Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Phổ Biến

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Hiện Nay
  • Phương Pháp Chung Nghiên Cứu Khoa Học Vận Dụng Trong Lĩnh Vực Kiến Trúc
  • Một Số Vấn Đề Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu Về Hồ Chí Minh
  • Cầm Máu Bằng Garo Nên Thực Hiện Đúng Cách Như Thế Nào?
  • Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

    Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

    Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học.Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học.

    Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

    Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

    2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là gì?

    Nói cách khác thì phương pháp luận chính là lý luận về phương pháp bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan và nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và các nguyên tắc để giải quyết các vấn đề đã đặt ra.

    Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luận chung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới.

    Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp.

    3. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể

    3.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp

    Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy.

    Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia nó theo cấp bậc.

    Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến. Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải:

    • Xác định tiêu thức để phân chia.
    • Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu.
    • Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung.

    Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp. Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát.

    Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.

    Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật. Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng.

    Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trừu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau.

    Trong các ngành khoa học xã hội- nhân văn, sự hạn chế độ chính xác trong phân tích định lượng làm cho kết quả nghiên cứu lệ thuộc rất nhiều vào tổng hợp, định tính. Song chính đặc điểm này dễ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch do những sai lầm chủ quan duy ý chí.

    3.2. Phương pháp quy nạp và diễn giải

    Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rời rạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất của một đối tượng nào đó.

    Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy nạp thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua cái riêng.

    Nếu như phương pháp phân tích – tổng hợp đi tìm mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng. Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất. Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp. Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết.

    Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu.

    Phương pháp diễn giải ngược lại với phương pháp quy nạp. Đó là phương pháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các hiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng.

    Phương pháp diễn giải nhờ vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn khoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết, và bằng những suy diễn logic để rút ra những kết luận, định lý, công thức.

    Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau song liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải. Phương pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp vào việc nghiên cứu đối tượng.

    Các đối tượng nghiên cứu( sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triển theo những hoàn cảnh cụ thể của nó, tạo thành lịch sử liên tục được biểu hiện ra trong sự đa dạng, phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ có cả tất nhiên và ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử là phương pháp thông qua miêu tả tái hiện hiện thực với sự hỗn độn, lộn xộn, bề ngoài của các yếu tố, sự kiện kế tiếp nhau, để nêu bật lên tính quy luật của sự phát triển.

    Hay nói cách khác, phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hoá của đối tượng, để phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng.

    • Phải đi sâu vào tính muôn màu muôn vẻ của lịch sử, tìm ra cái đặc thù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến. Và trên cơ sở nắm được những đặc thù cá biệt đó mà trình bày thể hiện cái phổ biến của lịch sử.
    • Yêu cầu phải tìm hiểu cái không lặp lại bên cái lặp lại. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn, nhưng không bao giờ diễn lại hoàn toàn như cũ.

    Phương pháp lịch sử phải chú ý tìm ra cái khác trước, cái không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử. Thí dụ, cũng là khởi nghĩa nông dân, nhưng khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu có khác khởi nghĩa nông dân Hoàng Hoa Thám về đối tượng, quy mô và hình thức đấu tranh…

    Phương pháp lịch sử lại yêu cầu chúng ta phải theo dõi những bước quanh co, thụt lùi tạm thời…của phát triển lịch sử. Bởi vì lịch sử phát triển muôn màu muôn vẻ, có khi cái cũ chưa đi hẳn, cái mới đã nảy sinh. Hoặc khi cái mới đã chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầu tồn tại trong một chừng mực nhất định. Phương pháp lịch sử phải đi sâu vào những uẩn khúc đó.

    Phương pháp lịch sử phải chú ý những tên người, tên đất, không gian, thời gian, thời gian cụ thể, nhằm dựng lại quá trình lịch sử đúng như nó diễn biến.

    Phương pháp lịch sử yêu cầu làm rõ quá trình phát triển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát sự vật, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ cái lịch sử chúng ta sẽ phát hiện ra cái quy luật phát triển của đối tượng.Tức là tìm ra cái logic của lịch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học.

    Nếu phương pháp lịch sử là nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lịch sử thì phương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng.

    Phương pháp lôgíc nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp lại của các hiện tượng. Muốn vậy, nó phải đi vào nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng hợp…để tìm ra bản chất của hiện tượng.

    Nếu phương pháp lịch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, thì phương pháp lôgíc lại có thể bỏ qua những bước đường đó, mà chỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của nó, tức là nắm lấy quy luật của nó. Như Anghen đã nói: lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử một cách đơn thuần, mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo quy luật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại.

    Do đó phương pháp lôgíc có những đặc điểm sau:

    Thí dụ, trong khi viết Tư bản luận, Mác có thể đi ngay vào giai đoạn phát triển điển hình cao nhất của lịch sử lúc đó là xã hội tư bản. Khi phát hiện ra được quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật thặng dư giá trị, tức là nắm được sâu sắc các giai đoạn điển hình, thì từ đó có thể dễ dàng tìm ra các quy luật phát triển của các xã hội trước tư bản chủ nghĩa, mà không nhất thiết phải đi từ giai đoạn đầu của lịch sử xã hội loài người.

    Trong quá trình làm bài luận văn tốt nghiệp, nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm luận văn của chúng tôi giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thuật Và Lập Trình: §2. Phương Pháp Sinh (Generation)
  • Cách Tính Can Chi 12 Con Giáp Theo Năm, Tháng, Ngày, Giờ
  • Đề Thi Học Kỳ 1 Môn Công Nghệ 9 (Đề 2)
  • Giải Bài Tập Công Nghệ 9
  • Đề Thi Công Nghệ 9 Hki 1 De Thi Lt Cong Nghe 9 2022 Docx
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì? Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Giải Pháp
  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • Khái Niệm Về Axit Và Phân Loại Axit
  • Khái Niệm, Cthh, Phân Loại Và Cách Gọi Tên Axit – Bazo – Muối
  • An Toàn Giao Thông Là Gì?
  • Bạn là sinh viên. Bạn rất đam mê nghiên cứu khoa học. Bạn muốn làm một đề tài nghiên cứu khoa học nhưng bạn chưa biết bắt đầu từ đâu! Bài viết này sẽ giúp bạn hình dung cách thức làm một đề tài nghiên cứu khoa học và 5 bước đơn giản để bạn thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học mà bạn thích.

    Đầu tiên chúng ta nên cùng nhìn lại ở khái niệm khoa học là gì?

