Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác
  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco, Định Nghĩa Unesco Về Tin Tức, Tiêu Chí Của Unesco, Các Tiêu Chí Đánh Giá Di Sản Của Unesco, Quan Niệm Của Unesco Về Văn Hóa, Quan Niệm Văn Hóa Của Unesco, Nghị Quyết Unesco Về Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Tiêu Chí Được Unesco Công Nhận, chúng tôi ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa Cảm ơn, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa 2 Góc Kề Bù, Định Nghĩa Rác, Nêu 1 Số Định Nghĩa Về Văn Hóa, Định Nghĩa Iso, Định Nghĩa Cái Tôi, Định Nghĩa R&b, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Phụ Nữ, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa Y Đức, ý Nghĩa Của Quy Định 55, Định Nghĩa Bồ, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa It, Định Nghĩa C, Định Nghĩa C/o, ý Nghĩa Của Quy Định Số 08-qĐi/tw, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa I, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa 1 Chữ Bạn, Định Nghĩa 0 Là Gì, Định Nghĩa, Định Nghĩa Số 0, Định Nghĩa Số 0 Hải Đồ, Định Nghĩa Số Hữu Tỉ, Định Nghĩa Iq, Từ Định Nghĩa Là Gì, 8/3 Định Nghĩa, Định Nghĩa Ete, Định Nghĩa E Hóa Trị, Định Nghĩa 1 Kg, Định Nghĩa 1 Mét, ý Nghĩa Của Quy Định 08, Đất ở Định Nghĩa, Định Nghĩa Ip, Định Nghĩa 2 Chữ Bạn Bè, Định Nghĩa 1m, Định Nghĩa 14/2, Định Nghĩa 14 2, Định Nghĩa Iot, Bài 1 Các Định Nghĩa, Định Nghĩa Rủi Ro, Định Nghĩa 1 Từ, Định Nghĩa S M, Từ Quy Định Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Quy Định 08, Định Nghĩa Sốt, Định Nghĩa ăn Tạp, Định Nghĩa ất ơ, Định Nghĩa E=mc2, Định Nghĩa âm On Và âm Kun, Định Nghĩa âm Đệm, Định Nghĩa Bạn Bè, Định Nghĩa Lim, Định Nghĩa 9x, Định Nghĩa 80/20, Định Nghĩa 8/3, Định Nghĩa Bạn Thân, ý Nghĩa Quy Định 55-qĐ/tw, Định Nghĩa 8 3, Định Nghĩa Số 9, Định Nghĩa Art, Định Nghĩa Lời Cảm ơn, Định Nghĩa Máy 99, Định Nghĩa Ma Túy, Định Nghĩa An Lạc, Định Nghĩa ân Hạn Nợ, Định Nghĩa ân Hạn, Định Nghĩa M&a, Định Nghĩa ăn Vặt, Định Nghĩa M/s, Định Nghĩa ăn, Định Nghĩa âm Vị, Định Nghĩa N*,

    Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco, Định Nghĩa Unesco Về Tin Tức, Tiêu Chí Của Unesco, Các Tiêu Chí Đánh Giá Di Sản Của Unesco, Quan Niệm Của Unesco Về Văn Hóa, Quan Niệm Văn Hóa Của Unesco, Nghị Quyết Unesco Về Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Tiêu Chí Được Unesco Công Nhận, chúng tôi ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa Cảm ơn, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa 2 Góc Kề Bù, Định Nghĩa Rác, Nêu 1 Số Định Nghĩa Về Văn Hóa, Định Nghĩa Iso, Định Nghĩa Cái Tôi, Định Nghĩa R&b, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Phụ Nữ, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa Y Đức, ý Nghĩa Của Quy Định 55, Định Nghĩa Bồ, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa It, Định Nghĩa C, Định Nghĩa C/o, ý Nghĩa Của Quy Định Số 08-qĐi/tw, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa I, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa 1 Chữ Bạn, Định Nghĩa 0 Là Gì, Định Nghĩa, Định Nghĩa Số 0, Định Nghĩa Số 0 Hải Đồ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Y Học Bản Địa Là Gì?
  • Định Nghĩa Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Văn Hóa Lãnh Đạo, Quản Lý Trước Yêu Cầu Đổi Mới Và Phát Triển Xã Hội Hiện Nay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp, Doanh Nhân
  • Mỗi đất nước, quốc gia, hay vùng lãnh thổ sẽ có nền văn hóa, phong tục tập quán mang bản sắc riêng. Trong đó, có lẽ văn hóa là điều quan trọng nhất. Văn hóa là gì? Thế nào là chuẩn mực văn hóa theo Unesco? Nếu bạn đang quan tâm đến khái niệm này, chúng tôi sẽ giúp bạn giải đáp qua bài viết ngay sau đây.

    Văn hóa là gì?

    Văn hóa được chia làm 2 loại: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện qua các sản phẩm. Còn văn hóa tinh thần là tổng thể các lý luận và giá trị được con người sáng tạo trong các hoạt động, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối các hoạt động ứng xử, kỹ năng của con người tích lũy theo từng giai đoạn lịch sử.

    Ngoài cách giải nghĩa văn hóa là gì như trên, theo giáo sư tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm giải thích ý nghĩa khái niệm văn hóa như sau. Văn hóa được hiểu theo 2 cách chính là nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, từ văn hóa được giới hạn theo chiều sâu là giá trị tinh hoa của nó qua nghệ thuật, nếp sống.

    Còn theo chiều rộng, nó được dùng để chỉ giá trị trong từng lĩnh vực như giao tiếp, kinh doanh. Giới hạn theo không gian thì cụm từ này dùng để chỉ giá trị đặc thù của từng vùng như Bắc bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ… Giới hạn theo thời gian, văn hóa chỉ giá trị trong từng giai đoạn lịch sử như văn hóa Hòa Bình…

    Văn hóa là gì theo nghĩa rộng được hiểu là bao gồm tất cả những gì con người làm ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết rằng: ” Vì lẽ sinh tồn, loài người đã sáng tạo ra ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, cách sống… Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa “.

    Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và đòi hỏi của sự sinh tồn. Định nghĩa về văn hóa của chủ tịch Hồ Chí Minh giúp ta hiểu rõ hơn về khái niệm này. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người, trước hết là vì lẽ sinh tồn.

    Nhưng sau một thời gian dài lặp đi lặp lại, những thói quen đó đã được chắt lọc thành chuẩn mực, tích lũy từ đời này qua đời khác. Cuối cùng thành một kho tàng quý giá của mỗi cộng đồng và góp lại thành di sản văn hóa.

    Một định nghĩa khác về văn hóa, theo tổng giám đốc UNESCO giải thích như sau: “Đối với một số người, văn hóa chỉ là những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy sáng tạo. Còn những người khác thì cụm từ này có nghĩa là sự khác biệt giữa các dân tộc, từ phong tục tập quán, lối sống và tín ngưỡng”.

    Thế nào là chuẩn mực văn hóa theo Unesco?

    UNESCO đã đưa ra định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng tể các hoạt động cũng như sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Trải qua các thể kỷ, những hoạt động đó đã tạo nên một giá trị truyền thống riêng – đó là yếu tố xác định các đặc tính của từng dân tộc.”

    Định nghĩa này nhấn mạnh vào chuẩn mực văn hóa theo Unesco là sự sáng tạo của con người luôn gắn liền với quá trình lịch sử của mỗi dân tộc trong một thời gian dài. Điều này đã tạo nên những giá trị nhân văn chung, tính đặc thù của mỗi nơi và bản sắc riêng của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Định Nghĩa United Nations Eductional, Scientific And Cultural Organization (Unesco) / Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa Của Liên Hợp Quốc (Unesco) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Unlimited Supplies Of Labor / Nguồn Cung Lao Động Không Giới Hạn Là Gì?
  • Định Nghĩa Unorganized Money / Thị Trường Tiền Tệ Phi Tổ Chức Là Gì?
  • Định Nghĩa Unrealized Capital Gains / Lợi Nhuận Chưa Thu Từ Tài Sản Là Gì?
  • Định Nghĩa Corporate Governance / Quản Trị Công Ty Là Gì?
  • Định Nghĩa Municipal Securities Rulemaking Board (Msrb) / Ủy Ban Quy Tắc Chứng Khoán Đô Thị Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Một tỏ chức quan trọng của liên hợp quốc chịu trách nhiệm tăng cường sự hiểu biết quốc tế bằng cách phổ biến các ý tưởng, kiến thức thông qua quá trình giáo dục, khuyến khích sự đồng hiện diện đa chủng tộc (multiracial coexistence), qua sự hòa hợp các giá trị văn hóa của các xã hội khác nhau, và tài trợ cho các chương trình giáo dục, văn hóa và khoa học, tạo khả năng cho các nhà giáo dục, nghệ sĩ, văn sĩ, và các nhà khoa học từ các quốc gia và các nền văn hóa gặp gỡ và trao đổi ý tưởng và kiến thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa United States Agency For International Development (Usaid) / Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Của Hoa Kỳ (Usaid) Là Gì?
  • Định Nghĩa United Nations Conferences On Evironment And Development (Unced) / Ủy Ban Về Môi Trường Và Phát Triển Của Liên Hợp Quốc Là Gì?
  • Định Nghĩa Unitary Elastic / Độ Đàn Hồi Đơn Vị Là Gì?
  • Định Nghĩa Underdevelopment Trap / Bẫy Kém Phát Triển Là Gì?
  • Định Nghĩa Unitary System / Hệ Thống Đơn Nhất Là Gì?
  • Văn Hóa Là Gì Theo Unesco Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Hình Thành Văn Hóa Giao Thông Ở Việt Nam Nhằm Nâng Cao Trật Tự An Toàn Giao Thông Đường Bộ
  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông
  • 40 Điều Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Nhân Học Văn Hóa (E. B. Tylor, 1871)
  • Văn hóa là gì?

    1. Theo UNESCO đã đưa ra định nghĩa năm 2002

    ‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.

    Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế.

    2. Theo Hồ Chí Minh đưa ra năm 1943

    “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.

    Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.

    • Theo nghĩa rộng: Hồ Chí Minh nếu văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra. “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
    • Theo nghĩa hẹp: văn hoá là những giá trị tinh thần. Người viết: Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945).
    • Theo nghĩa rất hẹp: văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người được đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ỏ việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”…

    3. Ở một góc độ khác

    Người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

    Văn hóa vật chất: Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, thắng cảnh Hạ Long, động Phong Nha, trang phục áo dài truyền thống, bánh chưng – bánh tét trong ngày Tết, vườn quốc gia Phong Nha – Kẽ Bàng, nhà rông Tây Nguyên

    Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng, mà qua đó xã hội định hướng hành vi của các thành viên. Trên góc độ xã hội học, những chuẩn mực văn hóa quan trọng được gọi là chuẩn mực đạo đức và những chuẩn mực văn hóa ít quan trọng hơn được gọi là tập tục truyền thống.

    Do tầm quan trọng của nó nên các chuẩn mực đạo đức thường được luật pháp hỗ trợ để định hướng hành vi của các cá nhân (ví dụ: hành vi ăn cắp là vi phạm chuẩn mực đạo đức, ngoài việc bị xã hội phản ứng một cách mạnh mẽ, luật pháp còn quy định những hình phạt có tính chất cưỡng chế).

