Áp Dụng Định Luật Coulomb

--- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Kepler Về Chuyển Động Của Hành Tinh
  • Bộ Dụng Cụ Thực Hành Định Luật Acsimet Đo Lực Đẩy Của Nước, Dụng Cụ Thực Nghiệm Vật Lý
  • Định Luật Avogadro (Chỉ Áp Dụng Cho Chất Khí Hay Hơi)
  • Vận Dụng Định Luật Bernoulli Để Phòng Tránh Tai Nạn Khi Tham Gia Giao Thông – Trường Đại Học Phòng Cháy Chữa Cháy
  • Định Lý Bernoulli (Vật Lý)
  • Chúng tôi trích giới thiệu với các bạn một số bản dịch từ tác phẩm Những câu hỏi và bài tập vật lí phổ thông của hai tác giả người Nga L. Tarasov và A. Tarasova, sách xuất bản ở Nga năm 1968. Bản dịch lại từ bản tiếng Anh xuất bản năm 1973.

    §26. Áp dụng định luật Coulomb

    HS A: Lực tương tác giữa hai điện tích tỉ lệ thuận với tích của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    GV: Em phát biểu định luật này chưa hoàn chỉnh; em đã bỏ sót một số điểm.

    HS B: Có lẽ nên nên bổ sung thêm rằng lực tương tác đó tỉ lệ nghịch với hằng số điện môi Ke của môi trường. Đúng không thầy?

    HS A: Giờ thì em hiểu rồi. Có phải ý thầy muốn chúng em bổ sung rằng lực tương tác giữa hai điện tích có phương là đường nối giữa hai điện tích?

    GV: Như thế vẫn chưa đủ. Trên phương đó có tới hai chiều mà.

    HS A: Vậy thì chúng em phải nói là các điện tích đẩy nhau nếu chúng có cùng dấu và hút nhau nếu chúng trái dấu.

    GV: Tốt. Bây giờ nếu gom hết những bổ sung này thì các em sẽ có một phát biểu hoàn chỉnh của định luật Coulomb. Cũng cần nhấn mạnh rằng định luật này nói về tương tác giữa các điện tích điểm.

    HS B: Phương trình của định luật Coulomb có thể được viết sao cho nó chứa đầy đủ thông tin về định luật được không thầy? Dạng bình thường

    Trong đó hệ số B tùy thuộc vào hệ đơn vị ta chọn.

    HS A: Nhưng trong phương trình này lực tỉ lệ, không phải với bình phương, mà với lập phương khoảng cách giữa các điện tích!

    HS A: Ý thầy nói là em chỉ việc viết ra phương trình (158) nếu được yêu cầu viết định luật Coulomb đúng không? Không cần thêm gì nữa phải không?

    GV: Em sẽ chỉ phải giải thích kí hiệu trong phương trình.

    HS A: Vậy nếu em viết phương trình (157) thay vì (158) thì sao?

    GV: Thì em sẽ phải dùng lời mô tả chiều của lực Coulomb.

    HS A: Làm thế nào phương trình (158) cho thấy các điện tích hút hay đẩy nhau?

    HS A: Thầy hãy giải thích chúng ta nên biết gì về hệ số B.

    GV: Hệ số này tùy thuộc vào hệ đơn vị ta chọn. Nếu các em sử dụng hệ đơn vị tĩnh điện tuyệt đối (cgse), thì B = 1; nếu các em sử dụng hệ đơn vị quốc tế (SI), thì B = 1/(4πe0), trong đó hằng số e0 = 8,85.10-12 C2/Nm2 (coulomb bình phương trên newton-mét bình phương).

    Chúng ta hãy giải vài bài toán về định luật Coulomb.

    Bài toán 1. Bốn điện tích điểm q giống hệt nhau đặt tại bốn đỉnh của một hình vuông. Hỏi phải đặt điện tích Q có dấu ngược lại và bằng bao nhiêu tại tâm của hình vuông để toàn hệ ở trong trạng thái cân bằng?

    HS A: Trong hệ gồm năm điện tích, bốn điện tích đã biết và một điện tích chưa biết. Vì hệ cân bằng, nên tổng lực tác dụng lên từng điện tích trong hệ bằng không. Nói cách khác, chúng ta phải xét sự cân bằng của từng điện tích.

    GV: Xét như thế là thừa. Các em có thể dễ dàng thấy rằng điện tích Q ở trạng thái cân bằng, bất kể độ lớn của nó, do vị trí hình học của nó. Do đó, điều kiện cân bằng cho điện tích này chẳng góp ích gì cho bài giải. Do sự đối xứng của hình vuông, bốn điện tích q còn lại là hoàn toàn tương đương. Như vậy, chỉ cần xét điều kiện cân bằng cho một trong bốn điện tích này là đủ, dù là điện tích nào cũng vậy. Chúng ta có thể chọn, ví dụ, điện tích tại điểm A (Hình 100). Có những lực nào tác dụng lên điện tích này?

    HS A: Lực F1 do điện tích tại điểm B, lực F2 do điện tích tại điểm D và, cuối cùng, lực do điện tích cần tìm nằm tại tâm của hình vuông.

    GV: Tôi thấy không ổn chút nào, tại sao em không xét lực tác dụng bởi điện tích đặt tại C?

    HS A: Nó đã bị che khuất bởi điện tích tại tâm của hình vuông.

    GV: Đây là một cái sai ngớ ngẩn. Hãy nhớ: trong một hệ điện tích, mỗi điện tích chịu lực tác dụng bởi mọi điện tích khác trong hệ, không có ngoại lệ nào hết. Do đó, em sẽ phải cộng thêm lực F3 tác dụng lên điện tích tại A do điện tích tại C gây ra. Sơ đồ lực cuối cùng được thể hiện ở Hình 100.

    HS A: Giờ thì mọi thứ đã rõ. Em chọn phương CA và chiếu toàn bộ các lực tác dụng lên điện tích tại A lên phương này. Tổng đại số của tất cả các hình chiếu lực phải bằng không, tức là

    GV: Khá chính xác. Sự cân bằng của hệ điện tích này có bền không?

    HS B: Không bền. Đây là cân bằng không bền. Chỉ cần một trong các điện tích hơi lệch một chút, toàn bộ các điện tích sẽ bắt đầu chuyển động và hệ sẽ bị phá vỡ.

    GV: Em nói đúng. Thật sự khó nghĩ ra một cách sắp xếp cân bằng bền của các điện tích đứng yên.

    Bài toán 2. Hai quả lắc hình cầu có cùng khối lượng và bán kính, có điện tích bằng nhau và được treo bên dưới hai sợi dây cùng chiều dài và treo vào cùng một điểm, được nhúng trong một điện môi lỏng có hằng số điện môi Ke và khối lượng riêng r0. Hỏi khối lượng riêng r của chất liệu làm con lắc phải bằng bao nhiêu để cho góc lệch giữa hai sợi dây trong không khí và trong điện môi đó là như nhau?

    HS B: Góc lệch giữa hai sợi dây là do lực đẩy Coulomb giữa hai quả lắc. Gọi Fe1­ là lực đẩy Coulomb trong không khí và Fe2 là lực đẩy Coulomb trong điện môi.

    GV: Hai lực này khác nhau ra sao?

    HS B: Vì, theo điều kiện của bài toán, góc lệch giữa hai sợi dây là như nhau trong cả hai trường hợp, nên khoảng cách giữa hai quả lắc cũng là như nhau. Do đó, độ chênh lệch lực Fe1Fe2 chỉ là do hằng số điện môi. Như vậy

    Fe1 = KeFe2                                            (160)

    Ta hãy xét trường hợp hai quả lắc nằm trong không khí. Từ sự cân bằng của hai quả lắc, ta kết luận rằng tổng vector của các lực Fe1 và trọng lực sẽ hướng theo phương của sợi dây bởi vì nếu không nó không thể trực đối với phản lực của sợi dây (Hình 101a). Ta suy ra

    Fe1/P = tan α

    trong đó α là góc hợp bởi sợi dây và phương thẳng đứng. Khi hai quả lắc nhúng chìm trong điện môi, lực Fe1 được thay bằng lực Fe2, và trọng lực P được thay bằng hiệu (P – Fb), trong đó Fb là lực nổi. Tuy nhiên, tỉ số của hai lực mới này, giống như phần trước, phải bằng tanα (Hình 101b). Như vậy

    GV: Đáp số của em đúng rồi.

    Bài toán 3. Hai quả lắc hình cầu cùng khối lượng m tích điện giống hệt nhau được treo dưới hai sợi dây cùng chiều dài l và treo vào cùng một điểm. Tại điểm treo có một quả cầu thứ ba mang cùng điện tích. (Hình 102). Tính điện tích q của mỗi quả lắc và quả cầu nếu góc hợp bởi hai sợi dây khi quả lắc cân bằng là α.

    HS B: Ta sẽ xét quả lắc A. Có bốn lực tác dụng lên nó (Hình 102). Vì quả lắc ở trạng thái cân bằng, nên em sẽ phân tích những lực này ra các thành phần hướng theo hai phương…

    GV (cắt ngang): Trong trường hợp đã cho, có một cách giải đơn giản hơn. Lực do điện tích tại điểm treo tác dụng không có ảnh hưởng nào đối với vị trí cân bằng của sợi dây: lực Fe2 tác dụng theo phương của sợi dây và bị triệt tiêu ở mọi vị trí bởi phản lực của sợi dây. Do đó, bài toán đã cho có thể được giải như là không có điện nào tại điểm treo của sợi dây. Các thí sinh thường không biết điều này.

    HS B: Như vậy ta sẽ bỏ qua lực Fe2. Vì tổng vector của các lực Fe1 P phải hướng theo phương của sợi dây nên ta có

    Fe1 /P = tan (α/2)                                              (162)

    GV: Lưu ý rằng kết quả này không phụ thuộc vào chuyện có mặt hay không có mặt của một điện tích tại điểm treo dây.

    HS B: Vì

    GV: Đáp số của em đúng rồi.

    HS A: Khi nào thì sự có mặt của một điện tích tại điểm treo dây là có nghĩa?

    GV: Chẳng hạn, khi cần tìm lực căng dây.

    Bài tập

    50. Các điện tích +q giống hệt nhau nằm tại các đỉnh của một lục giác đều. Phải đặt tại tâm của lục giác đó một điện tích bằng bao nhiêu để toàn bộ hệ điện tích cân bằng?

    51. Một quả lắc hình cầu có khối lượng m và điện tích q treo bên dưới một sợi dây chiều dài l quay xung quanh một điện tích cố định giống hệt với điện tích của quả lắc (Hình 103). Góc giữa sợi dây và phương thẳng đứng là α. Tính vận tốc góc của chuyển động đều của quả lắc và lực căng của sợi dây.

    52. Một quả lắc hình cầu có khối lượng m và điện tích q có thể quay trong một mặt phẳng thẳng đứng tại đầu của một sợi dây chiều dài l. Tại tâm quay có một quả cầu thứ hai có điện tích cùng dấu và độ lớn với điện tích của quả lắc. Phải truyền cho quả lắc một vận tốc nằm ngang tối thiểu bằng bao nhiêu tại vị trí thấp nhất của nó để cho phép nó quay trọn vòng?

    Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email

    Tin tức vật lý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liệu Định Luật Moore Còn Đúng Cho Điện Thoại Thông Minh Vào Năm 2021?
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Luật Hấp Dẫn Không Phải Ai Cũng Biết
  • Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Công Nghiệp
  • Chủ Sở Hữu Và Nội Dung Quyền Sở Hữu Công Nghiệp
  • Sáng Mãi Đạo Lý “Uống Nước Nhớ Nguồn”
  • Định Luật Avogadro (Chỉ Áp Dụng Cho Chất Khí Hay Hơi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Vận Dụng Định Luật Bernoulli Để Phòng Tránh Tai Nạn Khi Tham Gia Giao Thông – Trường Đại Học Phòng Cháy Chữa Cháy
  • Định Lý Bernoulli (Vật Lý)
  • Các Định Luật Cơ Bản Dùng Trong Máy Điện
  • Hiện Tượng Cảm Ứng Điện Từ
  • № 219C – Kiểm Nghiệm Định Luật Charles – Vật Lý Mô Phỏng
  • “Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất thì các thể tích khí hay hơi bằng nhau sẽ chứa số phân tử khí hay hơi bằng nhau (hay số mol bằng nhau)”

    Chi tiết khái niệm

    Định luật Avogadro (chỉ áp dụng cho chất khí hay hơi)

    “Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất thì các thể tích khí hay hơi bằng nhau sẽ chứa số phân tử khí hay hơi bằng nhau (hay số mol bằng nhau)”

    Thí dụ:   

    Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít khí H2 có chứa 6,022.1022 phân tử H2 hay 0,1 mol H2

    Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít khí CH4 có chứa 6,022.1022 phân tử CH4 hay 0,1 mol  CH4

    Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít hơi nước (H2O) có chứa 6,022.1022 phân tử H2O hay 0,1 mol H2O

    Ở 27,3ºC; 1atm thì 2,464 lít khí heli (He) có chứa 6,022.1022 phân tử He hay 0,1 mol He

    Tại sao có phân tử khí hay hơi kích thước lớn nhỏ khác nhau, mà cùng thể tích lại chứa cùng số phân tử, hơi khó hiểu.

