Giai Cấp Là Gì? Định Nghĩa Giai Cấp? Nguồn Gốc, Điều Kiện Của Giai Cấp?

--- Bài mới hơn ---

  • Giai Cấp Là Gì? Đặc Trưng Và Kết Cấu Xã Hội Của Giá Cấp
  • Bàn Về Triết Học Giáo Dục
  • Triết Học Phật Giáo (Nền Tảng Của Đạo Phật)
  • Hạnh Phúc Là Gì Trong Mắt Các Nhà Triết Học Vĩ Đại?
  • Tồn Tại Xã Hội Là Gì? Ý Thức Xã Hội Là Gì?
  • Chỉ đến thời đại của , xã hội loài người mới phân chia thành các giai cấp, vậy giai cấp là gì? Và nguồn gốc, điều kiện cho sự ra đời của giai cấp là gì?

    Ở các thời đại của , , loài người chưa phân thành các giai cấp. Cuối thời đại này, trong nội bộ các cộng đồng manh nha hình thành các giai cấp. Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, các cuộc đấu tranh giai cấp không ngừng diễn ra lúc ngấm ngầm lúc công khai, quan hệ giữa người và người đã thay đổi về căn bản.

    Quan điểm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác là cơ sở lý luận khoa học làm sáng tỏ bản chất của quan hệ giai cấp. Năm 1919, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”. V. I. Lênin đã đưa ra định nghĩa về giai cấp như sau:

    “Giai cấp là những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định.”

    + Chủ nô và nô lệ là hai giai cấp đối lập nhau trong xã hội cổ đại.

    + Phong kiến và nông nô (có cách gọi khác là địa chủ và tá điền) là hai giai cấp trong xã hội trung cổ.

    + Tư sản và vô sản là hai giai cấp đối lập trong xã họi cận đại và đương đại.

    Định nghĩa trên cho thấy:

    1. Nói đến giai cấp là nói đến hệ thống các tập đoàn người trong một chế độ kinh tế – xã hội nhất định, do chế độ ấy sản sinh ra.

    Vì vậy, giai cấp thường được dùng ở số nhiều: Các giai cấp. Chúng ta không đề cập đến giai cấp như một tập đoàn người riêng lẻ.

    Mỗi giai cấp trong lịch sử, dù cùng hệ thống hay khác hệ thống. đều có những đặc điểm riêng. Một giai cấp nào đó, như giai cấp tư sản, cũng sẽ thay đổi khi điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi. Song, định nghĩa của Lênin cho phép ta nắm được những đặc trưng chung, cơ bản nhất, những dấu hiệu phổ biến, ổn định nhất của giai cấp, dù đó là các giai cấp của xã hội cổ đại, của xã hội phong kiến, hay của xã hội tư bản hiện đại.

    Giai cấp là kinh tế – xã hội có tính lịch sử chứ không phải là phạm trù xã hội thông thường.

    Giai cấp không phải là sản phẩm của sản xuất nói chung mà là sản phẩm của những hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử. Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bản chất, là thể thống nhất của các .

    Do đó, ta không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếu không đặt nó trong hệ thống, tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó.

    Ví dụ: Ta không thể hiểu giai cấp tư sản là gì nếu không xem xét trong mối quan hệ của nó với giai cấp vô sản, và ngược lại.

    Nói dễ hiểu là, khi ta đề cập đến giai cấp tư sản thì bắt buộc phải đề cập ít nhiều đến giai cấp vô sản, và ngược lại.

    2. Đặc trưng chung nhất của giai cấp là tồn tại sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế – xã hội nhất định, cụ thể hơn là tồn tại quan hệ thống trị – bị trị trong hệ thống đó.

    Những tập đoàn người trong một phương thức sản xuất nhất định là các giai cấp khi họ có những sự khác nhau như sau:

    Đây là sự khác nhau cơ bản nhất. Chủ nô (trong chế độ nô lệ), địa chủ (trong chế độ phong kiến), tư sản (trong chế độ tư bản) là những tập đoàn người giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu trước hết do các tập đoàn người này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội. Tức là họ nắm được phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng để chi phối lao động của các tập đoàn người không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất.

    Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất (nô lệ, nông nô (hay tá điền), vô sản trong các xã hội tương ứng) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trị.

    Tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sản xuất và lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế.

    Ví dụ: Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, vai trò, chức năng quản lý công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải thuộc về các nhà tư bản.

    Các giai cấp lao động là những tập đoàn người trực tiếp sản xuất dưới sự điều khiển của giai cấp thống trị trong phương thức sản xuất.

    Ở một số nước, trong nhiều công ty, xí nghiệp, công nhân có đại diện ở hội đồng quản trị, song vai trò quản lý thực chất vẫn thuộc về các tập đoàn tư bản.

    Là người chiếm hữu tư liệu sản xuất và tổ chức lãnh đạo sản xuất, tập đoàn thống trị đủ điều kiện thực hiện mục đích của mình trong sản xuất kinh tế là chiếm đoạt lao động thặng dư của các giai cấp lao động.

    Chế độ phân phối trong các xã hội có đối kháng giai cấp là chế độ phân phối bất công vì nó củng cố cho giai cấp thống trị (thiểu số, không trực tiếp lao động, sản xuất) chiếm hữu phần lớn của cải xã hội. Còn giai cấp lao động (đa số, trực tiếp lao động, sản xuất) chỉ được nhận ít ỏi của cải xã hội, không ít khi là chỉ được nhận phần tối thiểu duy trì cuộc sống.

    Trong xã hội nô lệ, những người nô lệ sống không khác gì súc vật. Trong xã hội phong kiến, phần lớn sản phẩm của nông nô và nông dân làm ra phải cống nạp cho địa chủ, vua quan, thậm chí có trường hợp đến 80% – 90% sản phẩm.

    Giai cấp tư sản, nhất là đại tư sản, chiếm hữu của cải xã hội dưới hình thức thu lợi nhuận, tính bằng giá trị. Đó là giá trị thặng dư do lao động làm thuê tạo ra. Trong nền sản xuất hiện đại, bộ phận lao động làm thuê có trình độ khoa học kỹ thuật cao tạo ra nhiều giá trị thặng dư nhất cho giới chủ tư sản. Giai cấp công nhân và nhữn trí thức làm thuê nhận được một sản phẩm lao động của mình dưới hình thức tiền lương. Đó là tiền bán sức lao động.

    Tuy nhiên, sự nâng cao mức sống của công nhân hoàn toàn không tương xứng với sự tăng lên nhanh chóng của năng suất lao động. Tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư của giai cấp tư sản vẫn không ngừng tăng lên. Trong các xã hội có giai cấp, mức sống của người lao động thay đổi theo những điều kiện cụ thể, song điều không thay đổi là họ phải cống nạp phần lớn kết quả lao động của mình cho giai cấp thống trị dưới nhiều hình thức. Ngày nay, tài sản của một nhà tư bản có thể nhiều bằng tiền lương cả cuộc đời của hàng trăm, hàng ngàn công nhân.

    KIẾN THỨC MỞ RỘNG CHO PHẦN “I. Giai cấp là gì?…”:

    Trong các xã hội có giai cấp, bên cạnh giai cấp thống trị và bị trị bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp “trung gian”, không chiếm địa vị cơ bản trong phương thức sản xuất. Ví dụ: tầng lớp trí thức.

    Các tầng lớp trung gian luôn bị phân hóa, một số người leo lên địa vị giai cấp trên, số khác rơi xuống địa vị giai cấp bị trị. Ở những nước tư bản phát triển, bộ phận công nhân “cổ trắng” (tức trí thức) phát triển nhanh chóng, song về bản chất họ vẫn là công nhân làm thuê.

    Trong giai cấp công nhân, số lượng công nhân kỹ thuật cao, lao động trí tuệ hóa ngày càng tăng, trở thành bộ phận tiêu biểu của giai cấp công nhân hiện đại; số lượng công nhân “áo xanh” truyền thống ngày càng giảm. Tham gia vào đội ngũ giai cấp công nhân hiện đại còn có một bộ phận trí thức kỹ thuật làm công ăn lương.

    Ngày nay, ta thấy một bộ phận nhỏ công nhân được mua cố phiếu, được phân chia lợi nhuận, song giá trị cổ phiếu trong tay công nhân chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Sự phát triển của các công ty cổ phần biểu hiện xu thế xã hội hóa tư bản, nhưng xu thế này không làm thay đổi bản chất của giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, không làm thay đổi bản chất quan hệ giữa tư bản và lao động.

    Đối với giai cấp tư sản hiện đại cũng diễn ra những biến đổi về hình thức chiếm hữu tư liệu sản xuất, về cơ chế bóc lột giá trị thặng dư, về phương thức tổ chức quản lý sản xuất. Điều không thay đổi là giai cấp tư sản vẫn là những người chiếm hữu tư liệu sản xuất của xã hội, những người chỉ huy sản xuất, những người chiếm hữu giá trị thặng dư. Không lý thuyết xã hội nào bác bỏ được điều này.

    II. Nguồn gốc, điều kiện tồn tại của giai cấp là gì?

    Xã hội loài người không phải bao giờ cũng tồn tại các giai cấp. Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định của . C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trên cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu của các nhà sử học, xã hội học đi trước, và bằng quan điểm duy vật lịch sử đã chứng minh rằng:

    Sự phát triển không ngừng của , trước hết là công cụ lao động, tạo ra và tiền đề phân hóa xã hội thành giai cấp. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp. Và như vậy, nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp, cũng như nguyên nhân của sự ra đời và mất đi của một hệ thống giai cấp nhất định, là nguyên nhân kinh tế, chứ không phải nguyên nhân chính trị hay tư tưởng.

    1. Nguồn gốc của giai cấp được luận giải như sau:

    – Trong xã hội nguyên thủy, lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động chỉ bằng đá, gậy gộc, cung tên… Do đó, hầu hết các thành viên trong cộng đồng phải liên kết với nhau thì mới tổ chức lao động và sinh sống được, bởi nếu riêng rẽ theo từng cá nhân, từng gia đình thì không thể săn bắn, hái lượm do nguy cơ thú dữ đe dọa. Đồng thời, sản phẩm làm ra còn ít ỏi, chỉ đủ để tồn tại, duy trì nòi giống, chưa có sản phẩm dư thừa tương đối.

    – Cuối xã hội nguyên thủy, việc sử dụng phổ biến công cụ lao động bằng kim loại (hơn hẳn đá, gỗ…) làm cho năng suất lao động tăng lên, giúp con người có thể sản xuất số lượng sản phẩm vượt hơn nhu cầu tối thiểu để tồn tại. Điều này tạo khả năng thực tế cho người này chiếm đoạt sản phẩm lao động thuộc số vượt hơn đó của người khác.

    Với công cụ sản xuất mới, sản xuất cá thể từng ra đình có hiểu quả hơn sản xuất tập thể nguyên thủy. Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến sự phân công lao động lớn hơn: Thủ công nghiệp (nghề làm gốm, đan lát…) tách khỏi nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi).

    Trao đổi sản phẩm trở thành thường xuyên, phổ biến. Quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thủy không còn phù hợp với lực lượng sản xuất mới. Các gia đình có tài sản riêng ngày càng nhiều và trong công xã xuất hiện sự chênh lệch về tài sản.

    Khi các hộ gia đình có nhiều tài sản, chế độ tư hữu dần dần thay thế cho chế độ công hữu nguyên thủy về tư liệu sản xuất.

    Trong những điều kiện ấy, những người có quyền lực trong thị tộc, bộ lạc (như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự…) có thể lợi dụng địa vị của mình để chiếm đoạt tài sản chung của công xã làm của riêng. Đồng thời, do có sản phẩm dư thừa để nuôi tù binh chiến tranh nên họ không phải giết hết tù binh mà bắt một bộ phận tù binh làm nô lệ.

    Đến đây, giai cấp xuất hiện như là một sự kiện tất yếu trong lịch sử.

    – Các cuộc chiến tranh, những thủ đoạn cướp bóc, những hành vi bạo lực… là những yếu tố xúc tác góp phần đẩy nhanh quá trình phân hóa giai cấp. Sự ra đời cũng như sự mất đi của xã hội có giai cấp, sự xuất hiện và mất đi của những giai cấp cụ thể đều dựa trên tính tất yếu kinh tế.

    Xã hội nô lệ là xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người. Trong quá trình phát triển của xã hội nô lệ xuất hiện những điều kiện để một bộ phận thoát ly lao động chân tay, chuyên hoạt động quản lý, làm chính trị, khoa học nghệ thuật. Đồng thời cũng xuất hiện sự tách rời và đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn.

    Theo tiến trình của lịch sử, xã hội phong kiến thay xã hội nô lệ, xã hội tư bản thay xã hội phong kiến… trở thành xã hội có giai cấp ở trình độ cao hơn.

    2. Điều kiện tồn tại (và mất đi) của giai cấp được luận giải như sau:

    – Chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp tồn tại một cách tất yếu suốt quá trình lịch sử nhiều nghìn năm trong điều kiện cơ bản là: Lực lượng sản xuất đã phát triển tới mức tạo ra được sản phẩm thặng dư, nhưng chưa đạt tới mức có thể bảo đảm thỏa mãn nhu cầu hợp lý của con người.

    Và theo lô-gíc đó, sự phát triển đầy đủ của những lực lượng sản xuất hiện đại tới mức bảo đảm thỏa mãn nhu cầu hợp lý của con người sẽ xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp.

    Sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất, đến một mức độ nhất định, sẽ làm cho sự phân chia giai cấp mất đi tính tất yếu. Tuy nhiên, sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất chỉ là điều kiện cơ bản, nhưng không phải là duy nhất để thực hiện xã hội không giai cấp. Cần thiết phải có thêm những điều kiện kinh tế – xã hội khác, đặc biệt là sự phát triển cao và toàn diện của con người.

    Các giai cấp không tự động mất đi. Do đó, giai cấp công nhân, nhân dân lao động phải tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp tự giác, có tổ chức, tiến tới giành lấy dân chủ, thiết lập chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dựa vào công cụ chính quyền đó để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn giai cấp.

    Mỗi kết cấu xã hội – giai cấp của một xã hội nhất định gồm hai giai cấp cơ bản đối lập nhau. Đó là chủ nô và nô lệ trong chế độ nô lệ. Là địa chủ và nông nô trong chế độ phong kiến. Là tư sản và vô sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa.

    Hai giai cấp cơ bản của mỗi chế độ kinh tế – xã hội là sản phẩm đích thực của chế độ kinh tế – xã hội đó, đồng thời là những giai cấp quyết định sự tồn tại, phát triển của hệ thống sản xuất trong xã hội đó. Giai cấp thống trị là giai cấp tiêu biểu cho bản chất của chế độ kinh tế – xã hội đang tồn tại.

    Đó là những nhóm người là tàn dư của xã hội cũ (như nô lệ trong buổi đầu của xã hội phong kiến, địa chủ và nông nô trong buổi đầu của xã hội tư bản…), hoặc là mầm mống của phương thức sản xuất tương lai (như giai cấp tư sản và giai cấp công nhân công trường thủ công trong giai đoạn cuối của xã hội phong kiến).

    Bất cứ xã hội có giai cấp nào cũng có một số tầng lớp trung gian là sản phẩm của chính phương thức sản xuất đang thống trị, là kết quả của quá trình phân hóa xã hội không ngừng diễn ra. Đó là tầng lớp bình dân trong xã hội nô lệ, các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn trong xã hội tư bản.

    Xã hội có giai cấp nào cũng tồn tại một tầng lớp xã hội có vai trò quan trọng về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, đó là tầng lớp trí thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Giá Trị Của Triết Học
  • Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Thuyết Về Chính Đảng Kiểu Mới Của Giai Cấp Công Nhân Của V.i.lênin
  • Khái Niệm Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Luận Văn Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Tài Liệu Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giai Cấp Công Nhân, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Hãy Giải Thích Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Bài Văn Mẫu Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Đề Bài Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Hãy Giải Thích ý Nghĩa Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Em Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mẫu Đơn Xin Đi Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân , Dong Chi Hay Phan Tich Cac Giai Doan Phat Trien Chu Nghia Cong San Nhu The Nao, Định Nghĩa Hôn Nhân, Định Nghĩa Pháp Nhân, Định Nghĩa Danh Nhân, Định Nghĩa Bảo Hiểm Nhân Thọ, Định Nghĩa Phép Nhân, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Trong Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Hồ Sơ Công Nhận Cán Bộ Tiền Khởi Nghĩa, Chủ Nghĩa Mác Và Phong Trào Công Nhân, ý Nghĩa Điều Lệnh Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Du Lịch Của Trần Nhạn, Phân Tích ý Nghĩa Sáu Điều Bác Hồ Dạy Công An Nhân Dân, Quy Định Nghĩa Vụ Công An, Định Nghĩa Công Cơ Học, Định Nghĩa Công, Bản Kiểm Điểm Cuối Năm Chiến Sĩ Nghĩa Vụ Trong Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Công Suất, Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Công Suất Điện, Nhận Định Nào Sau Đây Phản ánh ý Nghĩa Lịch Sử Của Cuộc Kháng Chiến Chống , Nhận Định Nào Sau Đây Về Thời Cơ Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám Không Đúng, Xu Thế Biến Đổi Của Giai Câp Công Nhân, Định Nghĩa Nơi Công Cộng, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Bài Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân, Nghị Quyết Số 20 Về Giai Cấp Công Nhân, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Công Nghệ Thông Tin, Định Nghĩa Công Trong Trường Hợp Tổng Quát, Cơ Cấu Xã Hội Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp Tầng Lớp Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Đảng Lãnh Đạo Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Độc Lập Dan Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội Giai Đoạn 19, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Thong Tu Quy Dinh Ve Nhan Xet Dánh Giá Xep Loai Cán Bộ Trong Công An Nhân Dân, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Giai Cấp Công Nhân Phát Huy Sức Mạnh Toàn Dân Tộc, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Ngày Nay, Học Thuyết Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Thong Tu So 30.2019 Ngay 05/9/2019 Bo Cong An Quy Dinh Ve Nhan Xet Danh Gia Can Bo Cong An Nhan Dan, Quyết Định 1319 Năm 2022 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2022 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Hãy Phân Tích Định Nghĩa Của Dự án Thông Qua Một Dự án Công Trình Xây Dựng Cụ Thể, Tiểu Luận Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Tuyển Dụng Nhân Lực, Bài Tiểu Luận Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, Quyết Định Công Nhận Ban Thanh Tra Nhân Dân, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Tiểu Luận Sứ Mệnh Lịch Sử Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Quyết Định Giải Thể Công Ty, Thông Tư Quy Định Về Công Tác Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước Trong Công An Nhân Dân, Bai Tham Luan Ve Cong Tac Tiep Nhận Và Giải Quyết Các Thủ Tục Hành Chính, Quy Định 72 Về Công Tác Đảng Trong Công An Nhân Dân, Giải Pháp Nâng Cao ý Thức Chấp Hành Điều Lệnh Công An Nhân Dân, Luận Văn Thạc Sĩ Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Nguồn Nhân L, Quy Định Về Thành Lập, Tổ Chức Lại, Giải Thể Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập, Luận Văn – Đề án ‘Đề Tài “hoạt Động Công Chứng Của Nhân Dân Địa Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp”, Lý Luận Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và ý Nghĩa Trong Việc Hình Thành Cộng Đồng Asean, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Uyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ngh, Uyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ngh, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Quyết Định 2677/qĐ-bqp Phê Duyệt Đề án “Đổi Mới Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tại Đơn Vị Trong Giai Đo, Quyết Định 2677/qĐ-bqp Phê Duyệt Đề án “Đổi Mới Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tại Đơn Vị Trong Giai Đo, Thảo Luận, Nhấn Mạnh, Làm Rõ Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế; Tập Trung Nội Dun, Thảo Luận, Nhấn Mạnh, Làm Rõ Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế; Tập Trung Nội Dun, Công Văn Chỉ Định Nhân Sự, Quy Định 72 Cua Bch Tw Về Công An Nhan Dan, Định Mức Nhân Công, Hồ Sơ Công Nhận Gia Đình Văn Hóa, Tiểu Luận Những Điều Kiện Quy Định Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhâ, Thông Tư Xác Định Đơn Giá Nhân Công, Hoạch Định Nhân Lực Tại Công Ty, Định Biên Nhân Sự Công Ty, Quyết Định Sa Thải Công Nhân, Hoạch Định Nguồn Nhân Lực Của Các Công Ty It, Hoạch Định Nguồn Nhân Lực Của Công Ty Fpt,

    Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giai Cấp Công Nhân, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Hãy Giải Thích Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Bài Văn Mẫu Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Đề Bài Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Hãy Giải Thích ý Nghĩa Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Em Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mẫu Đơn Xin Đi Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân , Dong Chi Hay Phan Tich Cac Giai Doan Phat Trien Chu Nghia Cong San Nhu The Nao, Định Nghĩa Hôn Nhân, Định Nghĩa Pháp Nhân, Định Nghĩa Danh Nhân, Định Nghĩa Bảo Hiểm Nhân Thọ, Định Nghĩa Phép Nhân, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Trong Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Hồ Sơ Công Nhận Cán Bộ Tiền Khởi Nghĩa, Chủ Nghĩa Mác Và Phong Trào Công Nhân, ý Nghĩa Điều Lệnh Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Du Lịch Của Trần Nhạn, Phân Tích ý Nghĩa Sáu Điều Bác Hồ Dạy Công An Nhân Dân, Quy Định Nghĩa Vụ Công An, Định Nghĩa Công Cơ Học, Định Nghĩa Công, Bản Kiểm Điểm Cuối Năm Chiến Sĩ Nghĩa Vụ Trong Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Công Suất, Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Công Suất Điện, Nhận Định Nào Sau Đây Phản ánh ý Nghĩa Lịch Sử Của Cuộc Kháng Chiến Chống , Nhận Định Nào Sau Đây Về Thời Cơ Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám Không Đúng, Xu Thế Biến Đổi Của Giai Câp Công Nhân, Định Nghĩa Nơi Công Cộng, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Bài Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân, Nghị Quyết Số 20 Về Giai Cấp Công Nhân, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Công Nghệ Thông Tin, Định Nghĩa Công Trong Trường Hợp Tổng Quát,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mot So Dinh Nghia Ve Giai Cap Congmotsodinhnghiavegiaicapcongnhan Doc
  • Năm Xu Hướng Biến Động Của Giai Cấp Công Nhân Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Sự Hình Thành Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Về Bản Chất Của Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Nhà Nước Ta
  • Giai Cấp Và Đấu Tranh Giai Cấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Luận Của C. Mác Về Đấu Tranh Giai Cấp Và Ý Nghĩa Của Nó Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đấu Tranh Giai Cấp Và Cách Mạng Xã Hội
  • Triết Học Giáo Dục Phương Tây Hiện Đại
  • Triết Học Giáo Dục (Kỳ 1): Thuật Ngữ Và Khái Niệm
  • Triết Học Giáo Dục (Kỳ 2): Tổng Quan
  • Xã hội tồn tại và phát triển được là nhờ vào sự tồn tại của con người và quan hệ giữa con người với nhau. Chính những hình thức quan hệ giữa người với người đã tạo ra hình thức cộng đồng người khác nhau. Sự biến đổi từ hình thức thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc đã phản ánh sự phát triển của xã hội.

    Thị tộc

    Thị tộc là hình thức cộng đồng đầu tiên, đồng thời là một tổ chức xã hội đầu tiên của con người. Theo Ăng ghen, thị tộc là một thiết chế chung cho tất cả dân dã man, cho đến khi họ bước vào thời đại văn minh, và thậm chí còn sau hơn nữa.

    Thị tộc gồm khoảng vài trăm người. Do trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, nguồn sống chủ yếu dựa vào chăn nuôi và trồng trọt, nên vai trò của người phụ nữ đặc biệt quan trọng. Chế độ quần hôn thời kỳ đầu và địa vị độc tôn của người phụ nữ là cơ sở hình thành hình thức thị tộc mẫu quyền đầu tiên trong lịch sử. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đẩy vai trò của người phụ nữ khỏi vị trí độc tôn, người đàn ông dần chiếm vị trí lớn nhất trong thị tộc. Hình thức thị tộc mẫu quyền được thay thế bằng hình thức thị tộc phụ quyền. Thị tộc là hình thức cộng đồng đầu tiên trong lịch sử.

    Thị tộc có đặc trưng chung về huyết thống, các thành viên trong thị tộc đều có chung một tổ tiên sinh ra. Ngoài ra, cộng đồng thị tộc có những mối liên hệ cộng đồng sau đây:

    + Các thành viên cộng đồng có chung một tiếng nói (mặc dù ngôn ngữ thị tộc còn rất đơn giản).

    + Mỗi thị tộc có những tập tục, tập quán, nghi thức tín ngưỡng riêng của mình. Có yếu tố văn hoá nguyên thuỷ mang sắc thái riêng của cộng đồng.

    + Mỗi thị tộc có khu vực cư trú riêng, vùng săn bắt và tên gọi riêng.

    + Cơ sở kinh tế của thị tộc là quyền sở hữu chung về tư liệu sản xuất và tài sản. Họ cùng lao động và cùng hưởng thụ một cách bình đẳng.

    Tổ chức xã hội: Lãnh đạo thị tộc là một hội đồng thị tộc đứng đầu là tộc trưởng được mọi người bầu ra. Việc quản lý điều hành của thị tộc dựa trên nghị quyết của hội nghị thị tộc. Tộc trưởng được các thành viên tôn kính và chấp hành sự điều khiển của tộc trưởng một cách tự nhiên.

    Bộ lạc

    Bộ lạc được hình thành từ nhiều thị tộc có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau. Trong bộ lạc có một thị tộc gốc tạo thành bộ lạc được gọi là bào tộc. Bộ tộc đã có sự phát triển về số lượng so với thị tộc, có bộ tộc đông đến hàng vạn người.

    Bộ lạc có những đặc trưng cơ bản sau:

    Mỗi bộ lạc cũng có tên gọi riêng, có cùng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hoá, tín ngưỡng (Những yếu tố trên phong phú, đa dạng hơn so với thị tộc). Mặc dù chưa có sự ổn định thực sự nhưng việc xác lập chủ quyền về mặt lãnh thổ là đặc trưng mới của bộ lạc so với thị tộc. Bộ lạc cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ.

    Về hình thức sở hữu cũng có sự phát triển. Ngoài sở hữu riêng của mỗi thị tộc, bộ lạc còn có những hình thức sở hữu khác như: vùng lãnh thổ, nơi trồng trọt, săn bắn, chăn nuôi…

    Về hình thức xã hội: Đứng đầu bộ lạc là hội đồng các tộc trưởng của các thị tộc trong bộ lạc. Các vấn đề về quản lý và điều hành bộ lạc là do hội đồng các tộc trưởng và thủ lĩnh quân sự quyết định… Trong bộ lạc có một thủ lĩnh tối cao, nhưng quyền hành rất hạn chế. Bộ lạc phát triển tới hình thức cao nhất là liên minh các bộ lạc.

