Nhân Văn Là Gì? Như Thế Nào Là Lối Sống Nhân Văn?

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Những Khái Niệm Cần Phải Biết Về Văn Hóa
  • Sân Si Là Gì? Ý Nghĩa & Những Điều Cần Biết Về Tham, Sân, Si
  • Hạnh …phúc …là Gì … Bạn Biết Không ?
  • Tình Yêu Là Gì? Bạn Hiểu Thế Nào Là Tình Yêu Đích Thực?
  • Quan Điểm Của Đức Phật Về Dục Lạc
  • Nhân văn học là gì?

    Nhân văn học là một ngành nghiên cứu về văn hóa của con người, “nhân” là chỉ con người, “văn’ chính là văn hóa. Nhân văn học chuyên sử dụng những lí lẽ, lập luận, phân tích hay suy đoán để đánh giá. Nhân văn học không dựa vào cách tiếp cận trực tiếp, thực nghiệm như các ngành khoa học tự nhiên.

    Nhân văn học bao gồm các lĩnh vực: Văn triết học, ngôn ngữ học, tôn giáo, các ngành nghệ thuật như nhạc, kịch…

    Nhân văn là gì?

    Sau khi đã tìm hiểu về ngành nhân văn học thì ai cũng muốn hiểu rõ hơn nhân văn là gì. Bạn có thể hiểu nhân văn chính là những tư tưởng, quan điểm, tình cảm khi bàn về các giá trị sống của một con người như: Phẩm giá, tình cảm, trí tuệ, vẻ đẹp, sức mạnh.

    Chủ nghĩa nhân văn không chỉ đơn giản là một khái niệm đạo đức, mà nó còn thể hiện cả những đánh giá, nhìn nhận về con người dưới nhiều góc độ trong mối quan hệ với đồng loại, tự nhiên và đời sống xã hội.

    Như thế nào là lối sống nhân văn?

    Khi một con người có lối sống nhân văn, họ sẽ có những biểu hiện như sau:

    Một người có lối sống nhân văn sẽ luôn biết cách biểu hiện tình cảm chân thật của mình với mọi sự vật, hiện tượng. Họ sẽ không biết giả tạo, không thể hiện một thái độ tình cảm sai lệch hoàn toàn với những gì họ đang nghĩ. Một người sống nhân văn cũng không có sự ganh ghét, đố kỵ, không tham sân si hay thể hiện quá rõ cái “tôi” của mình. Thay vào đó, họ sẽ biết đồng cảm sâu sắc trước những đau khổ, khó khăn của người khác, đồng thời, họ cũng biết vui mừng cho sự vui mừng của người khác.

    Lối sống nhân văn còn thể hiện rõ ràng khi bạn biết buông bỏ đúng lúc. Đặc biệt, bạn sẽ biết cách bỏ qua những sai lầm, độ lượng, vị tha để tâm hồn luôn an yên, thoải mái.

    Một lối sống nhân văn còn thể hiện rõ ràng qua sự cảm nhận cái đẹp của mỗi người, luôn trân trọng, dành tình cảm cho cái đẹp. Lối sống nhân văn còn thể hiện qua tình yêu thiên nhiên, mong muốn khám phá, chinh phục và giải thích những hiện tượng thiên nhiên.

    Dân tộc Việt Nam chúng ta có khát vọng về cuộc sống độc lập tự cường, đó cũng là giá trị to lớn mà chúng ta hướng đến. Lối sống nhân văn sẽ trở nên vô vị hơn nếu chúng ta không dành tình cảm cho đất nước, cho quê hương và yêu cuộc sống hoàn bình, mong muốn độc lập tự cường của dân tộc. Đồng thời, người có lối sống nhân văn còn luôn đề cao tinh thần bất khuất, bất diệt và sẵn sàng bảo vệ kẻ yếu, đứng về lẽ phải.

    Con người ai cũng có những phẩm chất tốt mang tính đặc trưng riêng biệt. Việc quan sát, đánh giá và đề cao phẩm giá tốt của một người cũng chính là lối sống nhân văn mà chúng ta hướng đến. Việc tìm thấy phẩm chất tốt của một người và ca ngợi họ cũng chính là cách để bạn xóa bỏ những phần chưa tốt trong con người đó.

    Lối sống nhân văn sẽ thiếu đi một phần quan trọng nếu bạn thiếu đi khát vọng công lý. Chính niềm tin, khát vọng hạnh phúc, mong muốn cái thiện luôn chiến thắng chính là cách giúp bạn nhận định đúng đắn hơn về cuộc sống, về con người. Đặc biệt, nhờ có khát vọng công lý mà cuộc sống cũng trở nên ý nghĩa hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bách Hợp Là Gì, Công Thụ Trong Bách Hợp Là Gì, Fan Bách Hợp Là Gì 2022?
  • Sự Khác Nhau Giữa Abstract Class Và Interface
  • Phân Biệt Lớp Abstract Và Interface Trong Java
  • Spring Boot Là Gì? Giới Thiệu Spring Boot Framework
  • Hướng Dẫn Lập Trình Spring Boot Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Đạo Đức, Lối Sống Và Vai Trò Của Đạo Đức, Lối Sống Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Các Vấn Đề Xoay Quanh Khái Niệm Đạo Đức Kinh Doanh Là Gì?
  • Khái Niệm Đạo Đức Và Một Số Phạm Trù Cơ Bản Học Làm Người Tốt
  • Về Khái Niệm “đạo Đức Cách Mạng” Và Việc Nghiên Cứu, Học Tập Đạo Đức Trong Đảng Hiện Nay
  • Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Dừng Xe, Đỗ Xe Thế Nào Cho Đúng Luật?
  • I.Đạo đức, lối sống

    1. Khái niệm

    1.1.Đạo đức

    Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Đạo đức được hiểu “Là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù họp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội”.

    Như vậy, lối sống là một thói quen có định hướng, là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hóa, đặc trưng văn hóa của con người hay cộng đồng. Lối sống phụ thuộc vào thời đại con người đang sống, với các điều kiện vật chất, kinh tế, các quan hệ xã hội, các thói quen, tập quán, tục lệ của thời đại đó.

    Bên cạnh khái niệm lối sống, hiện nay chúng ta cũng bàn nhiều đến khái niệm lối sống mới. “Lối sống mới là phương thức sống của con người thể hiện ở sự lựa chọn các hoạt động và cách thức thực hiện các hoạt động đó mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện trên các lĩnh vực đức, trí, thể, mỹ”. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những quy tắc đạo đức xã hội đặt ra; qua đó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức. Về mặt cấu trúc, ý thức đạo đức gồm tình cảm đạo đức, tri thức đạo đức, lý tưởng đạo đức, ý chí đạo đức. Trong đó, tình cảm thể hiện cảm xúc của con người trước hiện tượng đạo đức, tri thức đạo đức giúp con người lựa chọn cái gì nên làm và cái gì không nên làm; lý tưởng đạo đức quyết định phương hướng, mục đích hoạt động của con người và ý thức đạo đức là sức mạnh tinh thần giúp con người vượt qua khó khăn, trở ngại để thực hiện hành vi đạo đức.

    Hành vi đạo đức: “Là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức”[5]. Cụ thể hơn, hành vi đạo đức là những cử chỉ, những việc làm của con người trong các mối quan hệ xã hội phù hợp với ý thức đạo đức, với các chuẩn mực và các giá trị đạo đức.

    Để phân biệt một hành vi đạo đức hay phi đạo đức, không chỉ căn cứ vào kết quả của hành vi mà còn phải căn cứ vào động cơ của hành vi. Hành vi đạo đức phải có nguyên nhân vì lợi ích của người khác, của xã hội và mục đích cũng là mang lại lợi ích cho người khác, cho xã hội.

    Quan hệ đạo đức: Là hệ thống những quan hệ xã hội, tác động qua lại giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội xét về mặt đạo đức. Quan hệ đạo đức vận động, biến đổi theo quá trình phát triển của xã hội, trong phạm vi một hình thái kinh tế – xã hội hay hệ giá trị đạo đức của một giai cấp cũng có sự vận động, phát triển. Quan hệ đạo đức có các đặc tính là tính tự giác và tính tự nguyện. Tính tự giác thể hiện ở sự nhận thức trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân mỗi nguời trong những tình huống cụ thể khi tham gia vào quan hệ đạo đức. Tính tự nguyện thể hiện ở nhu cầu và ham muốn của bản thân mỗi người trong quan tâm, tương trợ, giúp đỡ nguòi khác…

    Ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và hành vi đạo đức là những yếu tố cấu tạo nên cấu trúc đạo đức, không tồn tại độc lập, mà có quan hệ biện chứng với nhau.

    – Thứ nhất, ý thức đạo đức không thể hình thành ngoài quan hệ đạo đức và ngược lại, quan hệ đạo đức không thể không được định hướng, điều chỉnh bởi ý thức đạo đức.

    Trong quá trình phát triển của lịch sử, ý thức đạo đức hình thành trên cơ sở phản ánh các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội. Ý thức đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội mà trước hết là nhu cầu phối hợp hoạt động trong lao động sản xuất vật chất. Sự phát triển của sản xuất dẫn đến sự phát triển của các quan hệ xã hội và kéo theo sự phát triển của quan hệ đạo đức, làm cho chúng ngày càng đa dạng, phức tạp hơn. Các chuẩn mực của đạo đức được hình thành trong quá trình con người giao tiếp với nhau, chúng được củng cố do sự công nhận giá trị theo quan điểm lợi ích phổ biến đối với giai cấp nhất định. Quan hệ đạo đức càng đa dạng, phức tạp càng là môi trường tốt cho con người hình thành ý thức đạo đức sâu sắc và toàn diện. Ngược lại, quan hệ đạo đức hạn chế thì ý thức đạo đức cũng mắc phải những những khuyết điểm nhất định và vì vậy con người không thể phát triển toàn diện nhân cách của mình.

    Ý thức đạo đức hình thành, phát triển, hoàn thiện thông qua việc phản ánh quan hệ đạo đức và khi đã hình thành, ý thức đạo đức quay trở lại chi phối, điều chỉnh quan hệ đạo đức. Quan hệ đạo đức có bền vững hay không tùy thuộc trình độ của ý thức đạo đức, vào sự lựa chọn lời nói, cử chỉ, hành vi trong mối quan hệ ở từng hoàn cảnh nhất định có phù hợp hay không. Ý thức đạo đức càng cao thì quan hệ đạo đức càng được củng cố, bền chặt hơn và ngược lại.

    – Thứ hai, ý thức đạo đức là điều kiện để thực hiện hành vi đạo đức, còn hành vi đạo đức là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức trong cuộc sống.