    Đáng lẽ phân tử có kích thước lớn thì số phân tử phải ít hơn, còn phân tử có kích thước nhỏ thì phải có số phân tử nhiều hơn chứ (trong cùng một thể tích bình chứa bằng nhau). Điều thắc mắc này đúng với chất lỏng hay chất rắn, vì khi ở dạng lỏng hay rắn thì các phân tử tiếp xúc nhau, nên nếu phân tử kích thước lớn thì chiếm thể tích lớn, còn phân tử kích thước nhỏ thì chiếm thể tích nhỏ, nên nếu hai thể tích bình chứa bằng nhau, bình chứa phân tử kích thước nhỏ sẽ chứa số phân tử nhiều hơn so với số phân tử có kích thước lớn. Tuy nhiên khi ở dạng khí thì các các phân tử ở cách xa nhau, khoảng cách giữa hai phân tử rất lớn so với kích thước của phân tử. Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất, coi như khoảng cách trung bình giữa các phân tử khí bằng nhau, không phụ thuộc vào kích thuớc lớn hay nhỏ của phân tử, nên trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất, các thể tích khí bằng nhau sẽ chứa số phân tử bằng nhau. Giống như khi để tiếp xúc nhau thì khoảng cách giữa hai trái banh tennis sẽ nhỏ, còn khoảng cách hai trái banh dùng trong bóng đá sẽ lớn. Nhưng nếu đặt hai quá banh tennis mỗi trái đặt ở một góc sân xa nhau, tương tự đặt hai trái banh bóng đá, mỗi trái đặt ở mỗi góc sân xa nhau (cùng một sân), thì coi như khoảng cách giữa hai trái banh tennis và khoảng cách giữa hai trái banh bóng đá là bằng nhau.

    Trong cách nói của tiếng Việt thì khi nói “khí” hiểu là bình thường (điều kiện thường, 25ºC, 1 atm) chất này hiện diện ở dạng khí, còn khi nói “hơi” thì hiểu là bình thường chất này có thể không ở dạng khí mà ở dạng lỏng hay rắn. Thí dụ người ta nói khí hydrogen, khí cacbonic (không nói hơi hydrogen, hơi cacbonic, vì ở điều kiện thường, hydrogen, cacbonic hiện diện ở dạng khí) trong khi người ta nói hơi nước, hơi thủy ngân (không nói khí nước, khí thủy ngân, vì bình thường nước cũng như thủy ngân hiện diện chủ yếu ở dạng lỏng). Tuy nhiên khi nói hơi, hiểu là lấy dạng khí của nó.

    Hệ quả của định luật Avogadro

    Trong cùng điều kiện về nhiệt độ và áp suất, 1 mol bất kỳ khí hay hơi nào củng đều chiếm thể tích bằng nhau. Đặc biệt ở điều kiện tiêu chuẩn (0ºC, 1atm) 1 mol bất kỳ khí, hơi hay hỗn hợp khí hơi nào cũng đều chiếm thể tích bằng nhau, bằng 22,4 lít hay 22 400 mL hay 22 400 cm3.

    Thí dụ:

     Ở 27,3ºC; 1atm, thì 1 mol khí CH4 chiếm thể tích 24,64 lít.

     Ở 27,3ºC; 1atm, thì 1 mol khí H2 chiếm thể tích 24,64 lít.

    Ở 27,3ºC; 1atm, thì 1 mol hơi nước (H2O) chiếm thể tích 24,64 lít

    Ở điều kiện tiêu chuẩn (0ºC, 1atm), 1 mol khí CH4, 1 mol khí H2, 1 mol hơi nước đều chiếm thể tích bằng nhau, đều bằng 22, 4 lít

     

    Tìm hiểu thêm Định luật Avogadro (chỉ áp dụng cho chất khí hay hơi)

    Advertisement

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Dụng Cụ Thực Hành Định Luật Acsimet Đo Lực Đẩy Của Nước, Dụng Cụ Thực Nghiệm Vật Lý
  • Định Luật Kepler Về Chuyển Động Của Hành Tinh
  • Áp Dụng Định Luật Coulomb
  • Liệu Định Luật Moore Còn Đúng Cho Điện Thoại Thông Minh Vào Năm 2021?
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Luật Hấp Dẫn Không Phải Ai Cũng Biết
  • Luật Coulomb: Công Thức, Định Nghĩa, Ứng Dụng Trong Thực Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đôi Điều Về Lực Đẩy Archimede Và Áp Suất Chất Lỏng
  • Định Luật Đàn Hồi Hooke
  • Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng Là Gì?
  • Cơ Năng Là Gì? Nêu Định Luật Bảo Toàn Cơ Năng Của Con Lắc Đơn
  • Hiện Tượng Cảm Ứng Điện Từ Là Gì ? Từ Thông Là Gì ?
  • Trong tĩnh điện, một trong những điều cơ bản là định luật Coulomb. Nó được sử dụng trong vật lý để xác định lực tương tác của hai điện tích điểm cố định hoặc khoảng cách giữa chúng. Đây là một quy luật cơ bản của tự nhiên, không phụ thuộc vào bất kỳ luật nào khác. Sau đó, hình dạng của cơ thể thực không ảnh hưởng đến độ lớn của các lực. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ mô tả một cách đơn giản luật Coulomb và ứng dụng của nó trong thực tế.

    Câu chuyện khám phá

    Sh.O. Mặt dây chuyền vào năm 1785 lần đầu tiên đã chứng minh bằng thực nghiệm các tương tác được mô tả bởi luật pháp. Trong các thí nghiệm của mình, ông đã sử dụng thang xoắn đặc biệt. Tuy nhiên, trở lại năm 1773, Cavendish đã chứng minh bằng cách sử dụng ví dụ về tụ điện hình cầu, rằng không có điện trường bên trong quả cầu. Điều này cho thấy rằng lực tĩnh điện thay đổi theo khoảng cách giữa các cơ thể. Nói chính xác hơn, khoảng cách bình phương. Sau đó, nghiên cứu của ông đã không được công bố. Trong lịch sử, phát hiện này được đặt theo tên của Coulomb và đại lượng mà điện tích được đo có tên tương tự.

    Từ ngữ

    Định nghĩa của luật Coulomb nêu rõ:Trong chân không Tương tác F của hai vật tích điện tỷ lệ thuận với sản phẩm của các mô-đun của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    Nghe có vẻ ngắn, nhưng nó có thể không rõ ràng với mọi người. Nói một cách đơn giản:Các vật thể có điện tích càng lớn và chúng càng gần nhau thì sức mạnh càng lớn.

    Và ngược lại:Nếu bạn tăng khoảng cách giữa các điện tích – lực sẽ trở nên ít hơn.

    Công thức của quy tắc Coulomb trông như thế này:

    Chỉ định của các chữ cái: q là độ lớn của điện tích, r là khoảng cách giữa chúng, k là hệ số, phụ thuộc vào hệ thống đơn vị được chọn.

    Độ lớn của điện tích q có thể dương hoặc có điều kiện âm. Sự phân chia này rất tùy tiện. Khi cơ thể chạm vào, nó có thể được truyền từ người này sang người khác. Theo sau đó, cùng một cơ thể có thể có điện tích và cường độ khác nhau. Một điện tích điểm là một điện tích hoặc vật thể có kích thước nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách tương tác có thể.

    Cần lưu ý rằng phương tiện đặt các điện tích ảnh hưởng đến tương tác F. Vì nó gần như bằng nhau trong không khí và trong chân không, việc phát hiện ra Coulomb chỉ áp dụng cho các phương tiện này, đây là một trong những điều kiện để áp dụng loại công thức này. Như đã đề cập, trong hệ thống SI, đơn vị điện tích là Coulomb, viết tắt Cl. Nó đặc trưng cho lượng điện trên mỗi đơn vị thời gian. Nó có nguồn gốc từ các đơn vị SI cơ bản.

    1 C = 1 A * 1 giây

    Điều đáng chú ý là kích thước của 1 C là quá mức. Do thực tế là các chất mang đẩy nhau, rất khó để giữ chúng trong một cơ thể nhỏ, mặc dù dòng điện trong 1A là nhỏ, nếu nó chảy trong dây dẫn. Ví dụ, một dòng điện 0,5 A chạy trong cùng một bóng đèn sợi đốt 100 W và hơn 10 A chảy trong một lò sưởi điện. Một lực như vậy (1 C) xấp xỉ bằng khối lượng 1 tấn tác dụng lên cơ thể từ phía bên trái cầu.

    Bạn có thể nhận thấy rằng công thức này thực tế giống như trong tương tác hấp dẫn, chỉ khi khối lượng xuất hiện trong cơ học Newton, sau đó tích điện trong tĩnh điện.

    Công thức Coulomb cho môi trường điện môi

    Hệ số có tính đến các giá trị của hệ SI được xác định bằng N2* m2/ Cl2. Nó tương đương với:

    Trong nhiều sách giáo khoa, hệ số này có thể được tìm thấy dưới dạng một phân số:

    Đây0= 8,85 * 10-12 Kl2 / N * m2 – đây là hằng số điện. Đối với điện môi, E là hằng số điện môi của môi trường, khi đó định luật Coulomb có thể được sử dụng để tính toán lực tương tác của điện tích đối với chân không và môi trường.

    Với ảnh hưởng của điện môi, nó có dạng:

    Từ đây, chúng ta thấy rằng sự ra đời của một chất điện môi giữa các cơ thể làm giảm lực F.

    Lực lượng được chỉ đạo như thế nào

    Các điện tích tương tác với nhau tùy thuộc vào cực tính của chúng – các điện tích giống nhau đẩy nhau và thu hút ngược lại (ngược lại).

    Nhân tiện, đây là sự khác biệt chính từ quy luật tương tác hấp dẫn tương tự, nơi các cơ thể luôn bị thu hút. Các lực được định hướng dọc theo đường được vẽ giữa chúng, được gọi là vectơ bán kính. Trong vật lý, ký hiệu là r12 và như một vectơ bán kính từ điện tích thứ nhất đến điện tích thứ hai và ngược lại. Các lực được hướng từ tâm điện tích sang điện tích trái dấu dọc theo đường thẳng này, nếu các điện tích trái dấu và ngược chiều, nếu chúng có cùng tên (hai dương hoặc hai âm). Ở dạng vector:

    Lực tác dụng lên điện tích thứ nhất từ ​​phía thứ hai được ký hiệu là F12. Sau đó, ở dạng vector Coulomb, luật như sau:

    Để xác định lực tác dụng lên điện tích thứ hai, ký hiệu F21 và R21.

    Nếu cơ thể có hình dạng phức tạp và nó đủ lớn để ở một khoảng cách nhất định, nó không thể được coi là điểm, thì nó được chia thành các phần nhỏ và mỗi phần được coi là một điện tích điểm. Sau khi thêm hình học của tất cả các vectơ kết quả, lực kết quả thu được. Các nguyên tử và phân tử tương tác với nhau theo cùng một định luật.