    Chuẩn mực văn hóa khiến cho các cá nhân có tính tuân thủ và phản ứng tích cực (phần thưởng) hay tiêu cực (hình phạt) của xã hội thúc đẩy tính tuân thủ ấy. Phản ứng tiêu cực của xã hội trước những vi phạm chuẩn mực văn hóa chính là cơ sở của hệ thống kiểm soát văn hóa hay kiểm soát xã hội mà qua đó bằng những biện pháp khác nhau, các thành viên của xã hội tán đồng sự tuân thủ những chuẩn mực văn hóa.

    Ngoài phản ứng của xã hội, phản ứng của chính bản thân cũng góp phần làm cho những chuẩn mực văn hóa được tuân thủ. Quá trình này chính là tiếp thu các chuẩn mực văn hóa, hay nói một cách khác, hòa nhập chuẩn mực văn hóa vào nhân cách của bản thân.

    Bản sắc văn hóa

    Ví dụ: Bản sắc văn hóa có thể biểu hiện qua gu quần áo hay các dấu hiệu thẩm mĩ

    Chủ thể văn hóa là cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân sở hữu, thực hành và sáng tạo di sản văn hóa phi vật thể;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Định Hướng “văn Hóa Công Vụ” Trong Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh Ninh Thuận
  • Xác Lập Triết Lý Văn Hóa Công Vụ Trong Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • 04 Nội Dung Chuẩn Mực Của Văn Hóa Công Vụ
  • Văn Hóa Công Vụ Và Đạo Đức Công Vụ Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Trong Tiến Trình Hướng Đến Tính Chuyên Nghiệp Phục Vụ Nhân Dân
  • Xây Dựng Văn Hóa Công Vụ Trong Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Hiện Nay
  • Định Nghĩa Văn Hóa Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Y Học Bản Địa Là Gì?
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Có nhiều định nghĩa khác nhau của văn hóa doanh nghiệp, mặc dù gần như tất cả những người được chấp nhận rộng rãi nhất là tương tự và bao gồm nhiều khía cạnh tương tự.

    – Gareth Morgan đã mô tả văn hóa doanh nghiệp như: “Các thiết lập của niềm tin, giá trị, và các định mức, cùng với các biểu tượng như các sự kiện và các cá nhân, đại diện cho nhân vật duy nhất của một doanh nghiệp, và cung cấp bối cảnh cho hành động ở trong đó . ” Niềm tin và giá trị là những từ sẽ xuất hiện thường xuyên trong các định nghĩa khác. Định mức có thể được mô tả như truyền thống, cấu trúc của cơ quan, hoặc thói quen.

    Một cách khác đơn giản hơn nhìn vào văn hóa doanh nghiệp là để xem nó như là phản ứng chung của một nhóm để kích thích kinh tế. Một nền văn hóa doanh nghiệp là một nhóm người đã được đào tạo, hoặc chỉ đơn giản là đã học được bởi những người xung quanh, làm thế nào để hành động trong bất kỳ tình huống nào. Bằng cách này, văn hóa doanh nghiệp có chức năng giống như bất kỳ xã hội học tập.

    Các khía cạnh khác của văn hóa doanh nghiệp mà thường đúng sự thật là nó trở nên bắt rễ sâu. Đó là bản sắc của một công ty, và vì lý do đó, trong một số cách, nó sẽ trở thành một bản sắc của những người làm việc ở đó. Điều này luôn luôn là quan trọng để nhớ, như văn hóa trở thành giống như một đối số tròn. Những người dân sẽ ảnh hưởng đến văn hóa như văn hóa ảnh hưởng đến họ.

    Bởi vì nền văn hóa được bắt rễ sâu trong lịch sử doanh nghiệp của sự thành công hay thất bại, và bởi vì kinh nghiệm của nó, bất kỳ doanh nghiệp mà cần phải làm việc để thay đổi nó sẽ phải đối mặt với một trận chiến khó khăn và đầu tư rất lớn trong thời gian, nguồn lực, và làm việc. Trong tình huống này, nó thường là tốt nhất để tìm thấy một số người bên ngoài chuyên nghiệp ít nhất là giúp đỡ những người không được tiếp xúc và hút vào những thói quen xấu của một nền văn hóa doanh nghiệp bất thường.

    Vì vậy, trong khi có nhiều định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp, tất cả trong số họ tập trung vào những điểm giống nhau: kinh nghiệm tập thể, thói quen, niềm tin, các giá trị, mục tiêu, và hệ thống. Đây là những kinh nghiệm và học được, thông qua ngày cho nhân viên mới, và tiếp tục như là một phần của bản sắc cốt lõi của công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Chi Tiết Môn Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Bộ Tài Liệu 110 Câu Tìm Từ Đồng Nghĩa
  • Bài Luận Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh
  • Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Bài 24: Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • Các Loại Từ Vựng Trong Tiếng Anh
  • Định Nghĩa Lại “văn Hóa Đọc”

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Đọc Cho Sinh Viên
  • Khái Niệm Axit Là Gì ?
  • Gene Vs. Allele: Sự Khác Biệt Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Gen Và Alen Là Gì?
  • An Ninh Trật Tự Là Gì? Bảo Vệ An Ninh Trật Tự Nước Ta Hiện Nay
  • Tựa như khoác lên mình chiếc áo quá khổ, cụm từ “văn hóa đọc” khiến người trẻ cảm thấy xa cách và không hấp dẫn. Để đọc sách trở thành một nhu cầu, họ cần một định nghĩa gần gũi hơn.

    Thị trường sách Việt nam khá phong phú về thể loại

    Có mặt tại buổi giao lưu với đề tài “Quyển sách thay đổi cuộc đời”, tổ chức vào thượng tuần tháng 2 vừa qua, ông Nguyễn Hữu Hoạt, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty Văn hóa Phương Nam, đã có nhận định khiến nhiều người giật mình. Nhân vật có thâm niên trong ngành xuất bản của Việt Nam này cho biết một thực tế: Sách nghiêm túc ngày càng ít người đọc.

    Là đại diện cho một đơn vị phát hành sách hàng đầu Việt Nam, thực tế phát hành cho phép ông nhận định như thế. Và đây đúng là một thực tế đáng buồn. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì?

    Theo blogger Dâu Tây (Joe), một người nước ngoài khá gắn bó với Việt Nam, thị trường sách tại Việt Nam khá nhỏ và việc đọc như một thói quen để có thể trở thành nét văn hóa là chưa có. Joe nhận thấy, mỗi đầu sách xuất bản tại Việt Nam tiêu thụ được tầm 20.000 cuốn đã là niềm sung sướng đối với người làm sách, nhưng ở Anh, sách được xem là bán chạy luôn cán mức vài triệu bản.

    “Đơn cử như ở tỉnh Nghệ An, dân số hơn 2,940 triệu người, nhưng số lượng sách tiêu thụ chỉ khoảng 100 bản/quyển. Điều này cho thấy mức độ tiếp cận sách của người Việt là không cao”, Joe nhận định.

    Đồng quan điểm, nhạc sĩ Quốc Bảo cũng cho rằng thị trường sách Việt Nam kém hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu bảo hiện nay người trẻ Việt Nam không màng đến việc đọc sách thì cũng không chính xác. Việc đọc vẫn đang tiếp diễn và người Việt vẫn đang đọc, đọc trên bản in, trên những ấn bản điện tử…

    Điều cần lưu ý là thời gian vừa qua, việc các đơn vị trong ngành xuất bản kêu gọi phát triển văn hóa đọc và đưa cụm từ này lên truyền thông dường như không mang lại hiệu quả và có phần phản tác dụng. Theo nhạc sĩ, việc đọc đơn giản phải diễn ra theo đúng nghĩa của nó: Đọc vì thích đọc, là nhu cầu tự nhiên như sự hít thở không khí…

    Bản thân là người yêu sách nhưng anh đọc không phải để tìm kiếm điều gì trong sách mà đối với anh, việc đọc đã là một nhu cầu. “Tôi xem việc đọc là thâm nhập vào tác phẩm và hiểu được tác giả, đồng cảm với nội tâm của những người có thể chưa từng quen biết. Thế nên, theo tôi, người làm sách đang thực hiện sứ mệnh mang cảm xúc đến với người khác”, anh chia sẻ.

    Không chỉ nhạc sĩ Quốc Bảo tỏ ra “nhạy cảm” với khái niệm này, diễn giả Trần Đăng Khoa cũng cho biết, anh rất thường đọc sách nhưng nghe đến “văn hóa đọc” là thấy cụm từ này có vẻ “cao siêu” làm sao.

    Là đại diện cho những người trẻ, anh cho rằng, để khuyến khích sự đam mê đọc sách thì nên hạn chế dùng cụm từ này. Thay vào đó, cần cho mọi người biết được tác dụng tốt của việc đọc và chỉ nên đọc những cuốn sách có nội dung tốt.

    “Đọc sách nhiều có thể giảm 35% các vấn đề về não, giảm căng thẳng. Một cuốn sách hay có thể giúp người ta sống tốt hơn. Theo thống kê, có đến 2/3 số người có thu nhập cao thường xuyên đọc sách. Vậy thì việc đọc mang lại giá trị cho độc giả hơn là người làm sách”, anh khẳng định.

    Dạo một vòng các nhà sách lớn, không khó để nhận ra sự phong phú về mặt thể loại của các đầu sách xuất bản tại Việt Nam. Nhưng đáng chú ý là sự xuất hiện ngày một nhiều các tác phẩm diễm tình hiện đại của Trung Quốc. Chủ yếu các tác giả của thể loại này đều xuất thân từ văn học mạng nên văn phong cũng như cách khai thác đề tài của họ khá “nóng”.

    Và giới trẻ Việt Nam đang nồng nhiệt đón nhận thể loại này. Tất nhiên, mỗi thể loại sách đều có giá trị riêng, không đơn thuần là giải trí, nhưng lựa chọn được cuốn sách tốt trong một rừng sách như hiện nay không còn là việc dễ dàng.

    Theo diễn giả Trần Đăng Khoa, ngày trước, sách xuất bản ít nhưng bù lại có những tác phẩm có giá trị rất lớn đối với người đọc. Điển hình như Thép đã tôi thế đấy đã làm thay đổi cả một thế hệ.

    Trong bối cảnh trăm hoa đua nở như hiện nay, sách xuất hiện đúng thời điểm với người đọc, tác động đến suy nghĩ của họ trong giai đoạn đó chính là cuốn sách thay đổi cuộc đời. Anh kể, những ngày ở Singapore, mới ra trường, đi học có học bổng nhưng vẫn phải mượn nợ.

    Tình cờ, Khoa được người bạn tặng cuốn sách cũ, đã được đọc đến nhàu nhĩ và ghi chú lại rất kỹ. Nội dung tập sách không quá xuất sắc nhưng đã giúp Khoa nhận ra một giá trị: Khi trẻ phải để cho bản thân biết ước mơ. Mơ để phá những xiềng xích trong lòng mình.

    “Sau khi đọc quyển sách ấy, tôi quyết tâm phải làm cho bản thân mạnh mẽ hơn”, Khoa kể. Sau 5 năm nhìn lại, Khoa thấy cuộc đời mình khác hẳn. Anh không còn mơ chuyện tăng lương hay trả hết nợ mà có những ước mơ khác, lớn lao hơn, đó là về Việt Nam lập công ty và phát triển sự nghiệp.

