Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra

--- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Về Hành Vi Con Người
  • Tác Động Của Khoa Học Hành Vi Đến Các Hoạt Động Của Phòng Nhân Sự
  • Nghiên Cứu Tâm Lý Đưa Ra Định Nghĩa Mới Về Tình Yêu
  • Sự Thật Về Tình Yêu Dưới Góc Nhìn Khoa Học
  • 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa Phẩm Chất, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Hãy Kể Tên Một Số Cây ăn Quả Đã Được Cải Tạo Cho Phẩm Chất Tốt, Bản Chất Khoa Học Của Chủ Nghĩa Mác-lê Nin, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, Xác Định Tạp Chất Trong Dược Liệu, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, Xác Định Chì Trong Dược Phẩm, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Quan Hệ R Trên 2+ Được Định Nghĩa , Không Ai Định Nghĩa Được Tình Yêu, Định Nghĩa Nào Của Canvas Được Cho Là Đúng, Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Trường Thọ Nam Định, Em Không Định Nghĩa Được Thế Nào Là Hạnh Phúc, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Anh Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Lạm Phát Được Định Nghĩa Là Sự Gia Tăng Liên Tục Của, Em Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Không Định Nghĩa Được Đường Đồng Mức, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Định Nghĩa Ethanol 90 Theo Dược Điển Việt Nam, Người Thuê Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Quy Phạm Định Nghĩa Là Gì, Mạc Đĩnh Chi Là Vị Quan Có Những Phẩm Chất Nào Đáng Trân Trọng, Người Kinh Doanh Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Văn Bản Quy Phạm Về Định Nghĩa Nghèo, Báo Cáo Thưc Tập Công Ty Cổ Phần Duơc Phẩm Duơc Liêu Pharmrdic, Thời Hạn Hưởng Bồi Thường Thiệt Hại Do Tính Mạng, Sức Khỏe Bị Xâm Phạm Được Quy Định Như Thế Nào?, Định Nghĩa ô Nhiễm Thực Phẩm, Day Hoc Theo Dinh Huong Phat Trien Pham Chat Nang Luc Cua Hoc Sinh Trong Tho Moi Lop 8, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Định Nghĩa Nào Dưới Đây Về Vi Phạm Pl Là Đúng Nhất, Khóa Luận Tốt Nghiệp Xac Dinh Ket Quả Kinh Doanh Công Ty Dược, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học, Khóa Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Đại Học Dược Hà Nội, Khóa Luận Dược Lâm Sàng Đại Học Dược Hà Nội, Các Kết Hoạch Chất Lượng (hoạch Định Việc Tạo Sản Phẩm), Một Nhà Máy Trong Quý 1san Xuất Được 3639 Sản Phẩm ,quý 2 Cùng Năm Sản Xuất Được ít Hơn Hơn Quý 1 Là, Một Nhà Máy Trong Quý 1san Xuất Được 3639 Sản Phẩm ,quý 2 Cùng Năm Sản Xuất Được ít Hơn Hơn Quý 1 Là, Nghiên Cứu Chiết Xuất Và Bào Chê Viên Giảo Cổ Lam (khoá Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Khoá 2002 – 2007, Thời Khoá Biểu Khoa Y Dược Đại Học Duy Tân, Như Ta Đã Thấy Gdp Không Phản ánh Được Đầy Đủ Chính Chất, Dược Phẩm, Bài 3 Chủ Nghĩa Tư Bản Được Xác Lập, Quá Trình Oxi Hóa Khử Các E Kim Loại Được Chuyển Trực Tiếp Đến Các Chất Tron, Quy Phạm Vật Chất, Bản Cam Kết Giữ Gìn Phẩm Chất Đạo Đức, Công Ty Dược Phẩm, Dược Phẩm Hoa Linh, Rượu Dược Phẩm, Mẫu Hợp Đồng Mua Bán Dược Phẩm, Báo Cáo Ngành Dược Phẩm, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Là Bản Chất Của Chế Độ Ta, Khoá Luận Tốt Nghiệp Khoa Sư Phạm Tiêng Anh Mầm Non, Bản Nhận Xét Về Phẩm Chất Đạo Đức, Quy Cách Phẩm Chất Là Gì, Đặc Trưng Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ, Chất Lượng Sản Phẩm, Phẩm Chất Chính Trị, Bản Cam Kết Về Giữ Gìn Phẩm Chất Đạo Đức Lối Sống, Bản Cam Kết Chất Lượng Sản Phẩm, Đặc Trưng Cơ Bản Của Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ, Quy Phạm Thực Chất, Cam Kết Chất Lượng Sản Phẩm, Pham Chat Nha Giao, Phát Huy Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ, Nội Dung Phẩm Chất Quý ông, Bản Cam Kết Giữ Gìn Phẩm Chất Đạo Đức Lối Sống, Bản Cam Kết Về Chất Lượng Sản Phẩm, Email Công Ty Dược Phẩm Hà Nội, Báo Cáo Thực Tập Xí Nghiệp Dược Phẩm, Mẫu Hợp Đồng Mua Bán Thuốc Dược Phẩm, Email “công Ty Dược Phẩm”, Mẫu Hợp Đồng Kinh Tế Mua Bán Dược Phẩm, Quy Định Các Danh Mục Chất Ma Túy Và Tiền Chất, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành Từ, Hãy Chứng Minh Ba Tính Chất Loại Trừ Lẫn Nhau Tiến Triển Chờ Đợi Có Giới Hạn Được Đảm Bảo, Như Ta Đã Thấy Gdp Không Phản ánh Được Đầy Đủ Chất Lượng Cuộc Sống Hay Mức Độ Phát Triển, Chất Lượng Sản Phẩm Việt Nam, Bản Nhận Xét Phẩm Chất Chính Trị, Pham Chat Cua Nghe Lam Vuon, Bản Tự Công Bố Chất Lượng Sản Phẩm, Bản Tự Nhận Xét Phẩm Chất Chính Trị,

    Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa Phẩm Chất, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Hãy Kể Tên Một Số Cây ăn Quả Đã Được Cải Tạo Cho Phẩm Chất Tốt, Bản Chất Khoa Học Của Chủ Nghĩa Mác-lê Nin, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, Xác Định Tạp Chất Trong Dược Liệu, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, Xác Định Chì Trong Dược Phẩm, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Quan Hệ R Trên 2+ Được Định Nghĩa , Không Ai Định Nghĩa Được Tình Yêu, Định Nghĩa Nào Của Canvas Được Cho Là Đúng, Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Trường Thọ Nam Định, Em Không Định Nghĩa Được Thế Nào Là Hạnh Phúc, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Anh Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Lạm Phát Được Định Nghĩa Là Sự Gia Tăng Liên Tục Của, Em Không Định Nghĩa Được Hạnh Phúc, Không Định Nghĩa Được Đường Đồng Mức, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Xây Dựng Được Mối Quan Hệ Chặt Chẽ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội Trong Thực Hiện Chuyên Đề Xây, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Định Nghĩa Ethanol 90 Theo Dược Điển Việt Nam, Người Thuê Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Quy Phạm Định Nghĩa Là Gì, Mạc Đĩnh Chi Là Vị Quan Có Những Phẩm Chất Nào Đáng Trân Trọng, Người Kinh Doanh Vận Tải Hàng Hóa Có Các Nghĩa Vụ Gì Theo Quy Định Được Ghi ở Dưới Đây?, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Văn Bản Quy Phạm Về Định Nghĩa Nghèo, Báo Cáo Thưc Tập Công Ty Cổ Phần Duơc Phẩm Duơc Liêu Pharmrdic, Thời Hạn Hưởng Bồi Thường Thiệt Hại Do Tính Mạng, Sức Khỏe Bị Xâm Phạm Được Quy Định Như Thế Nào?, Định Nghĩa ô Nhiễm Thực Phẩm, Day Hoc Theo Dinh Huong Phat Trien Pham Chat Nang Luc Cua Hoc Sinh Trong Tho Moi Lop 8, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Định Nghĩa Nào Dưới Đây Về Vi Phạm Pl Là Đúng Nhất, Khóa Luận Tốt Nghiệp Xac Dinh Ket Quả Kinh Doanh Công Ty Dược, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 3684:1981 Về Thiết Bị Điện
  • Bài 10 : Cách Mạng Khoa Học
  • Cơ Hội Và Thách Thức Ngành Khoa Học Công Nghệ Thời Kì Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Khoa Học Môi Trường
  • Khoa Học Môi Trường Là Gì?
  • Cmpms: Vật Lý Chất Rắn Và Khoa Học Vật Liệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Issp: Viện Vật Lý Chất Rắn Nhà Nước
  • Bài 53. Ancol: Cấu Tạo, Danh Pháp, Tính Chất Vật Lí
  • Chương Iii: Ngoại Hình Thể Chất Vật Nuôi Bai Giang Mon Giong Vat Nuoi Ppt
  • Bài 23: Chọn Giống Vật Nuôi
  • Công Nghệ 10 Bài 23: Chọn Giống Vật Nuôi
  • CMPMS có nghĩa là gì? CMPMS là viết tắt của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của CMPMS được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài CMPMS, Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    CMPMS = Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu

    Tìm kiếm định nghĩa chung của CMPMS? CMPMS có nghĩa là Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của CMPMS trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của CMPMS bằng tiếng Anh: Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, CMPMS được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Trang này là tất cả về từ viết tắt của CMPMS và ý nghĩa của nó là Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu. Xin lưu ý rằng Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu không phải là ý nghĩa duy chỉ của CMPMS. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của CMPMS, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của CMPMS từng cái một.

    Ý nghĩa khác của CMPMS

    Bên cạnh Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, CMPMS có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của CMPMS, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Vật lý chất rắn và khoa học vật liệu bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Của Các Nhà Quản Trị
  • Những Vấn Đề Chung Về Tạo Động Lực Lao Động
  • Vật Lý Học Vat Ly Hoc Doc
  • Chương 1 Vật Lý Hiện Đại
  • Mqh Tom Tat Cac Quan Niem Cua Cac Nha Duy Vat Truoc Mac Ve Vat Chat Nhu Docx
  • Galileo Và Bản Chất Của Khoa Học Vật Lí

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Rơi Tự Do – Kipkis
  • Di Truyền Học Quần Thể
  • Phương Pháp Hấp Thụ – Tính Toán Quá Trình Hấp Thụ Trong Xử Lý Khí Thải – Eth Xử Lý Nước Thải Và Môi Trường
  • Định Luật Hấp Dẫn Của Newton
  • Lý Thuyết Maxwell Khó Hiểu, Vì Sao ?
  • 3.1 Giới thiệu

    Có ba câu chuyện được kể lại. Chuyện thứ nhất kể Galileo là một nhà triết học tự nhiên. Không giống Tycho Brahe và Kepler, Galileo là nhà vật lí thực nghiệm có mối bận tâm hàng đầu là tìm hiểu các định luật của tự nhiên bằng các kĩ thuật định lượng, từ những bài viết xưa nhất của ông cho đến tập chuyên luận để đời sau cùng của ông, Đàm luận và Chứng minh Toán học về Hai Hệ thống Khoa học. Câu chuyện thứ hai thuộc về thiên văn học, và chiếm một thời kì tương đối ngắn, nhưng quan trọng, trong sự nghiệp của ông từ năm 1609 đến 1612, khi những khám phá thiên văn của ông có sức tác động quốc tế ngay tức thì.

    Câu chuyện thứ ba kể việc ông bị xét xử và bị quản thúc tại gia sau đó. Các phương diện khoa học mà Tòa án Dị giáo đưa ra để chỉ trích và xét xử ông nằm ngay tại trái tim bản chất của khoa học vật chất. Quan điểm chung của mọi người là xem Galileo như người anh hùng và Giáo hội Thiên Chúa là kẻ thủ ác, là căn nguyên của phản ứng bảo thủ và chính sách hẹp hòi. Từ quan điểm thần học, Galileo đã phạm một sai lầm logic, song giới chức giáo hội còn phạm sai lầm nghiêm trọng hơn, vấn đề được nhắc đi nhắc lại xuyên suốt lịch sử khoa học kể từ đó. Những sai lầm của giáo hội chỉ được chính thức thừa nhận bởi Giáo hoàng John Paul II vào năm 1992.1

    Lí do tôi dành cả một chương cho Galileo, nền khoa học và những khổ cực của ông một phần là do thực tế trường hợp này nên được hiểu rõ hơn, song điều quan trọng hơn, vì câu chuyện này phản ánh được cách thức vật lí được thực hiện với tư cách một bộ môn khoa học. Tính chính trực và tài năng khoa học của Galileo là một nguồn cảm hứng – hơn bất kì ai khác, ông có thể được vinh danh với việc sáng tạo ra khuôn khổ trí óc cho nghiên cứu vật lí như chúng ta biết ngày nay.

     

    3.2 Galileo là nhà vật lí thực nghiệm

    Galileo Galilei chào đời vào tháng Hai 1564 ở Pisa, là con trai của Vincenzio Galileo, một nhạc sĩ và nhà lí thuyết âm nhạc có tiếng. Vào năm 1587, Galileo được bổ nhiệm chức danh giáo sư toán tại Đại học Pisa, nơi ông chẳng mấy mặn mòi với các đồng nghiệp, một trong những lí do chính là vì ông phản đối vật lí học Aristotle khi ấy vẫn là trụ cột trung tâm của triết học tự nhiên. Galileo thấy rõ rằng vật lí học Aristotle không phù hợp với cách thức vật chất hành xử trên thực tế. Ví dụ, phần khẳng định về chuyển động của các vật rơi có trọng lượng khác nhau đọc như sau:

    Giả sử một vật nặng nhất định đi được một quãng đường nhất định trong một thời gian nhất định, vật nặng hơn sẽ đi được cùng một quãng đường trong thời gian ngắn hơn, và tỉ lệ trọng lượng của các vật bằng bao nhiêu thì tỉ lệ thời gian sẽ bằng bấy nhiêu; chẳng hạn, giả sử một nửa vật đi hết quãng đường trong thời gian x, thì nguyên vật sẽ đi hết quãng đường đó trong thời gian x/2.2

    Điều này rõ ràng là sai, và có thể được chứng minh bằng một thí nghiệm đơn giản. Phản đối của Galileo được hình tượng hóa bởi câu chuyện ông thả rơi các vật nặng khác nhau từ đỉnh Tháp nghiêng Pisa. Nếu chúng được thả rơi từ cùng một độ cao, thì chúng chạm đất cùng lúc, nếu bỏ qua sức cản không khí, đúng như Galileo và các tác giả trước đó đã biết.

