Phân Tích Nội Dung Ý Nghĩa Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Hãy Nêu Giá Trị Khoa Học Của Định Nghĩa.

--- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của V.i. Lênin? Giá Trị Của Nó Dưới Ánh Sáng Khoa Học Hiện Đại?
  • Phương Pháp Tìm Giá Trị Lớn Nhất, Nhỏ Nhất Của Hàm Số Cần Nắm Rõ
  • Phương Pháp Tìm Giá Trị Lớn Nhất Và Giá Trị Nhỏ Nhất Của Hàm Số
  • Giá Trị Lớn Nhất Nhỏ Nhất Của Hàm Số
  • Bài 3: Thứ Tự Trong Tập Hợp Số Tự Nhiên Thu Tu Trong Tap Hop So Nguyen Tiet 43 Doc
  • Dẫn nhập:

    Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm cho các quan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng:

    – Phát minh ra hiện tượng phóng xạ của uranium do các nhà bác học Pháp Beccơren (Antoine Henri Becquerel), và ông bà Pie Quyri (Piere Curie) và Mari Quyri (Marie Curie).

    – Phát hiện điện tử của nhà vật lý học Anh Tomxơm (Sỉ Joseph Thomson)

    – Phát hiện sự thay đổi khối lượng điện tử của nhà bác học Đức Kaufman.

    – Thuyết tương đối của Albert Eisntein (1905).

    Các phát minh này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học.

    Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các hiện tượng vật lý: vật chất tiêu tan mất.

    Các nhà triết học duy tâm chủ quan lợi dụng tấn công phủ nhận vật chất và chủ nghĩa duy vật.

    Tình hình đó đòi hỏi Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật.

    Phần chính:

    + Định nghĩa vật chất của Lênin:

    Kế thừa tư tưởng của Mác và Ăngghen, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin đưa ra định nghĩa về vật chất:

    “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

    Phân tích nội dung định nghĩa:

    – Vật chất là một phạm trù triết học: nghĩa là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất. Vật chất là khái niệm trừu tượng dùng để chỉ đặc điểm chung của tất cả các dạng tồn tại cụ thể trong vũ trụ, nhưng không đồng nhất với bất cứ một dạng cụ thể nào.

    – Vật chất là thực tại khách quan: vật chất là tất cả những gì tồn tại thực sự, ở bên ngoài, không lệ thuộc cảm giác. Thực tại khách quan là đặc điểm phân biệt vật chất với ý thức.

    -Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác:

    Vật chất không phải là cái gì hư vô, huyền bí, mà trái lại nó tồn tại dưới những dạng cụ thể, khi tác động vào giác quan thì gây ra cảm giác, được cảm giác phản ánh.

    Cảm giác, ý thức chỉ là phản ánh của vật chất

    Sự tồn tại của vật chất có hai mặt:

    – Tồn tại khách quan có trước, không lệ thuộc cảm giác.

    Dù con người chưa nhận thức được một dạng vật chất nào đó thì nó vẫn tồn tại không phụ thuộc con người. Chẳng hạn, điện tử, virus … đã tồn tại trước khi con người phát hiện ra chúng.

    – Tồn tại cảm tính phụ thuộc vào cảm giác và trình độ thực tiễn của con người.

    Nó là bằng chứng về sự tồn tại của vật chất. Do đó, chưa thể có bằng chứng về sự tồn tại của một dạng vật chất cụ thể nào đó khi con người chưa cảm nhận được nó (trực tiếp bằng giác quan hay bằng các phương tiện kỹ thuật để nối dài giác quan, như kính hiển vi, kính viễn vọng, màng huỳnh quang, v.v..).

    Ý nghĩa và giá trị khoa học của định nghĩa:

    – Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật

    – Bác bỏ các quan điểm duy tâm khách quan và chủ quan về vật chất

    – Khắc phục những hạn chế của quan điểm duy vật siêu hình

    – Có thể vận dụng trong đời sống xã hội để phân biệt vật chất với tinh thần.

    – Giải quyết được cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học lúc bấy giờ; định hướng cho khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất.

    Source(s): – Giáo trình triết học Mác-Lênin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Vi Của Cá Nhân Trong Tổ Chức
  • Hành Vi Tổ Chứcbùi Anh Tuấn
  • Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Khấu Hao Và Hao Mòn Lũy Kế Khác Nhau Ntn? Làm Tn Để K Bị Nhầm Lẫn Khi Lập Bảng Cđkt?
  • Thuế Vat Là Gì? Những Điều Kế Toán Nên Biết Về Thuế Gtgt
  • Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của V.i. Lênin? Giá Trị Của Nó Dưới Ánh Sáng Khoa Học Hiện Đại?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tìm Giá Trị Lớn Nhất, Nhỏ Nhất Của Hàm Số Cần Nắm Rõ
  • Phương Pháp Tìm Giá Trị Lớn Nhất Và Giá Trị Nhỏ Nhất Của Hàm Số
  • Giá Trị Lớn Nhất Nhỏ Nhất Của Hàm Số
  • Bài 3: Thứ Tự Trong Tập Hợp Số Tự Nhiên Thu Tu Trong Tap Hop So Nguyen Tiet 43 Doc
  • Học Nốt Nhạc Piano Cơ Bản
  • Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan.

    Đối lập với những quan niệm duy tâm chủ nghĩa về phạm trù này, V.I. Lênin nhấn mạnh: Đặc tính duy nhất của vật chất – mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này – là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức của chúng ta.

    Nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự, bên ngoài ý thức của con người. Vật chất là hiện thực chứ không phải hư vô và hiện thực này là khách quan chứ không phải hiện thực chủ quan (tức ý thức). Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, dù có “kỳ lạ” đến đâu, nhưng đã tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan thì đều là các dạng khác nhau của vật chất. V.I. Lênin đã chỉ ra được một “đặc tính duy nhất của vật chất” thỏa mãn được mọi vấn đề – đặc trưng cho mọi dạng vật chất, phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và ý thức, đồng thời chỉ rõ tính thứ nhất của vật chất so với ý thức – đó chính là đặc tính tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan.

    Thứ hai, vật chất là tất cả sự vật, hiện tượng, quá trình mà khi tác động vào các giác quan thì cho ta cảm giác.

    Vật chất luôn biểu hiện đặc tính “hiện thực khách quan” của mình thông qua sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là thông qua các thực thể. Nói đến vật chất là nói đến thực thể, đến tính thực thể của nó. Tính chất thực thể là một trong những đặc trưng chung của các sự vật, hiện tượng vật chất trong sự khác biệt với các hiện tượng ý thức. Đồng thời, do tồn tại dưới dạng các thực thể nên khi tác động vào các giác quan của con người theo một cách nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp), các sự vật, hiện tượng vật chất mới được đem lại cho con người trong cảm giác. Chính theo phương thức đó, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất nói chung.

    Thứ ba, vật chất – cái mà ý thức của con người có được là hình ảnh của nó do phản ánh mang lại.

    Các loại hiện tượng vật chất tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan, không lệ thuộc vào hiện tượng tinh thần. Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất nên các hiện tượng tinh thần tất yếu phải có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và xét về thực chất chúng chỉ là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại các hiện tượng vật chất. Nói cách khác, vật chất là cái cấu thành nội dung của ý thức hay ý thức chẳng qua chỉ là hình ảnh đã được cải biến của thế giới vật chất trong đầu óc con người.

    Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử, thông qua một định nghĩa khoa học về’ vật chất, V.I. Lênin đã giải quyết được trọn vẹn cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật triệt để. Qua đó, vừa chống được những quan điểm duy tâm, thuyết bất khả tri, vừa khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác về phạm trù vật chất. Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin không những góp phần đưa chủ nghĩa duy vật lên một tầm cao mới, góp phần vào việc làm rõ quan niệm về vật chất trong lĩnh vực xã hội, mà còn góp phần khắc phục sự khủng hoảng về mặt thế giới quan trong đội ngũ các nhà triết học và khoa học tự nhiên, qua đó thúc đẩy họ tiếp tục đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, củng cố thêm mối liên minh chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật triết học.

    [1] v.l. Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr. 151.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nội Dung Ý Nghĩa Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Hãy Nêu Giá Trị Khoa Học Của Định Nghĩa.
  • Hành Vi Của Cá Nhân Trong Tổ Chức
  • Hành Vi Tổ Chứcbùi Anh Tuấn
  • Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Khấu Hao Và Hao Mòn Lũy Kế Khác Nhau Ntn? Làm Tn Để K Bị Nhầm Lẫn Khi Lập Bảng Cđkt?
  • Galileo Và Bản Chất Của Khoa Học Vật Lí

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Rơi Tự Do – Kipkis
  • Di Truyền Học Quần Thể
  • Phương Pháp Hấp Thụ – Tính Toán Quá Trình Hấp Thụ Trong Xử Lý Khí Thải – Eth Xử Lý Nước Thải Và Môi Trường
  • Định Luật Hấp Dẫn Của Newton
  • Lý Thuyết Maxwell Khó Hiểu, Vì Sao ?
  • 3.1 Giới thiệu

    Có ba câu chuyện được kể lại. Chuyện thứ nhất kể Galileo là một nhà triết học tự nhiên. Không giống Tycho Brahe và Kepler, Galileo là nhà vật lí thực nghiệm có mối bận tâm hàng đầu là tìm hiểu các định luật của tự nhiên bằng các kĩ thuật định lượng, từ những bài viết xưa nhất của ông cho đến tập chuyên luận để đời sau cùng của ông, Đàm luận và Chứng minh Toán học về Hai Hệ thống Khoa học. Câu chuyện thứ hai thuộc về thiên văn học, và chiếm một thời kì tương đối ngắn, nhưng quan trọng, trong sự nghiệp của ông từ năm 1609 đến 1612, khi những khám phá thiên văn của ông có sức tác động quốc tế ngay tức thì.

    Câu chuyện thứ ba kể việc ông bị xét xử và bị quản thúc tại gia sau đó. Các phương diện khoa học mà Tòa án Dị giáo đưa ra để chỉ trích và xét xử ông nằm ngay tại trái tim bản chất của khoa học vật chất. Quan điểm chung của mọi người là xem Galileo như người anh hùng và Giáo hội Thiên Chúa là kẻ thủ ác, là căn nguyên của phản ứng bảo thủ và chính sách hẹp hòi. Từ quan điểm thần học, Galileo đã phạm một sai lầm logic, song giới chức giáo hội còn phạm sai lầm nghiêm trọng hơn, vấn đề được nhắc đi nhắc lại xuyên suốt lịch sử khoa học kể từ đó. Những sai lầm của giáo hội chỉ được chính thức thừa nhận bởi Giáo hoàng John Paul II vào năm 1992.1

    Lí do tôi dành cả một chương cho Galileo, nền khoa học và những khổ cực của ông một phần là do thực tế trường hợp này nên được hiểu rõ hơn, song điều quan trọng hơn, vì câu chuyện này phản ánh được cách thức vật lí được thực hiện với tư cách một bộ môn khoa học. Tính chính trực và tài năng khoa học của Galileo là một nguồn cảm hứng – hơn bất kì ai khác, ông có thể được vinh danh với việc sáng tạo ra khuôn khổ trí óc cho nghiên cứu vật lí như chúng ta biết ngày nay.

