng còn quan trọng hơn sự đáp ứng “Của cho không bằng cách cho”. Và, do đó trong bản chất nó là hoạt động văn hóa.

    Văn hóa doanh nghiệp có những chuẩn mực chung nhưng lại mang bản sắc riêng, nó tạo sự khác biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, văn hóa doanh nghiệp là một trong nhiều yếu tố làm nên thương hiệu của doanh nghiệp.

    Văn hóa doanh nhân là các giá trị văn hóa mà người chủ doanh nghiệp hướng đến trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Văn hóa doanh nhân đóng vai trò chủ đạo hình thành văn hóa doanh nghiệp.

    Cách đây một thế kỷ, chí sỹ Lương Văn Can (1854-1927) đã nói về những điểm yếu của doanh nhân Việt Nam:

    Người mình không có thương phẩm, không có thương hội.

    Không có tín thực, chỉ xem ngạn ngữ ta rằng “thực thà cũng thể lái buôn” thời đủ biết đức tính của lái buôn vậy.

    Không kiên tâm, không có nghị lực, không biết trọng nghề,

    Kém đường giao thiệp.

    Không biết tiết kiệm. Làm ít, tiêu nhiều; chỉ choáng bề ngoài mà xấu bề trong, tốt bộ vỏ mà không có ruột.

    Khinh hóa, sính hàng ngoại.

    Nhận xét của cụ Lương Văn Can về nghề buôn của nước ta cho đến nay đều xác đáng. (Lấy theo báo An Ninh Thủ Đô tháng 2/2008).

    Tất nhiên, không phải mọi doanh nhân nước ta đều có tất cả những yếu kém ấy. Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tiến bộ và trưởng thành lên nhiều nhưng những điều cụ Lương nói vẫn còn ở không ít các doanh nghiệp, doanh nhân nước ta. Đây là một di sản không tốt cần loại bỏ.

    Trên tổng thể, khắc phục những yếu kém mà cụ Lương Văn Can chỉ ra là tạo nên một hệ giá trị cho văn hóa doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, thời đại thay đổi, quan niệm về hệ giá trị cũng có những phát triển mới, có những đặc trưng mới mặc dầu không có mâu thuẫn với những điều nhà chí sỹ Lương Văn Can đã đề cập.

    Để làm việc này, trước hết, phải xác lập những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng văn hóa kinh doanh. Đó là:

    (1) Hai bên cùng thắng: Lấy sự hài lòng của khách làm cơ sở bảo đảm lợi ích của mình.

    (2) Cạnh tranh lành mạnh và tăng cường hợp tác

    (3) Phát triển bền vững

    (4) Thượng tôn pháp luật, bảo đảm kỷ luật kỷ cương đi đôi với phát huy dân chủ và khả năng sáng tạo của mỗi thành viên; đặt yêu cầu cao cho mỗi thành viên, động viên họ đối đầu với thách thức. Có dám đối đầu với thách thức mới biết mình là thế nào và có thể làm được những gì?

    (5) Đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Phải coi trách nhiệm xã hội là một nội dung của văn hóa doanh nghiệp, một yếu tố tạo ra thương hiệu.

    Từ các nguyên tắc chỉ đạo này, phải phấn đấu theo các nội dung sau:

    (i) Kinh doanh trung thực, giữ vững chữ tín, tạo niềm tin cho đối tác (đây là nội dung cực kỳ quan trọng).

    (ii) Có tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn để định hướng phát triển lâu dài, có khả năng phản ứng trước khi thị trường biến động- điều rất cần trong bối cảnh thế giới vận động rất nhanh và thay đổi không ngừng, cũng là để đào tạo người nối nghiệp theo định hướng đã lựa chọn. Đối với những công ty gia đình thì nên phát triển theo cách “cha truyền con nối”.

    (iii) Không coi kinh doanh chỉ là một nghề để kiếm sống mà là một hoạt động sáng tạo, một phương án tự hoàn thiện mình với chữ Người (viết hoa) nên phải kiên trì, không “nhảy cóc”; dám chấp nhận sai lầm và biết giới hạn những sai lầm; chấp nhận lỗ trong một thương vụ cụ thể để giữ chữ tín với đối tác.