    Ý thức đạo đức là điều kiện để thực hiện hành vi đạo đức vì không có ý thức đạo đức thì không thể có hành vi đạo đức. Trong đó, tri thức đạo đức xác định giới hạn cho hành vi đạo đức, tình cảm đạo đức là động cơ chủ yếu của hành vi, lý tưởng đạo đức định hướng cho hành vi, ý chí đạo đức là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người thực hiện hành vi đạo đức. Thiếu một trong những thành tố của ý thức đạo đức con người không thể thực hiện hành vi đạo đức.

    Ngược lại, ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động mới đem lại lợi ích xã hội. Con người có đạo đức hay không phải căn cứ vào những hành vi cụ thể. Thông qua quá trình thực hiện những hành vi đạo đức thường xuyên, liên tục, ý thức đạo đức của mỗi người ngày càng được bồi dưỡng, củng cố trở nên hoàn thiện hơn.

    -Thứ ba, hành vi đạo đức thể hiện thông qua quan hệ đạo đức, bởi hành vi đạo đức là những cử chỉ, những việc làm của con nguời trong các quan hệ phù hợp với ý thức đạo đức, với các chuẩn mực và các giá trị của đạo đức. Hành vi đạo đức không thể tách rời các quan hệ xã hội, quan hệ đạo đức. Ngược lại, quan hệ đạo đức là cơ sở cho hành vi đạo đức, tùy từng mối quan hệ, con nguời xác định và thực hiện những hành vi phù hợp.

    3.Chức năng của đạo đức

    – Chức năng giáo dục: Thông qua giáo dục đạo đức góp phần hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng con người cụ thể; giúp con nguời xác lập khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tuợng xã hội. Trên cơ sở ấy, con người tự xem xét, đánh giá đuợc tư cách, ý thức và hành vi của bản thân. Nói cách khác, chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm giàu thêm “tính người” cho mỗi con người, được thực hiện thông qua quá trình giáo dục của xã hội và tự giác của mỗi cá nhân.

    – Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây là chức năng quan trọng nhất, nhưng đó không phải là đặc quyền của đạo đức, bởi trong xã hội, con người tạo ra rất nhiều phương thức điều chỉnh hành vi của mình như: pháp luật, hương ước… Mục đích điều chỉnh hành vi của đạo đức nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân.

    Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện chủ yếu bằng hai phương thức: Một là, sử dụng sức mạnh của dư luận để động viên, khuyến khích những chủ thể có đạo đức và hành vi tốt đẹp, đồng thời, phê phán, lên án nghiêm khắc những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến người khác, đến cộng đồng. Hai là, bản thân chủ thể đạo đức phải tự nguyện, tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hội.

    – Chức năng nhận thức: Chức năng nhận thức của đạo đức bao gồm nhận thức và tự nhận thức, bởi nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống đạo đức xã hội làm đối tượng, là quá trình cá nhân đánh giá, tiếp thu hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tự nhận thức là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi đạo đức của mình với chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng. Bằng hai quá trình nhận thức ấy con người đi đến sự nhận biết, phân biệt những giá trị: đúng – sai, tốt – xấu, thiện – ác… hướng tới giá trị bao quát chân, thiện, mỹ. Từ nhận thức này, chủ thể hình thành và phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống của mình.

    Ba chức năng của đạo đức có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự vận hành của chức năng này là tiền đề, điều kiện của sự vận hành chức năng khác. Từ đó, con người mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân để điều chỉnh hành vi theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội.

    4. Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội

    Lịch sử xã hội loài người đã khẳng định tầm quan trọng của đạo đức trong quá trình tổ chức thiết lập, duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội mà sự tác động của đạo đức đến cá nhân và xã hội có khác nhau. Vai trò của đạo đức được thể hiện như sau:

    – Đạo đức là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con người, một sự điều chỉnh hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không vụ lợi trong một phạm vi rộng lớn.

    – Đạo đức góp phần nhân đạo hóa con người và xã hội loài người, giúp con người sống thiện, sống có ích.

    – Đạo đức thể hiện bản sắc dân tộc trong quan hệ quốc tế, là cơ sở để mở rộng giao lưu giữa các giá trị văn hóa của dân tộc, quốc gia với các dân tộc, quốc gia khác.

    – Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

    II. Giáo dục đạo đức, lối sống

    1. Khái niệm

    Giáo dục đạo đức, lối sống là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, lối sống từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội thành những đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục.

    Giáo dục đạo đức, lối sống trong phạm vi cuốn sách này đề cập đến bao gồm giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục các phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người cho học sinh, sinh viên.

    2. Vai trò của giáo dục đạo đức, lối sống

    Giáo dục đạo đức, lối sống giúp cho mỗi cá nhân nâng cao trình độ nhận thức về các giá trị đạo đức, lối sống từ đó tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, lối sống của xã hội.

    Giáo dục đạo đức, lối sống góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị đạo đức mà các thế hệ trước đã tạo dựng; đồng thời góp phần tích cực trong việc giáo dục hình thành những giá trị đạo đức, lối sống mới, khắc phục những quan điểm lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị đạo đức truyền thống, những thói hư tật xấu hay những hiện tượng phi đạo đức.

    Giáo dục đạo đức, lối sống không chỉ làm cho con người nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức, lối sống mà còn thông qua đó để hình thành niềm tin và tình cảm đạo đức. Trên cơ sở đó giúp con nguời nhận ra giá trị của các giá trị đạo đức, nhận thấy giá trị và ý nghĩa cuộc sống mang tính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần nhân đạo hóa con người và đời sống xã hội. Trong chiến luợc phát triển con người, Đảng và Nhà nước ta đề cao vai trò giáo dục đạo đức, lối sống cho cho học sinh, sinh viên – những chủ nhân tương lai của đất nước. Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ quan trọng góp phần:

    – Hoàn thiện nhân cách cho học sinh, sinh viên thực hiện tốt những bổn phận đạo đức của bản thân đối với việc học tập, rèn luyện, có trách nhiệm với gia đình và xã hội.

    – Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.

    – Bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên tình cảm cách mạng trong sáng.

    – Bồi dưỡng ý chí, hành động đúng, hình thành những thói quen đạo đức, lối sống đặc biệt là ý thức trách nhiệm công dân.

    – Đấu tranh khắc phục, ngăn chặn những biểu hiện thiếu đạo đức trong tư tưởng, tình cảm, hành động của học sinh, sinh viên. Xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch, tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội.

    – Nhằm ngăn chặn tình trạng bạo lực trong học sinh, sinh viên; đảm bảo an ninh, trật tự trong trường học, kiềm chế, đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật trong học sinh, sinh viên.

    Giáo dục đạo đức, lối sống có vai trò rất lớn trong việc hình thành ý thức, tình cảm cũng như các hành vi đạo đức của con người nói chung, của học sinh, sinh viên nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức xã hội; trước những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên thì công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên càng trở nên quan trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Truyện Cổ Tích Thần Kỳ
  • Phân Tích Khái Niệm Công Chức? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức Và Viên Chức
  • Viên Chức Là Gì? Phân Tích Các Đặc Điểm Của Viên Chức?
  • Công Chức Là Gì? Đặc Điểm, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chức?
  • Khái Niệm Về Chính Trị Chính Xác Cho Người Cần Biết
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác
  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco, Định Nghĩa Unesco Về Tin Tức, Tiêu Chí Của Unesco, Các Tiêu Chí Đánh Giá Di Sản Của Unesco, Quan Niệm Của Unesco Về Văn Hóa, Quan Niệm Văn Hóa Của Unesco, Nghị Quyết Unesco Về Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Tiêu Chí Được Unesco Công Nhận, chúng tôi ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa Cảm ơn, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa 2 Góc Kề Bù, Định Nghĩa Rác, Nêu 1 Số Định Nghĩa Về Văn Hóa, Định Nghĩa Iso, Định Nghĩa Cái Tôi, Định Nghĩa R&b, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Phụ Nữ, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa Y Đức, ý Nghĩa Của Quy Định 55, Định Nghĩa Bồ, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa It, Định Nghĩa C, Định Nghĩa C/o, ý Nghĩa Của Quy Định Số 08-qĐi/tw, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa I, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa 1 Chữ Bạn, Định Nghĩa 0 Là Gì, Định Nghĩa, Định Nghĩa Số 0, Định Nghĩa Số 0 Hải Đồ, Định Nghĩa Số Hữu Tỉ, Định Nghĩa Iq, Từ Định Nghĩa Là Gì, 8/3 Định Nghĩa, Định Nghĩa Ete, Định Nghĩa E Hóa Trị, Định Nghĩa 1 Kg, Định Nghĩa 1 Mét, ý Nghĩa Của Quy Định 08, Đất ở Định Nghĩa, Định Nghĩa Ip, Định Nghĩa 2 Chữ Bạn Bè, Định Nghĩa 1m, Định Nghĩa 14/2, Định Nghĩa 14 2, Định Nghĩa Iot, Bài 1 Các Định Nghĩa, Định Nghĩa Rủi Ro, Định Nghĩa 1 Từ, Định Nghĩa S M, Từ Quy Định Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Quy Định 08, Định Nghĩa Sốt, Định Nghĩa ăn Tạp, Định Nghĩa ất ơ, Định Nghĩa E=mc2, Định Nghĩa âm On Và âm Kun, Định Nghĩa âm Đệm, Định Nghĩa Bạn Bè, Định Nghĩa Lim, Định Nghĩa 9x, Định Nghĩa 80/20, Định Nghĩa 8/3, Định Nghĩa Bạn Thân, ý Nghĩa Quy Định 55-qĐ/tw, Định Nghĩa 8 3, Định Nghĩa Số 9, Định Nghĩa Art, Định Nghĩa Lời Cảm ơn, Định Nghĩa Máy 99, Định Nghĩa Ma Túy, Định Nghĩa An Lạc, Định Nghĩa ân Hạn Nợ, Định Nghĩa ân Hạn, Định Nghĩa M&a, Định Nghĩa ăn Vặt, Định Nghĩa M/s, Định Nghĩa ăn, Định Nghĩa âm Vị, Định Nghĩa N*,

    Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco, Định Nghĩa Unesco Về Tin Tức, Tiêu Chí Của Unesco, Các Tiêu Chí Đánh Giá Di Sản Của Unesco, Quan Niệm Của Unesco Về Văn Hóa, Quan Niệm Văn Hóa Của Unesco, Nghị Quyết Unesco Về Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Tiêu Chí Được Unesco Công Nhận, chúng tôi ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa Cảm ơn, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa 2 Góc Kề Bù, Định Nghĩa Rác, Nêu 1 Số Định Nghĩa Về Văn Hóa, Định Nghĩa Iso, Định Nghĩa Cái Tôi, Định Nghĩa R&b, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Phụ Nữ, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa Y Đức, ý Nghĩa Của Quy Định 55, Định Nghĩa Bồ, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa It, Định Nghĩa C, Định Nghĩa C/o, ý Nghĩa Của Quy Định Số 08-qĐi/tw, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa I, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa 1 Chữ Bạn, Định Nghĩa 0 Là Gì, Định Nghĩa, Định Nghĩa Số 0, Định Nghĩa Số 0 Hải Đồ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Y Học Bản Địa Là Gì?
  • Định Nghĩa Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Đường Lối Của Đảng Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Điểm Của Đảng Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì ? Khái Niệm Về Văn Hóa Du Lịch
  • Du Lịch Văn Hóa Là Gì?
  • Du Lịch Văn Hóa Và Văn Hóa Du Lịch
  • Bàn Về Văn Hóa Du Lịch Việt Nam
  • I- Khái niệm văn hóa

    – Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người. Văn hóa bao gồm cả 2

    khía cạnh, khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các

    khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,… cả 2 khía cạnh cần

    thiết để làm ra sản phẩm và đó là 1 phần của văn hóa.

    – Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan

    hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo

    nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội, văn hóa được truyền từ thế

    hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và

    phát triển trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là

    trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các kiểu

    hình thức tổ chức đời sống và hoạt động của con người cũng như trong giá trị vật

    chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

    II- Chức năng và vai trò của văn hóa

    1. Chức năng của văn hóa

    a. Chức năng giáo dục:

    – Là chức năng mà văn hóa thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình nhằm

    tác động một các có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người,

    làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn

    mực xã hội đề ra. Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những

    giá trị đã ổn định là truyền thống văn hóa mà còn bằng cả những giá trị đang hoàn

    thành. Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới.

    Nhờ vậy, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hoàn thành nhân cách ở con

    người, trong việc ” trồng người”.

    – Văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như lịch sử

    nhân loại. Văn hóa duy trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn

    bó các dân tộc, gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến cái Chân- Thiện- Mĩ.

    b. Chức năng nhận thức:

    – Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa. Bởi con người không

    có nhận thức thì không thể có bất cứ một hoạt động văn hóa nào.

    – Nâng cao trình độ nhận thức của con người là phát huy những tiềm năng ở con

    người.

    c. Chức năng thẩm mĩ:

    – Cùng với nhu cầu hiểu biết con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái

    đẹp. Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp cho nên văn hóa

    phải có chức năng này.

     Văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp, trong đó

    văn học nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất sự sáng tạo ấy.

    – Với tư cách là khách thể của văn hóa, con người tiếp nhận chức năng này của văn

    hóa và tự thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấu trong

    mỗi người.

    d. Chức năng giải trí:

    – Các hoạt động văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, ca nhạc,… sẽ đáp ứng được

    nhu cầu giải trí của con người.

     Sự giải trí bằng các hoạt động văn hóa là bổ ích, cần thiết, góp phần giúp

    con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn

    diện.

    – Phát triển và hoàn thiện con người và xã hội là mục tiêu cao cả của văn hóa.

    2. Vai trò của văn hóa trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa

    a. Văn hóa là nền tảng tinh thần

    – Văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần, là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa thể

    hiện sức sống, sức sáng tạo phát triển và bản lĩnh của một dân tộc. Văn hóa có

    mối quan hệ thống nhất biện chứng với kinh tế, chính trị. Xây dựng và phát triển

    kinh tế phải nhằm mục tiêu cuối cùng là văn hóa. Văn hóa có khả năng khơi dậy

    tiềm năng sáng tạo của con người- nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội.

    – Trong xã hội có 2 nền tảng

    * Nền tảng vật chất bổ sung cho nhau cùng phát triển

    * Nền tảng tinh thần

    – Vật chất quyết định sự tồn tại của phần ” con”, tinh thần quyết định sự tồn tại của

    phần ” người”.

    – Nền tảng văn hóa Việt là toàn bộ các giá trị do dân tộc Việt Nam sáng tạo ra đúc

    kết thành bản sắc văn hóa Việt Nam truyền tư đời này sang đời khác.

    – Bản sắc dân tộc hình thành nên bản lĩnh tinh thần của cộng đồng dân tộc, một

    quốc gia và hình thành nên niềm tin, lý tưởng chung của cộng đồng để dân tộc đó,

    quốc gia đó hướng tới.

    – Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, xây dựng một xã hội

    công bằng, dân chủ, văn minh, con người phát triển toàn diện.

    b. Văn hóa là mục tiêu của sự phát triền

    – Văn hóa là mục tiêu của xã hội phát triển, bởi văn hóa đại diện theo trình độ văn

    minh, là thước đo phẩm giá con người.

    Mặt tốt

    – Con người có 2 mặt

    Mặt xấu

     Văn hóa có trách nhiệm kích thích con người phát huy mặt tốt, kiềm chế mặt

    xấu.

    – Văn hóa có vai trò điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa người với người bằng giá

    trị và chuẩn mực xã hội, bằng văn hóa →hướng tới mục đích nâng cao chất lượng

    cuộc sống, vì hạnh phúc của con người, nối dài cuộc sống, an ninh xã hội, điều

    tiết sự công bằng xã hội.

    c. Văn hóa là động lực của sự phát triển

    – Chìa khóa của sự phát triển

    * Nguồn lực tự nhiên thiên nhiên

    * Nguồn vốn

    * Nguồn khoa học công nghệ

    * Nguồn lực con người ( vai trò quyết định và chìa khóa của mọi chìa khóa).

    – Phát triển hiện đại hóa dân tộc, trước hết phải hiện đại hóa nguồn lực con người,

    đầu tư vào giáo dục.

    – Con người phải được phát triển toàn diện.

    – Văn hóa làm bàn đỡ để cho sự ra đời của nền kinh tế tiên tiến văn minh thông qua

    việc hoàn thành hệ thống pháp lí và đạo lí xã hội, chống lại những tiêu cực phản

    giá trị, phản văn hóa do nền kinh tế thị trường Việt Nam đã tạo ra.

    III- Qúa trình nhận thức của đảng về phát triển văn hóa.

    1. Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hóa

    – Từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã hình thành từng bước nhận thức mới về

    đặc trưng của nền văn hóa mới.

    – Trong Đại hội VI ( năm 1986) xác định: khoa học- kĩ thuật là một động lực to lớn

    đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế- xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp

    xây dựng chủ nghĩa xã hội

    – Đại hội VII ( năm 1991) lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có

    đặc trưng: tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền

    văn hóa mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội

    dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ; kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa

    tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân

    loại; chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ; xác định giáo dục và đào tạo, khoa

    học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.

    – Đại hội VII, VIII, IX, X đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và

    coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Đây là một tầm nhìn

    mới về văn hóa phù hợp với tầm nhìn chung của thế giới đương đại.

    – Đại hội VII ( năm 1991) và Đại hội VIII ( năm 1996) khẳng định: khoa học và

    giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã

    hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc

    hậu, vươn lên trình tiên tiến của của thế giới. Do đó, phải coi sự nghiệp giáo dục-

    đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân

    tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội.

    – Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ( tháng 7-1998) nêu ra 5 quan điểm cơ bản

    chỉ đạo quá trình phát triển văn hóa trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa

    đất nước.

    – Hội nghị Trung ương 9 khóa IX ( tháng 1-2004) xác định thêm phát triển văn hóa

    đồng bộ với phát triển kinh tế.

    – Hội nghị Trung ương 10 khóa X ( tháng 7-2004) đặt vấn đề bảo đảm sự gắn kết

    giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then

    chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hộ.

    Đây chính là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về vị trí của

    văn hóa và công tác văn hóa trong quan hệ với các mặt công tác khác.

    – Hội nghị Trung ương 10 khóa IX đã nhận định về sự biến đổi của văn hóa trong

    thời kì đổi mới. Cơ chế thị trường hội nhập quốc tế đã làm thay đổi mối quan hệ

    giữa cá nhân với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ hóa đời sống xã hội, đa dạng hóa

    thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hóa → phạm vi, vai trò của dân chủ hóa- xã

    hội hóa văn hóa của cá nhân ngày càng tăng lên và mở rộng là những thách thức

    mới đối với sự lãnh đạo, quản lí công tác văn hóa của Đảng và Nhà nước.

    2. Quan điểm chỉ đạo và chủ trương về xây dựng, phát triển nền văn hóa.

    2.1. Văn hóa là nền tảng của tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, là động

    lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế _ xã hội.

    _ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội:

    +, Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của

    cuộc sống. Qua thời gian nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền

    thống và lối sống mà trên đó dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.

    +, Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc.

    +, Chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

    để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững bền của xã hội, trở

    thành động lực phát triển kinh tế – xã hội.

    _ Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển.

    +, Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thấm sâu trong văn

    hóa.

    +, Bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh

    tế tạo ra. Động lực của sự đổi mới kinh tế một phần quan trọng nằm trong

    những giá trị văn hóa đang được phát huy.

    +, Hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao

    bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế – xã hội càng hiện thực và bền vững

    bấy nhiêu.

    +, Trong nền kinh tế thị trường: văn hóa dựa vào tiêu chuẩn cái đúng, cái tốt

    đẹp để hướng dẫn thúc đẩy người lao động làm việc, mặt khác sử dụng sức

    mạnh của giá trị truyền thống ngăn chặn sự suy thoái xã hội.

    +, Nền văn hóa Việt Nam đương đại là một tiền đề quan trọng đưa nước ta hội

    nhập ngày càng sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới.

    _ Văn hóa là một mục tiêu của phát triển.

    +, Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,

    công bằng và văn minh” là mục tiêu văn hóa.

    +, Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển là vấn đề bức xúc của mọi quốc gia.

    Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ này là có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

    +, Chủ trương phát triển văn hóa phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với

    phát triển kinh tế – xã hội.

    _ Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong bồi dưỡng, phát huy nhân tố

    con người và xây dựng xã hội mới.

    +, Tri thức con người là nguồn lực vô hạn.

    +, Văn hóa trực tiếp tao dựng và nâng cao vốn “tài nguyên người”.

    2.2. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    _ Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ , nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân

    tộc, chủ nghĩa xã hội.

    _ Tiên tiến không chỉ nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện.

    _ Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của

    cộng đồng các dân tộc Việt Nam qua lịch sử hàng ngàn năm.