    Từ “khoa học” xuất phát từ tiếng Latinh  “Scienta”, nghĩa là tri thức. Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”.

  • Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua những hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người và giữa các sự vật hiện tượng trong tự nhiên với nhau.
  • Tri thức khoa học là những tri thức được tích lũy qua hoạt động nghiên cứu khoa học qua kết quả của việc quan sát, thí nghiệm… các sự kiện, hoạt động sảy ra trong hoạt động xã hội và trong tự nhiên.
  • Khoa học nói một cách đơn giản bao gồm những tính toán và thử nghiệm các giả thuyết dựa trên những bằng chứng và thí nghiệm được quan sát là quan trọng và có thể ứng dụng.

    Nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm… dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn.

    Người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có những kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu nhưng chủ yếu là phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp. Do đó, là sinh viên với những kiến thức hạn chế thực hiện nghiên cứu khoa học càng phải phát huy khả năng tự học để trau dồi những kiến thức cần thiết, đồng thời việc lựa chọn đề tài nên phù hợp với khả năng của mình.

    5 bước để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học

    Nếu thực sự bạn có niềm đam mê nghiên cứu khoa học, bạn đừng ngần ngại mà hãy bắt tay ngay để thực hiện một công trình khoa học về bất cứ một vấn đề nào đó mà bạn thích! Nếu bạn chưa biết bắt đầu từ đâu, xin hãy làm theo 5 bước sau đây:

    1. Tìm ý tưởng

    Bạn có thể tìm ý tưởng từ việc đọc sách, báo, Internet, nghe đài.. hoặc qua quan sát thực tế. Khi bạn phát hiện ra vấn đề, hẫy chọn cho mình một hướng nghiên cứu phù hợp.

    2. Xác định hướng nghiên cứu

    3. Chọn tên đề tài nghiên cứu khoa học

    Sau khi đã có trong tay nhiều tài liệu bạn hãy đặt cho mình tên của đề tài. Lưu ý, tên đề tài phải ngắn gọn và phải thể hiện được vấn đề bạn đang định nghiên cứu. tên đề tài phải thể hiện đầy đủ đối tượng, phạm vi, chủ thể, khách thể, thời gian, không gian nghiên cứu.

    Bạn hãy thể hiện ý tưởng của mình thành một đè cương sơ khởi bao gồm những nội dung sau đây:

    • Đặt vấn đề
    • Mục đích nghiên cứu
    • Phạm vi nghiên cứu
    • Phương pháp nghiên cứu khoa học
    • Câu hỏi nghiên cứu
    • Các giả thuyết
    • Kết cấu đề tài
    • Nguồn số liệu, tài liệu tham khảo

    5. Tham khảo ý kiến của giảng viên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuật Toán Tìm Ma Trận Bậc Thang
  • Ma Trận Bậc Thang (Echelon Matrix)
  • Khối Đa Diện Là Gì? Và Phương Pháp Học Khối Đa Diện Tốt Nhất
  • Công Thức Hình Học 12 Thể Tích Khối Đa Diện Dễ Nhớ
  • Những Nhận Thức Mới Về Giai Cấp Công Nhân Hiện Nay*
  • Một Số Khái Niệm Trong Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Giả Tưởng – Một Tiến Trình Đi Tìm Thực Tại Khác
  • Bộ Sách Khoa Học Hình Sự Việt Nam
  • Khoa Học Luật Hành Chính
  • Bản Chất Của Hoạt Động Điều Tra Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Cách Mạng Khoa Học Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • KHOA HC

    Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Nhiệm vụ của KH là phát hiện ra bản chất, tính quy luật của các hiện tượng, sự vật, quá trình, từ đó mà dự báo về sự vận động, phát triển của chúng, định hướng cho hoạt động của con người. KH giúp cho con người ngày càng có khả năng chinh phục tự nhiên và xã hội. KH vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một dạng hoạt động, một công cụ nhận thức.

    Sự phát triển của hệ thống NCKH phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội. Trong điều kiện ngày nay, có sự gắn bó chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản (nghiên cứu hàn lâm) và nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu theo từng ngành và nghiên cứu liên ngành. Nghiên cứu liên ngành nhằm giải quyết những vấn đề lớn, phức tạp.

    + Nghiên cứu hàn lâm: nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi về bản chất lý thuyết, hay nói cách khác là xây dựng và kiểm định các lý thuyết khoa học. Các lý thuyết khoa học này đóng góp vào kho tàng tri thức khoa học để giải thích và dự báo các hiện tượng khoa học (Kerlinger 1986, dẫn theo

    Đ TÀI

    Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam: Đề tài là đối tượng để miêu tả, biểu hiện, nghiên cứu, chuyện trò, vv.

    Trong văn học, nghệ thuật, đề tài là những hiện tượng xã hội được nhà văn, người nghệ sĩ khai thác một cách nhất quán theo ý định tư tưởng – nghệ thuật của mình. Trong khoa học, việc chọn đề tài có một tầm quan trọng đặc biệt. Đề tài phải đáp ứng yêu cầu của khoa học, của thời đại, phục vụ sản xuất và đời sống con người, phải thiết thực và có ý nghĩa đối với thực tiễn cuộc sống.

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Trong nghiên cứu khoa học, khái niệm đề tài (NCKH) được hiểu là: một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học do một người hoặc một nhóm người thực hiện.

    Một cách nhìn khác cụ thể hơn: NCKH là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp được thể hiện dưới các hình thức: đề tài nghiên cứu mô tả, đề tài nghiên cứu phân tích, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu mô tả, nghiên cứu phân tích và triển khai thực nghiệm.

    Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:

    + Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.

    + Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực.

    + Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ.

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Có thể hiểu Sáng kiến kinh nghiệm là kinh nghiệm thực tế đã thành công về cách thực hiện của một người hay một nhóm người trong công việc nhằm cải thiện hiệu quả công việc. Sáng kiến kinh nghiệm có thể chỉ đơn giản là cải tiến quy trình làm việc ở một vài bước nào đó nhằm tăng hiệu quả công việc hay ứng dụng một phần mềm nào đó trong công việc nhằm cải thiện hiệu quả.

    Sáng kiến kinh nghiệm chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong khi đó Nghiên cứu khoa học phải dựa vào các lý thuyết khoa học đã có và thực tế khách quan. Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Bách khoa toàn thư Việt Nam, tại http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn

    Lê Trung Thắng, 2012, So sánh khác nhau giữa khoa học và công nghệ, tại http://hocvienquany.vn/Default.aspx?MaTin=1354 ngày đăng 16/9/2012, truy cập 12/4/2013.

