Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Truyền Thống

--- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Dân Tộc
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài “đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ” Của Phạm Văn Đồng
  • Định Nghĩa Về Văn Hóa Và Quan Điểm Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Mới
  • Đoạn Văn Định Nghĩa Về Văn Hóa Ứng Xử Ko Sao Chép Ạ Câu Hỏi 136690
  • Hình Bình Hành Là Gì ? Định Nghĩa, Tính Chất Về Hình Bình Hành Chi Tiết.
  • Published on

    Báo cáo tại Hội nghị kỷ niệm 108 ngày sinh cố thủ tướng Phạm Văn Đồng,tại Quảng Ngãi.

    1. 1. BÁC PHẠM VĂN ĐỒNG VỚI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG GS. TSKH Phan Đăng Nhật “Quá khứ làm nên hiện tại và hiện tại cùng quá khứ làm nên tương lai với cái vốn giàu có nhất, quý báu nhất của một dân tộc, một chế độ” (Phạm Văn Đồng) MỞ ĐẦU 1.Giới thuyết thuật ngữ : văn hóa Có nhà khoa học đã thống kê được hàng mấy trăm định nghĩa về văn hóa. Bác Phạm Văn Đồng có định nghiã riêng. Chúng tôi thấy bác định nghĩa chủ yếu theo hai góc nhìn , về nội dung và về vai trò của văn hóa. Về nội dung, bác nhấn mạnh phần tinh thần, tư tưởng của văn hóa: ” …Văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả một hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sức nhạy cảm cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ và bản sắc của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh…” 1 Mặt khác , bác rất coi trọng vai trò , ý nghĩa của văn hóa: 1 Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, nxb CTQG, H. 1998, tr.150. Chân dung cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng
    2. 5. Sau đó một lần nữa bác nhắc lại lý thuyết trên: “Nhớ lại thời Vua Hùng với những truyền thuyết có tính thần thoại của nó, như “Bọc trăm trứng” “Sơn tinh-Thủy tinh” “Thánh Gióng, ” tôi càng thấy giá trị văn hóa của những truyền thuyết đó. Trước đây tôi có một câu mà hôm nay tôi muốn nhắc lại: thần thoại có khi giàu tính lịch sử, bởi nó là tính lịch sử thông qua tính thơ mộng cua dân gian. Ngày nay , dân ta còn giữ đền thờ và hàng năm nô nức vui mừng tổ chức ngày giỗ Vua Hùng, ngày hội Thánh Gióng”12 Khẳng định các truyền thuyết thời vua Hùng có tính lịch sử là khẳng định một vấn đề rất lớn: thời kỳ Hùng Vương tồn tại thực sự trong lịch sử nước nhà. Nhưng không nên đồng nhất truyền thuyết với lịch sử, vì truyền thuyết có tính thần thoại, “được chăp đôi cánh của sức tưởng tượng”. Vậy không thể hiểu cứng nhắc là có thực bọc trăm trứng, là Thánh Gióng thực sự cưỡi ngựa sắt bay về trời. -VHTT đối với hiên tại và tương lai Bác Phạm Văn Đồng có một cái nhìn sâu sắc , biện chứng, rằng VHTT của ba thời kỳ, quá khứ, hiện tại và tương lai vận động gắn kết xoắn xít với nhau. Trước hết là quá khứ -hiện tại, diễn tiến mạnh mẽ, sức chiến đấu được chuyển đến từ quá khứ “quá khứ đứng lên”, “truyền lại ý chí kiên cường bất khuất của tổ tiên cho hiện tại-người đang chiến đấu” ” Ở đây tôi cần nhấn mạnh rằng thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến là thắng lợi của trí tuệ thông minh và tài năng sáng tạo….cả quá khứ đứng lên với những di sản và truyền thống hào hùng, truyền lại cho người đang chiến đấu ý chí kiên cường bất khuất của tổ tiên” 13 Tiếp đến là mối quan hệ quá khứ- hiện tại- tương lai. Truyền thống hào hùng- quá khứ , truyền đến hiện tại, rồi cả quá khứ và hiện tại-đã được nhân lên, gộp lạị đẩy đến tương lai. Một sự chuyển động mạnh mẽ hùng tráng-một phát hiện rất mới lạ. “Quá trình lịch sử Việt Nam nhìn tổng quát là quá trình phát triển những giá trị văn hoá, thành tựu vĩ đại nhất của dân tộc ta. Quá khứ làm nên hiện tại và hiện tại cùng quá khứ làm nên tương lai với cái vốn giàu có nhất, quý báu nhất của một dân tộc, một chế độ” 14 Quy luật trên được cụ thể hóa bẳng thực tế cách mạng từ năm 30 của thế kỷ 20: “Những thập kỷ vừa qua, có thể kể từ nhưng năm 30 của thế kỷ này, tuy thời gian rất ngăn so với cả lịch sử của dân tộc, song nó tràn đầy những giá trị văn hoa mới của thời đại, làm giàu thêm bản lĩnh và truyền thống quý báu của dân tộc, không 12 Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, nxb CTQG, H. 1998, tr.151. 13 Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, nxb CTQG, H, 1994, tr. 19. 14 Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, nxb CTQG, H, 1994, tr. 70.
    3. 7. 3. Phương pháp tiếp cận (cách nhìn và tầm nhìn) tổng thể, biện chứng và hệ thống. Để có những phát hiện độc đáo như đã trịnh bày ở trên, bác Pham Văn Đồng đã vận dựng một phương pháp tiếp cận -mà bác gọi là cách nhìn, tầm nhìn-tổng thể, biện chứng và hệ thống, và bác cũng khuyên chúng ta vân dụng cách nhìn như trên: “Đó là cách nhìn và tầm nhìn có tính văn hóa, thấy thời và thế, biết vận dụng thời để tăng cường thế và biết vận dụng thế để tạo thêm thời. Trong lịch sử nước ta, xa xưa cũng như gần đây , dân tộc Việt Nam ta đã gặp nhiều thời điểm như vậy”18 “Phải có cách nhìn và tầm nhìn xuyên qua lịch sử, lịch sử nước ta và lịch sử thế giới, vượt qua không gian, từ nước ta nhìn ra thời đại đang diễn ra cao trào cách mạng sau thắng lợi của Liên Xô…” 19 4.Mối quan hệ giữa con người ( thiện tâm, nhân hậu , thủy chung) và luận thuyết khoa học của bác Phạm Văn Đồng. -Tinh thần dân chủ, cởi mở trong khoa học Đọc các luận văn của bác chúng ta không có cảm giác là được huấn thị từ trên xuống , mà như được nghe những lời trao đổi, lời tâm sự. Nhiều lần bác dừng lại nhắc nhủ người đọc bổ sung , hoàn chỉnh ý của mình: “Nói văn hóa dân gian mà chỉ nói ngắn gọn đến như thé này, thì quả không thấm vào đâu. Song ở đây ý của người viết là chỉ nhắc cho người ta nhớ cái di sản văn hóa biết bao phong phú và quý giá này. Người đọc tha hồ bổ sung bao nhiêu tùy ý, từ các thể loại văn học đến các loại hình nghệ thuật dân gian” 20 18 Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, nxb CTQG, H, 1994, tr. 50. 19 Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, nxb CTQG, H, 1994, tr. 33. 20 Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, nxb CTQG, H, 1994, tr. 75.
    4. 9. Bày tỏ lòng kính yêu và biết ơn bác, nhân kỷ niệm ngày sinh 108 này, chúng con ra sức học tập bác : -Luận thuyết khoa học, mà ở đây là sự nhận định rất sâu sắc, toàn diện về đặc điểm và vai trò của quá khứ, của VHTT; đặc biệt là đối với việc xây dựng xã hội hiện tại. -Phương pháp tiếp cận -Phẩm chất nhân hậu, yêu thương dân chân thành, vì dân thực sự./. P.Đ.N (Hà Nội 16-12-2013 Quảng Ngãi 1-3-2014) TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH -Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta,sự nghiệp ta và người nghệ sỹ, nxb Văn học, H, 1969. -Phạm Văn Đồng: Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm vóc dân tộc ta thời đại ta, nxb ST, H, 1975. -Phạm Văn Đồng: Hồ chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, nxb ST, H, 1990 -Phạm Văn Đồng: Hồ chí Minh và con người việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, nxb CTQG, H, 1993. -Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, nxb CTQG, H, 1994. -Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ chí Minh, nxb CTQG, H. 1998. -Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh: Đồng chí Phạm Văn Đồng với cách mạng Việt Nam, H, 2006. – Cù Huy Chử: Về mối quan hệ giữa GS Trần Đức Thảo với ông Phạm Văn Đồng. chúng tôi -studies/info/TDThao/CuHuyChu. -Hương Thảo Nguyên: Chuyện về cuộc đời cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, phunutoday. PHỤ LỤC 1. “Cứu tác giả Hà Nội trong mắt ai: Trong thời gian làm thủ tướng chính phủ, ông (Phạm Văn Đồng) và ông Nguyễn Văn Linh là người dã giải oan cho đạo diễn
    5. 10. Trần văn Thủy trong sự kiện về bộ phim tài liệu “Hà Nội trong mắt ai” (Đạo diễn Trần Văn Thủy với ký ức ” Hà Nội trong măt ai”-Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình, đài truyền hình Việt Nam) 2. “Những bài thơ của Việt Phương trong tập “Cửa mở” đã dám nói những cái được, cái chưa được của xã hội thời điểm đó. Dù sau này, tập thơ “Cửa mở” của Việt Phương được đánh giá rất cao, nhưng vào thời điểm những năm 1970, không ít người đã coi thơ của ông trong “Cửa mở” là phản động. Những lời đồn như thế lan đi khắp nơi, mà khi đó nhà thơ Việt Phương lại là thư ký riêng của Phạm Văn Đồng. Việc một thư ký cận kề với Phạm Văn Đồng viết ra những bài thơ đó khiến cho không ít những luồng dư luận phản động đã có những lời lẽ xuyên tạc về tập “Cửa mở” của Việt Phương, và điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng Nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề cảm thấy lấn cấn về việc đó. Ông thậm chí còn động viên nhà thơ Việt Phương: “Phương hãy tổ chức những buổi nói chuyện về tập thơ này, để người ta hiểu hơn về những điều Phương viết trong đó”. (Hương Thảo Nguyên: Chuyện về cố thủ tướng Phạm Văn Đồng) 3. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không biết chàng trai Việt và cô gái Thụy Điển là ai. Ông chưa từng một lần gặp họ. Nhưng khi nghe câu chuyện của họ, ông biết mình sẽ giúp họ, vì họ yêu nhau và nên được ở gần nhau. Ông đã viết một bức thư (trả lời thư của cô Thụy Điển) đề nghị cho phép họ được đến với nhau. Nhờ bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, mà một mối tình Việt – Thụy Điển đẹp như mơ đã có một cái kết có hậu. Câu chuyện tình của họ sau đó đã được báo chí Thụy Điển đến tìm hiểu với mong muốn ca ngợi một mối tình đẹp (Hương Thảo Nguyên:Chuyện về cuộc đời cố thủ tướng PVĐ, phunutoday) 4. Cũng chính ông Phạm Văn Đồng đã nói với Trần Đức Thảo: “Tôi thật sự cảm phục anh, và bài tôi thích nhất trong những bài báo anh đã công bố ở Việt Nam là bài “Hạt nhân duy lý” trong triết học Hê-ghen. Theo tôi, đó là một bài báo có tầm cỡ thế giới”. (TS Cù Huy Chử: Về mối quan hệ giữa GS Trần Đức Thảo với PVĐ- một vài nét chấm phá) chúng tôi “Trần Đức Thảo tiếp tục tâm sự với tôi (CHC): “Ông Phạm Văn Đồng quan tâm đến tôi từ việc nhỏ, như bố trí nhà ở, cho đến việc lớn như khi tôi đang bị phê phán ở trường đại học về vấn đề Nhân văn-Giai phẩm, thì chính ông Phạm Văn Đồng đã gửi cho tôi một tấm danh thiếp ngắn, với dòng chữ: ‘Anh Thảo, mong anh bình tĩnh và suy nghĩ lại”. (TS Cù Huy Chử: đã dẫn) “Trong những người tri âm của thứ triết học ‘thượng hạng’ của anh Thảo, có thể nói anh Tô là người được anh Thảo sùng kính nhất. Chỉ với anh Tô, anh Thảo mới bộc lộ hết được lòng mình. Có bận tôi thấy anh Thảo buồn rầu buột miệng: ‘Anh (chỉ anh Tô) thì hiểu được lòng tôi, chứ những người khác, người ta không hiểu được đâu’. Ngày Trần Đức Thảo qua đời, anh Tô khóc rất nhiều. Nhiều tháng sau đó, anh vẫn rất buồn và hay thở dài mỗi khi nhắc tới Trần Đức Thảo. Hình như anh vẫn day dứt một điều gì đó chưa làm được thật trọn vẹn cho Trần Đức Thảo, mặc dù ai cũng hiểu anh đã làm tất cả những gì có thể”. (TS Cù Huy Chử: đã dẫn).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Chính Xác Trong Cách Hiểu Về Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
  • Thực Dân Pháp Xâm Lược Việt Nam Là Khai Hóa Văn Minh
  • Nguồn Gốc Luận Thuyết Của “sứ Mệnh Khai Hóa”
  • Ý Nghĩa Hoa Văn Đặc Trưng Của Mỗi Quốc Gia
  • Tản Mạn Chút Về Văn Hoá Xếp Hàng
  • Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài “đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ” Của Phạm Văn Đồng
  • Định Nghĩa Về Văn Hóa Và Quan Điểm Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Mới
  • Đoạn Văn Định Nghĩa Về Văn Hóa Ứng Xử Ko Sao Chép Ạ Câu Hỏi 136690
  • Hình Bình Hành Là Gì ? Định Nghĩa, Tính Chất Về Hình Bình Hành Chi Tiết.
  • Tổng Quát Kiến Thức Về Hình Bình Hành
  • Tại Hội thảo, có sự tham gia của 64 tham luận của các Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ,… từng gặp, làm việc với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tất cả các tham luận đều đề cập đến Bác Đồng gắn liền với văn hóa, nhân cách sống, lòng nhân hậu và tài đức.

