Giải Vật Lí 11 Bài 1: Điện Tích. Định Luật Cu Lông

--- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 11: Điện Tích
  • Trắc Nghiệm Sỏi Ống Mật Chủ
  • Định Luật Cảm Ứng Điện Từ Của Faraday
  • Bài Định Luật Faraday Về Hiện Tượng Cảm Ứng Điện Từ Dạy Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Hiện Tượng Cảm Ứng Điện Từ Là Gì?
  • Sự nhiễm điện của các vật: Khi cọ xát các vật như thanh thủy tinh, thanh nhựa,…. vào dạ hoặc lụa,.. thì chúng có thể hút các vật nhỏ nhẹ khác như giấy vụn, sợi bông,… (nhiễm điện do cọ xát).

    Điện tích: là vật mang điện (vật nhiễm điện).

    Điện tích điểm: là vật tích điện (điện tích) có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách tới điểm mà ta đang xét.

    Tương tác điện: là sự đẩy hay hút nhau giữa các điện tích.

    • Các điện tích cùng loại (cùng dấu) thì đẩy nhau.
    • Các điện tích điểm khác loại (cùng dấu) thì hút nhau.

    2. Định luật Cu – lông

    Định luật Cu – lông: Lực hút hay đẩy giữa hai điện tích điểm có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích điểm đó, có độ lớn tỉ lệ thuận với độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    Trong đó:

    F: Lực tĩnh điện (N).

    $k = 9.10^{9}$: hệ số tỉ lệ ($frac{N.m^{2}}{C^{2}}$).

    q 1 ,q 2: độ lớn của hai điện tích (C).

    r: khoảng cách giữa hai điện tích (m).

    Điện môi: Môi trường cách điện.

    Lực tương tác giữa hai điện tích điểm đặt trong điện môi đồng tính: khi hai điện tích đặt trong môi trường điện môi thì lực tương tác giữa chúng sẽ yếu đi $varepsilon $ lần. $varepsilon $ được gọi là hằng số điện môi.

    Chú ý: $varepsilon geq 1$; Với chân không $varepsilon = 1$.

    Ý nghĩa của hằng số điện môi: Cho biết khi đặt các điện tích trong chất đó thì lực tương tác giữa chúng sẽ giảm đi bao nhiêu lần so với khi chúng đặt trong chân không.

    Bài giải:

    Điện tích điểm là một vật tích điện có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách tới điểm mà ta xét.

    Bài giải:

    Định luật Cu-lông: Lực hút hay đẩy giữa hai điện tích điểm đặt trong chân không có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích điểm đó, có độ lớn tỉ lệ thuận với độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    Trong đó:

    F: Lực tĩnh điện (N).

    $k = 9.10^{9}$: hệ số tỉ lệ ($frac{N.m^{2}}{C^{2}}$).

    q 1 ,q 2: độ lớn của hai điện tích (C).

    r: khoảng cách giữa hai điện tích (m).

    Bài giải:

    Lực tương tác giữa các điện tích khi đặt trong một môi trường điện môi sẽ nhỏ hơn $varepsilon $ lần lực tương tác giữa các điện tích khi đặt trong chân không.

    $varepsilon $: được gọi là hằng số điện môi

    Bài giải:

    Hằng số điện môi cho biết tính chất điên của một chất cách điện. Nó cho biết khi đặt các điện tích trong đo thì lực tác dụng sẽ nhỏ đi bao nhiêu lần so với khi đặt chúng trong chân không.

    Chọn câu đúng.

    Khi tăng đồng thời độ lớn của hai điện tích điểm và khoảng cách giữa chúng lên gấp đôi thì lực tương tác giữa chúng.

    A. tăng lên gấp đôi.

    B. giảm đi một nửa.

    C. giảm đi bốn lần.

    D. không thay đổi.

    Bài giải:

    Chọn đáp án D

    Giải thích: Áp dụng định luật Cu-lông, ta có:

    Trong các trường hợp nào sau đây, ta có thể coi các vật nhiễm điện là các điện tích điểm ?

    A. Hai thanh nhựa đặt cạnh nhau.

    B. Một thanh nhựa và một quả cầu đặt cạnh nhau.

    C. Hai quả cầu nhỏ đặt xa nhau.

    D. Hai quả cầu lớn đặt gần nhau.

    Bài giải:

    Chọn đáp án C.