    [4] Nguyễn Huy Kỷ, 2007, Một cách hiểu về Sáng kiến kinh nghiệm và Nghiên cứu khoa học tại http://hanoi.edu.vn/newsdetail.asp?NewsId=3724&CatId=102

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục – Kipkis
  • Khái Niệm, Cấu Phần Và Xu Thế Của Khoa Học Giáo Dục – Nguyenloc.net
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục
  • Khái Niệm Khoa Học Giáo Dục – Kipkis
  • Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự
  • Các Định Nghĩa Và Khái Niệm Về Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 12: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • 1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng
  • Cách Viết Và Cấu Trúc Chi Tiết Một Bài Báo Khoa Học
  • Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học
  • Cstpc: Bài Báo Khoa Học Và Kỹ Thuật Của Trung Quốc Và Trích Dẫn
  • Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới.

    Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: Khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tinmà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thứctích cực đã được hệ thống hóa.

    Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Theo Từ điển Giáo dục, Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới. Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnh vực tri thức chuyên ngành. Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả, giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sở những quy luật mà nó khám phá được.

    Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tưởng.

    Theo Vũ Cao Đàm khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng.

    Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.

    Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.

    Theo (1986), nghiên cứu khoa học (scientific research) là cách thức: (1) Con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống; và (2) Là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích cá sự vật hiện tượng.

    Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội.

    Theo Bauer (1992), phương pháp khoa học (scientific method) là một hệ thống kỹ thuật nhằm nghiên cứu các hiện tượng, mục đích là để thu được kiến thức mới, hoặc hoàn chỉnh và kế thừa các kiến thức có trước đó.

    Theo Beveridge (1950) nhấn mạnh hơn về khía cạnh khoa học là: Để được coi là khoa học, phương pháp điều tra phải được dựa trên việc thu chứng cứ thực nghiệm hoặc chứng cứ đo lường được, tuân thủ theo những nguyên tắc lý luận cụ thể.

    Từ điển Oxford định nghĩa phương pháp khoa học là một phương pháp của khoa học tự nhiên từ thế kỉ XVII, bao gồm quan sát có hệ thống, đo lường, thực nghiệm, xây dựng, kiểm định và điều chỉnh các lý thuyết.

    Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, khoa học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất của xã hội, hoàn thiện các quan hệ xã hội và hình thành con người mới.

    Nghiên cứu khoa học có mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra, nói cách khác là tìm kiếm kiến thức và sự hiểu biết. Tuy nhiên, nếu ta có thể chia xẻ, phổ biến thông tin, kiến thức mà ta có được thông qua nghiên cứu sẽ có hiệu quả cao hơn rất nhiều. Nói cách khác, bản chất của nghiên cứu khoa học là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Nghiên cứu có nghĩa là trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc thực tiễn; làm hoàn thiện và phong phú thêm các tri thức khoa học; đưa ra các câu trả lời để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.

    Với cách nhìn như vậy, nghiên cứu khoa học còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Cơ Bản Là Tiền Đề Cho Khoa Học Ứng Dụng
  • Bộ Sách Khoa Học Công An Việt Nam
  • Khái Niệm Khoa Học Và Nghiên Cứu Khoa Học 1.1. Khoa Học
  • Khái Niệm Văn Hóa Trong Khoa Học Xã Hội
  • Tọa Đàm Giới Thiệu Sách Khái Niệm Văn Hóa Trong Khoa Học Xã Hội
  • Các Thiết Kế Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Khách Hàng (Customer Value) Là Gì?
  • Giá Trị Cốt Lõi Là Gì? Một Số Cần Thiết Về Giá Trị Cốt Lõi
  • Phương Pháp Tìm Tập Giá Trị Của Hàm Số Lớp 10 (Khái Niệm)
  • Viện Nghiên Cứu Giáo Dục Và Giao Lưu Quốc Tế
  • Bài Học: Giá Trị Văn Học Và Tiếp Nhận Văn Học
  • * Phơi nhiễm (Exposure)

    -Là yếu tố nguy cơ ta đang phát hiện (nghiên cứu) và có thể là nguyên nhân

    – Phơi nhiễm chính: là phơi nhiễm được trình bày trong giả thuyết nghiên cứu

    Một nghiên cứu có thể tìm hiểu nhiều phơi nhiễm.

    *.Tình trạng sức khoẻ

    – Tình trạng sức khoẻ là cũng một khái niệm rộng có thể được hiểu là một thay đổi do bị tác động bởi một hay nhiều yếu tố phơi nhiễm. VD: tử vong, bệnh v.v…

    – Một nghiên cứu có thể tìm hiểu nhiều tình trạng sức khoẻ.

    Một đặc điểm nào đó có thể là tình trạng sức khoẻ của một nghiên cứu này nhưng lại có thể là tình trạng phơi nhiễm của một nghiên cứu khác

    I. PHÂN LOẠI CÁC THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

    1.1. Phân loại các thiết kế theo đặc điểm phơi nhiễm

    1.1.1. Nghiên cứu quan sát: phơi nhiễm của đối tượng không chịu tác động của nhà nghiên cứu.

    Nghiên cứu quan sát được chia làm hai loại dựa trên tính chất của sự quan sát: quan sát mô tả (descriptive study) và quan sát phân tích (analytic study).

    1.1.2. Nghiên cứu thử nghiệm/thực nghiệm/can thiệp: phơi nhiễm của đối tượng là do nhà nghiên cứu chủ động tác động.

    là loại nghiên cứu mà để kiểm định giả thuyết nhân quả

    1.2.Phân loại các thiết kế theo câu hỏi trả lời

    + Khi thực hiện trên đơn vị quần thể: Nghiên cứu tương quan

    + Khi thực hiện trên đơn vị cá thể: Báo cáo trường hợp, nhóm trường hơp, nghiên cứu cắt ngang

    1.2.2.Nghiên cứu phân tích: chủ yếu trả lời câu hỏi tại sao?

    Các thiết kế phân tích quan tâm đến cả quá trình diễn biến của mối liên hệ giữa nhân và quả, và thường tập trung đi sâu vào quan sát và phân tích một kết hợp nhân – quả. Vì thế các nghiên cứu phân tích thường được tiến hành sau các nghiên cứu mô tả để kiểm định giả thuyết nhân quả mà nghiên cứu mô tả đã hình thành.