    Bác Hồ (bên trái) trao đổi công việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

    Phát biểu đề dẫn hội thảo, Giáo sư Hoàng Chương – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam (Trung tâm NCBT&PTVHDNVN) khẳng định: “Hội thảo chọn 1 trong 3 điểm lớn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đó là văn hóa dân tộc. Vì ai cũng biết, Phạm Văn Đồng không chỉ là một Thủ tướng huyền thoại đã điều khiển Chính phủ Việt Nam suốt 32 năm, qua 2 cuộc kháng chiến kéo dài thập kỷ, đã giành chiến thắng những đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới. Cho nên cả thế giới suy tôn mà Phạm Văn Đồng còn là một Thủ tướng huyền thoại, một học giả, một nhà văn hóa kiệt xuất”.

    Phạm Văn Đồng là một lãnh tụ cách mạng mang tâm hồn dân tộc, yêu quý và am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn luôn khuyên mọi người hãy sống theo truyền thống tốt đẹp. Giáo sư Hoàng Chương cho rằng, nhiều chính khách và bạn bè quốc tế nhận xét: “Phạm Văn Đồng là một trong những lãnh đạo lỗi lạc nhất, một trong những người nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 20”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Phạm Văn Đồng là con người thứ 2 của tôi”.

    Tham gia tham luận, chúng tôi Lê Hữu Nghĩa – Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương thể hiện nhan đề ” Phạm Văn Đồng – một tư duy sáng tạo và nhân cách văn hóa lớn của Đảng và dân tộc“. chúng tôi Lê Hữu Nghĩa cho rằng: “Đồng chí Phạm Văn Đồng không chỉ có những tư tưởng sâu sắc, sáng tạo về văn hóa nghệ thuật, tâm huyết về giáo dục, thể hiện là nhà giáo dục lớn. Chính Thủ tướng đã để lại câu nói bất hủ trong ngành giáo dục, đồng chí yêu cầu ” Nhà trường phải coi trọng giáo dục toàn diện cho học sinh, cả đức dục, trí dục, thể dục và mỹ dục. Phải làm và làm tốt giáo dục đạo đức cách mạng. Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học“, phải xác định rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng, tấm gương học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

    Điều đặc biệt, tại Hội thảo, ông Nguyễn Tiến Năng – Nguyên Thư ký cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng bày tỏ với tham luận ” Đôi nét đời thường của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng “. Ông kể lại: “Sau khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được điều động sang Phủ Thủ tướng, ở đây tôi được gặp Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc gặp đầu tiên nằm ngoài tưởng tượng của tôi đã khiến tôi hết sức xúc động. Tôi rất phần khởi và hồi hộp, tim đập mạnh, người run lên. Khi Thủ tướng hỏi, tôi còn lúng túng, sợ sệt, bởi vì ông vừa lớn tuổi vừa có chức vụ cao, còn tôi chỉ là anh lính, học hành chẳng là bao”.