    Tương tự, với nhạc sĩ Quốc Bảo, năm 12 tuổi, anh vô tìm tìm được một cuốn sách cũ của cậu. Đó là một tập sách mỏng, đọc hết chỉ mất khoảng 3 tiếng đồng hồ nhưng từ đó đến nay anh đã đọc đi đọc lại tập sách này hơn 60 lần, bởi nó đã trở thành cẩm nang sống của anh. Anh chia sẻ: “Tập sách nuôi lửa nghệ thuật và truyền cảm hứng cho tôi suốt ngần ấy năm”.

    Không kể tên hai cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hai nhân vật kể trên, bởi có thể chúng có tác dụng với người này nhưng lại không có tác dụng với người khác. Điều quan trọng là cả hai nhân vật trên đều không chủ đích tìm kiếm giá trị từ cuốn sách mà họ đã đọc suốt cả cuộc đời như là một thói quen không thể bỏ được.

    “Chúng ta không thể ôm hết giá trị nhân văn của nhân loại. Do đó, đọc ít hay nhiều không quan trọng, mà chỉ cần cảm thấy hạnh phúc khi đọc là được. Sách không phải là của người đọc nó, mà là của người cần nó”, nhạc sĩ Quốc Bảo chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Kỹ Năng Đọc Và Đọc Hiểu
  • Booking Là Gì? Những Khái Niệm Về Booking Bạn Cần Biết
  • Khái Niệm Động Từ Khuyết Thiếu Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì
  • Chỉ Từ Là Gì? Khái Niệm Vai Trò Trong Câu & Ví Dụ
  • Unesco: Chính Sách Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Và Quá Trình Toàn Cầu Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Về Văn Hóa, Văn Nghệ
  • Vai Trò Của Văn Hóa, Văn Nghệ Trong Công Tác Tư Tưởng Ở Nước Ta
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hoá, Văn Nghệ
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Sinh Viên Tại Trường Đại Học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội
  • Yếu Tố Quan Trọng Trong Hoạt Động Marketing
  • phân chia thành hai phương diện đối lập nhau: phương Tây đối lập với không

    phương Tây, nam đối lập với nữ, tinh hoa đối lập với dân gian, hay vật thể đối

    lập với phi vật thể; trong mỗi trường hợp như vậy thì yếu tố trước bao giờ cũng

    được trọng vọng hơn yếu tố sau. Đặc biệt là với trào lưu hiện đại hóa và sự

    bành trướng của nền văn minh phương tây, các nền văn hóa phương tây thường được

    xem là hợp thời hơn, có giá trị hơn, và được coi trọng hơn những nền văn hóa

    không phương Tây – những nền văn hóa bị cho là lạc hậu và bị coi thường. Những

    quan niệm về sự khác biệt văn hóa này là kết quả của quá trình toàn cầu hóa văn

    hóa châu Âu và Mỹ, bởi vì các nền văn hóa không-phương-Tây không có được tầm

    ảnh hưởng lớn như vậy.

    lâu nay luôn bị coi là kém giá trị và kém quan trọng hơn văn hóa nam giới. Các

    nhà phê bình văn hóa cũng nhấn mạnh rằng văn hóa dân gian thường bị cho là cổ

    hủ, lạc hậu và đáng bị quên lãng.

    Di sản văn hóa phi vật thể cũng bị coi là kém quan trọng hơn di sản văn hóa vật

    thể. Mặc dù tổ chức UNESCO đã thông qua “Công ước bảo vệ các di sản thiên nhiên

    và di sản văn hóa” vào năm 1972, nhưng phạm vi của di sản văn hóa được quy định

    trong Công ước chỉ giới hạn ở những di sản văn hóa vật thể, chẳng hạn như Kim

    tự tháp ở Ai Cập hay Vạn lý trường thành ở Trung Quốc. Phải sau 31 năm sau, tức

    là vào năm 2003, công ước về di sản văn hóa phi vật thể mới được thông qua.

    Điều này cho thấy có sự phân biệt đối xử đối với loại hình văn hóa phi vật thể.

    Sự không công bằng nói trên ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Sự phát triển trong

    các lĩnh vực như nghiên cứu văn hóa, nhân chủng học, văn hóa dân gian, và

    nghiên cứu giới tính đã đưa ra cảnh báo về sự vô lý của việc phân cấp các loại

    hình văn hóa. Những nghiên cứu trên chỉ ra rằng bất cứ nền văn hóa nào cũng

    quan trọng và mang ý nghĩa riêng. “Tuyên bố toàn cầu về tính đa dạng của văn

    hóa” của tổ chức UNESCO (năm 2001) có chung quan điểm với nguyên tắc này. Sau

    công ước năm 1972 về việc bảo tồn các di sản văn hóa thế giới, nhiều nước thành

    viên của tổ chức UNESCO đã kêu gọi xây dựng hệ thống bảo tồn di sản văn hóa

    truyền thống và văn hóa dân gian. Vào năm 1989, Đại hội đồng của UNESCO cuối

    cùng đã thông qua “Nghị quyết về việc bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống

    và văn hóa dân gian”. Đại hội đưa ra đề xuất rằng các nước thành viên cần phải

    thực hiện các chương trình tập huấn về công tác bảo tồn các di sản văn hóa phi

    vật thể, và lập danh sách các di sản văn hóa này. Đại hội cũng đồng thời cam

    kết thực hiện một loạt các biện pháp bảo tồn cần thiết khác. Tuy nhiên, do Nghị

    quyết năm 1989 chưa đạt hiệu quả nên năm 1998, tổ chức UNESCO đã thông qua

    trương trình bảo vệ các kiệt tác văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng

    của nhân loại. Chương trình này được bắt đầu với công việc bình chọn các di sản

    văn hóa phi vật thể. Cứ hai năm một lần, mỗi nước thành viên được phép đưa ra

    một di sản văn hóa phi vật thể để bình chọn. Việc đánh giá và công nhận các

    kiệt tác di sản văn hóa phi vật là do một hội đồng chuyên gia quốc tế tiến

    hành.

    Năm 2001, có 19 di sản văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng được công

    nhận. Năm 2003, con số này là 28 và lên tới 43 vào năm 2005. Như vậy tính đến

    năm 2005, có tất cả 90 kiệt tác văn hóa phi vật thể được công nhận là di sản

    văn hóa của nhân loại. 

    Chỉ trong một thời

    gian ngắn, việc công bố các di sản văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng

    đã thu hút được nhiều sự quan tâm và nhiệt tình của cộng đồng quốc tế. Cho tới

    năm 2001, có 31 nước tham gia chương trình nhưng đến năm 2005, con số này đã lên

    tới 91 nước, gần gấp ba lần so với năm 2001. Mối quan tâm ngày càng tăng của

    của cộng đồng thế giới đã đóng vai trò quan trọng cho việc xây dựng Công ước

    Bảo tồn Di sản Văn hóa Phi vật thể. Tại phiên bế mạc Đại hội đồng lần thứ 32

    của UNESCO ngày 17 tháng 10 năm 2003, Công ước mới đã được thông qua với đa số

    phiếu thuận. Công ước này mang tính pháp lý cao và ngay sau khi được phê chuẩn,

    các di sản văn hóa phi vật thể sẽ được bảo tồn dưới sự hợp tác và giám sát chặt

    chẽ của các nước thành viên.

    Mặc dù đã được Đại hội đồng của UNESCO thông qua vào ngày 17 tháng 10 năm 2003,

    để có hiệu lực, Công ước vẫn cần được 30 nước thành viên phê chuẩn. Ngày 20

    tháng 01 năm 2006, Rumania trở thành nước thứ 30 phê chuẩn Công ước. Ngày 20

    tháng 4 năm 2006, sau đó ba tháng, Công ước chính thức có hiệu lực. Tổng giám

    đốc tổ chức UNESCO, ông Koichiro Matsuura tỏ ra lo ngại cho các kiệt tác văn

    hóa phi vật thể của thế giới bởi những mối đe dọa đến loại hình văn hóa này

    xuất phát từ quá trình hiện đại hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra trên khắp thế

    giới. Chỉ trong một thời gian ngắn mà nhiều quốc gia đã tham gia phê chuẩn công

    ước, điều đó cho thấy nhiều quốc gia ý thức được rằng các biện pháp bảo vệ quốc

    tế đối với các di sản văn hóa thế giới là hết sức cần thiết. Cho đến năm 2009,

    công ước này đã được 116 nước thành viên phê chuẩn.

    Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có thể được phân biệt theo nhiều cách

    khác nhau. Nếu như di sản văn hóa vật thể là những hiện vật mang ý nghĩa lịch

    sử của nhân loại trong quá khứ thì di sản văn hóa phi vật thể lại là những

    truyền thống văn hóa đang sống, trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những

    trải nghiệm cuộc sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu như di

    sản văn hóa vật thể mang tính cố định và không thay đổi thì di sản văn hóa phi

    vật thể lại mang tính động và liên tục thay đổi theo thời gian. Nói cách khác,

    nếu như di sản văn hóa vật thể là di sản chết thì di sản văn hóa phi vật thể là

    di sản sống.

    Đương nhiên, nội dung các công ước bảo tồn hai loại hình di sản văn hóa này là

    khác nhau. Công ước bảo tồn di sản văn hóa vật thể luôn nhấn mạnh tính xác thực

    và giá trị của hiện vật lịch sử. Hay nói cách khác, tiêu chuẩn đánh giá dựa

    trên sự hiện diện của những cấu trúc lịch sử hoặc sự hiện diện của những đặc

    điểm đặc trưng của kỷ nguyên trên di tích. Ngược lại, bởi vì các di sản văn hóa

    phi vật thể liên tục thay đổi theo thời gian, nên việc xác định tính xác thực

    của chúng dựa vào những đặc điểm đặc trưng của một kỷ nguyên nào đó là một việc

    làm gần như không thể thực hiện được.

    Hơn nữa, giá trị lớn nhất của các di sản văn hóa phi vật thể là ở chỗ các di

    sản này thể hiện tính đa dạng và bình đẳng của chúng. Không thể so sánh và đưa

    ra kết luận rằng di sản phi vật thể này quan trọng hơn hay có giá trị hơn di

    sản phi vật thể kia. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa Công ước 1972 về công

    tác bảo tồn di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của thế giới và Công ước quốc

    tế 2003 về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Trong Công ước năm 1972,

    điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ hai nói rằng, những hạng mục văn hóa được

    cộng nhận là di sản văn hóa (di sản văn hóa vật thể) của thế giới phải là những

    di sản “có giá trị nổi tiếng toàn cầu”, tuy nhiên định nghĩa di sản văn hóa phi

    vật thể trong Công ước quốc tế năm 2003 lại không có tiêu chuẩn đánh giá như

    vậy. Thay vào đó, Công ước quốc tế năm 2003 nói rằng cần phải biên soạn một bản

    thống kê các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm hai loại: (1) Danh sách các di

    sản văn hóa phi vật thể đang đứng trước nguy cơ biến mất và (2) Danh sách các

    di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Điều 16 và điều 17, Công ước quốc tế

    năm 2003).