    + Trong nghiên cứu quan sát phân tích có : Nghiên cứu thuần tập, nghiên cứu bệnh chứng, nghiên cứu ngang có phân tích

    + Trong nghiên cứu thực nghiệm có: thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu can thiệp cộng đồng, thử nghiệm thực địa.

    1.3. Tóm lại

    + Các nghiên cứu mô tả: tìm hiểu sự phân bố bệnh- hình thành giả thuyết

    + Các nghiên cứu phân tích: tìm hiểu các yếu tố quyết định bệnh- kiểm định giả thuyết

    + Các nghiên cứu can thiệp: đánh giá hiệu quả của một biện phấp can thiệp – chứng minh giả thuyết

    II. CÁC THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CƠ BẢN

    2.1. Các nghiên cứu quan sát

              Gồm nghiên cứu mô tả và nghiên cứu phân tích

    2.1.1. Nghiên cứu mô tả (Descriptive study)

    2.1.1.1. Định nghĩa: là nghiên cứu hình thái xuất hiện bệnh/hiện tượng sức khỏe theo các đặc trưng về con người, không gian, thời gian.

              – Con người: ai ?

              – Không gian: ở đâu ?

              – Thời gian : Khi nào ?

    Lưu ý: một số trường hợp cũng nhằm giải thích vì sao ?

              Mục tiêu của nghiên cứu mô tả là

    – Mô tả một bệnh/hiện tượng sức khỏe

    – Cung cấp thông tin lập kế hoạch và đánh gía dịch vụ y tế

    – Hình thành giả thuyết căn nguyên cho các nghiên cứu phân tích

    2.1.1.2. Các loại nghiên cứu mô tả: Bao gồm nghiên cứu sinh thái/ nghiên cứu tương quan, nghiên cứu trường hợp/ nhóm bệnh, nghiên cứu cắt ngang

              * Nghiên cứu sinh thái/ nghiên cứu tương quan.

    + Đơn vị nghiên cứu là quần thể chứ không phải cá thể

    – Của các quần thể ở các khu vực địa lý khác nhau tại cùng một thời điểm

    – Của cùng một quần thể ở các thời điểm khác nhau

    + Ví dụ

    – Nghiên cứu về tỷ lệ tự tử ở các khu vực đạo tin lành và đạo cơ đôc ở vương quốc Anh.

    – Nghiên cứu về tỷ lệ tử vong do ung thư ở các nước mà thành phần dinh dưỡng có nhiều chất béo

    + Điểm mạnh và yếu của nghiên cứu sinh thái/ nghiên cứu tương quan.

    -Điểm mạnh

    . Nhanh, dễ tiến hành

    . Có thể sử dụng số liệu sẵn có

    . Cơ sở để hình thành giả thuyết

    -Điểm yếu

    . Không xây dựng được mối quan hệ giữa phơi nhiễm và bệnh/hiện tượng sức khỏe ở mức độ cá thể

    . Sử dụng phơi nhiễm trung bình chứ không phải các giá trị thực của cá nhân

    . Không kiểm soát được các yếu tố gây nhiễu

    *Báo cáo trường hợp bệnh hay đợt bệnh (case report/ case series reports)

    + Mô tả chi tiết về một hoặc một vài trường hợp bất bình thường

    – Bệnh hiếm

    – Bệnh ở người bất bình thường

    + Mặc dù bằng chứng không thuyết phục nhưng có thể gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo

    + Ví dụ

    -Nghiên cứu về bệnh SARS

    – Nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm

    – Nghiên cứu về bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm

    + Điểm mạnh, điểm yếu của báo cáo trường hợp bệnh hay đợt bệnh

    -Điểm mạnh:

    .Có thể là công cụ duy nhất để nghiên cứu những sự kiện hiện tượng lâm sàng hiếm

    . Cơ sở để hình thành giả thuyết

              -Điểm yếu:

    . Không có nhóm so sánh, chỉ dựa vào kinh nghiệm quan sát của một số cá nhân

    . Không thể kiểm định các giả thuyết

    . Có nguy cơ bị sai chệch lớn

    *Nghiên cứu cắt ngang (Cross – Sectional Study): điều tra tỷ lệ hiện mắc

    + Định nghĩa: Nghiên cứu cắt ngang (Cross sectional study) là nghiên cứu được thực hiện tại một thời điểm hay trong khoảng một thời gian ngắn, mỗi đối tượng chỉ thu thập thông tin một lần và không theo dõi xuôi theo thời gian như trong nghiên cứu đoàn hệ tương lai. Các yếu tố phơi nhiễm (exposures) và bệnh đều ghi nhận vào cùng một thời điểm vì vậy khó xác định được mối liên hệ nhân quả (bệnh và phơi nhiễm cái nào xảy ra trước).

    +Sơ đồ nghiên cứu cắt ngang

    + Ví dụ

              – Khảo sát tỉ lệ hiện hành nhiễm trùng bệnh viện ỏ bệnh nhân người lớn tại các bệnh viện ở Canada

    + Điểm mạnh và điểm yếu của nghiên cứu cắt ngang

              -Điểm mạnh:

    . Ít tốn kém và dễ thực hiện

    . Cung cấp thông tin về tình trạng hiện mắc tại một thời điểm

    . Có khả năng khái quát kết quả nghiên cứu

    . Có thể tìm hiểu nhiều phơi nhiễm và tình trạng sức khỏe trong cùng một nghiên cứu

    . Có thể gợi ý mối quan hệ nhân quả giữa phơi nhiễm và bệnh

    . Có thể kiểm định giả thuyết nếu phơi nhiễm đã hiện diện từ khi sinh (giới tính, chủng tộc, nhóm máu…)

    -Điểm yếu

    . Chỉ có thể đánh giá tình trạng có bệnh chứ không phải nguy cơ mắc bệnh

    2.1.2. Nghiên cứu phân tích

              + Mục đích là kiểm định giả thuyết

              + Xác định rõ mối quan hệ giữa phơi nhiễm và bệnh/ hiện tượng sức khỏe

              + Căn cứ để phân loại các nghiên cứu phân tích

    – Dựa vào thời điểm       

    . Nghiên cứu hồi cứu(Retrospective study).

    . Nghiên cứu tương lai(Prospective study).

    – Dựa vào thời gian:

    .Thời gian dài–Nghiên cứu dọc(Longitudinal study).