     

    3.2 Galileo là nhà vật lí thực nghiệm

    Galileo Galilei chào đời vào tháng Hai 1564 ở Pisa, là con trai của Vincenzio Galileo, một nhạc sĩ và nhà lí thuyết âm nhạc có tiếng. Vào năm 1587, Galileo được bổ nhiệm chức danh giáo sư toán tại Đại học Pisa, nơi ông chẳng mấy mặn mòi với các đồng nghiệp, một trong những lí do chính là vì ông phản đối vật lí học Aristotle khi ấy vẫn là trụ cột trung tâm của triết học tự nhiên. Galileo thấy rõ rằng vật lí học Aristotle không phù hợp với cách thức vật chất hành xử trên thực tế. Ví dụ, phần khẳng định về chuyển động của các vật rơi có trọng lượng khác nhau đọc như sau:

    Giả sử một vật nặng nhất định đi được một quãng đường nhất định trong một thời gian nhất định, vật nặng hơn sẽ đi được cùng một quãng đường trong thời gian ngắn hơn, và tỉ lệ trọng lượng của các vật bằng bao nhiêu thì tỉ lệ thời gian sẽ bằng bấy nhiêu; chẳng hạn, giả sử một nửa vật đi hết quãng đường trong thời gian x, thì nguyên vật sẽ đi hết quãng đường đó trong thời gian x/2.2

    Điều này rõ ràng là sai, và có thể được chứng minh bằng một thí nghiệm đơn giản. Phản đối của Galileo được hình tượng hóa bởi câu chuyện ông thả rơi các vật nặng khác nhau từ đỉnh Tháp nghiêng Pisa. Nếu chúng được thả rơi từ cùng một độ cao, thì chúng chạm đất cùng lúc, nếu bỏ qua sức cản không khí, đúng như Galileo và các tác giả trước đó đã biết.

    Vào năm 1592, Galileo được bổ nhiệm chức giáo sư toán tại Padua, nơi ông ở lại làm việc cho đến năm 1610. Trong quãng thời gian này ông đã sáng tạo một số công trình kiệt xuất nhất của mình. Ban đầu ông phản đối mô hình Copernicus về Hệ Mặt Trời nhưng, vào năm 1595, ông bắt đầu xem xét nó một cách nghiêm túc để giải thích nguồn gốc của thủy triều ở biển Adriatic. Ông quan sát thấy thủy triều tại Venice thường dâng lên hạ xuống khoảng 5 foot, chừng 1,5 mét, và do đó phải có một lực rất lớn làm cho lượng nước đồ sộ này dâng lên mỗi ngày ở mức triều cao như thế. Galileo lí giải rằng, nếu Trái Đất quay xung quanh trục riêng của nó và đồng thời chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời, thì độ biến thiên hướng chuyển động của một điểm trên bề mặt Trái Đất sẽ nén ép xung quanh và vì thế gây ra hiệu ứng thủy triều. Đây không phải lời giải thích đúng cho thủy triều, nhưng nó khiến Galileo ngả về bức tranh Copernicus cho các luận giải vật lí.

    Trong những công trình được in của Galileo, các luận cứ được trình bày theo những luận điểm trừu tượng mà không hề tham chiếu đến ý nghĩa thông thường cho bằng chứng thực nghiệm. Tài năng của Galieo với vai trò nhà khoa học tiên phong được miêu tả bởi Stillman Drake trong quyển sách đáng chú ý của ông, Galileo: Nhà khoa học tiên phong (1990). Drake giải mã các ghi chú chưa được công bố của Galileo và chứng minh một cách thuyết phục rằng Galileo đã thật sự tiến hành các thí nghiệm mà ông nhắc tới trong các chuyên luận của mình với kĩ năng thực nghiệm đáng nể (Hình 3.1).

    Nhiệm vụ của Galileo thật khó khăn – ông không tin vào cơ sở của vật lí học Aristotle nhưng lại chẳng có gì khác thay thế cho nó. Vào đầu những năm 1600, ông đã tiến hành các khảo sát thực nghiệm về quy luật của sự rơi, chuyển động của các quả cầu lăn xuống dốc nghiêng và chuyển động của con lắc – những nghiên cứu này đã làm rõ, lần đầu tiên, khái niệm gia tốc.

    Một vấn đề đối với vật lí học cho đến thời Galileo là chẳng có cách nào đo chính xác những khoảng thời gian nhỏ, và vì thế ông phải sử dụng biện pháp khéo léo trong thiết kế các thí nghiệm của mình. Một ví dụ đẹp là thí nghiệm của ông khảo sát cách một quả cầu thu gia tốc khi nó lăn xuống một mặt phẳng nghiêng. Ông đã xây dựng một mặt phẳng nghiêng thoai thoải dài 2 mét chỉ hợp góc 1,7o so với phương ngang và xẻ một cái rãnh trên đó để một quả cầu nặng bằng đồng thiếc có thể lăn xuống. Ông đặt những miếng nêm nhỏ lên mặt phẳng nghiêng để cho mỗi khi quả cầu đi qua một miếng nêm thì có một tiếng rắc phát ra. Sau đó ông điều chỉnh vị trí của các miếng nêm sao cho các tiếng rắc đó sẽ phát ra sau những khoảng thời gian bằng nhau (Hình 3.2). Drake đề xuất rằng Galileo có thể cân bằng các khoảng thời gian đến 1/64 giây bằng cách ngân một giai điệu và làm cho những tiếng rắc đó phát ra đúng nhịp bài hát. Bằng cách lấy hiệu, ông tính được tốc độ trung bình giữa những tiếng rắc liên tiếp và tìm thấy nó tăng lên theo các số lẻ 1,3, 5,7,… trong những khoảng thời gian bằng nhau.

    Hình 3.1 Một phần ghi chú của Galileo về các quy luật của con lắc. (Trích từ S. Drake, 1990. Galileo: Nhà khoa học tiên phong, trang 19, Toronto, NXB Đại học Toronto.)

    Hình 3.2 Cách Galileo thiết lập quy luật về chuyển động dưới gia tốc không đổi. Con số giữa các miếng nêm thể hiện vị trí tương đối của chúng để tạo ra chuỗi tiếng rắc đều đặn.

    Ban đầu, Galileo tin rằng, dưới gia tốc không đổi, tốc độ tỉ lệ thuận với quãng đường đi được nhưng, từ các kết quả thí nghiệm của ông vào năm 1604, ông tìm thấy đúng hơn thì tốc độ tỉ lệ thuận với thời gian. Bây giờ ông có hai liên hệ: thứ nhất là liên hệ giữa tốc độ và quãng đường, x = vt đối với vận tốc không đổi v, và thứ hai liên hệ tốc độ với thời gian dưới gia tốc không đổi v = at. Không có biểu thức đại số nào trong các công trình của Galileo và giải tích vi phân vẫn chưa được khám phá. Thủ tục đơn giản nhất là chia nhỏ bài toán thành những khoảng thời gian hữu hạn. Giả sử tốc độ của quả cầu gia tốc đều ấy được đo tại các thời điểm 0, 1, 2, 3, 4, 5,… s, giả sử nó bắt đầu từ trạng thái nghỉ lúc t = 0. Gia tốc là không đổi và vì thế tốc độ tại những thời điểm này, ví dụ bằng 0, 1, 2, 3, 4…,

    cm s-1, thì gia tốc a = 1 cm s-2. Hạt đi được quãng đường bao xa sau 0, 1, 2, 3, 4, 5,… s?

    Lúc t = 0, hạt chưa được đi quãng đường nào. Giữa 0 và 1 s, tốc độ trung bình là

    0,5 cm s-1, và vì thế quãng đường đi được là 0,5 cm. Trong khoảng thời gian tiếp theo giữa 1 và 2 s, tốc độ trung bình là 1,5 cm s-1 và vì thế quãng đường đi được trong khoảng thời gian đó là 1,5 cm và tổng quãng đường đi được tính từ lúc đứng yên là 0,5 + 1,5 = 2 cm. Trong khoảng thời gian tiếp theo, tốc độ trung bình là 2,5 cm s-1, quãng đường đi được là 2,5 cm và tổng quãng đường là 4,5 cm, và cứ thế. Ta thu được chuỗi quãng đường 0; 0,5; 2; 4,5; 8; 12,5;… cm có thể viết dưới dạng

    Kết quả này đại diện cho một cuộc cách mạng trong tư duy về bản chất của chuyển động có gia tốc và đã dẫn tới cuộc cách mạng Newton.

    Ông không dừng lại ở đây mà tiếp tục tiến hành các thí nghiệm then chốt khác. Tiếp theo ông nghiên cứu về quy luật của sự rơi, cụ thể là, nếu một vật được thả rơi từ những độ cao khác nhau, thì nó mất bao nhiêu thời gian để chạm đất? Ông sử dụng một hình thức đồng hồ nước để đo các khoảng thời gian một cách chính xác. Nước được chép chảy ra khỏi một ống dẫn ở dưới đáy một cái bình lớn sao cho lượng nước chảy ra là một số đo về khoảng thời gian. Bằng cách thả rơi các vật từ những độ cao khác nhau, ông xác định được rằng vật rơi tuân theo quy tắc thời gian bình phương – nói cách khác, khi vật rơi tự do, chúng chịu một gia tốc không đổi, tức là gia tốc trọng trường.

    Xác định được hai kết quả này, ông đi tìm mối liên hệ giữa chúng – câu trả lời là định lí Galileo. Giả sử một quả cầu được thả rơi tự do qua một quãng đường nhất định l, nó được biểu diễn bằng độ dài AB trên Hình 3.3. Dựng một đường tròn có đường kính bằng độ dài l đã cho. Bây giờ giả sử quả cầu trượt không ma sát xuống mặt phẳng nghiêng AC và, để cho tiện, đỉnh của mặt phẳng nghiêng trùng tại điểm A. Định lí Galileo phát biểu như sau:

    Thời gian để quả cầu trượt xuống mặt phẳng nghiêng từ A đến điểm C, nơi mặt phẳng nghiêng cắt qua đường tròn, bằng với thời gian để quả cầu rơi tự do từ A đến B.

    Nói cách khác, thời gian để một vật rơi theo một dây cung bất kì bằng với thời gian để nó rơi thẳng đứng xuyên đường kính của đường tròn. Khi quả cầu trượt xuống mặt phẳng nghiêng, thành phần gia tốc trọng trường gsina tác dụng lên nó, phần còn lại của gia tốc trọng trường được cân bằng bởi phản lực của mặt phẳng nghiêng (Hình 3.3). Thế nhưng, theo hình học, một tam giác bất kì dựng trên đường kính của một đường tròn, điểm thứ ba nằm trên đường tròn, là một tam giác vuông. Do đó, ta có thể cho các góc bằng nhau như trên Hình 3.3, từ hình vẽ ta thấy rõ AC/AB = sina, tỉ số các quãng đường đi được. Vì quãng đường đi được tỉ lệ với gia tốc, x = ½ at2, nên điều này chứng minh định lí Galileo.

    Hình 3.3 Cách Galileo thiết lập định lí Galileo.

    Hình 3.4 Cách Galileo chỉ ra rằng chu kì của một con lắc dài là độc lập với biên độ dao động.

    Sau đó, Galileo nhận ra mối liên hệ giữa những hiện tượng này và tính chất của các con lắc dao động. Người ta kể rằng, lúc còn trẻ ông từng để ý thấy chu kì đong đưa của đèn treo nhiều ngọn trong nhà thờ là độc lập với biên độ dao động. Galileo đã sử dụng quy tắc dây cung của ông để giải thích quan sát này. Nếu con lắc đủ dài, thì cung tròn được con lắc vạch ra hầu như bằng với dây cung nối điểm biên của con lắc với điểm thấp nhất của nó (Hình 3.4). Do đó, ta rõ ràng thấy được chu kì của con lắc độc lập với biên độ dao động của nó – theo định lí Galileo, thời gian đi theo một dây cung bất kì vẽ từ B luôn bằng thời gian để vật rơi tự do xuống hai lần độ dài của con lắc, như ta có thể thấy trên Hình 3.3.