    Vào năm 1592, Galileo được bổ nhiệm chức giáo sư toán tại Padua, nơi ông ở lại làm việc cho đến năm 1610. Trong quãng thời gian này ông đã sáng tạo một số công trình kiệt xuất nhất của mình. Ban đầu ông phản đối mô hình Copernicus về Hệ Mặt Trời nhưng, vào năm 1595, ông bắt đầu xem xét nó một cách nghiêm túc để giải thích nguồn gốc của thủy triều ở biển Adriatic. Ông quan sát thấy thủy triều tại Venice thường dâng lên hạ xuống khoảng 5 foot, chừng 1,5 mét, và do đó phải có một lực rất lớn làm cho lượng nước đồ sộ này dâng lên mỗi ngày ở mức triều cao như thế. Galileo lí giải rằng, nếu Trái Đất quay xung quanh trục riêng của nó và đồng thời chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời, thì độ biến thiên hướng chuyển động của một điểm trên bề mặt Trái Đất sẽ nén ép xung quanh và vì thế gây ra hiệu ứng thủy triều. Đây không phải lời giải thích đúng cho thủy triều, nhưng nó khiến Galileo ngả về bức tranh Copernicus cho các luận giải vật lí.

    Trong những công trình được in của Galileo, các luận cứ được trình bày theo những luận điểm trừu tượng mà không hề tham chiếu đến ý nghĩa thông thường cho bằng chứng thực nghiệm. Tài năng của Galieo với vai trò nhà khoa học tiên phong được miêu tả bởi Stillman Drake trong quyển sách đáng chú ý của ông, Galileo: Nhà khoa học tiên phong (1990). Drake giải mã các ghi chú chưa được công bố của Galileo và chứng minh một cách thuyết phục rằng Galileo đã thật sự tiến hành các thí nghiệm mà ông nhắc tới trong các chuyên luận của mình với kĩ năng thực nghiệm đáng nể (Hình 3.1).

    Nhiệm vụ của Galileo thật khó khăn – ông không tin vào cơ sở của vật lí học Aristotle nhưng lại chẳng có gì khác thay thế cho nó. Vào đầu những năm 1600, ông đã tiến hành các khảo sát thực nghiệm về quy luật của sự rơi, chuyển động của các quả cầu lăn xuống dốc nghiêng và chuyển động của con lắc – những nghiên cứu này đã làm rõ, lần đầu tiên, khái niệm gia tốc.

    Một vấn đề đối với vật lí học cho đến thời Galileo là chẳng có cách nào đo chính xác những khoảng thời gian nhỏ, và vì thế ông phải sử dụng biện pháp khéo léo trong thiết kế các thí nghiệm của mình. Một ví dụ đẹp là thí nghiệm của ông khảo sát cách một quả cầu thu gia tốc khi nó lăn xuống một mặt phẳng nghiêng. Ông đã xây dựng một mặt phẳng nghiêng thoai thoải dài 2 mét chỉ hợp góc 1,7o so với phương ngang và xẻ một cái rãnh trên đó để một quả cầu nặng bằng đồng thiếc có thể lăn xuống. Ông đặt những miếng nêm nhỏ lên mặt phẳng nghiêng để cho mỗi khi quả cầu đi qua một miếng nêm thì có một tiếng rắc phát ra. Sau đó ông điều chỉnh vị trí của các miếng nêm sao cho các tiếng rắc đó sẽ phát ra sau những khoảng thời gian bằng nhau (Hình 3.2). Drake đề xuất rằng Galileo có thể cân bằng các khoảng thời gian đến 1/64 giây bằng cách ngân một giai điệu và làm cho những tiếng rắc đó phát ra đúng nhịp bài hát. Bằng cách lấy hiệu, ông tính được tốc độ trung bình giữa những tiếng rắc liên tiếp và tìm thấy nó tăng lên theo các số lẻ 1,3, 5,7,… trong những khoảng thời gian bằng nhau.

    Hình 3.1 Một phần ghi chú của Galileo về các quy luật của con lắc. (Trích từ S. Drake, 1990. Galileo: Nhà khoa học tiên phong, trang 19, Toronto, NXB Đại học Toronto.)

    Hình 3.2 Cách Galileo thiết lập quy luật về chuyển động dưới gia tốc không đổi. Con số giữa các miếng nêm thể hiện vị trí tương đối của chúng để tạo ra chuỗi tiếng rắc đều đặn.

    Ban đầu, Galileo tin rằng, dưới gia tốc không đổi, tốc độ tỉ lệ thuận với quãng đường đi được nhưng, từ các kết quả thí nghiệm của ông vào năm 1604, ông tìm thấy đúng hơn thì tốc độ tỉ lệ thuận với thời gian. Bây giờ ông có hai liên hệ: thứ nhất là liên hệ giữa tốc độ và quãng đường, x = vt đối với vận tốc không đổi v, và thứ hai liên hệ tốc độ với thời gian dưới gia tốc không đổi v = at. Không có biểu thức đại số nào trong các công trình của Galileo và giải tích vi phân vẫn chưa được khám phá. Thủ tục đơn giản nhất là chia nhỏ bài toán thành những khoảng thời gian hữu hạn. Giả sử tốc độ của quả cầu gia tốc đều ấy được đo tại các thời điểm 0, 1, 2, 3, 4, 5,… s, giả sử nó bắt đầu từ trạng thái nghỉ lúc t = 0. Gia tốc là không đổi và vì thế tốc độ tại những thời điểm này, ví dụ bằng 0, 1, 2, 3, 4…,

    cm s-1, thì gia tốc a = 1 cm s-2. Hạt đi được quãng đường bao xa sau 0, 1, 2, 3, 4, 5,… s?

    Lúc t = 0, hạt chưa được đi quãng đường nào. Giữa 0 và 1 s, tốc độ trung bình là

    0,5 cm s-1, và vì thế quãng đường đi được là 0,5 cm. Trong khoảng thời gian tiếp theo giữa 1 và 2 s, tốc độ trung bình là 1,5 cm s-1 và vì thế quãng đường đi được trong khoảng thời gian đó là 1,5 cm và tổng quãng đường đi được tính từ lúc đứng yên là 0,5 + 1,5 = 2 cm. Trong khoảng thời gian tiếp theo, tốc độ trung bình là 2,5 cm s-1, quãng đường đi được là 2,5 cm và tổng quãng đường là 4,5 cm, và cứ thế. Ta thu được chuỗi quãng đường 0; 0,5; 2; 4,5; 8; 12,5;… cm có thể viết dưới dạng

    Kết quả này đại diện cho một cuộc cách mạng trong tư duy về bản chất của chuyển động có gia tốc và đã dẫn tới cuộc cách mạng Newton.

    Ông không dừng lại ở đây mà tiếp tục tiến hành các thí nghiệm then chốt khác. Tiếp theo ông nghiên cứu về quy luật của sự rơi, cụ thể là, nếu một vật được thả rơi từ những độ cao khác nhau, thì nó mất bao nhiêu thời gian để chạm đất? Ông sử dụng một hình thức đồng hồ nước để đo các khoảng thời gian một cách chính xác. Nước được chép chảy ra khỏi một ống dẫn ở dưới đáy một cái bình lớn sao cho lượng nước chảy ra là một số đo về khoảng thời gian. Bằng cách thả rơi các vật từ những độ cao khác nhau, ông xác định được rằng vật rơi tuân theo quy tắc thời gian bình phương – nói cách khác, khi vật rơi tự do, chúng chịu một gia tốc không đổi, tức là gia tốc trọng trường.

    Xác định được hai kết quả này, ông đi tìm mối liên hệ giữa chúng – câu trả lời là định lí Galileo. Giả sử một quả cầu được thả rơi tự do qua một quãng đường nhất định l, nó được biểu diễn bằng độ dài AB trên Hình 3.3. Dựng một đường tròn có đường kính bằng độ dài l đã cho. Bây giờ giả sử quả cầu trượt không ma sát xuống mặt phẳng nghiêng AC và, để cho tiện, đỉnh của mặt phẳng nghiêng trùng tại điểm A. Định lí Galileo phát biểu như sau:

    Thời gian để quả cầu trượt xuống mặt phẳng nghiêng từ A đến điểm C, nơi mặt phẳng nghiêng cắt qua đường tròn, bằng với thời gian để quả cầu rơi tự do từ A đến B.

    Nói cách khác, thời gian để một vật rơi theo một dây cung bất kì bằng với thời gian để nó rơi thẳng đứng xuyên đường kính của đường tròn. Khi quả cầu trượt xuống mặt phẳng nghiêng, thành phần gia tốc trọng trường gsina tác dụng lên nó, phần còn lại của gia tốc trọng trường được cân bằng bởi phản lực của mặt phẳng nghiêng (Hình 3.3). Thế nhưng, theo hình học, một tam giác bất kì dựng trên đường kính của một đường tròn, điểm thứ ba nằm trên đường tròn, là một tam giác vuông. Do đó, ta có thể cho các góc bằng nhau như trên Hình 3.3, từ hình vẽ ta thấy rõ AC/AB = sina, tỉ số các quãng đường đi được. Vì quãng đường đi được tỉ lệ với gia tốc, x = ½ at2, nên điều này chứng minh định lí Galileo.

    Hình 3.3 Cách Galileo thiết lập định lí Galileo.

    Hình 3.4 Cách Galileo chỉ ra rằng chu kì của một con lắc dài là độc lập với biên độ dao động.

    Sau đó, Galileo nhận ra mối liên hệ giữa những hiện tượng này và tính chất của các con lắc dao động. Người ta kể rằng, lúc còn trẻ ông từng để ý thấy chu kì đong đưa của đèn treo nhiều ngọn trong nhà thờ là độc lập với biên độ dao động. Galileo đã sử dụng quy tắc dây cung của ông để giải thích quan sát này. Nếu con lắc đủ dài, thì cung tròn được con lắc vạch ra hầu như bằng với dây cung nối điểm biên của con lắc với điểm thấp nhất của nó (Hình 3.4). Do đó, ta rõ ràng thấy được chu kì của con lắc độc lập với biên độ dao động của nó – theo định lí Galileo, thời gian đi theo một dây cung bất kì vẽ từ B luôn bằng thời gian để vật rơi tự do xuống hai lần độ dài của con lắc, như ta có thể thấy trên Hình 3.3.

    Cái Galileo thu được là đưa bản chất của gia tốc trọng trường vào hình thức toán học. Việc này có ứng dụng thực tiễn ngay tức thì vì lúc này ông có thể tính được quỹ đạo của các vật bị ném. Chúng chuyển động với tốc độ không đổi theo phương song song với mặt đất và bị giảm tốc bởi trọng lực theo phương thẳng đứng. Lần đầu tiên, ông đã có thể chỉ ra quỹ đạo parabol của đạn pháo và những vật bị ném khác (Hình 3.5).

     

    Hình 3.5 Một trang trích từ sổ ghi chép của Galileo trình bày quỹ đạo của các vật bị ném dưới sự kết hợp của gia tốc trọng trường và tốc độ phương ngang không đổi. (Trích từ S. Drake, 1990. Galileo: Nhà khoa học tiên phong, trang 107. Toronto, NXB Đại học Toronto.)

    Về sau, ông viết với giọng điệu giống như vậy:

    Ba quyển sách về chuyển động cục bộ – một khoa học hoàn toàn mới trong đó chưa có người nào khác, dù xưa hay hiện đại, từng khám phá được chút nào trong những định luật đáng chú ý nhất mà tôi chứng minh là tồn tại trong chuyển động tự nhiên lẫn chuyển động cưỡng bức; vì thế tôi có thể gọi đây là một khoa học mới và là một khoa học được tôi khám phá từ những nền tảng cốt lõi nhất của nó.5

    Ông trệch hướng khỏi nhiệm vụ này do bởi tin tức lan tới về phát minh kính thiên văn, sự kiện này đánh dấu việc ông bắt đầu nghiên cứu thiên văn học một cách nghiêm túc. Sau đó, ông bị xét xử vào năm 1615 – 16. Bởi thế, việc xuất bản các khám phá của Galileo bị hoãn lại cho đến thập niên 1620 và 1630.

     

    3.3 Những khám phá thiên văn của Galileo

    Phát minh kính thiên văn được quy cho người thợ mài kính người Hà Lan Hans Lipperhey, vào tháng Mười 1608 ông xin Công tước Maurice xứ Nassau cấp bằng sáng chế cho một dụng cụ có thể khiến những vật ở xa trông gần hơn, nhưng không được chấp thuận. Galileo nghe nói tới phát minh này vào tháng Bảy 1609 và bắt tay vào tự chế tạo một chiếc. Vào tháng Tám, ông đạt được độ phóng đại 9 lần, tốt hơn ba lần so với kính thiên văn của Lipperhey. Điều này gây ấn tượng rất lớn đối với Thượng viện Venice, họ hiểu rõ tầm quan trọng quân sự của một dụng cụ như thế đối với một quốc gia ven biển. Galileo lập tức được bổ nhiệm một chức danh trọn đời tại Đại học Padua và được tăng lương nhanh chóng.

    Vào cuối năm 1609, Galileo đã chế tạo được một số kính thiên văn có độ phóng đại tăng dần, đỉnh điểm có số phóng đại 30. Vào tháng Một 1610, lần đầu tiên ông hướng kính thiên văn của mình lên bầu trời và lập tức xuất hiện cả một đợt lũ khám phá nổi bật. Những khám phá này nhanh chóng được công bố vào tháng Ba 1610 trong công trình Sidereus Nuncius hay Người đưa tin Thiên văn của ông.6 Nói tóm lược, những khám phá này bao gồm:

    (1) Mặt Trăng có địa hình núi non chứ không phải một quả cầu hoàn toàn trơn tru (Hình 3.6a).

    (2) Dải Ngân Hà gồm vô số sao chứ không phải một phân bố đều của ánh sáng (Hình 3.6b).

    (3) Mộc tinh có bốn vệ tinh và chuyển động của chúng được theo dõi trong khoảng thời gian gần hai tháng, cho phép xác định được chu kì quỹ đạo của chúng (Hình 2.9).