    .Thời gian ngắn–Nghiên cứu ngang(Cross-sectional study).

              + Bao gồm nghiên cứu thuần tập/ đoàn hệ (Cohort Study) và nghiên cứu bệnh chứng (Case – Control Study)

    2.1.2.1. Nghiên cứu thuần tập/ đoàn hệ (Cohort Study)

    + Định nghĩa: là một nghiên cứu quan sát phân tích được xuất phát từ 2 nhóm người: nhóm có phơi nhiễm (nhóm chủ cứu) và nhóm không có phơi nhiễm (nhóm đối chứng), sau đó theo dõi sự xuất hiện của bệnh trong tương lai

    + Đặc điểm

              – Là một nghiên cứu dọc

              – Có thể là nghiên cứu tương lai hay hồi cứu

              – Xuất phát từ phơi nhiễm, theo dõi tìm sự xuất hiện của bệnh

              – Thuộc nhóm nghiên cứu quan sát

              – Thuộc nhóm nghiên cứu phân tích

    + Sơ đồ nghiên cứu thuần tập

    + Sơ đồ thiết kế

    -Nghiên cứu thuần tập tương lai (Concurrent prospective cohort study)

    . Tình trạng bệnh xảy ra trong tương lai

    . Nghiên cứu theo dõi để xác định tình trạng bệnh

    -Nghiên cứu thuần tập hồi cứu (Retrospective cohort study)

    . Toàn bộ phơi nhiễm và bệnh đều xảy ra trong quá khứ

    . Nghiên cứu thu thập số liệu sẵn có về tình trạng phơi nhiễm và tiếp tục dựa vào số liệu sẵn có để xác định tình trạng bệnh

    + Ví dụ: Tìm hiểu mối quan hệ giữa hút thuốc lá và bệnh mạch vành. Nghiên cứu chọn 3000 người hút thuốc lá và 5000 người không hút thuốc lá. Cả 2 nhóm lúc bắt đầu nghiên cứu đều không có bệnh mạch vành và được theo dõi để xem xét sự phát triển bệnh. Sau một thời gian kết quả nghiên cứu phát hiện 84 người hút thuốc phát triển bệnh và 87 người không hút thuốc lá phát triển bệnh.

    2.1.2.2. Nghiên cứu bệnh chứng (Case – Control Study)

    + Định nghĩa: là một nghiên cứu quan sát phân tích được xuất phát từ 2 nhóm người: nhóm có bệnh (nhóm chủ cứu) và nhóm không có bệnh (nhóm đối chứng), sau đó theo dõi ngược theo dòng thời gian xác định tiền sử phơi nhiễm trong quá khứ

              Thường được dùng trong dịch tễ học để tìm nguyên nhân gây bệnh, đặc biệt các trường hợp bệnh hiếm hoặc khó có điều kiện theo dõi thời gian dài như trong nghiên cứu đoàn hệ. Lợi điểm cùa nghiên cứu bệnh-chứng cho kết quả nhanh, ít tốn kém nhưng do hồi cứu lại các sự kiện ở quá khứ nên có nhiều sai lệch (bias) trong thu thập thông tin, vì vậy các kết luận về mối liên hệ nhân quả giữa yếu tố phơi nhiễm và bệnh không có tính thuyết phục cao

    + Đặc điểm

              – Là một nghiên cứu dọc

              – Chỉ có thể là một nghiên cứu hồi cứu

              – Xuất phát từ bệnh chứ không phải từ phơi nhiễm

    + Sơ đồ nghiên cứu bệnh- chứng

     

    + Điểm mạnh- điểm yếu

    -Điểm mạnh:

    . Khá nhanh và đỡ tốn kém hơn nghiên cứu thuần tập

    . Phù hợp với những bệnh có thời kỳ ủ bệnh dài

    . Tối ưu với nghiên cứu bệnh hiếm

    . Có thể tìm hiểu nhiều yếu tố phơi nhiễm

    -Điểm yếu:

    . Đánh giá phơi nhiễm sau khi bệnh đã phát triển (sai số nhớ lại)

    . Nguy cơ bị sai số chọn (chọn nhóm chứng)

    . Không phù hợp để đánh giá phơi nhiễm hiếm

    . Thường chỉ tìm hiểu được 1 bệnh

    + Ví dụ: Trong 3 năm tại khoa Sản bệnh viện nhận điều trị 30 bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung (CTC). Các nhà khoa học đặt giả thuyết rằng có thể ung thư CTC gây ra do Human papilloma virus (HPV). Chọn nhóm chứng gồm 60 người là các phụ nữ có cùng độ tuổi không mắc bệnh ung thư CTC. Tất cả các đối tượng này đều được làm xét nghiệm PCR để tìm HPV. Kết quả xét nghiệm PCR cho thấy có 22/30 (73,3%) bệnh nhân mắc ung thư CTC có HPV (+), trong khi chỉ 10/60 (16,6%) phụ nữ không bị ung thư CTC có HPV (+)

    2.2. Nghiên cứu can thiệp (Interventional Study)

              + Định nghĩa: là nghiên cứu thực nghiệm có kế hoạch, thực chất là nghiên cứu thuần tập tương lai, chỉ khác là phơi nhiễm do chính nhà nghiên cứu chỉ định

              Nghiên cứu thực nghiệm là loại nghiên cứu có giá trị nhất trong nghiên cứu y học, nó cung cấp những bằng chứng tin cậy nhất nhưng đòi hỏi thiết kế đúng đắn, tiến hành nghiên cứu phải kiên trì và nghiêm túc, thời gian thường dài và tốn kém.

              + Các loại nghiên cứu can thiệp

              – Can thiệp cộng đồng (Community Intervention)

              – Thử nghiệm thực địa (Field Trial) hay can thiệp phòng bệnh

    (Prophylactic Intervention)

              -Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trial)

    + Sơ đồ nghiên cứu can thiệp

    2.2.1. Can thiệp cộng đồng:

    Là loại nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên cộng đồng. Đối tượng nghiên cứu là tất cả cư dân sinh sống trong cộng đồng được quan tâm không kể là có bệnh hay không. Có nhiều cách tiến hành thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng, có giá trị và phổ biến nhất là can thiệp cộng đồng có đối chứng nhưng đơn giản và dễ thực hiện nhất là can thiệp (so sánh) trước – sau.