    Giải thích: Khi hai quả cầu nhỏ đặt xa nhau thì khoảng cách của chúng rất lớn xo với kích thước của chúng nên có thể coi là điện tích điểm.

    Bài giải:

    Giống nhau

    • Tương đồng về biểu thức
    • Cách phát biểu tương đồng
    • Hai lực đều tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách

    Khác nhau

    Bản chất: Lực tương tác giữa hai điện tích điểm (lực điện).

    Độ lớn của lực lớn hơn lực hấp dẫn

    Bản chất: Lực tương tác giữa hai vật có khối lượng m (lực cơ học).

    Độ lớn rất nhỏ

    Hai quả cầu nhỏ mang hai điện tích có độ lớn bằng nhau, đặt cách nhau 10 cm trong chân không thì tác dụng lên nhau một lực là 9.10-3 N. Xác định điện tích của hai quả cầu đó.

    Bài giải:

    Áp dụng định luật Cu-lông, ta có:

    $Leftrightarrow $ $q = sqrt{frac{F.r^{2}}{k}} = sqrt{frac{9.10^{-3}.(10.10^{-2})^{2}}{9.10^{9}}} = pm 10^{-7}$ (C)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Dạng Bài Tập Về Điện Tích
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Vật Lý 11 Bài 1: Điện Tích Và Định Luật Cu
  • Chương I: Bài Tập Định Luật Culong, Thuyết E
  • Điện Tích Là Gì? Công Thức Biểu Thức Định Luật Cu Lông Và Bài Tập
  • Chương Iv: Định Luật Bảo Toàn Cơ Năng, Cơ Năng Của Trường Lực Thế
  • Cách Học Tốt Chương Định Luật Cu Lông Trong Môn Vật Lý Lớp 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Tuần Thứ 4, Nguyễn Ngọc Mỹ Kim, Y2012A, Tổ 11
  • Ứng Dụng Định Luật Cảm Ứng Điện Từ Vào Đời Sống
  • Bất Đẳng Thức Cosi Lớp 9
  • Học “định Luật Cây Tre” Để Hơn Người
  • 3 Định Luật Từ Hoa Sen, Cây Tre Và Ve Sầu Bạn Cần Phải Biết Để Thành Công!
  • Để nhằm tìm ra được định luật tổng quan về tương tác điện, Nhà bác học Cu lông của nước Pháp vào năm 1785 đã khảo sát lực tương tác giữa các điện tích điểm. Đó là những vật mang điện và có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng.

    Cu lông đã thiết lập một định luật nhờ một dụng cụ gọi là cân xoắn bao gồm: Một thanh thủy tinh nhẹ và treo ở đầu hai kim loại mảnh có tính đàn hồi, một đầu thanh thủy tinh được gắn một quả cầu kim loại nhỏ và đầu kia có một đối trọng. Một quả cầu bằng kim loại khác được cố định ở thành của cân, lực tương tác giữa hai điện tích trên hai quả cầu bằng kim loại đó được đo bằng góc xoắn của dây treo.

    Bằng cách đó, ông đã khảo sát được sự phụ thuộc của lực tương tác vào khoảng cách ở giữa hai quả cầu bằng kim loại và vào độ lớn điện tích của hai quả cầu đó. Từ kết quả thực nghiệm đó ông đã nêu lên thành định luật Cu lông mà chúng ta sử dụng ngày nay.

    Định luật Cu lông được phát biểu rằng lực tương tác giữa hai điện tích điểm có phương nằm trên cùng một đường thẳng nối hai điện tích điểm, có chiều là chiều của lực hút hai điện tích điểm khác dấu và đẩy nếu hai điện tích điểm cùng dấu, có độ lớn tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Với độ lớn của lực được tính như sau:

    q 1 – Điện tích của điện tích điểm thứ nhất đo bằng (C)

    q 2 – Điện tích của điện tích điểm thứ hai đo bằng (C)

    r – Khoảng cách giữa hai điện tích điểm được đo bằng (m)

    k – Hằng số vật lý

    Định luật Cu lông phát biểu về hai điện tích điểm và trong tự nhiên chúng ta cũng có hai loại điện tích đó là điện tích dương kí hiệu là (+), và điện tích âm kí hiệu là (-). Khi đặt các điện tích lại gần nhau thì các điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau và các điện tích khác dấu thì sẽ hút nhau.