    Suy nghĩ về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Nguyễn Tiến Năng nói: “Đối với anh em trong cơ quan, ông luôn coi đây là một gia đình nhỏ mà ông là người anh, anh em là những người em. Ông rất coi trọng gia đình nhỏ này nên rất quan tâm đến công việc của anh em. Ông thường xuyên hỏi han công việc, đời sống gia đình, giúp đỡ anh chị em bất cứ những gì có thể. Ngay cả chuyện lương bổng ông cũng quan tâm, hỏi han xem thu thập bao nhiêu, có đủ sống không… Bởi thế, quan hệ giữa ông và mọi người trong cơ quan quá bình đẳng, thân tình, đúng như anh em một nhà”.

    Thành viên chủ trì Hội thảo.

    Ấp ủ kế hoạch tạc tượng Bác Đồng, Họa sĩ – Nhà điêu khắc Vương Duy Biên (Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) nhớ lúc viếng tang lễ Bác Hồ kính yêu, được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng bên các cháu thiếu nhi rồi cùng òa khóc đưa tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Tôi xúc động vô cùng khi nhìn Bác Đồng gầy gộc, khắc khổ trông rất giống bố tôi và tự nhiên tôi thấy bác rất gần gũi, yêu quý bác. Rồi tôi ngắm nhìn bác kỹ hơn, bỗng trỗi dậy trong tôi tìm cảm đặc biệt đối với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi lặng lẽ tìm kiếm vật liệu đất sét để làm bức phù điêu chân dung Bác Đồng, khi thực hiện xong tác phẩm rất giống Người, tôi nhớ có nhà thơ Cẩm Lai (hàng xóm) khen và định hướng tôi theo ngành mỹ thuật. Ngày đó tôi chỉ 10 tuổi thôi, mãi cho đến nay, tôi đã sống và theo lĩnh vực mỹ thuật này”. Ông Vương Duy Biên nhớ lại.

    Họa sĩ – Nhà điêu khắc Vương Duy Biên tự nhủ: “Bên cạnh việc thể hiện hình tượng Bác Hồ, tôi phải thực hiện được tác phẩm về vị Thủ tướng tiền bối đáng kính thật tốt nhất, đẹp nhất với tìm cảm thực sự của mình. Tôi tin mình sẽ làm được trong thời gian tới”.

    Tại Hội thảo, 64 tham luận đều thể hiện tình cảm đặc biệt đến cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, có các tham luận tiêu biểu như Phạm Văn Đồng – dòng sông chảy mãi (tác giả Hà Đăng – Nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương); Nhớ lại một vài kỷ niệm sâu sắc với anh Tô (Nhà báo Hữu Thọ – Nguyên Tổng biên tập báo Nhân dân); Trọn đời làm việc cho Đảng, cho dân (Ông Phạm Thanh Biền – Nguyên Khu ủy viên Khu V, Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi); Phạm Văn Đồng: Danh nhân cứu nước – nhà hiền triết, nhà văn hóa lớn thời đại Hồ Chí Minh (nhà văn Đoàn Minh Tuấn); Thủ tướng Phạm Văn Đồng và vấn đề gia đình (Nhà văn Vũ Hạnh – Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương);…

    Hội thảo thu hút nhiều đại biểu về tham dự tại Quảng Ngãi.

    Kết luận Hội thảo, chúng tôi Lê Hồng Lý – Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa nêu: “Phạm Văn Đồng là hình ảnh lớn, mang tư cách quốc gia lẫn quốc tế. Chúng ta nên khẳng định, văn hóa chính là nhân cách sống đời thường hàng ngày mà Bác Đồng đã thể hiện. Điều đáng lưu tâm hơn, chúng ta chỉ nói thôi cũng chưa đủ, cần làm sao cho thế hệ trẻ hiện nay học, đọc sách, nghiên cứu về văn hóa của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chứ tổ chức Hội thảo mà không lưu lại cho thế hệ mai sau thì vô nghĩa. Hội thảo lần này, là tiền đề tốt để tổ chức Hội thảo cấp quốc gia sắp tới nhân kỷ niệm 110 năm sinh của Thủ tướng Phạm Văn Đồng”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Truyền Thống
  • Cần Chính Xác Trong Cách Hiểu Về Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
  • Thực Dân Pháp Xâm Lược Việt Nam Là Khai Hóa Văn Minh
  • Nguồn Gốc Luận Thuyết Của “sứ Mệnh Khai Hóa”
  • Ý Nghĩa Hoa Văn Đặc Trưng Của Mỗi Quốc Gia
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác
  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco, Định Nghĩa Unesco Về Tin Tức, Tiêu Chí Của Unesco, Các Tiêu Chí Đánh Giá Di Sản Của Unesco, Quan Niệm Của Unesco Về Văn Hóa, Quan Niệm Văn Hóa Của Unesco, Nghị Quyết Unesco Về Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Tiêu Chí Được Unesco Công Nhận, chúng tôi ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa Cảm ơn, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa 2 Góc Kề Bù, Định Nghĩa Rác, Nêu 1 Số Định Nghĩa Về Văn Hóa, Định Nghĩa Iso, Định Nghĩa Cái Tôi, Định Nghĩa R&b, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Phụ Nữ, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa Y Đức, ý Nghĩa Của Quy Định 55, Định Nghĩa Bồ, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa It, Định Nghĩa C, Định Nghĩa C/o, ý Nghĩa Của Quy Định Số 08-qĐi/tw, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa I, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa 1 Chữ Bạn, Định Nghĩa 0 Là Gì, Định Nghĩa, Định Nghĩa Số 0, Định Nghĩa Số 0 Hải Đồ, Định Nghĩa Số Hữu Tỉ, Định Nghĩa Iq, Từ Định Nghĩa Là Gì, 8/3 Định Nghĩa, Định Nghĩa Ete, Định Nghĩa E Hóa Trị, Định Nghĩa 1 Kg, Định Nghĩa 1 Mét, ý Nghĩa Của Quy Định 08, Đất ở Định Nghĩa, Định Nghĩa Ip, Định Nghĩa 2 Chữ Bạn Bè, Định Nghĩa 1m, Định Nghĩa 14/2, Định Nghĩa 14 2, Định Nghĩa Iot, Bài 1 Các Định Nghĩa, Định Nghĩa Rủi Ro, Định Nghĩa 1 Từ, Định Nghĩa S M, Từ Quy Định Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Quy Định 08, Định Nghĩa Sốt, Định Nghĩa ăn Tạp, Định Nghĩa ất ơ, Định Nghĩa E=mc2, Định Nghĩa âm On Và âm Kun, Định Nghĩa âm Đệm, Định Nghĩa Bạn Bè, Định Nghĩa Lim, Định Nghĩa 9x, Định Nghĩa 80/20, Định Nghĩa 8/3, Định Nghĩa Bạn Thân, ý Nghĩa Quy Định 55-qĐ/tw, Định Nghĩa 8 3, Định Nghĩa Số 9, Định Nghĩa Art, Định Nghĩa Lời Cảm ơn, Định Nghĩa Máy 99, Định Nghĩa Ma Túy, Định Nghĩa An Lạc, Định Nghĩa ân Hạn Nợ, Định Nghĩa ân Hạn, Định Nghĩa M&a, Định Nghĩa ăn Vặt, Định Nghĩa M/s, Định Nghĩa ăn, Định Nghĩa âm Vị, Định Nghĩa N*,

    Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco, Định Nghĩa Unesco Về Tin Tức, Tiêu Chí Của Unesco, Các Tiêu Chí Đánh Giá Di Sản Của Unesco, Quan Niệm Của Unesco Về Văn Hóa, Quan Niệm Văn Hóa Của Unesco, Nghị Quyết Unesco Về Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Tiêu Chí Được Unesco Công Nhận, chúng tôi ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa Cảm ơn, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa 2 Góc Kề Bù, Định Nghĩa Rác, Nêu 1 Số Định Nghĩa Về Văn Hóa, Định Nghĩa Iso, Định Nghĩa Cái Tôi, Định Nghĩa R&b, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Phụ Nữ, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa Y Đức, ý Nghĩa Của Quy Định 55, Định Nghĩa Bồ, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa It, Định Nghĩa C, Định Nghĩa C/o, ý Nghĩa Của Quy Định Số 08-qĐi/tw, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa I, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa 1 Chữ Bạn, Định Nghĩa 0 Là Gì, Định Nghĩa, Định Nghĩa Số 0, Định Nghĩa Số 0 Hải Đồ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Y Học Bản Địa Là Gì?
  • Định Nghĩa Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Văn Hóa Là Gì? Các Định Nghĩa Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Cực Chất
  • Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh
  • Cafe: Các Khái Niệm Để Các Ứng Dụng Trong Gia Đình Hệ Thống Kỹ Thuật
  • Cập Nhật Bộ Từ Vựng Tiếng Anh Về Gia Đình Hoàn Thiện Nhất
  • Các Thì Trong Tiếng Anh: Bảng Tóm Tắt 12 Thì Tiếng Anh
  • Theo chúng tôi, văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về Văn hóa.