    Ví dụ như việc đánh giá hiệu quả của việc cải tạo vệ sinh môi trường trong việc phòng chống sốt rét.

    2.2.2. Thử nghiệm thực địa:

    Là nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên cộng đồng nhưng đối tượng nghiên cứu là những người không có bệnh nhằm phòng bệnh cho họ.

    Các thử nghiệm vaccine là một loại thử nghiệm thực địa phổ biến nhất.

    2.2.3. Thử nghiệm lâm sàng.

    Là nghiên cứu tiến hành trong bệnh viện (có thể một hay nhiều bệnh viện) nhằm so sánh hiệu quả điều trị của 2 hay nhiều phương án điều trị. Đây cũng là nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả mà nhân ở đây là phương án điều trị và quả là hiện tượng khỏi hoặc không khỏi bệnh. Có nhiều cách thiết kế thử nghiệm lâm sàng: ngẫu nhiên hoặc không ngẫu nhiên, có đối chứng hoặc không đối chứng…Loại thử nghiệm lâm sàng có giá trị hơn cả là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

    2.2.3.1. Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

    (Randomized Controled Clinical Trial)

    + Khái niệm

    – Là một nghiên cứu can thiệp, là công cụ tối ưu để so sánh các phương pháp điều trị

    – Là một nghiên cứu phân tích để kiểm định giả thuyết

    + Các đặc điểm cơ bản:

              -Đối tượng nghiên cứu phải được lựa chọn theo một tiêu chuẩn nhất định và được phân bổ ngẫu nhiên vào các nhóm nghiên cứu

              – Nhà nghiên cứu so sánh nhóm được điều trị với nhóm đối chứng thích hợp

              – Nhà nghiên cứu tiến hành các thủ pháp điều trị để nghiên cứu sao cho điều trị đúng

    + Thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng

    + Các bước tiến hành

    -Nêu giả thuyết: “Nếu A thì B” ?

    – Chọn đối tượng nghiên cứu

    . Xác định đối tượng dưới 3 góc độ: con người, không gian, thời gian

    . Xác định tiêu chuẩn đầu vào của thử nghiệm lâm sàng

    . Xác định cỡ mẫu

    – Chọn nhóm đối chứng

    – Ấn định đối tượng vào các nhóm để so sánh: có thể thiết kế theo 2 cách sau đây: thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn hay thiết kế ngẫu nhiên phân tầng

    – Tiến hành điều trị và theo dõi kết quả

    . Cả 2 nhóm đem ra so sánh (nhóm nhận điều trị và nhóm không nhận điều trị) đều phải được nhà nghiên cứu điều trị có vẻ giống nhau trong suốt cuộc nghiên cứu

    . Ơ mối nhóm các đối tượng được nghiên cứu đều được theo dõi, đo lường và ghi chép lại

    -Trong RCT nên sử dụng kỹ thuật làm mù (mù đơn, mù đôi hoặc mù ba) vì

    . Cả trong giai đoạn can thiệp điều trị và theo dõi đo lường kết quả đều có thể gặp sai số và nhiễu

    . Giá trị nội tại của nghiên cứu có thể bị sai lệch bởi đối tượng được nghiên cứu, người trực tiếp điều tri và người xử lý phân tích số lieu nếu học biết rõ vấn đề nghiên cứu đặc biệt là mục đích nghiên cứu.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.Học viện Quân Y (2011),

    “Phương pháp nghiên cứu khoa học”,  Bài giảng sau Đại học

    , Hà nội.

    2.Đinh Thanh Huề

    (2009), “Phương pháp nghiên cứu khoa học” Bài giảng sau Đại học, Đại học Y dược Huế

    3. Nguyễn Ngọc Rạng

     “Nghiên cứu khoa học trong bệnh viện” website: 

    www.thietbiysinh.com.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Yếu Tố Của Giá Trị
  • Giá Trị Hàng Hóa Là Gì? Thước Đo Xác Định Lượng Giá Trị Hàng Hoá
  • 【Giải Đáp】Giá Trị Của Hàng Hóa Là Gì?
  • Hàng Hóa Là Gì? Các Giá Trị Của Hàng Hóa 【Từ Az】
  • Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Trong Bối Cảnh Mới
  • Đối Tượng Nghiên Cứu Là Gì? 1 Số Khái Niệm Trong Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Nghiên Cứu Khoa Học Quản Lý Giáo Dục Theo Nhu Cầu Xã Hội
  • Sinh Viên Và Vấn Đề Nghiên Cứu Khoa Học
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản
  • Đề tài nghiên cứu

    Trước khi tìm hiểu đối tượng nghiên cứu là gì, thì chúng ta phải biết vấn đề nghiên cứu chứ nhỉ?

    Khi đề tài nghiên cứu được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật. Có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.

    Ví dụ đề tài nghiên cứu về Hành vi sử dụng điện thoại smartphone của sinh viên trường ĐH Quốc gia.

    Vì vậy, không có 1 cuộc nghiên cứu nào được thực hiện nếu không có đề tài nghiên cứu.

    Mục đích & mục tiêu nghiên cứu

    Nhiều bạn có vẻ hơi nhầm lẫn với mục đích và mục tiêu đấy nha.

    Trước tiên, mục đích là là hướng đến điều gì đó. Hay công việc nào đó trong nghiên cứu (khó có thể đo lường hay định lượng). Mà người nghiên cứu mong muốn hoàn thành.

    Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì”. Hay có thể là “phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu.

    Còn lại mục tiêu là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng (có thể đo lường hay định lượng). Mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đặt ra trong nghiên cứu.

    Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?” và là điều mà kết quả phải đạt được. Hiểu đơn giản rằng nếu muốn hoàn thành mục đích trước tiên phải đạt được mục tiêu.

    Ví dụ với đề tài như trên ” Nghiên cứu về hành vi sử dụng máy bán hàng tự động ở trường ĐH Thương mại”

    Mục đích: nhằm nâng cao hiệu cao của việc sử dụng mấy bán hàng tự động

    Mục tiêu: Xác định được hành vi sử dụng của sinh viên

    Các yếu tố ảnh hưởng đến mua hàng ở máy bán hàng tự động.

    Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu là gì?

    Đối tượng nghiên cứu là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.

    Phạm vi nghiên cứu là giới hạn khảo sát đối tượng nghiên cứu trong trong phạm vi nhất định. Thống nhất về mặt thời gian, không gian và lĩnh vực nghiên cứu.