    Cái Galileo thu được là đưa bản chất của gia tốc trọng trường vào hình thức toán học. Việc này có ứng dụng thực tiễn ngay tức thì vì lúc này ông có thể tính được quỹ đạo của các vật bị ném. Chúng chuyển động với tốc độ không đổi theo phương song song với mặt đất và bị giảm tốc bởi trọng lực theo phương thẳng đứng. Lần đầu tiên, ông đã có thể chỉ ra quỹ đạo parabol của đạn pháo và những vật bị ném khác (Hình 3.5).

     

    Hình 3.5 Một trang trích từ sổ ghi chép của Galileo trình bày quỹ đạo của các vật bị ném dưới sự kết hợp của gia tốc trọng trường và tốc độ phương ngang không đổi. (Trích từ S. Drake, 1990. Galileo: Nhà khoa học tiên phong, trang 107. Toronto, NXB Đại học Toronto.)

    Về sau, ông viết với giọng điệu giống như vậy:

    Ba quyển sách về chuyển động cục bộ – một khoa học hoàn toàn mới trong đó chưa có người nào khác, dù xưa hay hiện đại, từng khám phá được chút nào trong những định luật đáng chú ý nhất mà tôi chứng minh là tồn tại trong chuyển động tự nhiên lẫn chuyển động cưỡng bức; vì thế tôi có thể gọi đây là một khoa học mới và là một khoa học được tôi khám phá từ những nền tảng cốt lõi nhất của nó.5

    Ông trệch hướng khỏi nhiệm vụ này do bởi tin tức lan tới về phát minh kính thiên văn, sự kiện này đánh dấu việc ông bắt đầu nghiên cứu thiên văn học một cách nghiêm túc. Sau đó, ông bị xét xử vào năm 1615 – 16. Bởi thế, việc xuất bản các khám phá của Galileo bị hoãn lại cho đến thập niên 1620 và 1630.

     

    3.3 Những khám phá thiên văn của Galileo

    Phát minh kính thiên văn được quy cho người thợ mài kính người Hà Lan Hans Lipperhey, vào tháng Mười 1608 ông xin Công tước Maurice xứ Nassau cấp bằng sáng chế cho một dụng cụ có thể khiến những vật ở xa trông gần hơn, nhưng không được chấp thuận. Galileo nghe nói tới phát minh này vào tháng Bảy 1609 và bắt tay vào tự chế tạo một chiếc. Vào tháng Tám, ông đạt được độ phóng đại 9 lần, tốt hơn ba lần so với kính thiên văn của Lipperhey. Điều này gây ấn tượng rất lớn đối với Thượng viện Venice, họ hiểu rõ tầm quan trọng quân sự của một dụng cụ như thế đối với một quốc gia ven biển. Galileo lập tức được bổ nhiệm một chức danh trọn đời tại Đại học Padua và được tăng lương nhanh chóng.

    Vào cuối năm 1609, Galileo đã chế tạo được một số kính thiên văn có độ phóng đại tăng dần, đỉnh điểm có số phóng đại 30. Vào tháng Một 1610, lần đầu tiên ông hướng kính thiên văn của mình lên bầu trời và lập tức xuất hiện cả một đợt lũ khám phá nổi bật. Những khám phá này nhanh chóng được công bố vào tháng Ba 1610 trong công trình Sidereus Nuncius hay Người đưa tin Thiên văn của ông.6 Nói tóm lược, những khám phá này bao gồm:

    (1) Mặt Trăng có địa hình núi non chứ không phải một quả cầu hoàn toàn trơn tru (Hình 3.6a).

    (2) Dải Ngân Hà gồm vô số sao chứ không phải một phân bố đều của ánh sáng (Hình 3.6b).

    (3) Mộc tinh có bốn vệ tinh và chuyển động của chúng được theo dõi trong khoảng thời gian gần hai tháng, cho phép xác định được chu kì quỹ đạo của chúng (Hình 2.9).

    Quyển sách gây chú ý trên khắp châu Âu và Galileo lập tức có danh tiếng quốc tế. Những khám phá này đã đánh đổ một số giáo điều Aristotle từng được chấp nhận trong hàng thế kỉ. Ví dụ, sự phân giải Dải Ngân Hà thành từng sao là đi ngược lại với quan điểm Aristotle. Ở các vệ tinh của Mộc tinh, Galileo nhìn thấy một nguyên mẫu cho bức tranh Copernicus về Hệ Mặt Trời. Tác dụng ngay tức thì của những khám phá này là việc Galileo được công nhận là nhà toán học và nhà triết học bởi Đại công tước Tuscany, Cosimo de Medici, người được đề tặng ở quyển Sidereus Nuncius.

    Về cuối năm 1610, ông thực hiện hai khám phá thiên văn chủ chốt khác:

    (4) các vành sao Thổ, ông xem chúng gần như là vệ tinh của hành tinh này;

    (5) các pha của Kim tinh.

    Khám phá Kim tinh này có tầm quan trọng lớn nhất. Với chiếc kính thiên văn của ông, Galileo đã có thể phân giải đĩa Kim tinh và quan sát sự rọi sáng của nó do Mặt Trời. Khi Kim tinh ở phía bên kia quỹ đạo của nó so với Trái Đất, cái đĩa xuất hiện có dạng tròn, nhưng khi nó ở cùng phía so với Mặt Trời giống Trái Đất, cái đĩa trông giống như trăng lưỡi liềm. Điều này được xem là bằng chứng nghiêng về bức tranh Copernicus vì nó tìm được một lời giải thích tự nhiên nếu Kim tinh và Trái Đất đều quay xung quanh Mặt Trời, nguồn gốc rọi sáng của chúng (Hình 3.7b). Mặt khác, nếu Kim tinh chuyển động trong một ngoại luân xung quanh một quỹ đạo tròn xung quanh Trái Đất và Mặt Trời chuyển động trên một quả cầu ở xa hơn, thì kiểu rọi sáng so với Trái Đất sẽ hơi khác, như minh họa ở Hình 3.7a. Vào năm 1611, những khám phá này được Galileo trình bày trước Giáo hoàng và một số hồng y, và họ có ấn tượng tích cực với chúng. Galileo được bầu vào Viện hàn lâm Lincei.

     

    3.4 Vật lí học Aristotle và vật lí học Galileo: Trái tim của vật chất

    Trước khi thuật lại những sự kiện dẫn tới sự trình diện của Galileo vào năm 1632 trước Tòa án Dị giáo và việc luận tội ông là tội phạm nguy hiểm vào hàng thứ hai trong hệ thống xét xử thuộc Giáo hội, ta hãy tóm tắt một số mặt tranh luận giữa học thuyết Ptolemy, học thuyết Copernicus và chính quyền giáo hội. Finocchiaro cung cấp một bản tóm tắt tuyệt vời trong tư liệu lịch sử của ông, Vụ án Galileo.7 Những quy luật được chấp nhận của vật lí học vẫn là của Aristotle, và chỉ số ít người có tinh thần phiêu lưu mới nghi ngờ tính đúng đắn của những quy luật này và của hệ thống Ptolemy về thế giới. Tuy nhiên, có một số trục trặc với bức tranh Copernicus, vì thế Galileo phải dính líu với những vấn đề này bởi chúng có khả năng làm xói mòn nhận thức mới thiết lập của ông về các định luật của chuyển động.

    3.4.1 Các vấn đề

    Các vấn đề vật lí tập trung vào những câu hỏi sau: (i) Trái Đất có quay xung quanh trục của nó so với các sao cố định hay không, và (ii) Trái Đất và các hành tinh có quay xung quanh Mặt Trời không? Đặc biệt, Trái Đất có chuyển động hay không? Khái niệm vừa đề cập này được gọi là giả thuyết địa động. Finocchiaro tóm tắt các luận điểm của phe triết học Aristotle dưới năm đề mục:

    (1) Sự lừa dối của các giác quan. Không có giác quan nào của chúng ta đem lại bất kì bằng chứng nào rằng Trái Đất đang chuyển động trong một quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Nếu đây là một sự thật về tự nhiên, thì chắc chắn nó sẽ có tầm quan trọng đến mức các giác quan của chúng ta sẽ khiến chúng ta nhận thức về nó.

    (2) Các vấn đề thiên văn. Thứ nhất, những vật thể trên trời được cho là được cấu tạo bởi những dạng vật chất khác với vật vật chất trên Trái Đất. Thứ hai, Kim tinh phải biểu hiện các pha giống như Mặt Trăng nếu nó chuyển động trong một quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Thứ ba, nếu Trái Đất chuyển động, vậy tại sao các sao không biểu hiện thị sai?

    (3) Các luận điểm vật lí. Các luận điểm này dựa trên vật lí học Aristotle và một số đã được bàn luận.

    (a) Nếu Trái Đất chuyển động thì các vật rơi sẽ không rơi thẳng đứng. Có thể nêu ra nhiều ví dụ phản bác – mưa rơi thẳng đứng, các vật bị ném lên thẳng đứng rơi thẳng xuống trở lại, và vân vân. Điều này trái ngược với quỹ đạo của một vật được thả rơi từ đỉnh cột buồm của một con tàu đang chuyển động. Trong trường hợp này, vật không rơi thẳng đứng xuống dưới.

    (b) Những vật bị ném theo hướng quay của Trái Đất và theo hướng ngược lại phải có quỹ đạo khác nhau. Chưa có khác biệt nào được quan sát thấy.

    (c) Những vật đặt trên bánh xe quay của người thợ gốm bị văng ra nếu chúng không được giữ lại, đây là thứ được gọi là Sức mạnh Tống khứ của Chuyển động xoáy – ngày nay chúng ta gọi đây là lực li tâm. Hiện tượng tương tự phải xảy ra nếu Trái Đất ở trạng thái chuyển động quay, thế nhưng chúng ta không bị văng ra khỏi mặt đất.

    (d) Tiếp theo, có những lập luận thuần túy lí thuyết. Theo vật lí học Aristotle, chỉ có hai hình thức chuyển động, chuyển động thẳng đều và chuyển động tròn đều – đây là những chuyển động ‘tự nhiên’ duy nhất. Các vật hoặc là phải rơi theo đường thẳng đến tâm Vũ trụ, hoặc là phải ở trạng thái chuyển động tròn đều. Chúng ta đã bàn luận lập luận cho rằng các vật rơi thẳng về tâm Trái Đất chứ không rơi về phía Mặt Trời. Hơn nữa, theo vật lí học Aristotle, những vật đơn giản chỉ có thể có một chuyển động tự nhiên. Thế nhưng, theo Copernicus, những vật thả rơi trên Trái Đất có ba chuyển động – chuyển động hướng xuống do sự rơi tự do, chuyển động quay của Trái Đất xung quanh trục của nó và chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời.

    (e) Cuối cùng, nếu vật lí học Aristotle bị bác bỏ, thì cái gì thay thế cho nó? Phe Copernicus phải đưa ra một lí thuyết tốt hơn và chưa lí thuyết nào sẵn có hết.

    (a) Psalm 104:5 ‘Lạy Chúa… người đã thiết lập nền tảng của Trái Đất, rằng nó mãi mãi không bị di dời.’

    (b) Ecclesiastes 1:5 ‘Mặt Trời mọc, rồi Mặt Trời lặn, và đi đến nơi nó mọc lên.’