    Những định nghĩa khác nhau về văn hóa

    Năm 1952, A.L. KroeberKluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions . Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người.

    Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L. KroeberKluckhohn đưa ra là ” Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau. Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo.

    Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộngnghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì ” Văn hóa là một phức hệ – tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

    Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa.

    Như định nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật

    Còn các định nghĩa của F. Boas, Nguyễn Đức Từ Chi, tổ chức UNESCO… thì xem tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa.

    Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu. Chúng tôi cho rằng, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng.

    Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn.

    Theo Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

    [9] Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia chúng tôi 2004, tr. 314.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Hạnh Phúc
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trong Tiếng Anh
  • 38 Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Cực Kì Lãng Mạng Và Ý Nghĩa
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Tình Yêu
  • 15 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Định Nghĩa Văn Hóa Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Y Học Bản Địa Là Gì?
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Có nhiều định nghĩa khác nhau của văn hóa doanh nghiệp, mặc dù gần như tất cả những người được chấp nhận rộng rãi nhất là tương tự và bao gồm nhiều khía cạnh tương tự.

    – Gareth Morgan đã mô tả văn hóa doanh nghiệp như: “Các thiết lập của niềm tin, giá trị, và các định mức, cùng với các biểu tượng như các sự kiện và các cá nhân, đại diện cho nhân vật duy nhất của một doanh nghiệp, và cung cấp bối cảnh cho hành động ở trong đó . ” Niềm tin và giá trị là những từ sẽ xuất hiện thường xuyên trong các định nghĩa khác. Định mức có thể được mô tả như truyền thống, cấu trúc của cơ quan, hoặc thói quen.

    Một cách khác đơn giản hơn nhìn vào văn hóa doanh nghiệp là để xem nó như là phản ứng chung của một nhóm để kích thích kinh tế. Một nền văn hóa doanh nghiệp là một nhóm người đã được đào tạo, hoặc chỉ đơn giản là đã học được bởi những người xung quanh, làm thế nào để hành động trong bất kỳ tình huống nào. Bằng cách này, văn hóa doanh nghiệp có chức năng giống như bất kỳ xã hội học tập.

    Các khía cạnh khác của văn hóa doanh nghiệp mà thường đúng sự thật là nó trở nên bắt rễ sâu. Đó là bản sắc của một công ty, và vì lý do đó, trong một số cách, nó sẽ trở thành một bản sắc của những người làm việc ở đó. Điều này luôn luôn là quan trọng để nhớ, như văn hóa trở thành giống như một đối số tròn. Những người dân sẽ ảnh hưởng đến văn hóa như văn hóa ảnh hưởng đến họ.

    Bởi vì nền văn hóa được bắt rễ sâu trong lịch sử doanh nghiệp của sự thành công hay thất bại, và bởi vì kinh nghiệm của nó, bất kỳ doanh nghiệp mà cần phải làm việc để thay đổi nó sẽ phải đối mặt với một trận chiến khó khăn và đầu tư rất lớn trong thời gian, nguồn lực, và làm việc. Trong tình huống này, nó thường là tốt nhất để tìm thấy một số người bên ngoài chuyên nghiệp ít nhất là giúp đỡ những người không được tiếp xúc và hút vào những thói quen xấu của một nền văn hóa doanh nghiệp bất thường.

    Vì vậy, trong khi có nhiều định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp, tất cả trong số họ tập trung vào những điểm giống nhau: kinh nghiệm tập thể, thói quen, niềm tin, các giá trị, mục tiêu, và hệ thống. Đây là những kinh nghiệm và học được, thông qua ngày cho nhân viên mới, và tiếp tục như là một phần của bản sắc cốt lõi của công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Chi Tiết Môn Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Bộ Tài Liệu 110 Câu Tìm Từ Đồng Nghĩa
  • Bài Luận Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh
  • Tự Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Bài 24: Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • Các Loại Từ Vựng Trong Tiếng Anh
  • Định Nghĩa Lại “văn Hóa Đọc”

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Đọc Cho Sinh Viên
  • Khái Niệm Axit Là Gì ?
  • Gene Vs. Allele: Sự Khác Biệt Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Gen Và Alen Là Gì?
  • An Ninh Trật Tự Là Gì? Bảo Vệ An Ninh Trật Tự Nước Ta Hiện Nay
  • Tựa như khoác lên mình chiếc áo quá khổ, cụm từ “văn hóa đọc” khiến người trẻ cảm thấy xa cách và không hấp dẫn. Để đọc sách trở thành một nhu cầu, họ cần một định nghĩa gần gũi hơn.

    Thị trường sách Việt nam khá phong phú về thể loại

    Có mặt tại buổi giao lưu với đề tài “Quyển sách thay đổi cuộc đời”, tổ chức vào thượng tuần tháng 2 vừa qua, ông Nguyễn Hữu Hoạt, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty Văn hóa Phương Nam, đã có nhận định khiến nhiều người giật mình. Nhân vật có thâm niên trong ngành xuất bản của Việt Nam này cho biết một thực tế: Sách nghiêm túc ngày càng ít người đọc.

    Là đại diện cho một đơn vị phát hành sách hàng đầu Việt Nam, thực tế phát hành cho phép ông nhận định như thế. Và đây đúng là một thực tế đáng buồn. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì?

    Theo blogger Dâu Tây (Joe), một người nước ngoài khá gắn bó với Việt Nam, thị trường sách tại Việt Nam khá nhỏ và việc đọc như một thói quen để có thể trở thành nét văn hóa là chưa có. Joe nhận thấy, mỗi đầu sách xuất bản tại Việt Nam tiêu thụ được tầm 20.000 cuốn đã là niềm sung sướng đối với người làm sách, nhưng ở Anh, sách được xem là bán chạy luôn cán mức vài triệu bản.

    “Đơn cử như ở tỉnh Nghệ An, dân số hơn 2,940 triệu người, nhưng số lượng sách tiêu thụ chỉ khoảng 100 bản/quyển. Điều này cho thấy mức độ tiếp cận sách của người Việt là không cao”, Joe nhận định.

    Đồng quan điểm, nhạc sĩ Quốc Bảo cũng cho rằng thị trường sách Việt Nam kém hấp dẫn. Tuy nhiên, nếu bảo hiện nay người trẻ Việt Nam không màng đến việc đọc sách thì cũng không chính xác. Việc đọc vẫn đang tiếp diễn và người Việt vẫn đang đọc, đọc trên bản in, trên những ấn bản điện tử…

    Điều cần lưu ý là thời gian vừa qua, việc các đơn vị trong ngành xuất bản kêu gọi phát triển văn hóa đọc và đưa cụm từ này lên truyền thông dường như không mang lại hiệu quả và có phần phản tác dụng. Theo nhạc sĩ, việc đọc đơn giản phải diễn ra theo đúng nghĩa của nó: Đọc vì thích đọc, là nhu cầu tự nhiên như sự hít thở không khí…

    Bản thân là người yêu sách nhưng anh đọc không phải để tìm kiếm điều gì trong sách mà đối với anh, việc đọc đã là một nhu cầu. “Tôi xem việc đọc là thâm nhập vào tác phẩm và hiểu được tác giả, đồng cảm với nội tâm của những người có thể chưa từng quen biết. Thế nên, theo tôi, người làm sách đang thực hiện sứ mệnh mang cảm xúc đến với người khác”, anh chia sẻ.

    Không chỉ nhạc sĩ Quốc Bảo tỏ ra “nhạy cảm” với khái niệm này, diễn giả Trần Đăng Khoa cũng cho biết, anh rất thường đọc sách nhưng nghe đến “văn hóa đọc” là thấy cụm từ này có vẻ “cao siêu” làm sao.