    Khi loài người tồn tại trong xã hội nguyên thuỷ, thì bộ lạc là hình thức tốt nhất để phát triển sản xuất. Chính trong thời kỳ này đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất: với việc xuất hiện công cụ lao động bằng kim loại, năng suất lao động tăng lên dẫn đến hình thức phân công lao động xã hội đầu tiên giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp…Đó là một trong những tiền đề xuất hiện sở hữu tư nhân, sự bất bình đẳng về tài sản, sự phân chia giai cấp trong xã hội. Điều đó đưa xã hội công xã nguyên thuỷ đến chỗ tan rã thay vào đó là một xã hội có giai cấp. Sự thay đổi của hình thái kinh tế – xã hội nói trên đã đưa hình thức cộng đồng người đến chỗ thay đổi: từ bộ lạc chuyển lên hình thái cộng đồng bộ tộc.

    Bộ tộc

    Bộ tộc là cộng đồng người đông đảo hơn bộ lạc. Đây là cộng đồng dân cư được hình thành từ sự liên kết của nhiều bộ lạc và liên minh các bộ lạc trên cùng một vùng lãnh thổ nhất định. Từ sự liên kết, liên minh giữa các bộ lạc mà làm cho bộ tộc không còn đơn thuần là cộng đồng người có cùng huyết thống. Ăng ghen đã chỉ rõ: “Do việc mua bán ruộng đất, do sự phát triển hơn nữa của sự phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa thương nghiệp và hàng hải, và những thành viên của các thị tộc, bào tộc và bộ lạc chẳng bao lâu đã phải sống lẫn lộn với nhau, và lãnh thổ của bào tộc và của bộ lạc đã phải thu nhận những người tuy là đồng bào nhưng lại không thuộc các tập đoàn ấy, tức là những người lạ xét về nơi ở”.

    Như vậy, khác với bộ lạc và thị tộc, bộ tộc có vùng lãnh thổ tương đối ổn định, dân cư đa dạng, sống xen kẽ, đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Trong đó ngôn ngữ của bộ lạc nào chiếm vị trí trung tâm của sự giao lưu và phát triển kinh tế sẽ trở thành ngôn ngữ chung của cả bộ tộc. Tuy nhiên, mỗi bộ tộc cũng có tên gọi riêng, đặc điểm về kinh tế và văn hoá riêng.

    Xét trong tiến trình lịch sử nhân loại thời kỳ hình thành bộ tộc là mốc đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của xã hội công xã nguyên thuỷ. Sở hữu tập thể của thị tộc, bộ lạc được thay thế bằng hình thức sở hữu tư nhân và chế độ tư hữu, xã hội có giai cấp xuất hiện. Khi đó xuất hiện tổ chức chính trị – xã hội trong xã hội có giai cấp là nhà nước.

    Tuy nhiên, phạm vi thống trị của nhà nước có thể không trùng với bộ tộc. Có nhà nước một bộ tộc, có nhà nước nhiều bộ tộc, sắc tộc.

    Sự xuất hiện của nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… thúc đẩy quá trình thống nhất về kinh tế và văn hoá, mở rộng giao lưu giữa các bộ tộc…Sự phát triển mới về kinh tế, văn hoá, xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo những nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành một cộng đồng người mới cao hơn bộ tộc, đó là dân tộc.

    Dân tộc

    Khi sử dụng khái niệm dân tộc cần có sự lưu ý: ở Việt Nam, khái niệm dân tộc thường được dũng để chỉ tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc), như vậy “dân tộc” được dùng theo nghĩa rộng.

    Các “dân tộc” ở đây theo nghĩa khoa học: nó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng người trước đó, thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

    Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có các thể chế chính trị và nhà nước. Sự hình thành dân tộc rất đa dạng: có dân tộc được hình thành từ một bộ tộc phát triển lên, nhưng đa số dân tộc được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại. Việc hình thành dân tộc từ các hình thức cộng đồng người trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình có tính chất liên tục vừa là bước nhảy vọt.

    Dân tộc khác với bộ tộc ở chỗ: nếu trong bộ tộc các cộng đồng dân cư liên kết với nhau nhưng dựa trên những nguyên tắc pháp lý chưa thực sự là cộng đồng dân cư ổn định và bền vững thì ngược lại dân tộc là một cộng đồng dân cư ổn định và tương đối bền vững có tính thống nhất cao, dựa trên những nguyên tắc pháp lý. Những mối liên hệ đó được dựa trên một cơ sở mới, đó là mối liên hệ kinh tế trong một trị trường thống nhất, rộng lớn: trị trường dân tộc. Sự thống nhất về kinh tế của dân tộc được củng cố bằng thiết chế chính trị mới đó là các nhà nước tập quyền.

    Dân tộc là một cộng đồng người có những đặc điểm chung thống nhất sau đây:

    Một là, cộng đồng về kinh tế.

    Từ cộng đồng thị tộc chuyển lên bộ lạc rồi bộ tộc, quá trình đó làm cho yếu tố liên kết cộng đồng dựa trên quan hệ huyết thống dần dần bị suy giảm, vai trò của yếu tố kinh tế ngày càng tăng lên. Với dân tộc, cộng đồng chung về kinh tế là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và thống nhất của mỗi quốc gia dân tộc. Các Mác và Ăng ghen đã chứng minh rằng: kinh tế chính trị là yếu tố trở thành động lực gắn kết các dân tộc thành một nước, một quốc gia thống nhất. Sự tương đồng về mặt lợi ích sẽ là điểm chung cho quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Lịch sử phát triển của các dân tộc cho thấy, sự tương đồng và phù hợp với lợi ích càng lớn, tính thống nhất của dân tộc càng cao, sự đối lập về lợi ích giữa các bộ tộc dân tộc càng cao, nguy cơ tan rã dân tộc càng lớn.

    Tính thống nhất, tương đồng và ổn định về kinh tế là yếu tố gia tăng quan hệ về ngôn ngữ, lãnh thổ, văn hoá, tâm lý, tính cách, nó là nhân tố đảm bảo cho sự thống nhất của mỗi quốc gia, dân tộc.

    Thứ hai, cộng đồng về lãnh thổ.

    Mỗi dân tộc sinh sống trên một vùng lãnh thổ riêng, đó là biểu hiện cụ thể về mặt chủ quyền của một dân tộc trong mối quan hệ với các quốc gia, dân tộc khác. Khái niệm lãnh thổ bao gồm cả vùng đất, vùng biển hải đảo, vùng trời thuộc chủ quyền của quốc dân tộc.

    Với mỗi quốc gia nhiều dân tộc thì lãnh thổ quốc gia gồm lãnh thổ của tất cả các dân tộc thuộc quốc gia đó hợp thành. Chủ quyền quốc gia dân tộc thuộc về lãnh thổ là kết quả lao động, xây dựng của cả một dân tộc trong quá trình lịch sử lâu dài. Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ không thể chia cắt, nó được thể chế hóa luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

    Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng quan trọng của dân tộc. Lãnh thổ là địa bàn sinh sống và phát triển của dân tộc, nó là nền tảng hình thành nên Tổ quốc của mỗi quốc gia, dân tộc.

    Thứ ba, cộng đồng về ngôn ngữ.

    Ngôn ngữ là công cụ, phương tiện quan trọng nhất trong giao tiếp trong cộng đồng (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Mỗi một dân tộc có một ngôn ngữ riêng của dân tộc mình (có thể cả chữ viết và tiếng nói) để giao tiếp trong dân tộc. Nhưng trong một quốc gia có nhiều dân tộc phải có ngôn ngữ chung thống nhất. Ngôn ngữ được chọn làm ngôn ngữ thống nhất thường là sản phẩm và là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lâu dài về kinh tế – xã hội của các dân tộc trong quốc gia. Ngôn ngữ chung của một dân tộc (tiếng mẹ đẻ) là đặc trưng bản chất và là nhân tố kết nối các dân tộc thành một quốc gia có chủ quyền. Ngôn ngữ dân tộc là cơ sở, nền tảng của văn hóa là di sản tinh thần của mỗi dân tộc.

    Thứ tư, cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách.

    Văn hoá là yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng. Văn hóa dân tộc mang nhiều sắc thái của văn hóa các địa phương, các sắc tộc, các tập đoàn người trên cùng một vùng lãnh thổ. Đặc trưng chung của văn hóa dân tộc là sự thống nhất trong tính đa dạng. Văn hoá dân tộc hình thành trong suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, nó được kế thừa chắt lọc qua mỗi giai đoạn lịch sử. Trong quá trình phát triển của dân tộc, các thành viên của dân tộc một mặt giữ gìn, phát huy bản sắc riêng của dân tộc, một mặt tiếp thu các giá trị văn hóa và tham gia vào quá trình sáng tạo ra giá trị văn hóa chung của dân tộc.

    Trong xã hội có giai cấp, do điều kiện sống khác nhau nên giai cấp thống trị và giai cấp bị trị có quan niệm khác nhau về văn hóa, giá trị văn hóa tạo nên các yếu tố văn hóa khác nhau, song vẫn bị chi phối bởi những yếu tố văn hóa chung của cả cộng đồng.

    Giao lưu văn hóa, chính là quá trình các dân tộc tự thể hiện mình, tự bảo vệ mình trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc.

    Trên điều kiện sinh hoạt vật chất điều kiện địa lý, dân cư trên nền tảng văn hóa dân tộc mà mỗi dân tộc có tâm lý lối sống và nét tính cách riêng. Nó là nét đặc thù không trộn lẫn của một dân tộc.

    Như vậy, bốn đặc trưng: cộng đồng về kinh tế, cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng về ngôn ngữ về văn hóa, tâm lý, tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu được của mỗi dân tộc. Tuy nhiên, dân tộc không phải là phép cộng giản đơn của bốn đặc trưng – bốn mối quan hệ cộng đồng trên mà chính là kết hợp một cách biện chứng các mối quan hệ ấy. Nó vừa kết nối dân tộc thành một khối vừa tạo ra động lực để liên kết và phát triển cho mỗi quốc gia dân tộc. Các Mác và Ăng ghen tập trung chú ý vào sự hình thành các quốc gia dân tộc ở châu Âu, vì đó là quá trình điển hình. Hai ông đã chỉ rõ quá trình hình thành dân tộc hiện đại thường gắn với quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản.

    Để hiểu khái niệm dân tộc một cách đầy đủ, cũng cần nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển dân tộc không gắn liền với chủ nghĩa tư bản như sự hình thành dân tộc Việt Nam, Triều Tiên. Ở Việt Nam, dân tộc được hình thành sớm hơn do điều kiện chống xâm lược và chống thiên nhiên.

    Hình thức cộng đồng có vai trò to lớn đối với sự phát triển con người và xã hội. Dân tộc không chỉ là sản phẩm của sự phát triển kinh tế văn hóa, mà còn là động lực cho sự phát triển. Trong tương lai của loài người, dân tộc sẽ tồn tại lâu dài ngay cả khi các giai cấp đã mất đi. Do vậy, đấu tranh chống lại sự nô dịch và áp bức dân tộc chính là đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ chung của nhân loại.

    Quan hệ giai cấp – dân tộc

    Sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ giai cấp – dân tộc.

    Giai cấp và dân tộc có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhưng đó là những phạm trù chỉ các quan hệ xã hội khác nhau, mỗi nhân tố có vai trò lịch sử của nó, dân tộc – giai cấp không thể thay thế lẫn nhau.

    Tách rời giai cấp và dân tộc hoặc đem qui mối quan hệ này vào mối quan hệ kia sẽ là sai lầm. Giai cấp và dân tộc sinh ra, mất đi không đồng thời. Trong lịch sử loài người, giai cấp ra đời trước dân tộc hàng ngàn năm, nhưng khi giai cấp mất đi dân tộc vẫn tồn tại lâu dài. Quan hệ giai cấp – với tư cách là sản phẩm trực tiếp của phương thức sản xuất trong xã hội có giai cấp – là nhân tố xét đến cùng quyết định đối với sự hình thành dân tộc tư bản, xu hướng phát triển dân tộc, quyết định bản chất xã hội của dân tộc, qui định tính chất của các quan hệ giữa các dân tộc.

    Biểu hiện rõ nhất là từ sự xuất hiện của giai cấp tư sản, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dẫn tới sự xuất hiện của các dân tộc hiện đại. Với sự hình thành một số dân tộc ở phương Đông diễn ra trước chủ nghĩa tư bản thì vai trò này thuộc về tập đoàn xã hội đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đương thời – đó là tập đoàn phong kiến tiến bộ.

    Bản chất xã hội của dân tộc được qui định bởi phương thức sản xuất thống trị trong dân tộc, bởi quan hệ giai cấp trong phương thức sản xuất đó.

    Mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử, giai cấp nào gắn với phương thức sản xuất thống trị, giai cấp đó trở thành lực lượng tiêu biểu và lãnh đạo dân tộc. Giai cấp đứng đầu sẽ hướng dân tộc phát triển theo mẫu hình của nó. Giai cấp đó bằng mọi biện pháp quyết định hình thức phát triển của dân tộc. Hoạt động của giai cấp đó cũng ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển của dân tộc. Tuy nhiên giải quyết quan hệ giữa lợi ích của dân tộc cũng rất phức tạp. Trong các xã hội và các phương thức sản xuất tồn tại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích của dân tộc. Không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau, thậm chí trái ngược nhau và đối lập với lợi ích dân tộc. Vì lợi ích giai cấp, trong nhiều trường hợp giai cấp thống trị bán rẻ lợi ích dân tộc. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, phương thức sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, khi ấy lợi ích của giai cấp công nhân về cơ bản phù hợp với lợi ích của cả cộng đồng dân tộc. Đương nhiên sự phù hợp đó phải thể hiện thông qua quá trình giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn.