    Quyển sách gây chú ý trên khắp châu Âu và Galileo lập tức có danh tiếng quốc tế. Những khám phá này đã đánh đổ một số giáo điều Aristotle từng được chấp nhận trong hàng thế kỉ. Ví dụ, sự phân giải Dải Ngân Hà thành từng sao là đi ngược lại với quan điểm Aristotle. Ở các vệ tinh của Mộc tinh, Galileo nhìn thấy một nguyên mẫu cho bức tranh Copernicus về Hệ Mặt Trời. Tác dụng ngay tức thì của những khám phá này là việc Galileo được công nhận là nhà toán học và nhà triết học bởi Đại công tước Tuscany, Cosimo de Medici, người được đề tặng ở quyển Sidereus Nuncius.

    Về cuối năm 1610, ông thực hiện hai khám phá thiên văn chủ chốt khác:

    (4) các vành sao Thổ, ông xem chúng gần như là vệ tinh của hành tinh này;

    (5) các pha của Kim tinh.

    Khám phá Kim tinh này có tầm quan trọng lớn nhất. Với chiếc kính thiên văn của ông, Galileo đã có thể phân giải đĩa Kim tinh và quan sát sự rọi sáng của nó do Mặt Trời. Khi Kim tinh ở phía bên kia quỹ đạo của nó so với Trái Đất, cái đĩa xuất hiện có dạng tròn, nhưng khi nó ở cùng phía so với Mặt Trời giống Trái Đất, cái đĩa trông giống như trăng lưỡi liềm. Điều này được xem là bằng chứng nghiêng về bức tranh Copernicus vì nó tìm được một lời giải thích tự nhiên nếu Kim tinh và Trái Đất đều quay xung quanh Mặt Trời, nguồn gốc rọi sáng của chúng (Hình 3.7b). Mặt khác, nếu Kim tinh chuyển động trong một ngoại luân xung quanh một quỹ đạo tròn xung quanh Trái Đất và Mặt Trời chuyển động trên một quả cầu ở xa hơn, thì kiểu rọi sáng so với Trái Đất sẽ hơi khác, như minh họa ở Hình 3.7a. Vào năm 1611, những khám phá này được Galileo trình bày trước Giáo hoàng và một số hồng y, và họ có ấn tượng tích cực với chúng. Galileo được bầu vào Viện hàn lâm Lincei.

     

    3.4 Vật lí học Aristotle và vật lí học Galileo: Trái tim của vật chất

    Trước khi thuật lại những sự kiện dẫn tới sự trình diện của Galileo vào năm 1632 trước Tòa án Dị giáo và việc luận tội ông là tội phạm nguy hiểm vào hàng thứ hai trong hệ thống xét xử thuộc Giáo hội, ta hãy tóm tắt một số mặt tranh luận giữa học thuyết Ptolemy, học thuyết Copernicus và chính quyền giáo hội. Finocchiaro cung cấp một bản tóm tắt tuyệt vời trong tư liệu lịch sử của ông, Vụ án Galileo.7 Những quy luật được chấp nhận của vật lí học vẫn là của Aristotle, và chỉ số ít người có tinh thần phiêu lưu mới nghi ngờ tính đúng đắn của những quy luật này và của hệ thống Ptolemy về thế giới. Tuy nhiên, có một số trục trặc với bức tranh Copernicus, vì thế Galileo phải dính líu với những vấn đề này bởi chúng có khả năng làm xói mòn nhận thức mới thiết lập của ông về các định luật của chuyển động.

    3.4.1 Các vấn đề

    Các vấn đề vật lí tập trung vào những câu hỏi sau: (i) Trái Đất có quay xung quanh trục của nó so với các sao cố định hay không, và (ii) Trái Đất và các hành tinh có quay xung quanh Mặt Trời không? Đặc biệt, Trái Đất có chuyển động hay không? Khái niệm vừa đề cập này được gọi là giả thuyết địa động. Finocchiaro tóm tắt các luận điểm của phe triết học Aristotle dưới năm đề mục:

    (1) Sự lừa dối của các giác quan. Không có giác quan nào của chúng ta đem lại bất kì bằng chứng nào rằng Trái Đất đang chuyển động trong một quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Nếu đây là một sự thật về tự nhiên, thì chắc chắn nó sẽ có tầm quan trọng đến mức các giác quan của chúng ta sẽ khiến chúng ta nhận thức về nó.

    (2) Các vấn đề thiên văn. Thứ nhất, những vật thể trên trời được cho là được cấu tạo bởi những dạng vật chất khác với vật vật chất trên Trái Đất. Thứ hai, Kim tinh phải biểu hiện các pha giống như Mặt Trăng nếu nó chuyển động trong một quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Thứ ba, nếu Trái Đất chuyển động, vậy tại sao các sao không biểu hiện thị sai?

    (3) Các luận điểm vật lí. Các luận điểm này dựa trên vật lí học Aristotle và một số đã được bàn luận.

    (a) Nếu Trái Đất chuyển động thì các vật rơi sẽ không rơi thẳng đứng. Có thể nêu ra nhiều ví dụ phản bác – mưa rơi thẳng đứng, các vật bị ném lên thẳng đứng rơi thẳng xuống trở lại, và vân vân. Điều này trái ngược với quỹ đạo của một vật được thả rơi từ đỉnh cột buồm của một con tàu đang chuyển động. Trong trường hợp này, vật không rơi thẳng đứng xuống dưới.

    (b) Những vật bị ném theo hướng quay của Trái Đất và theo hướng ngược lại phải có quỹ đạo khác nhau. Chưa có khác biệt nào được quan sát thấy.

    (c) Những vật đặt trên bánh xe quay của người thợ gốm bị văng ra nếu chúng không được giữ lại, đây là thứ được gọi là Sức mạnh Tống khứ của Chuyển động xoáy – ngày nay chúng ta gọi đây là lực li tâm. Hiện tượng tương tự phải xảy ra nếu Trái Đất ở trạng thái chuyển động quay, thế nhưng chúng ta không bị văng ra khỏi mặt đất.

    (d) Tiếp theo, có những lập luận thuần túy lí thuyết. Theo vật lí học Aristotle, chỉ có hai hình thức chuyển động, chuyển động thẳng đều và chuyển động tròn đều – đây là những chuyển động ‘tự nhiên’ duy nhất. Các vật hoặc là phải rơi theo đường thẳng đến tâm Vũ trụ, hoặc là phải ở trạng thái chuyển động tròn đều. Chúng ta đã bàn luận lập luận cho rằng các vật rơi thẳng về tâm Trái Đất chứ không rơi về phía Mặt Trời. Hơn nữa, theo vật lí học Aristotle, những vật đơn giản chỉ có thể có một chuyển động tự nhiên. Thế nhưng, theo Copernicus, những vật thả rơi trên Trái Đất có ba chuyển động – chuyển động hướng xuống do sự rơi tự do, chuyển động quay của Trái Đất xung quanh trục của nó và chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời.

    (e) Cuối cùng, nếu vật lí học Aristotle bị bác bỏ, thì cái gì thay thế cho nó? Phe Copernicus phải đưa ra một lí thuyết tốt hơn và chưa lí thuyết nào sẵn có hết.

    (a) Psalm 104:5 ‘Lạy Chúa… người đã thiết lập nền tảng của Trái Đất, rằng nó mãi mãi không bị di dời.’

    (b) Ecclesiastes 1:5 ‘Mặt Trời mọc, rồi Mặt Trời lặn, và đi đến nơi nó mọc lên.’

    (c) Joshua 10:12, 13 ‘Ngày mà Chúa phó dân Amorite cho dân Israel, thì Joshua thưa cùng Chúa tại Israel rằng: ‘Hỡi Mặt Trời, hãy dừng lại trên Gibeon; hỡi Mặt Trăng, hãy dừng lại trên thung lũng Ajalon’. Và Mặt Trời dừng lại, và Mặt Trăng đứng yên, cho đến khi dân chúng trả thù xong kẻ thù của mình.’

    Đây là những tài liệu tham khảo khá thiên lệch và điều thú vị là người Tin Lành chống học thuyết Copernicus còn mạnh mẽ hơn giáo hội Công giáo do bởi niềm tin của họ vào những sự thật theo nghĩa đen trong Kinh Thánh. Các nhà thần học Công giáo có cách giải thích phức tạp hơn và linh hoạt hơn về những gì ghi chép trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, quan niệm Trái Đất đứng yên tại trung tâm của Vũ trụ cũng là kết luận của các Giáo Phụ (Church Fathers) – các vị thánh, các nhà thần học và những người trong giáo hội đã làm cho Công giáo trở nên bí ẩn. Trích dẫn Finocchiaro:

    (5) Luận điểm hấp dẫn nhất nhìn từ quan điểm của chúng ta là bản chất giả thuyết của học thuyết Copernicus. Nó đánh vào tận trung tâm bản chất của khoa học tự nhiên. Điểm mấu chốt là cách chúng ta trình bày những nhận định về sự thành công của mô hình Copernicus. Một nhận định đúng là như sau:

    Nếu Trái Đất quay quanh trục của nó và chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời, và nếu những hành tinh khác cũng chuyển động xung quanh Mặt Trời, thì ta có thể mô tả thật dễ dàng và thật đẹp các chuyển động quan sát thấy của Mặt Trời, Mặt Trăng, và các hành tinh trên thiên cầu.

    Cái chúng ta không thể làm theo logic là đảo ngược lập luận trên và nói rằng, các chuyển động hành tinh được giải thích thật đơn giản và thật đẹp bởi giả thuyết Copernicus, nên Trái Đất phải quay và chuyển động trong quỹ đạo tròn xung quanh Mặt Trời. Đây là một lỗi logic cơ bản, bởi vì phải có những mô hình khác nữa cũng thành công giống như mô hình Copernicus.

    Điểm then chốt là sự khác biệt giữa lập luận quy nạpdiễn dịch. Owen Gingerich cung cấp một ví dụ dễ hiểu.10 Một chuỗi suy luận diễn dịch có thể như sau:

    (a) Nếu trời đang mưa, thì đường ướt.

    (b) Trời đang mưa.

    (c) Do đó, đường ướt.

    Không có vấn đề gì ở đây. Thế nhưng, bây giờ hãy đảo ngược (b) và (c) và chúng ta gặp rắc rối:

    (a) Nếu trời đang mưa, thì đường ướt.

    (b) Đường ướt.

    (c) Do đó, trời đang mưa.

    Hướng lập luận này rõ ràng là sai, vì con đường có thể là đường phố Venice, hoặc có thể mới được rửa nước. Nói cách khác, bạn không thể chứng minh bất cứ điều gì về tính chân thật tuyệt đối của những nhận định thuộc loại thứ hai này. Kiểu lập luận thứ hai này trong đó chúng ta cố đi tìm những quy luật chung từ những mảnh bằng chứng đặc biệt được gọi là suy luận quy nạp. Toàn bộ các khoa học vật chất đều ít nhiều có mức ‘bản chất giả định’ này. Điều này trái ngược với sự chắc chắn tuyệt đối của những lời Chúa răn được ghi lại trong kinh sách và cách giảng giải của nó dưới dạng giáo điều bởi các Giáo Phụ. Theo Owen Gingerich, đây là vấn đề cốt lõi dẫn tới việc xét xử và buộc tội Galileo – sự gần gũi của bức tranh thế giới giả thuyết của Copernicus với chân lí tuyệt đối được tiết lộ trong Kinh Thánh và được mã hóa bởi các Giáo Phụ.

    3.4.2 Vụ án Galileo

    Trước khi có những khám phá thiên văn vĩ đại của ông vào năm 1610-11, Galileo vốn cảnh giác cao độ trước học thuyết Copernicus, nhưng dần dần ông cảm thấy hiểu biết mới của mình về bản chất của chuyển động loại trừ được những vấn đề vật lí được nêu ở trên. Bằng chứng mới phù hợp với mô hình Copernicus. Đặc biệt, có núi non trên Mặt Trăng, y hệt như trên Trái Đất, cho thấy Trái Đất và Mặt Trăng là những vật thể giống nhau. Các pha của Kim tinh chính xác như trông đợi theo bức tranh Copernicus. Như vậy, những phản bác vật lí và thiên văn đối với học thuyết Copernicus có thể bị loại trừ, chỉ để lại những vấn đề thần học và logic để tranh luận.

    Khi bằng chứng bắt đầu tích góp nghiêng về học thuyết Copernicus, các nhà khoa học và nhà triết học bảo thủ phải dựa vào các luận điểm thần học, triết lí và logic ngày một nhiều hơn. Vào tháng Mười Hai 1613, Nữ đại công tước Dowager Christina đã hỏi Castelli, một người bạn và đồng nghiệp của Galileo, về những phản bác mang tính tôn giáo đối với chuyển động của Trái Đất. Castelli đáp lời thỏa mãn cả Nữ công tước và Galileo, nhưng Galileo cảm thấy cần phải xây dựng các luận điểm chi tiết hơn. Ông đề xuất rằng có ba chỗ sai sót chết người trong các lí lẽ thần học. Trích theo Finocchiaro:

    Thứ nhất, nó cố chứng minh một kết luận (sự đứng yên của Trái Đất) trên cơ sở một tiền đề (sự cam chắc của Kinh Thánh về hệ thống địa tĩnh) vốn chỉ có thể biết chắc với kết luận đó ngay từ đầu… Công việc giải thích Kinh Thánh phụ thuộc vào nghiên cứu vật lí, và việc đưa ra một kết luận vật lí gây tranh cãi dựa trên Kinh Thánh chẳng khác nào việc đặt xe kéo phía trước con ngựa cả. Thứ hai, sự phản bác dựa trên Kinh Thánh là không hợp logic, bởi lẽ Kinh Thánh chỉ có giá trị trong các vấn đề đức tin và đạo đức, chứ không phải trong các truy vấn khoa học… Cuối cùng, người ta có thể hỏi liệu chuyển động của Trái Đất có mâu thuẫn với Kinh Thánh hay không.11

    Galileo đáp lại bằng cách tìm kiếm sự hậu thuẫn của bạn bè và người bảo trợ, và bí mật lưu hành ba chuyên luận dài. Một trong số này lặp lại những lí lẽ về giá trị của những luận điểm thần học và được biết tới là thư của Galileo gửi Nữ Đại Công tước Christina; phiên bản hiệu chỉnh được mở rộng từ tám lên bốn mươi trang. Thật tình cờ may mắn, một Thầy dòng Neapolitan, Paolo Antonio Foscarini, cho xuất bản một quyển sách trong cùng năm bàn luận chi tiết rằng chuyển động của Trái Đất là tương thích với Kinh Thánh. Vào tháng Mười Hai 1615, sau một thời gian trì hoãn do bệnh tật, đích thân Galileo đi tới Rome và ngăn học thuyết Copernicus bị phán là dị giáo.