    Ứng dụng thực tế

    Công việc của Coulomb rất quan trọng trong ngành tĩnh điện, trong thực tế, nó được sử dụng trong một số phát minh và thiết bị. Một ví dụ nổi bật là cột thu lôi. Với sự giúp đỡ của nó, các tòa nhà và lắp đặt điện được bảo vệ khỏi giông bão, do đó ngăn ngừa hỏa hoạn và thiết bị hỏng hóc. Khi trời mưa với giông bão trên trái đất, một điện tích cảm ứng có cường độ lớn xuất hiện, chúng bị thu hút về phía của đám mây. Nó chỉ ra rằng một điện trường lớn xuất hiện trên bề mặt trái đất. Gần đầu của cột thu lôi, nó có giá trị lớn, do đó, một luồng phóng xạ được đốt cháy từ đầu (từ mặt đất, qua cột thu lôi đến đám mây). Điện tích từ trái đất bị hút vào điện tích trái dấu của đám mây, theo định luật Coulomb. Không khí bị ion hóa, và điện trường giảm xuống gần cuối cột thu lôi. Do đó, các khoản phí không tích lũy trên tòa nhà, trong trường hợp đó xác suất xảy ra sét đánh là nhỏ. Nếu một cú đánh vào tòa nhà xảy ra, thì thông qua việc chống sét, tất cả năng lượng sẽ rơi xuống đất.

    Trong nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công trình vĩ đại nhất của thế kỷ 21 được sử dụng – máy gia tốc hạt. Trong đó, một điện trường làm công việc tăng năng lượng hạt. Xem xét các quá trình này từ quan điểm về tác động đối với một khoản phí điểm bởi một nhóm các khoản phí, sau đó tất cả các mối quan hệ của pháp luật hóa ra là hợp lệ.

    Cuối cùng, chúng tôi khuyên bạn nên xem video cung cấp giải thích chi tiết về Luật Coulomb:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Luật Moore’S Law Là Gì? Hiện Tại & Tương Lai Phát Triển Đến Đâu
  • Định Luật Ôm Đối Với Toàn Mạch Cùng Các Loại Đoạn Mạch
  • Lớp Học Vật Lý: Lịch Sử Vật Lý
  • Bài Tập Vật Lý 12 Chuyên Đề Dòng Điện Xoay Chiều Một Phần Tử Chọn Lọc.
  • Định Luật Ôm Cho Các Loại Mạch Điện
  • Phương Pháp Giải Bài Tập Áp Dụng Định Luật Ôm Cho Toàn Mạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 11 Định Luật Ôm Đối Với Toàn Mạch (Phần 2)
  • Mối Quan Hệ Giữa Thất Nghiệp Và Gdp
  • Dạy Thêm Định Luật Ôm Cho Đoạn Mạch Chỉ Có R
  • Tóm Tắt Lí Thuyết Và Phương Pháp Giải Bài Tập Định Luật Ôm Cho Đoạn Mạch Chỉ Chứa R
  • Giáo Án Môn Vật Lí 6
  • Vật lý là một trong những môn học được nhiều học sinh khối tự nhiên yêu thích. Trong đó việc áp dụng định luật ôm cho toàn mạch được nhiều các thầy cô giáo và các em học sinh trú trọng, quan tâm.

    1.Lý thuyết Định luật ôm cho toàn mạch

    Thế nào là hiện tượng đoản mạch?

    Cường độ dòng điện trong mạch kín đạt tới giá trị lớn nhất khi RN = 0. Khi đó ta có thể nói rằng nguồn điện bị đoản mạch và

    Tính điện trở tương đương

    Tính điện trở tương đương là dạng bài tập phổ biến cần chú ý

    Áp dụng các công thức tính cường độ mạch chính tùy theo cấu tạo của hệ nguồn điện. Thực hiện tính toán theo cường độ mạch chính.

    2. Bài tập áp dụng Định Luật ôm cho toàn mạch có lời giải

    Câu 1: Một nguồn điện có điện trở trong 0,1Ω được mắc nối tiếp với điện trở 4,8Ω thành mạch kín. Lúc này, hiệu điện thế giữa hai cực của nguồn điện là 12V. Tính suất điện động của nguồn và cường độ dòng điện trong mạch.

    Câu 2: Một bộ acquy được nạp điện với cường độ dòng nạp điện là 3A và hiệu điện thế đặt vào 2 cực của bộ acquy là 12V. Xác định điện trở trong bộ acquy, biết suất phản điện của bộ acquy khi nạp điện bằng 6V.

    Lời giải

    Câu 1:

    Câu 1: Cho một điện trở R = 2Ω mắc vào hai cực của một bộ nguồn gồm hai chiếc pin giống nhau. Nếu hai pin mắc nối tiếp thì dòng qua R là I1 = 0,75A. Nếu hai pin mắc song song thì dòng qua R là I2 = 0,6A. Tính suất điện động e và điện trở trong r của mỗi pin. (ĐS : e = 1,5V ; r = 1Ω)

    Câu 2: Một bộ acquy có suất điện động E = 16V được nạp điện với cường độ dòng điện nạp là 5A và hiệu điện thế ở hai cực của bộ acquy là 32V. Xác định điện trở trong của bộ ắc quy (ĐS : 3,2Ω).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Dạy Và Học Học Phần Cơ Học 1 Cho Sinh Viên Ngành Sư Phạm Toán Học Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình
  • Ba Định Luật Niu Tơn
  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Vật Lý 9 Phần Điện Học
  • Bài Tập Phương Trình Trạng Thái, Phương Trình Claperon
  • Mối Liên Hệ Giữa Nhãn Hiệu Trong Pháp Luật Việt Nam (P2)
  • Định Luật Coulomb Về Tĩnh Điện (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Amdahl: Định Nghĩa Và Cách Nó Ảnh Hưởng Đến Máy Tính
  • Chương 3: Các Định Luật Chất Khí Và Thuyết Động Học
  • Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng
  • Áp Dụng Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng Và Định Luật Bảo Toàn Động Lượng
  • Phát Hiện Bất Thường Bằng Định Luật Benford
  • Nước Pháp, 1785. Lực hút hay đẩy giữa hai điện tích tỉ lệ thuận với độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    Định luật Coulomb nói rằng độ lớn của lực F giữa hai điện tích điểm trong không gian tự do được cho bởi

    trong đó 10 q1-9 farad/mét), và F được cho theo đơn vị newton. Một coulomb, kí hiệu bằng chữ cái C, được định nghĩa là lượng điện tích đi qua một điểm trên một dây dẫn trong một giây khi dòng điện trong dây bằng một ampere. Nói cách khác, 1 C = 1 A.s. Nếu hai điện tích cùng dấu, thì lực là đẩy. Nếu hai điện tích trái dấu, thì lực là hút. q2 là độ lớn của các điện tích tính theo coulomb, r là khoảng cách giữa hai điện tích tính theo mét, là hằng số điện môi của không gian tự do (8,85 ×

    Xét phương trình trên, ta có thể thấy độ lớn của lực tỉ lệ thuận với độ lớn của mỗi điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Lực do điện tích điểm này tác dụng lên điện tích điểm kia có phương nằm trên đường tưởng tượng nối giữa hai điện tích.

    Các giá trị điện tích có thể xem là cộng được trong trường hợp khi electron và proton kết hợp tạo thành các hạt phức hoặc các tập hợp hạt. Ngoại trừ trường hợp các quark, chúng được xem là có điện tích phân số, toàn bộ điện tích quan sát thấy trong tự nhiên là bội số nguyên của điện tích trên electron ( Qe) hoặc proton ( Qp) có giá trị như sau:

    Nhà vật lí hạt nhân Ernest Rutherford (1871-1937) đã tiến hành các thí nghiệm với hạt alpha tán xạ chứng minh rằng Định luật Coulomb là chính xác ngay cả với các hạt tích điện có kích cỡ hạt nhân và cả với các giá trị r nhỏ đến 10 -12 centi-mét. ( Hạt alpha là hạt nhân helium, và chúng gồm hai proton và hai neutron liên kết với nhau.) Thật vậy, ngày nay, các thí nghiệm đã chứng minh rằng Định luật Coulomb có giá trị trên một phạm vi khoảng cách đáng kể, từ nhỏ cỡ 10 -16 mét (một phần mười đường kính của hạt nhân nguyên tử) cho đến lớn cỡ 10 6 mét. Định luật Coulomb chỉ chính xác khi các điện tích đứng yên bởi vì chuyển động tạo ra từ trường làm thay đổi lực tác dụng lên các điện tích.

    Lưu ý rằng một coulomb là một điện tích cực kì lớn so với điện tích của một electron hay proton. Để có một cảm giác về độ lớn, hãy xét hai vật, mỗi vật có điện tích toàn phần +1 coulomb. Nếu bạn đặt hai vật này cách nhau một mét, thì lực đẩy sẽ vào khoảng chín tỉ newton, tương ứng với một triệu tấn! Do coulomb là một điện tích khổng lồ như thế, nên thỉnh thoảng các nhà khoa học sử dụng những đơn vị đo nhỏ hơn, ví dụ như micro-coulomb (10 -6 C), pico-coulomb (10 -12 C), hay đơn giản hơn nữa là dùng điện tích electron (1,62 × 10 −19 C).

    Định luật Coulomb và Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton là ví dụ của cái các nhà vật lí thỉnh thoảng gọi là các định luật “tác dụng xa” – hiểu theo nghĩa là khi các định luật này được thiết lập, người ta chẳng biết môi trường nào truyền tương tác. Định luật Newton mô tả lực hút hấp dẫn của hai khối lượng m1m2 cách nhau một khoảng r và có thể viết là Fg = Gm1m2/ r2, trong đó Fg là độ lớn của lực hấp dẫn.

    Ngay cả nhìn sơ bộ hình thức toán học của Định luật Newton và Định luật Coulomb ta cũng thấy hai công thức có những tương đồng đến bất ngờ. Cả lực tĩnh điện và lực hấp dẫn đều tỉ lệ thuận với tích của các thực thể đang tương tác (khối lượng hoặc điện tích), và cả hai lực đều tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách.

    Cũng độ trễ này ứng với các khối lượng có lực hút hấp dẫn, như trong trường hợp Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời. Nếu Mặt Trời đột ngột biến mất, thì Trái Đất vẫn tiếp tục quay xung quanh Mặt Trời bị mất đó trong vài ba phút do bởi tác dụng hấp dẫn không thể truyền đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Trong thời gian cần thiết cho tác dụng này truyền đi, vật này sẽ tiếp tục chịu tác dụng lực điện hay hấp dẫn từ vật kia như thể vật biến mất vẫn còn tồn tại.

    Bất chấp những tương đồng này, tồn tại một khác biệt đáng chú ý giữa Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton và Định luật Coulomb – lực Coulomb có thể là hút hay đẩy, còn lực hấp dẫn chỉ là hút. Đồng thời, độ lớn của lực Coulomb phụ thuộc vào môi trường ngăn cách các điện tích, còn lực hấp dẫn độc lập với môi trường. Ví dụ, thừa số của chúng ta trong Định luật Coulomb có thể được viết tổng quát hơn, dùng thay cho :

    trong đó hằng số điện môi là một tính chất điện của môi trường bao xung quanh hai điện tích. Kí tự kí hiệu cho hằng số điện môi khi môi trường là chân không. Giá trị của = k, thỉnh thoảng được gọi là hằng số Coulomb, xấp xỉ bằng 9 ×. Môi trường dẫn điện có giá trị hằng số điện môi lớn hơn . Vì chân không không có hạt mang điện, nên hằng số điện môi cho chân không nhỏ hơn cho bất kì môi trường nào khác. Giá trị hằng số điện môi của không khí khô gần với của chân không nên các nhà khoa học thường xem các thí nghiệm tiến hành trong không khí như thể được tiến hành trong chân không.

    Hằng số điện môi của một vật liệu thường được cho tương đối so với của không gian tự do. Nếu kí hiệu hằng số điện môi tương đối là , thì hằng số điện môi khi đó được tính bằng cách nhân với . Các giá trị hằng số điện môi tương đối xấp xỉ ở nhiệt độ phòng được cho trong bảng 6, và các giá trị đó có thể biến thiên tùy theo nhiệt độ và thành phần chính xác của vật liệu đang nghiên cứu. Ví dụ, tồn tại một phạm vi giá trị hằng số điện môi đối với những loại giấy khác nhau.

    Định luật Coulomb chỉ chính xác đối với điện tích điểm, nghĩa là các điện tích định xứ trong một vùng không gian vô cùng nhỏ. Tuy nhiên, mọi thí nghiệm thực tế đều tiến hành với điện tích trên các vật có kích cỡ hữu hạn. Định luật Coulomb có thể dùng được trong các thí nghiệm với các vật như thế nếu kích cỡ của các vật mang điện là nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách giữa các tâm của chúng. Lưu ý rằng trong thời hiện đại, định luật Coulomb đã được khái quát hóa thành dạng vi tích phân có thể dùng cho các điện tích phi chất điểm, và thông thường những khái quát này cũng được gọi là Định luật Coulomb.

