Các Kỹ Thuật Chạy Bộ Ở Cự Ly Ngắn Và Trung Bình Đúng Cách

--- Bài mới hơn ---

  • The Duc 8 Tron Bo Chuan
  • Đề Thi Giáo Dục Công Dân: Học Sinh Không Nhất Thiết Phải Học Thuộc Từng Khái Niệm
  • Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì?
  • Giải Đáp: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Công Thức Tính Ra Sao
  • Bài 2: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Ứng Dụng Của Dòng Điện Xoay Chiều
  • Chạy bộ tưởng chừng là môn thể thao đơn giản nhưng luôn đòi hỏi người tập áp dụng theo đúng kỹ thuật nhất định để có thể giành được thành tích tốt nhất. Kỹ thuật chạy cự ly ngắn hay trung bình đều được chia thành từng giai đoạn khác nhau cụ thể như sau.

    Các kỹ thuật chạy bộ cự ly ngắn và trung bình

    Kỹ thuật chạy bộ cự ly ngắn

    Chạy ngắn hay còn được gọi với cái tên phổ biến là chạy nước rút, được mệnh danh là môn thể thao tốc độ cơ bản trong điền kinh được nhiều người yêu thích. Khi chạy ở cự ly này, bạn cần phải quan tâm đến 4 giai đoạn cơ bản gồm xuất phát, chạy lao, chạy giữa quãng và về đích.

    1. Kỹ thuật xuất phát

    Khi nhận được hiệu lệnh vào chỗ, bạn đứng thẳng trước bàn đạp rồi dần hạ người xuống, chống hai tay về phía trước, mắt nhìn phía trước.

    Sau đó, bạn tiếp tục chuyển trọng tâm về phía trước, nâng mông cao, vai nhô về phía trước để chuẩn bị tư thế sẵn sàng. Khi có hiệu lệnh chạy, bạn bắt đầu chạy lao về phía trước với những bước chạy dài.

    Kỹ thuật xuất phát

    2. Kỹ thuật chạy bộ giữa quãng

    Để đảm bảo kỹ thuật chạy bộ đúng cách, giai đoạn chạy giữa quãng cũng giữ vai trò vô cùng quan trọng. Ở giai đoạn này, bạn cần chú ý giữ vững tốc độ đang được duy trì trước đó. Ở giai đoạn này, các bạn cần lưu ý rằng do tốc độ chạy chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả mỗi cú đạp sau. Thế nên bạn cần duy trì động tác này đảm bảo nhanh, mạnh, đúng hướng. Ở thời điểm chân chạm xuống đất, các bạn cần di chuyển vai và hông mạnh về trước, hai tay nắm hờ.

    3. Giai đoạn về đích

    Khi đã gần tới đích, các bạn cần dồn toàn bộ sức lực cho việc duy trì tốc độ, tập trung ở khoảng cách 15-20m gần đích. Tốt nhất bạn nên ngả người về phía trước nhiều hơn giúp tận dụng hiệu quả của việc đạp sau. Ngoài ra, do việc hoàn thành cự ly 100m của bạn chỉ được tính khi có một bộ phận của thân trên chạm vào mặt phẳng thẳng đứng có chứa vạch đích. Thế nên, những bước chạy cuối cùng giữ vai trò vô cùng quan trọng và bạn nên lưu ý chủ động gập thân trên về trước để chạm ngực vào dây đích. Ngoài cách chạm đích bằng ngực, các bạn cũng có thể chạm đích bằng vai bằng cách kết hợp hài hòa giữa việc gập thân trên về trước và xoay thân để một vai chạm đích.

    Với việc chạy bộ ở cự ly ngắn, nhiều người vốn lầm tưởng rằng việc nhảy về đích sẽ mang đến hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm bởi việc nhảy lên giúp có thể chuyển động về phía trước nhưng tốc độ sẽ chậm dần đều. Thế nên trong trường hợp này, bạn cần chạy thêm vài bước sau khi về đích để giữ cơ thể trong trạng thái cân bằng, tránh dừng lại đột ngột sẽ bị ngã và va chạm với những người khác.

    Kỹ thuật chạy bộ cự ly trung bình

    Với cự ly trung bình, để có thể đạt được thành tích cao trong thi đấu đòi hỏi vận động viên phải có sức bền, tốc độ và kỹ thuật chạy cự ly trung bình đúng cách. Trong đó, kỹ thuật là yếu tố vô cùng quan trọng với các giai đoạn gồm xuất phát, chạy quãng giữa và về đích.

    Kỹ thuật chạy bộ cự ly trung bình mà bạn cần biết

    1. Giai đoạn xuất phát

    Khi trọng tài yêu cầu vận động viên vào vạch xuất phát, bạn hãy đứng ở đúng vị trí với chân thuận đặt sát vạch thi đấu và chân còn lại đặt ở phía sau. Bạn từ từ hạ người xuống, thân người hơi ngả về phía trước, mắt nhìn thẳng trong khi tay so le với chân.

    Bạn nhanh chóng xuất phát khi nghe hiệu lệnh và gắng sức tăng tốc để đạt tốc độ như mình mong muốn. Tuy nhiên, ngay sau đó các bạn nên chạy chậm lại để chuyển sang giai đoạn giữa quãng.

    2. Kỹ thuật chạy bộ giữa quãng

    Ở giai đoạn giữa quãng, chạy bộ đúng cách khá quan trọng. Do đó, bạn chú ý chạy với tư thế thân người trên hơi ngả về phía trước, cổ và mặt cần được thả lỏng tự nhiên. Đối với chân chạy, do giai đoạn giữa quãng cần tiết kiệm sức lực nên bạn hãy chú ý

    đạp sau đúng hướng trong khi tay đánh đều theo các bước đạp.

    3. Giai đoạn về đích

    Ở mọi cự ly, giai đoạn về đích đều được mệnh danh là giai đoạn nước rút. Thế nên, bạn cần dồn toàn bộ sức lực bằng cách tăng số bước chân chạy, thân người ngả về trước, cánh tay đánh mạnh để đưa cơ thể đi nhanh trong những bước chân cuối cùng. Nếu cảm thấy quá mệt mỏi, bạn có thể chuyển sang chạy chậm, tránh dừng lại đột ngột sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây hại đối với sức khỏe.

    Elipsport – Thương hiệu thể thao tại nhà với các dòng sản phẩm như: Máy chạy bộ, xe đạp tập, ghế massage… được khách hàng tin dùng hàng đầu hiện nay. Hệ thống cửa hàng có số lượng lớn nhất tại 63 tỉnh trên toàn quốc. CEO Elipsport với phương châm: “Sức khoẻ cho người Việt là mục tiêu của cuộc đời tôi.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 4. Chạy Ngắn (Chạy Nhanh)
  • Tìm Hiểu 2 Khái Niệm Trong Cá Cược Bóng Đá Cơ Bản Nhất
  • Ai Sẽ Định Nghĩa Lại Khái Niệm Con Người
  • Bảng Cân Đối Kế Toán Là Gì? Nguyên Tắc Và Cách Lập Bảng Cân Đối Kế Toán
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Logic Học Đại Cương
  • Chương 4. Chạy Ngắn (Chạy Nhanh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Kỹ Thuật Chạy Bộ Ở Cự Ly Ngắn Và Trung Bình Đúng Cách
  • The Duc 8 Tron Bo Chuan
  • Đề Thi Giáo Dục Công Dân: Học Sinh Không Nhất Thiết Phải Học Thuộc Từng Khái Niệm
  • Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì?
  • Giải Đáp: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Công Thức Tính Ra Sao
  • ,

    ,

    CHÀO MỪNG CÁC EM HỌC SINH

    THỂ DỤC LỚP 8

    NGUYỄN VĂN TƯỜNG

    CHẠY CỰ LI NGẮN

    I. Khái niệm

    II. Kĩ thuật

    Khái niệm về môn chạy

    – Chạy là một hoạt động thể thao là phương tiện góp phần tích cực cải tạo vào sự phát triển kĩ năng lao động của con người trong sản xuất và chiến đấu.

    – Chạy được chia làm 3 nhóm cự li: chạy cự li ngắn, chạy cự li trung bình và chạy cự li dài.

    Em hãy cho biết chạy cự li ngắn là những cự li nào

    + Chạy cự li ngắn: 60m, 80m, 100m, 200m và 400m

    Em hãy cho biết chạy cự li trung bình là những cự li nào?

    + Trung bình: 800m, 1000m, 1500m…

    Em hãy cho biết chạy cự li dài là cự li nào?

    + Dài: 42195m…

    * Ở trường THCS, học kĩ thuật chạy 60mđến 100m trên đường thẳng.