    Việc xác định di sản văn hóa vật thể là di sản văn hóa của thế giới dựa trên cơ

    sở “có giá trị nổi tiếng toàn cầu” của các di tích lịch sử. Kim tự tháp, Vạn lý

    trường thành và các công trình kiến trúc lịch sử có giá trị tương tự được ghi

    nhận là di sản văn hóa vật thể của nhân loại. Và những quốc gia sở hữu một vài

    công trình kiến trúc lịch sử như vậy được cho là quốc gia văn minh. Ngược lại,

    những quốc gia không sở hữu các di sản này thì bị cho là yếu kém hơn. Châu Âu

    vượt trội về số lượng các di sản văn hóa được công nhận trong khi các quốc gia

    khác, nơi có số lượng các di sản văn hóa được công nhận ít hơn, có mặc cảm rằng

    các công trình kiến trúc lịch sử của họ đã bị tước đoạt đi giá trị lịch sử và

    văn hóa của chúng.

    Tuy nhiên, những nền văn hóa không phương Tây lại đang dẫn đầu với 90 di sản

    được UNESCO công nhận là các di sản văn hóa phi vật thể tính đến năm 2005.

    Trong số 90 di sản văn hóa được công nhận này, có 7 di sản mang tính đa quốc

    gia và trong 83 di sản còn lại thì 27 di sản (chiếm 1/3) nằm ở khu vực Châu á

    Thái Bình Dương. Tại một cuộc họp liên chính phủ gần đây diễn ra tại Abu Dhabi

    (Tháng 11 năm 2009), có 77 di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được ghi vào

    danh sách những di sản tiêu biểu, đa số nằm ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. 

     

    Có nhiều trường hợp

    trong đó di sản văn hóa phi vật thể được công nhận lại chính là biểu tượng của

    quốc gia. Đặc biệt, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa khi văn hóa phương Tây đang

    lan truyền khắp thế giới, thì các nền văn hóa truyền thống đang phải đối mặt

    với nguy cơ bị mất. Việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của mỗi quốc gia

    chính vì vậy là vô cùng quan trọng. Tất nhiên, các nước phương Tây cũng đang

    mất dần nền văn hóa truyền thống, nhưng các nước này chỉ mất đi “những cái cũ”,

    còn nền văn hóa của họ vẫn liên tục phát triển và làm mới để phù hợp với thời

    đại. Còn ở các nền văn hóa không-phương-Tây thì thay vào nền văn hóa truyền

    thống đang dần dần biến mất là những diện mạo văn hóa mới mang nguồn gốc Phương

    Tây. Một ví dụ là nhạc truyền thống pansori (anh hùng ca) ở Hàn Quốc, loại nhạc

    này ngày càng ít người quan tâm. Hầu hết giới trẻ Hàn Quốc thích nghe nhạc

    opera và nhạc pop của Phương Tây, mặc dù họ vẫn ý thức được rằng pansori là

    nhạc truyền thống. Điều này hoàn toàn có thể diễn giải tại sao các quốc gia

    không-phương-Tây đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

    của dân tộc mình.

    Một loạt các chính sách của UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới

    đều mang những hàm ý sau đây. Thứ nhất, thay vì quan niệm di sản văn hóa vật

    thể là loại hình văn hóa chính, cần phải nhận thức được rằng di sản văn hóa phi

    vật thể cũng có giá trị và tầm quan trọng đối với nhân loại như di sản văn hóa

    vật thể. Thứ hai, do các nước phương Tây sở hữu phần lớn các di sản văn hóa vật

    thể, nên việc công nhận các di sản văn hóa phi vật thể ở các nước

    không-phương-Tây hiện tại lại được quan tâm nhiều hơn.

    Giá trị tiềm lực lớn nhất đối với di sản văn hóa phi vật thể trong thời kỳ toàn

    cầu hóa chính là nó chống lại sự thống trị toàn cầu của các nền văn hóa khu

    vực. Trong thời kỳ hiện đại, thời kỳ phương Tây hóa, văn hóa phương Tây đã và

    đang lan rộng và thịnh hành trên toàn thế giới. Chẳng hạn như âm nhạc Mỹ, điện

    ảnh Mỹ, ẩm thực Mỹ không chỉ được tiêu dùng trên đất Mỹ mà còn được tiêu dùng ở

    khắp mọi nơi trên thế giới.

    Việc tất cả mọi người trên khắp thế giới cùng nghe một dòng nhạc, cùng nhảy các

    điệu nhảy giống nhau, và có chung ẩm thực là điều rất nhàm chán và không mong

    muốn. Các nhà sinh vật học đã chỉ ra nhu cầu cùng tồn tại của nhiều loài để duy

    trì một thế giới lành mạnh. Bởi vì nếu một loài để tồn tại lại hủy hoại các

    loài khác thì thế giới sẽ bị diệt vong. Tương tự như vậy, dưới sự ảnh hưởng quá

    lớn của trào lưu phương Tây hóa, chỉ còn cách duy nhất là phải bảo tồn và duy

    trì các di sản văn hóa phi vật thể đang bị biến mất ở các nền văn hóa

    không-phương-Tây, thì nền văn hóa đa dạng của nhân loại mới được cứu vãn. Điều

    này cần thiết cho sự sống còn của toàn bộ nhân loại.

    Tôi đã từng đưa ra quan điểm rằng các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể

    ngày nay nên có những định hướng khác với các chính sách về di sản văn hóa vật

    thể. Di sản văn hóa vật thể của thế giới bao gồm các di sản và các di tích lịch

    sử được công nhận có giá trị nổi tiếng toàn cầu. Phần lớn các di sản này đều

    thuộc phương Tây. Điều này làm nảy sinh sự phân biệt phần còn lại của thế giới

    là “khác” là “không phương Tây”. Nơi nào có nhiều di sản được công nhận thì

    được cho là giỏi hơn, văn minh hơn và phát triển hơn. Ngược lại nơi nào có ít

    di sản được công nhận thì bị cho là yếu kém hơn. Quá trình cạnh tranh gay gắt

    để được công nhận những di sản văn hóa vật thể được đã thể hiện rất rõ điều

    này. Việc đánh giá thứ bậc dựa vào số lượng các di sản được công nhận và tính

    cạnh tranh của các chính sách về di sản văn hóa vật thể hoàn toàn mang lô-gíc

    phương Tây cũng như các chính sách này vô hình chung tạo cho các xã hội phương

    Tây quyền bá chủ thế giới.

    Các chính sách về văn hóa phi vật thể mới được ban hành đã đưa ra những cách

    nhìn nhận và đánh giá các di sản văn hóa một cách mới mẻ hơn. Cần phải rũ bỏ

    quan điểm vượt trội hơn đối với những di sản văn hóa phi vật thể. Thay vì nhìn

    nhận văn hóa theo quan điểm thứ bậc của giá trị và tính cạnh tranh, tất cả các

    di sản văn hóa phi vật thể đều có giá trị riêng và cần phải được đánh giá dưới

    góc độ tương đối về văn hóa. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu – cha đẻ của

    khái niệm di sản văn hóa phi vật thể, cần phải tìm hiểu về giá trị văn hóa của

    loại hình này. Các di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cần phải được tìm

    hiểu và trân trọng ngang bằng với các di sản văn hóa vật thể.

     

    II. Quá trình toàn cầu hóa các di sản văn hóa phi vật thể

    Ngay sau khi được đưa vào danh sách các di sản văn hóa của UNESCO, các di sản

    văn hóa mà trước đó chỉ là tài sản của một quốc gia đã trở thành một phần của

    Di sản Văn hóa Thế giới và có thể được trình diễn ở nhiều quốc gia. 

     

    Vậy bằng cách nào để di sản văn hóa phi vật

    thể đạt được vị thế bình đẳng với di sản văn hóa vật thể và được đánh giá đúng

    mức trong bối cảnh toàn cầu? Trước tiên cần phải hiểu đúng về di sản văn hóa

    phi vật thể của từng quốc gia. Cần phải hình thành và nuôi dưỡng quan điểm này.

    Không giống như di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và những

    người biểu diễn loại hình di sản văn hóa này có thể di chuyển từ địa phương này

    sang địa phương khác. Mỗi di sản văn hóa phi vật thể của mỗi quốc gia đều thể

    hiện sự cùng tồn tại của toàn bộ nhân loại và mang những nét đặc trưng của cộng

    đồng trong khu vực, nơi tạo ra và lưu truyền di sản văn hóa đó. Di sản văn hóa

    phi vật thể có thể được cộng đồng dân cư địa phương lưu truyền hàng trăm năm

    nếu không muốn nói là hàng nghìn năm, và mang tính hiện thực lịch sử. Đây là

    một truyền thống được chọn lọc bởi trong quá trình lưu truyền, nó luôn được

    thay đổi và thích nghi với thời đại. Tương tự, truyền thống này cũng mang các

    đặc trưng của văn hóa khu vực. Vì vậy, khi giới thiệu một di sản văn hóa phi

    vật thể của vùng này ở vùng khác thì cần phải giải thích đầy đủ các đặc điểm

    địa phương của nó để khán giả của các vùng khác có thể lĩnh hội được ý nghĩa

    của di sản văn hóa đó. Việc chỉ đơn thuần biểu diễn một di sản văn hóa phi vật

    thể mà không giới thiệu về bối cảnh lịch sử cũng như xã hội đồng nghĩa với việc

    chưa quan tâm đúng mức đến di sản văn hóa đó. Trong một hội thảo quốc tế về di

    sản văn hóa phi vật thể được tổ chức ở Trung quốc mà tôi tham gia với tư cách

    là khách mời của Viện nghệ thuật Trung Quốc, tôi đã gặp một giáo sư đang giảng

    dạy tại Khoa âm nhạc dân tộc thuộc Đại học California ở Los Angeles. Bà đã chia

    sẻ với tôi về những trải nghiệm trong quá trình giảng dạy môn pansori, một di

    sản văn hóa phi vật thể của Hàn Quốc. Khi bà cho sinh viên nghe bản pansori, họ

    lắng nghe một cách thiếu tập chung và tỏ ra không hề hứng thú với loại hình

    nghệ thuật này.

    Trong một bài giảng khác, bà bắt đầu bằng cách

    cho sinh viên xem phim Seopyeonje, một bộ phim nói về các ca sĩ pansori và cuộc

    sống nghệ thuật của họ, rồi sau đó bà cho sinh viên nghe pansori để minh họa.

    Hôm đó, sinh viên trở lên hứng thú với nhạc pansori và cảm nhận được chất nghệ

    thuật của loại nhạc này. Nói một cách khác, khi giới thiệu một loại hình di sản

    văn hóa phi vật thể mà chỉ đơn thuần giới thiệu bản thân nghệ thuật đó thì sẽ

    không đạt được mục đích. Ngược lại, khi bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử

    được giới thiệu thì khán giả sẽ hiểu và nhờ đó cảm thụ và hiểu được ý nghĩa của

    di sản văn hóa đó. Bằng cách này, chúng ta có thể thấy rằng việc tạo ra và

    truyền bá một di sản văn hóa phi vật thể bới các cá nhân, các nhóm người hoặc

    các cộng đồng được đánh giá và trân trọng.