    Là đại diện cho những người trẻ, anh cho rằng, để khuyến khích sự đam mê đọc sách thì nên hạn chế dùng cụm từ này. Thay vào đó, cần cho mọi người biết được tác dụng tốt của việc đọc và chỉ nên đọc những cuốn sách có nội dung tốt.

    “Đọc sách nhiều có thể giảm 35% các vấn đề về não, giảm căng thẳng. Một cuốn sách hay có thể giúp người ta sống tốt hơn. Theo thống kê, có đến 2/3 số người có thu nhập cao thường xuyên đọc sách. Vậy thì việc đọc mang lại giá trị cho độc giả hơn là người làm sách”, anh khẳng định.

    Dạo một vòng các nhà sách lớn, không khó để nhận ra sự phong phú về mặt thể loại của các đầu sách xuất bản tại Việt Nam. Nhưng đáng chú ý là sự xuất hiện ngày một nhiều các tác phẩm diễm tình hiện đại của Trung Quốc. Chủ yếu các tác giả của thể loại này đều xuất thân từ văn học mạng nên văn phong cũng như cách khai thác đề tài của họ khá “nóng”.

    Và giới trẻ Việt Nam đang nồng nhiệt đón nhận thể loại này. Tất nhiên, mỗi thể loại sách đều có giá trị riêng, không đơn thuần là giải trí, nhưng lựa chọn được cuốn sách tốt trong một rừng sách như hiện nay không còn là việc dễ dàng.

    Theo diễn giả Trần Đăng Khoa, ngày trước, sách xuất bản ít nhưng bù lại có những tác phẩm có giá trị rất lớn đối với người đọc. Điển hình như Thép đã tôi thế đấy đã làm thay đổi cả một thế hệ.

    Trong bối cảnh trăm hoa đua nở như hiện nay, sách xuất hiện đúng thời điểm với người đọc, tác động đến suy nghĩ của họ trong giai đoạn đó chính là cuốn sách thay đổi cuộc đời. Anh kể, những ngày ở Singapore, mới ra trường, đi học có học bổng nhưng vẫn phải mượn nợ.

    Tình cờ, Khoa được người bạn tặng cuốn sách cũ, đã được đọc đến nhàu nhĩ và ghi chú lại rất kỹ. Nội dung tập sách không quá xuất sắc nhưng đã giúp Khoa nhận ra một giá trị: Khi trẻ phải để cho bản thân biết ước mơ. Mơ để phá những xiềng xích trong lòng mình.

    “Sau khi đọc quyển sách ấy, tôi quyết tâm phải làm cho bản thân mạnh mẽ hơn”, Khoa kể. Sau 5 năm nhìn lại, Khoa thấy cuộc đời mình khác hẳn. Anh không còn mơ chuyện tăng lương hay trả hết nợ mà có những ước mơ khác, lớn lao hơn, đó là về Việt Nam lập công ty và phát triển sự nghiệp.

    Tương tự, với nhạc sĩ Quốc Bảo, năm 12 tuổi, anh vô tìm tìm được một cuốn sách cũ của cậu. Đó là một tập sách mỏng, đọc hết chỉ mất khoảng 3 tiếng đồng hồ nhưng từ đó đến nay anh đã đọc đi đọc lại tập sách này hơn 60 lần, bởi nó đã trở thành cẩm nang sống của anh. Anh chia sẻ: “Tập sách nuôi lửa nghệ thuật và truyền cảm hứng cho tôi suốt ngần ấy năm”.

    Không kể tên hai cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hai nhân vật kể trên, bởi có thể chúng có tác dụng với người này nhưng lại không có tác dụng với người khác. Điều quan trọng là cả hai nhân vật trên đều không chủ đích tìm kiếm giá trị từ cuốn sách mà họ đã đọc suốt cả cuộc đời như là một thói quen không thể bỏ được.

    “Chúng ta không thể ôm hết giá trị nhân văn của nhân loại. Do đó, đọc ít hay nhiều không quan trọng, mà chỉ cần cảm thấy hạnh phúc khi đọc là được. Sách không phải là của người đọc nó, mà là của người cần nó”, nhạc sĩ Quốc Bảo chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Kỹ Năng Đọc Và Đọc Hiểu
  • Booking Là Gì? Những Khái Niệm Về Booking Bạn Cần Biết
  • Khái Niệm Động Từ Khuyết Thiếu Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì
  • Chỉ Từ Là Gì? Khái Niệm Vai Trò Trong Câu & Ví Dụ
  • Bàn Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Khái Niệm Cần Hiểu Rõ Để Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Giải Đáp Thắc Mắc Xoay Quanh Khái Niệm Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • TMT: Loài người đã và đang có một lịch sử văn hóa dài lâu trải qua biết bao thế hệ. Một học giả trong một nỗ lực tìm định nghĩa về Văn hóa có viết: “Văn hoá như là: Tất cả những nỗ lực của muôn thế hệ nhân quần để vươn lên cho tới tinh hoa hoàn thiện, cho tới một đời sống lý tưởng về một phương diện nào hay về mọi phương diện, và tất cả những công trình đã thực hiện được, những giai đoạn đã vượt qua được trên bước đường tiến hoá ấy . Ở bài này Nhà nghiên cứu Chu Tấn cũng đã dày công tập hợp 25 định nghĩa về Văn hóa để giúp người đọc tiếp cận văn hóa theo những chiều hướng khác nhau cũng không ngoài mục đích để văn hóa dẫn lối, đưa đường chúng ta vững bước trên con đường tiến hóa đến tinh hoa, hoàn thiện.

    I- Nhận Định Về 25 Định Nghĩa Văn Hóa Tiêu Biểu:

    Điều biểu hiện rõ nhất của văn hóa chính là sự lựa chọn (Thí dụ về cách ăn: Có dân tộc thích ăn bốc, người Việt ăn bằng đũa, người Tây Phương ăn bằng thìa, dao nĩa v.v…- Thí dụ về cách đối xử với người chết: cũng có những chọn lựa khác nhau: địa táng (chôn dưới đất) thủy táng (thả xuống nước) hỏa táng (đốt thành tro) điểu táng (để xác cho chim ăn thịt) ướp xac, tượng táng (biến xác chết thành pho tượng, quét sơn lên để giữ gìn v.v…) Không thể nói kiểu chọn lựa nào hay hơn kiểu chọn lựa nào vì đều là phương cách biểu hiện văn hóa của mỗi cá nhân hay của một dân tộc…

    Tuy nhiên văn hóa, không chỉ là “quan hệ”- “giao tiếp”- và “chọn lựa” mà còn nhiều “tác năng” và “chức năng” khác nữa ….. Do đó chúng ta thấy rằng định nghĩa văn hóa theo” Thao tác luận ” khá hay và độc đáo, nhưng chính “Thao tác luận” cũng bị “giới hạn” bởi chính :phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa!!! chẳng phải thế sao?

    : của Văn Hào Pháp André Malraux (1901-1976). ” Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Mười Tám Văn Hóa là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít nô dịch hơn”(19)

    Hen de Man định nghĩa: ” Văn Hóa là một lề lối sống dựa trên một niềm tin công cộng, vào một hệ thống và một tôn ti, trật tự, thứ bực giá trị làm cho đời sống có một ý nghĩa nhất định” (21).

    : của Liton. ” Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Hai Mốt Văn hóa của một xã hội là lề lối sống của các phần tử trong xã hội ấy. Đó là toàn bộ những ý tưởng và tập tục mà họ đã thâu lượm, chia sẻ và lưu chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.Văn hóa đem lại cho mỗi người của mỗi thế hệ những cách giải quyết hữu hiệu và lập thành về tất cả các vấn đề mà họ sẽ gặp phải. Những vấn đề này được nêu lên vì những nhu cầu sống trong một đoàn thể có tổ chức” (22).

    Riêng về định nghĩa Văn Hóa tác gỉa viết: “Nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở chỗ coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận. E,B Taylor định nghĩa văn hóa như một ” phức hợp (Chu Tấn in đậm) bao gồm trí thức tín ngưỡng, nghệ thuật đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội… tiếp thu được” Định nghĩa văn hóa trong các loại tự điển, các công trình nghiên cứu …thường mở đầu bằng câu ‘Văn Hóa là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các gía trị”… Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học-khi mà văn hóa chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập”

    Văn Hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,(tác giả TNT ghi đậm) trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình ” (25).