    II. KĨ THUẬT

    1. Giai đoạn xuất phát.

    * Cách đóng bàn đạp

    – Bàn đạp trước cách vạch xuất phát 1,5 bàn chân.

    Bàn đạp sau cách vạch xuất phát 3 bàn chân.

    Hai bàn đạp cách nhau theo chiều ngang 1 bàn chân nằm ngang ( 10cm-20cm).

    – Góc độ bàn đạp trước 45-50 độ, bàn đạp sau 75-80 độ.

    II. KĨ THUẬT CHẠY NGẮN.

    Kĩ thuật xuất phát

    -Khi nghe hiệu lệnh vào chổ:

    +Đi từ vị trí chuẩn bị vào đứng trước hai bàn đạp(nếu thuận chân trái thì đứng bên phải và ngược lại)

    + Chống hai tay lên đường chạy (không chạm vạch XP) đặt chân vào bàn đạp trước, chân còn lại vào bàn đạp sau.

    + Quỳ gối chân sau, thu hai tay về chống sau vạch xuất phát.

    -Khi nghe lệnh “Sẵn sàng…) từ từ nâng mông lên cao bằng hoặc hơn vai, chú ý nghe hiệu lệnh.

    -Khi nghe lệnh “Chạy”. Đạp chân sau vào bàn đạp rồi bước về trước, hai tay rời khỏi mặt đất. Tiếp theo đạp chân trước rồi bước về trước.

    II. KĨ THUẬT CHẠY NGẮN.

    2. Giai đoạn chạy lao.

    Em hãy quan sát hình và cho biết sau khi xuất phát thân người so với mặt đất như thế nào?

    -Thân người gần song song mặt đất.

    -Độ dài tần số bước chạy tăng dần.

    -Hai tay đánh ăn nhịp với bước chạy.

    -Góc độ cẳng tay và cánh tay lúc đầu hơi rông sau nhỏ dần.

    II. KĨ THUẬT CHẠY NGẮN.

    3. Giai đoạn chạy giữa quãng.

    Đây là giai đoạn chạy với tốc độ cao nhất.

    -Duy trì tần số và độ dài bước chạy.

    -Thời kì đạp sau bước chạy hết sức tích cực.

    -Đánh tay đúng nhịp với bước chạy.

    -Chân chạm đất phía trước bằng nửa trước bàn chân.

    -Chạy thẳng hướng, thả lỏng để cơ thể không gò bó.

    II. KĨ THUẬT CHẠY NGẮN.

    4. Giai đoạn về đích.

    Gắn hết sức chạy với tốc độ cao nhất về đích

    Sau đó dùng vai hoặc ngực đánh đích.

    Sau khi qua đích, chạy giảm tốc độ trong khoảng 5-15m rồi mới dừng lại.

    ,

    ,

    TIẾT HỌC ĐẾN ĐÂY KẾT THÚC

    CHÚC

    CÁC EM SỨC KHỎE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu 2 Khái Niệm Trong Cá Cược Bóng Đá Cơ Bản Nhất
  • Ai Sẽ Định Nghĩa Lại Khái Niệm Con Người
  • Bảng Cân Đối Kế Toán Là Gì? Nguyên Tắc Và Cách Lập Bảng Cân Đối Kế Toán
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Logic Học Đại Cương
  • Tài Liệu Trắc Nghiệm Logic Học
  • Định Nghĩa Zone Of Resistance / Vùng Kháng Cự Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Zone Of Possible Agreement / Phạm Vi Thương Thảo Là Gì?
  • Định Nghĩa Zombies / Công Ty Zombies Là Gì?
  • Định Nghĩa Zomma / Zomma Là Gì?
  • Định Nghĩa Zombie Debt / Nợ Khó Đòi – Nợ Zombie Là Gì?
  • Định Nghĩa Zombie Bank / Ngân Hàng Zombie Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Zone Of Resistance là một vùng giá mà cổ phiếu chạm trần và bắt đầu đi xuống. Trong phân tích kỹ thuật, sự kháng cự xảy ra không phải tại một điểm hữu hạn, mà xảy ra trong một vùng. “Mật độ” của vùng kháng cự (khoảng giá mà cố phiếu còn có thể tăng), phụ thuộc vào khối lượng giao dịch khi mà giá cổ phiếu bắt đầu tiến vào vùng kháng cự. Khối lượng giao dịch trong vùng kháng cự càng cao thì điểm có thể xảy ra kháng cự thực tế càng thấp (giao dịch bán càng nhiều giá càng giảm mạnh).

    Giải thích

    Khi giá của một loại chứng khoán tiến tới vùng kháng cự, chuyện này sẽ xảy ra: giá cổ phiếu sẽ giảm tới mức nào để vượt qua khu vực này sẽ là một chỉ số quan trọng cho những nỗ lực vượt qua nó trong tương lai.

    Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù khối lượng cao hơn có thể làm giảm điểm kháng cự thực tế, khả năng các vùng kháng cự bị xóa sổ cũng cao hơn. Khi đón đầu một sự hồi quy – khi mà việc giảm giá cổ phiếu chỉ là tạm thời – (retracement),thì việc đặt các lệnh cắt lỗ là rất cần thiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Zone Of Support / Vùng Giá Hỗ Trợ Là Gì?
  • Định Nghĩa Zoning Ordinance / Luật Quy Hoạch Đất Đai Là Gì?
  • Định Nghĩa Z-Share / Cổ Phiếu Z Là Gì?
  • Định Nghĩa Z-Test / Kiểm Định Z Là Gì?
  • Định Nghĩa Zvi Griliches / Zvi Griliches (Tên Người) Là Gì?
  • Khái Niệm Và Định Nghĩa Khái Niệm Trong Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì
  • Định Nghĩa Cơ Chế Là Gì? Tri Thức Cộng Đồng
  • Khối Lượng Riêng Là Gì? Trọng Lượng Riêng Là Gì Công Thức Tính
  • Giáo Án Vật Lý Lớp 6 Tiết 12: Khối Lượng Riêng, Bài Tập
  • Giáo Án Chủ Đề Khối Lượng Riêng
  • I. Mỗi khái niệm (KN) đều có hai mặt, đó là nội hàm và ngoại diên. Về mặt kết cấu lôgíc, nội hàm là chất, ngoại diên là lượng của KN. Mỗi nội hàm có một ngoại diên tương ứng. Nội hàm của KN là tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh trong KN. Do vậy, không phải mọi dấu hiệu của đối tượng đều được phản ánh trong nội hàm.

    Trong khoa học pháp lý, nhiều KN được xác định bằng điều luật. Chẳng hạn, nội hàm của KN “tội cướp” được xác định bởi Điều 151 (nay là Điều 133) Bộ luật Hình sự (BLHS), đó là: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác; Làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được; Nhằm chiếm đoạt tài sản. Ngoại diên của KN là tập hợp những đối tượng có cùng nội hàm. Ngoại diên của KN cho biết có bao nhiêu đối tượng khác cùng loại với nó. Ví dụ, ta có KN “vi phạm pháp luật”; vậy tất cả các hiện tượng xảy ra trong thực tế mà thỏa mãn ba dấu hiệu bản chất sau trong nội hàm của KN này đều thuộc ngoại diên của KN ( Hành vi – hành động hoặc không hành động của con người – được biểu hiện ra bên ngoài; Hành vi được thực hiện phải trái pháp luật, tức là trái với các quy định chứa đựng trong các quy phạm pháp luật nào đó; Hành vi trái pháp luật được thực hiện phải chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó). Để biết một đối tượng có thuộc ngoại diên của một KN nào đó không thì phải xem đối tượng có đầy đủ mọi dấu hiệu bản chất của KN không.

    Để định hình, lưu giữ những hiểu biết trong óc cũng như để truyền đạt, trao đổi những hiểu biết của mình với người khác, con người phải dùng đến phương tiện của ngôn ngữ là từ thông qua việc trừu tượng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan. Do đó, KN liên hệ hết sức mật thiết với từ. Tuy nhiên, KN và từ không luôn đồng nhất vì: KN về các đối tượng thường do chính bản thân đối tượng quy định; còn từ thì do con người tự quy ước, tự thoả thuận mà ra; ngay trong một hệ thống ngôn ngữ thì một KN có thể được diễn đạt bởi nhiều từ và một từ có thể thể hiện nhiều KN.