    Cũng cần xem xét đến khía cạnh sở hữu trí tệ của các di sản văn hóa phi vật

    thể. Bản quyền của các cộng đồng đã sản sinh ra và lưu truyền các di sản văn

    hóa phi vật thể phải được tôn trọng. Thường khi nói đến bản quyền, chúng ta chỉ

    giới hạn ở một tác phẩm nghệ thuật của một cá nhân. Tuy nhiên di sản văn hóa

    phi vật thể không phải do một cá nhận tạo nên mà đó chính là sản phẩm của cả

    cộng đồng. Vấn đề quyền sở hữu và một số quyền khác đối với di sản văn hóa phi

    vật thể hiện do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) chịu trách nhiệm. Tổ

    chức này đang soạn thảo các điều luật nhằm bảo vệ khối kiến thức truyền thống

    cũng như các tác phẩm văn hóa truyền thống. Những điều luật này nhằm bảo vệ

    người dân trong cộng đồng- chủ nhân của di sản văn hóa phi vật thể. Luật bản

    quyền không chỉ khẳng định quyền sở hữu đối với di sản văn hóa mà còn bao hàm những

    quy định đối với việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể cho những mục đích

    xấu. Tổ chức WIPO cũng xem xét các vấn đề pháp lý của Luật quốc tế và Luật quốc

    gia.

    Nhằm tăng cường sự hiểu biết quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể ở khu vực

    Châu Á-Thái Bình Dương, tổ chức UNESCO đã thành lập 3 trung tâm văn hóa phi vật

    thể ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương vào ngày 21 tháng 10 năm 2009 ở Hàn Quốc,

    Trung Quốc và Nhật Bản. Ba trung tâm này được đưa vào hạng mục văn hóa thứ hai

    (các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu). Đây là bước tiến của việc trước đó

    chỉ công nhận một Trung tâm Văn hóa cho một khu vực. Ba Trung tâm Văn hóa Phi

    vật thể này được phân chia trọng trách khác nhau. Trung tâm văn hóa ở Hàn Quốc

    chịu trách nhiệm về lĩnh vực thông tin và liên lạc, Trung tâm ở Trung Quốc chịu

    trách nhiệm về giảng dạy và đào tạo chuyên gia, còn Trung tâm ở Nhật bản thì

    chuyên về nghiên cứu.

    Việc thành lập ba Trung tâm văn hóa ở khu vực Châu Á là bước phát triển rất có

    ý nghĩa đối với công tác bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể bởi nó đã thúc

    đẩy những nỗ lực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể ở nhiều nơi.

    So sánh với một số biện pháp bảo tồn di sản văn hóa vật thể, các chính sách bảo

    tồn di sản văn hóa phi vật thể không có chuẩn mực đơn thuần. Ví dụ, phương pháp

    bảo tồn các công trình kiến trúc bằng gỗ của Trung Quốc có thể áp dụng cho công

    tác bảo tồn các công trình kiến trúc bằng gỗ ở Hàn Quốc. Theo cách đó, công

    nghệ bảo tồn các di sản văn hóa vật thể của quốc gia này có thể áp dụng ở bất

    kỳ quốc gia nào khác trong khu vực mà không cần phải điều chỉnh nhiều.

    Ngược lại, các định nghĩa và khái niệm về văn hóa phi vật thể thường trái ngược

    nhau, và bản thân mỗi di sản văn hóa phi vật thể đều có tính biến đổi rất cao.

    Và cũng bởi vì di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm mang tính lịch sử, xã hội

    và văn hóa của một địa phương, nên phương pháp bảo tồn và phát triển di sản văn

    hóa phi vật thể ở địa phương này không thể áp dụng một cách dễ dàng ở địa

    phương khác được.

    Tất nhiên, mặc dù các định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể đã được giải

    thích trong Công ước năm 2003, khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm

    nhiều dạng thức khác nhau, và cách hiểu hay nhận thức của mỗi quốc gia về di

    sản văn hóa phi vật thể luôn thay đổi là điều cần thiết. Khái niệm về di sản

    văn hóa phi vật thể ở một quốc gia bao hàm những yếu tố văn hóa phi vật thể cần

    phải được bảo tồn ở quốc gia đó. Chẳng hạn có một số quốc gia đề cập đến không

    gian mở (như chợ và các trung tâm buôn bán) với tư cách là một phần di sản văn

    hóa phi vật thể của họ. Còn một số quốc gia khác lại không có quan điểm như

    vậy. Hơn nữa, nhận thức của mỗi quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể là hoàn

    toàn khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và chính trị của mỗi nước. Trào

    lưu phương Tây hóa cộng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm tăng

    tốc độ biến mất của nền văn hóa truyền thống.

    Thêm vào đó, các quốc gia và các khu vực luôn dành sự quan tâm đối với di sản

    văn hóa phi vật thể ở các cấp độ khác nhau. Thậm chí ở trong khu vực Châu Á– Thái

    Bình Dương thì chỉ có Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản là dành nhiều quan tâm

    đối với loại hình di sản văn hóa phi vật thể, vượt xa các nước khác trong khu

    vực cũng như trên toàn thế giới. Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có rất nhiều

    di sản văn hóa nằm trong danh sách các di sản văn hóa tiêu biểu của UNESCO

    trong khi có một số nước khác trong khu vực không hề đăng ký một di sản nào. Ba

    Trung tâm văn hóa ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cần cố gắng vận động các

    nước nói trên dành sự quan tâm đối di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc mình,

    cũng như cần phải nỗ lực xóa đi sự khác biệt về văn hóa giữa các nước trong khu

    vực.

    Di sản văn hóa phi vật thể vượt qua biên giới và thích nghi với điều kiện địa

    phương một cách dễ dàng hơn so với các tượng đài kiến trúc. Tổ chức UNESCO

    khuyến cáo việc tham gia đăng ký các di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia và

    tỏ ra rất quan ngại về sự hạn chế số lượng của các di sản này. Sáng kiến đăng

    ký các di sản văn hóa đa quốc gia phải xuất phát từ chính các quốc gia. Quá trình

    này phức tạp hơn nhiều so với việc đăng ký một-di-sản-cho-một-quốc-gia và nó

    đòi hỏi phải có sự phối hợp và cộng tác chặt chẽ giữa các quốc gia. Trung tâm ở

    Hàn Quốc phụ trách về vấn đề liên lạc và truyền thông cho công tác bảo tồn nên

    vai trò của Trung tâm này ở đây là quan trọng nhất. Sự điều phối và hợp tác

    quốc tế trong việc đăng ký các di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia có thể

    giúp cải thiện mối quan hệ giữa các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương

    một cách hiêu quả. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực rất quan trọng đối

    với loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Không chỉ bởi vì hơn nửa dân số thế

    giới sống ở khu vực này mà còn vì đây là khu vực nhạy cảm về chính trị, năng

    động về kinh tế và phong phú về văn hóa. Chính vì vậy ba Trung tâm văn hóa đã

    được thành lập ở khu vực này và sự phân chia nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các

    di sản văn hóa phi vật thể trong khu vực giữa ba Trung tâm là hoàn toàn phù

    hợp. Ba trung tâm này, ngoài việc thực hiện các trọng trách của mình, còn phải

    có trách nhiệm hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Hơn nữa, những phương pháp bảo tồn

    di sản văn hóa do ba Trung tâm này đưa ra còn phải có giá trị hỗ trợ công tác

    bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở các khu vực khác trên toàn thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Học Và Nhân Học Văn Hóa
  • Đối Thoại Cùng Bạn Đọc Về Khái Niệm “Văn Hóa”
  • Giao Lưu Văn Hoá Đông Sơn Và Văn Hoá Sa Huỳnh Qua Tư Liệu Khảo Cổ Học
  • Rực Rỡ Một Nền Văn Minh Việt Cổ
  • 039. 🌟 Chuyên Khảo Về Văn Hóa Đông Sơn
  • Tìm Hiểu Văn Hóa Là Gì? Các Định Nghĩa Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Cực Chất
  • Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh
  • Cafe: Các Khái Niệm Để Các Ứng Dụng Trong Gia Đình Hệ Thống Kỹ Thuật
  • Cập Nhật Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Về Gia Đình Hoàn Thiện Nhất
  • Các Thì Trong Tiếng Anh: Bảng Tóm Tắt 12 Thì Tiếng Anh
  • Theo chúng tôi, văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về Văn hóa.

    Những định nghĩa khác nhau về văn hóa

    Năm 1952, A.L. KroeberKluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions . Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người.

    Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L. KroeberKluckhohn đưa ra là ” Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau. Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo.

    Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộngnghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì ” Văn hóa là một phức hệ – tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

    Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa.

    Như định nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật

    Còn các định nghĩa của F. Boas, Nguyễn Đức Từ Chi, tổ chức UNESCO… thì xem tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa.

    Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu. Chúng tôi cho rằng, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng.

    Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn.

    Theo Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

    [9] Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia chúng tôi 2004, tr. 314.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Hạnh Phúc
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trong Tiếng Anh
  • 38 Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Cực Kì Lãng Mạng Và Ý Nghĩa
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Tình Yêu
  • 15 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • TMT: Loài người đã và đang có một lịch sử văn hóa dài lâu trải qua biết bao thế hệ. Một học giả trong một nỗ lực tìm định nghĩa về Văn hóa có viết: “Văn hoá như là: Tất cả những nỗ lực của muôn thế hệ nhân quần để vươn lên cho tới tinh hoa hoàn thiện, cho tới một đời sống lý tưởng về một phương diện nào hay về mọi phương diện, và tất cả những công trình đã thực hiện được, những giai đoạn đã vượt qua được trên bước đường tiến hoá ấy . Ở bài này Nhà nghiên cứu Chu Tấn cũng đã dày công tập hợp 25 định nghĩa về Văn hóa để giúp người đọc tiếp cận văn hóa theo những chiều hướng khác nhau cũng không ngoài mục đích để văn hóa dẫn lối, đưa đường chúng ta vững bước trên con đường tiến hóa đến tinh hoa, hoàn thiện.

    I- Nhận Định Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa Tiêu Biểu:

    Điều biểu hiện rõ nhất của văn hóa chính là sự lựa chọn (Thí dụ về cách ăn: Có dân tộc thích ăn bốc, người Việt ăn bằng đũa, người Tây Phương ăn bằng thìa, dao nĩa v.v…- Thí dụ về cách đối xử với người chết: cũng có những chọn lựa khác nhau: địa táng (chôn dưới đất) thủy táng (thả xuống nước) hỏa táng (đốt thành tro) điểu táng (để xác cho chim ăn thịt) ướp xac, tượng táng (biến xác chết thành pho tượng, quét sơn lên để giữ gìn v.v…) Không thể nói kiểu chọn lựa nào hay hơn kiểu chọn lựa nào vì đều là phương cách biểu hiện văn hóa của mỗi cá nhân hay của một dân tộc…

    Tuy nhiên văn hóa, không chỉ là “quan hệ”- “giao tiếp”- và “chọn lựa” mà còn nhiều “tác năng” và “chức năng” khác nữa ….. Do đó chúng ta thấy rằng định nghĩa văn hóa theo” Thao tác luận ” khá hay và độc đáo, nhưng chính “Thao tác luận” cũng bị “giới hạn” bởi chính :phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa!!! chẳng phải thế sao?