    Khi nhấn mạnh vài trò của nhân tố giai cấp, chủ nghĩa Mác – Lênin không hạ thấp vai trò của nhân tố dân tộc trong quan hệ giai cấp – dân tộc. Trong sự phát triển lịch sử, vấn đề dân tộc là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của cách mạng vô sản. Muốn nhận thức và giải quyết tốt vấn đề dân tộc “phải có quan điểm của giai cấp công nhân, đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mang tính quốc tế. Đoàn kết quốc tế là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng người lao động. Chính vì vây, Các Mác và Ăngghen đã thường xuyên nhấn mạnh vấn đề này.

    Giai cấp công nhân các nước, đặc biệt là các nước tư bản lớn phải thoát khỏi thiện kiến của chủ nghĩa dân tộc tư sản.

    Các Đảng của giai cấp công nhân phải thường xuyên giáo dục chủ nghĩa quốc tế chân chính cho quần chúng nhân dân, nhưng không được quên rằng cuộc đấu tranh giải phóng họ có tính chất dân tộc.

    Dân tộc là địa bàn trực tiếp của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. Mỗi dân tộc có nhiều giai cấp, cùng tồn tại và phát triển. Do đó “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.1

    Nếu như áp bức giai cấp là nguyên nhân sâu xa của áp bức dân tộc thì áp bức dân tộc tác động mạnh mẽ trở lại áp bức giai cấp. Áp bức dân tộc nuôi dưỡng áp bức giai cấp và làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp. Đấu tranh giai cấp tác động vào đấu tranh dân tộc. Đấu tranh dân tộc tác động vào đấu tranh giai cấp. Nếu dân tộc chưa có độc lập thống nhất, thì giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới muốn trở thành “giai cấp dân tộc” phải đi đầu trong cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ đầu tiên là khôi phục độc lập dân tộc.

    Ngày nay, chừng nào trong xã hội còn đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp, vấn đề quan hệ, giai cấp và dân tộc được giải quyết trên lập trường giai cấp nhất định.

    Quan hệ giữa giai cấp và nhân loại

    Khái niệm: Nhân loại chỉ toàn thể cộng đồng người sống trên trái đất từ hàng triệu năm nay. Nhân loại, một mặt phân chia thành các giai cấp, tầng lớp có vai trò xã hội và lợi ích khác nhau, mặt khác phân chia thành các cộng đồng xã hội tộc người có trình độ phát triển khác nhau. Nhưng nhân loại vẫn là một thể thống nhất. Cơ sở của sự thống nhất đó là bản chất người của từng cá thể và của cả cộng đồng, bản chất đó qui định lợi ích chung và qui luật phát triển chung của cả cộng đồng.

    Tuy nhiên, trong quan niệm trước C. Mác, từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng không muốn thừa nhận sự thống nhất trên bản chất người của cả cộng đồng nhân loại.

    Quan niệm về quyền con người, bản chất của con người và tính thống nhất toàn nhân loại của các nhà tư tưởng trước Mác còn trừu tượng và phiến diện.

    Chủ nghĩa duy vật lịch sử không chỉ quan niệm về tính thống nhất toàn nhân loại ở bản chất tộc loại trừu tượng của con người, mà chỉ rõ bản chất xã hội của con người và loài người, bản chất ấy là cơ sở của sự thống nhất cộng đồng nhân loại. Con người là sinh vật có bản chất xã hội, do đó nhân loại là cộng đồng của những thực thể xã hội.

    Nền văn minh của nhân loại có được như ngày nay là thành quả lao động sáng tạo của cả loài người. Từng con người, từng tập đoàn người, cộng đồng người riêng lẻ không thể tạo ra được văn minh nhân loại. Các cá nhân dân tộc, giai cấp không thể tồn tại phát triển nếu tách rời sự tồn tại và phát triển của cả nhân loại. Do vậy, nhân loại có lợi ích chung là bảo vệ và phát triển cuộc sống, nền văn minh của loài người. Nền văn minh của nhân loại bị đe doạ huỷ diệt thì các quốc gia, dân tộc, các tập đoàn người cũng bị đe doạ bởi sự tiêu vong. Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp lợi ích nhân loại gắn liền với lợi ích của giai cấp, lợi ích dân tộc. “Vấn đề” của nhân loại luôn được nhận thức và xử lý cũng hết sức khác nhau, trong mối quan hệ với giai cấp. Giải quyết vấn đề nhân loại chủ yếu do các nhà nước quyết định. Mỗi nhà nước lại do một giai cấp đứng đầu, nên giải quyết vấn đề nhân loại bao giờ cũng theo một lăng kính nhất định, một lợi ích nhất định.

    Lợi ích của giai cấp tiến bộ luôn phù hợp với lợi ích của nhân loại. Nhận thức và hoạt động của nó luôn đấu tranh cải tạo tự nhiên và cải tạo môi trường xã hội. Các giai cấp phản động đối với lịch sử thì lợi ích của giai cấp về căn bản mâu thuẫn với lợi ích chung của dân tộc và lợi ích của toàn nhân loại. Do vậy, “vấn đề giai cấp” không chỉ là vấn đề riêng của một giai cấp, một tầng lớp nào mà đó là vấn đề của toàn nhân loại. Đấu tranh giải phóng các giai cấp, các dân tộc bị áp bức là nội dung cơ bản của quá trình đấu tranh giải phóng con người.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng, muốn giải phóng mình, giai cấp vô sản phải giải phóng toàn nhân loại khỏi áp bức và nô dịch của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, lợi ích của giai cấp vô sản về căn bản phù hợp với lợi ích của toàn nhân loại.

    Ngày nay, thế giới hiện đại vẫn đang bị phân chia theo quan điểm các giai cấp khác nhau, vì vậy vấn đề giai cấp vẫn được ưu tiên so với vấn đề toàn nhân loại trong chính sách của các quốc gia cụ thể.

    Kết luận

    Học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin đã lý giải một các khoa học về các hiện tượng của xã hội có giai cấp. Học thuyết đã vạch rõ những tiêu chí đưa đến sự tồn tại của các giai cấp, chỉ rõ nguyên nhân kinh tế của sự xuất hiện giai cấp, nó cũng chỉ rõ kết cấu giai cấp – xã hội của xã hội có phân chia giai cấp. Đặc biệt với học thuyết này, chủ nghĩa Mác -Lênin khẳng định vai trò của đấu tranh giai cấp – một trong những động lực thúc đẩy xã hội có giai cấp phát triển. Học thuyết cũng chỉ rõ mối quan hệ đan xen, phức tạp của giai cấp với dân tộc, giai cấp với nhân loại trong điều kiện hiện nay. Học thuyết giai cấp đấu tranh, giai cấp là cơ sở lý luận cho các Đảng cộng sản xây dựng đường lối, chiến lược, sách lược trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã kết hợp chặt chẽ lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân loại. Trong khi thực hiện nhiệm vụ giai cấp và nhiệm vụ dân tộc, Đảng, nhà nước và nhân dân ta rất coi trọng và góp phần tích cực vào việc giải quyết những vấn đề toàn cầu. Trước hết là bảo vệ sự sống của con người trên trái đất, đấu tranh góp phần loại bỏ chiến tranh hủy diệt, bảo vệ môi trường sinh thái, chống đói nghèo, các căn bệnh thế kỷ…Việt Nam chủ trương hợp tác chặt chẽ với các dân tộc, các lực lượng xã hội có thiện chí trên thế giới để cùng phấn đấu vì tương lai tốt đẹp của nhân loại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Gdcd Lớp 10
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Chương 2: Không Gian Và Thời Gian
  • Giá Trị Của Triết Học Phật Giáo Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • “giai Cấp Nông Dân” Là Gì? Nghĩa Của Từ Giai Cấp Nông Dân Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Vai Trò Của Giai Cấp Nông Dân Việt Nam
  • Chương 7 Di Dân Và Đô Thị Hoá
  • Già Hóa Dân Số: Thách Thức Lớn
  • Từ Xu Hướng Già Hóa Dân Số Nhanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức
  • Trung Tam Thong Tin Va Du Bao Kinh Te
  • bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Tính chất “tự túc, tự cấp”, “tự sản, tự tiêu” và sự giới hạn phạm vi địa lí trong làng xã, nông trại địa phương là đặc tính của nông nghiệp sản xuất nhỏ và của GCND.

    Trong chế độ phong kiến, nông dân là lực lượng sản xuất chính và cũng là giai cấp cơ bản bị áp bức trong xã hội. Vốn là những người sản xuất nhỏ và bị hạn chế trong tầm nhìn hẹp của làng xã, họ thường bị thụ động trước các vấn đề xã hội và trước các cuộc cách mạng xã hội. Là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, song trước sau họ vẫn không thay đổi được phương thức sản xuất, năng lực sản xuất, không có khả năng đưa ra một phương thức sản xuất và một hình mẫu xã hội tiến bộ hơn. Vì vậy, họ không trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng mà chỉ có thể liên minh với giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức và các giai tầng xã hội khác, cùng giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng giải phóng mình và giải phóng dân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo.

    GCND có mô hình sản xuất riêng, một kiểu kết cấu xã hội riêng, in đậm những thói quen và quan niệm truyền thống, thể hiện đặc biệt dưới chế độ phong kiến; khi đã bị tước đoạt quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất, người nông dân trở thành người vô sản hay nửa vô sản nông nghiệp, là kẻ lệ thuộc, bị nô dịch về mọi mặt. Song trong chế độ xã hội phong kiến, về cơ bản, họ vẫn là một nhân tố cách mạng dân tộc – dân chủ, một lực lượng quan trọng góp phần xây dựng vương quyền, bảo vệ nền độc lập dân tộc; trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và khi xã hội chuyển sang thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội thì họ là lực lượng cách mạng quan trọng, cùng với giai cấp công nhân hợp thành đội quân chủ lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    Cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền đại công nghiệp, một bộ phận lớn nông dân chuyển thành công nhân nông nghiệp, hay thoát li nông thôn thành công nhân công nghiệp. Nhờ những bước tiến vượt bậc của khoa học – kĩ thuật, tính chất và vai trò của giai cấp nông dân đã có những thay đổi đáng kể. Ở các nước phát triển, số lượng nông dân còn lại rất thấp, một số ít chuyển thành chủ trang trại, một số lớn trở thành công nhân nông nghiệp có tri thức, có phương tiện kĩ thuật và đạt mức sống cao. ở các nước chậm phát triển, GCND vẫn chiếm tỉ lệ cao trong xã hội, điều kiện sống của nông dân rất khổ cực, thậm chí có nơi còn chưa đạt đến mức tối thiểu. Ngay cả ở các nước phát triển, nông dân cũng gặp những khó khăn lớn trong cuộc cạnh tranh gay gắt trong hoàn cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dân Vận Chính Quyền, Thực Tiễn Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Nhìn Lại Một Năm Thực Hiện “năm Dân Vận Chính Quyền”
  • Chuyển Biến Trong Công Tác Dân Vận Chính Quyền
  • Cư Xử Đúng Mực Với Dân Chính Là Dân Vận Chính Quyền
  • Khái Niệm Và Phân Loại Nguồn Của Luật Dân Sự
  • 13. Giai Cấp Nông Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Tri Thức: Khái Niệm “Di Dân”
  • Di Dân Và Vấn Đề Nhà Ở Di Dân Tại Thành Phố Hà Nội Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Định Nghĩa Trò Chơi Dân Gian Là Gì ?
  • Tri Thức Dân Gian Trong Phát Triển Kinh Tế Hàng Hóa
  • Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam Trang Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa
  • Giai cấp nông dân, chủ chốt là bần nông và trung nông là quân đội chủ lực của kháng chiến và của cách mạng dân chủ mới (cố nông thuộc về giai cấp công nhân).

    Ở nông thôn, bần nông là lớp người đông nhất, và nghèo khổ nhất. Họ chân bùn tay lấm quanh nǎm, mà vẫn suốt đời đói rách, vì họ bị địa chủ phong kiến bóc lột tàn tệ. Bần nông hǎng hái kháng chiến, hǎng hái cách mạng, và rất mong muốn thực hiện chính sách dân cày có ruộng. Vì vậy họ là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân.

    Trung nông là lớp người mình cày ruộng của mình, không bóc lột ai, cũng không phải làm thuê cho ai. Họ sinh sống khá hơn bần nông. Song gặp mất mùa thì họ cũng chật vật. Vả lại họ cũng bị bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, và bọn đế quốc áp bức bóc lột. Thực hiện chính sách “dân cày có ruộng” thì họ cũng có lợi. Cho nên họ cũng hǎng hái kháng chiến, hǎng hái cách mạng. Vì vậy, họ là đồng minh chắc chắn của giai cấp công nhân.

    Cách mạng ta hiện nay là chống đế quốc, chống phong kiến. Nông dân là lớp người đông nhất trong nhân dân, cho nên họ là quân chủ lực của cách mạng.

    Trong cuộc kháng chiến của ta, nông dân đóng góp nhiều nhất, hy sinh nhiều nhất. Trong quân đội ta, tối đại đa số là nông dân. Trong công cuộc xây dựng dân chủ mới, muốn phát triển công nghệ và thương nghiệp, ắt phải do nông dân được giải phóng, thi đua sản xuất, cung cấp nguyên liệu và lương thực, đồng thời tiêu thụ dồi dào những thứ công nghệ sản xuất ra.