    Vì những lý do dẫn đến sự dị biệt giữa từ và KN, tránh sự nhầm lẫn, nhiều ngành khoa học đã xây dựng các hệ thống thuật ngữ của mình. Những thuật ngữ này là từ hay nhóm từ đơn nghĩa, tức là chỉ dùng để diễn đạt một KN tương ứng được sử dụng trong ngành khoa học đó. Về mặt kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật, người ta luôn yêu cầu các KN (thuật ngữ) phải được hiểu theo một nghĩa, nhằm tránh tình trạng mỗi người, mỗi nơi hiểu và vận dụng một cách khác nhau. Yêu cầu này được thể hiện rõ trong Điều 5 Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: “Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản”.

    Định nghĩa KN là thao tác lôgíc qua đó chỉ rõ ngoại diên của KN được định nghĩa. Ví dụ, ta có định nghĩa: “Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm” (Điều 33 BLHS 1999). Căn cứ vào định nghĩa này, người ta biết được thế nào là tù có thời hạn, đồng thời phân biệt nó về mặt ngoại diên với các loại hình phạt khác mặc dù chúng cũng đều là hình phạt.

    1. ĐN theo tập hợp (thông qua loại và hạng) là ĐN trong đó nêu một KN đã biết, gần gũi và có ngoại diên bao chứa đối tượng cần ĐN, sau đó chỉ ra các dấu hiệu bản chất, đặc thù của đối tượng cần được ĐN để phân biệt nó với các đối tượng khác cùng lệ thuộc ngoại diên của KN đã biết ấy. Cấu trúc lôgíc của ĐN này có thể được mô hình hóa thành: A = a + những dấu hiệu riêng của A.

    Ví dụ, “Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải bị giam từ ba tháng đến hai mươi năm” (Điều 25 BLHS năm 1985). Để xác định tù có thời hạn là gì, nhà làm luật đưa ra KN hình phạt. Về nguyên tắc, hình phạt là KN đã được biết, đã được định nghĩa rồi (đáng tiếc là trong BLHS 1985 KN này lại không được định nghĩa, mặc dù nó là KN rất cơ bản của Luật hình sự. Trong BLHS 1999 KN này đã được định nghĩa). Hình phạt là KN gần gũi với KN cần định nghĩa. Cụ thể ở đây không nêu là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước vì KN này rộng hơn nhiều so với hình phạt, bao chứa cả hình phạt và trong nhiều ngành luật khác cũng có biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.

    Do trong hình phạt có cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong hình phạt chính lại cũng có nhiều loại nên để tách biệt hình phạt được gọi là “tù có thời hạn” với các hình phạt khác, nhà làm luật buộc phải đưa ra dấu hiệu bản chất, đặc trưng, dấu hiệu mà các hình phạt khác không có: buộc người bị kết án phải bị giam từ ba tháng đến hai mươi năm. Trong cách định nghĩa này người định nghĩa chỉ ra một cách gián tiếp các đối tượng nghiên cứu (ngoại diên của KN được định nghĩa) thông qua việc chỉ ra các dấu hiệu bản chất trong nội hàm của KN phản ánh về chúng. Cách định nghĩa này về cơ bản gồm hai bước: (1) Xác định đối tượng thuộc loại nào bằng cách nêu một KN đã biết, gần gũi và có ngoại diên bao chứa đối tượng cần định nghĩa; (2) Chọn trong nội hàm của KN cần định nghĩa một hoặc tập hợp một số dấu hiệu nào đó mà những đối tượng cùng loại khác không có. Đây là cách định nghĩa cơ bản, chuẩn xác, rất khoa học, có tầm khái quát cao, mức độ uyển chuyển trong việc vận dụng vào thực tiễn rất lớn và được dùng phổ biến trong nhiều ngành khoa học. Tuy nhiên, để làm được định nghĩa theo cách này là rất khó khăn; và rất đáng tiếc, trong thực tế không phải mọi KN đều có thể định nghĩa được bằng cách này.

    2. Định nghĩa thông qua liệt kê là định nghĩa trong đó liệt kê tất cả đối tượng được KN phản ánh. Cấu trúc lôgíc của định nghĩa này có thể được mô hình hóa thành: A = (a1, a2 …, an). Ví dụ, “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” (Điều 679 Bộ luật Dân sự). Đây là cách định nghĩa nhằm thẳng vào ngoại diên của KN mà không phải gián tiếp thông qua nội hàm để làm bộc lộ ngoại diên như cách định nghĩa trên. Mặc dù cách định nghĩa này khá phổ biến, đơn giản, tiện lợi, khả năng ứng phó nhanh nhưng tính khoa học, tính chặt chẽ và tính khái quát không cao. Trong một số trường hợp, nếu dùng cách định nghĩa theo tập hợp mà không sát đúng với định nghĩa hoặc gây nên những trở ngại nhất định cho hoạt động thực tiễn thì người định nghĩa có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê, miễn là có thể dùng nó để giải quyết những trường hợp nhất thời, cụ thể nào đó.

    Ví dụ khác: Trong Luật Cạnh tranh 2004 tại Điều 39 đã không có một định nghĩa chung về “cạnh tranh không lành mạnh” dưới hình thức tập hợp mà đã dùng lối định nghĩa liệt kê, theo đó liệt kê ra một số hành vi bị cấm, tức bị coi là cạnh tranh không lành mạnh. Ta biết, cuộc sống nói chung và thương trường nói riêng thì luôn vận động. Nếu ở thời điểm này chỉ có chừng ấy hành vi bị cấm nhưng trong tương lai lại xuất hiện hành vi khác cũng cần bị cấm thì nhà làm luật có đủ sức mãi chạy theo nó để sửa luật, để liệt kê thêm? Và, trong khi hành vi cần bị cấm mới đã xuất hiện mà luật chưa được sửa đổi chắc hẳn sẽ xuất hiện “khoảng trống pháp luật”, tức là không có quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Theo chúng tôi, trong một văn bản pháp luật nói riêng và trong hệ thống pháp luật nói chung mà có quá nhiều định nghĩa dạng liệt kê thì nó cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến hệ quả tất yếu là tình trạng “chết yểu” của nhiều quy phạm pháp luật, nhiều văn bản quy phạm pháp luật – hiệu lực thời gian của chúng quá ngắn ngủi. Ngoài ra, cách định nghĩa liệt kê còn có mặt hạn chế nữa là số đối tượng thuộc B phải không quá nhiều. Ví dụ, người ta không thể định nghĩa số chẵn là các số sau đây: 2,4,6,8,10,12…

    Tóm lại, trong hai cách định nghĩa trên xét dưới các góc độ khác nhau thì cách nào cũng có ưu điểm của nó nhưng xét một cách toàn cục thì cách định nghĩa thứ nhất có nhiều lợi thế hơn. Một số trong những lợi thế của cách định nghĩa theo tập hợp so với cách định nghĩa liệt kê là ở chỗ tính khái quát, tính bao hàm, tính dự liệu cao và do đó tính uyển chuyển của nó rất lớn, dẫn tới việc áp dụng nó một cách lâu dài và thuận lợi hơn. Điều đó có nghĩa là, khi người định nghĩa đã đưa ra một định nghĩa theo tập hợp mà chuẩn xác thì dù có phát sinh một đối tượng mới, một hành vi mới người ta vẫn có thể dựa vào định nghĩa này để điều chỉnh nó, miễn là đối tượng mới, hành vi mới… nằm trong ngoại diên của KN đã được định nghĩa. Theo chúng tôi, với những văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng, có tính ổn định lâu dài như Bộ luật, Luật thì nên đưa vào nhiều định nghĩa cách này, còn những văn bản “dưới luật” thì trong những trường hợp không thể khác được vẫn có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê.

    Đến lượt mình, Chính phủ, bằng định nghĩa liệt kê cứ thế liệt kê ra. Làm được như thế này thì luật sẽ ngắn gọn hơn, tránh được hiện tượng “phiên dịch” văn bản tiếng Việt này bằng một văn bản tiếng Việt khác và nhiều phiền toái khác nữa.

    2. Định nghĩa không được lòng vòng, nghĩa là chỉ được sử dụng những KN đã biết, đã được định nghĩa để định nghĩa. Vi phạm quy tắc này có thể dẫn đến sai lầm: (1) Định nghĩa vòng quanh, nghĩa là dùng B để định nghĩa A sau đó dùng A để định nghĩa B. Ví dụ, “Bộ máy nhà nước là bộ máy được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước còn các cơ quan nhà nước là các bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước”. (2) Định nghĩa luẩn quẩn, nghĩa là dùng chính A để định nghĩa A. Ví dụ, “Chứng cứ buộc tội là chứng cứ khẳng định một hành vi là tội”. Cả hai dạng sai lầm trên đều có đặc điểm chung là trong phần dùng để định nghĩa có chứa ngay KN cần được định nghĩa và nó đều không giúp người ta hiểu gì hơn về KN cần được định nghĩa. Định nghĩa mắc lỗi này thì coi như chưa định nghĩa gì cả.