    … tôi thấy hình như Đức Cha (Foscarini) và Ngài Galileo hành động thận trọng bằng cách hạn chế mình chỉ nói giả định12 chứ không tuyệt đối, như tôi tin rằng Copernicus từng nói. Vì chẳng có gì nguy hiểm khi nói thế, bằng cách giả định Trái Đất chuyển động và Mặt Trời đứng yên, người ta làm cho mọi thứ sáng sủa hơn so với việc giả định các nội luân và ngoại luân; và như thế là đủ cho nhà toán học rồi.

    Tuy nhiên, nó khác với việc muốn khẳng định rằng trên thực tế Mặt Trời ngự tại trung tâm của thế giới và nó chỉ quay xung quanh nó chứ không chuyển động từ đông sang tây, và rằng Trái Đất nằm trong tầng trời thứ ba và quay với tốc độ lớn xung quanh Mặt Trời; đây là một điều rất nguy hiểm, có khả năng không chỉ ghẹo gan mọi nhà triết học kinh viện và nhà thần học, mà còn gây hại cho Đức tin Tôn giáo bởi việc nói rằng Kinh Thánh đã sai.13

    Những phát hiện của Tòa án Dị giáo rất có lợi cho cá nhân Galileo – ông được tha bổng cho tội danh nghi ngờ dị giáo. Tuy nhiên, Tòa án Dị giáo cũng yêu cầu một ủy ban gồm mười một chuyên gia cho ý kiến về hiện trạng của học thuyết Copernicus. Vào ngày 16 tháng Hai 1616, ủy ban báo cáo nhất trí rằng học thuyết Copernicus là tha hóa về mặt triết học và khoa học và dị giáo xét theo thần học. Phán xét này là nguyên nhân chính đưa đến việc kết án Galileo sau này. Có vẻ như Tòa án Dị giáo đã hiểu nhầm kết cục này vì họ chẳng đưa ra lời lên án chính thức nào. Thay vào đó, họ ban hành hai hướng dẫn nhẹ nhàng hơn. Thứ nhất, Galileo được Đức Hồng y Bellarmine cảnh báo riêng rằng ông nên ngừng bảo vệ cho bức tranh thế giới kiểu Copernicus. Chính xác hai bên đã nói những gì là nội dung gây tranh cãi, song Bellarmine báo cáo về Tòa án Dị giáo rằng lời cảnh báo đã được đưa ra và Galileo đã chấp thuận.

    Tin đồn lưu truyền nói rằng Galileo đã bị xét xử và bị lên án bởi Tòa án Dị giáo, và để khắc phục, Bellarmine đã nêu một tuyên bố ngắn gọn về kết quả Galileo không bị xét xử cũng không bị lên án, mà ông được thông báo về Sắc lệnh Sách cấm và yêu cầu không được tán thành hay bảo vệ bức tranh Copernicus. Mặc dù cá nhân được miễn xá, nhưng kết quả đó là một thất bại rõ ràng đối với Galileo. Mặc dù không chính thức là dị giáo, nhưng việc tán thành các quan điểm Copernicus thì cũng coi như vậy.

    3.5 Vụ xét xử Galileo

    Galileo trở về Florence và lập tức bắt tay vào viết quyển Đối thoại về Hai Hệ thống Thế giới Chính: Ptolemy và Copernicus. Ông tin rằng mình đã rất cố gắng để tuân thủ các mong muốn của cơ quan kiểm duyệt. Lời nói đầu được viết chung bởi Galileo và người kiểm duyệt, và sau một số trì hoãn, chuyên luận đồ sộ này được xuất bản vào năm 1632. Galileo viết quyển sách ở hình thức đối thoại giữa ba nhân vật, Simplicio bảo vệ vị thế Aristotle và Ptolemy, Salviati bảo vệ vị thế Copernicus và Sagredo là người quan sát trung lập và là một người con của thế giới. Trước sau như một, Galileo lập luận rằng mục đích không phải là để đưa ra phán xét, mà để truyền đạt thông tin và khai sáng. Quyển sách được xuất bản với đầy đủ giấy phép của giáo hội.

    Đức Giáo hoàng buộc phải hành động – uy quyền của giáo hoàng đang bị suy sụp khi mà sự chống lại cải cách và tái khẳng định quyền uy đó là những xem xét chính trị tối quan trọng. Galileo, lúc này đã 68 tuổi và sức khỏe kém, được lệnh đến Rome với nguy cơ bị bắt giữ. Kết quả xét xử là một kết luận đã được định trước. Cuối cùng, Galileo nhận một tội danh nhẹ hơn trên cơ sở rằng, giả như ông vi phạm các điều kiện áp đặt lên ông vào năm 1616, thì ông đã không cố ý làm thế. Giáo hoàng khăng khăng đòi thẩm vấn dưới sự đe dọa tra khảo. Vào ngày 22 tháng Sáu 1633, Galileo bị kết tội ‘nghi ngờ dị giáo mức nặng’ và buộc phải công khai từ bỏ quan điểm, các thủ tục được ghi lại trong Sách Sắc lệnh.

    Tôi không giữ quan điểm này của Copernicus, và tôi đã không giữ nó sau khi được lệnh phải từ bỏ nó. Thế thôi, nay tôi có mặt ở đây trong tay các ngài; tùy các ngài xử trí.14

    Cuối cùng Galileo trở về Florence và chịu quản thúc tại nhà cho đến cuối đời – ông qua đời tại Arcetri vào ngày 9 tháng Một 1642.

     

    3.6 Nguyên lí tương đối Galileo

    Những ý tưởng trình bày trong Hai Khoa học Mới đã có trong đầu Galileo từ năm 1608. Một trong số đó là cái ngày nay được gọi là nguyên lí tương đối Galileo. Sự tương đối thường được xem là thứ gì đó được phát minh bởi Albert Einstein vào năm 1905, nhưng như thế là không công bằng với thành tựu vĩ đại của Galileo. Giả sử một thí nghiệm được tiến hành trên bờ biển và rồi một con tàu chuyển động ở tốc độ không đổi so với bờ biển. Nếu bỏ qua sức cản không khí thì có khác biệt nào không ở kết cục của các thí nghiệm? Galileo trả lời như đinh đóng cột, ‘Không, không hề có.’

    Sự tương đối của chuyển động được minh họa bằng cách thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm của một con tàu (Hình 3.8). Nếu con tàu đứng yên, thì vật rơi thẳng đứng xuống. Bây giờ giả sử con tàu đang chuyển động. Giả sử vật được thả rơi từ đỉnh cột buồm, nó phải rơi thẳng đứng xuống theo một người quan sát ở trên tàu. Tuy nhiên, người quan sát đứng yên trên bờ biển để ý thấy rằng, so với bờ biển, quỹ đạo của vật bị cong (Hình 3.8c). Lí do là vì con tàu đang chuyển động ở một tốc độ v nào đó và vì thế, so với bờ biển, vật có hai thành phần tách biệt cho chuyển động của nó – gia tốc thẳng đứng xuống dưới do trọng lực và chuyển động thẳng đều theo phương ngang do chuyển động của con tàu.

    Hình 3.8 (a) Thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm trên một con tàu đứng yên trong hệ quy chiếu S. (b) Thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm trên một con tàu chuyển động, nhìn trong hệ quy chiếu S’ của con tàu. (c) Thả rơi một vật từ đỉnh cột buồm trên một con tàu chuyển động, khi quan sát từ hệ quy chiếu S. Con tàu chuyển động trong thời gian vật rơi.

    Hình 3.9 Minh họa hai hệ quy chiếu Descartes đang chuyển động ở vận tốc tương đối v theo chiều dương trục x trong ‘cấu hình chuẩn’.

    Điều này tự nhiên dẫn tới khái niệm hệ quy chiếu. Khi đo vị trí của một vật nào đó trong không gian ba chiều, ta định vị nó bởi các tọa độ của nó trong một hệ tọa độ hình chữ nhật nào đó (Hình 3.9). Điểm P có tọa độ (x, y, z) trong hệ quy chiếu S đứng yên này. Bây giờ giả sử con tàu chuyển động theo chiều dương trục x ở một tốc độ v nào đó. Khi ấy, ta có thể thiết lập một hệ quy chiếu khác, S’ trên con tàu. Tọa độ của điểm P trong S’ là

    (x’, y’, z’). Bây giờ ta dễ dàng liên hệ các tọa độ trong hai hệ quy chiếu này. Giả sử vật đứng yên trong hệ quy chiếu S, x là một hằng số còn giá trị của x’ thay đổi vì x’ = x – vt, trong đó t là thời gian, giả sử gốc tọa độ của hai hệ quy chiếu trùng nhau tại t = 0. Giá trị của yy’ vẫn bằng nhau trong SS’, zz’ cũng thế. Ngoài ra, thời gian là như nhau trong hai hệ quy chiếu. Ta có thể suy ra một tập hợp liên hệ các tọa độ của vật trong SS’:

    Tập hợp này được gọi là phép biến đổi Galileo giữa hệ quy chiếu SS’. Các hệ quy chiếu chuyển động ở tốc độ không đổi với nhau được gọi là hệ quy chiếu quán tính. Ta có thể tóm tắt nhận thức vĩ đại của Galileo bằng cách phát biểu rằng các định luật vật lí là như nhau trong mọi hệ quy chiếu quán tính.

    Một hệ luận của nhận thức này là định luật về thành phần vận tốc. Tôi đã dùng từ tốc độ thay cho vận tốc vì tôi đang khai thác công dụng hiện đại của tốc độ là một đại lượng vô hướng, còn khi dùng vận tốc ý tôi là đại lượng vector v có cả độ lớn và chiều. Galileo là người đầu tiên thiết lập định luật về thành phần vận tốc – nếu một vật có các thành phần vận tốc theo hai chiều khác nhau, thì có thể xác định chuyển động của vật đó bằng cách cộng các tác dụng riêng của những chuyển động này. Đây là cách ông chứng minh rằng quỹ đạo của đạn pháo và vật bị ném có dạng parabol (Hình 3.5).

    Trong quyển Hai Khoa học Mi, Galileo đã mô tả những khám phá của ông về bản chất của gia tốc không đổi, chuyển động của con lắc và sự rơi tự do dưới tác dụng của trọng lực. Cuối cùng, ông phát biểu định luật quán tính khẳng định rằng một vật sẽ chuyển động ở vận tốc không đổi trừ khi có một xung lực hoặc một lực làm nó thay đổi vận tốc đó – lưu ý rằng lúc này vận tốc, chứ không phải tốc độ, là không đổi vì chiều chuyển động không đổi khi không có lực tác dụng. Điều này thường được gọi là sự bảo toàn chuyển động – khi không có lực tác dụng, các thành phần riêng của vận tốc vẫn bất biến. Từ quán tính được dùng ở đây theo nghĩa là nó là một tính chất của vật chống lại sự thay đổi chuyển động. Định luật này sẽ trở thành định luật thứ nhất của Newton về chuyển động. Có thể thấy rõ vì sao chuyển động của Trái Đất không gây trở ngại gì cho Galileo. Do nhận thức của ông về sự tương đối Galileo, ông nhận ra rằng các định luật vật lí là không đổi cho dù Trái Đất đứng yên hay đang chuyển động ở một tốc độ không đổi.

     

    3.7 Nhận xét, kết luận

     

    Chúng ta không thể khép lại nghiên cứu này mà không đánh giá những hàm ý phương pháp luận và triết lí của trường hợp Galileo. Giáo hội đã phạm sai lầm khi kết tội nền vật lí mới của Copernicus và Galileo. Phải 350 năm sau thì Giáo hoàng John Paul II mới thừa nhận đã có sai lầm đó. Vào tháng Mười Một 1979, Giáo hoàng John Paul II nói rằng Galileo ‘…đã phải chịu thiệt thòi lớn – chúng ta không thể che giấu thực tế ấy – trong tay những con người và tổ chức của Giáo hội’. Ông tiếp tục thừa nhận rằng ‘…trong vụ án này, các thỏa thuận giữa tôn giáo và khoa học là nhiều hơn và, trên hết thảy, chúng quan trọng hơn những điều chưa hiểu hết đã dẫn tới sự xung đột cay đắng và đầy đau đớn vẫn tiếp tục diễn ra trong hàng thế kỉ sau đó.’

    Lưu ý rằng tôi dùng từ mô hình trong mô tả tiến trình này chứ không ấn định rằng nó là chân lí. Thành tựu to lớn của Galileo là đã nhận ra rằng các mô hình mô tả tự nhiên có thể được xây dựng trên một nền tảng toán học chắc chắn. Trong phần nhận xét có lẽ nổi tiếng nhất của ông, ông trình bày trong chuyên luận Il Saggiatore (Người làm Thí nghiệm) năm 1624 rằng:

    Triết học được trình bày trong quyển sách rất hay này luôn nằm trước mắt chúng ta (ý tôi là Vũ trụ), nhưng người ta không thể hiểu nó trừ khi trước tiên người ta học cách hiểu ngôn ngữ và nhận ra các kí tự trình bày nó. Nó được viết bằng ngôn ngữ toán học, và kí tự là các tam giác, đường tròn, và các dạng hình học khác; không có những phương tiện này con người không thể hiểu được một từ nào của nó; không có những phương tiện này người ta chỉ có thể mò mẩm trong một mê cung tăm tối.15

    Nhận xét này thường được rút gọn thành câu phát biểu:

    Sách về Tự nhiên được viết bằng các kí tự toán học.

    Đây là thành tựu to lớn của cuộc cách mạng Galileo. Những sự thật cơ bản thấy rõ do Galileo thiết lập đòi hỏi một mức trừu tượng rất lớn. Vật chất không tuân theo các định luật đơn giản biểu kiến của Galileo – luôn luôn có ma sát, các thí nghiệm chỉ có thể được tiến hành với độ chuẩn xác hạn chế và thường cho kết quả âm tính. Cần có một nhận thức sâu sắc và trí tưởng tượng để dọn sạch rác rến không cần thiết và đánh giá đúng tính đơn giản cơ bản của cách hành xử của vật chất. Phương pháp hiện đại tiếp cận khoa học chẳng gì hơn là sự hình thức hóa của tiến trình mà Galileo đã khởi xướng. Nó được gọi là phương pháp diễn dịch giả thuyết theo đó các giả thuyết được nêu ra và các hệ quả được suy luận logic từ chúng. Mô hình này có thể chấp nhận được miễn là nó không đi tới xung đột với cách vật chất hành xử trên thực tế. Thế nhưng các mô hình chỉ có giá trị trong phạm vi đã vạch rõ của không gian tham số. Các chuyên gia trở nên gắn bó với chúng, và như những nhận xét của Dirac và Douglas Gough trích dẫn ở Chương 1 mô tả sự cần thiết phải hài lòng với những lí thuyết gần đúng và nỗi đau thật sự phải chịu khi buộc phải từ bỏ một định kiến đã ấp ủ bấy lâu.