    : của Văn Hào Pháp André Malraux (1901-1976). ” Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Mười Tám Văn Hóa là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít nô dịch hơn”(19)

    Hen de Man định nghĩa: ” Văn Hóa là một lề lối sống dựa trên một niềm tin công cộng, vào một hệ thống và một tôn ti, trật tự, thứ bực giá trị làm cho đời sống có một ý nghĩa nhất định” (21).

    : của Liton. ” Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Hai Mốt Văn hóa của một xã hội là lề lối sống của các phần tử trong xã hội ấy. Đó là toàn bộ những ý tưởng và tập tục mà họ đã thâu lượm, chia sẻ và lưu chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.Văn hóa đem lại cho mỗi người của mỗi thế hệ những cách giải quyết hữu hiệu và lập thành về tất cả các vấn đề mà họ sẽ gặp phải. Những vấn đề này được nêu lên vì những nhu cầu sống trong một đoàn thể có tổ chức” (22).

    Riêng về định nghĩa Văn Hóa tác gỉa viết: “Nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở chỗ coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận. E,B Taylor định nghĩa văn hóa như một ” phức hợp (Chu Tấn in đậm) bao gồm trí thức tín ngưỡng, nghệ thuật đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội… tiếp thu được” Định nghĩa văn hóa trong các loại tự điển, các công trình nghiên cứu …thường mở đầu bằng câu ‘Văn Hóa là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các gía trị”… Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học-khi mà văn hóa chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập”

    Văn Hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,(tác giả TNT ghi đậm) trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình ” (25).

    Trước hết T.S Trần Ngọc Thêm “chê” các định nghĩa về văn hóa từ tlâu nay đều có nhược điểm (ChuTấn in đậm) là coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần (?) của những trí thức bộ phận…điển hình như định nghĩa văn hóa của E.B Taylor …các định nghĩa lâu nay (?) đều có tính cách ” cảm tính ” (Chu Tấn in đậm)

    Trước hết chúng tôi thấy tác giả Trần Ngọc Thêm chê các nhà nghiên cứu văn hóa trước ông như Lê Quí Đôn, Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh, Lê Văn Siêu, hay Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương (1989) chúng tôi định nghĩa về văn hóa đều mắc bênh “tản mạn, không nhìn ra tính hệ thống, tính qui luật của văn hóa”? Lời phê bình này của tác giả Trần Ngọc Thêm không những là ” phiến diện” mà còn mang tính ” hàm hồ” vì chính tác giả Trần Ngọc Thêm vô tình hay hữu ý đã đánh mất đi tinh nghĩa hay cái hồn của văn hóa! Điều chúng ta không phủ nhận là văn hóa -nhất là ” Văn Hóa Lý tính” ” Văn Hóa Nhận Thức” mang tình hệ thống , hay tính qui luật , nhưng còn ” Văn Hóa Nghệ Thuật,” Văn HóaTình Yêu” hay “Văn Hóa Tâm Linh“… không hề mang tính “Hệ Thống” hay Tính “Qui luật: nào cả! Vậy mà tác giả Trần Ngọc Thêm lại đem tính “Hệ Thống” ra để định nghĩa Văn Hóa tổng quát nói chung thì có phải là ” khiên cưỡng”, “phiến diện” hay “quáng gà “hay không?

    Tác giả Trần Ngọc Thêm sau khi “chê:” các nhà nghiên cứu Văn Hóa trong nước, chê luôn các nhà nghiên cứu văn hóa thế giời tiêu biểu như Edward Bernett Tylor khi ông định nghĩa văn hóa là “một Tổng Thể Phức Hợp vì bao gồm nhiều thành tố như kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức,luật pháp, Phong tục tập quán…..” Phải chăng Trần Ngọc Thêm không những không đồng ý với định nghĩa Văn hóa là một ” Tổng thể” lại còn là Tổng Thễ Phức Hợp” mà ông cho rằng là một “phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận …” nên có nhược điểm “không biết tổng quát hóa thành Hệ Thống” vì lý do “Cảm Tính” hay vì giới hạn lịch sử, khi khoa “Văn Hóa Học” chưa ra đời như một bộ môn Văn Hóa chuyên ngành có tính cách độc lập nổi bật như hiện nay. Lối “chê” này của Trần Ngọc Thêm vừa mang tính chủ quan “phiến diện” vừa mắc bệnh “duy lý” đến mức “quá đà” khi cho rằng bất cứ loại hình văn hóa nào cũng có thể ” tổng quát hóa” “qui luật hóa” thành “Hệ Thống” Điều mà TS Trần Ngọc Thêm không biết rằng yếu tính hay bản chất văn hóa vừa có tính chất ” hệ thống” vừa ” phi hệ Thống” vừa ” siêu hệ thống” .Chính vì yếu tính diệu kỳ này nên học giả Lowell đã thú nhận rằng: ” Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hóa, nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu, mông lung hơn là danh từ văn hóa. Người ta không thể phân tách văn hóa,vì thành phần nó vô cùng tận…Người ta không thể mô tả văn hóa vì nó muôn mặt .Muốn cô đọng ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì cũng như tay không bắt không khí :Ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm được gì …” (26))

    Về cách tiếp cận “cấu trúc” kết hợp với phương pháp so sánh loại hình mà tác giả Trần Ngọc Thêm đã áp dụng khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy gì? Theo dòng tiến hóa của lịch sử, càng ngày nhân loại càng tìm tòi sáng tạo ra những đường hướng mới, phương pháp khám phá mới về văn hóa .Đây là những bứớc tiến mới rất đáng mừng, rất đáng hoan nghênh, nhưng khi nhà nghiên cứu văn hóa chọn lựa và áp dụng bất kỳ một phương pháp mới nào thì phải hiểu rằng “Đường lối hay phương pháp mà mình áp dụng chỉ là “Phương tiện” để khám phá chân lý văn hóa mà thôi -có thể phương pháp tân tiến này hay hơn các phương pháp nghiên cứu văn hóa cũ – nhưng chỉ hay hơn về phương pháp – nói theo thuật ngữ Phật giáo là “Phương tiện thiên xảo” hơn các phương tiện khác mà thôi, chứ không thể tôn vinh một phương pháp tân tiến nào như là cùng đích của văn hóa có thể giúp mình nắm chân lý Văn Hóa ở trong tay!Thái độ quá tin tưởng trở thành “cực đoan”, “hãnh tiến” hay “kiêu ngạo” này rất nguy hiểm ! vì mang tính chất bạo động với chân lý ! Những ai mắc phải thái độ hãnh tiến vô lối này thì thường đi từ một cực đoan này tiến sang một cực đoan khác, vừa không khám phá ra chân lý hoặc chỉ ôm lấy những “mặt trời mù” thay vì tìm ra Chân Lý đích thực của Văn Hóa! Thực vậy, ngay cả những nhà nghiên cứu sáng tạo ra trường phái “Cấu trúc” hay phương pháp so sánh loại hình cũng chưa ai lên tiếng định nghĩa “Văn Hóa là một Hệ Thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần…..” như Trần Ngọc Thêm đã khẳng định ! Dĩ nhiên đây không là lỗi tại “đường hướng” hay “phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa để nghiên cứu văn hóa nhưng chỉ là thái độ “Bảo hoàng hơn Vua” do óc phê phán chủ quan phiến diện của tác giả mà ra nông nỗi!!! Lối định nghĩa văn hóa khẳng định chắc nịch bao quát tất cả các loại hình văn hóa theo kiểu Trần Ngọc Thêm không những không thuyết phục được mọi người mà còn có tác dụng làm khô cứng làm thui chột, và đánh mất “Hồn tính” của văn hóa vậy. Khi định nghĩa văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần của con người …..” là tác giả đã vô tình thu hẹp các bảng giá trị văn hóa nhân loại vào trong hệ thống “Nhị giá” “vật chất” và “tinh thần” trong khi giá trị Văn hóa nhân loại là “Đa giá” không phải chỉ có giá trị “vật chất” và “tinh thần” mà thôi đâu! Thí dụ như nền văn Hóa Đông phương hay nói “Văn Hóa Tuệ Giác”, “Văn Hóa Bát Nhã” hay “Văn Hóa Tính Không” thì không thể cô đọng trong một hệ thống nào cả! vì bản chất nó là phi vật chất, phi ý niệm chúng tôi phi tưởng và hơn thế nữa bản chất nó đã là ” Tánh Không“…..” Bản Lai Vô nhất Vật” như lời phát biểu của Lục Tổ Huệ Năng…. Chỉ cần đơn cử một hai thí dụ như trên chúng ta thất ngay sự phiến diện, thiếu sót quá đáng hay sự ” thiển cận quáng gà ” về nhân thức Văn Hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm!

    Văn hóa là hiện tính của Sự Sống và là tinh hoa của Đạo Sống con người.Văn hóa thường biểu hiện trên hai mặt Động và Tĩnh..Xét về “phương diện TĨNH” Văn hóa là trạng thái thích nghi với hoàn cảnh,ứng xử với tha nhân,làm thành “thói quen”,”nếp nghĩ” “nếp sống”,”phong tục tập quán”,”thuần phong mỹ tục”, hình thành các “giá trị truyền thống” của cả dân tộc “truyền thừa” cho các thế hệ sau…. Xét về “phương diện ĐỘNG” Văn hóa là động lực tiến hóa cá nhân và xã hội, hướng tới dự phóng tương lai theo tiến trình “Dung Hóa” “Sáng Hóa” và “Sống Hóa” sự sống con người, dân tộc, thế giới và thời đại.Văn hóa không những có sứ mệnh giáo hóa con người mà còn có sứ mệnh giải thoát con người,xây dựng xã hội, gìn giữ Hòa Bình và xây dựng nền “Thái Hóa Nhân Loại”(Xin xem “Sứ Mệnh Văn Hóa cũng trong Tuyển Tập này).

    II- Những Ghi Nhận Cần Lưu Tâm Và Đào Sâu Hơn Nhằm Phát Huy Tập Đại Thành Văn Hóa Việt Nam.