    3. Định nghĩa phải ngắn gọn, nghĩa là không nên nêu những dấu hiệu nào đó mà người ta có thể suy ra từ các dấu hiệu khác, những dấu hiệu mà không có nó người ta vẫn nhận diện được một cách chính xác đối tượng đang được định nghĩa và không có nó người ta vẫn phân biệt được đối tượng được định nghĩa với các đối tượng khác. Ví dụ, nếu cho rằng: “chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt” (Giáo trình Đại học Luật Hà Nội năm 2000, tr.41) do đó coi chịu hình phạt là dấu hiệu bản chất (thuộc tính) của tội phạm thì đó là một sai lầm vì “có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt” cũng có nghĩa là “có thể không phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt”. Như vậy là có thể có mà cũng có thể không ở một tội phạm. Vậy, dấu hiệu này không thể là dấu hiệu bản chất (thuộc tính) vì thuộc tính luôn được hiểu là ” đặc tính vốn có của một sự vật (hiện tượng) nhờ đó sự vật tồn tại và qua đó con người nhận thức được sự vật, phân biệt được sự vật này với sự vật khác “1. Nêu hết các dấu hiệu bản chất của đối tượng cần định nghĩa thì định nghĩa được đưa ra không làm cho người ta nhận thức sai về đối tượng được định nghĩa. Vấn đề là nó không cần thiết. Vừa đủ là tiêu chuẩn tối cần thiết của tư duy khoa học! Tuân thủ quy tắc này, người định nghĩa không những không được đưa vào định nghĩa những dấu hiệu không bản chất mà ngay cả với những dấu hiệu bản chất thì cũng chỉ cần nêu vừa đủ các dấu hiệu nào đó thôi, miễn sao giúp người tiếp cận định nghĩa nhận diện đúng đối tượng được định nghĩa và phân biệt nó với các đối tượng khác. Điều này giúp cho tư duy của họ không bị rối, giúp cho họ tiết kiệm được tư duy, thời gian và trí nhớ. Có thể vì vậy mà người ta gọi định nghĩa khái niệm là khái niệm của khái niệm.

    4. Định nghĩa phải chuẩn xác, rõ ràng. Vi phạm quy tắc này thường xảy ra khi người định nghĩa sử dụng câu chữ không chặt chẽ, không bao quát, không rõ ràng, không đúng văn phạm hoặc sử dụng các từ ngữ hoa mỹ, nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ của từ hoặc của câu mà hậu quả của nó là không xác định được nội hàm và loại biệt ngoại diên của KN. Ví dụ: Mua dâm là hành vi giao cấu có trả tiền (Dự thảo Pháp lệnh Phòng chống mại dâm). Vậy, giao cấu nhưng trả bằng các vật khác tiền thì sao? Hay đó không phải là mua dâm. Vì về nguyên tắc, sau khi đã đưa ra định nghĩa thì định nghĩa đó được xem như một đẳng thức mà vế phải được dùng để xác tín vế trái. Do đó, mọi biến động của vế phải, tất yếu kéo theo sự biến động của vế trái. Trong trường hợp vừa nêu, vế phải đã biến động. Có thể nói, dùng từ “trả tiền” ở đây là không chặt, không bao quát.

    Chú thích: 1 Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Ngôn ngữ, Từ điển tiếng Việt, tr. 949 SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2005

    5. Không nên định nghĩa phủ định. Quy tắc này yêu cầu không nên đưa vào định nghĩa những dấu hiệu mà chúng không có ở đối tượng của KN. Ví dụ, “Quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân không phải là quản lý một xí nghiệp cơ khí”. Định nghĩa này chỉ mới vạch ra sự tách rời của ngoại diên KN “Quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân” và KN “Quản lý một xí nghiệp cơ khí” nhưng chưa nêu lên được những dấu hiệu bản chất của đối tượng cần được định nghĩa và do đó người ta vẫn chưa hiểu được thật sự “Quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân” là gì. “Không phải là quản lý một xí nghiệp cơ khí” thì là quản lý một xí nghiệp dược phẩm, một xí nghiệp may mặc, một xí nghiệp chăn nuôi? Không biết! KN này coi như chưa được định nghĩa. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý thêm là, quy tắc này yêu cầu “không nên” định nghĩa phủ định chứ không phải là không được (nếu sự phủ định đó cho phép giới hạn được ngoại diên và làm rõ được dấu hiệu bản chất của đối tượng cần định nghĩa). Ví dụ, trong khoa học tự nhiên có một số KN cho phép và thậm chí bắt buộc phải định nghĩa theo cách này như ” Khí trơ là khí không tham gia phản ứng hoá học”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khối Đa Diện Là Gì? Khái Niệm Và Tính Chất Khối Đa Diện
  • Giáo Án Lớp 12 Môn Hình Học
  • Giáo Án Công Nghệ 8 Bài 4: Bản Vẽ Khối Đa Diện
  • Lý Thuyết Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Bản Vẽ Các Khối Đa Diện
  • Khái Niệm, Hậu Quả Của Việc Ly Hôn

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Hậu Quả Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Hậu Quả
  • Về Hội Đồng Tự Quản Học Sinh Trong Mô Hình Trường Học Mới
  • “đoạn Đường Phụ Nữ Tự Quản”: Việc Làm Nhỏ, Ý Nghĩa Lớn
  • Hiệu Quả Từ Đề Tài Xây Dựng Mô Hình Tự Quản Về An Ninh Trật Tự
  • Tự Quản Địa Phương Và Vấn Đề Bảo Đảm Quyền Con Người, Quyền Công Dân
  • a, Khái niệm ly hôn

    Khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng của cả hai vợ chồng.

    Ly hôn là hành vi có ý chí của vợ chồng trên cơ sở yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng; ngoài ra không chủ thể nào khác có quyền yêu cầu ly hôn. Việc giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

    Quyền yêu cầu của Tòa án giải quyết việc ly hôn.

    Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Khoản 2 Điều 85 quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng: khi vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn.

    Việc khuyến khích hòa giải cơ sở khi có yêu cầu ly hôn.

    Đây là quy định mới của Luật nhằm khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở trong việc giải quyết các tranh chấp hôn nhân gia đình, nhất là khi vợ chồng yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải cơ sở được thực hiện theo pháp luật hòa giải cơ sở thông qua tổ hòa giải (hòa giải tiền tố tụng). Việc hòa giải cơ sở khi có yêu cầu ly hôn không phải là thủ tục bắt buộc trao đổi với tất cả các trường hợp yêu cầu ly hôn.

    Thụ lý yêu cầu ly hôn và hòa giải tại Tòa án. Theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự khi có yêu cầu ly hôn tuỳ từng trường hợp thụ lý:

    Thụ lý vụ án ly hôn khi ly hôn do một bên yêu cầu, thuận tình ly hôn, có tranh chấp về nuôi con chia tài sản khi ly hôn. Trong trường hợp này có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

    Thụ lý yêu cầu ly hôn (việc dân sự) khi yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Khi các bên thỏa thuận được cả ba quan hệ trên thì thụ lý yêu cầu ly hôn và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự.

    Về hoà giải tại Tòa án.

    Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định: “Sau khi đã tiến hành thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Đối với những vụ án ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hoà giải đoàn tụ là thủ tục bắt buộc không phụ thuộc vào việc thuận tình ly hôn hay ly hôn do một bên yêu cầu. Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2004 quy định rõ vụ án ly hôn và yêu cầu ly hôn (gọi chung là yêu cầu về hôn nhân và gia đình). Đối với yêu cầu ly hôn là trường hợp vợ chồng yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con và thỏa thuận về tài sản được xác định là việc dân sự vì không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ. Giải quyết việc dân sự theo quy định chung từ Điều 311 đến Điều 318 của Bộ luật hoàn toàn không có quy định về hoà giải. Do đó áp dụng theo các quy định thủ tục tố tụng theo Bộ luật tố tụng dân sự thì việc thụ lý yêu cầu công nhận thuận thình ly hôn, có thỏa thuận nuôi con và tài sản Tòa án không mở phiên hoà giải đoàn tụ trước khi mở phiên họp giải quyết.

    Thông qua việc hoà giải đoàn tụ để các bên hiểu rõ nghĩa vụ và quyền của vợ chồng, trách nhiệm của mỗi bên đối với gia đình, đối với con cái. Như vậy cũng là trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật nếu Tòa án thụ lý vụ án ly hôn vì có tranh chấp về nuôi con, tài sản thì Tòa án tiến hành hoà giải đoàn tụ thông qua phiên hoà giải, khi các bên thỏa thuận được về việc nuôi con và tài sản thì không tiến hành hoà giải.