    Với ví dụ trên :

    Ta có đối tượng nghiên cứu là tất cả sinh viên trường ĐH Thương mại

    Phạm vi nghiên cứu ở đây là trường Đại học Thương Mại và thời gian cho phép cuộc nghiên cứu diễn ra.

    XEM THÊM: Luận điểm là gì? Cách trình bày luận điểm, luận cứ trong bài văn nghị luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Khoa Học Và Nghiên Cứu Khoa Học
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Xử Phạt Hành Chính Với Hành Vi Xâm Phạm Trật Tự Công Cộng
  • Hiểu Thế Nào Là Nơi Công Cộng?
  • Gây Rối Trật Tự Công Cộng Là Gì ? Khái Niệm Về Gây Rối Trật Tự Công Cộng
  • Phương Pháp Thu Thập Số Liệu Trong Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Định Nghĩa Niềm Tin Là Gì? Làm Sao Để Bạn Sở Hữu Niềm Ti N? Update 2022
  • Chỉ Số Niềm Tin Người Tiêu Dùng (Consumer Confidence Index) Là Gì? Khảo Sát Về Chỉ Số Này
  • Giá Trị Niềm Tin Trong Doanh Nghiệp
  • Hãy Chọn Định Nghĩa Chính Xác Nhất Về Oxit Trong Số Các Phương Án Sau
  • Quần thể (population)

    Một tập hợp các đối tượng khảo sát (người, cá thể, nhân vật, sinh vật,…) và chứa các đặc tính cần nghiên cứu hay khảo sát.

    Quần thể mục tiêu

    (target population)

    Mang đặc tính nào đó và được đánh giá qua mẫu; hoặc mang các đặc tính cần nghiên cứu và đại diện cho toàn quần thể. Ví dụ, khi nghiên cứu về việc sử dụng các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường, thì quần thể mục tiêu là người bị đái tháo đường.

    Mẫu (sample)

    Một phần hoặc tập hợp nhỏ cá thể của quần thể mục tiêu được chọn đại diện cho quần thể để khảo sát nghiên cứu.

    Mẫu không xác suất (non-probability sample)

    Phương pháp trong đó việc chọn mẫu không có xác suất đồng đều hay các cá thể trong quần thể không có cơ hội được chọn như nhau.

    Mẫu xác suất

    (probability sample)

    Phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi cá thể có một xác suất đặc trưng của mẫu và thường bằng nhau. Hầu hết việc lấy mẫu xác suất sử dụng cách lấy mẫu ngẫu nhiên để tạo ra mỗi cá thể trong quần thể có cơ hội được chọn như nhau.

    Phương pháp chọn mẫu không có xác suất thường có độ tin cậy thấp. Mức độ chính xác của cách chọn mẫu không xác suất tùy thuộc vào sự phán đoán, cách nhìn, kinh nghiệm của người nghiên cứu, sự may mắn hoặc dễ dàng.

    * Chọn mẫu xác suất

  • Hút thuốc lá.
  • Uống cà phê.
  • Béo phì.
  • Khác (ghi rõ)……………………………
  • * Cấu trúc chung của một bộ câu hỏi

    Thường gồm 2 phần chính:

    – Phần thông tin chung: Tên, tuổi, giới, địa chỉ, trình đọ văn hóa, nghề nghiệp….

    – Phần thông tin đặc thù cho nghiên cứu: Tùy mục tiêu nghiên cứu.

    * Các bước cần làm khi thiết kế bộ câu hỏi

    – Chọn loại câu hỏi sẽ sử dụng: Bộ câu hỏi hay phiếu hỏi.

    – Liệt kê danh sách các biến: tùy theo câu hỏi nghiên cứu.

    – Lựa chon cách thu thập số liệu cho từng biến: câu hỏi, khám, xét nghiệm.

    – Viết nháp bộ câu hỏi.

    – Tham khảo ý kiến chuyên gia, sửa lại.

    – Thu thập thông tin thử từ bộ câu hỏi.

    – Sửa và viết lại cho phù hợp.

    – Mã hóa thông tin từ câu hỏi.

    – In ấn, sử dụng.

    * Tiêu chuẩn một bộ câu hỏi tốt

    – Rõ ràng và có tính đặc thù.

    – Đơn giản, dễ hiểu, dễ mã hóa.

    – Dễ trả lời.

    * Một số nguyên tắc mã hóa các câu hỏi

    Mã hóa các câu hỏi là bước rất quan trọng để xử lý số liệu trên các phần mềm phân tích thống kê.

    Gán số cho từng mục của câu hỏi: thường dùng cho các biến định tính.

    Ví dụ: Gia đình anh/chị thường dùng loại nước nào sau đây để ăn uống:

    1. Nước máy 2. Nước giếng 3. Nước mưa

    4. Nước sông/suối 5. Nước ao hồ

    Ví dụ: Giới tính: 1. Nam 2. Nữ

    Với các biến định lượng (biến liên tục): không nên mã hóa số liệu. Khi cần chuyển đổi từ biến định lượng sang biến định tính (phân nhóm số liệu) có thể thực hiện được trên các phần mềm thông kê.

    – Cho điểm lượng hóa từ các biến định tính:

    Ví dụ: Anh chi có đồng ý việc cấm hút thuốc lá trong khuôn viên bệnh viện không:

    1. Rất đồng ý 2. Đồng ý

    3. Không đồng ý 4. Rất không đồng ý

    4. Kết luận

    Thu thập số liệu nghiên cứu là một bước rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Để có được số liệu chính xác, đầy đủ và đáp ứng yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu phải lựa chọn phương pháp, kỹ thuật và công cụ thu thập số liêu sao cho phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các nguồn lực có được để thực hiện nghiên cứu.

    5. Tài liệu tham khảo

    1. Đỗ Hàm (2009), Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học y học, Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên.

    2. Phạm Văn Hiền (2009), Phương pháp tiếp cận nghiên cứu khoa học, http://pgo.hcmuaf.edu.vn/pvhien.

    3. Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Đăng Bình (2004), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Đại học Thái Nguyên.

    4. Đinh Thanh Huề (2004), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Y Huế.

    5. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Trường Đại học SPKT TPHCM.