    Ngày nay, hiếm khi các giáo điều tôn giáo gây trở ngại cho sự phát triển của các khoa học vật chất. Tuy nhiên, thành kiến khoa họcgiáo lí là cái chung của tranh luận khoa học. Chẳng có gì đáng lo ngại về điều này miễn là chúng ta nhận ra những gì đang xảy ra. Các định kiến đem lại khuôn khổ để thực hiện tranh luận và để đề xuất các thí nghiệm và tính toán có thể đem lại phép thử về tính nhất quán của các ý tưởng. Ta sẽ tìm thấy nhiều ví dụ trong suốt quyển sách này trong đó ‘chính quyền’ và ‘người có danh vọng’ là rào cản đối với sự tiến bộ khoa học. Cần rất nhiều sự quả cảm và kiên trì để chống lại sức nặng quá lớn của quan điểm bảo thủ. Thông qua sự bảo trợ của khoa học, giáo điều khoa học có thể thu được uy quyền để loại trừ những phương pháp khác. Một trong những ví dụ bất hạnh nhất là vụ án Lysenko ở Liên Xô không bao lâu sau Thế chiến Thứ hai, khi nền triết học chính trị Cộng sản có tác động mạnh lên khoa sinh vật học, đưa đến thảm họa cho những nghiên cứu này ở Liên Xô.

     

    Ghi chú

    1. Lịch sử gần đây về vụ án Galileo được trình bày trong Giáo hội và Galileo, E. McMullin biên tập (2006). Notre Dame, Indiana: NXB Đại học Notre Dame. Chương 13 ‘Nỗ lực Mới nhất của Giáo hội nhằm Xua tan Huyền thoại Galileo’ của George V. Coyne, S. J. là một chuyên luận đặc biệt sáng tỏ.

    2. Drake, S (1990). Galileo: Nhà Khoa học Tiên phong, trang 63. Toronto: NXB Đại học Toronto.

    3. Lưu ý rằng nếu quả cầu lăn xuống mặt phẳng nghiêng mà không trượt, gia tốc sẽ chỉ là5 gsinq, vì quả cầu có động năng thẳng lẫn động năng quay khi thế năng trọng trường7 giảm.

    4. Drake, S. (1990), sách đã dẫn, trang 83.

    5. Drake, S. (1990), sách đã dẫn, trang 84.

    6. Galilei, G. (1610). Sidereus Nuncius, Venice. Xem bản dịch của A. van Helden (1989). Sidereus Nuncius hay Người đưa tin Thiên văn. Chicago: NXB Đại học Chicago. Thật đáng kinh ngạc, các quan sát và phác thảo được gửi đến xuất bản ngay trước khi mực in kịp khô. Những quan sát cuối cùng được thực hiện vào ngày 2 tháng Ba 1610 và quyển sách được xuất bản vào ngày 13 tháng Ba cùng năm.

    7. Finocchiaro, M.A. (1989). Vụ án Galileo: Một Tư liệu Lịch sử. Berkeley: NXB Đại học California.

    8. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 24.

    9. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 24.

    10. Gingerich, O. (1982), Scientific American, 247, 118.

    11. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 28.

    12. Từ này thường được dịch trên giả thuyết.

    13. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 67.

    14. Finocchiaro, M. A. (1989), sách đã dẫn, trang 287.

    15. Sharratt, M. (1994). Galileo: Nhà phát minh Kiên định, trang 140. Cambridge: NXB Đại học Cambridge.

    Trích từ Theoretical Concepts in Physics, bản in lần thứ ba 2022,

    của Malcolm Longair. Bản dịch của Trần Nghiêm.

    Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Nguyên Tắc Gestalt: Tiếng Nói Của Dân Thiết Kế. • Rgb
  • Những Nguyên Tắc Gestalt
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “Định Luật Festinger”
  • Chiếc Đồng Hồ Đắt Tiền Và Bí Quyết Sống Hạnh Phúc
  • 45 Định Luật Cuộc Sống Càng Đọc Càng Thấm
  • Phân Tích Nội Dung Ý Nghĩa Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Hãy Nêu Giá Trị Khoa Học Của Định Nghĩa.

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Định Nghĩa Vật Chất Của V.i. Lênin? Giá Trị Của Nó Dưới Ánh Sáng Khoa Học Hiện Đại?
  • Phương Pháp Tìm Giá Trị Lớn Nhất, Nhỏ Nhất Của Hàm Số Cần Nắm Rõ
  • Phương Pháp Tìm Giá Trị Lớn Nhất Và Giá Trị Nhỏ Nhất Của Hàm Số
  • Giá Trị Lớn Nhất Nhỏ Nhất Của Hàm Số
  • Bài 3: Thứ Tự Trong Tập Hợp Số Tự Nhiên Thu Tu Trong Tap Hop So Nguyen Tiet 43 Doc
  • Dẫn nhập:

    Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm cho các quan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng:

    – Phát minh ra hiện tượng phóng xạ của uranium do các nhà bác học Pháp Beccơren (Antoine Henri Becquerel), và ông bà Pie Quyri (Piere Curie) và Mari Quyri (Marie Curie).

    – Phát hiện điện tử của nhà vật lý học Anh Tomxơm (Sỉ Joseph Thomson)

    – Phát hiện sự thay đổi khối lượng điện tử của nhà bác học Đức Kaufman.

    – Thuyết tương đối của Albert Eisntein (1905).

    Các phát minh này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học.

    Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các hiện tượng vật lý: vật chất tiêu tan mất.

    Các nhà triết học duy tâm chủ quan lợi dụng tấn công phủ nhận vật chất và chủ nghĩa duy vật.

    Tình hình đó đòi hỏi Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật.

    Phần chính:

    + Định nghĩa vật chất của Lênin:

    Kế thừa tư tưởng của Mác và Ăngghen, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin đưa ra định nghĩa về vật chất:

    “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

    Phân tích nội dung định nghĩa:

    – Vật chất là một phạm trù triết học: nghĩa là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất. Vật chất là khái niệm trừu tượng dùng để chỉ đặc điểm chung của tất cả các dạng tồn tại cụ thể trong vũ trụ, nhưng không đồng nhất với bất cứ một dạng cụ thể nào.

    – Vật chất là thực tại khách quan: vật chất là tất cả những gì tồn tại thực sự, ở bên ngoài, không lệ thuộc cảm giác. Thực tại khách quan là đặc điểm phân biệt vật chất với ý thức.

    -Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác:

    Vật chất không phải là cái gì hư vô, huyền bí, mà trái lại nó tồn tại dưới những dạng cụ thể, khi tác động vào giác quan thì gây ra cảm giác, được cảm giác phản ánh.

    Cảm giác, ý thức chỉ là phản ánh của vật chất

    Sự tồn tại của vật chất có hai mặt:

    – Tồn tại khách quan có trước, không lệ thuộc cảm giác.

    Dù con người chưa nhận thức được một dạng vật chất nào đó thì nó vẫn tồn tại không phụ thuộc con người. Chẳng hạn, điện tử, virus … đã tồn tại trước khi con người phát hiện ra chúng.

    – Tồn tại cảm tính phụ thuộc vào cảm giác và trình độ thực tiễn của con người.

    Nó là bằng chứng về sự tồn tại của vật chất. Do đó, chưa thể có bằng chứng về sự tồn tại của một dạng vật chất cụ thể nào đó khi con người chưa cảm nhận được nó (trực tiếp bằng giác quan hay bằng các phương tiện kỹ thuật để nối dài giác quan, như kính hiển vi, kính viễn vọng, màng huỳnh quang, v.v..).

    Ý nghĩa và giá trị khoa học của định nghĩa:

    – Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật

    – Bác bỏ các quan điểm duy tâm khách quan và chủ quan về vật chất

    – Khắc phục những hạn chế của quan điểm duy vật siêu hình

    – Có thể vận dụng trong đời sống xã hội để phân biệt vật chất với tinh thần.

    – Giải quyết được cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học lúc bấy giờ; định hướng cho khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất.

    Source(s): – Giáo trình triết học Mác-Lênin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Vi Của Cá Nhân Trong Tổ Chức
  • Hành Vi Tổ Chứcbùi Anh Tuấn
  • Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Khấu Hao Và Hao Mòn Lũy Kế Khác Nhau Ntn? Làm Tn Để K Bị Nhầm Lẫn Khi Lập Bảng Cđkt?
  • Thuế Vat Là Gì? Những Điều Kế Toán Nên Biết Về Thuế Gtgt
  • Khoa Học Về Vi Sinh Vật Đang Định Nghĩa Lại Triết Học: Con Người Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phẩm Giá Con Người Trong Triết Học Kant
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ Và Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân
  • Triết Học Về Chính Trị: 6
  • Tình Yêu Là Vật Chất Hay Ý Thức Trong Triết Học?
  • Từ trước đến nay, mọi người vẫn nghĩ rằng mình là một cá thể độc nhất. Ý tưởng về sự cá biệt hóa của con người đã tồn tại qua hàng thế kỷ, cho đến nay, là điều mà một số nhà sinh vật học không còn đồng ý.

    Họ cho rằng cơ thể của chúng ta không chỉ gồm con người. Tới một nửa trong số hơn 70 nghìn tỷ tế bào trên cơ thể của chúng ta không phải của chúng ta, mà là của vi sinh vật. Hệ vi sinh vật trên cơ thể chúng ta tác động sâu rộng vào cơ thể, từ hoạt động của não bộ, hệ miễn dịch cho đến biểu hiện gen.

    Một bài báo khoa học xuất bản vào đầu tháng 2 trên tạp chí PLOS cho rằng, các vi sinh vật nhỏ bé sống trong miệng, dạ dày và da của bạn đang thách thức khái niệm của chúng ta về đâu là bản thân và cái tôi của mình.

    Năm 1695, nhà triết học Gottfried Wilhelm Leibniz đang đi dạo trong vườn với một vị công chúa của Vương quốc Phổ. Trong cuộc trò chuyện, công chúa nói rằng nàng không nghĩ Leibniz có thể tìm thấy 2 chiếc lá giống hệt nhau.

    Vậy là họ bắt đầu ngắt những chiếc lá. Và dĩ nhiên, mỗi chiếc lá đều khác biệt “, nhà nhân chủng học Tobias Rees, tác giả nghiên cứu mới trên tạp chí PLOS, đồng thời là giáo sư triết học tại Đại học McGill kể lại. Đó là lần đầu tiên Leibniz có ý niệm về thứ được gọi là cá thể. Ông cho rằng mỗi chiếc lá đều là một cá thể độc nhất.

    Trước đó, triết học quan niệm rằng con người chỉ là một phần của tự nhiên. Tự nhiên ấy là toàn bộ vũ trụ được tạo ra bởi Đấng sáng thế. Chúng ta không thực sự tách biệt khỏi vũ trụ, giáo sư Rees nói. ” Ngay cả những hoạt động kỹ thuật, nhân tạo của con người cũng chỉ để hoàn thiện những gì mà tự nhiên còn bỏ ngỏ “.

    Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên phát triển, chúng ta bắt đầu nghĩ giống như Leibniz nghĩ về những chiếc lá: Não, hệ thống miễn dịch và bộ gen đều làm cho mỗi người chúng ta trở thành một cá thể.

    Franz Gall, bác sĩ và nhà sinh lý học người Đức, từng nói với Immanuel Kant rằng: Hình dạng của bộ não và hộp sọ của ông là thứ khiến cho ông trở thành một triết gia. Sau này, hầu hết các nhà triết học đều trích dẫn câu nói này, để chuyển tiếp khi họ bắt đầu suy nghĩ về bộ não là thứ cá thể hóa con người.

    Hàng ngàn nghiên cứu về não bộ đã được thực hiện sau đó, và thật khó để nghĩ về bản thân bạn như một cá thể mà không có não bộ của bạn.

    Năm 1960, một nhà nghiên cứu miễn dịch người Australia tên là Sir Frank MacFarlan Burnet đã giành giải Nobel. Công trình của ông chứng minh rằng hệ thống miễn dịch đã giúp tách biệt bạn với những gì không phải bạn. Chẳng hạn như hệ miễn dịch ngăn cách chúng ta khỏi các mầm bệnh, virus và vi khuẩn gây bệnh.

    Nhưng khi các nhà khoa học tìm hiểu sâu hơn về vi sinh vật, quan niệm cho rằng con người là một sinh vật đơn lẻ đang được xem xét lại. Hiện nay có rất nhiều bằng chứng cho thấy sự sống của con người phụ thuộc cả vào quần thể vi sinh vật đang cư trú trên cơ thể chúng ta.

    Các vi sinh vật này chiếm đến 1 nửa số lượng tế bào trên cơ thể bạn, một nửa của 70 nghìn tỷ tế bào. Chúng có ảnh hưởng đến não, hệ thống miễn dịch và cả sự biểu hiện gen.

    Các vi sinh vật cũng có thể sản sinh ra các chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, nguồn gốc của cảm giác hạnh phúc của chúng ta, Thomas Bosch, giáo sư động vật học tại Đại học Kiel, Đức giải thích.

    Mặc dù vậy, những bằng chứng kể trên không có nghĩa rằng con người bây giờ không còn là cá thể duy nhất – chúng ta rõ ràng là khác nhau – nhưng tính cá thể của chúng ta không chỉ được xác định từ di truyền học hoặc bộ não, mà còn từ các sinh vật khác sống trong và trên cơ thể.

    Những gì từng được xem như là một phần của bản thân con người, hóa ra lại có nguồn gốc từ vi khuẩn, thứ từng bị coi là không phải bản thân chúng ta “, giáo sư Bosch nói.

    Những khám phá mới trong nghiên cứu về hệ sinh sinh vật người, theo giáo sư Rees, là ” một lời thỉnh cầu triết học và nghệ thuật hãy suy nghĩ lại về con người chúng ta”.