    (c) Joshua 10:12, 13 ‘Ngày mà Chúa phó dân Amorite cho dân Israel, thì Joshua thưa cùng Chúa tại Israel rằng: ‘Hỡi Mặt Trời, hãy dừng lại trên Gibeon; hỡi Mặt Trăng, hãy dừng lại trên thung lũng Ajalon’. Và Mặt Trời dừng lại, và Mặt Trăng đứng yên, cho đến khi dân chúng trả thù xong kẻ thù của mình.’

    Đây là những tài liệu tham khảo khá thiên lệch và điều thú vị là người Tin Lành chống học thuyết Copernicus còn mạnh mẽ hơn giáo hội Công giáo do bởi niềm tin của họ vào những sự thật theo nghĩa đen trong Kinh Thánh. Các nhà thần học Công giáo có cách giải thích phức tạp hơn và linh hoạt hơn về những gì ghi chép trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, quan niệm Trái Đất đứng yên tại trung tâm của Vũ trụ cũng là kết luận của các Giáo Phụ (Church Fathers) – các vị thánh, các nhà thần học và những người trong giáo hội đã làm cho Công giáo trở nên bí ẩn. Trích dẫn Finocchiaro:

    (5) Luận điểm hấp dẫn nhất nhìn từ quan điểm của chúng ta là bản chất giả thuyết của học thuyết Copernicus. Nó đánh vào tận trung tâm bản chất của khoa học tự nhiên. Điểm mấu chốt là cách chúng ta trình bày những nhận định về sự thành công của mô hình Copernicus. Một nhận định đúng là như sau:

    Nếu Trái Đất quay quanh trục của nó và chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời, và nếu những hành tinh khác cũng chuyển động xung quanh Mặt Trời, thì ta có thể mô tả thật dễ dàng và thật đẹp các chuyển động quan sát thấy của Mặt Trời, Mặt Trăng, và các hành tinh trên thiên cầu.

    Cái chúng ta không thể làm theo logic là đảo ngược lập luận trên và nói rằng, các chuyển động hành tinh được giải thích thật đơn giản và thật đẹp bởi giả thuyết Copernicus, nên Trái Đất phải quay và chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời. Đây là một lỗi logic cơ bản, bởi vì phải có những mô hình khác nữa cũng thành công giống như mô hình Copernicus.

    Điểm then chốt là sự khác biệt giữa lập luận quy nạpdiễn dịch. Owen Gingerich cung cấp một ví dụ dễ hiểu.10 Một chuỗi suy luận diễn dịch có thể như sau:

    (a) Nếu trời đang mưa, thì đường ướt.

    (b) Trời đang mưa.

    (c) Do đó, đường ướt.

    Không có vấn đề gì ở đây. Thế nhưng, bây giờ hãy đảo ngược (b) và (c) và chúng ta gặp rắc rối:

    (a) Nếu trời đang mưa, thì đường ướt.

    (b) Đường ướt.

    (c) Do đó, trời đang mưa.

    Hướng lập luận này rõ ràng là sai, vì con đường có thể là đường phố Venice, hoặc có thể mới được rửa nước. Nói cách khác, bạn không thể chứng minh bất cứ điều gì về tính chân thật tuyệt đối của những nhận định thuộc loại thứ hai này. Kiểu lập luận thứ hai này trong đó chúng ta cố đi tìm những quy luật chung từ những mảnh bằng chứng đặc biệt được gọi là suy luận quy nạp. Toàn bộ các khoa học vật chất đều ít nhiều có mức ‘bản chất giả định’ này. Điều này trái ngược với sự chắc chắn tuyệt đối của những lời Chúa răn được ghi lại trong kinh sách và cách giảng giải của nó dưới dạng giáo điều bởi các Giáo Phụ. Theo Owen Gingerich, đây là vấn đề cốt lõi dẫn tới việc xét xử và buộc tội Galileo – sự gần gũi của bức tranh thế giới giả thuyết của Copernicus với chân lí tuyệt đối được tiết lộ trong Kinh Thánh và được mã hóa bởi các Giáo Phụ.

    3.4.2 Vụ án Galileo

    Trước khi có những khám phá thiên văn vĩ đại của ông vào năm 1610-11, Galileo vốn cảnh giác cao độ trước học thuyết Copernicus, nhưng dần dần ông cảm thấy hiểu biết mới của mình về bản chất của chuyển động loại trừ được những vấn đề vật lí được nêu ở trên. Bằng chứng mới phù hợp với mô hình Copernicus. Đặc biệt, có núi non trên Mặt Trăng, y hệt như trên Trái Đất, cho thấy Trái Đất và Mặt Trăng là những vật thể giống nhau. Các pha của Kim tinh chính xác như trông đợi theo bức tranh Copernicus. Như vậy, những phản bác vật lí và thiên văn đối với học thuyết Copernicus có thể bị loại trừ, chỉ để lại những vấn đề thần học và logic để tranh luận.

    Khi bằng chứng bắt đầu tích góp nghiêng về học thuyết Copernicus, các nhà khoa học và nhà triết học bảo thủ phải dựa vào các luận điểm thần học, triết lí và logic ngày một nhiều hơn. Vào tháng Mười Hai 1613, Nữ đại công tước Dowager Christina đã hỏi Castelli, một người bạn và đồng nghiệp của Galileo, về những phản bác mang tính tôn giáo đối với chuyển động của Trái Đất. Castelli đáp lời thỏa mãn cả Nữ công tước và Galileo, nhưng Galileo cảm thấy cần phải xây dựng các luận điểm chi tiết hơn. Ông đề xuất rằng có ba chỗ sai sót chết người trong các lí lẽ thần học. Trích theo Finocchiaro:

    Thứ nhất, nó cố chứng minh một kết luận (sự đứng yên của Trái Đất) trên cơ sở một tiền đề (sự cam chắc của Kinh Thánh về hệ thống địa tĩnh) vốn chỉ có thể biết chắc với kết luận đó ngay từ đầu… Công việc giải thích Kinh Thánh phụ thuộc vào nghiên cứu vật lí, và việc đưa ra một kết luận vật lí gây tranh cãi dựa trên Kinh Thánh chẳng khác nào việc đặt xe kéo phía trước con ngựa cả. Thứ hai, sự phản bác dựa trên Kinh Thánh là không hợp logic, bởi lẽ Kinh Thánh chỉ có giá trị trong các vấn đề đức tin và đạo đức, chứ không phải trong các truy vấn khoa học… Cuối cùng, người ta có thể hỏi liệu chuyển động của Trái Đất có mâu thuẫn với Kinh Thánh hay không.11

    Galileo đáp lại bằng cách tìm kiếm sự hậu thuẫn của bạn bè và người bảo trợ, và bí mật lưu hành ba chuyên luận dài. Một trong số này lặp lại những lí lẽ về giá trị của những luận điểm thần học và được biết tới là thư của Galileo gửi Nữ Đại Công tước Christina; phiên bản hiệu chỉnh được mở rộng từ tám lên bốn mươi trang. Thật tình cờ may mắn, một Thầy dòng Neapolitan, Paolo Antonio Foscarini, cho xuất bản một quyển sách trong cùng năm bàn luận chi tiết rằng chuyển động của Trái Đất là tương thích với Kinh Thánh. Vào tháng Mười Hai 1615, sau một thời gian trì hoãn do bệnh tật, đích thân Galileo đi tới Rome và ngăn học thuyết Copernicus bị phán là dị giáo.

    … tôi thấy hình như Đức Cha (Foscarini) và Ngài Galileo hành động thận trọng bằng cách hạn chế mình chỉ nói giả định12 chứ không tuyệt đối, như tôi tin rằng Copernicus từng nói. Vì chẳng có gì nguy hiểm khi nói thế, bằng cách giả định Trái Đất chuyển động và Mặt Trời đứng yên, người ta làm cho mọi thứ sáng sủa hơn so với việc giả định các nội luân và ngoại luân; và như thế là đủ cho nhà toán học rồi.

    Tuy nhiên, nó khác với việc muốn khẳng định rằng trên thực tế Mặt Trời ngự tại trung tâm của thế giới và nó chỉ quay xung quanh nó chứ không chuyển động từ đông sang tây, và rằng Trái Đất nằm trong tầng trời thứ ba và quay với tốc độ lớn xung quanh Mặt Trời; đây là một điều rất nguy hiểm, có khả năng không chỉ ghẹo gan mọi nhà triết học kinh viện và nhà thần học, mà còn gây hại cho Đức tin Tôn giáo bởi việc nói rằng Kinh Thánh đã sai.13

    Những phát hiện của Tòa án Dị giáo rất có lợi cho cá nhân Galileo – ông được tha bổng cho tội danh nghi ngờ dị giáo. Tuy nhiên, Tòa án Dị giáo cũng yêu cầu một ủy ban gồm mười một chuyên gia cho ý kiến về hiện trạng của học thuyết Copernicus. Vào ngày 16 tháng Hai 1616, ủy ban báo cáo nhất trí rằng học thuyết Copernicus là tha hóa về mặt triết học và khoa học và dị giáo xét theo thần học. Phán xét này là nguyên nhân chính đưa đến việc kết án Galileo sau này. Có vẻ như Tòa án Dị giáo đã hiểu nhầm kết cục này vì họ chẳng đưa ra lời lên án chính thức nào. Thay vào đó, họ ban hành hai hướng dẫn nhẹ nhàng hơn. Thứ nhất, Galileo được Đức Hồng y Bellarmine cảnh báo riêng rằng ông nên ngừng bảo vệ cho bức tranh thế giới kiểu Copernicus. Chính xác hai bên đã nói những gì là nội dung gây tranh cãi, song Bellarmine báo cáo về Tòa án Dị giáo rằng lời cảnh báo đã được đưa ra và Galileo đã chấp thuận.

    Tin đồn lưu truyền nói rằng Galileo đã bị xét xử và bị lên án bởi Tòa án Dị giáo, và để khắc phục, Bellarmine đã nêu một tuyên bố ngắn gọn về kết quả Galileo không bị xét xử cũng không bị lên án, mà ông được thông báo về Sắc lệnh Sách cấm và yêu cầu không được tán thành hay bảo vệ bức tranh Copernicus. Mặc dù cá nhân được miễn xá, nhưng kết quả đó là một thất bại rõ ràng đối với Galileo. Mặc dù không chính thức là dị giáo, nhưng việc tán thành các quan điểm Copernicus thì cũng coi như vậy.

    3.5 Vụ xét xử Galileo

    Galileo trở về Florence và lập tức bắt tay vào viết quyển Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính: Ptolemy và Copernicus. Ông tin rằng mình đã rất cố gắng để tuân thủ các mong muốn của cơ quan kiểm duyệt. Lời nói đầu được viết chung bởi Galileo và người kiểm duyệt, và sau một số trì hoãn, chuyên luận đồ sộ này được xuất bản vào năm 1632. Galileo viết quyển sách ở hình thức đối thoại giữa ba nhân vật, Simplicio bảo vệ vị thế Aristotle và Ptolemy, Salviati bảo vệ vị thế Copernicus và Sagredo là người quan sát trung lập và là một người con của thế giới. Trước sau như một, Galileo lập luận rằng mục đích không phải là để đưa ra phán xét, mà để truyền đạt thông tin và khai sáng. Quyển sách được xuất bản với đầy đủ giấy phép của giáo hội.