    Tác giả bài viết: chúng tôi Võ Bảo Dũng

    Nguồn tin: Phòng Kế hoạch tổng hợp – Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Quan Trọng Về Nghiên Cứu Khoa Học
  • Mẫu Câu Tiếng Anh Giao Tiếp Trong Dịp Lễ Giáng Sinh
  • Top 10 Đoạn Văn Viết Về Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Từ Vựng Tiếng Anh Về Lễ Giáng Sinh Chọn Lọc
  • Viết Đoạn Văn Về Giáng Sinh, Noel Bằng Tiếng Anh Có Dịch Tiếng Việt
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Hiện Nay
  • Phương Pháp Chung Nghiên Cứu Khoa Học Vận Dụng Trong Lĩnh Vực Kiến Trúc
  • Một Số Vấn Đề Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu Về Hồ Chí Minh
  • Cầm Máu Bằng Garo Nên Thực Hiện Đúng Cách Như Thế Nào?
  • Kĩ Thuật Cấp Cứu Chuyển Thương Ktcap Cuu Chuyen Thuong Ppt
  • Khái niệm

    Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

    Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

    Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học. Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

    Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nhưmột phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

    Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng.

    Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng.

    Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.

    Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

    Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

    Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới.

    Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luậnchung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới.

    Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng.

    Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Phổ Biến
  • Giải Thuật Và Lập Trình: §2. Phương Pháp Sinh (Generation)
  • Cách Tính Can Chi 12 Con Giáp Theo Năm, Tháng, Ngày, Giờ
  • Đề Thi Học Kỳ 1 Môn Công Nghệ 9 (Đề 2)
  • Giải Bài Tập Công Nghệ 9
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học – Rces

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiit Là Gì? Cách Tập Hiit Cardio Giảm Cân Tốt Nhất Cho Gymer
  • Phân Biệt Phương Pháp Tập Luyện Tabata Và Hiit
  • Kỹ Thuật Ivm – Trưởng Thành Trứng Non Trong Ống Nghiệm
  • Ứng Dụng Kỹ Thuật Y Học Trong Nước
  • Bác Sĩ Chuyên Khoa Nguyễn Thị Song Hà
  •  Phương pháp nghiên cứu khoa học

    • Khái niệm:

    Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì?

    Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

    Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học. Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp.

    Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

    • Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học:

    – Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng.

    – Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng.

    – Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.

    – Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu.

    – Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng.

    – Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgic tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức.

    – Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Ii Là Gì, Có Hiệu Quả Không?
  • Điều Trị Bệnh Lý Ở Hậu Môn Trực Tràng Bằng Phương Pháp Hcpt Và Pph
  • Ứng Dụng Siêu Âm Hội Tụ Cường Độ Cao (Hifu) Trong Điều Trị Các Khối U
  • Hifu Là Gì? Sử Dụng Công Nghệ Trẻ Hóa Da Nâng Cơ Hifu
  • Những Khác Biệt Giữa Hplc Và Uplc
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Khoa Học Và Nghiên Cứu Khoa Học
  • Đối Tượng Nghiên Cứu Là Gì? 1 Số Khái Niệm Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Nghiên Cứu Khoa Học Quản Lý Giáo Dục Theo Nhu Cầu Xã Hội
  • Sinh Viên Và Vấn Đề Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khoa học là gì?

    Từ “khoa học” xuất phát từ tiếng Latin “Scienta”, nghĩa là tri thức. Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”.

    Hệ thống tri thức bao gồm hai loại: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học:

    – Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua những hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người và giữa các sự vật hiện tượng trong tự nhiên với nhau.

    – Tri thức khoa học là những tri thức được tích lũy qua hoạt động nghiên cứu khoa học qua kết quả của việc quan sát, thí nghiệm… các sự kiện, hoạt động sảy ra trong hoạt động xã hội và trong tự nhiên.

    Khoa học nói một cách đơn giản bao gồm những tính toán và thử nghiệm các giả thuyết dựa trên những bằng chứng và thí nghiệm được quan sát là quan trọng và có thể ứng dụng.

    Nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới (đây là hướng nghiên cứu hàn lâm) hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn (đây là hướng nghiên cứu ứng dụng).

    Người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có những kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu nhưng chủ yếu là phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp. Do đó, là sinh viên với những kiến thức hạn chế thực hiện nghiên cứu khoa học càng phải phát huy khả năng tự học để trau dồi những kiến thức cần thiết, đồng thời việc lựa chọn đề tài nên phù hợp với khả năng của mình (bao gồm sự phụ hợp về kiến thức, thời gian, tài lực … ).

    Ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới thì công việc Nghiên cứu khoa học là một hoạt động của sinh viên và giảng viên trong các trường Đại học. Ở Việt Nam chúng ta, Nghiên cứu khoa học còn “lạ lẫm” với đa số sinh viên. Tuy nhiên, có thể nói Nghiên cứu khoa học vừa là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của sinh viên.

    Nghiên cứu khoa học sẽ mang lại cho bạn rất nhiều thứ! Bạn sẽ chủ động hơn trong học tập, những phương pháp học tập và tư duy mới sẽ hình thành! Cách thức phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, bạn sẽ giỏi hơn trong giao tiếp, trong cách làm việc nhóm (teams word)…. bạn cũng sẽ có đựoc niềm vui từ sự thành công, sự tôn trọng, yêu quý từ mọi người xung quanh bạn! Đặc biệt đây là giai đoạn tiền đề tạo điều kiện cho bạn làm tốt luận văn tốt nghiệp sau này! Hơn nữa, bạn sẽ có những khoản tiền thưởng (thường thì rất ít), bạn còn đựoc cộng điểm, và được các nhà tuyển dụng ưu tiên trong quá trình phỏng vấn!

    Tuy nhiên, để thành công trong Nghiên cứu khoa học bạn cũng phải mất đi nhiều thứ. Thời gian, tiền bạc và công sức! Thời gian để tìm tòi, đọc tài liệu, đi thực tế, khảo sát, viết báo cáo… Tiền để photo tài liệu, in ấn, và các chi phí khác! Công sức là rất lớn, bạn sẽ phải nỗ lực tư duy trong một thời gian dài..

    Nghiên cứu khoa học là gì?

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Phạt Hành Chính Với Hành Vi Xâm Phạm Trật Tự Công Cộng
  • Hiểu Thế Nào Là Nơi Công Cộng?
  • Gây Rối Trật Tự Công Cộng Là Gì ? Khái Niệm Về Gây Rối Trật Tự Công Cộng
  • Tổng Hợp Quy Định Pháp Luật Quy Định Về Nơi Công Cộng
  • Giáo Án Dạy Vật Lý 6 Tuần 13: Khối Lượng Riêng. Trọng Lượng Riêng
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100