    (iv) Coi tiết kiệm không chỉ là cách thức giảm chi phí, tăng lợi nhuận mà là một phong cách và văn hóa sống, giúp khách hàng được hưởng lợi tốt hơn. Qua đó mà mở rộng thị trường, phát triển khách hàng.

    (v) Nâng cao ý thức về lòng tự hào đối với sản của doanh nghiệp mình, làm với tất cả tâm huyết, yêu nghề để có sản phẩm tốt nhất, hoàn thiện nhất có thể; bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý và dịch vụ hậu mãi vượt trội.

    (vi) Coi trọng vai trò của hiệp hội, hợp tác chặt chẽ và đóng góp tích cực vào hoạt động của hiệp hội.

    (vii) Tăng cường hợp tác và liên kết, tích cực tương tác với các đối tác trong và ngoài nước, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Cần hiểu rằng, hợp tác và liên kết là yêu cầu tự thân của cuộc sống, của phát triển, là nhân sinh quan, là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu của con người hiện đai trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tăng cường làm việc nhóm nhỏ.

    (viii) Chú ý tổ chức các hoạt động ngoại khóa. (văn nghệ, thể dục thể thao, dã ngoại,..). Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp (nội dung này cũng là giải pháp gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp).

    (ix) Xác định đúng nhưng ngắn gọn “Slogan”, của doanh nghiệp để mỗi người hướng theo mục tiêu này mà phấn đấu. Lưu ý “Slogan” không phải là vĩnh viễn, cũng phải thay đổi phù hợp với mục tiêu mới khi tình hình đòi hỏi. Có một thực tiễn là, với một “Slogan” sử dụng quá lâu, không được bổ sung và phát triển những ý tưởng mới khi tình hình thay đổi, nhiều thành viên trong doanh nghiệp không còn nhớ đến nó nữa.

    (x) Xây dựng thương hiệu bằng cách tạo ra bản sắc riêng, sự độc đáo trong sản phẩm và dịch vụ của mình, cùng với việc mở rộng mạng lưới cung ứng và tiêu thụ.

    Để xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần nhớ:

    – Thói quen hình thành tính cách, tính cách làm nên số phận. Thói quen có thói quen tốt và thói quen xấu. Tạo ra thói quen tốt không dễ, loại bỏ một thói quen xấu còn khó hơn. Vì vậy, phải tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khen thưởng kịp thời, xử phạt nghiêm minh. Kỷ luật sẽ áp chế thói quen xấu, giúp cho cái tốt chiến thắng.

    – Doanh nhân (chủ hoặc người đứng đầu doanh nghiệp) có ảnh hưởng quyết định đến xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Vì vậy, Doanh nhân phải có ý thức xây dựng, đề cao văn hóa kinh doanh, văn hóa của doanh nghiệp mình

    – Về bản chất, lãnh đạo và quản lý là hai hoạt động khác nhau. Ở ta thường đồng nhất hai hoạt động này. Cần cố gắng tách bạch đến mức có thể, nhất là trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Trong hoạt động này, người lãnh đạo đưa ra ý tưởng, truyền cảm hứng đến mọi người và cuốn hút họ đi theo và thực hiện ý tưởng và các nội dung đã xác định. Người quản lý tổ chức thực hiện ý tưởng đó: Lập quy trình thực hiện có hiệu quả, giám sát việc thực thi, đề ra các giải pháp phát huy kết quả, khắc phục những sai phạm, yếu kém, …

    Trương Đình Tuyển/Sài Gòn giải phóng số Xuân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Tim Hieu Khai Niem Van Hoa Va Van Hoa Doanh Nghiep Tai Luan Van Viet
  • Khái Niệm Về Văn Hoá Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ?
  • Tim Hieu Khai Niem Van Hoa Va Van Hoa Doanh Nghiep Tai Luan Van Viet
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Văn hoá doanh nghiệp

    Trong một doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô lớn, là một tập hợp những con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa,… chính sự khác nhau này tạo ra một môi trường làm việc đa dạng và phức tạp thậm chí có những điều trái ngược nhau. Bên cạnh đó, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế. Làm thế nào để doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, là nơi làm gạch nối, nơi có thể tạo ra lực điều tiết, tác động (tích cực hay tiêu cực) đối với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, làm gia tăng nhiều lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn lẻ, nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hoá đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của toàn thể nhân viên vào việc đạt được các mục tiêu chung của tổ chức. Vì vậy có thể khẳng định văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.