    Đức Giáo hoàng buộc phải hành động – uy quyền của giáo hoàng đang bị suy sụp khi mà sự chống lại cải cách và tái khẳng định quyền uy đó là những xem xét chính trị tối quan trọng. Galileo, lúc này đã 68 tuổi và sức khỏe kém, được lệnh đến Rome với nguy cơ bị bắt giữ. Kết quả xét xử là một kết luận đã được định trước. Cuối cùng, Galileo nhận một tội danh nhẹ hơn trên cơ sở rằng, giả như ông vi phạm các điều kiện áp đặt lên ông vào năm 1616, thì ông đã không cố ý làm thế. Giáo hoàng khăng khăng đòi thẩm vấn dưới sự đe dọa tra khảo. Vào ngày 22 tháng Sáu 1633, Galileo bị kết tội ‘nghi ngờ dị giáo mức nặng’ và buộc phải công khai từ bỏ quan điểm, các thủ tục được ghi lại trong Sách Sắc lệnh.

    Tôi không giữ quan điểm này của Copernicus, và tôi đã không giữ nó sau khi được lệnh phải từ bỏ nó. Thế thôi, nay tôi có mặt ở đây trong tay các ngài; tùy các ngài xử trí.14

    Cuối cùng Galileo trở về Florence và chịu quản thúc tại nhà cho đến cuối đời – ông qua đời tại Arcetri vào ngày 9 tháng Một 1642.

     

    3.6 Nguyên lí tương đối Galileo

    Những ý tưởng trình bày trong Hai Khoa học Mới đã có trong đầu Galileo từ năm 1608. Một trong số đó là cái ngày nay được gọi là nguyên lí tương đối Galileo. Sự tương đối thường được xem là thứ gì đó được phát minh bởi Albert Einstein vào năm 1905, nhưng như thế là không công bằng với thành tựu vĩ đại của Galileo. Giả sử một thí nghiệm được tiến hành trên bờ biển và rồi một con tàu chuyển động ở tốc độ không đổi so với bờ biển. Nếu bỏ qua sức cản không khí thì có khác biệt nào không ở kết cục của các thí nghiệm? Galileo trả lời như đinh đóng cột, ‘Không, không hề có.’

    Sự tương đối của chuyển động được minh họa bằng cách thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm của một con tàu (Hình 3.8). Nếu con tàu đứng yên, thì vật rơi thẳng đứng xuống. Bây giờ giả sử con tàu đang chuyển động. Giả sử vật được thả rơi từ đỉnh cột buồm, nó phải rơi thẳng đứng xuống theo một người quan sát ở trên tàu. Tuy nhiên, người quan sát đứng yên trên bờ biển để ý thấy rằng, so với bờ biển, quỹ đạo của vật bị cong (Hình 3.8c). Lí do là vì con tàu đang chuyển động ở một tốc độ v nào đó và vì thế, so với bờ biển, vật có hai thành phần tách biệt cho chuyển động của nó – gia tốc thẳng đứng xuống dưới do trọng lực và chuyển động thẳng đều theo phương ngang do chuyển động của con tàu.

    Hình 3.8 (a) Thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm trên một con tàu đứng yên trong hệ quy chiếu S. (b) Thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm trên một con tàu chuyển động, nhìn trong hệ quy chiếu S’ của con tàu. (c) Thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm trên một con tàu chuyển động, khi quan sát từ hệ quy chiếu S. Con tàu chuyển động trong thời gian vật rơi.

    Hình 3.9 Minh họa hai hệ quy chiếu Descartes đang chuyển động ở vận tốc tương đối v theo chiều dương trục x trong ‘cấu hình chuẩn’.

    Điều này tự nhiên dẫn tới khái niệm hệ quy chiếu. Khi đo vị trí của một vật nào đó trong không gian ba chiều, ta định vị nó bởi các tọa độ của nó trong một hệ tọa độ hình chữ nhật nào đó (Hình 3.9). Điểm P có tọa độ (x, y, z) trong hệ quy chiếu S đứng yên này. Bây giờ giả sử con tàu chuyển động theo chiều dương trục x ở một tốc độ v nào đó. Khi ấy, ta có thể thiết lập một hệ quy chiếu khác, S’ trên con tàu. Tọa độ của điểm P trong S’ là

    (x’, y’, z’). Bây giờ ta dễ dàng liên hệ các tọa độ trong hai hệ quy chiếu này. Giả sử vật đứng yên trong hệ quy chiếu S, x là một hằng số còn giá trị của x’ thay đổi vì x’ = x – vt, trong đó t là thời gian, giả sử gốc tọa độ của hai hệ quy chiếu trùng nhau tại t = 0. Giá trị của yy’ vẫn bằng nhau trong SS’, zz’ cũng thế. Ngoài ra, thời gian là như nhau trong hai hệ quy chiếu. Ta có thể suy ra một tập hợp liên hệ các tọa độ của vật trong SS’:

    Tập hợp này được gọi là phép biến đổi Galileo giữa hệ quy chiếu SS’. Các hệ quy chiếu chuyển động ở tốc độ không đổi với nhau được gọi là hệ quy chiếu quán tính. Ta có thể tóm tắt nhận thức vĩ đại của Galileo bằng cách phát biểu rằng các định luật vật lí là như nhau trong mọi hệ quy chiếu quán tính.

    Một hệ luận của nhận thức này là định luật về thành phần vận tốc. Tôi đã dùng từ tốc độ thay cho vận tốc vì tôi đang khai thác công dụng hiện đại của tốc độ là một đại lượng vô hướng, còn khi dùng vận tốc ý tôi là đại lượng vector v có cả độ lớn và chiều. Galileo là người đầu tiên thiết lập định luật về thành phần vận tốc – nếu một vật có các thành phần vận tốc theo hai chiều khác nhau, thì có thể xác định chuyển động của vật đó bằng cách cộng các tác dụng riêng của những chuyển động này. Đây là cách ông chứng minh rằng quỹ đạo của đạn pháo và vật bị ném có dạng parabol (Hình 3.5).

    Trong quyển Hai Khoa học Mi, Galileo đã mô tả những khám phá của ông về bản chất của gia tốc không đổi, chuyển động của con lắc và sự rơi tự do dưới tác dụng của trọng lực. Cuối cùng, ông phát biểu định luật quán tính khẳng định rằng một vật sẽ chuyển động ở vận tốc không đổi trừ khi có một xung lực hoặc một lực làm nó thay đổi vận tốc đó – lưu ý rằng lúc này vận tốc, chứ không phải tốc độ, là không đổi vì chiều chuyển động không đổi khi không có lực tác dụng. Điều này thường được gọi là sự bảo toàn chuyển động – khi không có lực tác dụng, các thành phần riêng của vận tốc vẫn bất biến. Từ quán tính được dùng ở đây theo nghĩa là nó là một tính chất của vật chống lại sự thay đổi chuyển động. Định luật này sẽ trở thành định luật thứ nhất của Newton về chuyển động. Có thể thấy rõ vì sao chuyển động của Trái Đất không gây trở ngại gì cho Galileo. Do nhận thức của ông về sự tương đối Galileo, ông nhận ra rằng các định luật vật lí là không đổi cho dù Trái Đất đứng yên hay đang chuyển động ở một tốc độ không đổi.

     

    3.7 Nhận xét, kết luận

     

    Chúng ta không thể khép lại nghiên cứu này mà không đánh giá những hàm ý phương pháp luận và triết lí của trường hợp Galileo. Giáo hội đã phạm sai lầm khi kết tội nền vật lí mới của Copernicus và Galileo. Phải 350 năm sau thì Giáo hoàng John Paul II mới thừa nhận đã có sai lầm đó. Vào tháng Mười Một 1979, Giáo hoàng John Paul II nói rằng Galileo ‘…đã phải chịu thiệt thòi lớn – chúng ta không thể che giấu thực tế ấy – trong tay những con người và tổ chức của Giáo hội’. Ông tiếp tục thừa nhận rằng ‘…trong vụ án này, các thỏa thuận giữa tôn giáo và khoa học là nhiều hơn và, trên hết thảy, chúng quan trọng hơn những điều chưa hiểu hết đã dẫn tới sự xung đột cay đắng và đầy đau đớn vẫn tiếp tục diễn ra trong hàng thế kỉ sau đó.’

    Lưu ý rằng tôi dùng từ mô hình trong mô tả tiến trình này chứ không ấn định rằng nó là chân lí. Thành tựu to lớn của Galileo là đã nhận ra rằng các mô hình mô tả tự nhiên có thể được xây dựng trên một nền tảng toán học chắc chắn. Trong phần nhận xét có lẽ nổi tiếng nhất của ông, ông trình bày trong chuyên luận Il Saggiatore (Người làm Thí nghiệm) năm 1624 rằng:

    Triết học được trình bày trong quyển sách rất hay này luôn nằm trước mắt chúng ta (ý tôi là Vũ trụ), nhưng người ta không thể hiểu nó trừ khi trước tiên người ta học cách hiểu ngôn ngữ và nhận ra các kí tự trình bày nó. Nó được viết bằng ngôn ngữ toán học, và kí tự là các tam giác, đường tròn, và các dạng hình học khác; không có những phương tiện này con người không thể hiểu được một từ nào của nó; không có những phương tiện này người ta chỉ có thể mò mẩm trong một mê cung tăm tối.15

    Nhận xét này thường được rút gọn thành câu phát biểu:

    Sách về Tự nhiên được viết bằng các kí tự toán học.

    Đây là thành tựu to lớn của cuộc cách mạng Galileo. Những sự thật cơ bản thấy rõ do Galileo thiết lập đòi hỏi một mức trừu tượng rất lớn. Vật chất không tuân theo các định luật đơn giản biểu kiến của Galileo – luôn luôn có ma sát, các thí nghiệm chỉ có thể được tiến hành với độ chuẩn xác hạn chế và thường cho kết quả âm tính. Cần có một nhận thức sâu sắc và trí tưởng tượng để dọn sạch rác rến không cần thiết và đánh giá đúng tính đơn giản cơ bản của cách hành xử của vật chất. Phương pháp hiện đại tiếp cận khoa học chẳng gì hơn là sự hình thức hóa của tiến trình mà Galileo đã khởi xướng. Nó được gọi là phương pháp diễn dịch giả thuyết theo đó các giả thuyết được nêu ra và các hệ quả được suy luận logic từ chúng. Mô hình này có thể chấp nhận được miễn là nó không đi tới xung đột với cách vật chất hành xử trên thực tế. Thế nhưng các mô hình chỉ có giá trị trong phạm vi đã vạch rõ của không gian tham số. Các chuyên gia trở nên gắn bó với chúng, và như những nhận xét của Dirac và Douglas Gough trích dẫn ở Chương 1 mô tả sự cần thiết phải hài lòng với những lí thuyết gần đúng và nỗi đau thật sự phải chịu khi buộc phải từ bỏ một định kiến đã ấp ủ bấy lâu.

    Ngày nay, hiếm khi các giáo điều tôn giáo gây trở ngại cho sự phát triển của các khoa học vật chất. Tuy nhiên, thành kiến khoa họcgiáo lí là cái chung của tranh luận khoa học. Chẳng có gì đáng lo ngại về điều này miễn là chúng ta nhận ra những gì đang xảy ra. Các định kiến đem lại khuôn khổ để thực hiện tranh luận và để đề xuất các thí nghiệm và tính toán có thể đem lại phép thử về tính nhất quán của các ý tưởng. Ta sẽ tìm thấy nhiều ví dụ trong suốt quyển sách này trong đó ‘chính quyền’ và ‘người có danh vọng’ là rào cản đối với sự tiến bộ khoa học. Cần rất nhiều sự quả cảm và kiên trì để chống lại sức nặng quá lớn của quan điểm bảo thủ. Thông qua sự bảo trợ của khoa học, giáo điều khoa học có thể thu được uy quyền để loại trừ những phương pháp khác. Một trong những ví dụ bất hạnh nhất là vụ án Lysenko ở Liên Xô không bao lâu sau Thế chiến Thứ hai, khi nền triết học chính trị Cộng sản có tác động mạnh lên khoa sinh vật học, đưa đến thảm họa cho những nghiên cứu này ở Liên Xô.