    _ Đó là lòng nồng nàn yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức

    cộng đồng, lòng nhân ái, tính cần cù.

    _ Bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ

    bản.

    _ Bản sắc dân tộc là sức sống bên trong của dân tộc, thể hiện trong tất cả các

    lĩnh vực của đời sống xã hội, được thể hiện sâu sắc nhất là trong hệ giá trị của

    dân tộc, là cốt lõi của một nền văn hóa.

    _ Bản sắc dân tộc phát triển theo thể chế kinh tế, thể chế xã hội, và thể chế

    chính trị.

    _ Bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến phải thấm đượm trong mọi hoạt động

    xây dựng, sáng tạo, khao học, giáo dục

    _Chủ trương vừa bảo vệ bản sắc dân tộc vừa mở rộng giao lưu tiếp thu tinh

    hoa nhân loại.

    _Phải đi đôi với chống những cái lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán và

    lề thói cũ.

    2.3. Nền văn hóa thống nhất mà đa dạng.

    _Nét nổi bật đặc trưng của văn hóa Việt Nam là sự thống nhất mà đa dạng.

    Mỗi thành phần dân tộc có truyền thống và bản sắc của mình.

    _ Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau làm phong phú nền văn hóa Việt

    Nam và củng cố sự thống nhất đân tộc.

    2.4. Vai trò của đội ngũ trí thức trong xây dựng và phát triển văn hóa.

    _ Đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát

    triển nền văn hóa nước nhà.

    _ Đảng khẳng đinh: “Giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ

    được coi là quốc sách hàng đầu.”

    _Văn hóa theo nghĩa rộng thì bao hàm cả giáo dục và đào tạo, khoa học và

    công nghệ.

    _Đảng chủ trương;

    +, Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ chế quản lý, phương

    pháp dạy, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”.

    +, Chuyển mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở.

    +, Đổi mới ở tất cả các ngành học, phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp

    +, Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

    +,Thực hiện xã hội hóa giáo dục, phát triển khoa học xã hội.

    +, Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo

    2.5. Xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài.

    _Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp

    cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng, sự kiên trì, thận trọng.

    _ Bảo tồn và phát huy những những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng

    tạo nên những giá trị mới là một quá trình cách mạng đầy khó khăn và phức

    tạp, đòi hỏi nhiều thời gian.

    _Trong công cuộc đó, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính.

    3. Đánh giá việc thực hiện đường lối

    – Trong những năm qua, nền văn hóa có những chuyển biến rõ rệt: cơ sở vật chất,

    kỹ thuật bước đầu tạo dựng, tư duy, môi trường văn hóa có nhiều thay đổi tích

    cực, mở rộng hợp tác quốc tế.

    – Giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới: quy mô tăng ở tất cả các cấp, các bậc

    học. Chất lượng đội ngũ giáo viên tăng, cơ sở vật chất- kĩ thuật đươc cải thiện.

    Dân trí được nâng cao.

    – Khoa học và công nghệ có bước phát triển, phục vụ thiết thực hơn nhiệm vụ phát

    triển kinh tế- xã hội.

    – Văn hóa phát triển, việc xây dựng đời sống văn hóa và nếp sống văn minh có tiến

    bộ ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước.

    – Những thành tựu trên chứng tỏ đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà

    nước ta đã và đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng đúng đắn. Những

    thành tựu này cũng là kết quả của sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ

    lực rất lớn của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa.

    Hạn chế và nguyên nhân:

    – Một là, so với yêu cầu của thời kì đổi mới, trước những biến đổi trong đời sống xã

    hội những năm gần đây, những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn

    hóa còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối

    với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng. Đạo đức, lối

    sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt nghiêm trọng hơn, tổn hại không

    nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước, niềm tin của nhân dân.

    – Hai là, sự phát triển của văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng và chỉnh đốn Đảng

    là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế và

    nhiệm vụ xây dựng Đảng. Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong thời kì

    công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa tạo được chuyển biến rõ rệt. Môi trường văn

    hóa còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, mê tín, dị đoan, … Sản phẩm văn hóa và

    các dịch vụ văn hóa ngày càng phong phú nhưng còn rất thiếu những tác phẩm

    văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng tích

    cực và sâu sắc trong đời sống.

    – Ba là, việc xây dựng thể chế văn hóa còn chậm, chưa đổi mới, thiếu đồng bộ làm

    hạn chế tác dụng của văn hóa đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất

    nước.

    – Bốn là, tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu về đời sống văn hóa- tinh thần ở

    nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc

    thiểu số và vùng căn cứ cách mạng trước đây vẫn chưa được khắc phục có hiệu

    quả . Khoảng cách chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, khu

    vực, tầng lớp xã hội tiếp tục mở rộng.

     Những khuyết điểm, yếu kém nói trên đều do nhiều nguyên nhân khách quan

    và chủ quan, song cần nhấn mạnh các nguyên nhân chủ quan là:

    * Các quan điểm chỉ đạo về phát triển văn hóa chưa được quán triệt đầy đủ

    và cũng chưa được thực hiện nghiêm túc.

    * Bệnh chủ quan, duy ý chí trong quản lí kinh tế- xã hội kéo dài 20 năm đã

    tác động tiêu cực đến việc triển khai đường lối phát triển văn hóa.

    * Chưa xây dựng được cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp để phát triển

    văn hóa trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩ và hội nhập

    quốc tế.

    * Một bộ phận những người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa có biểu hiện xa

    rời đời sống, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, thị hiếu thấp kém.

    IV. Biện pháp.

    “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn

    diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến

    bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở

    thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” là một trong những định hướng

    lớn trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được đề cập trong các dự thảo văn

    kiện trình Đại hội XI của Đảng.

    _ Xác định rõ phương hướng lớn của chính sách văn hóa Việt Nam là phát huy truyền

    thống yêu nước và cách mạng, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tinh thần độc lập, tự

    chủ tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phát triển nền văn

    hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    _ Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật

    thể của đất nước ở các vùng, các miền, các dân tộc thiểu số, kết hợp hài hoà việc bảo

    vệ và phát huy di sản với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch, chú trọng việc giáo

    dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng cho các thế hệ công dân.

    _ Chăm lo đời sống văn hóa của nông dân gắn với việc xây dựng nông thôn mới.

    _Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật và đạo đức công dân trong hệ thống giáo

    dục quốc dân, phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, các đoàn thể, gia đình, nhà trường,

    từng tập thể lao động và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người,

    bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên.

    _ Đổi mới cơ chế quản lý văn hóa, thể thao, du lịch phù hợp với quản lý đa ngành, đa

    lĩnh vực. Tăng nhanh mức đầu tư của Nhà nước và xã hội cho văn hóa.

    _ Cần tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển về thể lực, trí lực và tình

    cảm, có lý tưởng và nhiệt tình cách mạng, trung thành với sự nghiệp đổi mới, có kỹ

    năng lao động và sáng tạo, có ý chí và bản lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã

    hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập

    quốc tế.

    _ Cần nâng cao chất lượng toàn diện của việc xây dựng đời sống văn hóa và môi

    trường văn hóa thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động

    toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.

    _ Cần mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ văn hóa, gắn kết chặt

    chẽ văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên văn hóa một cách

    hợp lý để phát triển du lịch dịch vụ.

    _ Đảm bảo tự do và dân chủ trong hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật, báo chí

    xuất bản, phát huy vai trò tích cực của các lĩnh vực này trong việc xây dựng môi

    trường văn hóa tinh thần lành mạnh.

    _ Bên cạnh việc tiếp tục đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn

    hóa, cần chú trọng xây dựng các công trình văn hóa trọng điểm quốc gia và khu vực.

    _ Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên

    lĩnh vực văn hóa – thể thao – du lịch. Xây dựng cơ chế, chính sách chế tài ổn định phù

    hợp với yêu cầu quản lý văn hóa trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về văn

    hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Đọc Sách Kinh Điển
  • Nhân Học Văn Hóa (E. B. Tylor, 1871)
  • 40 Điều Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông
  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • Định Nghĩa Văn Hóa Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Y Học Bản Địa Là Gì?
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Có nhiều định nghĩa khác nhau của văn hóa doanh nghiệp, mặc dù gần như tất cả những người được chấp nhận rộng rãi nhất là tương tự và bao gồm nhiều khía cạnh tương tự.

    – Gareth Morgan đã mô tả văn hóa doanh nghiệp như: “Các thiết lập của niềm tin, giá trị, và các định mức, cùng với các biểu tượng như các sự kiện và các cá nhân, đại diện cho nhân vật duy nhất của một doanh nghiệp, và cung cấp bối cảnh cho hành động ở trong đó . ” Niềm tin và giá trị là những từ sẽ xuất hiện thường xuyên trong các định nghĩa khác. Định mức có thể được mô tả như truyền thống, cấu trúc của cơ quan, hoặc thói quen.

    Một cách khác đơn giản hơn nhìn vào văn hóa doanh nghiệp là để xem nó như là phản ứng chung của một nhóm để kích thích kinh tế. Một nền văn hóa doanh nghiệp là một nhóm người đã được đào tạo, hoặc chỉ đơn giản là đã học được bởi những người xung quanh, làm thế nào để hành động trong bất kỳ tình huống nào. Bằng cách này, văn hóa doanh nghiệp có chức năng giống như bất kỳ xã hội học tập.

    Các khía cạnh khác của văn hóa doanh nghiệp mà thường đúng sự thật là nó trở nên bắt rễ sâu. Đó là bản sắc của một công ty, và vì lý do đó, trong một số cách, nó sẽ trở thành một bản sắc của những người làm việc ở đó. Điều này luôn luôn là quan trọng để nhớ, như văn hóa trở thành giống như một đối số tròn. Những người dân sẽ ảnh hưởng đến văn hóa như văn hóa ảnh hưởng đến họ.

    Bởi vì nền văn hóa được bắt rễ sâu trong lịch sử doanh nghiệp của sự thành công hay thất bại, và bởi vì kinh nghiệm của nó, bất kỳ doanh nghiệp mà cần phải làm việc để thay đổi nó sẽ phải đối mặt với một trận chiến khó khăn và đầu tư rất lớn trong thời gian, nguồn lực, và làm việc. Trong tình huống này, nó thường là tốt nhất để tìm thấy một số người bên ngoài chuyên nghiệp ít nhất là giúp đỡ những người không được tiếp xúc và hút vào những thói quen xấu của một nền văn hóa doanh nghiệp bất thường.