    Nếu bạn gặp khó khăn trong việc làm luận văn tốt nghiệp, luận văn tiến sĩ hãy liên hệ dịch vụ thuê viết luận văn của chúng tôi!

    Văn hoá doanh nghiệp có thể được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung. Marvin Bower – Tổng giám đốc, McKinsey Co. đã nói ” Văn hoá doanh nghiệp là tất cả các thành tố mà chúng ta đang thực hiện trong quá trình kinh doanh và di sản để lại cho thế hệ kế tiếp” .

    Còn nhà xã hội học người MỹE.N.Schein đưa ra định nghiã Văn hoá doanh nghiệp như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các thành viên của tổ chức doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu” .

    Như vậy, nội dung củavăn hóa doanh nghiệp không phải là một cái gì đó tự nghĩ ra một cách ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh thực tiễn, trong quá trình liên hệ, tác động qua lại và quan hệ, như một giải pháp cho những vấn đề mà môi trường bên trong và bên ngoài đặt ra cho doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp thể hiện được những nhu cầu, mục đích và phương hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    N.Demetr – nhà xã hội học người Pháp cũng cho rằng, văn hóa doanh nghiệp – đó là hệ thống những quan niệm, những biểu tượng, những giá trị, và những khuôn mẫu hành vi được tất cả các thành viên trong doanh nghiệp nhận thức và thực hiện theo. Điều đó có nghĩa là trong DN tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh. Chức năng chủ yếu của v ăn hoá doanh nghiệp là tạo nên sự thống nhất của mọi thành viên, trong DN. Ngoài ra, v ăn hoá doanh nghiệp còn đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân và giúp cho mỗi cá nhân thực hiện vai trò của mình theo đúng định hướng chung của DN. Nhìn chung, văn hoá doanh nghiệp động viên nghị lực và ý chí của các thành viên trong DN và hướng tinh thần đó vào việc phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng mỗi DN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Khái Niệm, Nguồn Gốc Và Cấu Trúc
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Công Vụ
  • Đại Hội Đại Biểu Lần Thứ Xi Của Đảng
  • Gd Cd: Văn Kiện Đh Xi Của Đảng Csvn
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp, Doanh Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nhân
  • Văn Hóa Doanh Nhân & Văn Hóa Doanh Nhân Việt Nam
  • Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, Đôi Dòng Suy Ngẫm
  • Giáo Trình Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Văn hóa vốn là một khái niệm đa nghĩa và có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê được 152 nghìn định nghĩa và chia ra làm 6 nhóm chính. Tại Hội nghị Triết học thế giới năm 1980, người ta đã thống kê được 250 nghìn định nghĩa và được nhà văn hóa học người Nga – A.X.Ca-rơ-min phân thành 14 nhóm…. Nhưng chung lại, người ta xác định văn hóa là một thuộc tính chỉ có ở loài người, là cái phân biệt con người và động vật. Trong phạm vi loài người, văn hóa còn là dấu hiệu phân biệt giữa cộng đồng xã hội này với cộng đồng xã hội khác. Đó chính là hệ giá trị và chuẩn mực xã hội và những truyền thống khác nhau mà các cộng đồng người đã tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn như quan niệm của tiến sĩ Federico Mayor – nguyên tổng thư kí UNESCO: “văn hóa là một tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và trong hiên tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định tính riêng của mỗi dân tộc”.

    Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm… tích lũy vào một con người, biểu hiện ở định hướng giá trị và phương thức hành xử của người ấy trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với bản thân nó. Văn hóa cá nhân phát triển đến đỉnh cao thì trở thành danh nhân.

    Khi xã hội phát triển làm xuất hiện các giới nghiệp định hình như trí thức, viên chức, tăng lữ, doanh nhân, công nhân… thì mỗi giới đều có một mẫu nhân cách và tương ứng với nó sẽ có các dạng văn hóa cá nhân như văn hóa trí thức, văn hóa viên chức, văn hóa tăng lữ, văn hóa doanh nhân, văn hóa công nhân….

