Vũ Trụ Và Các Định Luật

--- Bài mới hơn ---

  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 6: Quy Luật Đền Bù
  • Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?
  • Các Lí Thuyết Đa Vũ Trụ
  • Q?a c?u l?a

    GV: Nguyễn bình

    .MỞ ĐẦU

    -Thiên văn học là gì?

    -Các quan điểm: hệ địa tâm ,hệ nhật tâm

    -Kepler đã tìm ra 3 định luật nhằm mô tả chuyển động của các hành tinh

    ?KHÁI NIỆM HỆ NHẬT TÂM

    Hệ nhật tâm là hệ mà Mặt Trời là tâm của vũ trụ hay Mặt Trời là tâm của các hành tinh quay quanh.

    I. CÁC ĐỊNH LUẬT KEPLER:

    Định luật I Kepler:

    Mọi hành tinh đều chuyển động theo các quỹ đạo elip mà Mặt Trời là một tiêu điểm.

    Các hành tinh nói chung hay trái đất nói riêng chuyển động theo quy

    luật nào?

    I. CÁC ĐỊNH LUẬT KEPLER:

    Định luật I Kepler :

    F1

    F2

    M

    b

    a

    O

    I. CÁC ĐỊNH LUẬT KEPLER

    Định luật II Kepler :

    Đoạn thẳng nối Mặt Trời và một hành tinh bất kỳ quét những diện tích bằng nhau trong những khoảng thời gian như nhau.

    S1

    S2

    S3

    Tỉ số giữa lập phương bán trục lớn và bình phương chu kì quay là giống nhau cho mọi hành tinh quay quanh Mặt Trời

    HAY:

    I. CÁC ĐỊNH LUẬT KEPLER

    Định luật III Kepler :

    II. Chøng minh ®Þnh luËt Kª- ple

    Xét hai hành tinh 1 và 2 của Mặt Trời. Coi quỹ đạo chuyển động của mỗi hành tinh gần đúng là tròn thì gia tốc hướng tâm là:

    Lực hấp dẫn tác dụng lên hành tinh gây ra gia tốc.

    Ap dụng định luật II NewTon cho hành tinh 1, ta có:

    HAY:

    SUY RA:

    (1)

    Khi hành tinh chuyển động xung quanh Mặt Trời thì nó chịu tác dụng của lực nào?

    Vì (1) không phụ thuộc vào khối lượng của hành tinh nên ta có thể áp dụng cho hành tinh 2, ta có:

    (2)

    Kết quả trên có phụ thuộc vào khối lượng các hành tinh không?

    Như vậy ta có:

    (2)

    (1)

    Từ (1) và (2) suy ra:

    Hay chính xác là:

    IV.Bài tập vận dụng

    BàI 1: Khoaỷng caựch R1 tửứ Hoaỷ Tinh tụựi Maởt Trụứi lụựn hụn 52% khoaỷng caựch R2 giửừa Traựi ẹaỏt vaứ Maởt Trụứi.

    Hoỷi moọt naờm treõn Hoaỷ Tinh baống bao nhieõu so vụựi moọt naờm treõn Traựi ẹaỏt?

    Chu kì của hành tinh quay xung quanh Mặt Trời là bao nhiêu năm?

    Một năm là thời gian để hành tinh quay quanh Mặt Trời gọi là một chu kỳ.

    Gọi T1 là chu kỳ của Hoả Tinh, T2 là là chu kỳ của Trái Đất quay quanh Mặt Trời.

    Bi gii

    Ap dụng định luật III Kepler ta có:

    BÀI 2:

    Tìm khối lượng MT của Mặt Trời từ các dữ kiện của Trái Đất: khoảng cách tới Mặt Trời R=1,5.1011m, chu kỳ quay T=3,15.107s. Cho hằng số hấp dẫn G=6,67.10-11Nm2/kg2

    Bài giải

    Từ (1) ta có:

    Thay số:

    V. VỆ TINH NHÂN TẠO – TỐC ĐỘ VŨ TRỤ

    1) Vệ tinh nhân tạo :

    Khi một vật bị ném với một vận tốc có một giá trị đủ lớn, vật sẽ không trở lại mặt đất mà sẽ quay quanh Trái Đất, khi đó nó được gọi là vệ tinh nhân tạo của Trái Đất.

    Giả sử ta có một vệ tinh quay trên quỹ đạo tròn rất gần Trái Đất, khối lượng của vệ tinh là m, của Trái Đất là M.

    Lúc này lực hấp dẫn đóng vai trò

    là lực hướng tâm.

    2) Tốc độ vũ trụ :

    Vận tốc đủ lớn để vật trở thành vệ tinh

    nhân tạo gọi là vận tốc vũ trụ cấp I

    V. VỆ TINH NHÂN TẠO – TỐC ĐỘ VŨ TRỤ

    THAY SỐ VÀO TA ĐƯỢC:

    HAY TA KÍ HIỆU:

    VI : gọi là vận tốc vũ trụ cấp 1

    Ap dụng định luật II Newton ta có:

    Hình ảnh của từng hành tinh trong hệ Mặt trời

    Diêm vương TINH

    Hải vương TINH

    Thiên vương TINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiêm Nghiệm: 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Bầu Trời Chiều Ẩn Giấu
  • Bài 4. Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng
  • Cây Cầu Phá Vỡ Định Luật Vật Lý, Trở Thành Kiệt Tác Khiến Cả Thế Giới Thán Phục
  • Cây Cầu Nước ‘phá Vỡ Mọi Định Luật Vật Lý’ Ở Hà Lan
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 6: Quy Luật Đền Bù
  • Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?
  • Các Lí Thuyết Đa Vũ Trụ
  • Các Vũ Trụ Song Song Và Lí Thuyết Đa Thế Giới
  • 7 ĐỊNH LUẬT LỚN CỦA VŨ TRỤ

    1. Luật hấp dẫn

    “Một khi anh đã quyết chí thì cả vũ trụ sẽ giúp anh đạt được việc đó”. Đây là một câu nói nổi tiếng trong cuốn sách Nhà giả kim, dạy cho chúng ta về sức mạnh tận cùng của ước mơ.

    Bạn nói mình khao khát, bạn nói mình muốn thành công, bạn nói mình muốn lấy được người trong mộng…nhưng tất cả những gì bạn đang làm là ngủ đến 10 sáng, ngồi xem hài nhảm cả ngày, không đọc sách, lười lao động…thì đừng bảo sao luật hấp dẫn không phát huy tác dụng.

    Hay nói đơn giản là nếu muốn trúng Vietlott, ít nhất (tối thiểu thôi) bạn phải mua một chiếc vé số đã chứ.

    2. Luật tập trung

    Nếu trường học dạy bạn cần học giỏi ở mọi môn, cả tự nhiên lẫn xã hội, thì trường đời lại trao thưởng cực kỳ hậu hĩnh cho những kẻ đứng đầu, xuất chúng trong một lĩnh vực.

    Bạn có thể thích và muốn nhiều thứ: thích bóng đá, thích kinh doanh, thích đi học, muốn làm chồng đảm đang, muốn là đứa bạn tốt…nhưng định luật tập trung nói rằng bạn cần phải thực sự rất giỏi một thứ gì đó.

    Dù là thợ sửa xe, dân thiết kế, hay chuyên bán đồ ăn qua mạng…chỉ cần bạn thực sự tập trung để đẫn đầu trong ngành mình lựa chọn, đời bạn sẽ nở hoa. Còn nếu cứ mãi “mỗi thứ biết một tí”, thì bản chất của việc tập trung vào mọi thứ thì thực ra bạn đang không tập trung vào một điều gì.

    3. Luật trách nhiệm

    Rồi sẽ có lúc, bạn ngộ ra rằng không ai khác ngoài bạn, đơn độc làm chủ cái đầu của mình. Vậy nên, mọi thứ bạn nghĩ, mọi niềm tin bạn có, mọi việc bạn làm đến tận cùng đều là do bạn cả.

    Nếu bạn làm ai tổn thương, đó là lỗi của bạn. Năm 20 tuổi vẫn nghèo có thể do lỗi của bố mẹ, nhưng 30 tuổi lương vẫn 7 triệu và than cuộc đời bất công thì đó là lỗi của bạn.

    Ngưng đổi lỗi và nhận trách nhiệm cuộc đời vào bàn tay mình, hạnh phúc chắc chắc sẽ đến.

    4. Luật kiên trì

    Người thành công không bao giờ bỏ cuộc và người bỏ cuộc không bao giờ thành công. Tất nhiên là bạn có tạm dừng để nghỉ ngơi, chuyển hướng…nhưng không được từ bỏ.

    Bạn kiên trì và nỗ lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Trên đời này, tôi hiếm khi gặp một ai dám nói: “Tôi đã thử hết mọi cách, tôi đã tìm đến mọi sự trợ giúp, tôi đã cố gắng hết sức mình…và tôi vẫn thất bại cả”.

    Vì sự thật là một khi bền bỉ và đặt hết tâm trí vào việc mình làm, tất yếu là định luật kiên trì sẽ tưởng thưởng cho bạn xứng đáng.

    5. Luật nhân quả

    Có lẽ sống đến giờ này, bạn cũng nghe rất nhiều đến câu “Gieo nhân nào, gặt quả đấy”. Dù có muốn chối bỏ đến đâu, thì sau này bạn cũng ngộ ra rằng, bất cứ điều gì mình làm rồi cũng sẽ để lại một kết quả gì đấy.

    Những gì bạn làm hôm nay sẽ quyết định ngày mai của bạn. Nếu bạn ác với người khác, làm điều xấu, thì ác hữu ác báo, trốn mãi cũng không được.

    Nếu bạn làm điều tốt, học cách cho đi, không nói dối, kiếm tiền chân chính…thì luật nhận quả sẽ trả lời bạn đầy đủ.

    6. Luật chấp nhận

    Mọi thứ xảy ra trong cuộc đời này đều có lý do. Có rất nhiều thứ nếu chịu cố gắng, mọi chuyện có thể thay đổi nhưng có một số chuyện bạn buộc phải chấp nhận rằng mình thực sự bất lực và phải “cho qua đi”.

    Khi học được cách chấp nhận, rằng có thể cô ấy sẽ không yêu mình, rằng có thể rồi bố mẹ rồi cũng có ngày ra đi, rằng mình mất hết thật rồi, chúng ta sẽ thay đổi bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh để dễ thích nghi hơn.

    Thấu hiểu rằng dù có giỏi giang đến đâu, bạn không thể luôn bắt mọi chuyện diễn ra theo ý mình là một sự giải thoát khỏi gánh nặng chối bỏ mà định luật chấp nhận có thể đem lại cho cuộc đời bạn.

    7. Luật kết nối

    Mọi sự đều gắn kết với nhau bằng một sợi dây vô hình nào đấy. Có những chuyện bạn làm bây giờ bị người khác coi là vô nghĩa, nhưng 10 năm sau lại là cực kỳ quan trọng. Người bạn giúp hôm nay biết đâu mai này lại trở thành quý nhân phù trợ.

    Nhận ra được mối quan hệ tương hỗ này, hãy biết trân trọng và có trách nhiệm mọi kết nối mà bạn tạo ra.

    #quantriexcel

    #kynangmoi

    #quantriexcel #kynangmoi

    #tailieuso #quantriexcel

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vũ Trụ Và Các Định Luật
  • Chiêm Nghiệm: 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Bầu Trời Chiều Ẩn Giấu
  • Bài 4. Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng
  • Cây Cầu Phá Vỡ Định Luật Vật Lý, Trở Thành Kiệt Tác Khiến Cả Thế Giới Thán Phục
  • Định Luật Thiên Nhiên Của Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • 2019: Clia Proposed Changes To Pt Acceptable Limits
  • Học Về Luật Xa Gần (Phối Cảnh), Tổng Hợp Các Hướng Dẫn “vẽ Cùng Dét Ạt”
  • Những Quy Tắc, Định Luật Nhiếp Ảnh
  • Bài 7: Xác Xuất Có Điều Kiện
  • Truyện: Cuộc Sống Sâu Gạo Của Mọt Sách Ở Thanh Triều
  • ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN CỦA VŨ TRỤ

    Bhikkhu Nāga Mahā Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn

    Lời Tựa

    “Ngũ luật thiên nhiên” hay là “Định luật tự nhiên của vũ trụ” ( pañca niyāma) là một định luật tự nhiên có sẵn, dầu cho ai khám phá nó ra không, nó cũng vẫn có, nó không ở dưới sự điều khiển, sai khiến, chỉ huy của một vị Thần Linh hay vị Chúa Tể nào cho rằng mình có toàn năng toàn lực tạo hóa ra vạn vật như Trời Phạm Thiên ( Brahma) hay là Đức Phật là bậc toàn giác chẳng hạn.

    “Ngũ luật thiên nhiên” ấy có tánh cách tự nhiên hoạt động theo “bản tánh của nó” tùy thời gian và không gian của nó phù hợp mà phối hợp vậy thôi.

    Mong rằng quý vị độc giả sau khi đọc qua quyển “Định luật tự nhiên của vũ trụ” sẽ lãnh hội một phần nào về giáo lý Phật Đà rất có liên hệ đến khoa học, mà hiện nay các khoa học gia càng khám phá ra những bí ẩn của Vũ trụ lại càng nhìn nhận và chứng minh những gì mà Đức Phật đã dạy từ lâu rồi.

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

    Đây xin kể về “Ngũ luật thiên nhiên“: utu niyāma – định luật về thời tiết (nóng, lạnh); bīja niyāma – định luật về giống chồi, mầm và tế bào; kamma niyāma – định luật về nghiệp báo; citta niyāma – định luật về tâm thức; dhamma niyāma – định luật về quy phạm hay các Pháp. (Năm định luật thiên nhiên này mà các “Thần giáo” cho là “Đấng tạo hóa” hay là “Thượng Đế”).

    1. Định luật về giống chồi, mầm và tế bào (bīja niyāma): là định luật về sự tiến triển của những vật chất hữu cơ (organique) như cây cỏ, hột giống và những vật có tế bào. Do định luật này mà giống nào sinh ra giống nấy, lúa do hột lúa mà ra, vị ngọt do đường mía, mật mà ra, luật trống mái tế bào và phần tử genes trong sự thọ thai cũng do định luật này chi phối. Bīja niyāma cũng không phải là một định luật bất cưỡng lại. Ta cũng có thể xoay chuyển, kiểm soát nó được. Như trong cách trồng tỉa, ta cũng có thể chấp cành cây này qua cây kia để đổi phẩm chất hoặc số lượng của giống ấy được.
    2. Định luật về nghiệp báo (kamma niyāma) là định luật hành vi và quả hay là “nhân quả”. Nhân gieo thì trổ quả. Nhân tốt đem lại quả tốt, nhân xấu đem lại quả xấu, đó là sự tự nhiên phải trổ sanh ra như vậy chớ không do ai thưởng phạt cả. Kamma niyāma tự nhiên có năng lực tác động mà không cần đến sự kích thích. Muốn hay không muốn bên ngoài đây là định luật chung của vạn vật trong vũ trụ.