    Vì vậy, trong khi có nhiều định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp, tất cả trong số họ tập trung vào những điểm giống nhau: kinh nghiệm tập thể, thói quen, niềm tin, các giá trị, mục tiêu, và hệ thống. Đây là những kinh nghiệm và học được, thông qua ngày cho nhân viên mới, và tiếp tục như là một phần của bản sắc cốt lõi của công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Chi Tiết Môn Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Bộ Tài Liệu 110 Câu Tìm Từ Đồng Nghĩa
  • Bài Luận Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh
  • Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Bài 24: Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • Các Loại Từ Vựng Trong Tiếng Anh
  • Định Nghĩa Lại “văn Hóa Đọc”

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Đọc Cho Sinh Viên
  • Khái Niệm Axit Là Gì ?
  • Gene Vs. Allele: Sự Khác Biệt Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Gen Và Alen Là Gì?
  • An Ninh Trật Tự Là Gì? Bảo Vệ An Ninh Trật Tự Nước Ta Hiện Nay
  • Tựa như khoác lên mình chiếc áo quá khổ, cụm từ “văn hóa đọc” khiến người trẻ cảm thấy xa cách và không hấp dẫn. Để đọc sách trở thành một nhu cầu, họ cần một định nghĩa gần gũi hơn.

    Thị trường sách Việt nam khá phong phú về thể loại

    Có mặt tại buổi giao lưu với đề tài “Quyển sách thay đổi cuộc đời”, tổ chức vào thượng tuần tháng 2 vừa qua, ông Nguyễn Hữu Hoạt, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty Văn hóa Phương Nam, đã có nhận định khiến nhiều người giật mình. Nhân vật có thâm niên trong ngành xuất bản của Việt Nam này cho biết một thực tế: Sách nghiêm túc ngày càng ít người đọc.

    Là đại diện cho một đơn vị phát hành sách hàng đầu Việt Nam, thực tế phát hành cho phép ông nhận định như thế. Và đây đúng là một thực tế đáng buồn. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì?

    Theo blogger Dâu Tây (Joe), một người nước ngoài khá gắn bó với Việt Nam, thị trường sách tại Việt Nam khá nhỏ và việc đọc như một thói quen để có thể trở thành nét văn hóa là chưa có. Joe nhận thấy, mỗi đầu sách xuất bản tại Việt Nam tiêu thụ được tầm 20.000 cuốn đã là niềm sung sướng đối với người làm sách, nhưng ở Anh, sách được xem là bán chạy luôn cán mức vài triệu bản.

    “Đơn cử như ở tỉnh Nghệ An, dân số hơn 2,940 triệu người, nhưng số lượng sách tiêu thụ chỉ khoảng 100 bản/quyển. Điều này cho thấy mức độ tiếp cận sách của người Việt là không cao”, Joe nhận định.

    Đồng quan điểm, nhạc sĩ Quốc Bảo cũng cho rằng thị trường sách Việt Nam kém hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu bảo hiện nay người trẻ Việt Nam không màng đến việc đọc sách thì cũng không chính xác. Việc đọc vẫn đang tiếp diễn và người Việt vẫn đang đọc, đọc trên bản in, trên những ấn bản điện tử…

    Điều cần lưu ý là thời gian vừa qua, việc các đơn vị trong ngành xuất bản kêu gọi phát triển văn hóa đọc và đưa cụm từ này lên truyền thông dường như không mang lại hiệu quả và có phần phản tác dụng. Theo nhạc sĩ, việc đọc đơn giản phải diễn ra theo đúng nghĩa của nó: Đọc vì thích đọc, là nhu cầu tự nhiên như sự hít thở không khí…

    Bản thân là người yêu sách nhưng anh đọc không phải để tìm kiếm điều gì trong sách mà đối với anh, việc đọc đã là một nhu cầu. “Tôi xem việc đọc là thâm nhập vào tác phẩm và hiểu được tác giả, đồng cảm với nội tâm của những người có thể chưa từng quen biết. Thế nên, theo tôi, người làm sách đang thực hiện sứ mệnh mang cảm xúc đến với người khác”, anh chia sẻ.

    Không chỉ nhạc sĩ Quốc Bảo tỏ ra “nhạy cảm” với khái niệm này, diễn giả Trần Đăng Khoa cũng cho biết, anh rất thường đọc sách nhưng nghe đến “văn hóa đọc” là thấy cụm từ này có vẻ “cao siêu” làm sao.

    Là đại diện cho những người trẻ, anh cho rằng, để khuyến khích sự đam mê đọc sách thì nên hạn chế dùng cụm từ này. Thay vào đó, cần cho mọi người biết được tác dụng tốt của việc đọc và chỉ nên đọc những cuốn sách có nội dung tốt.

    “Đọc sách nhiều có thể giảm 35% các vấn đề về não, giảm căng thẳng. Một cuốn sách hay có thể giúp người ta sống tốt hơn. Theo thống kê, có đến 2/3 số người có thu nhập cao thường xuyên đọc sách. Vậy thì việc đọc mang lại giá trị cho độc giả hơn là người làm sách”, anh khẳng định.

    Dạo một vòng các nhà sách lớn, không khó để nhận ra sự phong phú về mặt thể loại của các đầu sách xuất bản tại Việt Nam. Nhưng đáng chú ý là sự xuất hiện ngày một nhiều các tác phẩm diễm tình hiện đại của Trung Quốc. Chủ yếu các tác giả của thể loại này đều xuất thân từ văn học mạng nên văn phong cũng như cách khai thác đề tài của họ khá “nóng”.

    Và giới trẻ Việt Nam đang nồng nhiệt đón nhận thể loại này. Tất nhiên, mỗi thể loại sách đều có giá trị riêng, không đơn thuần là giải trí, nhưng lựa chọn được cuốn sách tốt trong một rừng sách như hiện nay không còn là việc dễ dàng.

    Theo diễn giả Trần Đăng Khoa, ngày trước, sách xuất bản ít nhưng bù lại có những tác phẩm có giá trị rất lớn đối với người đọc. Điển hình như Thép đã tôi thế đấy đã làm thay đổi cả một thế hệ.

    Trong bối cảnh trăm hoa đua nở như hiện nay, sách xuất hiện đúng thời điểm với người đọc, tác động đến suy nghĩ của họ trong giai đoạn đó chính là cuốn sách thay đổi cuộc đời. Anh kể, những ngày ở Singapore, mới ra trường, đi học có học bổng nhưng vẫn phải mượn nợ.

    Tình cờ, Khoa được người bạn tặng cuốn sách cũ, đã được đọc đến nhàu nhĩ và ghi chú lại rất kỹ. Nội dung tập sách không quá xuất sắc nhưng đã giúp Khoa nhận ra một giá trị: Khi trẻ phải để cho bản thân biết ước mơ. Mơ để phá những xiềng xích trong lòng mình.

    “Sau khi đọc quyển sách ấy, tôi quyết tâm phải làm cho bản thân mạnh mẽ hơn”, Khoa kể. Sau 5 năm nhìn lại, Khoa thấy cuộc đời mình khác hẳn. Anh không còn mơ chuyện tăng lương hay trả hết nợ mà có những ước mơ khác, lớn lao hơn, đó là về Việt Nam lập công ty và phát triển sự nghiệp.

    Tương tự, với nhạc sĩ Quốc Bảo, năm 12 tuổi, anh vô tìm tìm được một cuốn sách cũ của cậu. Đó là một tập sách mỏng, đọc hết chỉ mất khoảng 3 tiếng đồng hồ nhưng từ đó đến nay anh đã đọc đi đọc lại tập sách này hơn 60 lần, bởi nó đã trở thành cẩm nang sống của anh. Anh chia sẻ: “Tập sách nuôi lửa nghệ thuật và truyền cảm hứng cho tôi suốt ngần ấy năm”.

    Không kể tên hai cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hai nhân vật kể trên, bởi có thể chúng có tác dụng với người này nhưng lại không có tác dụng với người khác. Điều quan trọng là cả hai nhân vật trên đều không chủ đích tìm kiếm giá trị từ cuốn sách mà họ đã đọc suốt cả cuộc đời như là một thói quen không thể bỏ được.

    “Chúng ta không thể ôm hết giá trị nhân văn của nhân loại. Do đó, đọc ít hay nhiều không quan trọng, mà chỉ cần cảm thấy hạnh phúc khi đọc là được. Sách không phải là của người đọc nó, mà là của người cần nó”, nhạc sĩ Quốc Bảo chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Kỹ Năng Đọc Và Đọc Hiểu
  • Booking Là Gì? Những Khái Niệm Về Booking Bạn Cần Biết
  • Khái Niệm Động Từ Khuyết Thiếu Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì
  • Chỉ Từ Là Gì? Khái Niệm Vai Trò Trong Câu & Ví Dụ
  • Tìm Hiểu Văn Hóa Là Gì? Các Định Nghĩa Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Cực Chất
  • Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh
  • Cafe: Các Khái Niệm Để Các Ứng Dụng Trong Gia Đình Hệ Thống Kỹ Thuật
  • Cập Nhật Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Về Gia Đình Hoàn Thiện Nhất
  • Các Thì Trong Tiếng Anh: Bảng Tóm Tắt 12 Thì Tiếng Anh
  • Theo chúng tôi, văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về Văn hóa.

    Những định nghĩa khác nhau về văn hóa

    Năm 1952, A.L. KroeberKluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions . Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người.

    Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L. KroeberKluckhohn đưa ra là ” Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau. Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo.

    Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộngnghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì ” Văn hóa là một phức hệ – tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

    Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa.

    Như định nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật

    Còn các định nghĩa của F. Boas, Nguyễn Đức Từ Chi, tổ chức UNESCO… thì xem tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa.

    Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu. Chúng tôi cho rằng, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng.

    Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn.

    Theo Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

    [9] Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia chúng tôi 2004, tr. 314.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Hạnh Phúc
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trong Tiếng Anh
  • 38 Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Cực Kì Lãng Mạng Và Ý Nghĩa
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Tình Yêu
  • 15 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Nghị Luận Về Ý Nghĩa Của Lối Sống Giản Dị

    --- Bài mới hơn ---

  • Dành Tặng Dreamcatcher Đẹp Ý Nghĩa Cho Người Thân
  • Dreamcatcher Là Gì? Ý Nghĩa Của Dreamcatcher
  • Ý Nghĩa Hình Xăm Dreamcatcher Có Gì Bí Mật? Hãy Cùng Tìm Hiểu
  • Dấu Chấm Trong Comment Có Ý Nghĩa Gì
  • Chức Năng 11 Dấu Câu Trong Tiếng Việt
  • Nghị luận về ý nghĩa của lối sống giản dị

    Dân tộc ta từ xưa đến nay luôn đề cao lối sống giản dị của con người. Nó không những là một phẩm chất cao quý mà còn là lối sống, lối ứng xử in đậm trong văn hóa của người Việt ta từ bao đời nay.