    Căn cứ ly hôn (Điều 89)

    Căn cứ ly hôn trong pháp luật của chính quyền ngụy quyền Sài gòn trước 1975 (ở Miền Nam): Luật gia đình 1959 của Ngô Đình Diệm quy định cấm ly hôn, chỉ cho ly thân, trừ một số trường hợp phải có tổng thống xét là tối đặc biệt mới cho ly hôn. Để biện hộ cho quy định này Trần Lệ Xuân nêu lý do: Cấm ly hôn nhằm bảo vệ và củng cố gia đinh dành thời gian xoa dịu các mối bất hòa, cho đôi bạn có cơ hội đoàn tụ, làm cho thanh niên lựa chọn bạn đời thận trọng hơn.

    Đến năm 1964, sau khi chính quyền bị lật đổ lúc này mới đề nghị xét lại quy định trên. Do vậy, Bộ Dân luật 1972 của chính quyền Thiệu đã quy định vợ chồng có thể xin ly hôn vì ba duyên cớ: Vì sự ngoại tình của bên kia; Bên kia bị kết án trọng hình về thượng tội; Vợ chồng ngược đãi, không thể ăn ở với nhau.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình 2000 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

    Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như: người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở nhiều lần.

    Vợ chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như: thường xuyên đánh đập, có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.

    Vợ chồng không chung thủy với nhau: có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhỏ, khuyên bảo nhưng vẫn có quan hệ ngoại tình.

    Đời sống chung không thể kéo dài: Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đến mức trầm trọng như thế nào. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, hoặc bỏ nhau mà vẫn có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau thì có căn cứ để nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được

    Mục đích của hôn nhân không thể đạt được: là không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền vợ chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín vợ chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng; không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

    – Các trường hợp ly hôn theo Luật hôn nhân gia đình

    Thuận tình ly hôn (Điều 90): Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn Tòa án vẫn tiến hành hòa giải. Nếu Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hòa giải đoàn tụ không thành.

    Theo Bộ luật Tố tụng dân sự (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2005) quy định hoà giải từ Điều 180 đến Điều 188. Hoà giải là một giai đoạn tố tụng trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phiên hoà giải do Thẩm phán chủ trì và thư ký ghi biên bản. Hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc hoà giải chỉ áp dụng đối với trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn có tranh chấp về nuôi con và tài sản được Tòa án thụ lý là vụ án ly hôn.

    Trường hợp yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng vợ chỗng đã thỏa thuận về nuôi con và tài sản giải quyết theo thủ tục tố tụng việc dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định hoà giải đoàn tụ.

    Ly hôn do một bên yêu cầu (Điều 91): Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Tòa án phải tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải đoàn tụ thành mà người yêu cầu ly hôn rút đơn yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng điểm c, Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

    Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu ly hôn thì Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ thành. Sau 07 ngày kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện kiểm sát không phản đối thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (theo Luật hôn nhân và gia đình là quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành). Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

    Trong trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và đưa vụ án xét xử. Đối với người có yêu cầu ly hôn mà bị Tòa án bác đơn ly hôn thì sau một năm kể từ ngày ra quyết định, bản án của Tòa án bác đơn xin ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người đó mới lại được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

    b, Hậu quả pháp lý của việc ly hôn

    * Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng: Khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực thì quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt (chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật).

    * Quan hệ giữa cha mẹ – con sau khi ly hôn: sau khi ly hôn thì quan hệ giữa cha mẹ – con vẫn tồn tại nên việc giải quyết cho ai nuôi con trước hết dựa trên cơ sở do vợ, chồng thỏa thuận cũng như các quyền và nghĩa vụ đối với con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    Đối với con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con (theo quy định cấp dưỡng).

    * Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn: Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn hết sức phức tạp, do vậy khi giải quyết thường các đương sự kháng cáo chủ yếu việc xác định và chia tài sản. Do vậy, để có cơ sở pháp lý cho Tòa án giải quyết thì Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định:

    Khi ly hôn chia tài sản do các bên thỏa thuận; nếu bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu bên đó.

    Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì nên chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên các nguyên tắc sau:

    Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc xác lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ chồng trong gia đình coi như lao động có thu nhập.

    Bảo vệ quyền lợi ích hợp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình.

    Bảo vệ lợi ích chính đáng mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động thu nhập.

    Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật theo giá trị, nếu bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

    Việc xác định khối lượng tài sản chung của vợ chồng và phần chênh lệch căn cứ vào giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử.

    Ngoài ra tùy từng trường hợp áp dụng các quy định tại các Điều 96, 97 và 98 để giải quyết các trường hợp cụ thể sau:

    * Chia tài sản trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn. Điều 96 quy định việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn:

    Trong trường hợp nếu phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng về việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung. Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.

    * Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn (Điều 97): Việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, Luật hôn nhân và gia đình 2000 có phân biệt một số loại khác nhau như sau:

    Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó. Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hơp chỉ có một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng đất nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra theo quy định trên. Đối với đất trồng cây nông nghiệp lâu năm, đất lâm nghiệp trồng rừng, đất ở thì được chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 95 của Luật hôn nhân và gia đình 2000.

    Trong trường hợp vợ, chồng chung sống với gia đình, thì khi ly hôn, quyền của bên không có quyền sử dụng đất và không trực tiếp chung sống với gia đình được giải quyết theo quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ, chồng chung sống với hộ gia đình mà ly hôn tại điều 96.

    * Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ, chồng (Điều 98): Đối với nhà thuộc sở sở hữu chung của vợ chồng nếu nhà chia được để sử dụng thì được chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 95; nếu nhà không thể chia thì bên tiếp tục sử dụng nhà phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.

    Trong trường hợp nhà ở thuộc riêng của bên đã đưa vào sử dụng chung thì nhà vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp cải tạo, sửa chữa nhà ở đó (Điều 99).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Hiệu Quả Sử Dụng Vốn
  • Khái Niệm Kết Quả Hoạt Động Của Doanh Nghiệp
  • Những Điều Cần Biết Về Chính Quyền Đô Thị Tại Tp Hcm
  • Chính Quyền Đô Thị: Tinh Gọn Để Nâng Cao Chất Lượng Cán Bộ Thực Thi
  • Chính Quyền Đô Thị Và Quyền Của Người Dân
  • Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Cơ Chế Là Gì? Tri Thức Cộng Đồng
  • Khối Lượng Riêng Là Gì? Trọng Lượng Riêng Là Gì Công Thức Tính
  • Giáo Án Vật Lý Lớp 6 Tiết 12: Khối Lượng Riêng, Bài Tập
  • Giáo Án Chủ Đề Khối Lượng Riêng
  • Giáo Án Dạy Vật Lý 6 Tuần 13: Khối Lượng Riêng. Trọng Lượng Riêng
  • Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, Định Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, ý Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Định Nghĩa Niềm Tin, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Gia Đình, Khái Niệm Quyết Định, Nêu Khái Niệm Và Các Số Liệu Định Mức Của Máy Biến áp, Khái Niệm Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Quan Niệm Có Nghĩa Là J, Quan Niệm Nào Bàn Về Nghĩa Vụ, Từ Quan Niệm Nghĩa Là Gì, Quan Niệm Có Nghia La Gi, Từ Quan Niệm Có Nghĩa Là Gì, Quan Niệm Bàn Về Nghĩa Vụ, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm A, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm 911, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4g, Bài 1 Khái Niệm Đạo Hàm, Khái Niệm 821, Khái Niệm 4k, Khái Niệm 4c, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm ăn, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 811, Khái Niệm 4m, Khái Niệm 4p, Khái Niệm 635, Khái Niệm 632, ẩn Dụ Khái Niệm, Khái Niệm Oda, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm 5s, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm 4r, Khái Niệm P, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm 5m, Khái Niệm 500 Anh Em, Khái Niệm 7p, Khái Niệm 5g, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm Về Số 0, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm Xã Hội Học,

    Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, Định Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, ý Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Định Nghĩa Niềm Tin, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Gia Đình, Khái Niệm Quyết Định, Nêu Khái Niệm Và Các Số Liệu Định Mức Của Máy Biến áp, Khái Niệm Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Quan Niệm Có Nghĩa Là J, Quan Niệm Nào Bàn Về Nghĩa Vụ, Từ Quan Niệm Nghĩa Là Gì, Quan Niệm Có Nghia La Gi, Từ Quan Niệm Có Nghĩa Là Gì, Quan Niệm Bàn Về Nghĩa Vụ, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm A, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm 911, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4g, Bài 1 Khái Niệm Đạo Hàm, Khái Niệm 821, Khái Niệm 4k,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Định Nghĩa Khái Niệm Trong Luật
  • Khối Đa Diện Là Gì? Khái Niệm Và Tính Chất Khối Đa Diện
  • Giáo Án Lớp 12 Môn Hình Học
  • Giáo Án Công Nghệ 8 Bài 4: Bản Vẽ Khối Đa Diện
  • Lý Thuyết Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Định Nghĩa, Ví Dụ & Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Mua Bán Hàng Hóa Trong Thương Mại Được Quy Định Thế Nào Trong Pháp Luật Hiện Hành
  • Phân Biệt Hàng Hóa Thông Thường Và Hàng Hóa Thứ Cấp
  • Xa Xỉ Phẩm Là Gì?
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Các Loại Hàng Hóa Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Hàng Hóa Và Dịch Vụ Tiêu Dùng Là Gì? Cách Phân Biệt Hàng Tiêu Dùng Và Hàng Sản Xuất
  • Hệ điều hành (OS) , chương trình quản lý tài nguyên của máy tính , đặc biệt là việc phân bổ các tài nguyên đó giữa các chương trình khác. Các tài nguyên điển hình bao gồmbộ xử lý trung tâm (CPU), bộ nhớ máy tính , lưu trữ tệp, thiết bị nhập / xuất (I / O) và kết nối mạng. Các nhiệm vụ quản lý bao gồm lập lịch sử dụng tài nguyên để tránh xung đột và can thiệp giữa các chương trình. Không giống như hầu hết các chương trình hoàn thành một nhiệm vụ và kết thúc, hệ điều hành chạy vô thời hạn và chỉ kết thúc khi máy tính đã tắt.

    Britannica Quiz

    Máy tính và Công nghệ Quiz

    Máy tính lưu trữ các trang web bao gồm HTML và gửi tin nhắn văn bản đơn giản như … LOL. Hãy tham gia bài kiểm tra này và để một số công nghệ kiểm tra điểm của bạn và tiết lộ nội dung cho bạn.

    Hiện đại hệ điều hành đa xử lý cho phép nhiều quy trình hoạt động, trong đó mỗi quy trình là một “luồng” tính toán được sử dụng để thực thi một chương trình. Một hình thức đa xử lý được gọi làchia sẻ thời gian , cho phép nhiều người dùng chia sẻ quyền truy cập máy tính bằng cách chuyển đổi nhanh chóng giữa chúng. Chia sẻ thời gian phải bảo vệ chống lại sự can thiệp giữa các chương trình của người dùng và hầu hết các hệ thống sử dụngbộ nhớ ảo , trong đó bộ nhớ hoặc “không gian địa chỉ” được chương trình sử dụng có thể nằm trong bộ nhớ phụ (chẳng hạn như trên đĩa cứng từ tínhổ đĩa) khi không sử dụng ngay, được hoán đổi lại để chiếm bộ nhớ máy tính chính nhanh hơn theo yêu cầu. Bộ nhớ ảo này vừa làm tăng không gian địa chỉ có sẵn cho chương trình vừa giúp ngăn các chương trình can thiệp vào nhau, nhưng nó đòi hỏi sự kiểm soát cẩn thận của hệ điều hành và một tập hợp các bảng phân bổ để theo dõi việc sử dụng bộ nhớ. Có lẽ nhiệm vụ quan trọng và tinh tế nhất đối với một hệ điều hành hiện đại là phân bổ CPU; mỗi quy trình được phép sử dụng CPU trong một khoảng thời gian giới hạn, có thể là một phần của giây, sau đó phải từ bỏ quyền kiểm soát và bị treo cho đến lượt tiếp theo của nó. Bản thân việc chuyển đổi giữa các tiến trình phải sử dụng CPU đồng thời bảo vệ tất cả dữ liệu của các tiến trình.

    Các máy tính kỹ thuật số đầu tiên không có hệ điều hành. Họ chạy một chương trình tại một thời điểm, chương trình này có quyền chỉ huy tất cả tài nguyên hệ thống và nhân viên vận hành sẽ cung cấp bất kỳ tài nguyên đặc biệt nào cần thiết. Hệ điều hành đầu tiên được phát triển vào giữa những năm 1950. Đây là những “chương trình giám sát” nhỏ cung cấp các hoạt động I / O cơ bản (chẳng hạn như điều khiển đầu đọc thẻ đục lỗ và máy in) và lưu giữ các tài khoản sử dụng CPU để thanh toán. Các chương trình giám sát cũng cung cấp khả năng đa chương trình để cho phép một số chương trình chạy cùng một lúc. Điều này đặc biệt quan trọng để những cỗ máy trị giá hàng triệu đô la ban đầu này sẽ không bị nhàn rỗi trong các hoạt động I / O chậm chạp.

    Máy tính có được những hệ điều hành mạnh mẽ hơn vào những năm 1960 với sự xuất hiện của chia sẻ thời gian, đòi hỏi một hệ thống quản lý nhiều người dùng chia sẻ thời gian và thiết bị đầu cuối CPU. Hai hệ thống chia sẻ thời gian ban đầu là CTSS (Hệ thống Chia sẻ Thời gian Tương thích), được phát triển tại Học viện Công nghệ Massachusetts , và Hệ thống Cơ bản của Cao đẳng Dartmouth, được phát triển tại Cao đẳng Dartmouth . Các hệ thống đa chương trình khác bao gồm Atlas, tại Đại học Manchester , Anh và OS / 360 của IBM , có lẽ là gói phần mềm phức tạp nhất của những năm 1960. Sau năm 1972Multics hệ thống cho General Electric Co. ‘GE 645 máy tính s (và sau đó cho Honeywell Inc ‘ s máy tính) đã trở thành hệ thống tinh vi nhất, với hầu hết các multiprogramming và khả năng chia sẻ thời gian mà sau này đã trở thành tiêu chuẩn.

    Nhận quyền truy cập độc quyền vào nội dung từ Phiên bản đầu tiên năm 1768 của chúng tôi với đăng ký của bạn.

    Đăng ký ngay hôm nay

    Máy tính mini của những năm 1970 có bộ nhớ hạn chế và yêu cầu hệ điều hành nhỏ hơn. Hệ điều hành quan trọng nhất của thời kỳ đó làUNIX , được AT&T phát triển cho các máy tính mini lớn như một giải pháp thay thế đơn giản hơn cho Đa phương tiện. Nó được sử dụng rộng rãi vào những năm 1980, một phần vì nó được cung cấp miễn phí cho các trường đại học và một phần vì nó được thiết kế với một bộ công cụ mạnh mẽ trong tay các lập trình viên lành nghề. Gần đây hơn,Linux , một phiên bản mã nguồn mở của UNIX được phát triển một phần bởi một nhóm do sinh viên khoa học máy tính Phần Lan Linus Torvalds dẫn đầu và một phần do nhóm do nhà lập trình máy tính người Mỹ Richard Stallman đứng đầu , đã trở nên phổ biến trên máy tính cá nhân cũng như trên các máy tính lớn hơn.

    Ngoài các hệ thống có mục đích chung như vậy, các hệ điều hành có mục đích đặc biệt chạy trên các máy tính nhỏ điều khiển dây chuyền lắp ráp, máy bay và thậm chí cả thiết bị gia dụng. Chúng là hệ thống thời gian thực, được thiết kế để cung cấp phản ứng nhanh với các cảm biến và sử dụng đầu vào của chúng để điều khiển máy móc . Hệ điều hành cũng đã được phát triển cho các thiết bị di động như điện thoại thông minh và máy tính bảng . IOS của Apple Inc. , chạy trên iPhone và iPad và Android của Google Inc. là hai hệ điều hành di động nổi bật.

    Iphone 6

    IPhone 6, được phát hành vào năm 2014.

    Được phép của Apple

    Từ quan điểm của người dùng hoặc một chương trình ứng dụng, một hệ điều hành cung cấp dịch vụ. Một số trong số này là các lệnh người dùng đơn giản như “dir” —hiển thị tệp trên đĩa — trong khi các lệnh khác là “lệnh gọi hệ thống” cấp thấp mà chương trình đồ họa có thể sử dụng để hiển thị hình ảnh. Trong cả hai trường hợp hệ điều hành cung cấp quyền truy cập thích hợp vào các đối tượng của nó, các bảng vị trí đĩa trong một trường hợp và các quy trình truyền dữ liệu đến màn hình trong trường hợp kia. Một số quy trình của nó, những quy trình quản lý CPU và bộ nhớ, thường chỉ có thể truy cập được đối với các phần khác của hệ điều hành.