    Ta thường nói “thủy lưu tại hạ”, nước chảy xuống chỗ thấp, bởi chất nước luôn luôn tìm kiếm cho được sự quân bình, bằng phẳng không cần một máy móc hay nhân vật nào chỉ huy hay sai khiến, luật nhân quả cũng vậy, đã có nhân thì có quả như trả lại sự quân bình không thể tránh được, cũng như không thể ngăn hay tránh không cho nước chảy xuống chiều thấp trước khi nó đến mức quân bình như sự tự nhiên xoay vần của mặt trời và mặt trăng vậy.

    Kamma niyāma không phải là một định luật bất cưỡng mà ta có thể chuyển hướng nó được (gọi là chuyển nghiệp). Tuy rằng trong khắp cõi sa bà này không có một nơi nào mà ta có thể tránh khỏi sự tác động của nghiệp báo, nhưng ta cũng không phải bắt buộc thọ lãnh trọn vẹn. Những cái gì mà ta mang theo trong cái nghiệp của ta từ người đê hèn, độc ác cũng có thể trở nên một bậc đạo hạnh, thanh cao. Luôn luôn ta có thể trở thành một cái gì, mà cái ấy tùy sự hành động và tư tưởng của ta. Mỗi lúc ta có thể trở nên tốt hơn hay là xấu hơn. Dầu cho người tội lỗi nhất cũng không nên tuyệt vọng (như đệ tử của ĐĐ. Ca-Diếp vì không thu thúc mà phải ra đời làm nhiều điều tội lỗi phải bị đức vua bắt được và đem ra pháp trường xử trảm, trong khi đưa ra pháp trường nhờ Đại đức Ca-Diếp đến nhắc nhở mà người để tử đổi liền tư tưởng ác xấu và thất vọng nhờ niệm đề mục tham thiền rồi đắc thiền dùng thần thông bay lên hư không thuyết pháp cho đức vua nghe và sám hối tội lỗi xin được xuất gia tu hành trở lại). Hoặc người có đạo hạnh cao nhất cũng không nên cẩu thả ỷ lại (như tích đức Bồ tát tu hành rất trong sạch đã đắc thiền và được đức vua thỉnh vào đền thọ thực mỗi bữa, vì dể duôi mà phải đứt thiền hành dâm với hoàng hậu). Như vậy tốt hay xấu chỉ do một tích tắc tư tưởng và hành động mà thôi.

    Ai biết được nghiệp của mình đã tàng trữ bao nhiêu xấu, bao nhiêu tốt? Nếu suy theo sự hành động hiện tại mà ta suy đoán ngay cái quả thì ai dám nghĩ rằng một người như Aṅgulimala là một tên giết người không gớm tay mà lại đắc quả A-la-hán trong kiếp ấy. Như vậy định luật nghiệp báo ta có thể chuyển được do sự tinh tấn tu tập của ta.

    1. Định luật về tâm thức (citta niyāma) như lịch trình diễn tiến của tâm thức, sự sanh, sự diệt của tâm niệm, những tác động của tâm, những hiện tượng của thần giao cách cảm, viễn cảm, hồi thức, huệ nhãn, huệ nhĩ, tha tâm thông .v.v. đều thuộc về citta niyāma cả.
    2. Định luật về quy phạm hay các pháp (dhamma niyāma) như hấp dẫn lực, nhẹ bay lên, nặng rơi xuống, nhẹ hút vào nặng, dị chất phản ứng, như âm dương tương phản, như hiện tượng lạ lùng xảy ra trong lúc Bồ tát giáng sanh .v.v… và các định luật tương tợ trong vũ trụ cũng nằm trong định luật này.

    Như đã giải trên, năm định luật vừa kể thì tất cả hiện tượng vật chất, tâm lý, luân lý đều có thể xoay chuyển được tùy theo sự cố gắng và khả năng của ta. Còn nếu như theo các thần giáo thì cho rằng: năm định luật ấy là Đấng Tạo Hóa hay là Thượng Đế đã an bài cách nào ta phải chịu như cách ấy thì ta mặc nhiên tự mình làm mất sự cố gắng và tự chủ của mình. Như vậy thì phải chịu hoàn toàn thất vọng vì ỷ lại hay quá tin tưởng vào kẻ khác.

    Theo lời Đức Phật nói trong kinh này thì những hoa quả mọc nhanh chóng như quả địa cầu này trong lúc đầu tiên vì còn tinh khiết nguyên vẹn cũng như sự tinh khiết trên đất của mặt trăng. Như vậy thì chúng ta nhận thấy không có sự “Pha trộn thần bí” về sự tinh khiết của đất đầu tiên quả địa cầu này và sự tinh khiết của đất mặt trăng. Về sau sự mọc chậm trễ của thảo mộc trên quả địa cầu này vì sự “suy đồi và nhơ bẩn” thay đổi lần lần mà phải chậm lại.

    Trong kinh còn nói thêm rằng: “… trước khi có mặt trăng, sao và hành tinh xuất hiện thì tất cả hư không vũ trụ này ở trong một thế giới tối tăm không thấy chi cả”. Bây giờ đoàn phi hành của thuyền Apolo 12 có nói rằng “…Tất cả đều không có thật tế với chúng ta,… mặt trăng chỉ như một trái banh trắng hiện ra giữa cảnh hư không vĩ đại và đen tối”. Cũng như Đức Phật có nói trong cảnh hư không vô tận đen tối, chỉ được sáng lên do nhờ mặt trăng, những ngôi sao và các vì tinh tú khi nào xuất hiện.

    Chúng ta còn ghi nhận thêm rằng “Những nhân viên phi hành của phi thuyền Apolo 11 và 12, khi về đến quả địa cầu này phải bị dưới sự kiểm soát trong một thời gian coi họ có mang những tật bệnh chi về từ mặt trăng hay không, nhưng sau khi thời hạn kiểm soát nhận thấy họ không mang một bệnh tật chi về cả. Như vậy chứng tỏ trên mặt trăng ít có nhiều thứ bệnh, trái lại trong hiện nay trên quả địa cầu này không biết bao nhiêu là thứ bệnh mà kể. Như Đức Phật có nói sau khi kiếp hoại đến kiếp thành quả địa cầu trong lúc đầu tiên con người ít có bệnh tật chỉ có vài ba thứ bệnh thông thường mà thôi như bệnh: ước muốn, đói khát và bệnh già, các điều mà thời ấy gọi là một thứ bệnh. Trái lại sau này vì tánh xấu con người phát sanh lên giết hại lẫn nhau hoặc để ăn thịt, hoặc vì lòng sân hận mà nhiều thứ bệnh bắt đầu lần lần phát sanh lên cho đến bây giờ, chúng ta có thể nói không thể nào kể hết các thứ bệnh.

    Đến đây, ý định của tôi là muốn khêu gợi sự chủ ý của độc giả, nhứt là cho sinh viên tìm hiểu Phật giáo, không phải là học và hiểu biết Phật giáo mà có thể giải quyết các vấn đề, nhưng chỉ cho thấy mau lẹ và nhận định chính xác sự thật tế của vũ trụ không về sự khám phá toàn cõi vũ trụ thật mà còn xa vời với khoa học. Như vậy con người không cần phải chờ, mất cả sự quý báu của đời người, cho đến khi nào khoa học xác định sự khám phá của vũ trụ mà Đức Phật đã khám phá ra trước đây hơn 25 thế kỷ. Sự dẫn chứng viện lý này rất cần cho người tìm hiểu chân lý.

    Rất hữu ích, chúng ta cố gắng để hiểu biết người Âu châu đã tiến triển và khám phá vũ trụ được bao xa rồi, luôn cả quả địa cầu mà ta đang ở. Trước khi chúng ta có thể bàn về năm Định luật Thiên nhiên quản trị lái “chúng sanh và vạn vật” trong Thái dương hệ, cũng như trong hàng triệu vũ trụ được khám phá ra trong “vô số của vũ trụ” ở rải rác trong không gian theo quan niệm của Phật giáo. Trước hết, chúng ta xem coi người Âu châu họ có ý định gì và để hoàn thành những gì trong lãnh vực địa cầu này?

    Như chúng ta biết, từ lâu rồi ông Nicholas Copernicus nhà thiên văn Ba Lan nói quả quyết rằng: “Thái dương hệ của chúng ta đây chỉ là một trong số của những ngôi sao rải rác trong khắp hư không vô tận cũng như những người Âu Châu từ từ và vững chắc tin tưởng rằng “quả địa cầu nhỏ bé của chúng ta ở trong Thái dương hệ nhỏ bé này chỉ là một chấm nhỏ trong hư không vô tận mà thôi”. Bây giờ đến ông Bessel một nhà Thiên văn và toán học của xứ Prusse, mà các học sinh khoa học và thiên văn học đều biết, càng đi xa hơn là có thể đoán ra cỡ lớn và sự cách xa của những ngôi sao khác nhau, cái này đến cái kia. Như sự thay đổi hình thức và ánh sáng, có vài ngôi sao như Batelgeuse có ánh sáng vĩ đại 300 năm ánh sáng mới đến chúng ta và 400 lần lớn hơn hay 300 lần sáng chói hơn mặt trời của chúng ta. Còn nói về sự nhỏ bé lại thì vì sao tên là Van Manen’s thì có 13 năm ánh sáng xa cách chúng ta và nhỏ hơn quả địa cầu này, có ánh sáng 10.000 lần yếu hơn Thái dương hệ. Nhưng cũng lần đầu ông Bessel biện hộ thẳng cho bằng chứng của ông Copernicus rằng “Mặt trời của chúng ta cũng chỉ là một vì sao nhỏ bé trong vô số vì sao rải rác trong hư không vô tận”. Thật vậy, cái gọi là Dãy Ngân Hà, theo ông W Herschel, một nhà thiên văn của Anh mới khám phá ra đó là một số những vì sao tụ họp lại nhau do sự thay đổi hay di chuyển của chiều sâu và nó không phải là một dây đai do những hơi của cụm mây lan tràn ra trong hư không như chúng ta tưởng. Bây giờ chúng ta biết rằng Thái dương hệ này không phải là một vật ở trung tâm của một xã hội vĩ đại của những vì sao. Sự càng làm cho chúng ta phấn khởi là hơn nửa triệu vì sao đã được trông thấy xuyên qua ống kính viễn vọng 100 inch (ngón tay) của đài Thiên văn Mt.Wilson bên California Huê-Kỳ.

    Về sự khám phá vĩ đại cách đây hơn 25 thế kỷ mà Đức Phật đã cho chúng ta và những dân chúng ở hướng đông của thung lũng con sông Hằng biết đã có ghi trong bộ kinh Phật giáo vắn tắt như sau: Đức Phật có nói “Một Thái dương chỉ chiếu sáng có một Thế giới”, một ngàn Thế giới thì có một ngàn Thái dương hệ, mỗi thế giới đều có một vùng hệ thống của riêng mình. Hệ thống này gồm có một ngàn tiểu thế giới. Một ngàn tiểu thế giới làm thành một trung thế giới. Một ngàn trung thế giới làm thành một đại thế giới, như vậy trong một đại thế giới có đến một ngàn triệu Thái dương hệ. Tất cả 1.000.000.000 thế giới ấy lập thành một Vũ trụ ( universe). Nhưng khỏi ngoài phạm vi của vũ trụ ấy ra cõi hư không vô tận còn có nhiều đại thế giới khác nữa”. Trong bộ kinh khác cũng có giải tương tự như thế là: “Về hướng Tây cách đây 10 muôn triệu vũ trụ có một thế giới gọi là ‘Cực lạc Thế giới'”. Hơn nữa, nói về chỗ ở của Cực lạc Thế giới này như một dãy của 13 đại Thế giới. Đại Thế giới của chúng ta ở chính giữa, cách về hướng Tây, nếu kể số Thế giới tương đương những hạt bụi trong một quả địa cầu mới đến biên giới của vũ trụ thứ 13, nơi đó gọi là “Cực lạc Thế giới”. Còn bộ kinh khác cũng giải tiếp thêm rằng: “Ở chính giữa một đại dương vô tận có vô số thế giới rải rác trong hư không. Số của thế giới ấy chỉ trong một dãy của Đại Thế giới thôi, cũng hằng hà sa số không lời nào mô tả hoặc kể đếm được”. Trải qua vô số hệ thống Thế giới, ngoài dãy đại vũ trụ của chúng ta, ở đó có một dãy đại vũ trụ thứ nhì liên tiếp như thế ấy cho đến 20 dãy đại vũ trụ. Ở chính giữa của dãy thứ 13 là thế giới của chúng ta hiện đang ở. Ở ngoài biên giới của dãy đại vũ trụ của chúng ta là cõi “Cực lạc Thế giới”. Tính như vậy trong chừng 10 vùng của hư không cũng còn có những hệ thống đại vũ trụ tương tợ và tiếp tục như thế trong 10 phương vô cùng vô tận của không gian.

    Bây giờ, đã phá tan quá xa về quan niệm từ sự nhận thức hẹp hòi đã tràn lan ra khắp những người trong các nước Âu châu. Vì theo quan niệm của Phật giáo thì Thái dương hệ chỉ thể hiện cho một chấm nhỏ có thể thấy được trong không gian vô tận. Hơn nữa mỗi Thái dương hệ không phải chỉ là một hoàng cung trọn vẹn của một vị Chúa tể trị vì, bảo bọc và thông qua bởi hệ thống thống trị của một vị Trời. Và như vậy thì trong mỗi tiểu Thế giới, trung Thế giới và đại Thế giới đều có rất nhiều vị Trời để cai trị, thế thì sự phối hợp để tạo thành những vũ trụ có uy quyền, vượt ra ngoài vòng hiểu biết của nhân loại.

    Người Phật tử không thể nào hóa giải được sự sự tạo tác không hoàn toàn trên thế giới của một đấng Chúa Tể hoàn toàn. Nếu cho một đấng Chúa Tể hoàn toàn và phần tử tại sao lại tạo ra một thế giới không hoàn toàn và đầy rẫy sự bất công, tàn ác đối với súc sanh và nhân loại. Còn nói có toàn năng toàn lực nhưng hoàn toàn bất lực vì loại bỏ ra những sinh vật bị đau khổ một cách độc ác về tinh thần lẫn vật chất, đối với Phật giáo sự ức đoán ấy là sự sai lầm và tà kiến ( micchadiṭṭhi).