    Bảng 6. Hằng số điện môi tương đối của một số vật liệu

    Nguồn: Glenn Elert, “Dielectrics,” in The Physics Hypertextbook; xem hypertextbook.com/physics/electricity/dielectrics/.

    Mặc dù lực đẩy coulomb phải khá mạnh đối với các proton tích điện dương bên trong hạt nhân, song các proton không bay ra xa nhau là do bởi chúng được giữ lại bằng một lực cơ bản khác, lực hạt nhân mạnh, lực này mạnh hơn lực coulomb.

    Tôi kết luận mục này với một bài toán ngắn cho thấy một phép tính thực tế vận dụng Định luật Coulomb. Tưởng tượng có hai quả cầu nhỏ, mỗi quả cầu có khối lượng 0,20 gam. Mỗi quả cầu được gắn dưới một sợi dây mảnh dài 50 cm treo vào cùng một điểm trên trần nhà. Do hai quả cầu có điện tích giống nhau, nên chúng đong đưa dưới trần nhà và không chạm vào nhau. Kết quả trong thí nghiệm đặc biệt này, mỗi sợi dây lập góc 37 độ so với đường vuông góc với trần nhà. Để giúp hình dung bài toán này, hãy vẽ một tam giác . Điểm trên cùng biểu diễn điểm treo của hai sợi dây, đỉnh bên trái và bên phải biểu diễn vị trí của hai quả cầu. Nếu chúng ta giả sử điện tích trên mỗi quả cầu là bằng nhau, thì chúng ta có thể xác định mỗi điện tích ấy lớn bao nhiêu.

    Để giải bài toán này, ta có thể sử dụng lượng giác đơn giản, đồng thời nhận thấy trọng lượng của một vật bằng khối lượng 10 m của nó nhân với gia tốc trọng trường -3 N. Đây là lực đẩy giữa hai quả cầu. Ta có thể thay lực này vào công thức Định luật Coulomb để tìm điện tích trên mỗi quả cầu: g (bằng 9,8 m/s 2). Trước tiên, xét quả cầu bên trái. Có ba lực tác dụng lên quả cầu: trọng lực hướng xuống ( mg), lực căng T trên sợi dây, và lực đẩy F do điện tích trên quả cầu bên phải tác dụng. Do các quả cầu không chuyển động, nên các lực trên trục x và trục y cân bằng nhau. Như vậy, đối với các lực trên trục x ta có – 0,6 T = 0. Xét các lực trên trục y, ta có 0,8 T – (0,2)(10 -3 kg)(9,8 m/s 2) = 0, cho ta T = 2,45 ××

    (Khoảng cách giữa hai quả cầu là 0,60 m, có thể tính được bằng lượng giác, biết chiều dài dây 50 cm và góc 37 10 o.) Giải cho -7 coulomb hay 0,24 q, ta tìm được q xấp xỉ bằng 2,4 ×C, trong đó C là kí hiệu cho micro-coulomb.

    Trong một hệ gồm nhiều điện tích điểm, các điện tích tác dụng lực lên nhau, và hợp lực tác dụng lên một điện tích bất kì bằng tổng vector của từng lực do mỗi điện tích khác trong hệ tác dụng lên điện tích đó.

    Trích từ Archimedes to Hawking (Clifford Pickover) Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

    Thêm ý kiến của bạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Thúc Của Định Luật Moore ?
  • Sự Chấm Dứt Của Định Luật Moore
  • Làm Thế Nào Để Tính Toán Được Định Luật Ohm Để An Toàn Khi Hút Vape
  • Bài 5: Định Luật Ohm
  • Bài 9: Định Luật Ohm Đối Với Toàn Mạch
  • Áp Dụng Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giải Bài Tập Lipit (Chất Béo)
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Vật Lý 10 Học Kì 2 Có Đáp Án
  • Các Công Thức Hoá Học Lớp 11 Giúp Giải Nhanh Toán Hiđrocabon
  • Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng – Kipkis
  • Phương Pháp Bảo Toàn Nguyên Tố
  • Nội dung của định luật bảo toàn khối lượng

    Tổng khối lượng của các chất tham gia bằng tổng khối lượng của sản phẩm tạo thành

    Ví dụ:

    Xét phản ứng  : A + B→ C + D

    Ta có: mA + mB → mC + mD

    Hệ quả 1 : Gọi mt là tổng khối lượng các chất trước phản ứng, ms là tổng khối lượng các chất sau phản ứng. Dù cho phản ứng xảy ra vừa đủ hay có chất hay có chất dư, hiệu suất phản ứng nhỏ hơn 100% thì mt = ms

    Hệ quả 2 : Khi cation kết hợp với anion để tạp thành các hợp chất (như oxit, hidroxit, muối) thì ta luôn có :

    Khối lượng hợp chất = khối lượng cation + khối lượng anion

    Hệ quả 3 : Khi cation thay đổi anion tạo ra hợp chất mới, sự chênh lệch khối lượng giữa hai hợp chất bằng sự chênh lệch về khối lượng giữa các cation

    Hệ quả 4 : Tổng khối lượng của một nguyên tố trước phản ứng bằng tổng khối lượng của nguyên tố sau phản ứng

    Hệ quả 5 : Trong phản ứng khử oxit kim loại bằng CO, H2, Al.

    + Chất khử lấy oxi của oxit tạo ra CO2, H2O, Al2O3.  Tạ số mol CO, H2, Al tham gia phản ứng hoặc số mol CO2, H2O, Al2O3 tạo ra, ta tính được lượng oxi trong oxit (hay hỗn hợp oxit) và suy ra lượng kim loại (hay hỗn hợp kim loại)

    + Khi khử oxit kim loại, CO hoặc H2 lấy oxi ra khỏi oxit. Khi đó ta có :

    nO(trong oxit) = nCO = nCO2 = nH2O

    Ví dụ

    Hoà tan hoàn toàn 25,12 gam hỗn hợp 3 kim loại Mg, Al, Fe trong dung dịch HCl dư thu được 13,44 lít khí H2 (đktc) và m (gam) muối. Tính m?

    Bài giải:

    Nếu giải theo cách thông thường ta phải viết 3 phương trình phản ứng, gọi 3 ẩn là số mol của mỗi kim loại.  Tuy nhiên đề bài  chỉ cho 2 dữ kiện  là khối lượng của hỗn hợp và thể tích khí H2 sinh ra. Mặt khác đề bài yêu cầu tính tổng số gam muối thu được chứ không phải khối lượng của mỗi muối MgCl2, AlCl3, FeCl2 riêng biệt.

    Sử dụng định luật bảo toàn khối lượng

    nH2 =  =0,6 (mol) → nHCl = 2nH2 =2*0,6=1,2 (mol)

    Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:

    mKl + maxit = mmuối + mH2

    → mmuối = mKl + maxit – mH2 =25,12 +1,2*36,5 – 0,6*2 = 67,72 gam

    II. Bài tập vận dụng:

    Câu 1:

    Cho 24,4 gam hỗn hợp Na2CO3 và K2CO3 tác dụng vừa đủ với dung dịch BaCl2. Sau phản ứng thu được 39,4 gam kết tủa. Lọc tách kết tủa, cô cạn dung dịch thu được m gam muối clorua. m có giá trị là

    1. 2,66 gam          B. 22,6 gam

    C.26,6 gam     D. 6,26 gam

    Đáp án C

    Câu 2:

    Hoà tan hoàn toàn 10,14 gam hợp kim Cu, Mg, Al bằng dung dịch HCl dư thu được 7,84 lít khí A (đktc) và 1,54 gam chất rắn B và dung dịch C. Cô cạn dung dịch C thu được m gam muối. m có giá trị là

    A.33.45 gam                  B. 33,25 gam

    C. 32,99 gam                                   D. 35,58 gam

    Đáp án A

    Câu 3: Trộn 5,4 gam Al với 6,0 gam Fe2O3 rồi nung nóng để thực hiện phản ứng nhiệt nhôm. Sau phản ứng ta thu được m gam hỗn hợp chất rắn. Giá trị của m là

    A.2,24 gam       B. 9,40 gam

    C. 10,20 gam     D. 11,40 gam

    Đáp án C

    Câu 4:

    Thổi một luồng khí CO dư qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp gồm CuO, Fe2O3, FeO, Al2O3 nung nóng thu được 2,5 gam chất rắn. Toàn bộ khí thoát ra sục vào nước vôi trong dư thấy có 15 gam kết tủa trắng. Khối lượng của hỗn hợp oxit kim loại ban đầu là (biết các phản ứng xảy ra hoàn toàn)

    A.7,4 gam       B. 4,9 gam

    C.9,8 gm       D. 23 gam

    Đáp án B

    Câu 5: Chia 1,24 gam hỗn hợp hai kim loại có hoá trị không đổi thành 2 phần bằng nhau:

    –          Phần 1: bị oxi hoá hoàn toàn thu được 0,78 gam hỗn hợp oxit.

    –          Phần 2: tan hoàn toàn trong dung dịch H2SO4 loãng thu được V lít khí H2 (đktc). Cô cạn dung dịch thu được m gam muối khan.

    1. Giá trị của V là

    A.2,24 lít                B. 0,112 lít

    C.0,56 lít                 D.0,224 lít

    2. Giá trị của m là

    A.1,58 gam    B. 15,8 gam

    C.2,54 gam  D. 25,4 gam

    1. Đáp án D

    2. Đáp án A

    Câu 6:

    Khử hoàn toàn 32 gam hỗn hợp CuO và Fe2O3 bằng khí H2 dư thu được 9 gam H2O. Khối lượng kim loại thu được là

    A.12 gam                               B.16 gam

    C. 24 gam                               D. 26 gam

    Đáp án C

    Câu 7:

    Cho từ từ một luồng khí CO qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp Fe và các oxit của Fe đun nóng thu được 64 gam Fe. Dẫn khí thu được sau phản ứng qua nước vôi trong có dư tạo 40 gam kết tủa . M có giá trị là

    A.70,4 gam                           B.60,4 gam

    C. 68,2 gam                            D. 70,2 gam

    Đáp án A

    Câu 8:

    Cho luồng khí CO dư đi qua ống sứ đựng hỗn hợp Fe3O4 và CuO đun nóng đến phản ứng

    hoàn toàn, thu được 2,32g hỗn hợp kim loại. Khí thoát ra cho đi vào bình đựng dung dịch

    Ca(OH)2 dư thấy tạo ra 5 gam kết tủa. Khối lượng hỗn hợp 2 oxit kim loại ban đầu là

    A. 3,12 gam                         B.3,92 gam                         C.3,22 gam                   D. 4,2 gam

    Đáp án A

    Câu 9:

    Cho 15 gam hỗn hợp X gồm Fe, Mg, Al tác dụng hoàn toàn với dung dịch HCl dư thu

    được 8,96 lít H2 ( đktc). Tính khối lượng muối thu được

    A. 40,4 gam               B. 60,3 gam         C. 54,4 gam                    D. 43,4 gam

    Đáp án D

    Câu 10:

    Trộn 2,7 gam Al với 15 gam hỗn hợp X gồm  Fe2O3 và FeO rồi nung nóng một thời gian

    để thực hiện phản ứng nhiệt nhôm. Sau phản ứng ta thu được m gam hỗn hợp chất rắn.

    Giá trị của m là

    A. 17,7 gam               B. 10 gam                   C. 16,7 gam                   D. 18,7 gam

    Đáp án A

    Câu 11:

    Nung 13,4 gam muối cacbonat của hai kim loại kiềm thổ sau phản ứng thu đươc 6,8 gam

    chất rắn và khí A. Hấp thu hoàn toàn khí A trên vào Ca(OH)2 dư thu được m gam kết tủa.

    Giá trị của m là

    A. 20 gam                 B. 15 gam                  C. 18 gam                     D. 17 gam

    Đáp án B

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Hóa Hữu Cơ: Áp Dụng Định Luật Bảo Toàn Khối Luợng Và Bảo Toàn Nguyên Tố
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Hóa 12 : Tổng Hợp Các Dạng Giải Bài Tập Kim Loại
  • Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Van Dong Cua Co The
  • Vài Giả Thuyết Về Sự Sống
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững
  • 1. Khái niệm áp dụng pháp luật

    Áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

    1) Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có thẩm quyền giải quyết;

    2) Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước;

    3) Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật; 4) Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền…

    2. So sánh sự khác nhau giữa áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật:

    Về khái niệm: Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền và tự do pháp lý của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép).