    Định luật Cu lông giải thích thuyết Electron

    Nội dung của thuyết này nói về sự có mặt và chuyển động của e để giải thích một số hiện tượng điện từ. Phần cấu tạo của Nguyên tử bao gồm phần vỏ mang điện tích âm, có khối lượng không đáng kể so với khối lượng của Nguyên tử, phần thứ hai là phần Hạt nhân bao gồm các Nuclon. Có hai loại Nuclon đó là Notron và Proton. Nơtron là hạt không mang điện và Proton là hạt mang điện tích +e. Hạt nhân tuy có kích thước nhỏ bé hơn so với kích thước của nguyên tử song nó lại chiếm hầu hết khối lượng của Nguyên tử.

    Thông thường tổng tất cả các điện tích ở bên trong Nguyên tử bằng không, lúc đó nguyên tử sẽ trung hòa về điện. Nếu như Nguyên tử bị mất đi một vài electron thì tổng số các điện tích của Nguyên tử sẽ nhận giá trị dương, vì vậy Nguyên tử nhiễm điện dương. Trong trường hợp Nguyên tử đang trung hòa về điện và lại nhận thêm một vài electron thì tổng số điện tích của Nguyên tử mang dấu âm và Nguyên tử nhiễm điện âm. Chính vì khối lượng của electron rất nhỏ nên chúng có độ linh động rất lớn. Vì vậy trong một số trường hợp bị cọ xát, nung nóng một số e có thể bứt ra khỏi Nguyên tử và di chuyển từ vật này sang vật khác. Nếu vật thừa electron thì bị nhiễm điện âm và thiếu electron thì nhiễm điện dương.

    ♦ Phương pháp học tập môn Vật lý 12 nhanh chóng, hiệu quả

    ♦ Kinh nghiệm tìm gia sư môn Sinh lớp 11 cho con ôn thi khối B

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Luật Bảo Toàn Cơ Năng
  • Trong Tự Nhiên, Số 1 Luôn Chiếm Ưu Thế
  • Phát Hiện Bất Thường Bằng Định Luật Benford
  • Áp Dụng Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng Và Định Luật Bảo Toàn Động Lượng
  • Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng
  • Áp Dụng Định Luật Coulomb

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Kepler Về Chuyển Động Của Hành Tinh
  • Bộ Dụng Cụ Thực Hành Định Luật Acsimet Đo Lực Đẩy Của Nước, Dụng Cụ Thực Nghiệm Vật Lý
  • Định Luật Avogadro (Chỉ Áp Dụng Cho Chất Khí Hay Hơi)
  • Vận Dụng Định Luật Bernoulli Để Phòng Tránh Tai Nạn Khi Tham Gia Giao Thông – Trường Đại Học Phòng Cháy Chữa Cháy
  • Định Lý Bernoulli (Vật Lý)
  • Chúng tôi trích giới thiệu với các bạn một số bản dịch từ tác phẩm Những câu hỏi và bài tập vật lí phổ thông của hai tác giả người Nga L. Tarasov và A. Tarasova, sách xuất bản ở Nga năm 1968. Bản dịch lại từ bản tiếng Anh xuất bản năm 1973.

    §26. Áp dụng định luật Coulomb

    HS A: Lực tương tác giữa hai điện tích tỉ lệ thuận với tích của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    GV: Em phát biểu định luật này chưa hoàn chỉnh; em đã bỏ sót một số điểm.

    HS B: Có lẽ nên nên bổ sung thêm rằng lực tương tác đó tỉ lệ nghịch với hằng số điện môi Ke của môi trường. Đúng không thầy?

    HS A: Giờ thì em hiểu rồi. Có phải ý thầy muốn chúng em bổ sung rằng lực tương tác giữa hai điện tích có phương là đường nối giữa hai điện tích?

    GV: Như thế vẫn chưa đủ. Trên phương đó có tới hai chiều mà.

    HS A: Vậy thì chúng em phải nói là các điện tích đẩy nhau nếu chúng có cùng dấu và hút nhau nếu chúng trái dấu.

    GV: Tốt. Bây giờ nếu gom hết những bổ sung này thì các em sẽ có một phát biểu hoàn chỉnh của định luật Coulomb. Cũng cần nhấn mạnh rằng định luật này nói về tương tác giữa các điện tích điểm.

    HS B: Phương trình của định luật Coulomb có thể được viết sao cho nó chứa đầy đủ thông tin về định luật được không thầy? Dạng bình thường

    Trong đó hệ số B tùy thuộc vào hệ đơn vị ta chọn.