    Nhưng vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, mà nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết họ, giúp tổ chức họ, và lãnh đạo họ, thì họ là một lực lượng rất to lớn vững chắc. Thế là công nông liên minh.

    cpv.org.vn

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Việc Dân Sự Và Vụ Án Dân Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật Dân Sự
  • Lich Su Che Do Cong Xa Nguyen Thuy Tren The Gioi
  • Lưu Ý Khi Thiết Kế Công Viên Văn Hóa
  • Không Gian Gợi Nhớ Quá Khứ…
  • Công Văn Là Gì? Cách Soạn Thảo Một Số Công Văn Đơn Giản
  • Giai Cấp Công Nhân Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Team Leader Là Gì Và Những Điều Cần Biết
  • Leader Là Gì? Các Yếu Tố Một Leader Cần Có
  • Vai Trò Của Teamleader Trong Hoạt Động Nhóm
  • Vai Trò Của Nhóm Trưởng Trong Làm Việc Nhóm Mới
  • Sub Leader Là Gì? Vai Trò Của Vị Trí Sub Leader Trong Doanh Nghiệp
  • a) Khái niệm giai cấp công nhân

    Khi sử dụng khái niệm giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng một số thuật ngữ khác nhau để biểu đạt khái niệm đó, như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp,… Mặc dù vậy, về cơ bản những thuật ngữ này trước hết đều biểu thị một khái niệm thống nhất, đó là chỉ giai cấp công nhân hiện đại, con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại.

    Trong phạm vi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp có hai đặc trưng cơ bản sau đây:

    Thứ nhất, về phương thức lao động của giai cấp công nhân.

    Giai cấp công nhân là những tập đoàn người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại, ngày càng có trình độ xã hội hóa cao. Đây là một đặc trưng cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ, với những người thợ trong công trường thủ công. Giai cấp công nhân có một quá trình phát triển từ những người thợ thủ công thời kỳ trung cổ đến những người thợ trong công trường thủ công và cuối cùng đến những nguời công nhân trong công nghiệp hiện đại. “Trong công trường thủ công và trong nghề nghiệp thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc”.

    Trong xã hội tư bản, nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng pháp triển, máy móc ngày càng nhiều, sản xuất ngày càng có năng suất cao, làm cho những thợ thủ công bị phá sản, những người nông dân mất việc làm buộc phải gia nhập vào hàng ngũ công nhân. Theo sự phân tích của C.Mác và Ph.Ăngghen: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”; “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy… Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại”.

    Thứ hai, về địa vị của giai cấp công nhân trong hệ thống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Trong hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội tư bản chủ nghĩa, người công nhân không có tư liệu sản xuất, họ buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống. C.Mác và Ph.Ăngghen đặc biệt chú ý phân tích đặc trưng này, vì chính nó là đặc trưng khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản và trở thành lực lượng đối kháng với giai cấp tư sản.

    Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại – tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản – cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiểm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, học phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”.

    Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã đưa ra định nghĩa: “Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bẳng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động trone thế kỷ XIX” … “Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra…”.

    Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga XôViết, V.I.Lênin đã hoàn thiện thêm khái niệm giai cấp công nhân. Theo ông, sự phân chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị khác nhau của các tập đoàn người trong quan hệ đối với tư liệu sản xuất, trong tổ chức, quản lý sản xuất và trong phân phối sản phẩm. Qua thực tiễn cách mạng ở Nga, V.I.Lênin đã làm rõ hơn vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, về cơ bản giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Địa vị kinh tế và chính trị của họ đã có những sự thay đổi căn bản.

    Ngày nay, với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nửa sau thế kỷ XX, giai cấp công nhân hiện đại đã có một số sự thay đổi nhất định so với trước đây.

    Xét về phương thức lao động, nếu lao động của người công nhân trọng thế kỷ XIX chủ yếu là lao động cơ khí, lao động chân tay, thì nay đã xuất hiện một bộ phận công nhân của những ngành ứng dụng công nghệ ở trình độ phát triển cao, do vậy công nhân có trình độ tri thức ngày càng cao. Về phương diện đời sống, công nhân ở các nước tư bản phát triển đã có những thay đổi quan trọng: một bộ phận công nhân đã có một số tư liệu sản xuất nhỏ để cùng với gia đình làm thêm trong các công đoạn phụ cho các xí nghiệp chính; một bộ phận nhỏ công nhân đã có cổ phần trong các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong thực tế số cổ phần và tư liệu sản xuất của giai cấp công nhân chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, còn tuyệt đại bộ phận tư liệu sản xuất trong các nước tư bản chủ nghĩa vần nằm trong tay các nhà tư bản lớn.

    b) Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai; do vậy, về mặt khách quan nó là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Trong tác phẩm Chống Đuyring, khi nói về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ “… phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra một lực lượng bị bụộc phải hoàn thành cuộc cách mạng ấy, nếu không thì sẽ bị diệt vong”và “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

    C.Mác và Ph.Angehen đã tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, chỉ ra con đường và những biện pháp cần thiết để giai cấp công nhân hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình. V.I.Lênin cho rằng: “Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quần Chúng Nhân Dân Là Gì? Vai Trò Của Quần Chúng Nhân Dân?
  • Cần Hiểu Rõ Tầm Quan Trọng Của Lịch Sử
  • Ý Thức Pháp Luật Là Gì ? Đặc Điểm, Cấu Trúc Của Ý Thức Pháp Luật
  • Ý Thức Pháp Luật Là Gì?
  • Vai Trò Của Pháp Luật Trong Trong Giữ Gìn, Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống
  • Phân Tích Các Đặc Trưng Cơ Bản Trong Định Nghĩa Giai Cấp Của Lênin?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin Ra Đời Năm Nào
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin
  • Bài 12. Thực Hành: Xác Định Khối Lượng Riêng Của Sỏi
  • Tiết 12 Bài 11: Trọng Lượng Riêng + Bài Tập
  • Bài 10. Ba Định Luật Nuitơn
  • Câu hỏi: Phân tích các đặc trưng cơ bản trong định nghĩa giai cấp của Lênin?

    Đáp án:

    * Trước C.Mác, các sử gia tư tưởng tiến bộ Pháp (Chie, Ghidô, Minhê…) đã thừa nhận sự tồn tại của các giai cấp cùng với đấu tranh giai cấp. Hầu hết các học giả tư sản ngày nay cũng không bác bỏ sự tồn tại của các giai cấp. Nhưng trả lời câu hỏi giai cấp là gì? thì các lý thuyết xã hội phi mácxít chỉ đưa ra những định nghĩa mơ hồ, thiếu căn cứ khoa học. Chẳng hạn, giai cấp là tập hợp những người “cùng chức năng xã hội”, hoặc “cùng một lối sống”, “cùng mức sống”, “cùng một địa vị và uy tín xã hội”v.v.. Các lý thuyết đó đều tránh đụng tới các đặc trưng cơ bản của giai cấp, đặc biệt là vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất.

    * Khái niệm giai cấp được Lênin định nghĩa một cách toàn diện và sâu sắc trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại” như sau: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường các quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với các tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hướng thụ và về phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định” .

    * Khái niệm giai cấp vốn hết sức phức tạp, do đó, định nghĩa giai cấp của Lênin cũng phức tạp một cách tương ứng cả về nội dung lẫn hình thức cấu trúc của định nghĩa.

    Cách tiếp cận truyền thống định nghĩa này (bằng cách liệt kê 4 sự khác nhau với tư cách là bốn đặc trưng của giai cấp ở mệnh đề thứ nhất) là không thỏa đáng, là chưa lột tả được cả chiều rộng lẫn chiều sâu của tư duy V.I.Lênin trong định nghĩa mang tính kinh điển này.

    Phân tích thấu đáo định nghĩa này của V.I.Lênin, chúng ta cần lưu ý một loạt khía cạnh phương pháp luận như sau: Thứ nhất, cần phân biệt đặc trưng về lượng với các đặc trưng về chất của giai cấp; Thứ hai, cần phân biệt đặc trưng tổng quát với các đặc trưng từng mặt quan hệ sản xuất ở mệnh đề thứ nhất; Thứ ba, cần phân biệt các đặc trưng về chất ở mệnh đề thứ nhất với mệnh đề thứ hai; Thứ tư, cần lưu ý cả hai đặc trưng về trình độ ý thức của giai cấp.

    Phân tích kỹ ta thấy:

    + Trước khi đề cập tới các đặc trưng về chất của giai cấp, ở cả hai mệnh đề, V.I.Lênin đều lưu ý trước tiên đặc trưng về lượng của giai cấp với tư cách là “những tập đoàn người”, “tập đoàn người to lớn” dù đó là giai cấp thiểu số hay đa số trong dân cư. Điều đó chứng tỏ vấn đề giai cấp cũng như vấn đề đấu tranh giai cấp là vấn đề lớn lao của đời sống xã hội, chứ không phải vấn đề của những nhóm nhỏ hay cá nhân.

    + Ở mệnh đề thứ nhất, chủ ý của V.I.Lênin tiếp cận vấn đề giai cấp trước hết từ lĩnh vực sản xuất kinh tế – đúng như tư tưởng cơ bản thứ nhất của C.Mác về giai cấp đã dạy: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất” .

    Theo đó, đặc trưng tổng quát về chất của giai cấp là sự “khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử”, hoặc là thống trị, hoặc là bị trị (đương nhiên có thể có bộ phận nào đó đóng vai trò trung gian) trong kinh tế. Khái quát này của Lênin, thứ nhất, bác bỏ mọi cách giải thích duy tâm về giai cấp từ các nguồn gốc phi kinh tế; thứ hai, chỉ ra tính lịch sử cụ thể của giai cấp ở những điều kiện lịch sử cụ thể; thứ ba, đòi hỏi xem xét giai cấp trong tính chỉnh thể phức tạp vốn có của “một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử”.

    Mặt khác, V.I.Lênin đã đi sâu cụ thể hóa đặc trưng tổng quát nói trên của giai cấp thành ba đặc trưng tương ứng với ba mặt cấu thành các quan hệ sản xuất. Đó là ba sự khác nhau: về quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; về quan hệ tổ chức lao động xã hội; và về quan hệ phân phối.

    Hiển nhiên là sự khác nhau về quan hệ sở hữu tự nó có vai trò quyết định bản chất đối với hai mối quan hệ còn lại, cũng như quyết định cả địa vị các giai cấp trong một hệ thống sản xuất xã hội nói chung. Trong mệnh đề thứ nhất này, V.I.Lênin còn có hai lưu ý vừa tinh tế vừa sâu sắc đối với vấn đề sở hữu và phân phối.

    Thứ nhất, như Lênin vạch rõ, quan hệ sở hữu “thường đựơc pháp luật quy định và công nhận”. Điều đó chứng tỏ rằng các quan hệ giai cấp không tách rời quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (kinh tế) với kiến thức thượng tầng (chính trị – pháp lý), bác bỏ mọi luận điệu cho rằng chính trị, nhà nước, pháp quyền “vô tư” đối với sở hữu khác nhau của mọi giai cấp.

    Thứ hai, trước khi nói tới sự khác nhau về “phần của cải xã hội ít hoặc nhiều” trong quan hệ phân phối, Lênin đã lưu ý đến sự “khác nhau về cách thứ hưởng thụ” của các giai cấp. Ai cũng biết cách thức hưởng thụ của giai cấp bóc lột thống trị xưa nay là hết sức xa hoa, lãng phí, thậm chí không tính nổi bằng tiền mà bằng bao xương máu của người lao động (ví dụ các kim tự tháp, các lăng tẩm của vua chúa).

    + Với mức độ khái quát sâu nhất và rộng nhất có thể có ở mệnh đề thứ hai, Lênin chỉ nêu hai đặc trưng cơ bản của giai cấp có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau: Một là, “tập đoàn này có thể tước đoạt lao động của tập đoàn khác”; Hai là, “các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.

    Ở mệnh đề ngắn gọn và vô cùng súc tích này, Lênin đã thâu tóm cái bản chất sâu xa nhất, cốt lõi nhất, và cũng là phản nhân văn nhất của các quan hệ giai cấp đối kháng xưa nay – đó là vấn đề “chiếm đoạt lao động”. Chính chiếm đoạt lao động là đặc trưng bao trùm và chi phối tất cả các đặc trưng khác của giai cấp ở cả hai mệnh đề, và sâu xa hơn, nó cắt nghĩa cả nguồn gốc của giai cấp và của đấu tranh giai cấp. Hơn nữa, không phải đặc trưng nào ở mệnh đề thứ nhất về giai cấp cũng đồng nghĩa với xung đột, với đối kháng. Nhưng chừng nào và ở đâu còn chiếm đoạt lao động thì tất còn xung đột, còn đối kháng. Trong xã hội phân chia giai cấp, thực chất của quan hệ giai cấp là quan hệ xung đột đối kháng. Nếu hiểu khác đi là mơ hồ về giai cấp. Triết lý nổi tiếng của C.Mác và Ph.Angghen “tước đoạt kẻ đi tước đoạt” không chỉ đúng với quy luật phủ định của phủ định chi phối toàn bộ chu kỳ phát triển trọn vẹn của lịch sử loài người (sở hữu xã hội – sở hữu tư nhân – sở hữu xã hội trên hình thức cao hơn), mà còn hợp với cả đạo lý sống cơ bản nhất của loài người.