    Còn văn hóa cộng đồng là văn hóa của nhóm xã hội, nhưng không phải là sự kết hợp sô học của những văn hóa cá nhân mà là toàn bộ hệ giá trị và phương thức hành xử được các thành viên trong cộng đồng chia sẽ và tự giác thực hiện, trở thành truyền thống của họ. Xã hội Việt Nam truyền thống đã sản sinh ra các dạng cộng đồng như gia đình, làng xã, tộc người, dân tộc, tôn giáo…, tương ứng có các dạng văn hóa cộng đồng như văn hóa gia đình, văn hóa làng xã, văn hóa dân tộc, văn hóa phật giáo, thiên chúa giáo… Xã hội hiện đại làm xuất hiện thêm nhiều dạng cộng đồng mới như văn hóa doanh nghiệp, văn hóa trang trại…

    Doanh nhân năm 1975 từ này cũng đã khá phổ biến và được giải thích là thì khái niệm này mới được dùng và ngày trở nên phổ biến. Theo cách hiểu chung nhất, (Homme d`affaires; Bisinisement) là một từ xuất hiện đã lâu gắn với các nền kinh tế thị trường; ngay ở miền Nam tr ước người kinh doanh . Từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước và xác định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN doanh nhân là người có xu hướng và khát vọng làm giàu bằng việc tổ chức các hoạt động kinh doanh nhằm không ngừng tạo ra giá trị thặng dư tối đa, làm gia tăng tài sản cho mình, góp phần tăng trưởng tài sản cho xã hội. Còn theo quan niệm của Trung tâm văn hóa Việt Nam thì doanh nhân không phải là người kinh doanh thông thường, đó là ông chủ của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nhân là văn hóa chủ doanh nghiệp . Như vậy, trong nền văn hóa kinh doanh hiện đại, ta dễ nhận ra hai hình thái khác nhau: hình thái văn hóa cá nhân – văn hóa doanh nhân; hình thái văn hóa cộng đồng – văn hóa doanh nghiệp. Tức là khi nào ông chủ doanh nghiệp vận dụng một cách sáng tạo văn hóa trong hoạt động kinh doanh, lúc đó ông đang xây dựng văn hóa doanh nghiệp ; và khi nào ông chủ doanh nghiệp để lại dấu ấn sáng tạo trong văn hóa doanh nghiệp của mình, lúc đó ông ta mới có cái gọi là văn hóa doanh nhân . Từ sự giải thích này, ta có thể thống nhất một cách hiểu: văn hóa doanh nhân là sự kết hợp giữa văn hóa kinh doanh và đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp , cũng tức là sự kết hợp giữa văn hóa nghề nghiệp với văn hóa nhân cách của doanh nhân.

    c độ của văn hóa học, chúng ta thấy rằng văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp thuộc dạng văn hóa cộng đồng, ngày nay người ta thường gọi là Vậy văn hóa kinh doanh là gì? Từ g ó triển. Những cách thức và nguyên tắc đó là yếu tố khởi nguyên, được các thành viên trong tổ chức tự nguyện chấp nhận, lấy đó làm phương hướng hành động, phân tích và đưa ra những quyết định thích hợp”. Văn hóa tổ chức. E.N.Schein, nhà nghiên cứu người Mỹ đã nêu một định nghĩa: “ văn hóa tổ chức là toàn bộ cách thức và nguyên tắc xử lý các vấn đề thống nhất bên trong và thích ứng với bên ngoài để tồn tại và phá

    Như vậy, nếu vận dung vào doanh nghiệp, cơ cấu văn hóa tổ chức sẽ gồm một số yếu tố chủ yếu như:

    Yếu tố giá trị : xuất phát từ nhu cầu của các thành viên, người lãnh đạo cần lựa chọn một định hướng giá trị phù hợp. Có tổ chức lấy sáng tạo làm giá trị hàng đầu, tổ chức khác lại đề cao giá trị là việc hoàn thành nhiệm vụ, ho ặ c thu nhập cao…

    Yếu tố chuẩn mực : là các quy định có chức năng hướng dẫn cách hành x ử để mọi người phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu mà tổ chức đặt ra.

    hiện của tổ chức : mỗi tổ chức thường khẳng định mình qua việc sử dụng hệ thống các biểu tượng như lôgo, thương hiệu, khẩu hiệu, trang phục, lễ hội, các nghi thức giao tiếp, sinh hoạt tập thể và các hình thức sinh hoạt khác.