    Giản dị là gì?

    Giản dị là một lối sống không trọng vật chất của con người. Giản dị biểu hiện ở lối sống đơn giản, không cầu kì, xa hoa, không phô trương hay lãng phí của cải vật chất. Giản dị còn thể hiện ở tinh thần yêu chuộng cuộc sống bình dị, gần gũi với thiên nhiên. Giản dị còn biểu hiện ở lời ăn tiếng nói hiền hòa, điềm đạm, có tình, có nghĩa của con người.

    Người giản dị thường xây dựng một cuộc sống kín đáo, hiền hòa. Họ thích ở làng quê hơn ở phố. Người giản dị cũng yêu thích những cái gì nhỏ nhắn, mộc mạc, đơn sơ. Họ không thích cầu kì một chác hình thức hay lãng phí một cách không cần thiết.

    Người giản dị không những giản dị trong cách xây dựng không gian sống. Họ còn giản dị cả trong lời nói, ăn mặc, công việc và ứng xử. Người giản dị thường ăn nói điềm đạm, ứng xử lịch sự, nhã nhặn. Họ ít khi có lời gắt gỏng hay xung đột với ai. Họ lấy nghĩa tình làm nguyên tắc ứng xử của mình. Những bất đồng ít khi trở thành xung đột, dĩ hòa vi quý.

    Một người giản dị thường không khoa trương, không dùng lời lẽ xa hoa, bóng bẩy. Lời nới của họ đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, truyền đạt đúng và đầy đủ thông tin mà họ muốn nói.

    Trong ăn mặc, họ ít khi cầu kì. Cuộc sống giản đơn như đồng quê cây cỏ. Ăn uống đối với họ cũng hết sức đạm bạc. Họ cũng không thích những bộ trang phục lòe loạt, kiểu cách. Trang phục của họ thường rất bình dị, hòa hợp với hoàn cảnh xung quanh.

    Trong công việc, họ cầu tiến nhưng không quá tham vọng. Họ sẵn sàng đối đầu với khó khăn thử thách để hoàn thành tốt công việc. Ít khi nào ta thấy họ bỏ cuộc hay chấp nhận thất bại một cách dễ dàng.

    Người giản dị có cách giải quyết sự việc nhanh chóng, không dây dưa. Họ quyết liệt trong công việc nhưng không yêu cầu điều gì thái quá. Một người giản dị là một người không bao giờ yêu cầu người khác phải tạo điều gì đó đặc biệt cho mình. Họ luôn bằng lòng với tất cả những gì họ sẵn có. Họ không đòi hỏi thứ vật chất lớn lao hay sự ưu tiên khác dành cho mình.

    Sự giản dị không chỉ thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày, từ cách ăn mặc, lời nói, cử chỉ, hành động, trong công việc, trong giao tiếp mà còn cả ngay từ trong suy nghĩ. Nhiều khi sự giản dị thể hiện ngay trong việc con người sống với những gì vốn có của mình, không hoa mĩ, lòe loẹt, chạy theo phong trào, chạy theo mốt, Giản dị ở đây có thể hiểu như là lối sống chân phương vậy.

    Đối với mọi người xung quanh, họ hết sức niềm nở, thân ái. Bởi người sống giản dị rất quý trọng tình nghĩa. Một người biết suy nghĩ những điều giản dị sẽ biết phải làm gì để có được điều đó, biết cách sống gần gũi với những người xung quanh. Đối với họ, sự hòa hợp của bản thân với xung quanh quan trọng hơn là nổi bậc.

    Người có tính giản dị thường sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền có mục đích đúng đắn. Họ nhìn nhận sự việc đúng mức, không quan trọng hóa vấn đề. Đó là tất cả những đặc điểm nổi bật mà bạn có thể tìm thấy ở một con người giản dị thật sự. Bởi thế mà từ xưa, giản dị luôn là lối sống của các bậc hiền nhân.

    Nhưng sự giản dị không thể gò ép, giả dối. Giản dị phải bắt nguồn từ một sự chân thành và những biểu hiện cũng hết sức chân thành. Không thể sống giản dị một cách gượng ép, khiên cưỡng, giả tạo. Trước sau gì những người xung quanh cũng sẽ nhận ra điều đó. Giản dị có thể thuộc về bản tính sẵn có. Nhưng phần nhiều là do quá trình rèn luyện trong cuộc sống để có được.

    Giản dị không chỉ là một cách sống, nó còn là một quan niệm sống. Từ xưa, lối sống “thanh bần lạc đạo” vốn được thực hành như một triết lí sống của con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm xa rời vinh hoa quan trường về mở trường dạy học bên dòng sông Tuyết Giang (sông Hàn), sống an bần đến cuối đời. Nguyễn Khuyến cũng rời chốn phồn hoa về ẩn cư tại quê nhà, vui thú điền viên. Lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng là một tấm gương sáng ngời về lối sống giản dị, đáng để chúng ta kính trọng, học tập và làm theo.

    Tại sao con người cần phải thực hành lối sống giản dị?

    Sống giản dị là một lối sống hết sức lành mạnh và tích. Một lối sống không trọng vật chất, thích những điều đơn giản sẽ mang lại cho con người sự trong sạch trong tinh thần.

    Lối sống giản dị mang lại cho con người một cuộc sống thanh bình, êm ả. Con người không bị ràng buộc bởi những tiện nghi. Tinh thần lúc nào cũng an nhàn, thoải mái.

    Tính giản dị rất cần thiết trong cuộc sống. Tính giản dị khiến ta tiết kiệm thời gian, không mất thời gian vào các việc vô bổ mà cầu kì.

    Tính giản dị khiến mọi người xung quanh tôn trọng ta. Sống giản dị giúp biết cách biết cách ứng xử hiền hòa trước cuộc sống. Ta trở nên gần gũi, chan hòa với cuộc sống, với mọi người xung quanh mình. Người có lối sống giản dị luôn được người khác yêu mến và kính trọng.

    Phải làm gì để hình thành và rèn luyện lối sống giản dị?

    Mục đích cuối cùng của quá trình học tập và lao động là tạo ra của cải và có được hạnh phúc. trong đó, được sống hạnh phúc là cái con người luôn khao khát có được. Muốn xây dựng và rèn luyện lối sống giản dị, trước hết phải hướng đến những giá trị chân thực ấy trong cuộc sống.

    Biết quý trọng tình nghĩa, quý trọng những người xung quanh mình. Vật chất làm đẹp không gian sống nhưng chính tình cảm thân thiện, mến yêu mới làm đẹp con người.

    Phải có nghị lực lớn mới dám sống cuộc sống giản dị, đơn sơ. Bởi con người luôn bị lôi cuốn bởi vật chất. Tâm lí xã hội cũng lấy vật chất làm thước đo giá trị cuộc sống con người. Vượt lên trên tâm lí ấy ta mới có đủ dũng khí để sống cuộc sống đúng nghĩa.

    Phải có một tình yêu lớn đối với thiên nhiên. Yêu hoa mến cảnh là động lực thôi thúc con người tìm về với lối sống hòa hợp với đất trời. Lấy vẻ đẹp cỏ cây, sông núi làm đẹp cho cuộc sống và tâm hồn mình.

    Quan trọng hơn tất cả, muốn hình thành và xây dựng lối sống giản dị trong cuộc sống này, con người phải có một tâm hồn cao đẹp, một trí tuệ uyên bác, một nghị lực mạnh mẽ để vượt lên trên mọi cám dỗ của cuộc đời, không tham cao sang, quyền quý, trọng tình cảm, thiết tha với các giá trị truyền thống của dân tộc mới có thể có được một lối sống giản dị đích thực. Các bậc hiền nhân luôn sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên là cuộc sống nhằm để di dưỡng và thanh lọc tinh thần.

    Phê phán lối sống xa hoa, lãng phí.

    Trong cuộc sống tiện nghi, nhiều người chỉ biết quý trọng vật chất xa hoa mà quên tình bạc nghĩa. Họ coi giá trị vật chất là trên hết, bất chấp đạo lí, sẵn sàng chà đạp lên tình người để có được nó. Có nhiều người khác lại phô trương, khoe mẽ quá mức hoặc xa hoa lãng phí của cải một cách không cần thiết. Những người như thế thật đáng chê trách.

    Bài học nhận thức.

    Lối sống giản dị mang lại cho con người thư thái trong tinh thần. Đủ nghị lực để vượt lên trên vật chất, đạt đến lối sống thanh cao, giản dị thể hiện vẻ đẹp cao quý của con người. Tuy nhiên, không nên khắt khe, hay xem thường giá trị của vật chất.

    Sống giản dị là sống như cha ông ta đã từng sống. Đó không phải là cách ứng xử của con người khi nghèo khổ mà đó là cách sống cao cả, nhằm hướng đến xây dựng một lối sống thắm đượm nghĩa tình, thể hiện sự quý trọng của con người đối với vật chất và sức lao động con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sống Giản Dị Là Gì? Biểu Hiện Của Cách Sống Giản Dị Và Ý Nghĩa To Lớn
  • Hạch Toán Là Gì? Các Kiến Thức Căn Bản Nhất Về Hạch Toán
  • Hạch Toán Kế Toán Là Gì Và Bản Chất Của Hạch Toán Kế Toán
  • Trung Thực Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Trung Thực
  • Quang Hợp Ở Thực Vật Là Gì? Ý Nghĩa Của Chúng Mang Lại Cho Sự Sống
  • Bàn Về Khái Niệm Đời Sống Văn Hóa Và Môi Trường Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Hóa Và Môi Trường
  • Định Nghĩa Và Khái Niệm Văn Hóa Môi Trường, Tầm Quan Trọng, Ví Dụ / Môi Trường
  • Xây Dựng Môi Trường Văn Hoá Để Phát Triển Văn Hoá Và Con Người, Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh
  • Thêm Một Lần Bàn Về Văn Hóa Và Văn Minh
  • Tin tức – Sự kiện / Nghiên cứu trao đổi

    Bàn về khái niệm đời sống văn hóa và môi trường văn hóa

    Qua phân tích các văn bản định hướng của Đảng và ý kiến của một số nhà nghiên cứu, bài viết đưa ra thời điểm xuất hiện và quan niệm về các cụm từ đời sống văn hóa, môi trường văn hóa. Nội hàm môi trường văn hoá rộng hơn đời sống văn hoá. Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống. Môi trường văn hoá đề cao vai trò chủ động của con người trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Xây dựng đời sống văn hoá là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm các yếu tố văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, môi trường tự nhiên và trên hết là những con người hiện diện văn hoá.