    Ơ đặc trưng còn lại của giai cấp trong mệnh đề thứ hai, V.I.Lênin đã gắn liền đặc trưng chiếm đoạt lao động không phải với “hệ thống sản xuất xã hội” (như định nghĩa thứ nhất) mà với cả “chế độ kinh tế xã hội” – nghĩa là với toàn bộ tòa nhà xã hội, cơ thể xã hội. Vì rằng, với nhiều lý do khác nhau, có những bộ phận xã hội chiếm đoạt lao động không phải do quan hệ sở hữu trong sản xuất kinh tế, mà do lợi dụng trực tiếp địa vị chính trị – xã hội. Đặc quyền đặc lợi của tầng lớp quý tộc dưới chính thể quân chủ – lập hiến là một ví dụ. Nạn hối lộ – tham nhũng xưa nay trong bộ máy nhà nước cũng là một ví dụ.

    + Ngoài các đặc trưng của giai cấp vốn mang tính vật chất đựơc khái quát trong hai mệnh đề trên, Lênin còn nhiều lần nói tới đặc trưng về trình độ ý thức của giai cấp: Một “giai cấp tự nó” hay “tự phát” là chưa ý thức đựơc lợi ích căn bản sống còn của mình. Còn một “giai cấp cho mình” hay “tự giác” là giai cấp đã trưởng thành tới mức ý thức được lợi ích căn bản – sống còn của mình.

    Chẳng hạn, trong quá trình đấu tranh chống phong kiến, giai cấp tư sản đã từng trải qua hai trình độ ý thức như vậy. Và đến lượt mình, trong quá trình đấu tranh chống CNTB và xây dựng CNXH, CNCS, giai cấp vô sản cũng không thể không trải qua hai trình độ tự phát và tự giác như vậy.

    Tóm lại, phân tích kỹ định nghĩa giai cấp của Lênin, chúng ta hiểu ra rằng quan hệ giai cấp thực chất và trước hết là những quan hệ sản xuất, là “những quan hệ cơ bản, ban đầu, quyết định” – như C.Mác tổng kết – đối với tất cả các quan hệ xã hội khác. Đương nhiên, không vì thế mà có thể giản đơn quy tất cả các quan hệ xã hội khác vào quan hệ giai cấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin. Ý Nghĩa Của Định Nghĩa
  • Giải Pháp Đảm Bảo Chất Lượng Đào Tạo Hệ Chính Quy Tại Trường Đại Học Bạc Liêu
  • Đảm Bảo Chất Lượng Phầm Mềm (Nguồn Ptit)
  • Tổng Quan Về Đảm Bảo Chất Lượng Phần Mềm
  • Định Nghĩa Về Chất Lượng Cho Các Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Giai Cấp Công Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta
  • Giữ Vững Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nhân Hóa, Khái Niệm Nhân Lực, Khái Niệm Hôn Nhân, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Bảo Hiểm Nhân Thọ, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Hôn Nhân Gdcd 9, Khái Niệm Nhân Nghĩa, Khái Niệm Nguồn Nhân Lực, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chúng Ta, Khái Niệm Nhà Máy Nhà Máy Là Cơ Sở Sản Xuất Công Nghiệp, Ve Viec Niem Yet Thong Bao Cong Khai Van Ban Phan Chuia Data, Khái Niệm Y Tế Công Cộng, Khái Niệm Thế Nào Là Nơi Công Cộng, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Mẫu Công Văn Giải Trình Kê Khai Sai, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mẫu Công Văn Giải Trình Nộp Chậm Tờ Khai Thuế, Cong Van Giai Trinh Cham Nop To Khai Thue, Công Văn Giải Trình Nộp Chậm Tò Khai Thuế Gtgt, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Trong Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Bản Khai Thân Nhân Chế Độ Dân Công Hỏa Tuyến, Mẫu 01a Bản Khai Cá Nhân Của Dân Công Hỏa Tuyến, Mẫu Bản Khai Cá Nhân Về Dân Công Hỏa Tuyến, Hướng Dan Khai So Yếu Ly Lịch Công Nhân Viên Chuc, Giai Cấp Công Nhân, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Xu Thế Biến Đổi Của Giai Câp Công Nhân, Bản Khai Cá Nhân. Để Hưởng Chế Độ Bảo Hiểm Y Tế Đối Với Người Có Công … Hiện Nay Tôi Chưa Được Cấp, Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giai Cấp Công Nhân, Bài Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân, Nghị Quyết Số 20 Về Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Công Nhân Phát Huy Sức Mạnh Toàn Dân Tộc, Học Thuyết Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Ngày Nay, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Khái Niệm ăn, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm 511, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm G,

    Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nhân Hóa, Khái Niệm Nhân Lực, Khái Niệm Hôn Nhân, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Bảo Hiểm Nhân Thọ, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Hôn Nhân Gdcd 9, Khái Niệm Nhân Nghĩa, Khái Niệm Nguồn Nhân Lực, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Luật Doanh Nghiệp Được Sửa Đổi, Định Nghĩa Lại Về Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Lại Sửa Khái Niệm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Khái Niệm Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước Sở Hữu 100% Vốn Điều Lệ
  • Khái Niệm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Vấn Đề 7: Giai Cấp Công Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Trẻ Các Khái Niệm Về Góc, Hình Chữ Nhật Toán Lớp 3
  • Cách Tính Diện Tích Hình Chữ Nhật, Công Thức Chu Vi Hình Chữ Nhật, Có
  • Công Thức Tính Chu Vi Và Diện Tích Hình Chữ Nhật Lớp 3
  • Toán Lớp 5 Trang 108: Hình Hộp Chữ Nhật. Hình Lập Phương
  • Cách Tính Diện Tích Hình Chữ Nhật Lớp 8, Các Dạng Toán Thường Gặp Và L
  • ĐẶT VẤN ĐỀ

    – Sứ mệnh lịch sử của GCCN là một phạm trù cơ bản nhất của CNXH KH.

    – Việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của GCCN là một trong những cống hiến vĩ đại của Marx.

    – Học thuyết Marx đã tìm ra lực lượng xã hội để thực hiện nhiệm vụ cao cả: xóa bỏ CNTB và tiến hành xây dựng CNXH là GCCN

    Khái niệm giai cấp công nhân (GCCN)

    Giai cấp công nhân là: Một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; Lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; Đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay”

    b) Nội dung và đặc điểm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    – Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    + Trong mỗi thời kỳ chuyển biến cách mạng lên một hình thái kinh tế – xã hội cao hơn luôn có một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, đóng vai trò là động lực chủ yếu và là lực lượng lãnh đạo quá trình cách mạng đó.

    + Giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử:

    • Xóa bỏ CNTB, xóa bỏ chế độ người bóc lột người
    • Giải phóng GCCN, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân lọai khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu.
    • Xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa.

    + GCCN chỉ có thể thoát khỏí ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

    – Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải trải qua hai bước:

    + Bước thứ nhất: “Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước”.

    + Bước thứ hai: “…giai cấp vô sản cũng tự thủ tiêu với tư cách là giai cấp vô sản, chính vì thế mà nó cũng xóa bỏ mọi sự phân biệt giai cấp và mọi đối kháng giai cấp, và cũng xóa bỏ nhà nước với tư cách nhà nước”.

    Hai bước này quan hệ chặt chẽ với nhau: giai cấp công nhân không thực hiện được bước thứ nhất thì cũng không thực hiện được bước thứ hai. Nhưng bước thứ hai là quan trọng nhất để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

    • Tập hợp được các tầng lớp nhân dân lao động xung quanh nó.
    • Đấu tranh cách mạng xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới về mọi mặt từ kinh tế tới chính trị và văn hóa, tư tưởng.

    Tiến lên một xã hội không còn giai cấp và thực hiện được nguyên tắc bình đẳng lý tưởng “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

    * Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản chúng tôi và F.Engels đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    a) Địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội TBCN

    – Công nhân – người lao động là “Lực lượng sản xuất hàng đầu”

    Trong lực lượng sản xuất ở bất cứ xã hội nào người lao động cũng là yếu tố quan trọng nhất. Trong CNTB và CNXH với nền đại sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển thì : “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động”.

    – Địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Bởi vì:

    + Thứ nhất, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất trong các bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất dưới CNTB.

    • Giai cấp công nhân vừa là chủ thể trực tiếp, vừa là sản phẩm căn bản nhất của nền sản xuất đó.
    • Giai cấp công nhân hiện đại có xu hướng ngày càng được tri thức hóa.

    + Thứ hai, về mặt lợi ích giai cấp công nhân là giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản.

    • Là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột TBCN.
    • GCCN giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ TBCN, trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích mà lại được cả thế giới.

    + Thứ ba, giai cấp công nhân có lợi ích căn bản thống nhất với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động.

    • Đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, phương thức sản xuất gắn liền với nền khoa học công nhiệp hiện đại.
    • Có hệ tư tưởng tiên phong của thời đại ngày nay là tư tưởng Marx-Lenin mang tính cách mạng và khoa học.

    + Giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất.

    • Trong cuộc cách mạng tư sản, giai cấp tư sản chỉ có tinh thần cách mạng trong thời kỳ đấu tranh chống chế độ phong kiến, còn khi giai cấp này đã giành được chính quyền thì họ quay trở lại bóc lột giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, những giai cấp đã từng đi với giai cấp tư sản trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản.
    • Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp, lại bị giai cấp tư sản bóc lột nặng nề, có lợi ích cơ bản đối lập trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản. Điều kiện sống, điều kiện lao động trong chế độ TBCN đã chỉ cho họ thấy, họ chỉ có thể được giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ TBCN.
    • Trong quá trình xây dựng CNXH, giai cấp công nhân không gắn với tư hữu, do vậy, họ cũng kiên định trong công cuộc cải tạo XHCN, kiên quyết đấu tranh chống chế độ áp bức, bóc lột, xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

    – Thứ hai, giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất

    + Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản, giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

    + Giai cấp công nhân lao động trong nền sản xuất đại công nghiệp với hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền và nhịp độ làm việc khẩn trương, buộc giai cấp này phải tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động, cùng với cuộc sống đô thị đã tạo nên tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ của giai cấp công nhân.

    + Các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn đòi hỏi giai cấp này phải có ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ.

    – Thứ ba, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế

    + Giai cấp tư sản là một lực lượng quốc tế, giai cấp tư sản không chỉ bóc lột giai cấp công nhân ở chính nước họ mà còn bóc lột giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa.

    + Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ toàn cầu hóa, nhiều sản phẩm không phải do một nước sản xuất ra mà là kết quả lao động của nhiều quốc gia.

    ► Vì thế, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân không chỉ diễn ra đơn lẻ ở từng doanh nghiệp, ở mỗi quốc gia mà ngày càng phải có sự gắn bó giữa phong trào công nhân các nước.

    Bạn có thể xem lại toàn bộ câu hỏi và đáp án chi tiết của môn Chủ nghĩa Mac – Lênin tại: Ngân hàng đề thi môn chủ nghĩa Mac – Lenin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì? Phân Tích Những Điều Kiện Khách Quan Quy Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân.
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Trong Điều Lệ Đảng
  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi
  • Một Số Vấn Đề Về Giai Cấp Công Nhân Và Chủ Nghĩa Xã Hội Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì?
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Giai Cấp Công Nhân Và Chủ Nghĩa Xã Hội Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Trong Điều Lệ Đảng
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì? Phân Tích Những Điều Kiện Khách Quan Quy Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân.
  • Vấn Đề 7: Giai Cấp Công Nhân
  • 9.Phân tích khái niệm giai cấp công nhân. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Phân tích những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    9.1. Khái niệm giai cấp công nhân (giai cấp vô sản):

    Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.

    Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại. Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn liền với sự phát triển của đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.

    Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp tư sản, là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là những người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tùy theo cung – cầu hàng hóa sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hóa về vật chất lẫn tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc và quy luật cung – cầu hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt.

    Dưới chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình đế sống”.

    Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ có hai tiêu chí cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.

    – Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.

    – Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

    + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.

    + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa. Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.

    9.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.

    9.3. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế – xã hội khách quan của nó quy định:

    – Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao. Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.

    – Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động đã trở thành hàng hóa, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của cạnh tranh; số phận của nó tùy thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hóa sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hóa cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hòa trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ có khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.

    Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.

    A. Mở bài:

    Trong giai đoạn hiện nay, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta lại thấy không ít những luận thuyết, những quan điểm khác nhau tấn công chủ nghĩa Mác – Lê nin, hy vọng có thể hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác – Lênin. Những luận thuyết phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân lại được nở rộ ở nhiều nơi. Người ta cố tình lập luận rằng, C. Mác đã gắn cho giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có chỉ bởi vì ông thương đó là giai cấp nghèo khổ; rằng, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, đã trở thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung”, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; rằng, công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột nữa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa! … Có đúng là ngày nay giai cấp công nhân đã mất vai trò lịch sử? Đó là câu hỏi không ít người đã và đang tự hỏi về cái sứ mệnh lịch sử mà Mác và Lênin đưa ra cho giai cấp công nhân kia.

    Và đề trả lời cho câu hỏi đó em đã chọn đề tài : ” Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của mình trong thời đại ngày nay” để có thể nhìn nhận vấn đề này một cách đúng đắn nhất.

    B. Nội dung:

    1.Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    Để đi sâu vào tìm hiểu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Trước hết ta cần nắm rõ khái niệm giai cấp công nhân.

    – Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành cộng nghiệp thuộc các trình độ kĩ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội của họ phụ thuộc vào chế độ xã hội đương thời, ở các nước tư bản. Họ là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình

    – Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu sụp đổ. Các thế lực phản động đả kích chủ nghĩa Mac-Lênin phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đến ngày nay giai cấp công nhân có còn tồn tại hay ko? Để làm rõ điều này chúng ta cần căn cứ vào 2 thuộc tính sau đây để nhận diện:

    +Thứ nhất nói về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Mác và Ăng-ghen cho rằng công nhân là tất cả những người lao động trực tiếp hay gián tiếp có sử dụng công cụ lao động trong lĩnh vực sản xuất cộng nghiệp ngày càng hiện đại.