    Không, nói như thế người Phật tử có quan niệm khác vì họ cho rằng “không có một đấng toàn năng toàn thiện và vị Chư Thiên đâu”. Họ cũng nhận thấy rằng có nhiều vị Trời, nhưng các vị Trời ấy ở trong một phạm vi quyền lực của mình do phước lành cấu tạo ra họ mà thôi, chớ không phải là một đấng hoàn toàn.

    Theo tôi cảm thấy và tóm lược cho rõ rằng “Trong vũ trụ có hằng hà sa số Thái dương hệ nhưng Thái dương hệ ấy phối hợp làm thành một đại thế giới trải ra khắp thập phương trong cõi hư không vô tận. Nhưng cuộc sống ( life) hay là sinh vật, theo chúng ta hiểu thì không có trên các hành tinh khác, như trên hỏa tinh, vệ tinh, mộc tinh… của trong mỗi Thái dương hệ nhưng chỉ có trên quả Địa cầu ( earth) của mỗi Thái dương hệ mà thôi. Như vậy mỗi Thái dương hệ khác cũng có quả địa cầu như chúng ta và các hành tinh khác cũng giống như của chúng ta vậy”.

    Ở đây, điểm quan trọng mà chúng ta ráng hiểu và nên nhớ là mỗi Thái dương hệ chỉ có một quả địa cầu mới có sinh vật mà thôi và đó cũng là luật cấu tạo và điều hành thiên nhiên của vũ trụ. Dĩ nhiên, nếu nói về sinh vật sống trên quả địa cầu của mỗi Thái dương hệ đều giống nhau như quả địa cầu này thì không thể được, bởi vì có những trường hợp và tình trạng cung cấp khác nhau như: bầu khí quyển, khí hậu, trọng lượng… có thể khác nhau. Về sự phát triển của khoa học cận đại, có thể làm các cổ giáo tổn thương và kinh sợ, có một lúc mà người Âu châu đã bám niếu, nhưng rất mau chóng bây giờ họ đã rời bỏ quan niệm cổ kính của các cổ giáo ấy. Do nhờ xuyên qua các khoa học gia đã khám phá ra sự thật, không phải do nhờ sự truyền thống của Thần giáo, nhưng do nhờ phòng khảo cứu, các ống thí nghiệm, các toán học, những kính hiển vi và những kính viễn vọng. Do đó mà họ càng xích lại gần Phật giáo hơn, chẳng những họ nhìn nhận mà còn quả quyết trong vài lãnh vực mà Đức Phật đã khám phá ra trước đây hơn 25 thế kỷ.

    Bây giờ giải thêm về năm định luật.

    Tuy đã có giải ở phía trước nhưng đây xin giải thêm có vài sự nhận thức của các học giả Âu châu. Những định luật thiên nhiên này không phải tạo ra hoặc để dưới sự điều khiển của một vị thần linh hay một vị chúa tể nào có toàn năng, toàn giác hay do sự vui thích của một Đấng tạo hóa. Nhưng nó chỉ là một định luật thiên nhiên, nó hoạt động một cách hòa điệu ăn nhịp với căn bản của nhân và quả.

    Trước hết muốn giải thích và hiểu biết những nguyên tắc và căn bản này chúng ta nên biết qua một vài thí dụ: Như sự thông báo rằng “Đức vua đã đến”. Bây giờ ta thử nghĩ đức vua chỉ đến có một mình, không có người tùy tùng hầu cận hay sao? Nếu suy nghĩ và ức đoán như vậy là sai lầm. Không hiểu rõ lời thông báo ấy. Một cách khác, cũng do sự thông báo ấy có người lại hiểu rằng “Đức vua đã đến với rất nhiều người tùy tùng hầu hạ để lo hành sự theo chức vụ của mình”, sự hiểu biết như thế mới gọi là sự hiểu biết đúng đắn, rõ rệt lời thông báo.

    Cũng như thế ấy, có rất nhiều sự ám chỉ bất ngờ, ngẫu nhiên để chúng ta tự hiểu cho đầy đủ ý nghĩa của một định luật nào trong năm định luật thiên nhiên ấy. Trước hết là:

    Như khi nắng, khi gió, khi mưa tự nhiên thay đổi mùa tiết hoặc có vài loại hoa nở trong mùa này không nở trong mùa kia, có thứ thì nở trái ngược lại. Như thế ấy nhiều loại trái cây trổ quả khác thời kỳ nhau, có thứ thì trổ sớm, có thứ thì trổ muộn, như vậy không phải do ý muốn hay tánh ngông cuồng bất thường của một nhân vật hay một vị Trời nào sai khiến.

    Theo quan niệm cổ truyền thì mỗi bộ phận và mỗi tế bào phải nảy nở và phát triển theo mỗi loại của nó, theo quan niệm ấy thì bây giờ không còn thật sự nữa vì bác sĩ chúng tôi và Yes Delage có dẫn chứng rằng: Có thể làm mọc lên ở chỗ nào có chân. Như tại Jurich (Thụy Sĩ) và Standfuss, chỉ thay đổi nhiệt độ trong phòng thí nghiệm mà họ có thể tạo được những mẫu của con bướm giống nhau của miền nhiệt đới và miền bắc cực. Như vậy do sự chế tạo của khoa học mà vật lý chung quanh có thể làm cho các bộ phận hay tế bào và các loại kiểu mẫu thay đổi được chớ không phải chỉ có sự truyền thống mới được. Chúng ta tự nhận thức sự kết quả của vật lý chung quanh (lạnh và nóng) trên cơ thể của con người và sinh vật. Một lần nữa ở đây xin xác nhận dưới sự điều hòa của phòng thí nghiệm do định luật thiên nhiên của lạnh và nóng mà có sự kết quả đến những bộ phận cơ thể của sinh vật.

    Con người thường có tánh tình của mỗi người do hai yếu tố là: một là sự truyền thống (như các loại giống, mầm, tế bào), hai là do nhiệt độ lạnh nóng chung quanh nếu cho sự truyền thống chủng tử của cha mẹ mà không khác tánh tình thì họ dựa vào lý lẽ thứ nhì là do ảnh hưởng sự tiếp xúc nhiệt độ của sự lạnh sự nóng mà phát sanh ra khác nhau. Điều này cũng không hoàn toàn đúng vì điều trước và điều sau, thường cũng xảy ra sự khác nhau về tánh tình và nhân vật. Rất nhiều bằng chứng để tỏ ra tính tình con người khác nhau trong khi sinh ra, dù cho trước khi chưa bị ảnh hưởng của áp lực chung quanh là thời tiết nóng lạnh.

    Như chúng ta đã thấy, sự tiến triển của mầm, giống, hột chỉ do phương châm của vật lý mà thôi, đó chỉ là sự khởi đầu tiến triển của mầm, giống vậy thôi. Nhưng trường hợp vật lý đã gieo vào bào thai do cha mẹ cấu sanh thì phương diện tiến triển hết sức lạ của mầm giống về con người này. Yếu tố rất quan trọng ở đây không phải do sự phát triển về vật lý, nhưng mà tinh thần là sự sống linh hoạt của một cơ thể con người. Vật lý chung quanh chỉ có ảnh hưởng đến cơ thể vật lý mà thôi, nó không ảnh hưởng đến phần vô hình quan trọng của đời người.

    Như vậy cái gì là phần vô hình quan trọng trong cơ thể? Cái gì làm cho sự hành vi và hạnh kiểm của họ nhiều cách khác nhau? Cái gì làm cho hưởng được một gia tộc hạnh phúc hơn những người khác? Phật giáo có giải: Tánh tình có thể chịu một phần ảnh hưởng của sự truyền thống cha mẹ hoặc một vài ảnh hưởng của thời tiết chung quanh như lạnh nóng, nhưng nó còn có một ảnh hưởng thứ ba quan trọng hơn là sự tiến hóa của cá nhân do sự hành vi thiện hoặc ác từ trong kiếp quá khứ, sự hành vi ấy đem lại sự vui sự khổ mà họ phải chịu trong đời này. Tất cả sự việc khác nhau này là do định luật nhân quả vậy.

    Nhưng trái lại khi chúng ta nói định luật thiên nhiên về mầm, giống thì cũng nên hiểu như chúng ta nói “Đức vua đã đến”, câu này chúng ta tự biết rằng không phải một mình đức vua đến mà còn rất nhiều quan quân tùy tùng hộ vệ nữa như thế nào thì khi ta nói định luật về mầm, giống thì cũng phải có những vật phụ thuộc giúp vào như phải có đất, nước rồi nảy sanh ra cây lá bông trái… Có loại thích hợp với đất địa chỗ này, có loại lại không hạp mà thích hợp với chỗ kia. Có loại thích hợp với phong thổ thời tiết này, có loại lại không chịu được thời tiết ấy. Có loại thích hợp với phong thổ thời tiết ở Âu châu, có loại thì phù hợp với thời tiết Á châu… Hoặc mầm giống đã có điều kiện phong thổ thời tiết mùa màng đều phù hạp nhưng không có người cày người gieo thì mầm giống cũng không thể nào nảy nở phát triển được.

    Bây giờ, tinh trùng và noãn châu của cha mẹ cũng thuộc về định luật mầm giống và tế bào, trong hai yếu tố này có sự truyền thống vật lý và ảnh hưởng chung quanh của lạnh và nóng đến sự hình thành của con cái. Nói về vật lý thì hình tướng đứa trẻ thường giống cha mẹ, nhưng tính tình và cử chỉ khác hẳn, tất cả điều đó cũng do sự biến chuyển của thể chất và bất ngờ của dòng tâm thức thường gọi là đời sống. Thật vậy, ta có thể nhận thấy sự khác biệt của tánh tình và vật lý của nhiều loại sanh vật khác nhau như một cặp song sinh cùng một cha mẹ giống cha mẹ như khuôn đúc nhưng về tính tình khi lớn lên thì không giống nhau. Như một con chó nhỏ sanh ra bởi một giống chó săn và chó Ái Nhĩ Lan, nó không giống như con voi hay con thỏ, nó cũng không lớn lẹ như con voi hay chậm như con thỏ, nó cũng có bốn chân, một cái đuôi dài, hai lỗ tai, hai con mắt nhưng nó chỉ lớn lên theo hình thức của nó và khi nó lớn lên thật giống tính tình như các loại chó săn. Theo tân khoa học của phép tính số giải hiện tượng này rằng: Những đặc điểm khác biệt phát triển của con chó nhỏ là do nó mang theo một phần nhỏ vật lý về hai dòng máu của cha mẹ qua sự thay đổi làm lộn xộn chủng tử ( gene) trải qua nhiều thế hệ rất lâu đời, cũng như nhiều loại sinh vật và thảo mộc cũng có thể thay đổi căn bản của nó. Sự này ngẫu nhiên trùng hợp theo kinh của Phật giáo như có một cây xoài có trái rất ngọt nhưng khi nó bị ghép và làm lộn xộn vào với loại khác thì khi có trái mới trở nên chua đắng. Thật vậy, nhà toán số về chủng tộc của Mỹ là ông H.Morgan vừa mới chứng minh điều này, khi ông sản xuất (trình bày) nhiều kiểu của trái cây thay đổi hương vị. Như luật thiên nhiên truyền thống vài loại hết sức là toán học như hột lúa sẽ sản xuất ra hột lúa gạo, cây mía sẽ sản xuất ra vị ngọt là đường.

    Thật vậy khoa học còn đi xa hơn nữa là do sự thay đổi và làm xáo trộn những chủng tử mà có thể sản xuất và kết quả những loại khác. Thí dụ như con mèo giao tình với con thỏ sẽ sinh ra một loại gọi là thỏ mèo, nó không giống con mèo mà cũng không giống con thỏ. Hai loại tình nhân khác giống sẽ sản xuất một thứ gọi là “Interlocked – lai căn”.

    Ở đây, một lần nữa để xác định dưới sự điều kiện của nhà thí nghiệm Phật giáo về định luật thiên nhiên về mầm giống và tế bào cũng giống như phương châm của sự truyền thống dưới sự khám phá của các phòng thí nghiệm.

      Kamma niyāma – định luật thiên nhiên về nghiệp báo hay nhân quả

    Nghiệp báo chỉ cho chúng ta biết cách nào sự tích trữ, chất chứa hành vị thiện và ác trong quá khứ và sẽ đưa chúng ta đến sự vui hoặc khổ cảnh mà chúng ta có thể phải thọ lãnh trong một lúc nào. Đây là một vài thí dụ về nghiệp ác quá khứ trả quả khổ đau cho chúng ta thấy.

    Như trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, có một con quạ bay trên mái nhà tranh đang bị lửa cháy vì bị gió cuốn luôn vô lửa nên con quạ phải bị chết cháy theo. Có một trường hợp khác, có một chiếc thuyền bị ngừng lại giữa bể khơi không thể di chuyển tới lui được, dầu cho những người thủy thủ cố gắng cho nó di chuyển. Trong thời đó, người ta tin rằng có lẽ trong thuyền này có người nào nhiều tội lỗi cho nên mới khiến cho con thuyền không thể di chuyển được một cách kỳ lạ như thế. Người ta mới bày bắt số thì ba lần đều nhằm vợ của ông thuyền trưởng vì bà này trước khi xuống thuyền đã làm nhiều tội lỗi. Hết sức nài nỉ khóc lóc nhưng buộc lòng người ta phải bỏ bà xuống biển với một tấm ván, vừa bỏ bà xong thì con thuyền bắt đầu di chuyển như thường. Trường hợp thứ ba, có một vị tỳ khưu đang ở trong một cái động bị đá tự nhiên lăn xuống ngừng lại che lấp miệng động làm cho vị tỳ khưu bị nghẹt thở hàng bảy ngày. Tất cả những sự việc này, Đức Phật giải rằng, xảy ra đều do định luật của nghiệp và quả. Vì con quạ một tiền kiếp là một người nam có một con bò ngỗ nghịch không chịu nghe theo sự sai khiến của y như kéo xe…, y bèn đem rơm cỏ đốt con bò ấy đến chết, cái quả ấy y phải trả nhiều kiếp cũng bị chết cháy như vậy cho đến kiếp sanh làm con quạ cũng không thoát khỏi trả quả chết cháy ấy. Về bà vợ ông thuyền trưởng thì kiếp trước kia giận con chó rồi cột cổ nó với một nồi cát đem thẩy xuống sông cho nó chết, vì vậy y phải trả quả tương tự. Về vị tỳ khưu, có một kiếp nọ ông sanh làm một cậu trai thấy một con kỳ đà bò trông ổ mối, nó mới lấy cỏ lấp lại miệng ổ mối ý chơi nghịch và định ngày mai sẽ thả con kỳ đà ra, nhưng vì quên đi nên qua bảy ngày mới lại chỗ ấy và mở miệng ổ mối cho con kỳ đà ra, vì con kỳ đà không chết chỉ yếu đuối kiệt sức vì thiếu nước uống và vật thực mà thôi, vì vậy mà kiếp sau lên làm vị tỳ khưu cũng phải bị nhốt vào trong động bảy ngày nghẹt thở kiệt sức vì thiếu cơm nước, cũng như ông đã làm cho con kỳ đà trước kia vậy.