    Đối với khoa học, những công nghệ tiên tiến nhất như chỉnh sửa gen với CRISPR-Cas9 cũng cần được đánh giá lại trong bối cảnh có sự tham gia của các vi sinh vật.

    “Những bộ gen đan xen vào những bộ gen”, như giáo sư Bosch nói. Cơ thể chúng ta không chỉ tồn tại bộ gen của con người, mà còn của các vi sinh vật sống trên đó.

    Khi chúng ta nhìn vào thực tế rằng hệ vi sinh vật trên cơ thể ảnh hưởng đến não bộ, hệ miễn dịch và bộ gen của chúng ta, đột nhiên, thật khó để định nghĩa được một cá thể người tách biệt. ” Người ta đã từng nghĩ về bản thân mình là con người, với tư cách là một cá thể, rời rạc và bị giới hạn, nhưng bây giờ thì không “, giáo sư Rees nói.

    Ông và các đồng tác giả bài báo khoa học mới cho rằng định nghĩa về một cá thể con người phải linh hoạt hơn nhiều so với những gì chúng ta nghĩ ban đầu. Theo đó, mỗi con người chúng ta là cả một cộng đồng sinh vật sôi động chứa 1 con người và hàng nghìn tỷ vi sinh vật. Các tác giả gọi ” con người” đó là ” megaorganism”, một siêu tổ chức, siêu cơ thể.

    Mặc dù vậy, không phải tất cả các nhà vi sinh học hay triết học đều bị thuyết phục bởi nghiên cứu mới của giáo sư Rees và đồng nghiệp. Ellen Clarke, giảng viên triết học tại Đại học Leeds ở Anh, nhà nghiên cứu chuyên về triết học sinh học, cho biết: Sự đóng góp của vi khuẩn đối với cơ thể con người không thay đổi bản chất về việc chúng ta là ai.

    “Chúng ta có rất nhiều tính trạng phụ thuộc vào các gen bên ngoài chúng ta- ví dụ tôi không thể sinh sản mà không có bạn tình”, giáo sư Clarke nói. So sánh như vậy, ảnh hưởng của vi khuẩn liệu có quan trọng đến vậy?

    Tương tự, nhà vi sinh vật học Jonathan Eisen, giáo sư tại Đại học UC Davis, cảm thấy rằng các tác giả đã phóng đại ảnh hưởng của các vi khuẩn lên hành vi của chúng ta.

    “Chắc chắn, vi sinh vật ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của hành vi ở động vật có vú và có thể cả ở người“, giáo sư Eisen cho biết. ” Nhưng các loại thuốc cũng gây ảnh hưởng. Và cả việc xem TV cũng vậy. Giáo dục nữa. Vậy thì bây giờ khái niệm về bản thân của chúng ta nên bao gồm cả những loại thuốc chúng ta dùng?”.

    Giáo sư Eisen cũng chỉ ra rằng những ý tưởng được nêu ra trong nghiên cứu của giáo sư Rees không hoàn toàn mới. Đã có những nghiên cứu trước đây xem xét để suy rộng định nghĩa về con người. Chẳng hạn như lý thuyết hologenome phát triển vào những năm 90, trong đó, một bộ gen được định nghĩa là tổng của tất cả các gen, của tất cả các tế bào (cả con người hoặc những sinh vật khác) trong cơ thể.

    Như các tác giả viết trong bài báo, “con người không chỉ là con người”.

    Tham khảo Motherboard

    ZKNIGHT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học L.feuerbach
  • Mối Quan Hệ Vật Chất Và Ý Thức Cho Ví Dụ
  • Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp Luật Của Định Nghĩa Vật Chất
  • Quan Niệm Về Chân Lý Trong Triết Học Phương Tây
  • Trí Thức Và Một Vài Đặc Điểm Của Trí Thức
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lê

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng
  • Buổi seminar môn:

    NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN

    CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

    ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT

    CỦA LÊNIN

    Giáo viên hướng dẫn: Lª ThÞ Nga

    Nhóm thực hiện: Nhóm 1 – A2 – K66

    Chủ nghĩa duy vật trước Mác

    ĐN vật chất của Lênin

    I- Chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tư tưởng về vật chất có lịch sử phát triển trên 2500 năm.

    CN duy tâm quan niệm ý thức có trước vật chất có sau, ý thức sinh ra vật chất.

    CN duy vật lại quan niệm rằng vật chất là cái có trước,quyết định thế giới, vật chất sinh ra ý thức.

    Chủ nghĩa duy vật

    Thời kì cổ đại: các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất với các sự vật cụ thể, cảm tính.

    – Triết học Trung Quốc quan niệm Ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là những tố chất vật chất đầu tiên.

    Phái Nyaya (Ấn Độ) quan niệm cơ sở vật chất đầu tiên là anu.

    – Phái Milê (Hy Lạp) cho rằng cơ sở vật chất đầu tiên là nước (Talét), không khí (Anaximen), lửa (Hêraclít), nguyên tử (Đêmôcrít),.v.v…

    Thời kì cận đại: hàng loạt phát minh và công trình nghiên cứu ra đời đã dẫn tới cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý học.

    Albert Einstein và cthức nổi tiếng

    II- Định nghĩa vật chất của Lênin

    Định nghĩa

    Phân tích

    Ý nghĩa

    Liên hệ thực tiễn bản thân

    1. Định nghĩa vật chất của Lênin

    (Tác phẩm “chủ nghĩa kinh nghiệm

    và chủ nghĩa duy vật phê phán”)

    “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác .”

    2. Phân tích định nghĩa

    Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan: vật chất là những gì tồn tại khách quan, độc lập với suy nghĩ con người.

    được đem lại cho con người trong cảm giác: khẳng định vật chất là cái có trước, ý thức có sau.

    được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác: khẳng định vật chất tồn tại không phụ thuộc vào ý thức.

    Ở định nghĩa này, V.I.Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:

    Thứ nhất là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau.

    cây táo thật cây táo trong suy nghĩ

    (vật chất) (không phải vật chất)

    Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vật chất chính là thuộc tính khách quan.

    Kết luận

    Vật chất là tất cả những gì tồn tại bên ngoài, tồn tại độc lập với ý thức loài người.

    Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của mọi tri thức.

    Con người có khả năng nhận thức thế giới.

    3. Ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa

    Khắc phục tính siêu hình.

    Khắc phục tính máy móc cứng nhắc.

    Khắc phục những thiếu sót duy tâm trong quan niệm trước Mác.

    4. Liên hệ thực tiễn

    – Phải có những nhận thức đúng đắn để giải quyết vấn đề theo hướng tích cực bằng chính tư duy thực tiễn thông qua sự thay đổi về vật chất, không phó mặc cho cảm giác hay những hiện tượng siêu nhiên để dẫn tới sự lựa chon sai lầm.

    – Thông qua vật chất hay là tiến bộ của nền khoa học để ứng dụng có chọn lọc và sáng tạo, có ích cho con người.

    Chúc buổi Seminar

    thành công tốt đẹp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm Đó?
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm
  • 300 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Lý Luận Chính Trị ( Có Đáp Án )1 100
  • Giải Bài Tập Trang 39, 40 Sgk Hình Học 12, Giải Toán Lớp 12 Bài 1, 2,
  • Giải Bài Tập Toán 12 Bài 1. Khái Niệm Về Mặt Tròn Xoay
  • Vật Lí Học Và Phương Pháp Khoa Học Vật Lí

    --- Bài mới hơn ---

  • Pes: Khoa Học Vật Lý Và Môi Trường
  • Tổng Hợp Về Ngành Vật Lý Học
  • Maps: Thạc Sĩ Khoa Học Vật Lý
  • Emp: Kỹ Thuật, Toán Học Và Khoa Học Vật Lý
  • Tải Basic Computer Engineering Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Nếu bạn thả rơi chiếc giày của bạn và một đồng tiền sát bên nhau, chúng sẽ chạm đất cùng một lúc. Tại sao chiếc giày không rơi xuống trước, vì lực hấp dẫn hút nó mạnh hơn mà ? Làm thế nào thủy tinh thể của mắt bạn hoạt động được, và tác dụng cơ mắt của bạn phải nén thủy tinh thể của nó thành những hình dạng khác nhau để hội tụ các vật ở gần hay ở xa ? Đây là những loại câu hỏi mà các nhà vật lí đã cố gắng trả lời về hành vi của ánh sáng và vật chất, hai thứ cấu thành nên vũ trụ.

    (1) Khoa học là một chu trình của lí thuyết và thực nghiệm. Các lí thuyết khoa học được đưa ra để giải thích kết quả thí nghiệm tạo ra dưới những điều kiện nhất định. Một lí thuyết thành công cũng sẽ đưa ra những tiên đoán mới về những thí nghiệm mới dưới những điều kiện mới. Tuy vậy, cuối cùng, điều luôn xảy ra là một thí nghiệm mới xuất hiện, cho thấy dưới những điều kiện nhất định, lí thuyết đó không hẳn là một sự gần đúng tốt hay thậm chí không còn giá trị nữa. Quả bóng khi đó được đá trở lại sân của các nhà lí thuyết. Nếu một thí nghiệm không ăn khớp với lí thuyết hiện tại, thì lí thuyết đó phải thay đổi, chứ không phải thí nghiệm.

    a/ Khoa học là một chu trình của lí thuyết và thực nghiệm

    (2) Lí thuyết phải vừa có tính tiên đoán vừa có tính giải thích. Yêu cầu của sức mạnh dự đoán có nghĩa là một lí thuyết sẽ chỉ có đầy đủ ý nghĩa nếu như nó có khả năng tiên đoán cái gì đó có thể kiểm tra trên cơ sở các phép đo thực nghiệm mà lí thuyết đó không với tới ngay. Nghĩa là, một lí thuyết phải có thể kiểm tra được. Giá trị giải thích có nghĩa là nhiều hiện tượng phải được xem xét đối với vài nguyên lí cơ bản. Nếu bạn trả lời mỗi câu hỏi “tại sao” rằng “bởi vì nó là như thế” thì lí thuyết của bạn không có giá trị giải thích. Sưu tập nhiều số liệu mà không có khả năng tìm ra bất kì nguyên lí nền tảng cơ sở nào thì không phải là khoa học.

    (3) Các thí nghiệm phải có thể lặp lại được. Một thí nghiệm sẽ bị xem xét với sự hoài nghi nếu như nó chỉ hoạt động đối với một người, hoặc chỉ hoạt động trong một bộ phận của thế giới. Bất kì ai có kĩ năng và trang thiết bị cần thiết đều có thể thu được kết quả như nhau từ những thí nghiệm như nhau. Điều này ngụ ý rằng nền khoa học vượt qua ranh giới quốc gia và tôn giáo; bạn có thể chắc chắn rằng chẳng có ai đang làm khoa học thật sự khi họ khẳng định công việc của họ là “Aryan, không phải Do Thái,” “mác-xít, không phải tư bản,” hay “Công giáo, không phải vô thần”. Một thí nghiệm không thể tái dựng lại được nếu như nó là bí mật, cho nên khoa học nhất thiết phải là một sự nghiệp chung.

    b/ Hình vẽ châm biếm phòng làm việc của một nhà giả kim thuật. H. Cock, vẽ lại theo Peter Brueghel (thế kỉ 16)

    Một thí dụ của chu trình lí thuyết và thực nghiệm, một bước tiến cần thiết đến nền hóa học hiện đại là quan sát thực nghiệm cho thấy các nguyên tố hóa học không thể chuyển hóa lẫn nhau, chẳng hạn như chì không thể biến thành vàng. Điều này dẫn tới lí thuyết cho rằng các phản ứng hóa học bao gồm sự sắp xếp lại của các nguyên tố theo những kết hợp khác nhau, không có bất kì sự thay đổi nào ở nhân dạng của bản thân các nguyên tố. Lí thuyết đó hoạt động trong hàng trăm năm, và được xác nhận bằng thực nghiệm trên một phạm vi rộng của áp suất và nhiệt độ và với nhiều kết hợp của các nguyên tố. Chỉ trong thế kỉ 20, chúng ta mới biết rằng một nguyên tố có thể chuyển hóa thành một nguyên tố khác dưới những điều kiện áp suất và nhiệt độ cực cao tồn tại trong quả bom hạt nhân hoặc bên trong một ngôi sao. Quan sát đó không hoàn toàn vô hiệu hóa lí thuyết ban đầu về sự bất biến của các nguyên tố, nhưng nó cho thấy nó chỉ là một sự gần đúng, hợp lí ở điều kiện nhiệt độ và áp suất bình thường.

    Một pháp sư lên đồng tham gia nói chuyện với linh hồn người đã mất. Ông nói ông có sức mạnh ma thuật đặc biệt mà người khác không có, nó cho phép ông “liên lạc” thông tin với các linh hồn. Ở đây, phần nào của nguyên tắc khoa học đã bị vi phạm ?

    Phương pháp khoa học mô tả ở đây là một sự lí tưởng hóa, và không nên hiểu là một tập hợp thủ tục dùng trong làm khoa học. Các nhà khoa học có nhiều nhược điểm và tính xấu như mọi nhóm người khác, và rất thường xảy ra với các nhà khoa học là cố gắng làm mất uy tín của thí nghiệm của người khác khi kết quả của người ta trái ngược với quan điểm ưa thích của họ. Nền khoa học thành công cũng phải làm việc với sự may mắn, trực giác và sáng tạo nhiều hơn đa số mọi người nhận thấy, và hạn chế của phương pháp khoa học là không hề kiềm chế cá tính và sự tự biểu hiện hơn so với dạng fugue sonata kiềm chế Bach và Haydn. Có một xu hướng gần đây trong số các nhà khoa học xã hội là đi xa hơn nữa và đi tới phủ nhận sự tồn tại của phương pháp khoa học, khẳng định khoa học không gì hơn là một hệ thống xã hội độc đoán xác định ý tưởng nào được chấp nhận dựa trên tiêu chuẩn của nhóm người có chung quyền lợi. Nếu khoa học là một lễ nghi xã hội độc đoán, thì hình như khó mà giải thích được tính hiệu quả của nó trong việc chế tạo các đồ đạc hữu ích như máy bay, máy hát đĩa CD và máy may. Nếu như thuật giả kim và chiêm tinh học không kém tính khoa học hơn trong phương pháp của nó so với hóa học và thiên văn học, thì cái gì khiến cho chúng không tạo ra được cái nào có ích cả ?