    Trước hết T.S Trần Ngọc Thêm “chê” các định nghĩa về văn hóa từ tlâu nay đều có nhược điểm (ChuTấn in đậm) là coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần (?) của những trí thức bộ phận…điển hình như định nghĩa văn hóa của E.B Taylor …các định nghĩa lâu nay (?) đều có tính cách ” cảm tính ” (Chu Tấn in đậm)

    Trước hết chúng tôi thấy tác giả Trần Ngọc Thêm chê các nhà nghiên cứu văn hóa trước ông như Lê Quí Đôn, Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh, Lê Văn Siêu, hay Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương (1989) chúng tôi định nghĩa về văn hóa đều mắc bênh “tản mạn, không nhìn ra tính hệ thống, tính qui luật của văn hóa”? Lời phê bình này của tác giả Trần Ngọc Thêm không những là ” phiến diện” mà còn mang tính ” hàm hồ” vì chính tác giả Trần Ngọc Thêm vô tình hay hữu ý đã đánh mất đi tinh nghĩa hay cái hồn của văn hóa! Điều chúng ta không phủ nhận là văn hóa -nhất là ” Văn Hóa Lý tính” ” Văn Hóa Nhận Thức” mang tình hệ thống , hay tính qui luật , nhưng còn ” Văn Hóa Nghệ Thuật,” Văn HóaTình Yêu” hay “Văn Hóa Tâm Linh“… không hề mang tính “Hệ Thống” hay Tính “Qui luật: nào cả! Vậy mà tác giả Trần Ngọc Thêm lại đem tính “Hệ Thống” ra để định nghĩa Văn Hóa tổng quát nói chung thì có phải là ” khiên cưỡng”, “phiến diện” hay “quáng gà “hay không?

    Tác giả Trần Ngọc Thêm sau khi “chê:” các nhà nghiên cứu Văn Hóa trong nước, chê luôn các nhà nghiên cứu văn hóa thế giời tiêu biểu như Edward Bernett Tylor khi ông định nghĩa văn hóa là “một Tổng Thể Phức Hợp vì bao gồm nhiều thành tố như kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức,luật pháp, Phong tục tập quán…..” Phải chăng Trần Ngọc Thêm không những không đồng ý với định nghĩa Văn hóa là một ” Tổng thể” lại còn là Tổng Thễ Phức Hợp” mà ông cho rằng là một “phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận …” nên có nhược điểm “không biết tổng quát hóa thành Hệ Thống” vì lý do “Cảm Tính” hay vì giới hạn lịch sử, khi khoa “Văn Hóa Học” chưa ra đời như một bộ môn Văn Hóa chuyên ngành có tính cách độc lập nổi bật như hiện nay. Lối “chê” này của Trần Ngọc Thêm vừa mang tính chủ quan “phiến diện” vừa mắc bệnh “duy lý” đến mức “quá đà” khi cho rằng bất cứ loại hình văn hóa nào cũng có thể ” tổng quát hóa” “qui luật hóa” thành “Hệ Thống” Điều mà TS Trần Ngọc Thêm không biết rằng yếu tính hay bản chất văn hóa vừa có tính chất ” hệ thống” vừa ” phi hệ Thống” vừa ” siêu hệ thống” .Chính vì yếu tính diệu kỳ này nên học giả Lowell đã thú nhận rằng: ” Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hóa, nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu, mông lung hơn là danh từ văn hóa. Người ta không thể phân tách văn hóa,vì thành phần nó vô cùng tận…Người ta không thể mô tả văn hóa vì nó muôn mặt .Muốn cô đọng ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì cũng như tay không bắt không khí :Ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm được gì …” (26))

    Về cách tiếp cận “cấu trúc” kết hợp với phương pháp so sánh loại hình mà tác giả Trần Ngọc Thêm đã áp dụng khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy gì? Theo dòng tiến hóa của lịch sử, càng ngày nhân loại càng tìm tòi sáng tạo ra những đường hướng mới, phương pháp khám phá mới về văn hóa .Đây là những bứớc tiến mới rất đáng mừng, rất đáng hoan nghênh, nhưng khi nhà nghiên cứu văn hóa chọn lựa và áp dụng bất kỳ một phương pháp mới nào thì phải hiểu rằng “Đường lối hay phương pháp mà mình áp dụng chỉ là “Phương tiện” để khám phá chân lý văn hóa mà thôi -có thể phương pháp tân tiến này hay hơn các phương pháp nghiên cứu văn hóa cũ – nhưng chỉ hay hơn về phương pháp – nói theo thuật ngữ Phật giáo là “Phương tiện thiên xảo” hơn các phương tiện khác mà thôi, chứ không thể tôn vinh một phương pháp tân tiến nào như là cùng đích của văn hóa có thể giúp mình nắm chân lý Văn Hóa ở trong tay!Thái độ quá tin tưởng trở thành “cực đoan”, “hãnh tiến” hay “kiêu ngạo” này rất nguy hiểm ! vì mang tính chất bạo động với chân lý ! Những ai mắc phải thái độ hãnh tiến vô lối này thì thường đi từ một cực đoan này tiến sang một cực đoan khác, vừa không khám phá ra chân lý hoặc chỉ ôm lấy những “mặt trời mù” thay vì tìm ra Chân Lý đích thực của Văn Hóa! Thực vậy, ngay cả những nhà nghiên cứu sáng tạo ra trường phái “Cấu trúc” hay phương pháp so sánh loại hình cũng chưa ai lên tiếng định nghĩa “Văn Hóa là một Hệ Thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần…..” như Trần Ngọc Thêm đã khẳng định ! Dĩ nhiên đây không là lỗi tại “đường hướng” hay “phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa để nghiên cứu văn hóa nhưng chỉ là thái độ “Bảo hoàng hơn Vua” do óc phê phán chủ quan phiến diện của tác giả mà ra nông nỗi!!! Lối định nghĩa văn hóa khẳng định chắc nịch bao quát tất cả các loại hình văn hóa theo kiểu Trần Ngọc Thêm không những không thuyết phục được mọi người mà còn có tác dụng làm khô cứng làm thui chột, và đánh mất “Hồn tính” của văn hóa vậy. Khi định nghĩa văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần của con người …..” là tác giả đã vô tình thu hẹp các bảng giá trị văn hóa nhân loại vào trong hệ thống “Nhị giá” “vật chất” và “tinh thần” trong khi giá trị Văn hóa nhân loại là “Đa giá” không phải chỉ có giá trị “vật chất” và “tinh thần” mà thôi đâu! Thí dụ như nền văn Hóa Đông phương hay nói “Văn Hóa Tuệ Giác”, “Văn Hóa Bát Nhã” hay “Văn Hóa Tính Không” thì không thể cô đọng trong một hệ thống nào cả! vì bản chất nó là phi vật chất, phi ý niệm chúng tôi phi tưởng và hơn thế nữa bản chất nó đã là ” Tánh Không“…..” Bản Lai Vô nhất Vật” như lời phát biểu của Lục Tổ Huệ Năng…. Chỉ cần đơn cử một hai thí dụ như trên chúng ta thất ngay sự phiến diện, thiếu sót quá đáng hay sự ” thiển cận quáng gà ” về nhân thức Văn Hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm!

    Văn hóa là hiện tính của Sự Sống và là tinh hoa của Đạo Sống con người.Văn hóa thường biểu hiện trên hai mặt Động và Tĩnh..Xét về “phương diện TĨNH” Văn hóa là trạng thái thích nghi với hoàn cảnh,ứng xử với tha nhân,làm thành “thói quen”,”nếp nghĩ” “nếp sống”,”phong tục tập quán”,”thuần phong mỹ tục”, hình thành các “giá trị truyền thống” của cả dân tộc “truyền thừa” cho các thế hệ sau…. Xét về “phương diện ĐỘNG” Văn hóa là động lực tiến hóa cá nhân và xã hội, hướng tới dự phóng tương lai theo tiến trình “Dung Hóa” “Sáng Hóa” và “Sống Hóa” sự sống con người, dân tộc, thế giới và thời đại.Văn hóa không những có sứ mệnh giáo hóa con người mà còn có sứ mệnh giải thoát con người,xây dựng xã hội, gìn giữ Hòa Bình và xây dựng nền “Thái Hóa Nhân Loại”(Xin xem “Sứ Mệnh Văn Hóa cũng trong Tuyển Tập này).

    II- Những Ghi Nhận Cần Lưu Tâm Và Đào Sâu Hơn Nhằm Phát Huy Tập Đại Thành Văn Hóa Việt Nam.