    + Thứ hai nói về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: công nhân là những người ko có tư liệu sản xuất phải làm thuê, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư Mác-Ăngghen gọi họ là giai cấp vô sản.

    Lấy hai tiêu chí trên để phân biệt và xác định rằng giai cấp công nhân ngày nay ko hề bị biến mất mà trái lại ngày càng không ngừng phát triển về số lượng. Cụ thể theo tổ chức lao động quốc tế 1900, toàn thế giới có 80 triệu công nhân, đến 199 có hơn 600 triệu, đến 1998 tăng đến 800 triệu.

    Đối với giai cấp công nhân hiện nay mặc dù cơ cấu ngành nghề ở các nuớc tư bản dịch vụ chiếm 50-70% sản xuất đã được tự động hoá với một trình rất cao,nhưng trong lao động kể cả trực tiếp hay gián tiếp ngừơi lao động điều phải sử dụng công cụ lao động của cộng nghiệp hiện đại và họ điều là những nguời ko có tư liệu sản xuất. Do đó xét về địa vị xã hội họ vẫn là người làm thuê. nếu như trước kia người công nhân chỉ bán sức lao động cơ bắp là chủ yếu, thì ngày nay họ còn bán luôn cả sức lao động trí óc và đôi khi bán chất xám lại là điều chủ yếu.Trong xã hội ngày nay có phải cuộc sống của công nhân được trung lưu hóa? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần xét hai xã hội:

    + Ở các nước tư bản, phần đông họ ko càn là những người vô sản trần trụi với hai bàn tay trắng, một số có tư liệu sản xuất phụ mà họ có thể cùng gia đình làm thêm ở nhà để sản xuất một số công đoạn phụ cho nhà máy, xí nghiệp. Một số ít có cổ phần nhưng rất bé và bản thân họ cũng chỉ là những người lao động làm thuê. Và trên thực tế ko phải người công nhân nào cũng có thể mua được cổ phần.

    + Đối các nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền họ trở thành giai cấp lãnh đạo, tư liệu sản xuất là của chung. Họ vẫn là giai cấp công nhân nhưng ko còn là vô sản như trước nữa. Như vậy về địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa căn bản đã khác so với trước đây nhưng trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay thì còn có một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân và họ vẫn là người bị bóc lột.

    2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sứ mệnh đó trong thời đại ngày nay.

    a. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Ph. Ăngghen viết: ” thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh lịch

    sử của giai cấp vô sản hiện đại”

    V.I .Lênin cũng chỉ rõ: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng

    rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.

    Nói một cách khái quát, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

    Một câu hỏi nữa được đặt ra đó là: ” Tại sao giai cấp công nhân hiện đại có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy ?”

    – Giai cấp công nhân hiện đại có thể thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử ấy của mình là do địa vị kinh tế – xã hội của nó quy định.

    + Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện đội ngũ giai cấp công nhân, họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội và là nhân tố quyết định trong việc thủ tiêu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    + Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất, nếu có thì chỉ là một phần rất nhỏ mà thôi, vì thế họ phải bán sức lao động và bị bóc lột nặng nề. Nhưng họ là lực lượng xã hội ngày càng lứon mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Họ là điều kiện tồn tại của giai cấp tư sản và xã hội tư bản.

    + Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản nhất trí với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động nên có thể thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân trong quá trinh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan những đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân hiện đại.

    – Những đặc điểm đó là:

    + Giai cấp công nhân hiện đại là giai cấp tiên tiến nhất.

    + Là giai cấp có tinh thần triệt để cách mạnh.

    + Là giai cấp có tính tổ chức và kỉ luật cao.

    + Là giai cấp có bản chất quốc thế.

    b. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong giai đoạn ngày nay:

    Trong điều kiện ngày nay, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại rất đa dạng, có nhiều trình độ khác nhau và không ngừng biến đổi theo hướng không thuần nhất: Công nhân kỹ thuật ngày càng tăng công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ, đóng vai trò chính trong quá trình phát triển, công nhân truyền thống giảm dần. ở các nước tư bản phát triển “công nhân áo xanh” chỉ chiếm 12 – 15% tổng số công nhân . ở Italia công nhân kỹ thuật cao “công nhân áo trắng” chiếm 53% tổng số công nhân. ở Nhật 90% công nhân có trình độ đại học. ở Tây Ban Nha công nhân kỹ thuật chiếm 53%. Công nhân làm việc trong các ngành dịch vụ tăng lên xấp xỉ 50% tổng số công nhân. Mặc dù một số ít trong giai cấp công nhân có cổ phần trong các xí nghiệp của tư bản, nhưng về cơ bản giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, sự phân biệt giàu nghèo và tình trạng bất công xã hội vẫn tăng lên, bản chất bóc lột giá trị thặng dư vẫn tồn tại, dù được biểu hiện dưới hình thức tinh vi hơn. Cả sự bần cùng hóa tuyệt đối lẫn bần cùng hóa tương đối của giai cấp công nhân vẫn đang tồn tại. Tuy đại bộ phận tầng lớp trí thức và lao động có kỹ năng đang có việc làm được cải thiện mức sống và gia nhập vào tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn không xóa được sự phân hóa giàu nghèo. Chính những nhà xã hội học tư sản tiến bộ đã chứng minh ở các nước tư bản hiện nay sự bóc lột còn cao hơn và với cơ chế càng tinh vi hơn thời Mác.

    Do tính quy định của sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân ngày nay có một số biểu hiện mới: trình độ văn hóa – tay nghề cao hơn; một số công nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ phiếu, đời sống một bộ phận được cải thiện v.v… Song, những biểu hiện đó không làm thay đổi địa vị cơ bản của công nhân trong chủ nghĩa tư bản. Họ vẫn đang là lực lượng chủ yếu làm ra của cải cho xã hội và lợi nhuận cho các nhà tư bản; là lực lượng đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản, bị bóc lột nhiều nhất và khoảng cách về mức thu nhập giữa họ với giới chủ ngày càng lớn. Công nhân trong các nước tư bản phát triển được trí tuệ hóa, lao động bớt nặng nhọc hơn, có chút ít cổ phần trong doanh nghiệp… thì họ càng bị ràng buộc chặt chẽ hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng nề và tinh vi hơn. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư trung bình ở thế kỷ XIX là 20, thì hiện nay là 300, cá biệt có nơi, như tập đoàn Microsoft tỷ suất này lên tới 5000. Từ một chiều cạnh khác, hiện nay sự tăng lên lượng tri thức khoa học và văn hóa của công nhân lại cũng là một tiền đề quan trọng để giúp họ nhận thức và cải tạo xã hội. Họ đang phê phán chủ nghĩa tư bản và đến với chủ nghĩa xã hội như đến với cái đúng và do sự thôi thúc của lý trí chứ không chỉ do nghèo đói. Với tri thức và khả năng làm chủ công nghệ cao, với năng lực sáng tạo và ý thức về sứ mệnh, giai cấp công nhân hiện đại đang có thêm điều kiện để tự giải phóng.

    Như vậy dù mức sống có cao hơn trước, dù công nhân có được tham gia quản lý thông qua đại biểu trong hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự” và “chế độ ủy nhiệm”‘ nhưng họ vẫn là người làm thuê bán sức lao động, ý chí của chủ nghĩa tư bản vẫn là quyền lực chi phối, tầng lớp “nhà quản lý” vẫn chỉ là kẻ phụ thuộc vào giới chủ. Giai cấp công nhân vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và trực tiếp, vẫn là giai cấp tiên phong trong xã hội. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không thể chuyển vào tay một giai cấp hay tầng lớp xã hội nào khác: Những chỉ dẫn cơ bản về đặc trưng bản chất của giai cấp công nhân của Mác – Ăngghen – Lênin đưa ra vẫn là cơ sở phương pháp luận để xem xét, phân tích giai cấp công nhân hiện đại trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển hay trong những nước đang tiếp tục con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nước thế giới thứ ba và toàn thế giới nói chung, trước đây cũng như hiện nay.

    Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động ra của cải vật chất trong lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sản phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và sự phát triển của xã hội.

    Giai cấp công nhân vừa là người lãnh đạo, đồng thời cùng với nông dân, trí thức và các giai cấp, tầng lớp lao động khác họp thành lực lượng tổng hợp của quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử đó.

    Nhờ có những điều chỉnh lớn và tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là qua toàn cầu hóa kinh tế, chủ nghĩa tư bản đang còn khả năng tiếp tục kéo dài sự tồn tại nhưng không thể tránh được “định mệnh” mà Mác đã vạch ra từ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là biểu hiện tập trung của xu thế xã hội hóa lực lượng sản xuất và cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ bản trong lòng chủ nghĩa tư bản. Nó khai triển mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến mọi ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện xã hội đa dạng. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân hiện đại đang bị chủ nghĩa tư bản toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với một giai cấp “ngày càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất và phản động về chính trị; Đó là mâu thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, hay “phương Bắc và phương Nam”, giữa “trung tâm và ngoại vi”…; là mâu thuẫn của lợi ích từng quốc gia – dân tộc với lợi ích của các tập đoàn tư bản; giữa những nước phát triển và đang phát triển; giữa chủ quyền quốc gia – dân tộc với xu thế đồng hóa cưỡng bức; giữa văn hoá dân tộc với cuộc xâm lăng bằng tư tưởng, lối sống của những nước đế quốc trong môi trường toàn cầu đang vận hành theo những cơ chế bất bình đẳng; Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản xung quanh việc tranh giành vị trí, thế lực và ảnh hưởng thông qua việc chiếm lĩnh ưu thế về khoa học và công nghệ, những nguồn tài nguyên…

    Nhìn chung từ thực tiễn hiện đại, nhu cầu có một toàn cầu hóa với chất lượng mới đang hiện rõ. Và, mầm mống của một phương thức sản xuất mới cũng đang lớn dần, chủ yếu là theo cách này. Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế và không hề xa lạ với những hiện tượng quốc tế phản ánh tiến bộ xã hội. Chủ động, tích cực hội nhập quá trình toàn cầu hóa kinh tế; tận dụng những thời cơ, tranh thủ ngoại lực từ quá trình toàn cầu hoá hiện nay và làm biến đổi nó theo hướng tích cực là một tiến trình hợp quy luật và là con đường để thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân.

    3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam:

    Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung cơ bản của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam là giải phóng dân tộc và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; qua đó giải phóng giai cấp, giải phóng người lao động, xây dựng một “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”…Hiện nay, để sớm đưa đất nước khỏi tình kém phát triển, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay là “Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Theo đó phát triển giai cấp công nhân cũng chính là phát triển, hoàn thiện chủ thể của sứ mệnh lịch sử hiện đại – cơ sở xã hội quan trọng nhất bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam cũng chỉ có thể thực hiện thắng lợi khi quyền lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, được giữ vững và không ngừng tăng cường; Nhà nước xã hội chủ nghĩa và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân lao động nước ta không ngừng được hoàn thiện và phát triển.

    Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân: Là giai cấp tiên tiến, là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là giai cấp có tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật và có tinh thần quốc tế vô sản nhưng do hàn cảnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:

    + Ra đời trước g/c tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề ngay từ mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng Tháng10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, ko bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản, giai cấp công nhân Việt Nam từ khi có đảng lãnh đạo, đã nhanh chóng bước lên vũ đài chính trị với tư cách là một lực lượng chính trị độc lập với mục tiêu: Giải phóng dân tộc xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Giai cấp công nhân khi sinh ra đã kế thừa truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc, tinh thần đó lại được nhân lên gấp bội khi có sự lãnh đạo của Đảng.

    + Sinh ra và trưởng thành ở một nước phong kiến nửa thuôc địa, nông nghiệp lạc hậu nên hạn chế lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam là còn chịu ảnh hưởng tư tưởng nho giáo phong kiến, tác phong của nền sản xuất nhỏ tiểu nông, câu nệ với sách vở, xa rời quần chúng, thoát ly sản xuất, chúng ta đừng có ảo tưởng những tàn dư tâm lý sản xuất nhỏ ấy có thể một ngày, hai ngày bị quét sạch ra khỏi đời sống xã hội.

    Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay gồm người lao động chân tay, lao động trí óc, hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các. Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, họ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến có tri thức. Họ là lực lương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân, nông dân trí thức. Nhược điểm của giai cấp công nhân Việt Nam: như số lượng còn ít, chưa được rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp. Nhưng điều đó ko thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử chủ nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam. Xét về bản chất thì chưa thể có và ko thể có tổ chức chính trị nào, giai cấp nào có thể thay thế được giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, trong đó nhân dân lao động được làm chủ, đất nước độc lập và phồn vinh xóa bỏ áp bức bất công, mọi người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Đối với giai cấp công nhân cần phải ” coi trọng phát triển về sồ lượng và chất lượng nâng cao giác ngộ, bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề ngiệp, thực hiện” trí thức hoá công nhân ” nâng cao năng lực ứng dụng và sang tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu wả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo trong thời kì mới…”

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam (…).

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hóa; có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học-công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao “.