    Xét xem có hay không có phương pháp khoa học áp dụng trong những thí dụ sau đây. Nếu phương pháp khoa học không được áp dụng, hỏi những người có hoạt động được mô tả có đang tiến hành một hoạt động con người hữu ích hay không, dẫu là một hoạt động phản khoa học ? A. Châm cứu là một kĩ thuật y khoa cổ truyền có nguồn gốc châu Á trong đó những cây kim nhỏ được cắm vào cơ thể con người để làm giảm đau đớn. Nhiều bác sĩ được đào tạo ở phương tây xem châm cứu là không có giá trị nghiên cứu thực nghiệm, vì nếu như nó có tác dụng chữa bệnh, thì những tác dụng đó không thể nào giải thích bằng lí thuyết của họ về hệ thần kinh. Ai là người mang tính khoa học hơn, những người hành nghề phương tây hay phương đông ? B. Goethe, một nhà thơ Đức, ít được biết tới cho lí thuyết của ông về màu sắc. Ông đã xuất bản một cuốn sách về đề tài đó, trong đó ông biện hộ rằng dụng cụ khoa học dùng để đo và định lượng màu sắc, như lăng kính, thấu kính và bộ lọc màu, không thể mang lại cho chúng ta cái nhìn trọn vẹn vào ý nghĩa tối hậu của màu sắc, chẳng hạn cảm giác lạnh gợi lên bởi màu lam và lục, hay tính khoa trường do màu đỏ kích động. Hỏi nghiên cứu của ông có mang tính khoa học không ? C. Một đứa trẻ thắc mắc tại sao mọi vật đều rơi xuống, và một người trưởng thành trả lời “vì hấp dẫn”. Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Aristotle giải thích rằng đất đá rơi xuống vì bản chất của chúng tìm lại vị trí tự nhiên của chúng, tiếp giáp với Trái đất. Những lời giải thích này có mang tính khoa học không ? D. Đạo Phật phần nào là một lời giải thích tâm lí học của sự trải nghiệm của con người, và tâm lí học tất nhiên là một khoa học. Đức Phật có thể nói là phải bận rộn trong một chu trình lí thuyết và thực nghiệm, vì ông nghiên cứu bằng cách thử và sai, và cho dẫu muộn trong cuộc đời ông, ông đã yêu cầu các môn đồ thử thách ý tưởng của ông. Phật giáo còn có thể xem là có tính sinh sôi, vì Đức Phật bảo các môn đồ của ông rằng họ có thể tìm sự khai sáng cho chính họ nếu họ tuân theo một khóa nghiên cứu và rèn luyện nhất định. Hỏi Phật giáo có phải là một hoạt động theo đuổi khoa học hay không ? 2. Vật lí là gì ? Cho rằng trong chốc lát, một người thông minh có thể lĩnh hội tất cả các lực mà nhờ đó tự nhiên được cấp thêm sinh khí và vị trí tương ứng của những thứ tạo ra nó… thì không có gì là không chắc chắn, và tương lai cũng như quá khứ sẽ nằm trước mắt nó. Pierre Simon de Laplace

    Vật lí là sử dụng phương pháp khoa học để tìm ra các nguyên lí cơ bản chi phối ánh sáng và vật chất, và khám phá ra hệ quả của những định luật này. Một phần của cái phân biệt quan điểm hiện đại với thế giới quan cổ đại là giả định có những quy luật mà nhờ đó các chức năng vũ trụ, và những định luật đó có thể được hiểu ít nhất là phần nào đó bởi con người. Từ kỉ nguyên Lí trí cho đến thế kỉ 19, nhiều nhà khoa học bắt đầu bị thuyết phục rằng các định luật tự nhiên không những có thể hiểu được mà, như Laplace khẳng định, những định luật đó về nguyên tắc còn có thể sử dụng để tiên đoán mọi thứ về tương lai của vũ trụ nếu như có đủ thông tin về trạng thái hiện nay của toàn bộ ánh sáng và vật chất. Trong những phần sau, tôi sẽ mô tả hai loại giới hạn chung trên tiên đoán sử dụng các định luật vật lí, chúng chỉ được ghi nhận trong thế kỉ 20.

    Vật chất có thể định nghĩa là thứ gì đó bị tác dụng bởi hấp dẫn, tức là nó có trọng lực hay sẽ có sức nặng nếu nó nằm gần Trái đất hoặc một ngôi sao khác hoặc một hành tinh đủ nặng để tạo ra sức hấp dẫn có thể đo được. Ánh sáng có thể định nghĩa là thứ gì đó có thể truyền từ nơi này sang nơi khác qua không gian trống rỗng và có thể tác dụng lên vật chất, nhưng không có trọng lượng. Ví dụ, ánh sáng Mặt trời có thể tác dụng lên cơ thể bạn bằng cách làm nó nóng lên hay phá hỏng DNA của bạn và làm cho bạn bị ung thư da. Định nghĩa ánh sáng của nhà vật lí bao gồm nhiều hiện tượng phong phú không nhìn thấy với mắt thường, gồm có sóng vô tuyến, vi sóng, tia X và tia gamma. Những đối tượng này là “màu” của ánh sáng không rơi vào ngưỡng hẹp từ-tím-tới-đỏ của cầu vồng mà chúng ta có thể nhìn thấy.

    Vào đầu thế kỉ 20, một hiện tượng mới lạ được phát hiện thấy trong ống chân không: các tia bí ẩn có nguồn gốc và bản chất không rõ. Những tia này giống như các tia bắn từ phía sau ống đèn hình ti vi nhà bạn và chạm tới phía trước tạo ra hình ảnh. Các nhà vật lí vào năm 1895 không hề có ý tưởng xem những tia này là cái gì, nên họ đặt tên đơn giản cho chúng là “tia cathode”, theo tên của tiếp xúc điện từ đó chúng phát ra. Một cuộc tranh luận sôi nổi nổ ra, hoàn toàn với ý nghĩa quan niệm, xem những tia này thuộc dạng ánh sáng hay vật chất. Người ta sẽ phải làm gì để giải quyết vấn đề đó ?

    Nhiều hiện tượng vật lí bản thân chúng không phải là ánh sáng hay vật chất, mà là tính chất của ánh sáng hay vật chất hoặc tương tác giữa ánh sáng và vật chất. Chẳng hạn, chuyển động là một tính chất của mọi ánh sáng và một số vật chất, nhưng bản thân nó không phải là ánh sáng hay vật chất. Áp suất giữ cho lốp xe đạp căng lên là sự tương tác giữa không khí và lốp xe. Áp suất không thuộc dạng vật chất mà thuộc dạng riêng của nó. Nó là một tính chất của lốp xe cũng như của không khí. Tương tự, tình cảnh chị em và chủ tớ là quan hệ giữa người với người, nhưng không phải là bản thân con người.

    Một số thứ dường như không trọng lượng lại thật sự có trọng lượng, và vì thế được xem là vật chất. Không khí có trọng lượng, và vì thế nó là một dạng vật chất, mặc dù 1 inch khối không khí nhẹ hơn cả một hạt cát. Quả bóng helium có trọng lượng, nhưng được giữ cho khỏi rơi xuống bởi lực tác dụng của không khí xung quanh đậm đặc hơn, chúng đẩy nó lên. Các nhà thiên văn trên quỹ đạo xung quanh Trái đất có trọng lượng, và đang rơi theo một đường cong, nhưng họ chuyển động quá nhanh nên cung cong của quỹ đạo rơi của họ đủ rộng để mang họ theo hành trình xung quanh Trái đất có dạng hình tròn. Họ tự cảm thấy mình không có trọng lượng vì tổ hợp không gian đang rơi cùng với họ, và vì thế sàn đỡ không đẩy chân họ lên.

    d/ Giản hóa luận

    A. Tôi vừa đề nghị thay định nghĩa bình thường của ánh sáng bằng một định nghĩa mang tính kĩ thuật hơn, chính xác hơn bao hàm sự không trọng lượng. Dù vậy, vẫn có khả năng là chất liệu mà một cái bóng đèn tạo ra, thông thường gọi là “ánh sáng”, thật sự có một lượng nhỏ trọng lượng nào đó. Hãy đề xuất một thí nghiệm nhằm đo xem nó có trọng lượng hay không. B. Nhiệt không có trọng lượng (tức là một vật không hề trở nên nặng hơn khi bị nung nóng), và có thể truyền qua căn phòng trống từ bếp lửa tới da của bạn, nơi nó tác động đến bạn qua việc làm nóng bạn. Vậy thì theo định nghĩa của chúng ta, nhiệt có được xem là một dạng ánh sáng hay không ? Tại sao được hay tại sao không ? C. Tương tự, âm thanh có được xem là một dạng ánh sáng hay không ? 3. Học vật lí như thế nào?

    Để tránh nghiên cứu mọi thứ cùng một lúc, các nhà khoa học cô lập mọi thứ mà họ đang cố gắng nghiên cứu. Chẳng hạn, một nhà vật lí muốn nghiên cứu chuyển động của một con quay hồi chuyển đang quay sẽ có khả năng thích nó được tách rời khỏi các dao động và dòng không khí xung quanh. Ngay cả trong sinh học, lĩnh vực nghiên cứu cần thiết phải tìm hiểu sự sống liên hệ như thế nào với toàn bộ môi trường của chúng, thật hào hứng lưu ý đến vai trò lịch sử thiết yếu của nghiên cứu của Darwin trên quần đảo Galapagos, nơi tách rời khỏi phần còn lại của thế giới. Bất kì bộ phận nào của vũ trụ được xem là tách rời khỏi phần còn lại có thể gọi là một “hệ”.

    Vật lí học đã có những thành công to lớn của nó khi tiến hành quá trình cô lập này để cách li, chia nhỏ vũ trụ thành những phần ngày càng nhỏ hơn. Vật chất có thể chia thành các nguyên tử, và hành vi của từng nguyên tử có thể nghiên cứu được. Các nguyên tử có thể phân chia thành các neutron, proton và electron cấu thành của chúng. Proton và neutron hình như được cấu thành từ các hạt còn nhỏ hơn nữa gọi là quark, và đã có một số khẳng định bằng chứng thực nghiệm các quark có những bộ phận nhỏ hơn bên trong chúng. Phương pháp phân tích các thứ thành những bộ phận càng lúc càng nhỏ hơn và nghiên cứu xem những bộ phận đó tương tác lẫn nhau như thế nào được gọi là sự giản hóa luận. Hi vọng là các quy luật có vẻ phức tạp chi phối những đơn vị lớn có thể được hiểu tốt hơn dưới dạng những quy luật đơn giản hơn chi phối những đơn vị nhỏ hơn. Để đánh giá đúng cái do giản hóa luận mang lại cho khoa học, chỉ cần nghiên cứu một cuốn sách giáo khoa hóa học thời thế kỉ 19. Vào lúc ấy, sự tồn tại của các nguyên tử vẫn còn bị một số người nghi ngờ, các electron thì bị khả nghi là không tồn tại, và hầu như người ta chẳng hiểu những quy luật cơ bản nào chi phối cách thức các nguyên tử tương tác lẫn nhau trong phản ứng hóa học. Học sinh phải ghi nhớ những danh sách dài các hóa chất và phản ứng của chúng, và không có cách nào hiểu được nó một cách có hệ thống. Ngày nay, học sinh chỉ cần ghi nhớ một tập hợp nhỏ các quy luật về cách thức các nguyên tử tương tác, chẳng hạn các nguyên tử thuộc một nguyên tố không thể nào chuyển hóa thành nguyên tố khác qua phản ứng hóa học, hay các nguyên tử ở phía bên phải của bảng hệ thống tuần hoàn có xu hướng hình thành liên kết mạnh với các nguyên tử ở phía bên trái.

    Nhiều sinh viên đến với khóa học khoa học với ý tưởng rằng họ có thể thành công bằng việc ghi nhớ các công thức, khi một bài toán được đưa vào bài tập ở nhà hay bài thi, họ sẽ có thể thế số vào công thức và thu được kết quả bằng số trên chiếc máy tính bỏ túi của mình. Thật sai lầm ! Đó không phải là cách học khoa học đâu ! Có một sự khác biệt lớn giữa việc học thuộc các công thức và hiểu các khái niệm. Để bắt đầu, các công thức khác nhau có thể áp dụng trong những tình huống khác nhau. Một phương trình có thể biểu diễn một định nghĩa, nó luôn luôn đúng. Một phương trình khác có thể là một phương trình rất đặc biệt cho tốc độ của một vật trượt trên một mặt phẳng nghiêng, nó sẽ không đúng nếu như vật là một tảng đá đang trôi giạt xuống đáy đại dương. Nếu bạn không chịu khó tìm hiểu vật lí ở mức độ khái niệm, bạn sẽ không biết công thức nào được sử dụng khi nào.

    Khi tìm hiểu bất kì vật nào, điều quan trọng là càng liên hệ tích cực càng tốt, từ không tìm cách đọc toàn bộ thông tin một cách nhanh chóng mà không nghĩ về nó. Một ý tưởng hay là hãy đọc và nghĩ tới những câu hỏi đặt ra ở cuối mỗi phần của những tài liệu này khi bạn gặp chúng, sao cho bạn biết rằng bạn đã hiểu cái mình đang đọc.

    Khó khăn của nhiều học sinh về vật lí rút lại chủ yếu là những khó khăn với toán học. Giả sử bạn cảm thấy tự tin rằng bạn có đủ nền tảng toán học để thành công trong khóa học này, nhưng bạn đang gặp rắc rối với một số thứ nhất định. Trong một số lĩnh vực, nhận xét chính nêu trong chương này có lẽ là đủ, nhưng trong một số lĩnh vực khác, nó có khả năng không đủ. Một khi bạn nhận ra những lĩnh vực toán học mà bạn gặp trục trặc, hãy tìm sự hỗ trợ trong những lĩnh vực đó. Đừng lê chân qua toàn khóa học với cảm giác mơ hồ nghĩ tới mà sợ về thứ kiểu như khái niệm khoa học. Khó khăn sẽ không biến mất nếu bạn bỏ qua nó. Điều tương tự áp dụng cho các kĩ năng toán học cần thiết mà bạn học trong khóa học này lần đầu tiên, ví dụ như phép cộng vector.