    Nghiệp ác có thể đưa ta sanh vào gia đình thấp hèn như người cha say sưa, người mẹ dâm loạn phóng đãng, trong trường hợp như vậy thì nên tìm cách giúp đỡ cho đứa trẻ ấy được phát triển và tánh tình trong lúc còn thơ ấu. Như hột giống đã gieo xuống miếng ruộng xấu thì kết quả thế nào cũng không tốt, cũng như đứa trẻ đã sanh vào dòng ác xấu thì thế nào người con ấy cũng phải bị suy đồi nếu không tìm cách thân cận để sửa chữa cho phát triển tốt đẹp. Như thầy tốt không có gặp đúng lúc và trời mưa không đúng mùa tiết thì đứa trẻ và mùa màng ấy phải sụp đổ không sai. Cũng như thế ấy, nếu người nào có thể làm sự lợi ích của mình trong ngày vị lai cho đúng lúc như khi y phải làm điều gì cần phải làm xong cho kịp thời thì sự lợi ích ấy mới có kết quả tốt, còn như quên đi hay làm trong lúc không cần thiết thì không có kết quả tốt vậy. Như người nông dân, mặc dù trời mưa tốt, gieo giống đúng mùa nhưng gặt hái không được dồi dào là vì những công việc cần phải làm phụ thuộc như làm cỏ, bón phân… không làm lúc nên làm thì sự gặt hái không được đầy đủ. Cũng như nghiệp tốt sẽ đem lại kết quả tốt đẹp dồi dào khi nào những điều kiện phụ thuộc (như hằng nhớ đến sự lành đã làm ấy luôn luôn, cũng có đúng lúc đúng kỳ). Chính định luật thiên nhiên của nghiệp báo làm cho phát sanh tính tình, đặc điểm khác lạ hơn dòng giống ông bà và những sự phối hợp chung quanh.

    Khi chúng ta quan sát về nghiệp báo xuyên qua một vài ánh sáng của sự tiến triển trong lãnh vực khoa học thì chúng ta có thể thấy rằng “Lý thuyết cổ truyền về vật lý hoàn toàn lỗi thời vì họ cho đời sống chỉ là một sự sản xuất của vật chất mà thôi”, lý thuyết ấy các nhà khoa học trứ danh của Âu châu và Mỹ châu đều bác bỏ từ lâu rồi. Lý thuyết của Darwinian về sự truyền sang bằng máy móc cho rằng tánh tình con người chỉ do tinh trùng và huyết thống của cha mẹ về vật chất mà ra, điều này hội đồng khoa học đã đánh ngã bác bỏ và không lâu họ đã nhận định vững chắc rõ ràng, khi họ phối hợp lại thai bào học và tâm lý học. Như vậy toàn vấn đề được giải quyết bằng cách phối hợp trong một bài toán về tinh thần và vật chất. Hai nhà khoa học Pháp và Đức là ông H. Bergson và Hans Driesch chỉ rõ về sự nhu cầu của vật lý học là phải họp lại với cái mãnh lực vô hình của tiền kiếp nó bắt buộc những nguyên tử vật lý phải tụ tập trung lại trong một kiểu mẫu hay cơ thể của thân thể con người. Như vậy bây giờ khoa học đã thừa nhận “Căn bản của sự tái sanh” là phải phối hợp lại “Tinh thần và vật chất” mới tạo thành ra một con người, hướng dẫn bằng trực giác của mình đã nằm sâu trong tiềm thức. Như con tằm tự đương lấy tổ kén hay là những con chim con tự trực giác của mình mà làm ổ thật khéo léo không cần đến sự chỉ dạy của cha mẹ chúng.

    Như vậy chúng ta thấy, năng lực vô hình mà chúng ta gọi là con người thật gìn giữ bản thân này trong trật tự cho tốt đẹp càng lâu dài có thể được. Nếu thân thể mà không được toàn vẹn trong khi sanh, hay sau này thì đó cũng là do năng lực vô hình của nghiệp báo tạo nên, còn nếu bộ óc mà có bệnh hoạn là do sự không lành mạnh nếu không phát triển hay ngu ngốc. Và khi thân thể thôi không nhận lãnh sự toàn vẹn hay tàn phế thì năng lực vô hình phải đầu hàng vì thân thể ấy đã tàn phế. Bất luận hình thức nào của thân thể vật lý chỉ để phô diễn trung gian của sức lực vô hình và không biết được cái đó người khoa học Tây phương gọi là “đời sống và tâm thức” còn Phật giáo thì gọi là “nghiệp báo” vậy. Cho nên Đức Phật có nói mỗi chúng sanh đều có cái nghiệp là của ta, nơi trả quả cho ta, là thân quyến nơi sanh ta ra, nơi nương nhờ của ta. Chúng ta thấp hèn hay cao thượng khác nhau cũng đều do nghiệp báo cả. Tùy theo nghiệp báo khác nhau mà nảy sanh ra chúng sanh cũng khác nhau như người thì cao thượng, kẻ thấp hèn, người thì hạnh phúc, người lại khổ đau, người thì lịch sự, kẻ lại xấu xa, người thì giàu có, kẻ lại bần cùng, người thì mạnh khỏe, kẻ lại ốm đau, người thì danh vọng, kẻ lại vô danh, người thì đáng khen ngợi, kẻ lại bị chê bai khinh bỉ đều do nghiệp báo khác nhau.

    Nhà báo học G. Grimm trong “Quyển giáo lý Đức Phật”, ông có viết: “Không khó trong các trường hợp có thể chỉ sự kết hợp để làm cho phù hạp với tế bào mới khi có một sự chết xảy ra như: Người nào không có lòng từ mẫn, có thể giết người hoặc thú thì y tự đem theo trong tiềm thức một khuynh hướng về sự sống ngắn ngủi rồi. Y tìm sự thỏa mãn trong cách làm cho đời sống kẻ khác yếu tử thì tế bào ấy kết hợp với sự yếu tử ấy sau khi sự chết của y có thể bám níu vào với tế bào mới khác sẽ làm cho y bị thiệt hại của kết quả sau này. Như vậy năng lực của tế bào nảy nở và cấu tạo ra hình thể con người luôn cả sự kết hợp với sự vui thích làm khổ hoặc làm tai hại kẻ khác”.

    Như trong trường hợp của người sân hận tự nảy sanh trong thân tâm mình một sự phối hợp của sự xấu xa cho một cơ thể và những căn nguyên tinh trùng kể từ đó nảy sinh ra lần hồi làm bộ mặt mình trở nên xấu xí do bởi đặc tính của sự sân hận. Còn người nào mà có tính ganh tị, bỏn xẻn, ngạo mạn thì tự nhiên trong thân tâm y có mang theo một khuynh hướng thù hằn, oán ghét mọi việc đối với những kẻ khác và khinh bỉ họ nữa, thì theo mầm giống ấy sẽ nảy nở trong sự thiếu thốn, nghèo khó đã phối hợp sẵn trong tâm y. Vì vậy mà có khi nguyên nhân ấy kết quả làm cho cơ thể thay đổi từ nam ra nữ được. Trong trường hợp A hàm có thuật lại rằng “Cô Gopikā là con gái của dòng Thích Ca, sau khi chết được tái sanh làm một vị Chư Thiên nam ( Gopaka devaputta) bởi vì cô ta rất nhàm chán thân phận nữ lưu và đồng thời cô thỏa thích muốn được sanh làm nam giới”.

    Như có bài kệ về nghiệp báo như sau:

    Do nghiệp báo mà thế giới chuyển động.

    Do nghiệp báo mà nhân loại và súc sanh có liên đới.

    Vì do sự liên đới ấy mà chúng sanh phải luân hồi mãi mãi.

    Do nghiệp báo mà con người được sự vinh quang khen ngợi.

    Cũng do nghiệp báo mà có kẻ phải làm nô lệ, suy sụp, bạo tàn.

    Biết rằng nghiệp báo sẽ trả quả nhiều cách khác nhau.

    Tại sao có người cho rằng “Trong đời này không có nghiệp báo?”

    Định luật thiên nhiên về tâm thức này là sự phát sanh tư tưởng do hình thức như sắc, thinh, hương, vị, xúc và những tư tưởng nảy sanh ra từ bên trong của mỗi tâm thức, tùy theo căn bản của họ có.

    Như họ có cảm giác đã từng kinh nghiệm từ trong kiếp quá khứ, những hy vọng, những sự ước muốn, những nguyện vọng mà họ nhìn đến để thực nghiệm trong kiếp vị lai luôn cả những biến chuyển khác lạ mà khoa học chưa phát minh ra được. Như sự huyền bí của năng lực vô hình mà do một vài người có được, do sự phát triển về tinh thần mà họ có thể thấy hoặc nghĩ được những hình và tiếng mà người thường không thể nghe thấy hoặc nói trước những biến cố sẽ xảy ra trong thời gian tới rất đúng.

    Hơn nữa B.S. B.Rhine và một ban đang sưu tầm về năng lực của tinh thần (viết tắt là E.S.P. extra Sensory Perception) nơi trường đại học Duke của Huê Kỳ. Như ông Kant nói với chúng ta những sự bí ẩn của Thụy Điển và triết gia Swdenberg có một mãnh lực tinh thần có thể nói cho chúng ta biết lửa đang cháy cách đây 300 dặm Anh. Còn Phật giáo có đề cập đến 10 năng lực của tinh thần mà con người có thể đạt được do sự cố gắng để hiểu biết và tinh thông những khoa học và nghệ thuật của Đông phương. Những năng lực đó trong Phật giáo gọi là “thần thông” ( iddhi) về phép thôi miên cũng ở trong năng lực của phép thần thông này gọi là vijjāmaya iddhi – một tiềm tàng năng lực sẵn có trong con người do sự tích trữ của những hành vi trong kiếp quá khứ gọi là kammaj iddhi – như quyền lực của phi nhơn, Chư Thiên và năng lực bay lên hư không của loài gia cầm… đều ở trong năng lực này. Còn ông Dr.Khine thì cho những sự việc này do những sự kinh nghiệm mà ông xác nhận rằng “Loài thú vật cũng có mãnh lực của tinh thần như chim bồ câu có thể đem thư từ xa xăm rồi trở về không hề sai lạc”. Một năng lực khác sẵn có như những việc thiện trong quá khứ mà một người sanh trưởng trong một gia đình thật nghèo khó mà y sẽ trở nên giàu sang trong lúc gần già, sự ngẫu nhiên chứng tỏ cho ta thấy “Có vài việc lành trong sự ác xấu của chúng ta”, như trường hợp của một người sinh ra từ kẻ ăn xin mà sau lại trở thành tỷ phú, cái này gọi là punniddhi – năng lực phước báu.

    Một biến cố hiếm có và rất quan trọng của năng lực có thể chịu đựng sự khổ và duy trì sự chết lại, như trong kinh có thuật lại một người phụ nữ đã chết mà còn thai trong bụng, khi sắp sửa thiêu xác cô thì nghe tiếng trẻ nhỏ khóc, người ta vội vã kéo tử thi ra coi thì thấy một đứa trẻ ở trong bụng mẹ vừa bể bụng banh ra nhưng đứa trẻ vẫn an toàn vô hại, lẽ dĩ nhiên những trường hợp như vậy thật là hiếm có, chỉ đặc biệt riêng cho những người có nhiều duyên lành có thể gần đến Niết-bàn. Thật vậy, đứa trẻ này sau trở thành một vị A-la-hán tên là Đại đức Sankicca. Hơn nữa có người có thể biến hóa nhiều nhân vật khác nhau như khi thì biến ra già lúc thì hóa ra trẻ, khi thì người này, lúc thì ra kẻ khác… cái này gọi là vikubbānaiddhi – có người thì dùng năng lực của tâm hóa ra người nữa giống hệt như mình, cái này gọi là mano maya iddhi – phân tâm thông.

    Những tài năng bí ẩn thấy và nghe khác thường này mà ông Rhinne gọi là E.S.P. năng lực của tinh thần, còn Phật giáo thì gọi là “uy lực tự nhiên” của sự làm lành của chúng ta trong quá khứ, Đức Phật gọi uy lực đó là do sự tham thiền để phát triển cho tinh thần của mình. Như trong kinh Pháp cú có câu:

    “Tâm là pháp phát sanh lên trước hết các pháp, tâm là chủ, tâm là sanh sản ra mọi vật.

    Do tâm mà thế giới bị hướng dẫn và lôi cuốn mãi.

    Và chính con người là chủ của tâm”.

    Nhưng có người tự hỏi, cái gì ngăn cản chúng ta trong sự phát triển những năng lực huyền bí sáng suốt ấy? Chính Dr. Rhinne cũng phải bối rối trong câu hỏi này và hiện giờ họ cũng tự hỏi cái gì hạn chế sự phát triển về năng lực phi thường này? Những ông Dich, Tom và Harry nói rằng: “Không thể phát triển nổi những năng lực phi thường nằm trong tinh thần con người trừ khi con người đã cố gắng trau dồi từ nhiều kiếp trước mới có thể phát triển tài năng phi thường theo ý nguyện”.