    Hệ điều hành đương đại cho máy tính cá nhân thường cung cấp giao diện người dùng đồ họa (GUI). GUI có thể là một bên trong một phần của hệ thống, như trong các phiên bản cũ của Apple Mac OS và Tập đoàn Microsoft ‘s Hệ điều hành Windows ; trong một số khác, nó là một tập hợp các chương trình phụ thuộc vào hệ thống cơ bản, như trong hệ thống Cửa sổ X dành cho UNIX và Mac OS X của Apple.

    Hệ điều hành cũng cung cấp dịch vụ mạng và khả năng chia sẻ tệp — thậm chí khả năng chia sẻ tài nguyên giữa các hệ thống thuộc các loại khác nhau, chẳng hạn như Windows và UNIX. Chia sẻ như vậy đã trở thành khả thi thông qua sự ra đời của mạng giao thức (quy tắc giao tiếp) như Internet của TCP / IP .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Điều Hành Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Hệ Điều Hành
  • Hệ Điều Hành Ios Là Gì? Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Của Iphone
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Android – Khái Niệm, Ứng Dụng Và Cách Cài Đặt
  • Hệ Điều Hành Linux Là Gì Và Có Công Dụng Ra Sao
  • Đảng Lãnh Đạo Hệ Thống Chính Trị
  • Whisky Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Bằng Tiếng Anh
  • Tính Xác Suất Theo Định Nghĩa Cổ Điển Như Thế Nào?
  • Từ 1/7/2020, Khái Niệm Về Xe Con, Xe Tải, Bán Tải Có Sự Thay Đổi Lớn
  • Zeolit – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam
  • Six Sigma Là Gì? Những Khái Niệm Cơ Bản Nhất
  • Rượu Whisky là một loại đồ uống có cồn, lên men trực tiếp từ một số ngũ cốc như lúa mì, gạo, ngô… Nồng độ rượu Whisky khá nặng (khoảng 43 đến 48), hương vị gần gũi, nồng nàn. Hiện nay, có khá nhiều phương pháp ủ rượu Whisky trên thế giới, mỗi cách ủ rượu sẽ cho ra đời một loại Whisky với hương vị riêng. Whisky có thể uống trực tiếp hoặc làm rượu nền lý tưởng cho món cocktail.

    Rượu Whisky bắt nguồn từ đâu?

    Nguồn gốc

    Theo Wikipedia, Vào thế kỷ thứ 5 các nhà tu Ki-tô giáo, mà trước tiên là thánh Saint Patrick của Ireland, bắt đầu truyền giáo trong xứ sở của người Celt và mang các dụng cụ kỹ thuật cũng như hiểu biết về cách chế tạo dược phẩm và nước hoa đến Ireland và Scotland. Theo truyền thuyết thì họ là những người đầu tiên đã chưng cất một chất lỏng trong suốt: aqua vitae hay uisge beatha. Sự hiểu biết này lan truyền trong các thế kỷ sau nhờ vào các tu viện được thành lập mà vào thời gian đó mà thường là trung tâm của các làng mạc và có mở quán rượu riêng.

    Sự phát triển

    Năm 1494 aquavite lần đầu tiên được nhắc đến trong các văn kiện thuế ở Scotland (Exchequer Rolls) khi nhà tu dòng Saint Benedict, John Cor, của tu viện Lindores (thuộc vùng đất phong bá tước Fife) mua 8 boll mạch nha tại thủ đô của Scotland lúc bấy giờ là Dunfermline. Boll là một đơn vị đo lường dùng để đong ngũ cốc cũ của Scotland, tương đương với 210,1 lít hay 62 kg). Lượng 8 boll tương đương với khoảng 500kg, đủ để sản xuất vào khoảng 400 chai rượu Whisky.

    Sau cuộc di dân đến châu Mỹ, Whisky cũng được thử sản xuất từ ngũ cốc. Vì cây lúa mạch (Hordeum) khó trồng ở đây nên những người nông dân ở Bắc Mỹ bắt đầu cho lên men các loại ngũ cốc tăng trưởng tốt ở đấy là lúa mạch đen (Secale) và lúa mì (Triticum). Các lò nấu rượu lâu đời nhất xuất hiện ở Maryland, Pennsylvania và Virginia. Vì không kiếm được than bùn nên không ứng dụng được công thức sản xuất Whisky cổ truyền và vì thế mà rượu nấu ra không được ngon. Thông qua việc đốt thành than vách các thùng đựng rượu người ta cố gắng mang lại hương khói quen thuộc vào phần cất. Mãi cho đến cuối thế kỷ 18 mới có những lò chuyên nấu rượu Whisky.

    Cách làm rượu Whisky

    Thông thường, Whisky đều được làm bằng phương pháp xay ngũ cốc thành hạt tấm và được trộn với nước ấm trong thùng kín. Một thời gian sau, hỗn hợp sẽ hóa đường. Tiếp theo nước này sẽ được trộn với men và được lên men trong một thùng chứa.

    Sau 1 thời gian thích hợp, người ra bắt đầu chưng cất chất lỏng này thành rượu. Rượu được tạo thành sẽ được pha loãng với nước và được trữ trong thùng gỗ nhiều năm. Sau quá trình này, Whisky sẽ được pha trộn, làm loãng, lọc, … và đóng vào chai.

     

    Các loại rượu Whisky nổi tiếng

    Southern Comfort

    Đây là loại rượu Whisky mới, được tạo nên bằng cách pha trộn Whisky truyền thống với hương vị lựu và trái cây. Theo các Sommelier, rượu Southern Comfort có thể sử dụng như một loại rượu mùi.

    Canadian Club

    Do tính chất thuộc loại nhẹ nhất trong số các loại Whisky, Canadian Club được sử dụng phổ biến để pha chế cocktail thượng hạng. Thành phần rượu Canadian Clun bao gồm các loại ngũ cốc (lúa mạch đen, ngô, lúa mì…), vị nhẹ thanh mát. Trong thời kỳ chiến tranh, rượu còn được dùng làm thuốc giảm đau.

    Jim Beam

    Jim Beam được ủ trong thùng gỗ sồi trắng với thành phần bao gồm bắp, các loại ngũ cốc, hương liệu. Đây vẫn là thương hiệu Bourbon Whisky số 1 hiện nay, hương vị mạnh, cuốn hút, thoang thoảng hương sồi. Các Bartender vẫn sử dụng Jim Beam làm nguyên liệu chính khi pha chế một số loại cocktail tuyệt hảo.

    Justerini & Brooks (J&B)

    Hơn 6 triệu thùng J&B được tiêu thụ mỗi năm trên thế giới đã nói lên độ phủ sóng của loại rượu này. Với thành phần mạch nha, ngũ cốc ngọt, hương vị trái cây, rượu J&B khiến người uống cảm nhận rõ vị cay mát đầu lưỡi, sau đó là vị Whisky nơi cổ họng.

    Chivas Regal

    Chivas Regal ra đời vào năm 1786, có nhiều phiên bản và dòng sản phẩm khác nhau như Chivas Regal 18, 12, 25 (theo số năm sản xuất chai rượu), Chivas Regal The Icon, Chivas Regal Ultis, Chivas Regal Extra… Chivas Regal là rượu Whisky bán chạy nhất thế giới hiện nay.

    The Famous Grouse

    Có nguồn gốc từ Scotland, The Famous Grouse được tạo nên từ hỗn hợp mạch nha và hương liệu tổng hợp. Hương vị rượu mạnh tự nhiên, thêm một chút cay nồng ấm áp. The Famous Grouse là sự pha trộn của Whisky và rượu vang, rất phổ biến trong các bữa tiệc hoàng gia.

    Jameson Irish

    Loại Whisky đến từ Ailen này có khoảng 31 triệu thùng bán ra mỗi năm. Hương vị thuần tự nhiên, độ mạnh luôn được cân đối, có thể dùng với đá viên hoặc pha chế cocktail rất hợp. Ở Ailen, những cánh đồng lúa mạch có khi rộng đến hàng trăm hecta được chăm chút cẩn thận để sản xuất dòng rượu này.

    Jack Daniel’s

    Nói đến rượu Whisky, chắc hẳn giới Bartender sẽ nhắc đến huyền thoại của loại rượu này. Jack Daniel’s được sản xuất từ bắp non nguyên chất và mầm lúa mạch, sau đó ủ lên men trong vài năm. Quy trình sản xuất Jack Daniel’s khá phức tạp, bao gồm lên men, chưng cất, lọc than, ủ rượu mới tạo nên hương vị khó cưỡng.

    Johnnie Walker

    Người dùng có thể thỏa thích lựa chọn Johnnie Walker vì chúng có hơn 6 triệu mùi vị khác nhau, cho thấy sự pha trộn độc đáo có một không hai. Hương vị cay nồng sóng sánh, người uống dễ dàng chao đảo, ngây ngất.