    Tính Sáng Tạo: Nhà văn hào André Mailraux đã cô đọng văn hóa trong 3 phạm trù : NGHỆ THUẬT, TÌNH YÊU VÀ SUY NGHĨ -hay Tư duy,- nhận thức-,tư tưởng – (Xin độc giả xem lại Định nghĩa văn hóa thứ 18 đã nói ở trên) Phạm trù “Suy nghĩ” sẽ hình thành “Văn hóa Nhân Thức” mà con người có thể “khái quát hóa” và “hệ Thống hóa: mà đặc điểm nổi bật là Tính Hệ Thống. Song còn 2 phạm trù lớn kia là ” Nghệ Thuật” và ” Tình Yêu” thì không ai có thể “khái quát hóa” hay “hệ thống hóa” được cả ! Tất cả mọi “hệ thống” đều thất bại thảm thương! và hoàn toàn xa lạ với 2 phạm trù này! Nó không chỉ là Lỗ Hổng Lớn mà là Chân Trời Viễn Mộng, hay Vũ Trụ Mộng Mơ, là Mạch Sống Vô Hình hay Hồn Tính Của Văn Hóa… làm nên Gía Trị Tuyệt Vời Vô Giá của Văn Hóa. Với hai phạm trù “Nghệ Thuật” và “Tình Yêu” người ta không thể định nghĩa được, nhưng con người có thể Cảm Nhận được, có thể “hòa đồng” và “cảm thông” trọn vẹn. Biên giới giữa “chủ thế” và “khách thê”không còn nữa mà cả hai đã trở thành một. Nói về tình yêu nam nữ là cả hai đã “phải lòng nhau” “mê đắm nhau”… Tính cảm thông, hòa đồng sâu sắc trọn vẹn trong nghệ thuật đó là “Tính Sáng Tạo” và là “Tính Nhập Thể”trong Tình yêu đôi lứa cũng như tình yêu huyền nhiệm tôn giáo . ” Anh với Em là Một” “Ta với Vũ Trụ không hai”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Văn Hóa Bản Địa Trong Xây Dựng Môi Trường Cư Trú Truyền Thống
  • Bài Viết Một Số Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Văn Hóa Truyền Thông
  • Về Tính Văn Hóa Trong Báo Chí
  • Văn Hóa Pháp Luật Của Phóng Viên Báo Chí: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Văn Hóa Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Văn Hóa Đọc
  • Rào Cản Văn Hóa Trong Thương Mại Quốc Tế
  • “Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp”
  • Diện Tích Hình Bình Hành, Cách Tính Chính Xác Nhanh Nhất
  • Bàn Tay Nặn Bột Toán 8
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Văn hóa doanh nghiệp là gì

    Định nghĩa Văn hóa doanh nghiệp là gì?

    • Văn hóa doanh nghiệp dần trở thành một thuật ngữ phổ biến trong thời đại ngày nay. Văn hóa doanh nghiệp đang thay đổi cách mà chúng ta suy nghĩ về công việc của mình, thúc giục chúng ta xem xét làm cách nào để xây dựng văn hóa doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh một cách thuận lợi hơn.
    • Văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến kết quả phát triển của doanh nghiệp đó từ trên xuống dưới. Chúng ta sẽ đi sâu vào những thống kê cụ thể chứng minh sự khẳng định trên ngay lập tức. Người Mỹ trung bình sẽ dành một phần ba cuộc đời của họ ở nơi làm việc. Đó là một sự thật, môi trường mà họ dành thời gian sẽ quyết định phần lớn chất lượng cuộc sống và những giá trị sống cốt lõi của nhân viên. Nếu họ làm việc cho một công ty có nền văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ, phù hợp với niềm tin và thái độ của chính họ, họ sẽ có nhiều khả năng làm việc chăm chỉ và ở lại với công ty lâu dài. Mặt khác, nếu văn hóa của công ty không phản ánh cảm xúc cá nhân của họ, họ sẽ dễ rời đi hơn – hoặc tệ hơn, vẫn ở lại với công ty nhưng hoạt động kém hơn.

    Trước khi đi sâu tìm hiểu vai trò của văn hóa doanh nghiệp là gì? Chúng ta hãy nhìn lại một số quan niệm sai lầm phổ biến hiện nay về văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp không phải là:

    • Giá trị cốt lõi của mình: Giá trị cốt lõi chắc chắn là một phần của nền văn hóa doanh nghiệp. Nhưng cho đến khi bạn đặt chúng vào hành động chứ không phải chỉ dừng lại ở lời nói. Trên thực tế, các giá trị cốt lõi có thể tác động tiêu cực đến văn hóa doanh nghiệp nếu chúng không được tuân thủ. Nhân viên sẽ xem đây là một công ty dịch vụ tầm thường, không sống theo những tiêu chuẩn của riêng mình.

    Một ví dụ sau sẽ có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về văn hóa công ty: Vào giờ ăn trưa, hầu hết mọi người đều ăn trong quán cà phê văn phòng, ngồi ở bất cứ bàn nào tùy ý, họ thưởng thức các món ăn với các cuộc trò chuyện cùng những nhân viên khác. Mỗi nhân viên là một cộng tác viên trực tiếp. Không ai ngần ngại đặt ra câu hỏi trực tiếp cho các quản lý hay sếp của mình,…

    Có thể nói văn hóa doanh nghiệp là một sự tổng thể về cách mọi người trong một tổ chức tương tác với nhau và làm việc cùng nhau. Về mặt xã hội, văn hóa là kiến ​​thức tập thể và thành tựu của một nhóm, được thể hiện bằng những thứ như phong tục ứng xử, nghệ thuật, âm nhạc, thực phẩm, tôn giáo và ngôn ngữ. Văn hóa tạo ra nền tảng cho các giá trị và niềm tin của một xã hội, và văn hóa doanh nghiệp cũng tương tự như thế. Nó là một tập hợp chung của các niềm tin, giá trị, thái độ, tiêu chuẩn, mục đích và hành vi. Văn hóa doanh nghiệp cũng giống như một tập hợp các xã hội thu nhỏ trong một xã hội lớn hơn, và văn hóa của họ là sự thể hiện công việc họ thực hiện, các giá trị họ áp dụng và hành vi tập thể của những người làm việc cho họ.

    Vai trò của văn hóa doanh nghiệp là gì?

    Đối với chính doanh nghiệp

    • Thương hiệu là tất cả, đó là một sự thật. Trong thời đại và báo chí, các trang web tin tức đang phát triển mạnh như vũ bão, các vụ bê bối truyền thông đã đưa ra những dấu hiệu cho sự sơ suất kinh doanh lớn và nhỏ. Những sự khủng hoảng trên đã dạy cho các doanh nghiệp những bài học trong cách xây dựng văn hóa doanh nghiệp để lan tỏa thương hiệu của mình. Như vậy, từ cơ sở lan tỏa thương hiệu, lấy lòng tin từ người dùng là vô cùng dễ dàng và lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng vì thể mà có cơ hội được gia tăng.
    • Văn hóa doanh nghiệp cũng quan trọng đối với người sử dụng lao động bởi vì những người lao động phù hợp với văn hóa doanh nghiệp có khả năng không chỉ hạnh phúc hơn mà còn làm việc hiệu quả hơn. Khi một nhân viên phù hợp với văn hóa, họ cũng có khả năng muốn làm việc cho công ty đó lâu hơn. Do đó, nhà tuyển dụng có thể cải thiện năng suất và giữ chân nhân viên thông qua văn hóa công sở mạnh mẽ.

    Đối với người tìm việc

    • Văn hóa công ty rất quan trọng đối với nhân viên vì người lao động có nhiều khả năng tận hưởng thời gian của họ tại nơi làm việc khi họ phù hợp với văn hóa doanh nghiệp. Nhân viên có xu hướng thích làm việc khi nhu cầu và giá trị của họ phù hợp với những người ở nơi làm việc. Họ có xu hướng phát triển mối quan hệ tốt hơn với đồng nghiệp và thậm chí còn năng suất hơn. Mặt khác, nếu bạn làm việc cho một công ty nơi bạn không phù hợp với văn hóa doanh nghiệp, bạn có thể sẽ có ít niềm vui hơn từ công việc của mình.
    • Ví dụ: nếu bạn thích làm việc độc lập, nhưng làm việc cho một công ty nhấn mạnh vào tinh thần đồng đội (hoặc có không gian văn phòng dùng chung), bạn có thể sẽ kém vui vẻ và làm việc kém hiệu quả hơn. Khi bạn làm việc tại một công ty với phong cách quản lý truyền thống, trách nhiệm công việc của bạn sẽ được xác định rõ ràng và có thể không có cơ hội thăng tiến mà không trải qua quá trình thăng chức hoặc chuyển giao chính thức. Tại một nơi làm việc bình thường hơn, nhân viên thường có cơ hội đảm nhận các dự án mới và vai trò bổ sung khi thời gian cho phép.
    • Nếu bạn đang tìm kiếm một công ty thú vị để làm việc, văn hóa doanh nghiệp sẽ là một yếu tố lớn trong việc ra quyết định của bạn khi đánh giá các nhà tuyển dụng tiềm năng.

    Các yếu tố chính ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp là gì?

    Những thành viên trong tổ chức

    • Tất nhiên, không chỉ có lãnh đạo mới ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp, mà còn bao gồm tất cả các thành viên còn lại trong một tổ chức nhất định. Đồng nghiệp thường dành nhiều thời gian cho nhau hơn nhóm bạn bè cá nhân của họ. Vì vậy, cách mà họ cư xử và tương tác với nhau làm thay đổi không khí làm việc của cả một văn phòng.
    • Khuyến khích các hoạt động ngoại khóa, sự kiện xã hội bên ngoài cho nhân viên là một cách tuyệt vời để đưa tập thể vào một vòng tròn và phát triển tinh thần đoàn kết. Khi các nhóm làm quen với nhau ở cấp độ cá nhân, họ bắt đầu hiểu những điểm mạnh, niềm đam mê và lĩnh vực cá nhân của nhau để cùng nhau cải thiện. Có một sự khác biệt lớn giữa những nơi làm việc nhóm hiệu quả và những nơi chỉ làm việc độc lập, bạn có thể tự nhận ra, đúng không nào?

    Lãnh đạo

    • Có lẽ yếu tố lớn nhất ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp là lãnh đạo. Các nhà quản lý và đội ngũ điều hành tại công ty của bạn có tác động lớn đến cách môi trường làm việc cảm thấy và vận hành.
    • Các nhà lãnh đạo phải lưu tâm đến các quy tắc mà họ đưa ra, cách họ hành động xung quanh những vấn đề công việc với cấp dưới của mình và các quy trình để họ phát triển. Một nhà lãnh đạo hiệu quả không bao giờ thiển cận về những hành động họ thực hiện. Họ phải nghĩ về mọi người mà quyết định của họ đang bị ảnh hưởng. Ngay cả những quyết định thường xuyên, đưa ra những lời phê bình, chỉ tríc mang tính xây dựng, thay vì chỉ đơn giản là bắn hạ ý tưởng, có thể hoạch định một chặng đường dài hướng tới việc tạo ra một môi trường làm việc lý tưởng hơn.

    Môi trường làm việc

    • Môi trường xung quanh bạn có ảnh hưởng đến hiệu suất của bạn trong công việc. Hãy thử tưởng tượng bạn làm việc trong một văn phòng ngay cạnh sân bay trong một tòa nhà không được cách âm, chắc chắn, năng suất làm việc của bạn sẽ giảm mạnh đáng kể. Mặc dù bạn không thể thay đổi địa điểm kinh doanh, nhưng có một số thay đổi về thiết kế nội thất bạn có thể thực hiện được, nó sẽ góp phần tác động đến chất lượng công việc và tinh thần làm việc của nhân viên.
    • Trong khi các thiết kế văn phòng mở dần trở nên phổ biến, nhưng trên thực tế, chúng luôn bộc lộ những khuyết điểm. Nhân viên của bạn đôi khi cần một chút riêng tư để tập trung vào các nhiệm vụ của họ, điều này là không thể nếu họ cứ bị bao vây bởi những phiền nhiễu. Xem xét việc cài đặt các phòng làm việc tách biệt và làm rõ với các nhân viên mới rằng, họ nên sử dụng chúng bất cứ lúc nào khi cần thiết.