    Xây dựng bầu không khí tinh thần trong tổ chức : sức mạnh của tổ chức biểu thị ở sự đồng thuận tinh thần, vì vậy người lãnh đạo cần quan tâm xây dựng những tình cảm cao đẹp trong tổ chức của mình.

    + Có tinh thần làm chủ, tôn trọng người khác nếu thấy hợp lý, không võ đoán, kiêu ngạo..

    + Quyết đoán nhưng không độc đoán, mỗi khi đưa ra quyết sách cần dựa vào những dữ kiện thật, đồng thời có khả năng nhìn xa, trông rộng;

    + Dám chịu trách nhiệm với cấp trên, cấp dưới, với khách hàng và xã hội…

    V ăn hóa doanh nhân của doanh nghiệp thuộc loại hình văn hóa công đồng, văn hóa doanh nhân còn được tạo thành bởi nhân cách doanh nhân – văn hóa cá nhân mà cốt lõi của nó là định hướng giá trị .

    Định hướng gi á trị của doanh nhân trước hết và chủ đạo là làm giàu, hay nói như người Trung Quốc là “tri phú” – biết làm giàu. Định hướng này có thể phân thành 3 yếu tố: c h làm giàu mới là vấn đề của văn hóa. Cách làm giàu vừa là khoa học lại vừa là nghệ thuật và khi làm giàu được xem là hoạt động sáng tạo thì văn hóa doanh nhân đồng nghĩa với văn hóa làm giàu hay đạo làm giàu của doanh nhân. chúng tôi Hoàng Vinh đã có một định nghĩa khá toàn diện: ” Có tri thức làm giàu, Có khát vọng làm giàu, Biết cách ứng xử trong làm giàu. Doanh nhân là đội quân chủ lực, những người tiên phong trong công cuộc làm cho dân giàu, nước mạnh. Làm giàu và biết cách làm giàu là hai vấn đề khác nhau; Làm giàu là nhu cầu tự nhiên của mỗi người, còn biết cá Văn hóa doanh nhân thuộc dạng văn hóa cá nhân, hình thành trong môi trường của một doanh nghiệp thành đạt. Đó là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm, biểu thị thành những giá trị và khuôn mẫu hành xử tích lũy vào một cá nhân tạo nên văn hóa doanh nhân – một con người có trí thức làm giàu, có khả năng làm giàu, có khát vọng làm giàu, dám chịu rủi ro để làm giàu bằng cách tổ chức các hoạt động kinh doanh, liên tục tạo ra giá trị thặng dư tối đa, không ngừng làm gia tăng tài sản cho cá nhân cũng như cho doanh nghiệp”.

    Nước ta thời xưa theo truyền thống Nho giáo trọng nghiệp nước ta không phát triển được: n hành cuốn sách ” nông ức thương nhằm cột chặt người dân vào ruộng đất, làng xã…. Sĩ – nông – công – thương , tầng lớp buôn bán (doanh nhân) được xếp vào hạng cuối. Vì vậy, đội ngũ những người biết làm giàu ở nước ta rất hiếm và xuất hiện khá muộn, chủ yếu là vào đầu thế kỷ XX khi phong trào Duy tân được đề xướng: “Chú trọng mở mang kinh tế”, “Không để dân giàu thì không có con đường nào đạt đến mục đích tự trị được”…C ử nhân Lương Văn Can (1854-1927) đã từng viết sách ” Thương học phương châm” trong đó đã nêu ra 10 nguyên nhân khiến thương T rần Văn Chiêu cũng đã soạn th ảo và người mình không có thương phẩm; Không có thương hội; không có tín thực; không có kiên tâm; Không có nghị lực; Không biết trọng nghề; Không có thương học; Kém đường giao tiếp; Không biết tiết kiệm; Khinh nội hóa. Nhóm ấ Nghệ An, những năm đầu thế kỷ 20 cũng đã xuất hiện một số đại nho l àm nghề buôn để lấy tiền hoạt động cách mạng như cụ Nghè Ngô Đức Kế mở Triêu dương thương quán ở phố Cầu Rầm (Vinh), Thủ khoa Lê V ă n Huân mở của hàng buôn bán ở chợ Trổ (Đức Thọ)… Thương cổ luận “…Ở Hà Tĩnh,

    Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới, cùng với những kết quả quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, Đảng ta cũng không ngừng lớn mạnh thêm về tư duy kinh tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định mục tiêu nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống cho nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến k h ích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng… riêng đối với từng lớp doanh nhân, Đảng đã khẳng định quan điểm: Tạo điều kiện phát huy tiềm năng và vai trò tích cực trong phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nhân để mỡ rộng đầu tư trong nước và ở nước ngoài; giải quyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam.*

    Ở tỉnh ta, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đ ảng bộ tỉnh lần thứ XVI, BCHTU đã ban hành nghị quyết chuyên đề ( số 02-NQ/TU ngày 24/8/2006) về việc tăng cường lãnh đạo phát triển doanh nghiệp đến năm 2010 và những năm tiếp theo; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện và ra quyết định số 2208/QĐ- UBND ngày 18/9/2006 thành lập Ban chỉ đạo vì sự phát triển doan

    Từ đó đến nay, tháng hành động vì sự phát triển doang nghiệp đã thực sự trở thành ngày hội của các doanh nhân với nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực; và đây là dịp các tầng lớp xã hội thể hiện sự tôn vinh, góp phần tạo nên bầu không khí tinh thần mới cho đội ngũ doanh nhân cũng như cho cộng đồng xã hội hướng về doanh nhân – đội quân chủ lực làm giàu cho quê hương, đất nước và cho chính bản thân mình.

    K ỷ niệm 5 năm ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004- 13/10/2009), UBND tỉnh đã làm việc với ban chỉ đạo vì sự phát triển doanh nghiệp và Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp tỉnh và ra Thông báo kết luận số 221/ TB – UBND, ngày 14/9/2009 với nhiều nội dung quan trọng, trong đó tập trung chỉ đạo nội dung “Đưa tri thức văn hóa vào doanh nghiệp”. Thực hiện thông báo trên, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức Tuần văn hóa, thể thao, du lịch hưởng ứng ngày Doanh nhân Việt Nam với các chương trình như; khai trương phòng đọc sách Doanh nhân, Giải bóng chuyền Doanh nhân, Giải quần vợt “Tạp chí Văn hóa” mở rộng, Tiếng hát Doanh nhân Hà Tĩnh lần thứ 2, Doanh nhân về với doanh nhân, và tọa đàm “Văn hóa với Doanh nghiệp”.

    Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, đối với Việt Nam cũng như các quốc gia cùng bối cảnh khác, doanh nghiệp chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đ ấ t nước. Như đã nói ở trên, văn hóa là yếu tố hàng đầu để đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Với tình hình phát triển doanh nghiệp của chúng ta hiện nay, việc xây dựng văn hóa doanh nhân, doanh nghiệp đang là một yếu tố cấp bách và các doanh nghiệp phải coi là vấn đề thiết thân, sống còn của mình. H i v ọ ng rằng, qua các cuộc sinh hoạt văn hóa như thế này, các nhà quản lý, các nhà khoa học, các doanh nhân sẽ cùng nhau tìm ra được các giải pháp hữu hiệu nhất cho sự hình thành và phát triển văn hóa doanh nhân, doanh nghiệp./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Lãnh Đạo, Quản Lý Trước Yêu Cầu Đổi Mới Và Phát Triển Xã Hội Hiện Nay
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Phân Tích Văn Hóa Việt Nam Từ Góc Độ Giao Lưu
  • Trình duyệt của bạn không hỗ trợ file này.

    “Bản sắc” theo từ điển trong tiếng Việt được hiểu là từ để chỉ tính chất, màu sắc riêng biệt, độc đáo góp phần tạo nên phẩm chất đặc biệt đối với một sự vật nào đó. Có thể hiểu đây chính là những sắc thái, đặc thù riêng mà chỉ có ở sự vật đó. Và trên thực tế, khi nhắc đến cụm từ “bản sắc”, con người ta thường có dụng ý chỉ cái rất riêng của sự vật để có thể phân biệt được so với các sự vật khác xung quanh.