     

    Ghi chú

    1. Lịch sử gần đây về vụ án Galileo được trình bày trong Giáo hội và Galileo, E. McMullin biên tập (2006). Notre Dame, Indiana: NXB Đại học Notre Dame. Chương 13 ‘Nỗ lực Mới nhất của Giáo hội nhằm Xua tan Huyền thoại Galileo’ của George V. Coyne, S. J. là một chuyên luận đặc biệt sáng tỏ.

    2. Drake, S (1990). Galileo: Nhà Khoa học Tiên phong, trang 63. Toronto: NXB Đại học Toronto.

    3. Lưu ý rằng nếu quả cầu lăn xuống mặt phẳng nghiêng mà không trượt, gia tốc sẽ chỉ là5 gsinq, vì quả cầu có động năng thẳng lẫn động năng quay khi thế năng trọng trường7 giảm.

    4. Drake, S. (1990), sách đã dẫn, trang 83.

    5. Drake, S. (1990), sách đã dẫn, trang 84.

    6. Galilei, G. (1610). Sidereus Nuncius, Venice. Xem bản dịch của A. van Helden (1989). Sidereus Nuncius hay Người đưa tin Thiên văn. Chicago: NXB Đại học Chicago. Thật đáng kinh ngạc, các quan sát và phác thảo được gửi đến xuất bản ngay trước khi mực in kịp khô. Những quan sát cuối cùng được thực hiện vào ngày 2 tháng Ba 1610 và quyển sách được xuất bản vào ngày 13 tháng Ba cùng năm.

    7. Finocchiaro, M.A. (1989). Vụ án Galileo: Một Tư liệu Lịch sử. Berkeley: NXB Đại học California.

    8. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 24.

    9. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 24.

    10. Gingerich, O. (1982), Scientific American, 247, 118.

    11. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 28.

    12. Từ này thường được dịch trên giả thuyết.

    13. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 67.

    14. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 287.

    15. Sharratt, M. (1994). Galileo: Nhà phát minh Kiên định, trang 140. Cambridge: NXB Đại học Cambridge.

    Trích từ Theoretical Concepts in Physics, bản in lần thứ ba 2022,

    của Malcolm Longair. Bản dịch của Trần Nghiêm.

    Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Nguyên Tắc Gestalt: Tiếng Nói Của Dân Thiết Kế. • Rgb
  • Những Nguyên Tắc Gestalt
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “Định Luật Festinger”
  • Chiếc Đồng Hồ Đắt Tiền Và Bí Quyết Sống Hạnh Phúc
  • 45 Định Luật Cuộc Sống Càng Đọc Càng Thấm
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Về Hành Vi Con Người
  • Tác Động Của Khoa Học Hành Vi Đến Các Hoạt Động Của Phòng Nhân Sự
  • Nghiên Cứu Tâm Lý Đưa Ra Định Nghĩa Mới Về Tình Yêu
  • Sự Thật Về Tình Yêu Dưới Góc Nhìn Khoa Học
  • 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa Phẩm Chất, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Hãy Kể Tên Một Số Cây ăn Quả Đã Được Cải Tạo Cho Phẩm Chất Tốt, Bản Chất Khoa Học Của Chủ Nghĩa Mác-lê Nin, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, Xác Định Tạp Chất Trong Dược Liệu, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, Xác Định Chì Trong Dược Phẩm, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Quan Hệ R Trên 2+ Được Định Nghĩa , Không Ai Định Nghĩa Được Tình Yêu, Định Nghĩa Nào Của Canvas Được Cho Là Đúng, Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Trường Thọ Nam Định, Em Không Định Nghĩa Được Thế Nào Là Hạnh Phúc, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Anh Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Lạm Phát Được Định Nghĩa Là Sự Gia Tăng Liên Tục Của, Em Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Không Định Nghĩa Được Đường Đồng Mức, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Định Nghĩa Ethanol 90 Theo Dược Điển Việt Nam, Người Thuê Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Quy Phạm Định Nghĩa Là Gì, Mạc Đĩnh Chi Là Vị Quan Có Những Phẩm Chất Nào Đáng Trân Trọng, Người Kinh Doanh Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Văn Bản Quy Phạm Về Định Nghĩa Nghèo, Báo Cáo Thưc Tập Công Ty Cổ Phần Duơc Phẩm Duơc Liêu Pharmrdic, Thời Hạn Hưởng Bồi Thường Thiệt Hại Do Tính Mạng, Sức Khỏe Bị Xâm Phạm Được Quy Định Như Thế Nào?, Định Nghĩa ô Nhiễm Thực Phẩm, Day Hoc Theo Dinh Huong Phat Trien Pham Chat Nang Luc Cua Hoc Sinh Trong Tho Moi Lop 8, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Định Nghĩa Nào Dưới Đây Về Vi Phạm Pl Là Đúng Nhất, Khóa Luận Tốt Nghiệp Xac Dinh Ket Quả Kinh Doanh Công Ty Dược, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học, Khóa Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Đại Học Dược Hà Nội, Khóa Luận Dược Lâm Sàng Đại Học Dược Hà Nội, Các Kết Hoạch Chất Lượng (hoạch Định Việc Tạo Sản Phẩm), Một Nhà Máy Trong Quý 1san Xuất Được 3639 Sản Phẩm ,quý 2 Cùng Năm Sản Xuất Được ít Hơn Hơn Quý 1 Là, Một Nhà Máy Trong Quý 1san Xuất Được 3639 Sản Phẩm ,quý 2 Cùng Năm Sản Xuất Được ít Hơn Hơn Quý 1 Là, Nghiên Cứu Chiết Xuất Và Bào Chê Viên Giảo Cổ Lam (khoá Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Khoá 2002 – 2007, Thời Khoá Biểu Khoa Y Dược Đại Học Duy Tân, Như Ta Đã Thấy Gdp Không Phản ánh Được Đầy Đủ Chính Chất, Dược Phẩm, Bài 3 Chủ Nghĩa Tư Bản Được Xác Lập, Quá Trình Oxi Hóa Khử Các E Kim Loại Được Chuyển Trực Tiếp Đến Các Chất Tron, Quy Phạm Vật Chất, Bản Cam Kết Giữ Gìn Phẩm Chất Đạo Đức, Công Ty Dược Phẩm, Dược Phẩm Hoa Linh, Rượu Dược Phẩm, Mẫu Hợp Đồng Mua Bán Dược Phẩm, Báo Cáo Ngành Dược Phẩm, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Là Bản Chất Của Chế Độ Ta, Khoá Luận Tốt Nghiệp Khoa Sư Phạm Tiêng Anh Mầm Non, Bản Nhận Xét Về Phẩm Chất Đạo Đức, Quy Cách Phẩm Chất Là Gì, Đặc Trưng Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ, Chất Lượng Sản Phẩm, Phẩm Chất Chính Trị, Bản Cam Kết Về Giữ Gìn Phẩm Chất Đạo Đức Lối Sống, Bản Cam Kết Chất Lượng Sản Phẩm, Đặc Trưng Cơ Bản Của Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ, Quy Phạm Thực Chất, Cam Kết Chất Lượng Sản Phẩm, Pham Chat Nha Giao, Phát Huy Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ, Nội Dung Phẩm Chất Quý ông, Bản Cam Kết Giữ Gìn Phẩm Chất Đạo Đức Lối Sống, Bản Cam Kết Về Chất Lượng Sản Phẩm, Email Công Ty Dược Phẩm Hà Nội, Báo Cáo Thực Tập Xí Nghiệp Dược Phẩm, Mẫu Hợp Đồng Mua Bán Thuốc Dược Phẩm, Email “công Ty Dược Phẩm”, Mẫu Hợp Đồng Kinh Tế Mua Bán Dược Phẩm, Quy Định Các Danh Mục Chất Ma Túy Và Tiền Chất, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành Từ, Hãy Chứng Minh Ba Tính Chất Loại Trừ Lẫn Nhau Tiến Triển Chờ Đợi Có Giới Hạn Được Đảm Bảo, Như Ta Đã Thấy Gdp Không Phản ánh Được Đầy Đủ Chất Lượng Cuộc Sống Hay Mức Độ Phát Triển, Chất Lượng Sản Phẩm Việt Nam, Bản Nhận Xét Phẩm Chất Chính Trị, Pham Chat Cua Nghe Lam Vuon, Bản Tự Công Bố Chất Lượng Sản Phẩm, Bản Tự Nhận Xét Phẩm Chất Chính Trị,

    Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa Phẩm Chất, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Hãy Kể Tên Một Số Cây ăn Quả Đã Được Cải Tạo Cho Phẩm Chất Tốt, Bản Chất Khoa Học Của Chủ Nghĩa Mác-lê Nin, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, Xác Định Tạp Chất Trong Dược Liệu, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, Xác Định Chì Trong Dược Phẩm, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Quan Hệ R Trên 2+ Được Định Nghĩa , Không Ai Định Nghĩa Được Tình Yêu, Định Nghĩa Nào Của Canvas Được Cho Là Đúng, Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Trường Thọ Nam Định, Em Không Định Nghĩa Được Thế Nào Là Hạnh Phúc, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Anh Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Lạm Phát Được Định Nghĩa Là Sự Gia Tăng Liên Tục Của, Em Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Không Định Nghĩa Được Đường Đồng Mức, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Định Nghĩa Ethanol 90 Theo Dược Điển Việt Nam, Người Thuê Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Quy Phạm Định Nghĩa Là Gì, Mạc Đĩnh Chi Là Vị Quan Có Những Phẩm Chất Nào Đáng Trân Trọng, Người Kinh Doanh Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Văn Bản Quy Phạm Về Định Nghĩa Nghèo, Báo Cáo Thưc Tập Công Ty Cổ Phần Duơc Phẩm Duơc Liêu Pharmrdic, Thời Hạn Hưởng Bồi Thường Thiệt Hại Do Tính Mạng, Sức Khỏe Bị Xâm Phạm Được Quy Định Như Thế Nào?, Định Nghĩa ô Nhiễm Thực Phẩm, Day Hoc Theo Dinh Huong Phat Trien Pham Chat Nang Luc Cua Hoc Sinh Trong Tho Moi Lop 8, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Định Nghĩa Nào Dưới Đây Về Vi Phạm Pl Là Đúng Nhất, Khóa Luận Tốt Nghiệp Xac Dinh Ket Quả Kinh Doanh Công Ty Dược, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 3684:1981 Về Thiết Bị Điện
  • Bài 10 : Cách Mạng Khoa Học
  • Cơ Hội Và Thách Thức Ngành Khoa Học Công Nghệ Thời Kì Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Khoa Học Môi Trường
  • Khoa Học Môi Trường Là Gì?
  • Tiểu Luận Phân Tích Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Và Giá Trị Của Nó Trong Sự Phát Triển Khoa Học Tự Nhiên Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Và Sự Thỏa Mãn Khách Hàng
  • Giá Trị Khách Hàng Là Gì? Và Làm Thế Nào Để Tạo Ra Giá Trị Đó?
  • Giá Trị Cảm Nhận Của Khách Hàng
  • Sự Thật Về Giá Trị Thặng Dư Là Gì Và Tỷ Suất Giá Trị Thặng Dư
  • Dư Nợ Là Gì? Một Số Khái Niệm Liên Quan Đến Dư Nợ
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ KHOA TIẾNG PHÁP TIỂU LUẬN MÔN : TRIẾT HỌC Đề bài: Phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lênin và giá trị của nó trong sự phát triển khoa học tự nhiên hiện nay Họ và tên: Nguyễn Minh Tân Lớp: MSSV: Hà Nội – 2012 Phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lênin và giá trị của nó trong sự phát triển khoa học tự nhiên hiện nay.I/Định nghĩa vật chất của Lênin Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin. Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài,đất nước đợi mong tin.”Đã hơn 80 năm kể từ sự ra đi của con người vĩ đại ấy,nhân loại đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm trong lịch sử. Nhưng những gì mà Lênin đã để lại thì sẽ mãi mãi sống với chúng ta,trong kho tàng tri thức của loài người. Một trong những chân lí quí giá mà Mặt Trời Nga đã để lại chính là định nghĩa về vật chất trong phạm trù triết học. Đầu tiên muốn hiểu rõ định nghĩa này,ta phải đặt nó vào dòng chảy của lịch sử để có thể xem xét thấu đáo cách thức cũng như nguyên nhân ra đời của định nghĩa này.Xin được trích từ cuốn “Giáo Trình Những Nguyên Lí Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác-Lênin”:” Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm. Ngay từ thời cổ đại, chung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời, cũng giống những phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức của con người. Trong khi chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ được quan niệm là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy thì chủ nghĩa duy vật quan niệm: bản chất của thế giới; thực thể của thế giới là vật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộc tính của chứng. Trước khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, nhìn chung, các nhà triết học duy vật quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, sản sinh ra vũ trụ. Thời cổ đại, phái ngũ hành ở Trung Quốc quan niệm vật chất là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ở Hy Lạp, phái Milet cho rằng đầu tiên ấy đơn thuần là nước, không khí, lửa, nguyên tử…Cho đến thế kỷ XVII, XVIII quan niệm về vật chất như trên của các nhà duy vật cơ bản vẫn không có gì khác tuy hình thức diễn đạt có thể khác đi ít nhiều. Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, sản sinh ra vũ trụ chứng tỏ các nhà duy vật trước Mác đã đồng nhất vật chất với vật thể. Việc đồng nhất này là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều hạn chế trong nhận thức: không hiểu được bản chất của các hiện tượng ý thức cũng như mối quan hệ giữa vật chất với ý thức; không có cơ sở để xác định những biểu hiện của vật chất trong đời sống xã hội nên cũng không có cơ sở để đứng trên quan điểm duy vật khi giải quyết các vấn đề xã hội. Hạn chế đó tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật nửa vời, không triệt để: khi giải quyết những vấn đề tự nhiên, các nhà duy vật đứng trên quan điểm duy vật, nhưng khi giải quyết những vấn đề xã hội họ lại trượt qua chủ nghĩa duy tâm. Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đặc biệt là những phát minh của W. Roentgen, H. Becquerel, J.J. Thomson…đã bác bỏ quan điểm của các nhà duy vật về những chất được coi là “giới hạn tột cùng”, từ đó dẫn tới cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý học. Những người theo chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối với quá trình sáng tạo ra thế giới. Trong bối cảnh lịch sử đó, Lênin đã tiến hành tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, ông đã vạch rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học tự nhiên của những nhà triết học duy tâm, khẳng định bản chất vật chất của thế giới và đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất: “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Như vậy,phạm trù vật chất trong triết học không phải là một khái niêm mới bởi lẽ nó đã xuất hiện cách đây trên 2500 năm.Tuy nhiên do rằng buộc từ những quan điêm xưa cũ của chủ nghĩa duy vật cũng như những hạn chế về nhận thức vào thời điểm đó,định nghĩa vật chất vẫn chưa được hoàn chỉnh. Chỉ đến khi Lênin, từ bối cảnh lịch sử và nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, đã tổng kết những thành tựu khoa học và khẳng định định nghĩa vật chất.Theo Lênin, vật chất là 1 phạm trù triết học, thì nó khác với vật chất trong khoa học tự nhiên và trong đời sống hàng ngày.Vật chất trong khoa học tự nhiên, trong đời sống hàng ngày là các dạng vật chất cụ thể, tồn tại hữu hình, hữu hạn; có sinh ra có mất đi, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Chúng bao gồm vật chất dưới dạng hạt, trường, trong tự nhiên, xã hội, dưới dạng vĩ mô, vi mô rất phong phú đa dạng. Vật chất với tính cách là 1 phạm trù TH tức là vật chất đã được khái quát từ tất cả các sinh vật cụ thể. Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi đầu, không có kết thúc, không được sinh ra, không bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế không thể quy nó vào các vật cụ thể để hiểu nó. Vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Nghĩa là vật chất là tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức. Đây là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không là vật chất. Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức. Vật chất tồn tại không huyền bí mà nó là “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”. Điều này khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới vật chất, chỉ có những điều chưa biết chứ không thể có những điều không biết. Tóm lại,từ những thành tưu khoa học tự nhiên và xuất phát từ nhu cầu của lịch sử thời điểm đó, Lênin đã khẳng định một định nghĩa, một chân lí quý giá trong kho tang tri thức nhân loại: “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” II/Giá trị của định nghĩa vật chất của Lênin trong sự phát triển của Khoa Học Tự Nhiên hiện nay Làm rõ giá trị của định nghĩa vật chất của Lênin trong sự phát triển của Khoa Học Tự Nhiên hiện nay tức là đi tìm ý nghĩa của nó. Định nghĩa này đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề cơ bản của triết học, thể hiện rõ lập trường duy vật biện chứng. Lenin đã giải đáp toàn bộ vấn đề cơ bản của triết học đứng trên lập trường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng: – Coi vật chất là có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức, ý thức con người là sự phản ánh của thực tại khách quan đó. Con người có khả năng nhận thức thế giới. – Định nghĩa này bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất.(ý thức có trước,vật chất có sau) – Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của Chủ nghĩa duy vật trước Mac (quan niệm vật chất về các vật thể cụ thể, về nguyên tử, không thấy vật chất trong đời sống xã hội là tồn tại). – Định nghĩa vật chất của Lê Nin bác bỏ quan điểm của Chủ nghĩa duy vật tầm thường về vật chất (coi ý thức cũng là 1 dạng vật chất) – Định nghĩa này bác bỏ thuyết không thể biết. – Định nghĩa này đã liên kết Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một thể thống nhất. (vật chất trong TN, vật chất trong xã hội đều là những dạng cụ thể của vật chất mà thôi, đều là thực tại khách quan). Như vậy,giá trị của định nghĩa vật chất là đã đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về chất chất của các nhà triết học tư sản hiện đại. Do đó, định nghĩa này cũng đã giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình Sau đó là khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại. Mở đường cổ vũ cho khoa học tự nhiên đi sâu khám phá ra những kết cấu phức tạp hơn của thế giới vật chất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Đại Số 9
  • Luyện Thi Đại Học Môn Toán
  • Định Nghĩa Giá Trị Con Người Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Giá Trị Con Người
  • 07 Giá Trị Của Con Người
  • Giá Trị Cốt Lõi Trong Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Cmpms: Vật Lý Chất Rắn Và Khoa Học Vật Liệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Issp: Viện Vật Lý Chất Rắn Nhà Nước
  • Bài 53. Ancol: Cấu Tạo, Danh Pháp, Tính Chất Vật Lí
  • Chương Iii: Ngoại Hình Thể Chất Vật Nuôi Bai Giang Mon Giong Vat Nuoi Ppt
  • Bài 23: Chọn Giống Vật Nuôi
  • Công Nghệ 10 Bài 23: Chọn Giống Vật Nuôi
  • CMPMS có nghĩa là gì? CMPMS là viết tắt của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của CMPMS được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài CMPMS, Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    CMPMS = Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu

    Tìm kiếm định nghĩa chung của CMPMS? CMPMS có nghĩa là Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của CMPMS trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của CMPMS bằng tiếng Anh: Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, CMPMS được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Trang này là tất cả về từ viết tắt của CMPMS và ý nghĩa của nó là Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Xin lưu ý rằng Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu không phải là ý nghĩa duy chỉ của CMPMS. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của CMPMS, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của CMPMS từng cái một.

    Ý nghĩa khác của CMPMS

    Bên cạnh Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, CMPMS có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của CMPMS, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Của Các Nhà Quản Trị
  • Những Vấn Đề Chung Về Tạo Động Lực Lao Động
  • Vật Lý Học Vat Ly Hoc Doc
  • Chương 1 Vật Lý Hiện Đại
  • Mqh Tom Tat Cac Quan Niem Cua Cac Nha Duy Vat Truoc Mac Ve Vat Chat Nhu Docx
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lê

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng
  • Buổi seminar môn:

    NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN

    CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

    ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT

    CỦA LÊNIN

    Giáo viên hướng dẫn: Lª ThÞ Nga

    Nhóm thực hiện: Nhóm 1 – A2 – K66

    Chủ nghĩa duy vật trước Mác

    ĐN vật chất của Lênin

    I- Chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tư tưởng về vật chất có lịch sử phát triển trên 2500 năm.

    CN duy tâm quan niệm ý thức có trước vật chất có sau, ý thức sinh ra vật chất.

    CN duy vật lại quan niệm rằng vật chất là cái có trước,quyết định thế giới, vật chất sinh ra ý thức.

    Chủ nghĩa duy vật

    Thời kì cổ đại: các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất với các sự vật cụ thể, cảm tính.

    – Triết học Trung Quốc quan niệm Ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là những tố chất vật chất đầu tiên.

    Phái Nyaya (Ấn Độ) quan niệm cơ sở vật chất đầu tiên là anu.

    – Phái Milê (Hy Lạp) cho rằng cơ sở vật chất đầu tiên là nước (Talét), không khí (Anaximen), lửa (Hêraclít), nguyên tử (Đêmôcrít),.v.v…

    Thời kì cận đại: hàng loạt phát minh và công trình nghiên cứu ra đời đã dẫn tới cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý học.

    Albert Einstein và cthức nổi tiếng

    II- Định nghĩa vật chất của Lênin

    Định nghĩa

    Phân tích

    Ý nghĩa

    Liên hệ thực tiễn bản thân

    1. Định nghĩa vật chất của Lênin

    (Tác phẩm “chủ nghĩa kinh nghiệm

    và chủ nghĩa duy vật phê phán”)

    “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác .”

    2. Phân tích định nghĩa

    Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan: vật chất là những gì tồn tại khách quan, độc lập với suy nghĩ con người.

    được đem lại cho con người trong cảm giác: khẳng định vật chất là cái có trước, ý thức có sau.

    được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác: khẳng định vật chất tồn tại không phụ thuộc vào ý thức.

    Ở định nghĩa này, V.I.Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:

    Thứ nhất là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau.

    cây táo thật cây táo trong suy nghĩ

    (vật chất) (không phải vật chất)

    Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vật chất chính là thuộc tính khách quan.

    Kết luận

    Vật chất là tất cả những gì tồn tại bên ngoài, tồn tại độc lập với ý thức loài người.

    Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của mọi tri thức.

    Con người có khả năng nhận thức thế giới.

    3. Ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa

    Khắc phục tính siêu hình.

    Khắc phục tính máy móc cứng nhắc.

    Khắc phục những thiếu sót duy tâm trong quan niệm trước Mác.