    Cùng với việc triển khai thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân. Đó là vấn đề bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, đặc biệt là về tiền lương, thu nhập, nhà ở, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội…, tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp công nhân. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các loại hình doanh nghiệp. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; chú trọng đào tạo nghề cho công nhân xuất thân từ nông dân và nữ công nhân; từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc, kiến thức pháp luật, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, xây dựng lối sống lành mạnh trong công nhân, nhất là công nhân trẻ. Quan tâm xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp phù hợp với từng thành phần kinh tế. Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức gắn với nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các loại hình doanh nghiệp phù hợp với Điều lệ và quy định của pháp luật. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong việc xây dựng giai cấp công nhân.

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, Công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong việc chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cùng với xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh. Xây dựng giai cấp công nhân nước ta phát triển toàn diện xứng đáng là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tích cực phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, có tầm quan trọng chiến lược và quyết định đối với công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    C. Kết luận:

    Trở lại với câu hỏi đầu tiên: ” Có đúng là giai cấp công nhân ngày nay mất đi sứ mệnh lịch sử của mình hay không?”

    Để làm rõ vấn đề này cần phải dựa trên cơ sở luận chứng địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân hiện nay gắn với việc làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

    + Phương pháp luận trong xem xét vai trò lịch sử của một giai cấp là phải dựa trên cơ sở địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp đó trong xã hội, chứ không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ một cá nhân hoặc một lực lượng xã hội nào. Trong lịch sử, chế độ tư bản chủ nghĩa đã từng chiến thắng chế độ phong kiến bởi vì giai cấp tư sản đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất mới, dựa trên nền đại công nghiệp, tiến bộ hơn hẳn phương thức sản xuất lạc hậu của chế độ phong kiến.

    Đối với giai cấp công nhân, “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”. Trên cơ sở luận giải địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã đưa ra kết luận khoa học: sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

    Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải giai cấp này là giai cấp nghèo khổ, mà điều quyết định là do địa vị kinh tế – xã hội của chính nó. Trong xã hội tư bản, các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; trái lại, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Đây là điều quyết định giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

    Lấy sự nghèo khổ làm cơ sở để luận giải sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một lập luận phản khoa học và là mưu đồ hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin.

    + Lại có quan điểm cho rằng, hiện nay ở các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân không còn bị bóc lột như trước nữa; nó đã trở nên “trung lưu hoá” thậm chí trở thành “nhà tư bản” khi đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty. Đúng là hiện nay, việc thực hiện cổ phần hoá ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng khắp. Người dân hễ có tiền tích luỹ là có thể mua cổ phiếu ở xí nghiệp, công ty cổ phần nào đó (ở Mỹ 10%, ở Anh 12% người lao động có cổ phần) với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, việc bán cổ phiếu cho công nhân không những không động chạm đến quyền lợi của giới chủ, mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn tư bản. Một chủ tư bản không cần một số lượng tư bản lớn cũng có thể chi phối cả công ty, hoặc nhiều công ty trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hết sức lớn. Bán cổ phiếu cho người lao động chỉ diễn ra trong chừng mực không tổn hại đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đến lợi ích của giới chủ. Khi đã có cổ phiếu, dù người công nhân có được những quyền lợi nhất định gắn với tình hình sản xuất của Công ty và lợi tức do kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại, nhưng thực chất nguồn lợi nhuận ấy chẳng qua là một phần giá trị thặng dư do chính công nhân làm ra, chứ không phải bớt đi giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản đã bỏ túi. Vậy là, người công nhân không phải đã trở thành nhà “nhà tư bản” theo cái cách người ta nói, mà là “thành nhà tư bản đối với chính mình”.

    Như vậy, công nhân hiện nay dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Chế độ cổ phiếu thật sự là phương pháp hữu hiệu cột chặt người lao động là bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào giới chủ. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa, do đó chỉ là ảo tưởng, hoặc đó là hành động tự lừa dối mà thôi.

    Giai cấp công nhân nếu đã trở nên “trung lưu hoá”, thì cái sự “trung lưu hoá” ấy là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới chứ không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; đó là do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân trong đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội, mức sống cao về vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không còn giống như những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Đó là sự thật. Thế nhưng, từ những biến đổi đó mà đi đến kết luận giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa, thì đó là sai lầm cả về chính trị và khoa học.

    + Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định: chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất hùng hậu hơn các thế kỷ trước cộng lại. Trong điều kiện cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất đó càng được tăng lên nhanh chóng với những bước tiến nhảy vọt. Chính những yếu tố đó là cơ sở vật chất giúp cho chủ nghĩa tư bản có thể tận dụng một cách hữu hiệu những thành tựu khoa học – công nghệ mới để kéo dài tuổi thọ của mình. Trên thực tế, chủ nghĩa tư bản đã và đang tìm mọi cách điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới.

    Mặc dù có những thay đổi và đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế trong những thập kỷ gần đây, nhưng trong lòng thế giới tư bản hiện đại, mâu thuẫn vốn có của nó giữa lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất không những vẫn còn tồn tại, mà có mặt còn sâu sắc hơn là lan ra phạm vi rộng hơn. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có”.

    Mâu thuẫn xã hội cơ bản giữa giai cấp những người vô sản và giai cấp những người hữu sản; giữa những người nghèo và những người giàu không chỉ còn trong phạm vi một quốc gia, nó đã phát triển ở tầm quốc tế. Sự phát triển của các tập đoàn tư bản, các công ty tư bản xuyên quốc gia tăng sự bòn rút tài nguyên và bóc lột nhân dân nhiều nước thuộc “thế giới thứ ba”; các cuộc chiến tranh đẫm máu chống các quốc gia độc lập có chủ quyền do chủ nghĩa đế quốc phát động… là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hơn 500 triệu người bị đe đoạ chết đói, 1,6 tỷ người sống trong cảnh khốn cùng, 600 triệu người thất nghiệp, hơn 800 triệu người mù chữ… Tất cả điều đó đã nói lên tính chất ăn bám, bóc lột, phản động và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc.

    Rõ ràng, chủ nghĩa tư bản niện đại dù có biến đổi, thích nghi thì về bản chất vẫn là chủ nghĩa tư bản, là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ở trình độ cao, chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia, chứ không hề có sự thay đổi bản chất; nó vẫn là chế độ bóc lột, bất công và đầy mâu thuẫn.

    + Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa đế quốc là “phòng chờ” đi vào chủ nghiã xã hội. Như thế, phải chăng trong điều kiện mới, cùng với sự phát triển và tác dộng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thì “phòng chờ” đó càng được mở rộng hơn. Đúng như vậy, với sự mở rộng “phòng chờ” đó, tất yếu sẽ diễn ra sự vùng dậy của lực lượng sản xuất làm nổ tung toàn bộ cái quan hệ sản xuất đang trói buộc nó. Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, mà chủ nghĩa tư bản đang lợi dụng để kéo dài tuổi thọ của nó, đang dần vượt ra khỏi “sự kiểm soát của chính nó”. Do thực hiện chế độ cổ phiếu, nên giới chủ không phải muốn làm gì cũng được mà không tính đến lực lượng cổ đông đông đảo là giai cấp công nhân, tuy giá trị cổ phiếu của họ là nhỏ bé.

    Trong điều kiện đó, Đảng Cộng sản, công đoàn, các tổ chức, đoàn thể của giai cấp công nhân được mở rộng và hoạt động ngày càng phong phú hơn, tạo áp lực đối với giới chủ ngày càng mạnh mẽ hơn. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản phát triển ngày càng gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc. Giai cấp công nhân ngày càng được rèn luyện và trưởng thành trong đấu tranh chống giai cấp tư sản cả về chính trị và kinh tế trên quy mô quốc gia và quốc tế.

    Cần nhắc lại luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình mà nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy – những công nhân hiện đại, những người vô sản”. Luận điểm nổi tiếng đó càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện lịch sử mới.

    Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đối với những người cộng sản, giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trên thế giới, quả là một thực tế nghiệt ngã và đau xót. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là chủ nghĩa xã hội bị “tiêu vong”, giai cấp công nhân đã “mất vai trò lịch sử”: cũng không làm mất đi ý chí phấn đấu và niềm tin vào tương lai xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Trái lại, giai cấp công nhân có thêm những bài học quý giá về những vấn đề cơ bản của cách mạng, bài học sâu sắc về “cách mạng phải biết tự bảo vệ”; càng nhận thức rõ hơn tính chất quyết liệt, gay go của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong thời đại ngày nay; càng hiểu rõ hơn những bước thăng trầm, những khúc quanh trên con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

    Nhận thức và vận dụng: Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    ứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của CNXH khoa học, do đó đã được C.Mác – Ph.Ăngghen và V.I.Lênin nghiên cứu và phát triển hoàn thiện trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới.

    C.Mác và Ăngghen đã tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, chỉ ra biện pháp và con đường để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. V.I.Lênin khẳng định: “Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” 1 .

    Khi sử dụng khái niệm giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng những thuật ngữ khác nhau: như giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp… về cơ bản thuật ngữ này trước hết biểu thị một khái niệm thống nhất đó là chỉ giai cấp công nhân hiện đại, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại.

    Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là sản phẩm của cách mạng công nghiệp, ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp; trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao.Có hai tiêu chí cơ bản:

    Về phương thức lao động của giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là những người lao động công nghiệp, sản xuất ra sản phẩm công nghiệp. Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ, người thợ thủ công trong công trường thủ công. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp. C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp” 2 . “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy… công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại” 3 .

    Về địa vị của giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: giai cấp công nhân là những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, họ buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống. “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống” 4 .

    Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản Ph.Ăngghen đưa ra định nghĩa: “giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động lao động trong thế kỷ XIX” 5 . “giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng sản sinh ra…” 6 .

    Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là trong thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin phát triển, hoàn thiện và làm rõ hơn vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình cách mạng XHCN. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành những người chủ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Địa vị kinh tế chính trị của giai cấp công nhân có những thay đổi căn bản.

    Xuất phát từ quan niệm của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sự biến đổi của giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay, có thể định nghĩa: Giai cấp công nhân: “Là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của LLSX có tính chất xã hội hóa ngay càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH. Trong các nước TBCN, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có TLSX, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; Trong các nước XHCN, họ đã cùng nhân dân lao động làm chủ những TLSX chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân mình” 7 .

    Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng tiến bộ của phương thức sản xuất. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sửtoàn thế giới của giai cấp công nhân là tổ chức lãnh đạo xã hội (XH) thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản để đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng toàn XH khỏi áp bức bất công xóa bỏ CNTB xây dựng thành công CNCS trên phạm vi toàn thế giới.

    Tổ chức lãnh đạo XH thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản: xoá bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn CNTB, từng bước xây dựng CNXH, CNCS.

    Về kinh tế: giai cấp công nhân trở thành lực lượng sản xuất cơ bản và là giai cấp quyết định sự tồn tại xã hội hiện đại và tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.

    Về chính trị: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động tiến hành đấu tranh giành chính quyền, xác lập và bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ cho nhân dân.

    Về văn hóa tư tưởng: giai cấp công nhân đấu tranh với hệ tư tưởng phi vô sản, xác lập địa vị thống trị của hệ tư tưởng giai cấp công nhân xây dựng nền văn hóa và con người mới XHCN.

    Xét một cách tổng quát: Địa vị kinh tế xã hội khách quan của giai cấp công nhân chỉ ra rằng giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới CNTB. V.I.Lênin: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do những điều kiện khách quan quy định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động” 8 . Và, với tính chất như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo XH xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cụ thể: về kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp công nhân, này tạo khả năng để giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình: giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C.Mác: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” 9 . Giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao; giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.

    Từ sự phân tích địa vị kinh tế – xã hội, đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp và tầng lớp trung gian có thể kết luận: chỉ duy nhất giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, từng bước xây dựng CNXH, CSCN trên phạm vi toàn thế giới.

    Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân – nhân tố chủ quan cơ bản nhất để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đầu tiên đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. Vì: Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản là tổ chức bao gồm những phần tử tiên tiến, ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng Cộng sản đại biểu một cách triệt để và trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được thể hiện qua việc thực hiện các nhiệm vụ: Đảng Cộng sản vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phân tích đúng đắn tình hình cụ thể đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của quá trình cách mạng cũng như của từng giai đoạn cách mạng (giành chính quyền, xây dựng CNXH…) trong từng nước cũng như trên toàn thế giới. Đảng Cộng sản tuyên truyền đường lối, giáo dục, thuyết phục giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động thực hiện thắng lợi đường lối đã đề ra. Đảng Cộng sản tổ chức, chỉ huy toàn bộ quá trình cách mạng cũng như từng giai đoạn cách mạng: tập hợp lực lượng, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh; Mọi cán bộ, đảng viên ca Đảng Cộng sản gương mẫu thực hiện và thực hiện đường lối đã đề ra.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện thông qua việc thực hiện hai giai đoạn cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN.

    Trước hết giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản đã lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính nhân dân, “phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.

    Sau đó phải chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN: giai cấp công nhân từng bước lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng CNXH – chế độ xã hội không có người bóc lột người, “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

    Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng XH to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh có tính chất công nghiệp” 10 .

    Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” 11 .

    Để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cũng như mỗi người công nhân cần thường xuyên phấn đấu vươn lên, trưởng thành về các mặt: tư tưởng, chính trị, lập trường giai cấp, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề… cần tập trung:

    Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

    Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bồi dưỡng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân;

    Thực hiện tốt chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân gắn với tăng năng suất lao động;

    Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy trong xây dựng giai cấp công nhân;

    Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân

    Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế.Quán triệt quan điểm và mục tiêu, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Được Thể Hiện Ở Những Điểm Chủ Yếu Nào?
  • Bản Chất Giai Cấp Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Giữ Vững Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100