    Hơn nữa, do 10 điều phiền não làm cho con người tối mê, nhơ bẩn che lấp không cho phát triển tài năng phi thường như: sự tham lam làm cho con người dính líu vào mọi vật và không cho các vật khác cao quí hơn; sự sân hận làm cho tối tăm mù quáng không thấy các việc khác tốt đẹp hơn; si mê là ngu xuẩn tối mê nên không thể thấy gì xuyên qua sự tối tăm ấy; ngã mạn là cho rằng “ta đây cao thượng hơn người” vì vậy nên không phân biệt được điều cao thượng hay thấp hèn của người khác; tà kiến là sự hiểu biết sai lầm lại cho là đúng và cố chấp vào sự hiểu biết ấy như người mù rờ vào con voi vậy; hoài nghi là không quyết định cái nào là phải cái nào là quấy, không phân biệt được giữa cái này và cái kia; hôn trầm là lười biếng uể oải của tâm làm cho buồn ngủ hôn mê tâm tánh; phóng tâm là tâm luôn luôn vọng động không ngừng nghỉ như đống tro bụi bị gió cuốn lên nó cũng làm cho tâm thần rối loạn không thấy sự gì rõ rệt; không hổ thẹn tội lỗi là không có sự hổ thẹn trong khi làm những điều tội lỗi như con heo nằm lăn trong sình trong vũng cũng không biết nhờn gớm; không ghê sợ tội lỗi là dầu khi làm tội lỗi nào cũng không có lòng ghê sợ hậu quả, liều lĩnh làm càn như người mất trí. Mười điều phiền não trở ngại này nếu nói tóm lại thì có năm loại: sự tham lam hay tham dục trong ngũ trần làm cho con người tối mê không thấy cái chi cho rõ rệt, chính pháp này làm cho con người đi sai lạc căn bản đầu tiên của tinh thần cao cả của người tham thiền và nó sẽ dắt đưa con người đến sự mưu mô, xảo trá lừa dối kẻ khác, sau cùng họ sẽ mất khả năng cao quý rõ rệt, vì vậy mà Đức Phật thấy xa nên cấm các hàng đệ tử không cho dùng những thần thông trong chỗ quần chúng công cộng do sự tham vọng; sự sân hận sẽ làm cho con người bị khích động trong khi dùng tâm lực thôi miên có thể làm hại kẻ khác vì lòng thù oán; hôn trầm là lười biếng, hôn mê, buồn ngủ làm cho không tiến hành được việc gì; phóng tâm làm cho phóng dật bồi hồi bứt rứt do sự hành vi sai quấy hay luyến tiếc việc phải làm mà không làm; hoài nghi là sự ngờ vực không hiểu rõ rệt điều gì, luôn luôn mong sự giải thích của kẻ khác, chỗ này ông Rhinne nhận thấy tình trạng ngờ vực ấy sẽ đánh dấu hạng người rất thấp hèn vậy. Năm pháp này thường được gọi là pháp che lấp, pháp chướng ngại hay là pháp cái, có năng lực ngăn cản thiền định không cho phát triển để thấy rõ mục tiêu, cũng như hai chuyến xe lửa chạy đua song song với nhau trong một chiều. Như trong sự biến chuyển “không có gì phải thấy hoặc không có gì phải làm”. Như ông Condorcet thức hằng mấy giờ để làm một bài toán mà không xong, nhưng khi ngủ trong giấc chiêm bao lại tự giải đáp được. Trong Phật giáo, khi tâm được yên nghỉ xong có thể kiểm điểm lại những sự hành vi hay kinh nghiệm của mình những gì khó khăn không giải được trong lúc còn thức. Như khả năng biết được tâm của kẻ khác xa từ ngàn dặm hoặc tạo ánh sáng trong chỗ tối tăm, bất cứ điều phi thường này phải đòi hỏi con người có một tinh thần hoàn toàn được phát triển.

    Theo tốc lực của ánh sáng thì như chúng ta biết có đến 186.000 dặm Anh trong một giây đồng hồ. Như vậy tốc lực của tâm như thế nào? Tốc lực của tâm thì vượt qua cả thời gian lẫn không gian, vì tốc lực của tâm thì vô lượng không thể biết được. Vấn đề này có nêu rõ trong câu chuyện Đức vua Milinda hỏi vị Na Tiên tỳ kheo. Tôi xin thuật lại vắn tắt như sau. Tỳ khưu Na Tiên nói: “Tâu Đại Vương, vậy chớ từ đây đến đô thị Alexandre trong bao xa?” – Đức Vua Milanda trả lời: “Hai trăm dặm?” – “Vậy Đại Vương nhớ lại vài việc làm ở đó coi.” – “Trẫm nhớ rồi.” – “Vậy Đại Vương đã đi đến đó 200 dặm quá lẹ”, rồi ngài hỏi tiếp: “tâu Đại Vương như đô thị Kasali cách đây 200 dặm nơi mà Ngài sanh trưởng và xứ Kashmir chỉ cách đây 12 dặm vậy nơi nào xa hơn nếu ngài nghĩ đến?” – “Hai nơi nếu suy nghĩ thì cũng đồng một thời gian như nhau.” – “Tâu Đại Vương tâm thức cũng nhanh lẹ như vậy.”

    Hơn nữa ví hai con chim bay trên hư không sẽ đậu vào nhánh cây, một con bay cao, một con bay thấp, khi đậu vào cành cây cũng trong một lúc, con đậu nhánh cao, con đậu nhánh thấp nhưng bóng của chúng đều đến mặt đất một lượt như nhau, cũng giống như hai người ở đây cùng chết một lượt, một người thì sanh về cõi Phạm Thiên, một người nữa thì sanh ra trong xứ Kashmir này, nơi xa cách tuy khác nhau nhưng cũng đồng sanh trong một lúc như nhau, như vậy thật không biết được tốc lực của tâm. Dr. Rhinne có xác nhận rằng “Mãnh lực của tâm có thể xuyên qua thời gian và không gian thật mau lẹ”. Do nhiều sự kinh nghiệm với một gói lá bài để cách khoảng nhau mà Dr. Rhinne khám phá ra sự xa cách của thời gian và không gian có trở ngại cho khả năng tư chất để thấy, nghe và biết được những biến cố xảy ra từ xa xăm mà cơ quan thông thường không thể biết được. Ông Dr. Rhinne còn nói sự gieo con xúc xắc (6 mặt) cũng có ảnh hưởng của tinh thần làm cho kết quả theo ý muốn. Năng lực vật lý mà tinh thần có được đó gọi là “P.K. Psycho kinesis” động lực học. Như lấy một đề mục nhìn thẳng vào lá bài với sự gom cả tinh thần suy nghĩ trong khi ấy người khác lãnh lấy cảm tưởng ấy, Dr. Rhinne dám quả quyết rằng “thần giao cách cảm” ấy có thể chuyển từ đề mục này sang qua đề mục khác được.

    Về lý thuyết, thần giao cách cảm làm cho người ta hỏi tới vấn đề chiêm bao, Chư Thiên và các phi nhơn vô hình khác vậy chớ những vật vô hình ấy có ảnh hưởng chi đến nhân loại không? Về vấn đề này người Tây Âu chỉ cho là “nhân vật thần thoại” mà thôi. Nhưng Phật giáo nhìn nhận những nhân vật vô hình ấy là một cảnh nào trong 31 cảnh của chúng sanh đi tái sinh. Những nhân vật này cũng có ảnh hưởng đến nhân loại. Sự ám chỉ này chỉ nhìn nhận của sự hành vi “tinh thần trong tinh thần” và có thể chứng minh một cách rộng rãi. Như người ta nói cà lăm, ấp úng khi nằm chiêm bao thấy mình nói cà lăm càng xấu tệ hơn, hoặc nằm mộng mị xấu xa thì ngày sau tánh tình không được vui vẻ. Có vài sự mộng mị làm ảnh hưởng sâu xa cho đến suốt đời người như có một người bị ảnh hưởng của chiêm bao mà bỏ nhà cửa đi mất, có người lại sửa đổi tánh tình sau khi nằm chiêm bao, có người ngủ mà vẫn đi như thường (mộng du). Thật vậy, theo khoa học Tây Âu đi đã xa mà bây giờ họ có thể đo lường được trọng lượng và luôn cả chụp những tư tưởng ngấm ngầm bên trong. Như giáo sư Baradue có dẫn chứng một sự thí nghiệm, ông ta hướng dẫn với một cây gậy mà tinh thần có thể ghi qua lắng sóng tư tưởng được ghi vào băng. Ngồi trước dụng cụ mà ông đã chế tạo ra là “cây gậy làm cho thấy rõ hình ảnh của tinh thần” (Electro Encephalagraph) rồi định thần trên cây gậy với tất cả năng lực mà y có thể sai khiến và chiếu nó vào trong kiếng chụp hình. Kế đó không lâu, khi khui kiếng ấy ra, thì hình cây gậy hiện ra giống hệt trên kiếng hình (cây gậy thiệt thì không có trong vòng kiếng hình ấy). Những tin tức khác nhau có thể thâu vào một cách rõ rệt, cao hay thấp được phát ra rất nhiều lần của sự rung động khi người đến gần máy dụng cụ bén nhạy của ông giáo sư Baradue. Bây giờ chúng ta có thể xác nhận sự tương đồng của P.K. và P.A. (Psi ability) với thần thông ( iddhi) trong Phật pháp như phương ngôn mà ta thường dùng là “Hoa hường dầu gọi là tên khác đi nhưng mùi thơm vẫn là hoa hường”.

    Như vậy ở đây một lần nữa khoa học lại chứng minh kiến thức của Phật giáo về tinh thần là tột đỉnh, tất cả mọi việc được phối hợp và có thể hành vi qua tất cả sự biến hóa.

    Với sự hiểu biết rõ ràng về năng lực và ảnh hưởng của tâm linh thì không có thể lý luận cho rằng “dòng tư tưởng của tâm, càng nhiều năng lực lại có thể bỏ được khi nó đang tiến hành hoặc ăn sâu vào những tế bào rồi cũng như cử chỉ và ấn tượng đã để lại trên dụng cụ bén nhạy để thu hình”. Người ta không thể ngạc nhiên khi dấu hiệu và tánh tình ngày càng trội hơn đã truyền xuống bằng cách này từ thế hệ này đến thế hệ khác, khởi sự tự mở ra càng sẵn sàng và dễ dàng hơn kẻ khác và sự sống làm cho nó tiến hóa lạ thường trong bụng mẹ. Như vậy những khuynh hướng truyền thống và đặc sắc của vật lý có thể mang qua từ đời này đến đời khác và bỏ lại những điểm bí mật trong cơ thể mới lúc tái sanh. Cũng như người con không giống cha hay mẹ, nhưng lại giống ông nội hay ông cố, ông sơ… điều đó thật không có chi là ngạc nhiên cả. Như tinh thần còn có thể bỏ lại dấu vết của nó trên cơ thể vật chất bằng sự biến cố xảy ra trong hiện tại do sự chứng minh rộng rãi. Như chúng ta biết, có một số phụ nữ, nhứt là những người có chồng lâu mà không có con, cầu nguyện với thần Ganesh cho được sanh con và khi sự ước nguyện thành tựu thì đứa con sanh ra lỗ mũi giống cái vòi con voi (giống hình vị thần ấy mình người đầu voi), lý do lạ lùng này là vì vị Thần thờ đó mặt như Chư Thiên mà mũi lại giống như cái vòi voi, đặc điểm này đã in sâu vào tinh thần người mẹ khi mang thai cho nên khi sinh đứa con ra cũng giống như vậy. Như chúng ta được nói lại, những đứa trẻ như thế ấy ít còn sống sót được. Như chúng ta biết có một số phụ nữ thờ hình treo trên tường hay đầu giường hình tốt đẹp hoặc cảnh, tự nhiên những ảnh hưởng ấy làm cho các đặc sắc của hình tượng đó trong khi sanh đứa trẻ ra sau này cũng giống những đặc điểm về vật chất ấy. Như vậy thì ảnh hưởng về hình ảnh của thần giao cách cảm và thôi miên có thể truyền sang qua bởi phương pháp của sự gom tinh thần trên sự cấu tạo về vật chất của đứa trẻ. Thôi miên học cung cấp cho chúng ta một dịp để học hỏi sự biến chuyển dưới điều kiện thực hành thử coi. Như hiện giờ một phương cách của phép trị bệnh bằng thôi miên mà phần đông các hội y học trên thế giới chánh thức nhìn nhận. Thật vậy, sự kinh nghiệm về y học dưới sự thôi miên hiện nay giúp khám phá ra những hành vi bí ẩn của tinh thần trên cơ thể vật chất này cũng giống như sự khuyên nhủ của những người phụ nữ cầu nguyện với thần Ganesh làm cho sự phản ứng vật lý có thể thành đạt được với phương châm vật lý. Khi tâm được kiểm soát đầy đủ như trong trường hợp của sự kinh nghiệm về thôi miên bất luật sự khuyến nhủ nào có thể làm trong sự tin cậy rằng: Tâm linh của đề mục sẽ áp dụng được. Điều hết sức ngạc nhiên là chẳng những tinh thần phải nghe lời theo ta mà còn thể chất này cũng hưởng ứng theo luôn. Điều này có thể chứng minh như ý nghĩ đốt trên da thịt ai một chỗ nào thì chỗ ấy liền hiện lên một dấu cháy xem y như ngay chỗ chỉ định.

    Còn nói về sự “tiên tri” thì sự này có thể được vì sự bền lòng trong những bộ phận của lắng tư tưởng khác nhau mà có thể giải quyết được nhiều sự thay đổi của người “tiên tri – seer”. Tinh thần của người tiên tri không phải hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp tầm thường như tinh thần của người thường nhân cũng như người dùng hai máy thu thanh ở cách xa ngàn dặm mà tiếp được tin tức nhau liền – nếu không nhờ sự truyền tin bằng vô tuyến ấy thì con người có thể chờ đến già mới được tin do người đi bằng thuyền đến, cũng như thế ấy người “tiên tri” tinh thần họ hoạt động trong phạm vi khác nhau do nơi sự rung động nhiều lần liên tục như chất “tinh khí – ether” vẫn có nhưng con người chưa khám phá thấy được. Cũng như người đứng trên một chỗ nào cao có thể thấy rất xa cảnh vật chung quanh mình nhiều hơn người đứng dưới thấp. Cũng như thế ấy người “tiên tri” tinh thần họ được sáng suốt nên họ có thể thấy xa như vậy. Trước khi mãnh lực phi thường nào được sử dụng thì đồ dùng trong phòng thí nghiệm tinh thần cho trong sạch cũng phải làm xong trước.

    Có vài quan niệm cho rằng làm thế nào mà tinh thần hoạt động trong làn sóng xa vời khác nhau có thể biết được, điều này rất dễ là muốn quan sát thì nên quan sát qua tư tưởng chiêm bao. Bây giờ một tư tưởng chiêm bao rõ rệt là lâu với người đang nằm chiêm bao nhưng thật ra nó chỉ ở trong vài giây đồng hồ mà thôi. Sự này rất rõ rệt là có người khi nghe tiếng nói đầu tiên của một câu chuyện rồi ngủ quên và chiêm bao thấy trong chiêm bao thật dài, nhưng khi thức lại thì câu chuyện thuật lại chưa chấm dứt. Thật vậy tư tưởng trong chiêm bao có thể đi vòng quanh thế giới như ghé Bombay, Cairo, Aden London, Rome, New York… và trở lại chỗ cũ như trước, trước khi mặt trời mọc. Một cách khác, một chiếc Jet phản lực cơ mau nhất biểu diễn như trên phải mất một thời gian thật lâu mới xong. Như vậy chúng ta ráng tìm hiểu sự nhạy bén của khả năng tư tưởng của chúng ta trên lãnh vực tâm lý khác nhau và người ta có thể vượt qua lãnh vực trí tuệ mà lý luận không thể nào hiểu được. Đó là người có tâm linh đạt đến mức siêu phàm.