    Thêm ý kiến của bạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Tâm Lý Học Lãnh Đạo, Quản Lý Hướng Đến Khoa Học Lãnh Đạo Trong Công Tác Đào Tạo Cán Bộ Hiện Nay
  • Một Số Lý Thuyết Về Lãnh Đạo, Quản Lý Trên Thế Giới
  • Khoa Học Lãnh Đạo, Quản Lý Ở Việt Nam
  • Bạn Đã Biết Về Các Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Từ 1.0 Đến 4.0?
  • So Sánh 2 Cuộc Cách Mạng Khoa Học Kỹ Thuật
  • Định Nghĩa Phạm Trù Vật Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin: Phân Tích Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp…
  • Câu 2: Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận?
  • Giải Bài Tập Bài 6: Khái Niệm Về Phép Dời Hình Và Hai Hình Bằng Nhau
  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 11 Bài 6: Khái Niệm Về Phép Dời Hình Và Hai Hình Bằng Nhau
  • Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Vật chất với tính cách là một phạm trù triết học ra đời trong triết học Hy Lạp cổ đại. Ngay từ đầu, xung quanh phạm trù này đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Như­ng phạm trù vật chất đư­ợc hiểu rất khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động nhận thức và thực tiễn trong từng thời kỳ lịch sử của nhân loại.

    Quan điểm duy tâm

    Coi thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí của Thượng đế”, là “ý niệm tuyệt đối” hoặc là do ý thức của chủ thể quyết định.

    Quan niệm duy vật

    Coi vật chất là thực thể, cơ sở đầu tiên, bất biến của tất cả các sự vật, hiện tư­ợng tồn tại trong thế giới khách quan.

    – Quan niệm duy vật cổ đại về vật chất mang tính trực quan, cảm tính, thể hiện ở sự đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó, tức là những sự vật cụ thể, coi đó là cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại như­: Đất, nước, lửa, không khí, apâyrôn… Đỉnh cao trong quan niệm vật chất cổ đại là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmôcrit, thừa nhận thực thể của thế giới là nguyên tử.

    Mặc dù còn nhiều hạn chế, như­ng thuyết nguyên tử cổ đại là một bước phát triển mới của chủ nghĩa duy vật trên con đ­ường hình thành phạm trù vật chất, tạo cơ sở triết học cho nhận thức khoa học sau này. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những phỏng đoán giả định.

    Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X

    Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.

    Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử.

    Năm 1901, Kaufman đã phát hiện ra rằng trong quá trình vận động, khối lượng của điện tử thay đổi khi vận tốc của nó thay đổi.

    Những phát minh đó chứng minh rằng sự đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất, với những thuộc tính của vật chất như­ quan niệm duy vật trư­ớc Mác đã không còn phù hợp nữa và trở thành căn cứ để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng chống lại chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng “vật chất đã tiêu tan”, và toàn bộ nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã bị sụp đổ hoàn toàn. Cuộc ” khủng hoảng của vật lý học ” xuất hiện.

    Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ: Những phát minh có giá trị to lớn của vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ quan niệm cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về mặt cấu trúc, rằng nguyên tử hay khối lượng là giới hạn cuối cùng, bất biến của giới tự nhiên. Lênin đã chỉ ra rằng, không phải “vật chất tiêu tan” mất, mà chỉ có giới hạn hiểu biết của con ngư­ời về vật chất là tiêu tan. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc ” khủng hoảng của vật lý học “và phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất mà cho đến nay các khoa học hiện đại vẫn thừa nhận.

    Định nghĩa vật chất của Lênin

    “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con ng­ười trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

    – Theo Lênin, phạm trù vật chất là một phạm trù ” rộng đến cùng cực, rộng nhất mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt qua được” nên không thể định nghĩa vật chất bằng phương pháp thông thường, đem quy nó về một vật thể, một thuộc tính hoặc vào một phạm trù rộng lớn hơn được. Vì vậy, Lênin đã sử dụng phương pháp mới để định nghĩa vật chất là đem đối lập vật chất với ý thức và xác định nó ” là cái mà khi tác động lên giác quan của chúng ta thì gây nên cảm giác “.

    Trước tiên, cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các dạng vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi.

    Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:

    1. Vật chất có trư­ớc, ý thức có sau; vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức.

    2. Vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên giác quan con người.

    3. Cảm giác, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của vật chất. Ýthức con ngư­ời là sự phản ánh thực tại khách quan, nghĩa là con ngư­ời có khả năng nhận thức được thế giới.

    – Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trư­ờng duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận thức luận thì vật chất là tính thứ nhất, và con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, khắc phục đư­ợc tính chất siêu hình, trực quan trong các quan niệm về vật chất.

    – Định nghĩa vật chất của Lênin còn chống lại các quan điểm duy tâm về vật chất, tạo cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về đời sống xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Và Phân Tích Định Nghĩa Vật Chất Của Lê
  • Khái Niệm Về Mặt Tròn Xoay
  • Tầm Soát Ung Thư Máu Có Tầm Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Tất Tần Tật Về Ung Thư Máu (Đừng Bỏ Qua)
  • Bệnh Ung Thư Máu, Khái Niệm, Phân Loại, Nguyên Nhân, Chữa Trị
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 12. Thực Hành: Xác Định Khối Lượng Riêng Của Sỏi
  • Tiết 12 Bài 11: Trọng Lượng Riêng + Bài Tập
  • Bài 10. Ba Định Luật Nuitơn
  • Thuốc Kém Chất Lượng Có Phải Là Thuốc Giả Không?
  • Thế Nào Được Coi Là Thuốc Giả, Thuốc Kém Chất Lượng
  • ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Bản Chất Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác-lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Cương Lĩnh Dân Tộc Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Phẩm Chất, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Chủ Nghĩa Mác Lênin Việt Nam Là Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, ý Nghĩa Của Việc Học Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Thi Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lenin Là Kim Chỉ Nam, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, ôn Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Năm Nào, Vì Sao Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời, Chủ Nghĩa Mác Lênin Pdf, Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin, Học Chủ Nghĩa Mác Lênin Để Làm Gì, Bảo Vệ Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Đề Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Tư Bản Mac Lenin, Chủ Nghĩa Xã Hội Mac Lênin, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Giá Trị Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Khi Nào, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Sự Ra Đời Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Vấn Đề Dân Tộc, Chủ Nghĩa Mác Lênin Toàn Tập, Chủ Nghĩa Mac Lenin Tiếng Anh, Bài Giảng Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Cương Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Tài Liệu Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin Phần 2, Giáo án Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chương 1 Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Có Mấy Bộ Phận, Chủ Nghĩa Mác Lênin Chương 3, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Tôn Giáo, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Kinh Tế, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giáo Dục, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Học Thuyết Mở, Chủ Nghĩa Mác Lênin Gồm Mấy Bộ Phận, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Một Hệ Thống Mở, Sách Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin ở Việt Nam, 2 Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Tiền Đề Cho Sự Ra Đời Của Chủ Nghĩa Mác-lênin?, Lý Luận Chủ Nghĩa Mác- Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bảo Vệ Tổ Quốc, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Lien He Ban Than Ve Chu Nghia Mac Lenin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Con Người, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2 Có Lời Giải, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin Phần 2, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin, 3 Quy Luật Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nguyên Lý 1 Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Xây Dựng Đảng, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Con Người, Khái Quát Chủ Nghĩa Mác Lênin, Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin, ý Thức Trong Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Cơ Sở Thế Giới Quan, Cương Lĩnh Dân Tộc Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành, Bảo Vệ Và Phát Triển Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Được Cấu Thành Từ, Giáo Trình Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Cách Mạng Vô Sản, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Chiến Tranh, Chủ Nghĩa Mác Lênin Gồm Mấy Bộ Phận Cấu Thành, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Bao Gồm Những Bộ Phận Nào, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Chủ Nghĩa Mác Lênin Và 3 Bộ Phận Cấu Thành, 3 Bộ Phận Cấu Thành Chủ Nghĩa Mác Lênin,

    ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Bản Chất Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác-lênin, Phân Tích Bản Chất Khoa Học Và Cách Mạng Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin?, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Cương Lĩnh Dân Tộc Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Định Nghĩa Vật Chất, Câu 3 Định Nghĩa Vật Chất, Định Nghĩa 4 Hợp Chất Vô Cơ, C.mác Định Nghĩa Bản Chất Con Người, Định Nghĩa Phẩm Chất, Định Nghĩa Vật Chất Và ý Thức, Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Chủ Nghĩa Mác Lênin Việt Nam Là Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, ý Nghĩa Của Việc Học Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Thi Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lenin Là Kim Chỉ Nam, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, ôn Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Năm Nào, Vì Sao Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời, Chủ Nghĩa Mác Lênin Pdf, Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin, Học Chủ Nghĩa Mác Lênin Để Làm Gì, Bảo Vệ Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Đề Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Tư Bản Mac Lenin, Chủ Nghĩa Xã Hội Mac Lênin, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Giá Trị Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Khi Nào, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Sự Ra Đời Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Vấn Đề Dân Tộc, Chủ Nghĩa Mác Lênin Toàn Tập, Chủ Nghĩa Mac Lenin Tiếng Anh, Bài Giảng Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Cương Chủ Nghĩa Mác Lênin 2,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào
  • Phân Tích Các Đặc Trưng Cơ Bản Trong Định Nghĩa Giai Cấp Của Lênin?
  • Phân Tích Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin. Ý Nghĩa Của Định Nghĩa
  • Giải Pháp Đảm Bảo Chất Lượng Đào Tạo Hệ Chính Quy Tại Trường Đại Học Bạc Liêu
  • Đảm Bảo Chất Lượng Phầm Mềm (Nguồn Ptit)
  • Định Nghĩa Hợp Chất Polyme, Các Loại Polyme, Tính Chất Vật Lí Và Hóa Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Polyme Là Gì? Tính Chất, Ứng Dụng Và Điều Chế Polyme
  • Polime Là Gì ? Vật Liệu Polymer Là Gì ? Khái Niệm Polime Là Gì?
  • Khái Niệm Của Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Tại Việt Nam
  • Bài 9: Cấu Trúc Rẽ Nhánh
  • Tin Học 11 Bài 9: Cấu Trúc Rẽ Nhánh
  • Polyme là khái niệm được dùng cho các hợp chất nhiều phân tử (hợp chất có khối lượng phân tử lớn và trong cấu trúc của chúng có sự lặp đi lặp lại nhiều lần những mắt xích cơ bản).

      Polyme thiên nhiên: Có nguồn gốc từ tự nhiên

    Ví dụ: Xenlulozo, tơ tằm, cao su thiên nhiên, cao su thiên nhiên…

      Polyme tổng hợp: Do con người tổng hợp (chủ yếu bằng phản ứng trùng ngưng hoặc trùng hợp.)

    Ví dụ: Polypropylen (nhựa PP), Polyvinyl clorua (nhựa PVC), polyetylen (nhựa PE)…

      Polyme bán tổng hợp (nhân tạo): Được con người chế tạo từ polyme thiên nhiên thành các loại polyme mới.

      Polime mạch không phân nhánh.

    Ví dụ: nhựa PVC, nhựa PE, cao su, xenlulozơ, tinh bột…

    Ví dụ: glicogen, amilopectin…

    Ví dụ: cao su lưu hóa, nhựa rezit, nhựa bakelit…

    *Ngoài ra Polyme còn phân loại theo: Polyme hữu cơ với xương sống là Cacbon và Polyme vô cơ và polyme khoáng vật là hai loại khác nhau. Polyme vô cơ là các cao phân tử dài ngoằn ngoèo gấp 10.000 lần hơn một phân tử kết tinh, và có xương sống làm bằng Si. Loại khoáng vật là các phân tử kết tinh nối lại với nhau, có thể là phân tử silicat hay một muối kim loại khác. Chúng chiếm phần lớn vật liệu thiên nhiên vô cơ, khác hẵn với polyme hữu cơ có xương sống làm bằng C (cacbon).

    Cách gọi tên: Poli + tên monome

    Nếu tên monome gồm 2 từ trở lên hoặc từ hai monome tạo nên polime thì tên polime sẽ đặt trong ngoặc đơn.

    Ví dụ: Poly (Vinyl clorua)

    Tính chất vật lí của polyme.

    • Đa số các polime là chất rắn, không bay hơi, nhiệt độ nóng chảy không xác định.
    • Hầu hết các polime không tan trong dung môi thông thường, chỉ tan trong dung môi thích hợp.
    • Các polime có đặc tính khác nhau về tính dẻo, tính đàn hồi, độ dai, độ giòn, tính dẫn điện, dẫn nhiệt…

    Tính chất hóa học của polyme.

    Phản ứng phân cách mạch polime

    • Polime có nhóm chức sẽ dễ bị thủy phân. VD: tinh bột, xenlulozo,…
    • Polime trùng hợp khi nhiệt phân ở nhiệt độ thích hợp sẽ tạo thành các đoạn ngăn và trở về các monome ban đầu.
    • Một số loại polime khi bị oxi hóa sẽ cắt mạch thành các phân tử nhỏ hơn.

    Phản ứng giữ nguyên mạch polime

    Polime có liên kết đôi, liên kết ba trong mạch hoặc nhóm chức ngoại mạch có thể tham gia được phản ứng đặc trưng của liên kết và nhóm chức đó.

    Phản ứng khâu mạch polime

    Các mạch polime có thể nối với nhau thành mạch dài hơn hoặc mạng lưới khi điều kiện thích hợp

    Điều chế Polyme.

    Phản ứng trùng hợp

    Phản ứng trùng hợp là phản ứng kết hợp nhiều monome thành polyme.

    Phản ứng trùng hợp Buta 1,3 đien :

    Phản ứng trùng ngưng là phản ứng kết hợp nhiều monome có hai nhóm chức có khả năng tách nước tạo thành polyme và nước.

    Ví dụ:

    Phản ứng trùng-cộng hợp là phản ứng kết hợp nhiều monome nhiều chất chứa liên kết đôi tạo thành polyme. Quá trình này gồm 2 bước:

    • Các monome kết hợp với nhau thành monome chính nhờ phản ứng cộng.
    • Monome vừa được tạo sẽ kết hợp với nhau tạo polyme.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Polime Và Vật Liệu Polime
  • Kiến Thức Tổng Hợp Về Protein
  • Áp Dụng Khái Niệm Protein Lý Tưởng Để Sản Xuất Và Sử Dụng Thức Ăn Chăn Nuôi Hiệu Quả
  • Protein Là Gì ? Tầm Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Bắp
  • Sự Điện Li Của Nước. Ph. Chất Chỉ Thị Axit, Bazơ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100