    Những năm gần đây, trong nhiều bài viết, giới nghiên cứu văn hoá có nói tới hai cụm từ đời sống văn hoá môi trường văn hoá. Nội hàm hai cụm từ trên như thế nào đang là vấn đề đặt ra, cần sự thống nhất về nhận thức, đồng thời làm rõ sự khác biệt của hai cụm từ trên chính là tạo sự thuận lợi cho nhận thức và hành động trong triển khai xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

    thái độ ứng xử với cái cũ, cái mới trong đời sống của nhân dân một cách hợp tình, hợp lý: ” Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết. Không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay, thì phải làm…“.

    Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “mới” thay cho từ “văn hoá” để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá. Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ “mới” được hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con người. Ví dụ ngày 15/1/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 214/CT-TW về việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội. Văn kiện Đại hội IV (1976) của Đảng: “Ra sức xây dựng nền văn hoá mới, từng bước xây dựng nước ta thành một xã hội văn hóa cao”. Năm 1980, Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương được thành lập ở các cấp để chỉ đạo vận động xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới.

    Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, đoạn viết: “Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hoá (tác giả nhấn mạnh) ở các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân

    tộc, ở miền núi và hải đảo”. Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá ngày một sáng tỏ. Năm 1987, cuốn sách Năm 2007, cuốn Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa”. Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Namđã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người”. Năm 2000, cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”.

    Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến:

    – Đời sống vật chất: đảm bảo yếu tố cho người đó sinh tồn.

    – Đời sống tinh thần: nhằm thỏa mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí, nghị lực, tư tưởng của người đó.

    – Đời sống xã hội: xã hội hình thành nhân cách con người. Bản thân mỗi người đều muốn sống với cộng đồng, thông qua cộng đồng để chứng minh, khẳng định phẩm chất, năng lực của mình và hoàn thiện bản thân.

    Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người. Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. Đó là quá trình các yếu tố văn hóa mà con người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhu cầu chủ quan đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chính cuộc đời mình.

    Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa. Kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng định những giá trị mới.

    Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính đổi mới, bởi lẽ con người luôn luôn có khát vọng vươn lên cái tốt đẹp, chỉ có mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn cải đổi mới mong đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người.

    Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người.

    do A.I. Ác-môn-đốp chủ biên, dịch từ tiếng Nga và được Nhà xuất bản Văn hoá xuất bản đưa ra quan niệm: ” Cơ sở lý luận văn hoá Mác – Lênin Môi trường văn hoá là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hoá, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hoá không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hoá“.

    Quan niệm trên chỉ cho rõ hai thành tố quan trọng của môi trường văn hoá:

    1. Những yếu tố vật thể (vật thể tự nhiên và vật thể nhân tạo).

    2. Nhân cách (có thể hiểu là hành vi văn hoá biểu hiện ở cộng đồng người và cá thể người).

    Hai thành tố này ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo, hưởng thụ, phổ biến các giá trị văn hoá và ý chí vươn lên của con người hướng tới chuẩn mực giá trị nhất định.

    Ở một góc nhìn khác, tác giả Đỗ Huy cho rằng ” Môi trường văn hoá chính là môi trường nhân hóa” và từ góc nhìn giá trị học nhấn mạnh vai trò của con người: ” Môi trường văn hoá chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình“.

    Từ định hướng trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng và từ thực tiễn sinh động của các phong trào văn hóa những năm đầu 90 (thế kỷ XX): phong trào xây dựng gia đình văn hóa; làng, bản, ấp văn hóa; khu dân cư tiên tiến; môi trường văn hóa trong quân đội…, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) đã đề ra 10 nhiệm vụ cơ bản xây dựng nền văn hóa Việt Nam, xếp nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa ở vị trí thứ hai sau nhiệm vụ xây dựng con người. Nghị quyết đặt ra mục tiêu của việc xây dựng môi trường văn hóa là: ” Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội…), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi…) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân“. Đồng thời Nghị quyết trên cũng chỉ ra những vấn đề quan tâm cụ thể của xây dựng môi trường văn hóa là: “Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai

    trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh. Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân.

    Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật “.

    – Xây dựng đời sống văn hoá ở các đơn vị cơ sở

    – Xây dựng gia đình, cộng đồng dân cư văn hoá

    – Xây dựng nếp sống văn minh

    – Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá.

    – Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức, phong trào văn hoá, văn nghệ.

    Nội dung nêu trên chưa làm rõ thành tố nhân cách và môi trường tự nhiên trong xây dựng môi trường văn hoá. Những thiếu sót này đã được bổ sung trong nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh nêu trong Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (2014). Đảng ta đã tiếp thu lý luận về phát triển bền vững của tổ chức UNESCO, bao gồm 3 trụ cột cơ bản: kinh tế bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững hướng tới mục tiêu làm cho con người phát triển toàn diện. Nghị quyết Trung ương 9 đã nêu hẳn một quan điểm chỉ đạo: “Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng” và trong nội dung xây dựng môi trường văn hóa đã nhấn mạnh vấn đề nhân cách văn hóa, bảo vệ môi trường tự nhiên: “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.

    Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ”.

    Như vậy, thông qua việc khảo sát các văn bản thể hiện quan điểm của Đảng về môi trường văn hoá, có thể nhận ra rằng tư duy của Đảng về môi trường văn hoá ngày một sáng rõ. Nội hàm môi trường văn hoá rộng hơn đời sống văn hoá. Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống, nhằm thoả mãn khát vọng hưởng thụ và sáng tạo văn hoá. Môi trường văn hoá đề cao vai trò chủ động của con người với tư cách là sản phẩm của văn hoá đồng thời là chủ thể sáng tạo văn hoá trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, tạo sự ổn định, phát triển, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng sống của con người. Xây dựng đời sống văn hoá là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm các yếu tố văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, môi trường tự nhiên và trên hết là những con người hiện diện văn hoá.

    Tóm lại , môi trường văn hoá được hiểu với nghĩa rộng nhất của nó là sự hiện hữu các yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể do con người tái tạo ra; sự hiện hữu của cả những yếu tố vật thể tự nhiên bao quanh con người, trở thành khung cảnh và điều kiện tồn tại của con người; sự hiện diện của các nhân cách văn hóa trong không gian, thời gian xác định, quan hệ, tác động lẫn nhau hướng con người tới những chuẩn mực giá trị xã hội./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Văn Hóa An Toàn Lao Động Tại Các Doanh Nghiệp Việt Nam Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Xây Dựng Văn Hóa An Toàn Lao Động Trong Doanh Nghiệp
  • Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Vĩnh Sơn Sông Hinh
  • Ẩm Thực Là Gì? Tìm Hiểu Về Ẩm Thực Là Gì?
  • Giáo Trình Văn Hóa Ẩm Thực
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • TMT: Loài người đã và đang có một lịch sử văn hóa dài lâu trải qua biết bao thế hệ. Một học giả trong một nỗ lực tìm định nghĩa về Văn hóa có viết: “Văn hoá như là: Tất cả những nỗ lực của muôn thế hệ nhân quần để vươn lên cho tới tinh hoa hoàn thiện, cho tới một đời sống lý tưởng về một phương diện nào hay về mọi phương diện, và tất cả những công trình đã thực hiện được, những giai đoạn đã vượt qua được trên bước đường tiến hoá ấy . Ở bài này Nhà nghiên cứu Chu Tấn cũng đã dày công tập hợp 25 định nghĩa về Văn hóa để giúp người đọc tiếp cận văn hóa theo những chiều hướng khác nhau cũng không ngoài mục đích để văn hóa dẫn lối, đưa đường chúng ta vững bước trên con đường tiến hóa đến tinh hoa, hoàn thiện.

    I- Nhận Định Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa Tiêu Biểu:

    Điều biểu hiện rõ nhất của văn hóa chính là sự lựa chọn (Thí dụ về cách ăn: Có dân tộc thích ăn bốc, người Việt ăn bằng đũa, người Tây Phương ăn bằng thìa, dao nĩa v.v…- Thí dụ về cách đối xử với người chết: cũng có những chọn lựa khác nhau: địa táng (chôn dưới đất) thủy táng (thả xuống nước) hỏa táng (đốt thành tro) điểu táng (để xác cho chim ăn thịt) ướp xac, tượng táng (biến xác chết thành pho tượng, quét sơn lên để giữ gìn v.v…) Không thể nói kiểu chọn lựa nào hay hơn kiểu chọn lựa nào vì đều là phương cách biểu hiện văn hóa của mỗi cá nhân hay của một dân tộc…

    Tuy nhiên văn hóa, không chỉ là “quan hệ”- “giao tiếp”- và “chọn lựa” mà còn nhiều “tác năng” và “chức năng” khác nữa ….. Do đó chúng ta thấy rằng định nghĩa văn hóa theo” Thao tác luận ” khá hay và độc đáo, nhưng chính “Thao tác luận” cũng bị “giới hạn” bởi chính :phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa!!! chẳng phải thế sao?

    : của Văn Hào Pháp André Malraux (1901-1976). ” Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Mười Tám Văn Hóa là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít nô dịch hơn”(19)

    Hen de Man định nghĩa: ” Văn Hóa là một lề lối sống dựa trên một niềm tin công cộng, vào một hệ thống và một tôn ti, trật tự, thứ bực giá trị làm cho đời sống có một ý nghĩa nhất định” (21).

    : của Liton. ” Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Hai Mốt Văn hóa của một xã hội là lề lối sống của các phần tử trong xã hội ấy. Đó là toàn bộ những ý tưởng và tập tục mà họ đã thâu lượm, chia sẻ và lưu chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.Văn hóa đem lại cho mỗi người của mỗi thế hệ những cách giải quyết hữu hiệu và lập thành về tất cả các vấn đề mà họ sẽ gặp phải. Những vấn đề này được nêu lên vì những nhu cầu sống trong một đoàn thể có tổ chức” (22).

    Riêng về định nghĩa Văn Hóa tác gỉa viết: “Nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở chỗ coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận. E,B Taylor định nghĩa văn hóa như một ” phức hợp (Chu Tấn in đậm) bao gồm trí thức tín ngưỡng, nghệ thuật đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội… tiếp thu được” Định nghĩa văn hóa trong các loại tự điển, các công trình nghiên cứu …thường mở đầu bằng câu ‘Văn Hóa là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các gía trị”… Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học-khi mà văn hóa chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập”

    Văn Hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,(tác giả TNT ghi đậm) trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình ” (25).