    Đức Phật có nói, không có cái gì thay đổi lẹ làng như tâm thức và cũng không có cái để so sánh sự biến chuyển mau lẹ của tâm. Điều này chúng ta có thể biết được bằng tự kinh nghiệm lấy mình – cũng như tôi đã có chỉ ra, con người có thể chiêm bao thấy không biết bao nhiêu việc trong một giây đồng hồ hoặc đi vòng quanh thế giới rồi trở về trong vài phút. Dầu cho phi cơ Jet siêu nhanh nhất trong thời đại cũng phải mất ít nhất trong mấy ngày, trong khi tâm thức thì không có giới hạn với tinh thần giải thoát.

    Tất cả những điều mà tôi giải ra đây đều nằm trong định luật của tâm thức mà Đức Phật đã dạy ( citta niyāma).

    Như trong định luật này giải về sự động đất rung chuyển vũ trụ hoặc sự lạ lùng khác phát sanh lên khi một vị Bồ tát lâm phàm giáng sanh vào lòng mẹ, khi đắc Vô thượng Chánh giác, khi chuyển pháp luân lần đầu và khi ngài nhập Niết-bàn… và như luật nhẹ bay nổi lên còn nặng chìm rớt xuống…

    Những người tin vào đấng tạo hóa và tạo vậy không hiểu biết được những nguyên chất (element) của đất, nước, lửa, gió mà Đức Phật đã dạy. Các chất ấy làm việc phối hợp chung lại để gìn giữ cho năm định luật của vũ trụ mà chúng tôi đã giảng giải. Tuy nhiên chỉ có một số người rất ít về minh sát tuệ hoặc tư tưởng sâu xa của ít người Âu châu cố gắng tìm hiểu định luật mà làm cho vũ trụ điều hòa.

    Những người này dầu không có tin “đấng tạo hóa” hoặc họ ở trong sự hoài nghi của những sự tin tưởng được truyền cho họ. Và thông qua sự sưu tầm mà họ chẳng những đi vòng quanh thế giới mà còn lên đến cung trăng. Thật vậy con người đã khởi sự hiểu biết năng lực thiên nhiên của vũ trụ rõ rệt mà họ có thể còn muốn nhìn xem sự hành trình lên Hỏa Tinh và Kim Tinh. Mặc dù họ đạt được kết quả hay không, đó là một việc sau này sẽ biết được. Điều quan trọng đó là một việc hết sức khó khăn mà họ tin tưởng rất dõng mãnh, như người tin vào đấng tạo hóa mà họ có thể hoàn tất được khi họ càng ngắm nhìn vào, nhưng họ không dám tự phụ xen vào với vũ trụ với sự tạo tác của họ. Vì sự phức tạp về sự thăng bằng của sức lượng của những ngôi sao hay những hành tinh vì tất cả đều phải làm việc hòa hợp và cộng tác hoàn toàn.

    Theo thời trung cổ, ông bà chúng ta lấy làm lạ về sự vĩ đại của vũ trụ mà họ đang ở, làm cách nào mà nó còn sanh tồn hoài, thế nào mà có chúng sanh đến ở, cây cối sống theo thứ lớp của nó, gió thổi bốn mùa, làm sao nó lại trở nên lạnh nên nóng… Có vài người thì tin rằng đó là do sự hành vi của “thần Mặt trăng”, người khác lại cho là do sự hành động của “thần Mặt trời”, có người lại nói đó là do nơi “thần Gió”… Cuối cùng, không có sự tin tưởng nào làm cho con người vừa lòng rồi họ đặt sự cầu van và trách cứ trên một nhân vật gọi là “Đấng Chúa Trời cao cả” hay là “Đấng tạo hóa”. Dầu họ đặt sự tin tưởng vào Đấng Chúa Trời cao cả nhưng họ cũng không thỏa mãn sự giải quyết về sự rắc rối của đời sống con người. Hình như có sự bất công trong đời sống của nhân loại vì vậy mà họ dám đổ thừa cảnh cáo đến thần gió và họ cũng loại bỏ ra ngoài những vị thần mà họ tưởng tượng đến. Họ trọn vẹn lựa theo định luật mà họ đã có trong tay và thấy rõ sự không đúng của sự bí mật và những huyền bí của vũ trụ xuyên qua sự cố gắng của mình.

    Sự việc này Đức Phật có nói thí dụ về Đấng Trời tạo hóa và những đau khổ của nhân loại rằng “Người có trí tuệ thấy rõ hơn người có con mắt đau (là kém trí tuệ), tại sao vị Trời Phạm Thiên hay Đấng Tạo Hóa không tạo ra chúng sanh cho đúng đắn hoàn toàn?”. Nếu Ngài có quyền năng rộng lớn vô hạn tại sao không đưa tay ra tế độ chúng sanh? Tại sao nhân loại lại bị trừng phạt đau khổ? Tại sao ông không ban hạnh phúc cho họ? Tại sao sự xảo trá, láo khoét và ngu xuẩn lại thạnh hành? Tại sao sự thắng kẻ giả dối, chân thật và sự công bằng lại bị thất bại? Vị vậy mà tôi cho Trời Phạm Thiên tạo hóa bất công đối với chúng sanh và Ông tạo ra thế giới này với nơi trú ẩn sai lầm ” bhuridatta jātaka “.

    Đức Phật lại giải thêm: Nếu có vài nhân vật có toàn quyền toàn năng làm đầy đủ cho chúng sanh hạnh phúc hay đau khổ và hành vi thiện hoặc ác thì nhân vật ấy lẫn lộn với tội ác vì con người làm theo ý muốn của ông ta ( mahābodhi jātaka).

    Như vậy những người thích theo khoa học thì Phật giáo là thông điệp không có chống đối xung đột với người đang tìm theo sự thật của khoa học. Vì Phật giáo rất thích hợp với khoa học hiện đại, cũng khảo sát sự việc và chứng nhận sự kết quả.

    Dr. Rhinne và nhiều người khác như ông đang theo đuổi sự tìm kiếm về lãnh vực “tinh thần siêu diệt” sẽ tìm thấy trên giáo lý của Đức Phật theo ý muốn của họ, vì khi giải thích sự phức tạp của năng lực thăng bằng trong vũ trụ, Đức Phật không cần đến các vị Trời ban hạnh phúc cho chúng và những người theo gương và giáo lý của Ngài không cần vài sự mơ hồ sau này về một cõi thiên đàng tưởng tượng của một Đấng Trời Tạo Hóa – nhưng đúng thỉnh thoảng ngay bây giờ. Vì vậy Đức Phật có danh hiệu là “Thầy cả Chư Thiên và nhân loại”. Tuy vậy, những người tin theo nhân vật của “Đấng Trời tạo hóa” có thân hình và ngũ quan hay không, nhưng năng lực huyền bí không biết được của bản chất thiên nhiên người Phật tử không cần cãi cọ đến. Vì như chúng ta đã thấy và tin cái thế giới của tinh thần và vật chất hiện tại đang hướng dẫn và điều hòa chẳng phải chỉ có một năng lực như vậy đâu mà còn có cả năm định luật thiên nhiên khác nữa phụ trợ.

    Sau cùng, tôi xin nhắc lại độc giả một lần nữa là năm định luật thiên nhiên ( pañca niyāma) hướng dẫn hay thống trị thế giới bên trong và thế giới bên ngoài mà chúng ta đã bàn luận tóm tắt trong quyển kinh nhỏ bé này nó làm việc biến chuyển theo hệ thống của “Lý nhân quả” và có liên hệ với nhau như người ta đã báo tin rằng “Đức vua đã đến” vậy.

    Soạn xong tại Kỳ Viên tự, rằm tháng Chín – mùa thu năm Nhâm Tý nhằm 21/10/1972 – Dứt tác phẩm Định luật thiên nhiên của vũ trụ – Thư viện Phật Giáo Nguyên Thủy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương V: Bài Tập Định Luật Béc
  • Tìm Hiểu Về Vật Hấp Dẫn Và Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn
  • Bài 11. Lực Hấp Dẫn. Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn
  • Giáo Án Trắc Nghiệm Axit
  • Luật Thủy Động Lực Học, Ứng Dụng Và Bài Tập Đã Giải Quyết / Vật Lý
  • Chiêm Nghiệm: 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Vũ Trụ Và Các Định Luật
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 6: Quy Luật Đền Bù
  • Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?
  • Nếu trường học dạy bạn cần học giỏi ở mọi môn, cả tự nhiên lẫn xã hội, thì trường đời lại trao thưởng cực kỳ hậu hĩnh cho những kẻ đứng đầu, xuất chúng trong một lĩnh vực. Bạn có thể thích và muốn nhiều thứ: thích bóng đá, thích kinh doanh, thích đi học, muốn làm chồng đảm đang, muốn là đứa bạn tốt…nhưng định luật tập trung nói rằng bạn cần phải thực sự rất giỏi một thứ gì đó. Dù là thợ sửa xe, dân thiết kế, hay chuyên bán đồ ăn qua mạng…chỉ cần bạn thực sự tập trung để đẫn đầu trong ngành mình lựa chọn, đời bạn sẽ nở hoa. Còn nếu cứ mãi “mỗi thứ biết một tí”, thì bản chất của việc tập trung vào mọi thứ thì thực ra bạn đang không tập trung vào một điều gì.

    Rồi sẽ có lúc, bạn ngộ ra rằng không ai khác ngoài bạn, đơn độc làm chủ cái đầu của mình. Vậy nên, mọi thứ bạn nghĩ, mọi niềm tin bạn có, mọi việc bạn làm đến tận cùng đều là do bạn cả. Nếu bạn làm ai tổn thương, đó là lỗi của bạn. Năm 20 tuổi vẫn nghèo có thể do lỗi của bố mẹ, nhưng 30 tuổi lương vẫn 7 triệu và than cuộc đời bất công thì đó là lỗi của bạn. Ngừng đổi lỗi và nhận trách nhiệm cuộc đời vào bàn tay mình, hạnh phúc chắc chắc sẽ đến.

    4. Luật kiên trì

    Người thành công không bao giờ bỏ cuộc và người bỏ cuộc không bao giờ thành công. Tất nhiên là bạn có tạm dừng để nghỉ ngơi, chuyển hướng…nhưng không được từ bỏ. Bạn kiên trì và nỗ lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Trên đời này, tôi hiếm khi gặp một ai dám nói: “Tôi đã thử hết mọi cách, tôi đã tìm đến mọi sự trợ giúp, tôi đã cố gắng hết sức mình…và tôi vẫn thất bại cả”. Vì sự thật là một khi bền bỉ và đặt hết tâm trí vào việc mình làm, tất yếu là định luật kiên trì sẽ tưởng thưởng cho bạn xứng đáng.

    5. Luật nhân quả

    Có lẽ sống đến giờ này, bạn cũng nghe rất nhiều đến câu “Gieo nhân nào, gặt quả đấy”. Dù có muốn chối bỏ đến đâu, thì sau này bạn cũng ngộ ra rằng, bất cứ điều gì mình làm rồi cũng sẽ để lại một kết quả gì đấy. Những gì bạn làm hôm nay sẽ quyết định ngày mai của bạn. Nếu bạn ác với người khác, làm điều xấu, thì ác hữu ác báo, trốn mãi cũng không được. Nếu bạn làm điều tốt, học cách cho đi, không nói dối, kiếm tiền chân chính…thì luật nhận quả sẽ trả lời bạn đầy đủ.

    Mọi thứ xảy ra trong cuộc đời này đều có lý do. Có rất nhiều thứ nếu chịu cố gắng, mọi chuyện có thể thay đổi nhưng có một số chuyện bạn buộc phải chấp nhận rằng mình thực sự bất lực và phải “cho qua đi”. Khi học được cách chấp nhận, rằng có thể cô ấy sẽ không yêu mình, rằng có thể rồi bố mẹ rồi cũng có ngày ra đi, rằng mình mất hết thật rồi, chúng ta sẽ thay đổi bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh để dễ thích nghi hơn. Thấu hiểu rằng dù có giỏi giang đến đâu, bạn không thể luôn bắt mọi chuyện diễn ra theo ý mình là một sự giải thoát khỏi gánh nặng chối bỏ mà định luật chấp nhận có thể đem lại cho cuộc đời bạn.

    Mọi sự đều gắn kết với nhau bằng một sợi dây vô hình nào đấy. Có những chuyện bạn làm bây giờ bị người khác coi là vô nghĩa, nhưng 10 năm sau lại là cực kỳ quan trọng. Người bạn giúp hôm nay biết đâu mai này lại trở thành quý nhân phù trợ. Nhận ra được mối quan hệ tương hỗ này, hãy biết trân trọng và có trách nhiệm mọi kết nối mà bạn tạo ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bầu Trời Chiều Ẩn Giấu
  • Bài 4. Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng
  • Cây Cầu Phá Vỡ Định Luật Vật Lý, Trở Thành Kiệt Tác Khiến Cả Thế Giới Thán Phục
  • Cây Cầu Nước ‘phá Vỡ Mọi Định Luật Vật Lý’ Ở Hà Lan
  • 5 Khám Phá Khoa Học ‘đi Ngược Lại’ Các Định Luật Vật Lý Hiện Nay (+Video)
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 6: Quy Luật Đền Bù

    --- Bài mới hơn ---

  • Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?
  • Các Lí Thuyết Đa Vũ Trụ
  • Các Vũ Trụ Song Song Và Lí Thuyết Đa Thế Giới
  • Thuyết Tương Đối Cho Mọi Người
  • 1 Câu Về Xác Suất Di Truyền Cần Giúp Đỡ
  • Luật Đền Bù là tính chất của Vòng Tròn Cuộc Sống, chúng ta cho đi thứ gì, thì nó cuối cùng cũng quay về với chúng ta. Chúng ta cho đi điều gì thì chúng ta nhận lại điều ấy vì Nhất Thể chính là bản chất của Vũ Trụ. Chúng ta gửi điều tốt đẹp đến người khác thì cũng chính là gửi đến cho bản thân mình. (Cho và Nhận)

    Bù Trừ và Nhân Quả

    Luật này cũng tương tự như Luật Nhân Quả, nhưng luật này cho phép luật Nhân Quả có thể bù trừ qua lại. Khi bạn tập trung vào tình yêu vô điều kiện cho mọi người xung quanh và vạn vật, nghiệp quả của bạn sẽ chuyển sang một hướng mới vậy.

    Chẳng hạn như, khi bạn gieo trồng một hạt giống tiêu cực, nhưng bạn không muốn tưới nước và nuôi dưỡng nó nữa cũng như bạn chọn cắt duyên của cái nghiệp tiêu cực ấy, và bạn chuyển hướng và tập trung vào gieo những hạt giống yêu thương, tích cực và tập trung nuôi dưỡng chúng thì hạt giống tiêu cực kia sẽ không đâm hoa kết quả nữa. Cũng như cách mà một số người gọi là cắt giảm hay bù trừ nghiệp quả vậy.