    Và hiện nay, thuật ngữ bản sắc này thường được sử dụng đi liền với văn hóa dân tộc. Khi nhắc đến một quốc gia, dân tộc nào đó là phải nhắc đến bản sắc nền văn hóa của họ. Do đó, có thể hiểu về bản chất của khái niệm “bản sắc văn hóa dân tộc” có nghĩa là hệ thống các giá trị đặc trưng nhất của một nền văn hóa đã được xác lập trong dân tộc đó, nó tồn tại và phát triển trong suốt quá trình lịch sử và được thể hiện qua rất nhiều sắc thái văn hóa khác nhau. Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện được linh hồn, cốt cách, tinh thần cũng như bản lĩnh sinh tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Đây được xem là dấu hiệu để có thể phân biệt được giữa các quốc gia này với các quốc gia khác.

    Trong suốt quá trình hình thành, phát triển của mình, bản sắc văn hóa dân tộc luôn trở thành yếu tố quan trọng, mang đến sức mạnh về tinh thần dân tộc to lớn, giúp cho các dân tộc có thể vượt qua được những khó khăn, thử thách. Bởi thực tế, bản sắc văn hóa dân tộc chính là toàn bộ những phẩm chất, tính cách và là khuynh hướng cơ bản nhất của mỗi dân tộc, mang trong mình sức mạnh tiềm tàng, sức sáng tạo và giúp các quốc gia, dân tộc có thể tồn tại, phát triển cũng như phát huy những giá trị tốt đẹp nhất.

    2. Kết cấu của bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện như thế nào?

    – Tầng diện 2 chính là cách tư duy và lối sống lý tưởng, cái nhìn về thẩm mỹ trong văn hóa dân tộc. Đây được xem là tầng nấc trung gian để có thể hiện thực hóa được mọi thứ trong thế giới quan và nhân sinh quan. Thông qua đó sẽ làm bật được văn hóa dân tộc trong đời sống xã hội và con người. Theo đó, tại tầng diện này, những yếu tố của quá khứ và hiện tại sẽ được liên kết với nhau thông qua các mối liên hệ trong lịch sử, các tư duy logic. Và tại tầng diện này, bản sắc văn hóa dân tộc sẽ được thể hiện một cách đa dạng, phong phú hơn với rất nhiều biến đổi liên tục.

    3. Sự khác biệt giữa bản sắc văn hóa dân tộc và sắc thái văn hóa

    + Còn biểu hiện của sắc thái văn hóa chính là hình thức thể hiện của các nghi thức, hiện tượng, sự vật,… đó. Theo đó, mặc dù bạn không hiểu về bản chất nhưng vẫn có thể nhìn thấy và cảm nhận được về sắc thái văn hóa thông qua các hình thức bên ngoài như là trang phục, ngôn ngữ, phong tục tập quán,…

    + Còn đối với sắc thái văn hóa thì lại có thể linh hoạt theo thời gian, theo những sự biến đổi của xã hội. Sắc thái văn hóa sẽ thể hiện một nền văn hóa văn mình và sự phát triển của xã hội con người. Do đó, nó chỉ mang tính chất tương đối và dễ bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác trên thế giới.

    4. Một số yếu tố có tính định hướng trong nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc

    – Cần xét trong một mối quan hệ giữa các nền văn hóa, bản sắc văn hóa của từng dân tộc được thể hiện qua tính thống nhất, tính đa dạng. Tính thống nhất ở đây được thể hiện qua những nét chung ở nền văn hóa theo từng cấp độ khác nhau, ví dụ như là văn hóa vùng, văn hóa khu vực, văn hóa quốc gia,… Còn tính đa dạng thì sẽ thể hiện những sắc thái riêng, các đặc thù của mỗi nền văn hóa dân tộc. Theo đó, khi nghiên cứu, tìm hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc chính là đi tìm hiểu về cái riêng, cái đặc trưng nhất của các dân tộc đó.

    + Xét về tính biến đổi thì bản sắc văn hóa không phải là một thực thể bất biện, nó sẽ luôn vận động, biến đổi không ngừng theo thời gian. Trong suốt quá trình phát triển, những giá trị lỗi thời, những gì đã cũ và không phù hợp sẽ cần được loại bỏ để thay thế bằng những cái mới tốt đẹp hơn. Do đó, bản sắc văn hóa dân tộc có thể được xem là một quá trình trưởng thành, phát triển của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa
  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Văn Hóa Bản Địa Trong Xây Dựng Môi Trường Cư Trú Truyền Thống
  • Bài Viết Một Số Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Văn Hóa Truyền Thông
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100