    Wild Turkey

    Chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được ngay vị đào hoặc vị vani ngay lần đầu nếm thử, tiếp đó là vị lúa mạch đen và ngô. Thi thoảng rượu cũng có mùi gỗ sồi, ngô ngọt và táo. Công thức gia truyền để tạo nên Wild Turkey lên tới 300 năm, mang đến sự ngọt ngào và cuốn hút khó tả.

    Người đăng: hoy

    Time: 2022-08-22 17:43:36

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuật Ngữ Cơ Bản Về Wifi
  • World Wide Web Là Gì? Www Là Gì? Tổng Quan Về Www Chi Tiết Nhất!
  • Website Là Gì? Định Nghĩa Đơn Giản Dễ Hiểu Nhất
  • Bản Chất Của Vấn Đề Là Gì?
  • Định Nghĩa Lại Vấn Đề
  • Drama Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Drama Trong Game Là Gì ? Những Ý Nghĩa Của Từ Drama Trên Mạng Xã Hội
  • Drama Là Gì? Hít Drama Là Gì? Tổng Hợp Các Thể Loại Drama Hiện Nay
  • Drama Là Gì? Ý Nghĩa Của Drama Trên Mxh Facebook – Hít Drama
  • Drama Là Gì? Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Các Thể Loại Drama Khác Nhau
  • Drama Là Gì? Có Drama Nào Đang Hot?
  • Drama là một từ tiếng Anh, phiên âm là /drɑː.mə/, khi dịch sang tiếng Việt, từ này có thể hiểu theo 2 nghĩa phổ biến nhất là kịch, tuồng hay các sự việc đầy kịch tính. Ngày nay drama chủ yếu được dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật có nội dung mang tính kịch tính.

    Bên cạnh đó, drama còn xuất hiện trong các tác phẩm manga, anime của Nhật, bao gồm các thể loại tình cảm, trinh thám, cảm động, bi kịch, … tạo cho người xem cảm giác buồn bã và căng thẳng.

    Thực trạng drama ngày nay

    Với sự phát triển ngày càng cao thì sự lan truyền trên mạng xã hội ngày càng nhanh chóng. Kéo theo những câu chuyện drama của giới trẻ lan tràn tạo nên những chuỗi hít drama ngập tràn. Nắm bắt được việc đó những hội nhóm được thành lập ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu hít drama của giới trẻ. Những câu chuyện được hóng hớt ngày qua ngày như các bộ phim dài tập và nguội dần khi không còn gì để hít nữa.

    Hậu quả của hít drama

    Những thông tin những câu chuyện được lan truyền để các bạn hít liệu đó có là sự thật ? Hay chỉ là những câu chuyện bịa hoặc thêm dặm làm mất đi bản chất thật của sự việc. Hay xem cho thỏa lòng của các bạn rồi trở thành những anh hùng bàn phím. Vội phán xét người khác, quy chụp định tội họ một cách phiến diện. Nhất là khi chưa rõ sự thật có phải đúng là những gì được thông tin đưa ra hay không.

    Để rồi đôi khi hệ lụy là những câu chuyện thương tâm đẩy người trong cuộc. Nhân vật chính trong câu chuyện đến bước đường cùng. Ví dụ như vụ câu chuyện nữ sinh chia tay bạn trai bị phát tán clip quan hệ trên mạng. Để lại hậu quả đó là nữ sinh không chịu nổi dư luận mà chọn kết thúc cuộc sống bằng cách tự tử. Đó là một câu chuyện minh chứng cho dư luận là con dao giết người vô hình. Thủ phạm là những người hít drama phát tán và buôn lời phán xét tiêu cực.

    Drama Trên Facebook Là Gì?

    Trên mạng xã hội Facebook, giới trẻ cũng hay sử dụng từ Drama để chỉ tình huống trớ trêu nào đó, gây bất ngờ cho người xem, đan xen nhiều yếu tố bi hài.

    Tuy nhiên trong một số trường hợp, chúng ta cũng có thể hiểu drama là phốt, các vụ bóc phốt có tốc độ lan truyền chóng mặt, chẳng hạn như các hot boy, hot girl dính phốt nào đó.

    Drama Queen Là Gì?

    Drama khi dịch sang nghĩa tiếng Việt có thể hiểu là bi kịch. Queen nghĩa là nữ hoàng. Như vậy có thể hiểu Drama Queen là nữ hoàng bi kịch.

    Từ này được sử dụng để chỉ những cô nàng không thể làm chủ cảm xúc của mình và luôn đắm chìm trong những “bi kịch” chính mình tạo ra.

    Người đăng: dathbz

    Time: 2022-07-19 09:57:15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Drama Là Gì? Top 3 Drama Trong Nền Giải Trí 2022
  • Diện F3 – Visa Bảo Lãnh Con Đã Có Gia Đình
  • Bảo Lãnh Định Cư Mỹ Diện F3 – Cha Mẹ Bảo Lãnh Con Cái Đã Kết Hôn
  • 2 Cách Tính Diện Tích Căn Hộ Chung Cư Theo Bộ Xây Dựng
  • Hồ Quang Điện Là Gì, Ứng Dụng Và Tác Hại Của Hồ Quang Điện
  • Soundtrack Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Ost Nghĩa Là Gì ? Ý Nghĩa Của Ost Là Viết Tắt Của Từ Gì ?
  • Cách Dùng Would Đầy Đủ Chính Xác Nhất
  • Khái Niệm Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Là Gì?
  • Hệ Điều Hành Ios Là Gì? Cách Cài Đặt Hệ Điều Hành Ios
  • Cấu Tạo, Nguyên Lý Làm Việc Máy Biến Áp 1 Pha
  • Soundtrack với nghĩa đen là các rãnh âm thanh kĩ thuật trong thu âm. Soundtrack là toàn bộ âm thanh từ các nhạc cụ và sau được nhạc sĩ mix lại thành bản nhạc hoàn chỉnh.

    Soundtrack trong phim được gọi là nhạc nền, là bản nhạc cất lên khi phim mới bắt đầu hoặc kết thúc phim. Soundtrack có thể lồng trong một vài đoạn của bộ phim nhằm mục đích tăng cảm xúc cho bộ phim và làm cho bộ phim không bị nhàm chán.

    Ngoài ra, chúng ta còn có thuật ngữ OST (Original Soundtrack) là những bản soundtrack trong phim được làm thành bài hát hoàn chỉnh và không bị tách rời, cắt ghép trong bộ phim. OST thường được làm dưới dạng MV ca nhạc với lời và nhạc đầy đủ cùng với một vài đoạn cắt cảnh của bộ phim.

    Nguồn gốc của Soundtrack

    Từ viết tắt OST thường được dùng để miêu tả album nhạc phim trên các phương tiên đã ghi lại như là CD, cũng nó là viết tắt của Original Soundtrack; tuy nhiên, nó thỉnh thoảng còn được dùng để phân biệt âm nhạc gốc nghe được và ghi âm lại so với việc ghi âm lại hay hát lại của âm nhạc.

    Các thể loại soundtrack

    Trong thể loại soundtrack, có 4 thể loại ghi âm:

    • Những soundtrack âm nhạc mà tập trung chủ yếu vào những bài hát
    • Nhạc nền phim mà giới thiệu phần âm nhạc nền, từ những bộ phim không phải âm nhạc
    • Album gồm những bản nhạc pop được nghe thấy một phần hay toàn bộ trong phần âm nhạc nền của những bộ phim không phải âm nhạc

    Ý nghĩa của soundtrack

    Qua những lý giải về soundtrack bên trên thì chúng ta có thể thấy soundtrack là “tâm hồn” của một bộ phim bởi nếu không có soundtrack thì bộ phim sẽ trở lên cứng nhắc và đơn điệu và khiến khán giả bị nhàm chán và khó nhập tâm vào bộ phim.

    Đôi khi một số bộ phim không thành công vì nội dung hay hoặc kĩ xảo đẹp mà nó thành công bởi Soundtrack và Soundtrack đó làm cho bộ phim trở nên độc đáo và đi vào “tâm hồn” của người xem.

    Người đăng: trang

    Time: 2022-07-28 10:31:56

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồ Gá Jig: Định Nghĩa, Các Loại Đồ Gá, Ứng Dụng, Ưu Điểm, Nhược Điểm
  • Ôn Lại Ý Nghĩa, Lịch Sử Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10
  • Ngày 8/3 Là Ngày Gì? Lịch Sử Và Ý Nghĩa Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3
  • Thế Nào Là Người Phụ Nữ Xinh Đẹp?
  • Tin Hoạt Động Các Cấp Hội
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100