    Ví dụ: Người lao động ký hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động.

    Còn khái niệm áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.

    Ví dụ: Tòa án nhân dân huyện A ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa Ông X và Bà Y.

    – Phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm kể trên:

    Mọi chủ thể được pháp luật cho phép

    Phải có sự tham gia của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền

    Được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật

    – Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. Ví dụ: tranh chấp về quyền thừa kế, tranh chấp về hợp đồng,…

    – Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà đối với những chủ thể có hành vi vi phạm. Ví dụ: xử phạt người vi phạm luật an toàn giao thông, người có hành vi làm hàng giả,…

    – Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế. Ví dụ: công chứng hợp đồng mua bán nhà, toà tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết,…

    – Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh hoặc chấm dứt nếu không có sự can thiệp của nhà nước. Ví dụ: đăng ký kết hôn

    Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện, không mang tính chất bắt buộc

    Các quy phạm pháp luật thể hiện quyền và tự do pháp lý của chủ thể

    Văn bản áp dụng pháp luật

    3. Phân tích sự khác biệt của khái niệm giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật

    Dựa trên những đặc điểm đã phân tích kể trên có thể đưa ra một số nhận định về khái niệm giải thích pháp luật như sau:

    3.1. Khái niệm giải thích pháp luật

    Pháp luật muốn được thực thi cần được nhận thức đầy đủ và chính xác. Do đó mục đích của giải thích pháp luật là làm sáng tỏ về mặt nội dung, quy trình thủ tục pháp lý để quá trình thực hiện pháp luật được thống nhất, đúng đắn và hợp pháp.hơn nữa do hệ thống các loại văn bản quy phạm pháp luật là rất nhiều nên khả năng thiếu thống nhất nhận thức về các quy định pháp luật là khó tránh khỏi.

    3.2. Chủ thể giải thích pháp luật

    Việc xác định chủ thể giải thích pháp luật phụ thuộc vào các hình thức giải thích pháp luật.

    + Với hình thức giải thích pháp luật chính thức: chỉ có cơ quan Nhà nước hoặc… có quyền hoặc được trao quyền mới được tiến hành hoạt động này. Về nguyên tắc, chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có quyền giải thích văn bản do chính mình ban hành ra. Thực tế, có chủ thể ủy quyền cho người khác giải thích.

    + Với hình thức giải thích pháp luật không chính thức: bất kì chủ thể nào cũng có thể thực hiện nhưng phải có sự hiểu biết pháp luật sâu sắc và có trình độ nhất định.

    3.3. Hình thức giải thích pháp luật

    Phụ thuộc vào nhiều yếu tổ như chủ thể, nội dung và yêu cầu của từng vấn đề đặt ra dựa vào phương thức thể hiện: giải thích bằng lời nói(văn nói) và văn bản (văn viết) dựa vào chủ thể tiến hành và giá trị văn bản giải thích: chính thức và không chính thức.

    3.1. Giải thích chính thức: là hoạt độg của các chủ thể nhân danh Nhà nước để làm sáng tỏ về nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật hoặc một sự kiện pháp lý cụ thể nhằm đảo bảo cho quá trình nhận thức, thực thi pháp luật thống nhất và hiệu quả. Việc được pháp luật quy định và sự đảm bảo của Nhà nước làm cho loại giải thích này mang tính bắt buộc và hiệu lực pháp lý

    + Do các cơ quan Nhà nước hoặc…tiến hành. Về nguyên tắc (như trên) . Về hình thức, giải thích chính thức có thể là giải thích mang tính quy phạm hoặc tính cá biệt cụ thể.

    – Tính quy phạm: hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc cá nhân được trao quyền là ban hành ra một văn bản luật nhằm hướng dẫn, giải thích cho một văn bản quy phạm pháp luật khác.

    – Tính cá biệt: chúng tôi quyền là làm sáng tỏ một nội dung, sự kiện pháp lý nào đó thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ thể đó.

    + Trình tự thủ tục giải thích chính thức do pháp luật quy định. Đây là hoạt động nhân danh Nhà nước, có tính pháp lý.

    + Kết quả việc giải thích có hiệu lực và giá trị pháp lý.

    3.2. Giải thích không chính thức: là hoạt động không nhân danh Nhà nước, được tiến hành bởi bất kì cá nhân, tổ chức nào và vì những mục đích khác nhau. Đặc điểm cơ bản:

    + Được tiến hành bởi bất kì loại chủ thể nào è thực hiện một phần quyền tự do ngôn luận của các chủ thể được pháp luật ghi nhận và đảm bảo. Về ND, không mang tính quy phạm. Trên thực tế, không có sự đồng nhất giữa các chủ thể.

    + Hoàn toàn không nhân danh Nhà nước: không mag tính bắt buộc, không hàm chứa quyền lực Nhà nước.

    + Hoạt động này và kết quả của nó hoàn toàn không có hiệu lực pháp lý bắt buộc.

    3.4. Phương pháp giải thích pháp luật

    – Phương pháp lôgíc: đặc trưng là xem xét mối liên hệ, sự tương tác, kết cấu về nội dung của các vấn đề thuộc đối tượng giải thích, nhằm chỉ ra những mâu thuẫn, sự phủ định lẫn nhau hoặc khẳng định về tính hợp lý về các vấn đề đó.

    – Phương pháp giải thích chính trị lịch sử: nhằm làm sáng tỏ điều kiện, hoàn cảnh lịch sử thực tế mà các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hoặc một sự kiện pháp lý đã xuất hiện.

    – Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm: để giải thích về các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật.

    – Phương pháp giải thích, so sánh, đối chiếu: nhằm kiến giải về mức độ tương đồng, khác biệt đối với quy định pháp luật hoặc các cách điều chỉnh, giải quyết các vấn đề pháp lý thực tiễn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau.

    – Phương pháp giải thích hệ thống: làm sáng tỏ nội dung, nhiệm vụ của quy phạm đó trong mối tương quan với quy phạm khác của quá trình điều chỉnh pháp luật.

    3.5. Nguyên tắc của giải thích pháp luật

    Nguyên tắc khách quan trung thực: giải thích pháp luật không là hoạt động lập pháp mà nó hỗ trợ cho quá trình lập pháp để các văn bản quy phạm pháp luật được có hiệu lực trên thực tế. Việc giải thích phải xuất phát từ yêu cầu chung; cần tôn trọng nội dung của các quy phạm pháp luật hoặc các sự kiện cá biệt với tính cách là đối tượng cần giải thích.

    Nguyên tắc pháp chế: tôn trọng tính tối cao của hiến pháp về mặt nội dung, hình thức đối với các văn bản quy phạm pháp luật được giải thích và các văn bản giải thích. Cần đảm bảo sự tương thích giữa quy định của hiến pháp với văn bản được giải thích và văn bản giải thích. Điều này đòi hỏi việc đảm bảo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và yêu cầu về hình thức là hết sức quan trọng đòi hỏi cả việc từ chối không giải thích khi có yêu cầu cũng phải đưa ra cơ sở pháp lý của việc từ chối đó và trả lời cụ thể bằng văn bản.

    4. Phân tích việc áp dụng pháp luật đối với bộ luật dân sự

    Với tính chất là một đạo luật quan trọng, Bộ luật dân sự năm 2021 đã xác định một cách nhất quán tư tưởng chỉ đạo của các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 và khẳng định: “Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự”. Với nguyên tắc này, BLDS sẽ điều chỉnh toàn bộ các quan hệ tài sản giữa các chủ thể trong xã hội mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi vật chất, trong đó các chủ thể tham gia bình đẳng về mặt pháp lý, tự chịu trách nhiệm về tài sản.

    Đối với các quan hệ có cùng bản chất pháp lý, luật chuyên ngành có thể khác với BLDS do đặc thù của quan hệ chuyên ngành nhưng không được trái với các nguyên tắc chung của luật dân sự. Một số quy định của BLDS như quy định về tư cách pháp nhân, về sở hữu chung hợp nhất, sở hữu chung theo phần, những quy định mang tính xác định một khái niệm pháp lý… có ý nghĩa, giá trị pháp lý chung cho toàn bộ hệ thống pháp luật. Không thể có pháp nhân riêng cho luật dân sự, riêng cho luật thương mại, luật hợp tác xã, mặc dù các loại hình công ty và hợp tác xã có quy chế riêng về việc thành lập, hoạt động, giải thể. Đối với một tài sản nào đó, nếu chủ sở hữu trực tiếp chiếm hữu, sử dụng thì sẽ phải tuân theo quy định của chế định tài sản vật quyền. Tuy nhiên, nếu tài sản đó đưa vào quá trình giao lưu dân sự, kinh tế thông qua hợp đồng vay, cho thuê, đầu tư kinh doanh như lập công ty… thì phải áp dụng theo các quy định của các loại hợp đồng, giao dịch tương ứng, theo quy chế trái quyền. Việc điều chỉnh các quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể phải tuân thủ nguyên tắc không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 3 của BLDS.

    5. Phân tích một số sai sót trong áp dụng pháp luật hành chính

    Một số sai sót thường gặp khi áp dụng pháp luật nội dung trong việc giải quyết án hành chính:

    Áp dụng pháp luật nội dung trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là một quá trình phức tạp của Tòa án (mà cụ thể là của Hội đồng xét xử). Để có thể có được bản án hành chính đúng pháp luật, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án thì quá trình áp dụng pháp luật nội dung vào giải quyết vụ án hành chính cần tuân thủ triệt để và chính xác theo các bước (giai đoạn) sau:

    – Phân tích, đánh giá các tình tiết, các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan, chính xác và trong mối liên hệ mật thiết với nhau;

    – Lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng;

    – Ban hành bản án, quyết định hành chính.

    Thực tế xét xử thời gian qua cho thấy, có những vụ án hành chính do Thẩm phán xem xét, đánh giá chứng cứ không đầy đủ, khách quan, toàn diện nên có trường hợp có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý; ngược lại có trường hợp không có hoặc chưa có đủ căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án lại đánh giá có đủ căn cứ pháp lý.

    – Ví dụ 1 (về trường hợp có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý):

    Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8 (theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ), có diện tích 1.225m2 tại xã DN, huyện DX, tỉnh QN (theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ là thửa số 455, tờ bản đồ số 6) là đất thổ cư có nguồn gốc của gia đình ông Phạm Ngọc H quản lý, sử dụng từ trước năm 1975. Cuối năm 1986, gia đình ông H chuyển sang thị xã HA sinh sống, nhưng vẫn thường xuyên về chăm sóc cây và trồng mới một số loại cây trên thửa đất này.

    Bà Phạm Thị T là chủ hộ và cùng con là ông Phạm Văn B có nhà ở ổn định từ năm 1975 đến nay tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 8, xã DN có diện tích 1.515m2 đất thổ cư (theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ). Thời điểm thực hiện kê khai, đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ, thửa đất số 84 này của gia đình bà T là thửa đất số 456, tờ bản đồ số 6, xã DN. Năm 1994-1995, thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, bà T kê khai diện tích 1.225m2 đất T thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8, xã DN (nguyên là thửa đất của gia đình ông H sử dụng nêu trên), còn ông Phạm Văn B (con trai bà T và cùng chung hộ khẩu với bà T) kê khai và đăng ký quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.515m2 đất thổ cư (thửa đất của bà T nêu trên). Ngày 10/8/1995, Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 cho hộ bà T diện tích 1.617m2 đất, trong đó có 1.225m2 đất T thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8 và 392m2 đất lúa màu thuộc thửa 83, tờ bản đồ số 8, xã DN.

    Ngày 26/12/2006, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1827/QĐ-UBND thu hồi của hộ bà T 1.225m2 đất ở thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8. Lý do thu hồi: Do giao quyền sử dụng đất sai đối tượng sử dụng tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 ngày 10/8/1995. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1828/QĐ-UBND công nhận quyền sử dụng 1.225m2 đất trên cho ông H và ngày 03/01/2007, Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 977327 cho hộ ông H.

    Ngày 19/5/2008, bà Phạm Thị T có đơn khiếu nại.

    Ngày 16/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2372/QĐ-UBND về việc hủy Quyết định số 1827/QĐ-UBND ngày 26/12/2006, điều chỉnh cho hộ bà T được sử dụng thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN.

    Ngày 16/01/2009, ông H khiếu nại việc Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.225m2 cho hộ bà T.