    Cũng như kết hợp với Luật Hấp Dẫn thì bạn tập trung vào điều gì, bạn hấp dẫn điều ấy và kết hợp với Luật Sáng Tạo thì bạn tập trung sáng tạo điều gì thì thực tại của bạn hiện ra như thế.

    Bù Trừ và Sự Hy Sinh

    Ngoài ra luật này còn có một tính chất đối với nhân loại là khi bạn mất đi cái này, bạn lại có thứ khác. Chẳng hạn khi bạn tiến hóa lên vào Ánh Sáng chẳng hạn thì bạn sẽ phải buông bỏ lại cuộc sống vật chất lại đằng sau và tiến lên với một cuộc sống mới hơn và rộng lớn hơn. Cũng như, nhảy từ một cái hồ nhỏ bé sang đại dương bao la vậy.

    Cũng như việc hy sinh, đôi lúc bạn hy sinh cái nhận thức cũ để đổi lấy cái nhận thức mới, cao hơn. Bạn buông bỏ tầm nhìn hạn chế, để đón nhận lấy một tầm nhìn rộng lớn hơn. Bạn hy sinh niềm vui nhỏ, để đổi lấy niềm vui to lớn hơn chẳng hạn… (gọi là hy sinh với một số trường hợp nhưng thật ra ý nghĩa của nó đôi lúc là buông bỏ).

    Khi bạn tha thứ cho ai đó, bù lại bạn sẽ nhận được một tâm trí thanh thản, một trạng thái tinh thần tích cực và khỏe mạnh, nhẹ nhõm… chẳng hạn.

    Luật Gia Tăng

    Luật này là một luật tuyệt vời để bạn áp dụng vào cuộc sống của bạn. Tính chất của nó là bạn cho đi, dù chỉ là một ít, nhưng đó lại là một lời khẳng định với vũ trụ rằng bạn “có”, và sự giàu có của bạn là dồi dào. Và từ đó, chính lời khẳng định đó sẽ tạo ra thực tại của bạn vì vũ trụ cũng như một cây đèn thần hay một cỗ máy copy vậy.

    Bên cạnh đó, bạn có thể kết hợp với giới luật Biết Ơn của Cái Tôi Cao Hơn, để mang đến một sự gia tăng tuyệt vời ở mọi khía cạnh trong cuộc sống của bạn, bằng cách cảm ơn những gì bạn đã có, đang có và sẽ có.

    Dù chỉ có một ít tiền, dù là một khoản nhỏ thôi nhưng cũng hãy biết ơn vì điều đó, cảm ơn vì những thứ bạn đang có và rồi sự dồi dào của bạn sẽ được gia tăng.

    Cầu nguyện mỗi ngày với những câu khẳng định biết ơn để gia tăng và cải thiện các khía cạnh trong đời sống của bạn như là hạnh phúc, tiền bạc, thành công, sức khỏe… hay bất cứ điều gì bạn muốn có trong tương lai.

    “Cảm ơn Thượng Đế vì con luôn khỏe mạnh và được bao bọc bởi những người yêu thương và tôn trọng con. Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ con và giúp con hoàn thành mục tiêu, lý tưởng của mình…”

    “Cảm ơn Thượng Đế vì con luôn có thể thay đổi mọi khía cạnh cuộc sống của mình theo cách mà con mong muốn. Con thành công dù ở bất cứ đâu và làm bất cứ điều gì. Con biết ơn vì Người luôn ban phước lành cho con theo nhiều cách, sự giàu có của con luôn được gia tăng từng ngày và đến từ nhiều nguồn khác nhau… ”

    Đó là những ví dụ tôi đưa ra cho bạn, ngoài ra bạn có thể viết riêng một bài cầu nguyện cho bạn theo cách mà bạn muốn.

    Tuy nhiên, lời khẳng định không thể làm việc một mình được, mà nó phải được kèm theo với một tư tưởng và niềm tin mạnh mẽ. Tư tưởng mang một sức mạnh vô hình, và hãy cứ tập trung vào điều bạn muốn và sáng tạo ra trải nghiệm mà bạn khao khát. Cứ tin như thể là nó chắn chắc sẽ xảy ra và rồi bạn sẽ thấy Luật Gia Tăng làm việc rất hiệu quả.

    Thường thì hầu hết chúng ta khi vui, khi hạnh phúc thì ít khi biết ơn, nhưng khi không vui hay buồn khổ thì chúng ta lại hay oán trách. Bây giờ, hãy thôi than phiền về nợ nần, những điều không vừa ý xảy ra trong cuộc sống của bạn (nếu bạn không muốn hấp dẫn thêm nợ nần và nhiều điều tiêu cực đến với bạn), mà thay vào đó hãy biết ơn với những gì khiến bạn vui và hạnh phúc ở hiện tại và cảm ơn cả những gì bạn ao ước trong tương lai và tin tưởng những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn.

    Bài tiếp theo: QUY LUẬT VŨ TRỤ THỨ 7: QUY LUẬT ÂM DƯƠNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Vũ Trụ Và Các Định Luật
  • Chiêm Nghiệm: 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Bầu Trời Chiều Ẩn Giấu
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 6: Quy Luật Đền Bù
  • Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?
  • Các Lí Thuyết Đa Vũ Trụ
  • Các Vũ Trụ Song Song Và Lí Thuyết Đa Thế Giới
  • Thuyết Tương Đối Cho Mọi Người
  • 1. Luật hấp dẫn

    “Một khi anh đã quyết chí thì cả vũ trụ sẽ giúp anh đạt được việc đó”. Đây là một câu nói nổi tiếng trong cuốn sách Nhà giả kim, dạy cho chúng ta về sức mạnh tận cùng của ước mơ.

    Bạn nói mình khao khát, bạn nói mình muốn thành công, bạn nói mình muốn lấy được người trong mộng…nhưng tất cả những gì bạn đang làm là ngủ đến 10 sáng, ngồi xem hài nhảm cả ngày, không đọc sách, lười lao động…thì đừng bảo sao luật hấp dẫn không phát huy tác dụng.

    Hay nói đơn giản là nếu muốn trúng Vietlott, ít nhất (tối thiểu thôi) bạn phải mua một chiếc vé số đã chứ.

    2. Luật tập trung

    Nếu trường học dạy bạn cần học giỏi ở mọi môn, cả tự nhiên lẫn xã hội, thì trường đời lại trao thưởng cực kỳ hậu hĩnh cho những kẻ đứng đầu, xuất chúng trong một lĩnh vực.

    Bạn có thể thích và muốn nhiều thứ: thích bóng đá, thích kinh doanh, thích đi học, muốn làm chồng đảm đang, muốn là đứa bạn tốt…nhưng định luật tập trung nói rằng bạn cần phải thực sự rất giỏi một thứ gì đó.

    Dù là thợ sửa xe, dân thiết kế, hay chuyên bán đồ ăn qua mạng…chỉ cần bạn thực sự tập trung để đẫn đầu trong ngành mình lựa chọn, đời bạn sẽ nở hoa. Còn nếu cứ mãi “mỗi thứ biết một tí”, thì bản chất của việc tập trung vào mọi thứ thì thực ra bạn đang không tập trung vào một điều gì.

    3. Luật trách nhiệm

    Rồi sẽ có lúc, bạn ngộ ra rằng không ai khác ngoài bạn, đơn độc làm chủ cái đầu của mình. Vậy nên, mọi thứ bạn nghĩ, mọi niềm tin bạn có, mọi việc bạn làm đến tận cùng đều là do bạn cả.

    Nếu bạn làm ai tổn thương, đó là lỗi của bạn. Năm 20 tuổi vẫn nghèo có thể do lỗi của bố mẹ, nhưng 30 tuổi lương vẫn 7 triệu và than cuộc đời bất công thì đó là lỗi của bạn.

    Ngưng đổi lỗi và nhận trách nhiệm cuộc đời vào bàn tay mình, hạnh phúc chắc chắc sẽ đến.

    4. Luật kiên trì

    Người thành công không bao giờ bỏ cuộc và người bỏ cuộc không bao giờ thành công. Tất nhiên là bạn có tạm dừng để nghỉ ngơi, chuyển hướng…nhưng không được từ bỏ.

    Bạn kiên trì và nỗ lực bao nhiêu thì sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Trên đời này, tôi hiếm khi gặp một ai dám nói: “Tôi đã thử hết mọi cách, tôi đã tìm đến mọi sự trợ giúp, tôi đã cố gắng hết sức mình…và tôi vẫn thất bại cả”.

    Vì sự thật là một khi bền bỉ và đặt hết tâm trí vào việc mình làm, tất yếu là định luật kiên trì sẽ tưởng thưởng cho bạn xứng đáng.

    5. Luật nhân quả

    Có lẽ sống đến giờ này, bạn cũng nghe rất nhiều đến câu “Gieo nhân nào, gặt quả đấy”. Dù có muốn chối bỏ đến đâu, thì sau này bạn cũng ngộ ra rằng, bất cứ điều gì mình làm rồi cũng sẽ để lại một kết quả gì đấy.

    Những gì bạn làm hôm nay sẽ quyết định ngày mai của bạn. Nếu bạn ác với người khác, làm điều xấu, thì ác hữu ác báo, trốn mãi cũng không được.

    Nếu bạn làm điều tốt, học cách cho đi, không nói dối, kiếm tiền chân chính…thì luật nhận quả sẽ trả lời bạn đầy đủ.

    6. Luật chấp nhận

    Mọi thứ xảy ra trong cuộc đời này đều có lý do. Có rất nhiều thứ nếu chịu cố gắng, mọi chuyện có thể thay đổi nhưng có một số chuyện bạn buộc phải chấp nhận rằng mình thực sự bất lực và phải “cho qua đi”.

    Khi học được cách chấp nhận, rằng có thể cô ấy sẽ không yêu mình, rằng có thể rồi bố mẹ rồi cũng có ngày ra đi, rằng mình mất hết thật rồi, chúng ta sẽ thay đổi bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh để dễ thích nghi hơn.

    Thấu hiểu rằng dù có giỏi giang đến đâu, bạn không thể luôn bắt mọi chuyện diễn ra theo ý mình là một sự giải thoát khỏi gánh nặng chối bỏ mà định luật chấp nhận có thể đem lại cho cuộc đời bạn.

    7. Luật kết nối

    Mọi sự đều gắn kết với nhau bằng một sợi dây vô hình nào đấy. Có những chuyện bạn làm bây giờ bị người khác coi là vô nghĩa, nhưng 10 năm sau lại là cực kỳ quan trọng. Người bạn giúp hôm nay biết đâu mai này lại trở thành quý nhân phù trợ.

    Nhận ra được mối quan hệ tương hỗ này, hãy biết trân trọng và có trách nhiệm mọi kết nối mà bạn tạo ra.

    Nguồn: Nghĩ Giàu – Làm Giàu

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Vũ Trụ Và Các Định Luật
  • Chiêm Nghiệm: 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Bầu Trời Chiều Ẩn Giấu
  • Bài 4. Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ Nhất: Luật Nhất Thể Thần Thánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoàn Thiện Chế Định Thanh Tra Chuyên Ngành Trong Hệ Thống Pháp Luật Về Thanh Tra
  • Xem Phim Định Luật Tình Yêu Của Murphy Tập 11 Vietsub
  • Xem Phim Định Luật Tình Yêu Của Murphy Tập 15 Vietsub
  • Xem Phim Định Luật Tình Yêu Của Murphy Tập 3 Vietsub
  • Xem Phim Định Luật Tình Yêu Của Murphy Tập 38
  • TRA CỨU THẦN SỐ HỌC ONLINE

    Xem Đường Đời, Sự Nghiệp, Tình Duyên, Vận Mệnh, Các Năm Đỉnh Cao Cuộc Đời…

    (*) Họ và tên của bạn:

    (*) Ngày tháng năm sinh:

     

    Khoa học khám phá bản thân qua các con số – Pythagoras (Pitago)

    Web: https://khoahoctamlinh.vn

    Group: https://fb.com/groups/khoahoctamlinhvn

    Fanpage: https://fb.com/khoahoctamlinh.vn

    Youtube: https://khoahoctamlinh.vn/youtube

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Định Ly Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Ở Nước Ta Hiện Nay Định Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện
  • Acsimet – Nhà Bác Học Vĩ Đại Của Hy Lạp
  • Trọng Tâm Vật Lý 7 – Dạy Kèm Vật Lý Lớp 7
  • Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Khi Ly Hôn
  • Phương Pháp Học Tốt Công Thức Vật Lý 11
  • Các Lí Thuyết Đa Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Vũ Trụ Song Song Và Lí Thuyết Đa Thế Giới
  • Thuyết Tương Đối Cho Mọi Người
  • 1 Câu Về Xác Suất Di Truyền Cần Giúp Đỡ
  • 10 “định Luật Bảo Toàn Tình Yêu” Mà Bất Kỳ Ai Đang Yêu Cũng Nên Ghi Nhớ
  • Giải Vật Lí 10 Bài 23: Động Lượng
  • Vũ trụ mà chúng ta đang sống trong đó có lẽ không phải là vũ trụ duy nhất. Thật vậy, vũ trụ của chúng ta có thể chỉ là một trong vô số vũ trụ cấu thành một “đa vũ trụ”.

    Mặc dù khái niệm đa vũ trụ có lẽ hơi khó tin, nhưng có cơ sở vật lí hậu thuẫn cho nó. Và không phải chỉ có một cách để có một đa vũ trụ – mà vô số lí thuyết vật lí độc lập nhau đều hướng đến một kết luận như thế. Thật vậy, một số chuyên gia cho rằng sự tồn tại của những vũ trụ ẩn là có khả năng chứ không hẳn không có.

    Những vũ trụ vô hạn

    Các nhà khoa học không thể chắc chắn hình dạng của không-thời gian là gì, nhưng có khả năng nhất nó là phẳng (trái với dạng cầu hay thậm chí hình xuyến) và trải rộng vô hạn. Nhưng nếu không-thời gian mở rộng ra mãi mãi, thì nó phải bắt đầu lặp lại ở một điểm nào đó, bởi vì có một số hữu hạn cách để cho các hạt vật chất có thể sắp xếp trong không gian và thời gian.

    Cho nên, nếu bạn nhìn ra đủ xa, bạn sẽ gặp một phiên bản khác của mình – thật vậy, có vô số phiên bản của bạn. Một số trong những bản sao song sinh này sẽ đang làm chính cái bạn đang làm hiện nay, còn một số khác sẽ mặc một chiếc áo khác vào buổi sáng nay, và một số khác nữa sẽ có vô số nghề nghiệp và những chọn lựa khác để sống.