    Đối tác và khách hàng

    • Ban đầu có vẻ không rõ ràng, nhưng các đối tác và khách hàng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp của bạn. Thực tế không thể chối cãi rằng đây chính là những người mà doanh nghiệp của bạn phục vụ. Kết quả là, doanh nghiệp cảu bạn bắt đầu đảm nhận một số đặc điểm của họ. Điều mà nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp quên là yếu tố này hoàn toàn nằm khỏi tầm kiểm soát của họ. Sản phẩm hay dịch vụ mà họ đang cung cấp hấp dẫn những phân cấp đối tượng khách hàng nhất định.
    • Nhưng họ luôn có thể thực hiện các thay đổi đối với các dịch vụ, sản phẩm đó để thu hút những đối tượng khách hàng mới. Giống như một cá nhân đang cố gắng bán toàn bộ kỹ năng của họ trong một cuộc phỏng vấn, một doanh nghiệp cũng phải bán khả năng của hộ một cách có chiến lược. Xác định khách hàng lý tưởng của bạn bằng cách hỏi họ là ai và họ quan tâm điều gì. Bạn có thể thấy rằng một sự thay đổi trong cách bạn tiếp thị doanh nghiệp của bạn sẽ góp phần thay đổi văn hóa doanh nghiệp của bạn theo thời gian.

    Chiến lược tuyển dụng

    • Hãy xem xét những gì xảy ra trong một cuộc phỏng vấn: bạn đang cố gắng để có được cảm giác về một nhân viên trong tương lai. Mặc dù đội ngũ lãnh đạo của bạn cần xem xét xem họ có phù hợp hay không. Tuy nhiên, trên thực tế, người đó cũng đang đánh giá xem họ có thích làm việc cho công ty của bạn hay không. Nếu người phỏng vấn cực kỳ có trình độ, bạn sẽ muốn làm cho môi trường làm việc của bạn trở nên hấp dẫn nhất có thể, và điều đó bắt đầu bằng việc chào mời bằng vị trí công việc mà họ sẽ làm.
    • Đối với hầu hết nhân viên, có cơ hội trau dồi kỹ năng và phát triển trong sự nghiệp là một phần thiết yếu trong văn hóa doanh nghiệp của kinh doanh. Cung cấp những cơ hội này cho nhân viên mới bằng cách hứa hẹn đào tạo liên tục và đưa ra những cơ hội cho các chương trình, quy chế khuyến mãi,… dành cho nhân viên. Động thái này có thể tạo ra sự khác biệt giữa các doanh nghiệp có văn hóa chú trọng doanh thu, và những doanh nghiệp có văn hóa chú trọng chất lượng đãi ngộ cho nhân viên. Ngay cả những nhân viên giỏi nhất cũng cần sự giúp đỡ theo thời gian, vì vậy hãy đảm bảo rằng bạn đang cung cấp nhiều hỗ trợ. Cho dù đó là chuyên nghiệp hay cá nhân, chứng minh rằng bạn ở đó cho nhóm của bạn khi họ cần bạn là một trong những điều quan trọng nhất mà người lãnh đạo có thể làm.

    Cách tiếp cận giữa người với người

    • Có một lý do một trong những điều đầu tiên chúng ta học ở trường mầm non là làm thế nào để đối xử với người khác bằng sự tôn trọng và lòng tốt. Trong thế giới kinh doanh, người ta thường cảm thấy tham vọng là tất cả, những nguyên lý đơn giản này quan trọng hơn nhiều. Đối xử với nhân viên của bạn như một “con người” thay vì đối xử với họ như một “công cụ làm việc”. Sự thiếu tôn trọng đối với một thành viên trong nhóm có thể khiến văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng, và mọi thứ bạn làm trong công việc đều được xem xét kỹ lưỡng. Các trang web đánh giá việc làm đã giúp việc tiếp xúc với nơi làm việc coi phúc lợi của nhân viên trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, và các công ty ưu tiên hàng đầu đang gặt hái những lợi ích.

    Cách tìm hiểu văn hóa doanh nghiệp cho người tìm việc

    Làm một vài kiểm tra

    • Ngoài việc xem trang web của công ty, bạn cũng có thể kiểm tra một số tài nguyên trực tuyến cung cấp chi tiết về văn hóa doanh nghiệp. Chỉ cần lên các công cụ tìm kiếm, gõ từ khóa là tên doanh nghiệp mà bạn đang quan tâm. Hẳn sẽ có những thông tin ngoài lề về nó. Những vụ bê bối truyền thông cũng có thể được đưa lên báo đài chẳng hạn.

    Kiểm tra website của doanh nghiệp

    • Cụ thể, hãy nhìn vào trang “Giới thiệu về chúng tôi”. Điều này thường sẽ có một mô tả về sứ mệnh và giá trị của công ty. Một số trang web của công ty cũng có lời chứng thực từ nhân viên, đây có thể là một cách hữu ích để biết đặc trưng văn hóa doanh nghiệp là gì?

    Hỏi nhân viên trong công ty

    Nếu bạn biết ai đó làm việc cho một công ty mà bạn quan tâm, hãy làm một “cuộc phỏng vấn điều tra” để bạn có thể tìm hiểu về mô hình văn hóa doanh nghiệp là gì? Hay bạn cũng có thể hỏi các cựu sinh viên, hay bất kỳ ai đã từng “gắn bó” với công ty mà bạn dự định ứng tuyển.

    Hãy chắc rằng có một sự phù hợp tốt

    • Công việc không chỉ là một mức lương cộng với lượng thời gian làm việc, điều quan trọng đối với cả nhân viên và người sử dụng lao động là để đảm bảo có sự phù hợp với nhau. Nếu bạn sẽ không hạnh phúc khi làm việc tại một công việc hoặc cho một công ty, tốt hơn là nên trao cơ hội cho người khác và tiếp tục với những công việc mới mẻ hơn. Trước khi bạn chấp nhận một công việc mà bạn không chắc chắn, hãy thực hiện một số bài test để đảm bảo nó phù hợp với hệ thống kỹ năng , kinh nghiệm, tính cách và mục tiêu của bạn cho tương lai hay không?

    Đặt câu hỏi phỏng vấn

    • Nhà tuyển dụng có thể sẽ hỏi bạn các câu hỏi để đánh giá xem bạn có phù hợp với văn hóa công ty hay không . Tuy nhiên, bạn cũng có thể đặt câu hỏi. Nói một cách đơn giản, bạn sẽ mô tả văn hóa của công ty bạn như thế nào? Vì là cách đơn giản để tìm hiểu về môi trường làm việc. Bạn cũng có thể hỏi về các yếu tố đặc biệt của công ty quan trọng đối với bạn, chẳng hạn như số lượng công việc độc lập so với làm việc theo nhóm hoặc lịch làm việc hàng ngày của nhân viên,…

    Xây dựng văn hóa doanh nghiệp tích cực như thế nào?

    Trong thời buổi cạnh tranh, các doanh nghiệp tại Việt Nam ngày càng có sự đầu tư cho việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp tích cực, không chỉ nhằm thu hút nguồn nhân lực tài năng mới, mà còn tạo dựng sự tự hào về doanh nghiệp của các nhân viên cũ.

    Bước 1: Xác định các giá trị của doanh nghiệp

    Bạn cần trả lời 3 câu hỏi quan trọng nhất của mọi doanh nghiệp

    • Doanh nghiệp chúng ta tồn tại với mục đích gì?
    • Chúng ta tin tưởng vào những giá trị nào?
    • Tầm nhìn, sứ mệnh của doanh gnhiệp là gì?

    Văn hóa doanh nghiệp không chỉ tồn tại ở những buổi party, đồ ăn, đồ uống miễn phí. Thứ mà mọi người thực sự muốn là cần hiểu rõ được, họ đang làm việc vì cái gì, và trong tương lại họ trở thành cái gì. Nếu không xác định được các giá trị cụ thể, những nhân viên sẽ cảm thấy dần chán nản và bỏ đi.

    Những giá trị này không tồn tại dựa trên 1 câu nói được sơn đẹp đẽ trên tường, ở một góc đẹp nhất nơi tất cả mọi người đều nhìn thấy. Nó phải là các hành động cụ thể, công việc cụ thể, gắn liền với trải nghiệm làm việc của mọi người.

    Bước 2: Đánh giá lại văn hóa doanh nghiệp hiện tại

    • Văn hóa doanh nghiệp bắt đầu từ chính những nhân viên đầu tiên. Nhữnng thứ họ tin tưởng và các giá trị họ đem lại cũng như hướng đến chính là văn hóa. Chỉ cần từ 5 – 10 người, bạn đã có những hình dung rõ ràng về văn hóa doanh nghiệp hiện tại. Hãy xem xét lại và đưa ra các điều chỉnh phù hợp
    • Ở các doanh nghiệp nhỏ, vai trò của đội ngũ lãnh đạo là vô cùng quan trọng, bởi sự gần gũi cũng như khả năng kết nối và sức ảnh hưởng mạnh mẽ.

    Bước 3: Đầu tư thời gian vào xây dựng thương hiệu

    • Thương hiệu doanh nghiệp chính là những gì nhân viên suy nghĩ, cảm nhận và chia sẻ với người xung quanh về cách họ làm việc. Một thương hiệu tốt sẽ góp phần quan trọng xây dựng được văn hóa doanh nghiệp bền vững.
    • Sự tự hào chính là chìa khóa, giúp mọi nhân viên có những thái độ tích cực hơn, chủ động hơn trong công việc của mình.

    Bước 4: Tối ưu quy trình tuyển dụng

    Khi nhắc tới quy trình tuyển dụng, hãy dành nhiều thời gian hơn trong việc lựa chọn những nhân sự phù hợp bởi lẽ, nếu không cùng mục tiêu, mục đích, sẽ tốn rất nhiều thời gian của cả 2 mà không đi đến đâu cả.

    • Hãy đảm bảo rằng các ứng viên đồng tình với văn hóa và giá trị của doanh nghiệp
    • Tối ưu hóa quy trình tuyển dụng thành nhiều phần, nhiều góc độ
    • Ưu tiên cho thái độ, nhiều hơn là kinh nghiệm và kỹ năng.

    Bước 5: Liên tục củng cố giá trị doanh nghiệp

    Một số ví dụ như:

    • Phần thưởng cho những cá nhân có đóng góp tích cực
    • Tặng quà vào ngày sinh nhật
    • Tổ chức các buổi team-building, workshop,…

    Bước 6: Kiểm soát và đo lường sự hiệu quả

    Bạn có thể đo lường sự hiệu quả bằng nhiêu cách, như thực hiện các buổi khảo sát, đánh giá hay phỏng vấn nhân viên của mình xem họ có hài lòng với những văn hóa mà doanh nghiệp đang muốn xây dựng hay không.

    Hãy liên tục kiểm soát & đo lường cũng như tối ưu các hoạt động để xây dựng văn hóa tích cực.

    Xây dựng văn hóa công ty là một trong những nỗ lực quan trọng nhất đối với bất kỳ doanh nghiệpnào – và đồng thời cũng là chìa khóa để tuyển dụng và duy trì một đội ngũ gắn bó với năng suất cao.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Công Sở Với Sự Phát Triển Nền Hành Chính Công Vụ Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Vấn Đề “Bản Địa” Trong Kiến Trúc
  • Xác Định Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Những Đoạn Văn Mẫu Viết Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Tính Từ Trong Tiếng Anh: Phân Loại, Vị Trí, Dấu Hiệu Nhận Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100