    Ngày 13/10/2009, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2233/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông H, có nội dung: việc cấp 1.225m2 đất cho hộ bà T là không đúng đối tượng, không đúng nguồn gốc; việc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H là chưa có đủ cơ sở.

    Ngày 10/11/2009, ông Phạm Ngọc H có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện DX xem xét lại Quyết định số 2233/QĐ-UBND ngày 13/10/2009 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện DX.

    Ngày 01/12/2009, Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 ngày 10/8/1995 của hộ bà T vì cấp không đúng đối tượng đối với diện tích 1.225m2; giao diện tích đất nêu trên cho Uỷ ban nhân dân xã DN quản lý, sử dụng.

    Ông B (con trai bà T) có đơn khiếu nại, sau đó khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện DX yêu cầu xử hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của Uỷ ban nhân dân huyện DX.

    Ngày 04/6/2010, Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1123/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 2936/QĐ-UBND, có nội dung: hủy bỏ điểm 2 Điều 1 quyết định số 2936/QĐ-UBND (có nội dung “giao diện tích đất nêu trên cho UBND xã DN quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật”) vì Uỷ ban nhân dân huyện DX chưa thu hồi diện tích 1.225m2 nên việc giao diện tích đất nêu trên cho Uỷ ban nhân dân xã DN quản lý, sử dụng là không đúng trình tự quy định của pháp luật; các nội dung khác của quyết định 2936/QĐ-UBND vẫn có hiệu lực pháp luật.

    Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Toà án nhân dân huyện DX, tỉnh QN quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn B.

    Ông Phạm Văn B có đơn kháng cáo.

    Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh QN quyết định: Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn B, xử sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND huyện DX.

    Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND huyện DX vì đã xem xét, đánh giá chứng cứ không đúng về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các đương sự, cụ thể:

    Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích 1.225m2 đất thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX, tỉnh QN: ông B và ông H đều có lời khai thống nhất là đất có nguồn gốc của cha mẹ ông H quản lý, sử dụng từ trước năm 1975, sau đó gia đình ông H tiếp tục sử dụng. Đến năm 1986, do hoàn cảnh công tác phải chuyển về thị xã HA nên ông H đã nhờ bà T trông coi hộ (có sự chứng kiến của nhiều người). Tại ”Đơn xin chuyển giao quyền sử dụng đất” do bà T lập ngày 22/10/2006, bà T cũng thừa nhận bà chỉ là người trông coi, quản lý và đứng tên đăng ký thửa đất hộ cho vợ chồng ông H, đồng thời bà T cũng cam kết không tranh chấp gì về thửa đất này.

    Mặt khác, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện rằng trong thời gian đi vắng, gia đình ông H vẫn thường xuyên về chăm sóc, khai thác và trồng cây, hiện trên đất vẫn còn cây lâu năm do gia đình ông H trồng. Như vậy, gia đình ông H là người sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX liên tục, ổn định từ năm 1975 đến nay. Tuy nhiên, tại thời điểm Nhà nước có chủ trương tiến hành kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, do ở xa và không được thông báo nên hộ ông H đã không tiến hành kê khai diện tích đất nêu trên mà hộ bà T kê khai và được Uỷ ban nhân dân huyện DX cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/8/1995.

    Theo quy định tại Điều 99 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất’.

    Theo quy định nêu trên thì gia đình bà T không phải là người sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX liên tục, ổn định tại thời điểm được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Do vậy, trong quá trình quản lý kê khai, đăng ký sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân xã DN xác nhận bà T là đối tượng đang sử dụng đất để Uỷ ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 1.225m2 đất thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX, là không đúng nguồn gốc và đối tượng sử dụng đất. Tại Báo cáo số 52/BC-UBND ngày 16/6/2009 gửi Uỷ ban nhân dân huyện DX, Uỷ ban nhân dân xã DN đã xác nhận điều này. Do đó, Uỷ ban nhân dân huyện DX đã ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 (được sửa đổi bằng Quyết định số 1123/QĐ-UBND ngày 04/6/2010) có nội dung thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà T là đúng pháp luật.

    Thực tiễn giải quyết vụ án hành chính cho thấy, bản án của Tòa án không đúng pháp luật nội dung có thể xuất phát từ việc áp dụng sai lầm pháp luật, có thể do việc không chú ý tới văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan có thẩm quyền; hoặc có thể do cách hiểu máy móc, không đúng của Thẩm phán đối với các văn bản pháp luật nội dung.

    – Việc không xác định đầy đủ và chính xác các văn bản pháp luật hoặc văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất làm cơ sở giải quyết vụ án hành chính là nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng sai lầm pháp luật khi giải quyết vụ án hành chính.

    Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nhiều Thẩm phán không chú ý trong việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện; khi tuyên án và ra bản án có nhiều sai sót trong phần quyết định của bản án mà trong nhiều trường hợp phải kháng nghị và giải quyết lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

    Ví dụ: Do có sự tranh chấp quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân huyện T đã ra Quyết định số 758/QĐ-UB thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, H, N. Ông P và ông N có đơn khiếu nại quyết định trên. Uỷ ban nhân dân huyện T đã có các quyết định giải khiếu nại của ông P và ông N.

    Ông P và ông N đều có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu Toà án huỷ với Quyết định số 758/QĐ-UB.

    Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý 02 vụ án hành chính đối với đơn khởi kiện của ông P và ông N.

    Đối với trường hợp khởi kiện của ông P: Tại bản án hành chính sơ thẩm số 07, Toà án cấp sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện; giữ nguyên Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T.

    Đối với trường hợp khởi kiện của ông N: tại bản án hành chính sơ thẩm số 08, Toà án cấp sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện; giữ nguyên Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T.

    Tuy nhiên, sau khi ông H khiếu nại, Uỷ ban nhân dân huyện T thấy rằng việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H là không đúng pháp luật, nên muốn hủy bỏ một phần của Quyết định số 758/QĐ-UB; nhưng do các bản án hành chính sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, nên Uỷ ban nhân dân huyện T phải khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm.

    Mọi vướng mắc pháp lý của người dân, tổ chức, doanh nghiệp vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư của qua tổng đài tư vấn: 1900.6162 để được luật sư giải đáp mọi vướng mắc pháp lý.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lí Thuyết Về Phản Ứng Oxi Hoá
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng (Oop) Trong Java
  • Lập Trình Hướng Đối Tượng Là Gì?
  • Top 10 Khái Niệm Trong Oop Với C#.net
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng Oop Trong Java
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Áp Dụng Pháp Luật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm, Qui Trình Áp Dụng Pháp Luật Trong Ksđt Các Vụ Án Hình Sự Của Vksnd
  • Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Phát Triển Đất Nước
  • Thực Trạng Xây Dựng Pháp Luật Kinh Tế Và Những Vấn Đề Đặt Ra Trong Quá Trình Hoàn Thiện
  • Pháp Luật Thương Mại Điện Tử Và Thực Trạng Thực Thi Ở Việt Nam
  • Mở Rộng Khái Niệm “Tham Nhũng” Nhằm Hoàn Thiện Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Kinh Doanh
  • Áp dụng pháp luật là gì? Phân tích khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật. Cho ví dụ?

    1 – Áp dụng pháp luật là gì?

    Áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.

    2 – Đặc điểm của áp dụng pháp luật

    a – Áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính tổ chức, quyền lực nhà nước, bởi vì:

    – Hoạt động áp dụng chỉ do các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó chỉ có thể áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.

    Ví dụ: Ở nước ta chỉ có Ủy ban nhân dân mới có thể xem xét để cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho một cặp nam nữ ở địa phương khi họ yêu cầu, chỉ có Tòa án nhân dân mới có thể áp dụng pháp luật trong xét xử để định tội và định hình phạt cho người phạm tội…

    – Hoạt động áp dụng pháp luật là sự tiếp tục thể hiện ý chí của nhà nước, thông qua hoạt động áp dụng pháp luật, ý chí nhà nước thể hiện trong các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong thực tế, đuợc thể hiện một cách cụ thể trong các trường hợp cụ thể.

    Ví dụ: Thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho một cặp nam nữ cụ thể, ý chí của Nhà nước trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình mới trở thành hiện thực trong thực tế.

    – Khi áp dụng pháp luật, trên cơ sở các quy định của pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể ban hành những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với đối tượng áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định này chủ yếu thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước sẽ được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước.

    Ví dụ: Khi xem xét hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một cá nhân, tổ chức nào đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai và các nghị định hướng dẫn thi hành để ra quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân tổ chức đó. Quyết định này thể hiện ý chí đơn phương của Ủy ban nhân dân mà không phụ thuộc vào ý chí của cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ xin cấp.

    – Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức chủ thể có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật, do vậy, hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định.

    Ví dụ: Hoạt động xem xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất của Ủy ban nhân dân vừa là hình thức thực hiện pháp luật của Ủy ban nhân dân, vừa là hình thức Ủy ban nhân dân tổ chức cho người sử dụng đất thực hiện pháp luật, do vậy, hoạt động này phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do Luật Đất đai quy định.

    b – Áp dụng pháp luật là hoạt động cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể

    Vì thế, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội.

    Ví dụ: Hoạt động áp dụng pháp luật của Cảnh sát giao thông khi xử lý một người vi phạm pháp luật giao thông cụ thể là sự cá biệt hóa các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vào trường hợp cụ thể của người vi phạm đó.

    c – Áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính sáng tạo

    Bởi vì, các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế vô cùng đa dạng, phong phú và phức tạp. Do vậy, muốn đưa ra được một quyết định “thấu tình, đạt lý” để giải quyết vụ việc thì cần có sự sáng tạo của người áp dụng.

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Nguyên Tắc Khi Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Trường Đại Học Luật Hà Nội: Học Về Kĩ Năng Tư Vấn Pháp Luật Bằng Lời Nói
  • Phân Tích Các Hình Thức Thực Hiện Pháp Luật?
  • Một Số Kinh Nghiệm Pháp Luật Của Cộng Hòa Pháp Liên Quan Đến Cấu Trúc Bộ Luật Dân Sự, Tài Sản Và Sở Hữu
  • Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Pháp Luật Dân Sự
  • Định Luật Coulomb Về Tĩnh Điện (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Kepler Và Newton Về Chuyển Động Của Các Hành Tinh
  • Kiến Thức Về Dòng Điện Và Điện Áp
  • Hằng Số Avogadro, Câu Hỏi Và Bài Tập Áp Dụng
  • Tìm Hiểu Về Lực Đàn Hồi Của Lò Xo Và Định Luật Hooke
  • Khái Niệm Sáng Chế Và Các Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan Đến Sáng Chế
  • Charles-Augustin de Coulomb (1736-1806), nhà vật lí Pháp nổi tiếng với định luật mô tả lực tương tác giữa hai điện tích điểm.

    HIẾU KÌ. Sở trường kĩ thuật của Coulomb giữ một vai trò lớn trong việc xây dựng công sự Martinique, một hòn đảo ở Caribbean. yC là đơn vị chính thức cho yocto-coulomb, bằng 10 -24 coulomb. Coulomb giành giải thưởng của Viện hàn lâm Khoa học Pháp cho phương pháp tốt nhất chế tạo la bàn dành cho tàu thuyền.

    Những đóng góp của Coulomb cho khoa học về lực ma sát là vô cùng to lớn. Không hề cường điệu, người ta có thể nói rằng ông đã sáng lập lĩnh vực khoa học này.

    Có thể xem Coulomb là một trong những kĩ sư vĩ đại nhất ở châu Âu thế kỉ mười tám.

    Ai có thể quên được cái lần “Chuck” Coulomb thuyết trình trước Viện hàn lâm Khoa học ở Paris năm 1773 khi ông bàn về lí thuyết cơ học đất tiên phong?

    Charles-Augustin de Coulomb là một trong những nhà vật lí và kĩ sư lỗi lạc nhất của mọi thời đại có đóng góp cho các lĩnh vực điện học, từ học, cơ học ứng dụng, lực ma sát, và lực xoắn. Coulomb sinh ra trong một gia đình khá giả ở Angoulême ở tây nam nước Pháp. Sau đó gia đình ông chuyển đến Paris, ông vào học trường Collège Mazarin. Ông được hưởng một nền giáo dục phổ thông tốt về nhân chủng học, cũng như toán học, thiên văn học, và hóa học.