    Bởi vì vũ trụ có thể quan sát chỉ vươn xa đến nơi ánh sáng có cơ hội đi trong 13,7 tỉ năm kể từ Vụ nổ Lớn (Big Bang), nên không-thời gian vượt quá khoảng cách đó có thể được xem là vũ trụ độc lập của riêng nó. Như vậy, có vô số vũ trụ tồn tại liền kề nhau trong một tấm chăn chắp mảnh khổng lồ của các vũ trụ.

    Những vũ trụ bọt bóng

    Ngoài những vũ trụ bội sinh ra bởi không-thời gian mở rộng vô hạn, những vũ trụ khác có thể phát sinh từ một lí thuyết gọi là “sự lạm phát vĩnh viễn”. Lạm phát là khái niệm cho rằng vũ trụ giãn nở nhanh sau Big Bang, mang lại sự căng phồng giống như một quả khí cầu. Sự lạm phát vĩnh viễn, lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà vũ trụ học Alexander Vilenkin tại trường Đại học Tufts, cho rằng một số túi không gian ngừng lạm phát, còn những vùng khác tiếp tục lạm phát, do đó gây ra nhiều “vũ trụ bọt bóng” cô lập.

    Như vậy, vũ trụ của riêng chúng ta, nơi sự lạm phát đã kết thúc, cho phép các ngôi sao và thiên hà hình thành, chỉ là một bọt bóng nhỏ trong một biển không gian mênh mông, một số vùng trong đó vẫn đang lạm phát, không gian đó chứa nhiều vũ trụ khác giống với vũ trụ của chúng ta. Và trong một số vũ trụ bọt bóng này, các định luật vật lí và các hằng số cơ bản có thể khác với trong vũ trụ của chúng ta, nên một số vũ trụ thật sự là nơi rất lạ.

    Những vũ trụ song song

    Một khái niệm khác phát sinh từ lí thuyết dây là khái niệm braneworld – những vũ trụ song song lơ lửng ngay bên ngoài vũ trụ của chúng ta, được đề xuất bởi Paul Steinhardt thuộc trường Đại học Princeton, và Neil Turok ở Viện Vật lí Lí thuyết Perimeter ở Ontario, Canada. Khái niệm phát sinh từ khả năng có thêm nhiều chiều bổ sung cho thế giới của chúng ta ngoài ba chiều không gian và một chiều thời gian mà chúng ta đã biết. Ngoài “brane” không gian ba chiều của riêng chúng ta, những brane ba chiều khác có thể trôi nổi trong một không gian cao chiều hơn.

    Nhà vật lí Brian Greene, ở trường Đại học Columbia, mô tả khái niệm trên là “vũ trụ của chúng ta là một trong số vố ‘lát’ có khả năng đang trôi nổi trong một không gian cao chiều hơn, giống hệt như một lát bánh mì bên trong một ổ bánh mì vũ trụ khổng lồ”.

    Một gợi ý khác của lí thuyết này đề xuất rằng những vũ trụ brane này không phải luôn song song với nhau và nằm bên ngoài nhau. Thỉnh thoảng, chúng có thể lao vào nhau, gây ra những Big Bang liên tục thiết lập lại các vũ trụ mãi mãi và mãi mãi.

    Những vũ trụ con

    Lí thuyết cơ học lượng tử, lí thuyết chi phối thế giới nhỏ bé của những hạt dưới nguyên tử, đề xuất rằng có thể có những cách khác cho các vũ trụ bội phát sinh. Cơ học lượng tử mô tả thế giới theo khái niệm xác suất, thay vì những kết cục rõ ràng. Và cơ sở toán học của lí thuyết này có thể đề xuất rằng toàn bộ những kết cục khả dĩ của một tình huống thật sự xảy ra – trong những vũ trụ độc lập của riêng chúng. Ví dụ, nếu bạn đi tới một giao lộ nơi bạn có thể rẽ trái hoặc rẽ phải, thì vũ trụ hiện tại gây ra hai vũ trụ con: một vũ trụ trong đó bạn rẽ trái, và một vũ trụ trong đó bạn rẽ phải.

    “Và trong mỗi vũ trụ, có một bản sao của bạn đang chứng kiến kết cục này hoặc kết cục kia và nghĩ – không đúng – rằng thực tại của bạn là thực tại duy nhất,” Greene viết trong cuốn “Thực tải ẩn” của ông.

    Những vũ trụ toán học

    Các nhà khoa học đã từng cãi nhau chuyện toán học có đơn giản là một công cụ hữu ích để mô tả vũ trụ, hay bản thân toán học là thực tải căn bản, và những quan sát vũ trụ của chúng ta chỉ là những cảm nhận không hoàn chỉnh của bản chất toán học đích thực của nó. Nếu trường hợp sau là đúng, thì có lẽ cấu trúc toán học đặc biệt tạo nên vũ trụ của chúng ta không phải là lựa chọn duy nhất, và thật vậy toàn bộ những cấu trúc toán học khả dĩ đều tồn tại dưới dạng những vũ trụ độc lập của riêng chúng.

    “Một cấu trúc toán học là cái bạn có thể mô tả theo một cách hoàn toàn độc lập với con ranh nhân loại,” phát biểu của Max Tegmark ở MIT, người đã đề xuất khái niệm xoắn não này. “Tôi thật sự tin rằng có vũ trụ này ở ngoài kia có thể tồn tại độc lập với tôi và sẽ tiếp tục tồn tại cho dù là không có con người.”

    Nguồn: chúng tôi Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

    Thêm ý kiến của bạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ 6: Quy Luật Đền Bù
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Vũ Trụ Và Các Định Luật
  • Bên Ngoài Vũ Trụ Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Nghiệp Vũ Trụ Việt Nam: Những Thành Công Đầu Tiên Và Hy Vọng
  • Vũ Trụ Là Gì? Hệ Mặt Trời Là Gì? Những Hiểu Biết Về Trái Đất
  • Gỗ Công Nghiệp Lõi Xanh Có Tốt Không? Tư Vấn Từ Chuyên Gia Mavina
  • Tiêu Chuẩn Công Nghiệp Xanh Là Gì?
  • Công Trình Công Nghiệp Xanh Tại Việt Nam
  • ”Luồng sáng chói mắt bùng lên từ một siêu lân tinh cực xa. Xuyên qua thứ ánh sáng rực rỡ đó, kính thiên văn Hubble đã “nhìn” ra một lực huyền bí nào đó đang tác dụng ngược lại với lực hấp dẫn và đẩy các hệ ngân hà ra xa nhau. Phát hiện này đánh dấu một trong những khám phá có ý nghĩa nhất trong lịch sử về trạng thái tự nhiên của vũ trụ: Nó đang nở rộng.”

    Hình như mình đọc trên mạng thì các nhà khoa học cứ mãi nói về “năng lượng tối”, một thứ đang đẩy các hệ ngân hà ra xa nhau rồi kết luận vũ trụ đang nở rộng. Nhưng nếu nó (vũ trụ) đang nở rộng ra thì chứng tỏ nó đang ở trong một không gian rộng hơn nó. Nên nó mới có thể nở rộng được. Vậy thì ở bên ngoài của vũ trụ này là gì?

    Nếu không giải thích được bên ngoài vũ trụ là gì thì giả thuyết vũ trụ được sinh ra từ vụ nổ BigBang hình như đã sai rồi. Vì nếu có một vụ nổ như vậy thì đương nhiên không gian phát nổ sẽ lớn hơn vũ trụ. Còn nếu nói vũ trụ là vô tận không có giới hạn thì đương nhiên không có vụ nổ BigBang.

    Liệu có phải vũ trụ đang mở rộng?

    1. Nếu vũ trụ có giới hạn (có giới hạn thì mới nở rộng được chứ) và được sinh ra từ vụ nổ BigBang, Vậy thì trước khi có vụ nổ BigBang thì có cái gì? Nếu có giới hạn thì vật chất trong vũ trụ cũng chỉ bấy nhiêu thôi làm sao mà nở rộng ra mãi được. Thêm một điều nữa nếu vũ trụ có giới hạn thì bao quanh bên ngoài của vũ trụ để các ngân hà không lọt ra là gì? Không gian bên ngoài là ” cái gì” nữa đây? Nếu một ngày nào đó kết thúc của nó theo như các nhà khoa học có thể là một vụ nổ nữa vậy con người có phát triển đến đâu thì cũng chỉ ở trong vũ trụ, lúc đó mọi thứ sẽ biến mất trong vụ nổ, vậy còn lại gì?

    2. Còn nếu vũ trụ không giới hạn thì làm gì có kết thúc của vũ trụ, làm gì có việc vũ trụ nở rộng chứ? Vì đã không có giới hạn thì đương nhiên vũ trụ sẽ mãi là vũ trụ. Nếu kết thúc thì chỉ kết thúc sự sống của một ngôi sao, một ngân hà,… chứ làm gì mà kết thúc của vũ trụ được.

    Nói tóm lại là hình như 2 đúng hơn 1. Mình chỉ nghĩ vậy thôi. Chỉ đặt ra vài câu hỏi rồi tự trả lời và tìm thêm những đáp án khác thôi. Nếu bạn nào cho rằng vũ trụ có giới hạn thì trả lời giùm mình bên ngoài nó là gì. Cảm ơn! ^^

    Yahoo: ngoisaotuthan007. Trả lời được pm! ^^

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Nghiệp Hàng Không Vũ Trụ Việt Nam: Viettel Xuất Phát?
  • Những Lỗ Thủng Ngành Công Nghiệp Vũ Trụ Nga
  • Tổng Quan Về Ngành Công Nghiệp Vi Mạch Bán Dẫn Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Công Nghiệp Vi Mạch, Bao Giờ Thành Hình?
  • Tp.hcm Phát Triển Công Nghiệp Vi Mạch Bán Dẫn Và Cảm Biến
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Lỗ Đen Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Tổ Chức Lao Động Khoa Học
  • Chương I. §2. Khối Đa Diện Lồi Và Khối Đa Diện Đều
  • Định Nghĩa Và Phân Loại Về Khối Đa Diện Đều
  • Khái Niệm Về Khối Đa Diện Toán 12
  • Khái Niệm Và Công Thức Cần Nhớ Về Khối Đa Diện Trong Toán 12
  • Trong thế kỷ 18, John Michell và Pierre-Simon Laplace từng xét đến vật thể có trường hấp dẫn mạnh mô tả bởi cơ học cổ điển khiến cho ánh sáng không thể thoát ra. Lý thuyết hiện đại đầu tiên về đặc điểm của lỗ đen nêu bởi Karl Schwarzschild năm 1916 khi ông tìm ra nghiệm chính xác đầu tiên cho phương trình trường Einstein, mặc dù ý nghĩa vật lý và cách giải thích về vùng không thời gian mà không thứ gì có thể thoát được do David Finkelstein nêu ra đầu tiên vào năm 1958. Trong một thời gian dài, các nhà vật lý coi nghiệm Schwarzschild là miêu tả toán học thuần túy. Cho đến thập niên 1960, những nghiên cứu lý thuyết mới chỉ ra rằng lỗ đen hình thành theo những tiên đoán chặt chẽ của thuyết tương đối tổng quát. Khi các nhà thiên văn phát hiện ra các sao neutron, pulsar và Cygnus X-1 – một lỗ đen trong hệ sao đôi, thì những tiên đoán về quá trình suy sụp hấp dẫn trở thành hiện thực, và khái niệm lỗ đen cùng với các thiên thể đặc chuyển thành lý thuyết miêu tả những thực thể đặc biệt này trong vũ trụ.

    Theo lý thuyết, lỗ đen khối lượng sao hình thành từ sự suy sụp hấp dẫn của những sao có khối lượng rất lớn trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa. Sau khi hình thành, chúng tiếp tục thu hút vật chất từ môi trường xung quanh, và khối lượng tăng dần lên theo thời gian. Cùng với quá trình hòa trộn và sáp nhập hai hay nhiều lỗ đen mà tồn tại những lỗ đen khổng lồ với khối lượng từ vài triệu cho đến hàng chục tỷ lần khối lượng Mặc dù theo định nghĩa nó là Sự kiện đo được trực tiếp đầu tiên về sóng hấp dẫn do nhóm Mặt Trời. Các dự án khảo sát cho thấy đa phần tại trung tâm thiên hà lớn đều tồn tại ít nhất một lỗ đen khổng lồ.

    vật thể đen hoàn toàn hay vô hình, sự tồn tại của lỗ đen có thể suy đoán thông qua tương tác của nó với môi trường vật chất xung quanh và bức xạ như ánh sáng. Vật chất rơi vào lỗ đen hình thành lên vùng bồi tụ, ở đây vật chất va chạm và ma sát với nhau, trở thành trạng thái plasma phát ra bức xạ cường độ lớn; khiến môi trường bao quanh lỗ đen trở thành một trong những vật thể sáng nhất trong vũ trụ. Nếu có một ngôi sao quay quanh lỗ đen, hình dáng và chu kỳ quỹ đạo của nó cho phép các nhà thiên văn tính ra được khối lượng của lỗ đen và khoảng cách đến nó. Những dữ liệu này giúp họ phân biệt được thiên thể đặc là lỗ đen hay sao neutron… Theo cách này, nhiều lỗ đen được phát hiện ra nằm trong hệ sao đôi, và tại trung tâm Ngân Hà có một lỗ đen khổng lồ với khối lượng xấp xỉ 4,3 triệu lần khối lượng Mặt Trời. Lý thuyết về lỗ đen, nơi có trường hấp dẫn mạnh tập trung trong vùng không thời gian nhỏ, là một trong số những lý thuyết cần sự tổng hợp của thuyết tương đối tổng quát miêu tả lực hấp dẫn với Mô hình chuẩn của cơ học lượng tử. Và hiện nay, các nhà lý thuyết vẫn đang trên con đường xây dựng thuyết hấp dẫn lượng tử để có thể miêu tả vùng kì dị tại trung tâm lỗ đen. LIGO loan báo ngày 11 tháng 2 năm 2022 cũng đã chứng minh trực tiếp sự tồn tại hệ hai lỗ đen khối lượng sao quay quanh nhau và cuối cùng sát nhập để tạo thành một lỗ đen quay khối lượng lớn hơn.

    Hình ảnh mô phỏng lỗ đen uốn cong không thời gian quanh nó, xuất hiện nhiều ảnh của cùng một sao cũng như vành Einstein.

    Tham khảo WIKIPEDIA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Ăn Uống Khoa Học
  • Chế Độ Ăn Uống Khoa Học
  • Nguyên Tắc Ăn Uống Khoa Học
  • Khái Niệm Ăn Uống Có Khoa Học
  • Khái Niệm Về Khoa Học Trong Triết Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100