    Trước hết T.S Trần Ngọc Thêm “chê” các định nghĩa về văn hóa từ tlâu nay đều có nhược điểm (ChuTấn in đậm) là coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần (?) của những trí thức bộ phận…điển hình như định nghĩa văn hóa của E.B Taylor …các định nghĩa lâu nay (?) đều có tính cách ” cảm tính ” (Chu Tấn in đậm)

    Trước hết chúng tôi thấy tác giả Trần Ngọc Thêm chê các nhà nghiên cứu văn hóa trước ông như Lê Quí Đôn, Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh, Lê Văn Siêu, hay Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương (1989) chúng tôi định nghĩa về văn hóa đều mắc bênh “tản mạn, không nhìn ra tính hệ thống, tính qui luật của văn hóa”? Lời phê bình này của tác giả Trần Ngọc Thêm không những là ” phiến diện” mà còn mang tính ” hàm hồ” vì chính tác giả Trần Ngọc Thêm vô tình hay hữu ý đã đánh mất đi tinh nghĩa hay cái hồn của văn hóa! Điều chúng ta không phủ nhận là văn hóa -nhất là ” Văn Hóa Lý tính” ” Văn Hóa Nhận Thức” mang tình hệ thống , hay tính qui luật , nhưng còn ” Văn Hóa Nghệ Thuật,” Văn HóaTình Yêu” hay “Văn Hóa Tâm Linh“… không hề mang tính “Hệ Thống” hay Tính “Qui luật: nào cả! Vậy mà tác giả Trần Ngọc Thêm lại đem tính “Hệ Thống” ra để định nghĩa Văn Hóa tổng quát nói chung thì có phải là ” khiên cưỡng”, “phiến diện” hay “quáng gà “hay không?

    Tác giả Trần Ngọc Thêm sau khi “chê:” các nhà nghiên cứu Văn Hóa trong nước, chê luôn các nhà nghiên cứu văn hóa thế giời tiêu biểu như Edward Bernett Tylor khi ông định nghĩa văn hóa là “một Tổng Thể Phức Hợp vì bao gồm nhiều thành tố như kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức,luật pháp, Phong tục tập quán…..” Phải chăng Trần Ngọc Thêm không những không đồng ý với định nghĩa Văn hóa là một ” Tổng thể” lại còn là Tổng Thễ Phức Hợp” mà ông cho rằng là một “phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận …” nên có nhược điểm “không biết tổng quát hóa thành Hệ Thống” vì lý do “Cảm Tính” hay vì giới hạn lịch sử, khi khoa “Văn Hóa Học” chưa ra đời như một bộ môn Văn Hóa chuyên ngành có tính cách độc lập nổi bật như hiện nay. Lối “chê” này của Trần Ngọc Thêm vừa mang tính chủ quan “phiến diện” vừa mắc bệnh “duy lý” đến mức “quá đà” khi cho rằng bất cứ loại hình văn hóa nào cũng có thể ” tổng quát hóa” “qui luật hóa” thành “Hệ Thống” Điều mà TS Trần Ngọc Thêm không biết rằng yếu tính hay bản chất văn hóa vừa có tính chất ” hệ thống” vừa ” phi hệ Thống” vừa ” siêu hệ thống” .Chính vì yếu tính diệu kỳ này nên học giả Lowell đã thú nhận rằng: ” Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hóa, nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu, mông lung hơn là danh từ văn hóa. Người ta không thể phân tách văn hóa,vì thành phần nó vô cùng tận…Người ta không thể mô tả văn hóa vì nó muôn mặt .Muốn cô đọng ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì cũng như tay không bắt không khí :Ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm được gì …” (26))

    Về cách tiếp cận “cấu trúc” kết hợp với phương pháp so sánh loại hình mà tác giả Trần Ngọc Thêm đã áp dụng khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy gì? Theo dòng tiến hóa của lịch sử, càng ngày nhân loại càng tìm tòi sáng tạo ra những đường hướng mới, phương pháp khám phá mới về văn hóa .Đây là những bứớc tiến mới rất đáng mừng, rất đáng hoan nghênh, nhưng khi nhà nghiên cứu văn hóa chọn lựa và áp dụng bất kỳ một phương pháp mới nào thì phải hiểu rằng “Đường lối hay phương pháp mà mình áp dụng chỉ là “Phương tiện” để khám phá chân lý văn hóa mà thôi -có thể phương pháp tân tiến này hay hơn các phương pháp nghiên cứu văn hóa cũ – nhưng chỉ hay hơn về phương pháp – nói theo thuật ngữ Phật giáo là “Phương tiện thiên xảo” hơn các phương tiện khác mà thôi, chứ không thể tôn vinh một phương pháp tân tiến nào như là cùng đích của văn hóa có thể giúp mình nắm chân lý Văn Hóa ở trong tay!Thái độ quá tin tưởng trở thành “cực đoan”, “hãnh tiến” hay “kiêu ngạo” này rất nguy hiểm ! vì mang tính chất bạo động với chân lý ! Những ai mắc phải thái độ hãnh tiến vô lối này thì thường đi từ một cực đoan này tiến sang một cực đoan khác, vừa không khám phá ra chân lý hoặc chỉ ôm lấy những “mặt trời mù” thay vì tìm ra Chân Lý đích thực của Văn Hóa! Thực vậy, ngay cả những nhà nghiên cứu sáng tạo ra trường phái “Cấu trúc” hay phương pháp so sánh loại hình cũng chưa ai lên tiếng định nghĩa “Văn Hóa là một Hệ Thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần…..” như Trần Ngọc Thêm đã khẳng định ! Dĩ nhiên đây không là lỗi tại “đường hướng” hay “phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa để nghiên cứu văn hóa nhưng chỉ là thái độ “Bảo hoàng hơn Vua” do óc phê phán chủ quan phiến diện của tác giả mà ra nông nỗi!!! Lối định nghĩa văn hóa khẳng định chắc nịch bao quát tất cả các loại hình văn hóa theo kiểu Trần Ngọc Thêm không những không thuyết phục được mọi người mà còn có tác dụng làm khô cứng làm thui chột, và đánh mất “Hồn tính” của văn hóa vậy. Khi định nghĩa văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần của con người …..” là tác giả đã vô tình thu hẹp các bảng giá trị văn hóa nhân loại vào trong hệ thống “Nhị giá” “vật chất” và “tinh thần” trong khi giá trị Văn hóa nhân loại là “Đa giá” không phải chỉ có giá trị “vật chất” và “tinh thần” mà thôi đâu! Thí dụ như nền văn Hóa Đông phương hay nói “Văn Hóa Tuệ Giác”, “Văn Hóa Bát Nhã” hay “Văn Hóa Tính Không” thì không thể cô đọng trong một hệ thống nào cả! vì bản chất nó là phi vật chất, phi ý niệm chúng tôi phi tưởng và hơn thế nữa bản chất nó đã là ” Tánh Không“…..” Bản Lai Vô nhất Vật” như lời phát biểu của Lục Tổ Huệ Năng…. Chỉ cần đơn cử một hai thí dụ như trên chúng ta thất ngay sự phiến diện, thiếu sót quá đáng hay sự ” thiển cận quáng gà ” về nhân thức Văn Hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm!

    Văn hóa là hiện tính của Sự Sống và là tinh hoa của Đạo Sống con người.Văn hóa thường biểu hiện trên hai mặt Động và Tĩnh..Xét về “phương diện TĨNH” Văn hóa là trạng thái thích nghi với hoàn cảnh,ứng xử với tha nhân,làm thành “thói quen”,”nếp nghĩ” “nếp sống”,”phong tục tập quán”,”thuần phong mỹ tục”, hình thành các “giá trị truyền thống” của cả dân tộc “truyền thừa” cho các thế hệ sau…. Xét về “phương diện ĐỘNG” Văn hóa là động lực tiến hóa cá nhân và xã hội, hướng tới dự phóng tương lai theo tiến trình “Dung Hóa” “Sáng Hóa” và “Sống Hóa” sự sống con người, dân tộc, thế giới và thời đại.Văn hóa không những có sứ mệnh giáo hóa con người mà còn có sứ mệnh giải thoát con người,xây dựng xã hội, gìn giữ Hòa Bình và xây dựng nền “Thái Hóa Nhân Loại”(Xin xem “Sứ Mệnh Văn Hóa cũng trong Tuyển Tập này).

    II- Những Ghi Nhận Cần Lưu Tâm Và Đào Sâu Hơn Nhằm Phát Huy Tập Đại Thành Văn Hóa Việt Nam.

    Tính Sáng Tạo: Nhà văn hào André Mailraux đã cô đọng văn hóa trong 3 phạm trù : NGHỆ THUẬT, TÌNH YÊU VÀ SUY NGHĨ -hay Tư duy,- nhận thức-,tư tưởng – (Xin độc giả xem lại Định nghĩa văn hóa thứ 18 đã nói ở trên) Phạm trù “Suy nghĩ” sẽ hình thành “Văn hóa Nhân Thức” mà con người có thể “khái quát hóa” và “hệ Thống hóa: mà đặc điểm nổi bật là Tính Hệ Thống. Song còn 2 phạm trù lớn kia là ” Nghệ Thuật” và ” Tình Yêu” thì không ai có thể “khái quát hóa” hay “hệ thống hóa” được cả ! Tất cả mọi “hệ thống” đều thất bại thảm thương! và hoàn toàn xa lạ với 2 phạm trù này! Nó không chỉ là Lỗ Hổng Lớn mà là Chân Trời Viễn Mộng, hay Vũ Trụ Mộng Mơ, là Mạch Sống Vô Hình hay Hồn Tính Của Văn Hóa… làm nên Gía Trị Tuyệt Vời Vô Giá của Văn Hóa. Với hai phạm trù “Nghệ Thuật” và “Tình Yêu” người ta không thể định nghĩa được, nhưng con người có thể Cảm Nhận được, có thể “hòa đồng” và “cảm thông” trọn vẹn. Biên giới giữa “chủ thế” và “khách thê”không còn nữa mà cả hai đã trở thành một. Nói về tình yêu nam nữ là cả hai đã “phải lòng nhau” “mê đắm nhau”… Tính cảm thông, hòa đồng sâu sắc trọn vẹn trong nghệ thuật đó là “Tính Sáng Tạo” và là “Tính Nhập Thể”trong Tình yêu đôi lứa cũng như tình yêu huyền nhiệm tôn giáo . ” Anh với Em là Một” “Ta với Vũ Trụ không hai”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Văn Hóa Bản Địa Trong Xây Dựng Môi Trường Cư Trú Truyền Thống
  • Bài Viết Một Số Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Văn Hóa Truyền Thông
  • Về Tính Văn Hóa Trong Báo Chí
  • Văn Hóa Pháp Luật Của Phóng Viên Báo Chí: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100