    Có một dạo, cha ông mất trắng tiền bạc trong đầu cơ tài chính. Tình trạng khó khăn này, cộng với sự bất đồng của Coulomb với mẹ ông về các dự tính nghề nghiệp, làm cho gia đình ông li tán, Coulomb cùng cha chuyển đến Montpellier còn mẹ ông vẫn ở lại Paris. Theo một số nguồn thông tin, mẹ Coulomb muốn ông trở thành một bác sĩ, còn cậu con trai của bà nhất quyết đòi học một chuyên ngành định lượng hơn như là kĩ thuật hoặc toán học. Các bất đồng dần trở nên nảy lửa, và mẹ ông hầu như không thèm nhìn mặt ông.

    Năm 1760, Coulomb vào học trường École du Génie tại Mézières và sau đó tốt nghiệp kĩ sư trong hàng ngũ đại úy hải quân trong Quân đoàn Kĩ sư (Corps du Génie). Trong hai thập niên sau đó, ông đã chu du khắp nơi, ở đâu ông cũng tham gia vào kĩ thuật cấu trúc, thiết kế công sự, và cơ học đất – chẳng hạn, ông đã dành ra vài năm ở West Indies với vai trò kĩ sư quân sự – trước khi trở lại Pháp, nơi ông bắt đầu viết các bài báo quan trọng về cơ học ứng dụng.

    Coulomb đã chế tạo một cân xoắn vào khoảng năm 1777 để đo lực tĩnh điện. Cân xoắn gồm hai quả cầu kim loại gắn với một thanh cách điện. Thanh được treo tại ngay giữa của nó bằng một sợi tơ hoặc sợi chỉ mảnh không dẫn điện. Để đo lực điện, một trong hai quả cầu được làm cho nhiễm điện. Một quả cầu thứ ba có điện tích giống như vậy được đặt gần quả cầu nhiễm điện của cân, làm cho quả cầu trên cân bị đẩy ra. Lực đẩy này làm cho sợi tơ xoắn đi một lượng nhất định. Nếu chúng ta đo xem cần một lực bao nhiêu để làm xoắn sợi dây một góc bằng như vậy, thì ta có thể ước tính mức độ lực gây ra bởi quả cầu nhiễm điện. Nói cách khác, sợi dây tác dụng như một lò xo rất nhạy cung cấp một lực tỉ lệ thuận với góc xoắn. Coulomb chỉ ra rằng lực biến thiên theo 1/ r2 đối với lực đẩy giữa các điện tích cùng dấu, và lực hút giữa các điện tích trái dấu, cách nhau khoảng r lúc ban đầu. Hình như chưa bao giờ ông thật sự chứng minh được rằng lực giữa các điện tích tỉ lệ thuận với tích các giá trị điện tích – ông chỉ đơn giản thừa nhận điều này là đúng. C. Stewart Gillmor, viết trong Từ điển tiểu sử khoa học, chỉ ra mức độ mà cân xoắn của Coulomb ảnh hưởng đến nền khoa học trong nhiều thế hệ:

    Giải phép đơn giản, đẹp đẽ của Coulomb cho vấn đề lực xoắn trong bình trụ rằng lực hút điện tuân theo quy luật giống với lực hấp dẫn và do đó phụ thuộc theo bình phương khoảng cách; vì như thế dễ dàng chứng tỏ rằng Trái Đất có dạng một lớp vỏ, một vật thể mà ở bên trong nó sẽ không bị hút về một phía nhiều hơn phía kia?

    Mặc dù Priestly chẳng nêu ra bằng chứng thuyết phục cho Định luật Coulomb, song những suy đoán của ông về cơ bản là đúng. Priestly còn độc lập phát minh ra cân xoắn và dùng nó để chỉ ra rằng lực giữa hai cực nam châm biến theo theo nghịch đảo bình phương khoảng cách giữa hai cực.

    Ngày nay, chúng ta gọi quy luật 1/ r2 là Định luật Coulomb để tôn vinh những kết quả độc lập mà Coulomb thu được thông qua bằng chứng do hệ thống cân xoắn của ông đem lại. Nói cách khác, Coulomb đã cung cấp các kết quả định lượng có tính thuyết phục cho một điều mà mãi đến năm 1785 thường chỉ là một suy đoán tốt.

    Lực Coulomb cũng thích ứng ở cấp độ nguyên tử, và thật vậy, để có thông tin ta hãy so sánh lực hấp dẫn với lực Coulomb đối với nguyên tử hydrogen. Lấy gần đúng, ta xem electron là một hạt điểm quay xung quanh hạt điểm proton, với khoảng cách trung bình giữa electron và proton là 5,3 × 10 -11 mét, lực Coulomb có thể được tính bởi

    Độ lớn của lực hấp dẫn Fg giữa proton và electron có thể được tính gần đúng bằng khối lượng electron me và khối lượng proton mp:

    Lưu ý rằng lực Coulomb lớn hơn rất nhiều so với lực hấp dẫn giữa hai hạt hạ nguyên tử này.

    1. Ampère (André-Marie Ampère, nhà toán học và nhà vật lí)

    2. Arago (Dominique François Jean Arago, nhà thiên văn học và nhà vật lí)

    3. Barral (Jean-Augustin Barral, nhà nông học, nhà hóa học, nhà vật lí)

    4. Becquerel (Antoine Henri Becquerel, nhà vật lí)

    5. Bélanger (Jean-Baptiste-Charles-Joseph Bélanger, nhà toán học)

    6. Belgrand (Eugene Belgrand, kĩ sư)

    7. Berthier (Pierre Berthier, nhà khoáng vật học)

    8. Bichat (Marie François Xavier Bichat, nhà giải phẫu học và nhà sinh lí học)

    9. Borda (Jean-Charles de Borda, nhà toán học)

    10. Breguet (Abraham Louis Breguet, thợ máy và nhà phát minh)

    11. Bresse (Jacques Antoine Charles Bresse, kĩ sư dân sự và kĩ sư thủy lực)

    12. Broca (Paul Pierre Broca, thầy thuốc và nhà nhân chủng học)

    13. Cail (Jean-François Cail, nhà tư bản công nghiệp)

    14. Carnot (Nicolas Léonard Sadi Carnot, nhà toán học)

    15. Cauchy (Augustin Louis Cauchy, nhà toán học)

    16. Chaptal (Jean-Antoine Chaptal, nhà nông học và nhà hóa học)

    17. Chasles (Michel Chasles, nhà hình học)

    18. Chevreul (Michel Eugène Chevreul, nhà hóa học)

    19. Clapeyron (Émile Clapeyron, kĩ sư)

    20. Combes (Émile Combes, kĩ sư và nhà luyện kim)

    21. Coriolis (Gaspard-Gustave Coriolis, kĩ sư và nhà khoa học)

    22. Coulomb (Charles-Augustin de Coulomb, nhà vật lí)

    23. Cuvier (Baron Georges Leopold Chretien Frédéric Dagobert Cuvier, nhà tự nhiên học)

    24. Daguerre (Louis Daguerre, nghệ sĩ và nhà hóa học)

    25. De Dion (Albert de Dion, kĩ sư)

    26. De Prony (Gaspard de Prony, kĩ sư)

    27. Delambre (Jean Baptiste Joseph Delambre, nhà thiên văn học)

    28. Delaunay (Charles-Eugène Delaunay, nhà thiên văn học)

    29. Dulong (Pierre Louis Dulong, nhà vật lí và nhà hóa học)

    30. Dumas (Jean Baptiste André Dumas, nhà hóa học)

    31. Ebelmen (Jean-Jacques Ebelmen, nhà hóa học)

    32. Fizeau (Hippolyte Fizeau, nhà vật lí)

    33. Flachat (Jeugène Flachat, kĩ sư)

    34. Foucault (Léon Foucault, nhà vật lí)

    35. Fourier (Jean Baptiste Joseph Fourier, nhà toán học)

    36. Fresnel (Augustin-Jean Fresnel, nhà vật lí)

    37. Gay-Lussac (Joseph Louis Gay-Lussac, nhà hóa học)

    38. Giffard (Henri Giffard, kĩ sư)

    39. Goüin (Ernest Goüin, kĩ sư và nhà tư bản công nghiệp)

    40. Haüy (René-Just Haüy, nhà khoáng vật học)

    41. Jamin (Jules Célestin Jamin, nhà vật lí)

    42. Jousselin (Alexandre Louis Jousselin, kĩ sư)

    43. Lagrange (Joseph Louis Lagrange, nhà toán học)

    44. Lalande (Joseph Jérôme Lefrançais de Lalande, nhà thiên văn học)

    45. Lamé (Gabriel Lamé, nhà hình học)

    46. Laplace (Pierre-Simon Laplace, nhà toán học và nhà thiên văn học)

    47. Lavoisier (Antoine Lavoisier, nhà hóa học)

    48. Le Chatelier (Henri Louis le Chatelier, nhà hóa học)

    49. Le Verrier (Urbain Le Verrier, nhà thiên văn học)

    50. Legendre (Adrien-Marie Legendre, nhà hình học)

    51. Malus (Etienne-Louis Malus, physicist)

    52. Monge (Gaspard Monge, nhà hình học)

    53. Morin (Jean-Baptiste Morin, nhà toán học và nhà vật lí học)

    54. Navier (Claude-Louis Marie Henri Navier, nhà toán học)

    55. Petiet (Jules Petiet, kĩ sư)

    56. Pelouze (Théophile-Jules Pelouze, nhà hóa học)

    57. Perdonnet (Albert Auguste Perdonnet, kĩ sư)

    58. Perrier (François Perrier, nhà địa lí và nhà toán học)

    59. Poinsot (Louis Poinsot, nhà toán học)

    60. Poisson (Simeon Poisson, nhà toán học và nhà vật lí)

    61. Polonceau (Antoine-Rémi Polonceau, kĩ sư)

    62. Poncelet (Jean-Victor Poncelet, nhà hình học)

    63. Regnault (Henri Victor Regnault, nhà hóa học và nhà vật lí)

    64. Sauvage (Jean-Pierre Sauvage, thợ máy)

    65. Schneider (Jacques Schneider, nhà tư bản công nghiệp)

    66. Seguin (Marc Seguin, thợ máy)

    67. Sturm (Jacques Charles François Sturm, nhà toán học)

    68. Thénard (Louis Jacques Thénard, nhà hóa học)

    69. Tresca (Henri Tresca, kĩ sư và thợ máy)

    70. Triger (Jacques Triger, kĩ sư)

    71. Vicat (Louis Vicat, kĩ sư)

    72. Wurtz (Charles-Adolphe Wurtz, nhà hóa học)

    ĐỌC THÊM

    Blau, Peter J., Friction Science and Technology (New York: Marcel Dekker, 1995).

    Elert, Glenn, “Dielectrics,” trong The Physics Hypertextbook; xem hypertextbook. com/physics/electricity/dielectrics/.

    Gillmor, C. Stewart, “Charles Coulomb,” trong Dictionary of Scientific Biography, Charles Gillispie, biên tập chính (New York: Charles Scribner’s Sons, 1970).

    James, Ioan, Remarkable Physicists: From Galileo to Yukawa (New York: CambridgeUniversity Press, 2004).

    Kovacs, J., “Coulomb’s Law,” Project PHYSNET, Michigan State University; xem physnet.org/modules/pdfmodules/m114.pdf.

    Priestley, Joseph, The History and Present State of Electricity (London: J. Doddsley, J. Johnson, B. Davenport, & T. Cadell, 1767).

    Shamos, Morris, Great Experiments in Physics: Firsthand Accounts from Galileo to Einstein (New York: Dover, 1987).

    Wikipedia, ” The 72 Names on the Eiffel Tower “; xem chúng tôi The_72_names_on_the_Eiffel_Tower.

    LUẬN BÀN

    Từng sự thật được chọn lọc và nhóm lại với nhau sao cho các kết nối hợp lẽ của chúng trở nên tường minh. Bằng cách nhóm những quy luật này với nhau, người ta có thể thu được những quy luật khác tổng quát hơn… Tuy nhiên… những tiến bộ lớn về tri thức khoa học chỉ hình thành … Ở cấp độ lượng tử, chúng ta đang nhìn vào ngôn ngữ máy, bên dưới đó có lẽ chính là cái máy, và chẳng có thuật toán nào ở cấp độ ấy, chỉ có các thay đổi trạng thái của cái máy cho phép các thuật toán vận hành. Đây là lí do vì sao các hạt lượng tử trông hành xử quá thất thường và khó tóm bắt – chúng không chính thức “ở trong” mô phỏng; chúng là cái đang làm cho mô phỏng xảy ra.