    Tính Sáng Tạo: Nhà văn hào André Mailraux đã cô đọng văn hóa trong 3 phạm trù : NGHỆ THUẬT, TÌNH YÊU VÀ SUY NGHĨ -hay Tư duy,- nhận thức-,tư tưởng – (Xin độc giả xem lại Định nghĩa văn hóa thứ 18 đã nói ở trên) Phạm trù “Suy nghĩ” sẽ hình thành “Văn hóa Nhân Thức” mà con người có thể “khái quát hóa” và “hệ Thống hóa: mà đặc điểm nổi bật là Tính Hệ Thống. Song còn 2 phạm trù lớn kia là ” Nghệ Thuật” và ” Tình Yêu” thì không ai có thể “khái quát hóa” hay “hệ thống hóa” được cả ! Tất cả mọi “hệ thống” đều thất bại thảm thương! và hoàn toàn xa lạ với 2 phạm trù này! Nó không chỉ là Lỗ Hổng Lớn mà là Chân Trời Viễn Mộng, hay Vũ Trụ Mộng Mơ, là Mạch Sống Vô Hình hay Hồn Tính Của Văn Hóa… làm nên Gía Trị Tuyệt Vời Vô Giá của Văn Hóa. Với hai phạm trù “Nghệ Thuật” và “Tình Yêu” người ta không thể định nghĩa được, nhưng con người có thể Cảm Nhận được, có thể “hòa đồng” và “cảm thông” trọn vẹn. Biên giới giữa “chủ thế” và “khách thê”không còn nữa mà cả hai đã trở thành một. Nói về tình yêu nam nữ là cả hai đã “phải lòng nhau” “mê đắm nhau”… Tính cảm thông, hòa đồng sâu sắc trọn vẹn trong nghệ thuật đó là “Tính Sáng Tạo” và là “Tính Nhập Thể”trong Tình yêu đôi lứa cũng như tình yêu huyền nhiệm tôn giáo . ” Anh với Em là Một” “Ta với Vũ Trụ không hai”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hóa Là Gì? Những Nét Riêng Để Lòng Người Nhớ Đến
  • Văn Hóa Bản Địa Trong Xây Dựng Môi Trường Cư Trú Truyền Thống
  • Bài Viết Một Số Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Văn Hóa Truyền Thông
  • Về Tính Văn Hóa Trong Báo Chí
  • Văn Hóa Pháp Luật Của Phóng Viên Báo Chí: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Văn Hóa Giao Thông Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Văn Hóa Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Kính Thiên Văn Khúc Xạ
  • Chúng Ta Đã Hiểu Sai Về Kính Thiên Văn Như Thế Nào?
  • Để Thực Sự Là “văn Minh Đô Thị”
  • Văn Phòng Phẩm Là Gì?
  • Văn Phòng Phẩm Là Gì? Một Số Loại Văn Phòng Phẩm Phổ Biến
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Văn hóa giao thông là gì

    Định nghĩa Văn hóa giao thông là gì?

    • Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
    • Văn hóa giao thông là ý thức, là thái độ của mọi người trong khi giao thông (nói 1 cách khác là trình độ phát triển của con người trong giao thông, biểu hiện qua các hành động di chuyển).

    Ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa giao thông

    • Việc xây dựng văn hóa giao thông trước mắt sẽ có tác dụng góp phần hạn chế ùn tắc, tai nạn giao thông trong điều kiện hạ tầng giao thông của đất nước, nhất là ở các đô thị lớn và các tuyến quốc lộ chưa theo kịp sự phát triển kinh tế xã hội. Về lâu dài, việc xây dựng văn hóa giao thông sẽ tạo nên cơ sở vững chắc cho một nền giao thông hiện đại, văn minh, một môi trường giao thông an toàn, nhân ái, thân thiện, cho con người, vì con người.
    • Để xây dựng văn hóa giao thông, ngoài trách nhiệm của các cơ quan quản lý, trách nhiệm của người thực thi công vụ về giao thông thì việc chấp hành pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và hành vi ứng xử có văn hóa khi tham gia giao thông là một trong các nội dung quan trọng nhất, có tính quyết định trong việc giảm thiểu ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông.
    • Do vậy, ngay từ hôm nay, khi bước chân ra khỏi nhà bạn hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất như: đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện; đi đúng phần đường, làn đường quy định; không đi xe trên vỉa hè; chấp hành nghiêm hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông; ứng xử có văn hóa khi xảy ra va chạm giao thông,… Qua đó cùng chung tay xây dựng văn hóa giao thông.

    Bạn hiểu thế nào về Văn hóa giao thông

    Văn hóa giao thông là gì?

    • Chúng ta có thể hiểu cơ bản Văn hóa giao thông là yếu tố quan trọng để góp phần giảm thiểu các tình trạng tai nạn giao thông diễn ra hiện nay. Văn hóa giao thông có rất nhiều những khái niệm khác nhau và cách nói đơn giản đó là ý thức tuân thủ giao thông cùng với cách ứng xử, xử lý tình huống khi gặp những trường hợp tai nạn xảy ra. Đây cũng là mức chuẩn mực cho các đối tượng tham gia giao thông vì thế có văn hóa giao thông sẽ đảm bảo trật tự an toàn xã hội

    Xây dựng văn hóa giao thông

    • Trước tiên về tính pháp lý chúng ta cần xây dựng văn hóa giao thông theo đúng với quy định cũng như giao thông đường bộ. Đây là sự tự giác cũng như nghiêm túc chấp hành theo đúng với quy định của pháp luật đề ra và nếu thiếu đi yếu tố này nền văn hóa giao thông sẽ khó có thể văn minh được.
    • Chính vì thể để xây dựng được nền văn hóa giao thông đúng nghĩa, các bạn cũng cần tuân thủ luật an toàn giao thông cũng như tự ý thức và tự giác chấp hành đầy đủ các quy định khi tham gia giao thông. Tránh được tất cả những hành vi không đúng pháp luật hay vi phạm chuẩn mực người lái xe. Các lỗi cơ bản cần lưu ý đối với người tham gia giao thông đó là, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, chen lấn, đánh võng, đi không đúng phần đường, uống rượu bia khi tham gia giao thông…
    • Khi tham gia giao thông cũng cần có tính cộng đồng, vì đây cũng thể hiện được mối quan hệ cũng như cách xử sự với những tình huống khi tham gia giao thông. Tùy thuộc từng trường hợp chúng ta cần thể hiện tình cộng đồng và sự cảm thông, tình thương để thể hiện được văn hóa tốt nhất khi tham gia giao thông.

    Bạn hiểu thế nào về Văn hóa giao thông (mẫu 2)

    • Văn hóa giao thông là khái niệm được nhiều người nhắc đến nhưng để hiểu và tham gia giao thông một cách văn hóa thì không phải ai cũng biết. Chung tay xây dựng văn hóa giao thông là điều nhiều người mong muốn để hạn chế sự hỗn loạn, vốn đã thành đặc điểm cố hữu của giao thông Việt Nam. Vậy, văn hóa giao thông là gì và phải làm gì để xây dựng văn hóa giao thông?
    • Nói một cách tổng thể, văn hóa khi tham gia giao thông, một bộ phận của văn hóa nơi công cộng, là tập hợp các cách thức xử sự, ứng xử, chấp hành các quy định của pháp luật về giao thông, là tuân thủ của các chuẩn mực đạo đức khi tham gia giao thông.

    Trên thực tế, văn hóa giao thông được thực hiện thông qua hai yếu tố sau:

    Tính pháp lý khi tham gia giao thông

    • Để làm được điều này, cần phải loại bỏ các hành động như vượt đèn đỏ, dừng đổ đèn đỏ không đúng quy định, chen lấn làn, bóp còi inh ỏi, bật pha trong phố, đi ngược chiều… Những hành vi trên không chỉ gây phiền toái mà còn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ tai nạn cho chính người vi phạm và những người xung quanh.

    Tính cộng đồng khi tham gia giao thông

    • Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm túc luật giao thông, người tham gia giao thông một cách văn hóa còn cần có tính cộng đồng. Tính cộng đồng chính là việc xử sự, là mối quan hệ giữa con người với con người khi tham gia giao thông.
    • Tính cộng đồng khi tham gia giao thông sẽ giúp giảm thiểu tình trạng tắc đường do ai cũng muốn đi nhanh muốn chen lấn, giúp ngăn chặn những vụ việc va chạm, tranh cãi hoặc thậm chí đánh lộn không đáng có trên đường cũng như chấm dứt tình trạng vô cảm trước nỗi đau và rủi ro của người khác.
    • Vì một tương lai giao thông tươi sáng, vì một thế hệ để con em noi gương và học tập, mỗi người hãy nỗ lực để cùng xây dựng văn hóa giao thông.