    4. Liên hệ thực tiễn

    – Phải có những nhận thức đúng đắn để giải quyết vấn đề theo hướng tích cực bằng chính tư duy thực tiễn thông qua sự thay đổi về vật chất, không phó mặc cho cảm giác hay những hiện tượng siêu nhiên để dẫn tới sự lựa chon sai lầm.

    – Thông qua vật chất hay là tiến bộ của nền khoa học để ứng dụng có chọn lọc và sáng tạo, có ích cho con người.

    Chúc buổi Seminar

    thành công tốt đẹp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm Đó?
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm
  • 300 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Lý Luận Chính Trị ( Có Đáp Án )1 100
  • Giải Bài Tập Trang 39, 40 Sgk Hình Học 12, Giải Toán Lớp 12 Bài 1, 2,
  • Giải Bài Tập Toán 12 Bài 1. Khái Niệm Về Mặt Tròn Xoay
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 12. Thực Hành: Xác Định Khối Lượng Riêng Của Sỏi
  • Tiết 12 Bài 11: Trọng Lượng Riêng + Bài Tập
  • Bài 10. Ba Định Luật Nuitơn
  • Thuốc Kém Chất Lượng Có Phải Là Thuốc Giả Không?
  • Thế Nào Được Coi Là Thuốc Giả, Thuốc Kém Chất Lượng
  • ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Bản Chất Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác-lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Cương Lĩnh Dân Tộc Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Phẩm Chất, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Chủ Nghĩa Mác Lênin Việt Nam Là Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, ý Nghĩa Của Việc Học Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Thi Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lenin Là Kim Chỉ Nam, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, ôn Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Năm Nào, Vì Sao Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời, Chủ Nghĩa Mác Lênin Pdf, Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin, Học Chủ Nghĩa Mác Lênin Để Làm Gì, Bảo Vệ Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Đề Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Tư Bản Mac Lenin, Chủ Nghĩa Xã Hội Mac Lênin, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Giá Trị Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Khi Nào, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Sự Ra Đời Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Vấn Đề Dân Tộc, Chủ Nghĩa Mác Lênin Toàn Tập, Chủ Nghĩa Mac Lenin Tiếng Anh, Bài Giảng Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Cương Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Tài Liệu Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin Phần 2, Giáo án Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chương 1 Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Có Mấy Bộ Phận, Chủ Nghĩa Mác Lênin Chương 3, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Tôn Giáo, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Kinh Tế, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giáo Dục, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Học Thuyết Mở, Chủ Nghĩa Mác Lênin Gồm Mấy Bộ Phận, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Một Hệ Thống Mở, Sách Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin ở Việt Nam, 2 Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Tiền Đề Cho Sự Ra Đời Của Chủ Nghĩa Mác-lênin?, Lý Luận Chủ Nghĩa Mác- Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bảo Vệ Tổ Quốc, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Lien He Ban Than Ve Chu Nghia Mac Lenin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Con Người, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2 Có Lời Giải, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin Phần 2, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin, 3 Quy Luật Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nguyên Lý 1 Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Xây Dựng Đảng, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Con Người, Khái Quát Chủ Nghĩa Mác Lênin, Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin, ý Thức Trong Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Cơ Sở Thế Giới Quan, Cương Lĩnh Dân Tộc Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành, Bảo Vệ Và Phát Triển Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành Từ, Giáo Trình Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Cách Mạng Vô Sản, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Chiến Tranh, Chủ Nghĩa Mác Lênin Gồm Mấy Bộ Phận Cấu Thành, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Bao Gồm Những Bộ Phận Nào, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Chủ Nghĩa Mác Lênin Và 3 Bộ Phận Cấu Thành, 3 Bộ Phận Cấu Thành Chủ Nghĩa Mác Lênin,

    ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Bản Chất Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác-lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Cương Lĩnh Dân Tộc Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Phẩm Chất, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Chủ Nghĩa Mác Lênin Việt Nam Là Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, ý Nghĩa Của Việc Học Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Thi Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lenin Là Kim Chỉ Nam, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, ôn Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Năm Nào, Vì Sao Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời, Chủ Nghĩa Mác Lênin Pdf, Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin, Học Chủ Nghĩa Mác Lênin Để Làm Gì, Bảo Vệ Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Đề Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Tư Bản Mac Lenin, Chủ Nghĩa Xã Hội Mac Lênin, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Giá Trị Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Khi Nào, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Sự Ra Đời Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Vấn Đề Dân Tộc, Chủ Nghĩa Mác Lênin Toàn Tập, Chủ Nghĩa Mac Lenin Tiếng Anh, Bài Giảng Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Cương Chủ Nghĩa Mác Lênin 2,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào
  • Phân Tích Các Đặc Trưng Cơ Bản Trong Định Nghĩa Giai Cấp Của Lênin?
  • Phân Tích Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin. Ý Nghĩa Của Định Nghĩa
  • Giải Pháp Đảm Bảo Chất Lượng Đào Tạo Hệ Chính Quy Tại Trường Đại Học Bạc Liêu
  • Đảm Bảo Chất Lượng Phầm Mềm (Nguồn Ptit)
  • Luận Văn Tiểu Luận Phân Tích Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Và Giá Trị Của Nó Trong Sự Phát Triển Khoa Học Tự Nhiên Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Iv. §5. Phương Trình Chứa Dấu Giá Trị Tuyệt Đối
  • Định Nghĩa Về Các Giá Trị Văn Hóa
  • Định Nghĩa Về Cái Đẹp :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Định Nghĩa Về Giá Trị Vòng Đời Khách Hàng (Customer Lifetime Value
  • Bạn Biết Gì Về Chuỗi Giá Trị Và Hoạt Động Của Nó
  • Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin. Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài,đất nước đợi mong tin.” Đã hơn 80 năm kể từ sự ra đi của con người vĩ đại ấy,nhân loại đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm trong lịch sử. Nhưng những gì mà Lênin đã để lại thì sẽ mãi mãi sống với chúng ta,trong kho tàng tri thức của loài người. Một trong những chân lí quí giá mà Mặt Trời Nga đã để lại chính là định nghĩa về vật chất trong phạm trù triết học. Đầu tiên muốn hiểu rõ định nghĩa này,ta phải đặt nó vào dòng chảy của lịch sử để có thể xem xét thấu đáo cách thức cũng như nguyên nhân ra đời của định nghĩa này.Xin được trích từ cuốn “Giáo Trình Những Nguyên Lí Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác-Lênin”:” Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm. Ngay từ thời cổ đại, chung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời, cũng giống những phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức của con người. Trong khi chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ được quan niệm là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy thì chủ nghĩa duy vật quan niệm: bản chất của thế giới; thực thể của thế giới là vật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộc tính của chứng.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thống Kê Kinh Tế (P4: Thống Kê Giá Trị Sản Xuất)
  • Quy Luật Giá Trị: Nội Dung, Tác Động, Biểu Hiện Và Ảnh Hưởng
  • Giá Trị Thẩm Mỹ Và Chất Lượng Nghệ Thuật :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Hướng Dẫn Học Piano Đệm Hát: Tiết Tấu Cơ Bản
  • Những Mẹo Hay Hỗ Trợ Cách Đọc Nốt Nhạc Khi Bắt Đầu Chơi Piano
  • Định Nghĩa Nhà Khoa Học Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Nhà Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đơn Vị Kilogram Sắp Được Định Nghĩa Lại (Từ Gd
  • Vài Nét Về Tội Phạm Học Và Nghiên Cứu Tội Phạm Học Ở Việt Nam
  • Học Thuyết Về Tội Phạm
  • Top 5 Phim Khoa Học Viễn Tưởng Hay Nhất 2022 Do Forbes Công Bố
  • Những Ý Tưởng Thiết Kế Máy Bay Như Phim Khoa Học Viễn Tưởng
  • Việc áp dụng có hệ thống các phương pháp và kỹ thuật được đề cập cho phép tạo ra kiến thức khoa học, đó là thông tin cụ thể và có thể kiểm chứng. Trong trường hợp này, tính từ khoa học được liên kết với độ chính xác và tính khách quan tiềm ẩn trong phương pháp luận của khoa học.

    Mặt khác, một nhà khoa học là người chuyên về khoa học. Có rất nhiều ngành nghề mà bài tập của họ chuyển đổi đối tượng thành một nhà khoa học, mặc dù, nói chung, thuật ngữ này được liên kết với các ngành khoa học được phát triển trong các phòng thí nghiệm.

    Trong mọi trường hợp, các nhà nhân chủng học, nhà sinh học, nhà vật lý, nhà cổ sinh vật học, nhà khoa học chính trị, nhà hóa học và nhà xã hội học, trong số nhiều người khác, là các nhà khoa học.

    Nhiều người là các nhà khoa học đã trở thành nhân vật chủ chốt trong lịch sử nhờ những đóng góp, lý thuyết hoặc khám phá mà họ đã thực hiện trong các lĩnh vực hoặc ngành học khác nhau. Đây sẽ là trường hợp, ví dụ, của Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879 – 18 tháng 4 năm 1955), người được đại đa số coi là nhà khoa học quan trọng nhất của thế kỷ XX.

    Điều đó được xem xét hoặc phân loại được trích dẫn xuất phát từ việc ông nêu ra lý thuyết tương đối rộng, vốn được coi là một cuộc cách mạng xác thực về khái niệm trọng lực. Đến lượt, một thực tế đã mang theo nó để tạo ra một nhánh khoa học mới trong lĩnh vực Vật lý: Vũ trụ học, chịu trách nhiệm nghiên cứu và phân tích sự tiến hóa của Vũ trụ.

    Tất cả điều này mà không quên rằng ông đã thực hiện cách tiếp cận các câu hỏi khác thậm chí đã đưa ông đến nhận giải thưởng Nobel Vật lý năm 1921. Chúng tôi đang đề cập đến những đóng góp của ông cho lĩnh vực Vật lý lý thuyết và ý tưởng của ông về hiệu ứng quang điện.

    Theo cùng một cách chúng ta không thể bỏ qua các nhà khoa học khác, vì công việc của họ đã trở thành quan trọng nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử. Trong số đó có những con số về tầm vóc của nhà vật lý và vũ trụ học Stephen Hawking, người Anh Isaac Newton, người Anh cũng Charles Darwin cho lý thuyết về sự tiến hóa của loài, Thomas Edison, cha đẻ của bóng đèn hoặc người Ba Lan Marie Curie vì khám phá về phóng xạ.

    Có một số điểm khác biệt để nhận ra các nhà khoa học xuất sắc nhất trên thế giới. Điều quan trọng nhất trên toàn cầu là giải thưởng Nobel, được trao từ năm 1901 bởi ý chí của nhà phát minh thuốc nổ, Alfred Nobel Thụy Điển.

    Những người đoạt giải Nobel phân biệt các tính cách nổi bật nhất từ vật lý, hóa học, y học, kinh tếvăn học, cũng như công nhận những nhà hoạt động vì công việc vì hòa bình .

    Hoạt động của nhà khoa học, nhiều lần, được đặt câu hỏi từ quan điểm đạo đức . Một nhà khoa học sử dụng kiến ​​thức của mình để phát minh ra vũ khí, chẳng hạn, không đóng góp cho sự phát triển xã hội, ngoài thực tế là kiến ​​thức cụ thể không gây hại cho chính nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chấn Động: “chiếc Đồng Hồ Chính Xác Đến Mức Phải Định Nghĩa Lại Về Giây”
  • Hướng Tới Một Định Nghĩa Mới Về Kilogram
  • Các Nhà Khoa Học Tiến Gần Tới Định Nghĩa Mới Về Kg
  • Kết Nối Các Nhà Khoa Học
  • Đơn Vị Kilogram Chính Thức Được Định Nghĩa Lại
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100