    James Platt, trò chuyện cá nhân, 1 tháng Ba 2007

    Thế nhưng toàn bộ lịch sử khoa học là một câu chuyện rõ ràng về những lí giải liên tục đổi mới và thay đổi của các sự thật cũ. Tuổi thọ của sự trường tồn hình như là hoàn toàn ngẫu nhiên nên nó chẳng nhìn thấy trật tự nào ở chúng cả. Một số chân lí khoa học có vẻ tồn tại hàng thế kỉ, số khác thì kéo dài chưa tới một năm. Chân lí khoa học không phải giáo điều, nó tốt cho đời sau, mà là một thực thể nhất thời định lượng có thể nghiên cứu được như bất kì thứ gì khác.

    Khoa học hoạt động là do vũ trụ được xếp trật tự theo một cách có thể hiểu được. Hiện thân tinh tế nhất của sự trật tự này được tìm thấy ở các định luật vật lí, các quy tắc toán học cơ bản chi phối mọi hiện tượng thiên nhiên. Một trong những câu hỏi lớn nhất của khoa học đó là nguồn gốc của các định luật đó: do đâu mà có chúng, và tại sao chúng có hình thức như chúng vốn thế?… Các định luật vật lí có một tính chất kì lạ và bất ngờ: cùng với nhau, chúng đem lại cho vũ trụ khả năng tạo ra sự sống và sinh vật có ý thức, ví dụ như chúng ta, những người có thể nêu ra những câu hỏi lớn ấy.

    Paul Davies, “Thiết lập Các Định luật”, New Scientist

    Trích từ Archimedes to Hawking (Clifford Pickover) Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

    Thêm ý kiến của bạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Đề 1: Điện Tích
  • Bài Tập Về Định Luật Coulomb Và Định Luật Bảo Toàn Điện Tích
  • Giáo Án Môn Vật Lý Lớp 11
  • Bạn Có Biết Vẫn Còn Một Định Luật Moore Thứ 2?
  • Định Luật Moore Sắp Sửa Bị Khai Tử?
  • Muốn Sống Hạnh Phúc: Áp Dụng “định Luật Festinger”

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng Ngay “định Luật Festinger”
  • Tại Sao Bạn Luôn Cảm Thấy Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger”!
  • Nguyên Lý Và Định Luật Faraday Về Cảm Ứng Điện Từ
  • Công Thức Và Định Luật Faraday Về Cảm Ứng Điện Từ ⚡️
  • MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC: ÁP DỤNG “ĐỊNH LUẬT FESTINGER”

    Leon Festinger, nhà tâm lý học xã hội học người Mỹ, đã đưa ra một nhận định rất nổi tiếng gọi là “Định luật Festinger”. Theo đó, 10% cuộc sống con người do những việc ngoại lai tác động, và 90% còn lại do thái độ, phản ứng của chính con người với những việc xảy ra. Nói cách khác, chỉ 10% sự việc xảy ra trong đời là không kiểm soát được, nhưng 90% còn lại đều phụ thuộc vào chính bản thân. Và những cảm xúc tồi tệ, tâm trạng phẫn nộ sẽ không ngừng luân chuyển qua lại.

    Leon Festinger đã đưa ra ví dụ như sau:

    1. Một buổi sáng, sau khi thức dậy, Festinger đi rửa mặt và tiện tay tháo chiếc đồng hồ đắt tiền của mình để cạnh bồn rửa mặt, vợ anh sợ đồng hồ bị nước làm ướt nên đem đặt nó lên bàn ăn. Con trai anh tỉnh dậy, lúc tới bàn ăn lấy bánh mì, không cẩn thận đã làm chiếc đồng hồ rơi xuống đất và hỏng mất.

    Festinger vô cùng yêu thích chiếc đồng hồ, liền đánh con trai một trận thật đau, sau đó tức giận hằm hằm mắng vợ một hồi. Vợ anh cảm thấy vô lý, nói với anh rằng vì sợ nước làm ướt đồng hồ nên mới làm như vậy, Festinger nói đó là chiếc đồng hồ không thấm nước. Thế là hai người cãi nhau kịch liệt.

    Quá tức giận, Festinger đã không thèm ăn bữa sáng, lái xe tới công ty luôn, nhưng lúc sắp tới công ty thì đột nhiên nhớ ra mình quên mang cặp, lại lập tức trở về nhà. Nhưng trong nhà lại chẳng có ai, vợ thì đi làm, con thì đi học, Festinger lại để chìa khóa ở trong cặp, không có cách nào vào nhà, anh đành phải gọi điện cho vợ để lấy chìa khóa.

    Trong lúc người vợ vội vã chạy về nhà đã đâm vào một sạp hoa quả ven đường, chủ sạp không cho cô đi, bắt cô phải bồi thường, cô buộc lòng phải bồi thường một khoản tiền mới được đi.

    Sau khi lấy được cặp, Festinger đã đi trễ 15 phút, bị cấp trên gay gắt phê bình, tâm trạng lúc này đã vô cùng tồi tệ. Trước khi tan làm, vì một việc nhỏ mà anh lại cãi nhau với đồng nghiệp một trận nữa.

    Người vợ cũng bởi vì phải về nhà đưa chìa khóa cho chồng mà mất giải thưởng chuyên cần cả tháng. Hôm nay con trai tham gia thi đấu bóng chày, vốn dĩ cậu bé hy vọng sẽ đoạt giải quán quân, không ngờ vì tâm trạng không tốt, không phát huy được khả năng, bị loại ngay từ vòng một.

    Trong câu chuyện được lấy làm ví dụ này, chiếc đồng hồ bị vỡ là 10% chúng ta không thể kiểm soát trong cuộc sống, còn một loạt những việc xảy ra sau đó chính 90% còn lại. Chính là bởi vì mọi người trong câu chuyện đều không kiểm soát được 90% đó, mới dẫn tới việc biến ngày hôm đó trở thành “ngày rắc rối”.

    Hãy thử nghĩ, sau khi 10% kia xảy ra, giả sử Festinger không làm như những gì mình đã làm, đổi một thái độ khác. Ví dụ, anh tới an ủi con trai: “Đừng quá lo lắng con trai, đồng hồ vỡ rồi cũng không sao, bố mang đi sửa là được”. Nếu làm như vậy con trai sẽ vui vẻ, vợ cũng thoải mái, chính bản thân anh ấy cũng không phiền muộn, vậy thì tất cả những vấn đề sau đó sẽ không xảy ra rồi.

    Có thể thấy, bạn không thể khống chế được 10% trước đó, nhưng hoàn toàn có thể dùng thái độ và hành vi của mình để quyết định 90% sự việc phía sau.

    Trong thực tế cuộc sống, chúng ta thường nghe những lời ca thán như: Tại sao tôi lại kém may mắn như vậy, ngày nào cũng gặp phải những chuyện đen đủi, làm thế nào để tâm trạng tôi tốt hơn một chút, ai có thể giúp tôi đây?

    Đây chính là vấn đề về tâm lý của mỗi cá nhân. Thực ra không ai có thể giúp bạn ngoài chính bản thân bạn. Nếu như mọi người có thể hiểu và vận dụng thuần thục “Định luật Festinger” trong cách giải quyết, mọi chuyện sẽ được xử lý một cách thỏa đáng.

    – Hãy đồng cảm, ngưng phàn nàn sẽ giúp bạn tìm thấy hạnh phúc

    2. Một nhà văn trong chuyến công tác của mình, tình cờ đã nhìn thấy một chiếc taxi rất đặc biệt. Người tài xế taxi ăn mặc rất lịch thiệp, xe cũng rất sạch sẽ.

    Nhà văn vừa mới ngồi xuống, liền nhận được một tấm thẻ vô cùng tinh xảo từ người tài xế, trên tấm thiệp viết: “Hành khách của tôi sẽ được đưa tới địa điểm một cách nhanh nhất, an toàn nhất, tiết kiệm nhất bằng một sự thân thiện nhất.”

    Đọc xong tấm thiệp, nhà văn cảm thấy thú vị, bèn bắt chuyện với người tài xế.

    Người tài xế nói: “Xin hỏi, ngài có muốn uống gì không?” Nhà văn ngạc nhiên: “Không lẽ đi xe khách hàng còn được phục vụ đồ uống sao?”

    Người tài xế cười nói: “Đúng vậy, tôi không chỉ có cà phê, còn có nhiều loại đồ uống khác, hơn nữa còn có nhiều loại báo khác nhau”. Nhà văn nói: “Vậy tôi có thể uống một ly cà phê nóng được không?” Người tài xế ung dung rót cho nhà văn một tách cà phê nóng từ chiếc ly giữ nhiệt bên cạnh. Sau đó lại đưa cho nhà văn một tấm thẻ, trên thẻ là tên của các loại báo khác nhau và các danh sách chương trình của các đài phát thanh khác nhau, “Times”, “Sports News”, “Today USA”… thực sự rất đầy đủ.

    Nhà văn không xem báo, cũng không nghe nhạc. Mà ngồi nói chuyện cùng với người tài xế. Trong khoảng thời gian đó, người tài xế quan tâm hỏi han nhà văn, nhiệt độ trong xe đã thích hợp hay chưa, có một con đường gần điểm đến hơn, nhà văn có muốn đi hay không. Nhà văn cảm thấy vô cùng ấm áp, thoải mái.

    Người tài xế nọ nói với nhà văn: “Thực ra, lúc mới bắt đầu công việc này, xe của tôi không có sự phục vụ toàn diện như vậy. Tôi giống những người khác, thích phàn nàn, thời tiết xấu, thu nhập ít ỏi, ùn tắc giao thông và đường phố lộn xộn, mỗi ngày đều trôi qua rất tồi tệ. Cho tới một ngày, tôi ngẫu nhiên nghe được một câu chuyện trên đài phát thanh, làm thay đổi suy nghĩ của tôi. Chương trình radio đó đã mời tới tiến sĩ Wayne Dyer – bậc thầy truyền cảm hứng, để ông giới thiệu về cuốn sách mới của mình.

    Cuốn sách tập trung giải thích một quan điểm: Ngừng phàn nàn và ngừng ca thán mỗi ngày, làm như vậy sẽ khiến cho bất kỳ ai cũng đều có thể đạt được thành công. Ông ấy đã thức tỉnh tôi, cuộc sống tồi tệ trước đây của tôi thực chất chính do sự phàn nàn không ngừng của tôi tạo thành. Chính vì vậy tôi đã quyết định thay đổi.

    Năm đầu tiên, tôi chỉ đơn giản mỉm cười với tất cả những hành khách tới với mình, thu nhập của tôi liền tăng gấp đôi.

    Năm thứ hai, tôi dùng sự chân thành bày tỏ quan tâm tới vui, buồn, giận dữ của mỗi một hành khách, đồng thời an ủi họ, thu nhập của tôi lại tăng lên gấp đôi.

    Năm thứ ba, cũng chính là năm nay, tôi đã biến chiếc taxi của tôi trở thành chiếc taxi năm sao hiếm có ở Mỹ. Ngoài thu nhập được nâng cao, tôi còn trở nên nổi tiếng, bây giờ nếu muốn đi xe của tôi, khách đều phải gọi điện đặt trước. Còn ngài là một khách hàng tôi thuận đường chở.”

    Những điều người tài xế nói khiến cho nhà văn cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Nhà văn không ngừng tự suy ngẫm về bản thân mình, thực ra trong cuộc sống thường ngày, chúng ta vẫn thường xuyên ca thán, phàn nàn. Ông quyết định sẽ thay đổi chính mình, ông dựa trên câu chuyện của người tài xế viết thành một cuốn sách. Sau đó có độc giả sau khi đọc xong đã thử làm theo, cuộc sống thực sự đã thay đổi. Sự thay đổi này khiến cho nhà văn hiểu được việc ngừng phàn nàn, ca thán có sức mạnh lớn như thế nào.

    Chỉ cần mong muốn vượt qua khốn cảnh, thay đổi thái độ than thở, phàn nàn mà tích cực, chủ động làm những việc bạn nên làm bây giờ, như vậy nhất định sẽ gạt bỏ được khó khăn, tiếp tục theo đuổi những mục tiêu tiếp theo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger”
  • Ronaldo Theo Định Luật Euclid Còn Messi Theo Trường Phái Einstein
  • Vì Sao E = Mc2?
  • Các Định Luật Của Newton Về Chuyển Động Là Gì 83
  • Lược Sử Về Thuyết Tương Đối Của Einstein
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50