    Biểu hiện của văn hóa giao thông

    • Không vi phạm và tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật, trật tự an toàn giao thông.
    • Chấp hành nghiêm túc hệ thống báo hiệu đường bộ, đi đúng phần đường, làn đường quy định; không sử dụng rượu, bia trước khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, không điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định.
    • Bảo đảm tình trạng sức khỏe về thể chất và tinh thần khi tham gia giao thông.
    • Duy trì phương tiện tham gia giao thông an toàn, sạch đẹp.
    • Có thái độ hợp tác, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra tai nạn giao thông.
    • Có trách nhiệm phản ánh và lên án các hành vi tiêu cực; tích cực đề xuất các sáng kiến trong lĩnh vực giao thông.
    • Tận tình giúp đỡ người bị nạn, người già, người khuyết tật, trẻ em, người có hoàn cảnh khó khăn khi tham gia giao thông.
    • Tuyên truyền, vận động người tham gia giao thông tự giác chấp hành pháp luật trật tự, an toàn giao thông.
    • Hỗ trợ các lực lượng chức năng trong công tác sơ cứu, cấp cứu nạn nhân tai nạn giao thông.
    • Phê phán, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông.
    • Không tham gia các hoạt động cản trở, gây rối làm mất trật tự, an toàn giao thông. Không cổ vũ đua xe trái phép.

    Song song với việc nâng cáo ý thức trong văn hóa giao thông là việc hiểu Luật giao thông và chấp hành đúng luật giao thông khi tham gia giao thông trên đường. Chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông sẽ giúp bảo đảm sự an toàn cho bạn và những người tham gia giao thông.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Chính Trị Trong Đảng Và Một Số Vấn Đề Đặt Ra Hiện Nay
  • Các Kiểu Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Không Gian Văn Phòng Là Gì? (Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò)
  • Vốn Là Gì – Vai Trò Của Vốn Trong Doanh Nghiệp
  • Vốn Kinh Doanh Là Gì Và Phân Loại Vốn Kinh Doanh Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Văn Hóa, Nền Văn Hóa Và Nền Văn Hóa Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa, Triết Lý Và Triết Học
  • Giao Tiếp Liên Văn Hóa Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa: Một Số Vấn Đề Triết Học
  • Đôi Nét Về Văn Hóa Và Con Người Trong Triết Học Phương Tây Hiện Đại
  • Hiện Sinh Là Một Chủ Nghĩa Nhân Bản
  • Hiện Tượng Luận Về Hiện Sinh (Kỳ 1)
  • a) Khái niệm văn hóa và nền văn hóa

    Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.

    Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là “sản xuất vật chất” và “sản xuất tinh thần”. Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

    Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó.

    Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội.

    Tuy nhiên, với tư cách là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức của con người nên sự phát triển của văn hóa bao giờ cũng chịu sự quy định của cơ sở kinh tế, chính trị của mỗi chế độ xã hội nhất định. Tách rời khỏi cơ sở kinh tế và chính trị ấy sẽ không thể hiểu được nội dung, bản chất của văn hóa. Do đó, văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang tính giai cấp. Đây cũng là quy luật của xã hội có giai cấp, vì rằng phương thức sản xuất tinh thần, văn hóa không thể không phản ánh và không bị chi phối bởi phương thức sản xuất vật chất. Điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi xã hội và của mỗi giai cấp khác nhau, đặc biệt là của giai cấp thống trị, là yếu tố quyết định hình thành các nền văn hóa khác nhau.

    Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh ý thức hệ của văn hóa, tính giai cấp của văn hóa và trên cơ sở đó hiều rõ sự vận động của văn hóa trong xã hội có giai cấp. Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm: nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế – chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa.

    Mọi nền văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp và gắn với bản chất của giai cấp cầm quyền. Văn hóa luôn có tính kế thừa, sự kế thừa trong văn hóa luôn mang tính giai cấp và được biểu hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó.

    Một nền kinh tế lành mạnh được xây dựng trên những nguyên tắc công bằng, thật sự vì đời sống của người lao động sẽ là điều kiện để xây dựng một nền văn hóa tinh thần lành mạnh, và nguợc lại, một nền kinh lế được xây dựng trên cơ sở bất bình đẳng của chế độ tư hữu với sự phân hóa sâu sắc thì sẽ không có được nền văn hóa lành mạnh.

    Nếu kinh tế là cơ sở vật chất của nền văn hóa, thì chính trị là yếu tố quy định khuynh hướng phát triển của một nền văn hóa, tạo nên nội dung ý thức hệ của văn hóa.

    Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị của mỗi thời kỳ lịch sử đều in dấu ấn của nó trong lịch sử phát triển của văn hóa và tạo ra nền văn hóa của xã hội đó.

    b) Khái niệm nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

    Chế độ mới xã hội chủ nghĩa được xác lập với hai tiền đề quan trọng là tiền đề chính trị (sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền) và tiền đề kinh tế (chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu được thiết lập). Từ hai tiền đề chính trị và kinh tế đó, tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự hình thành, phát triển của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là nội dung cốt lõi, giữ vai trò chủ đạo, quyết định phương hưởng phát triển nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có giai cấp, ý thức hệ giai cấp là nội dung cốt lõi của mọi nền văn hóa. Trong mọi thời đại, tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành tư tưởng thống trị của thời đại đó. Chính vì vậy, sau khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền thì ý thức hệ của nó trở thành nhân tố giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội.

    Đặc trưng nói trên phản ánh bản chất giai cấp công nhân của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Mọi sự coi nhẹ, xa rời nội dung khoa học, cách mạng của ý thức hệ giai cấp công nhân đều nhất định dẫn đến kết cục là không thể xây dựng được nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Hai là, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc. Đặc trưng này thể hiện mục đích và động lực nội tại của quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, quá trình xây dựng xã hội mới. Trong các xã hội cũ, giai cấp thống trị bóc lột độc quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất và trên cơ sở đó cùng độc quyền chi phối đời sống tinh thần, nền văn hóa của xã hội.

    Chúng độc quyền mọi phương tiện sáng tạo và sản phẩm của hoạt động tinh thần nhằm, một mặt, tạo ra cái gọi là “văn hóa thượng lưu” phục vụ giai cấp thống trị, áp bức bóc lột; mặt khác, nhằm nô dịch tinh thần, ý thức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giam hãm họ trong tình trạng ngu tối và nô lệ.

    Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa không còn là đặc quyền đặc lợi của thiểu số giai cấp bóc lột. Giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Công cuộc cải biến cách mạng toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội từng buớc tạo ra tiền đề vật chất, tinh thần để đông đảo nhân dân tham gia xây dựng nền văn hóa mới. Chính trong quá trình đó, văn hóa hướng tới nhân dân, dân tộc và mọi thành tựu văn hóa trở thành tài sản của nhân dân.

    Văn hóa luôn có sự kế thừa. Trong bất cứ thời kỳ nào của lịch sử, văn hóa đều đồng thời bao gồm việc kế thừa, sử dụng di sản quá khứ và sáng tạo ra những giá trị mới. Sự kế thừa và sáng tạo của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa luôn mang tính giai cấp công nhân với tư tưởng chính trị tiên tiến của thời đại và hướng tới nhân dân, dân tộc. Đông đảo nhân dân và cả dân tộc là chủ thể của văn hóa. Do đó, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa mang tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa được hình thành, phát triển một cách tự giác, đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua tổ chức đảng cộng sản, có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa không hình thành và phát triển một cách tự phát. Trái lại, nó phải được hình thành và phát triển một cách tự giác, có sự quản lý của nhà nước và có sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân. Mọi sự coi nhẹ hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và vai trò quàn lý của nhà nước đối với đời sống tinh thần của xã hội, đối với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đều nhất định sẽ làm cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội mất phương hướng chính trị.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giá Trị Nền Tảng Của Triết Học Phật Giáo
  • Những Vấn Đề Triết Học Phật Giáo
  • Phật Giáo Như Là Một Triết Học Hay Một Tôn Giáo
  • Triết Học Phân Tích Về Giáo Dục: Thịnh Và Suy
  • Các Cách Hiểu Về Khái Niệm Triết Lí Giáo Dục
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100