    HS A: Nhưng trong phương trình này lực tỉ lệ, không phải với bình phương, mà với lập phương khoảng cách giữa các điện tích!

    HS A: Ý thầy nói là em chỉ việc viết ra phương trình (158) nếu được yêu cầu viết định luật Coulomb đúng không? Không cần thêm gì nữa phải không?

    GV: Em sẽ chỉ phải giải thích kí hiệu trong phương trình.

    HS A: Vậy nếu em viết phương trình (157) thay vì (158) thì sao?

    GV: Thì em sẽ phải dùng lời mô tả chiều của lực Coulomb.

    HS A: Làm thế nào phương trình (158) cho thấy các điện tích hút hay đẩy nhau?

    HS A: Thầy hãy giải thích chúng ta nên biết gì về hệ số B.

    GV: Hệ số này tùy thuộc vào hệ đơn vị ta chọn. Nếu các em sử dụng hệ đơn vị tĩnh điện tuyệt đối (cgse), thì B = 1; nếu các em sử dụng hệ đơn vị quốc tế (SI), thì B = 1/(4πe0), trong đó hằng số e0 = 8,85.10-12 C2/Nm2 (coulomb bình phương trên newton-mét bình phương).

    Chúng ta hãy giải vài bài toán về định luật Coulomb.

    Bài toán 1. Bốn điện tích điểm q giống hệt nhau đặt tại bốn đỉnh của một hình vuông. Hỏi phải đặt điện tích Q có dấu ngược lại và bằng bao nhiêu tại tâm của hình vuông để toàn hệ ở trong trạng thái cân bằng?

    HS A: Trong hệ gồm năm điện tích, bốn điện tích đã biết và một điện tích chưa biết. Vì hệ cân bằng, nên tổng lực tác dụng lên từng điện tích trong hệ bằng không. Nói cách khác, chúng ta phải xét sự cân bằng của từng điện tích.

    GV: Xét như thế là thừa. Các em có thể dễ dàng thấy rằng điện tích Q ở trạng thái cân bằng, bất kể độ lớn của nó, do vị trí hình học của nó. Do đó, điều kiện cân bằng cho điện tích này chẳng góp ích gì cho bài giải. Do sự đối xứng của hình vuông, bốn điện tích q còn lại là hoàn toàn tương đương. Như vậy, chỉ cần xét điều kiện cân bằng cho một trong bốn điện tích này là đủ, dù là điện tích nào cũng vậy. Chúng ta có thể chọn, ví dụ, điện tích tại điểm A (Hình 100). Có những lực nào tác dụng lên điện tích này?

    HS A: Lực F1 do điện tích tại điểm B, lực F2 do điện tích tại điểm D và, cuối cùng, lực do điện tích cần tìm nằm tại tâm của hình vuông.

    GV: Tôi thấy không ổn chút nào, tại sao em không xét lực tác dụng bởi điện tích đặt tại C?

    HS A: Nó đã bị che khuất bởi điện tích tại tâm của hình vuông.

    GV: Đây là một cái sai ngớ ngẩn. Hãy nhớ: trong một hệ điện tích, mỗi điện tích chịu lực tác dụng bởi mọi điện tích khác trong hệ, không có ngoại lệ nào hết. Do đó, em sẽ phải cộng thêm lực F3 tác dụng lên điện tích tại A do điện tích tại C gây ra. Sơ đồ lực cuối cùng được thể hiện ở Hình 100.

    HS A: Giờ thì mọi thứ đã rõ. Em chọn phương CA và chiếu toàn bộ các lực tác dụng lên điện tích tại A lên phương này. Tổng đại số của tất cả các hình chiếu lực phải bằng không, tức là

    GV: Khá chính xác. Sự cân bằng của hệ điện tích này có bền không?

    HS B: Không bền. Đây là cân bằng không bền. Chỉ cần một trong các điện tích hơi lệch một chút, toàn bộ các điện tích sẽ bắt đầu chuyển động và hệ sẽ bị phá vỡ.

    GV: Em nói đúng. Thật sự khó nghĩ ra một cách sắp xếp cân bằng bền của các điện tích đứng yên.

    Bài toán 2. Hai quả lắc hình cầu có cùng khối lượng và bán kính, có điện tích bằng nhau và được treo bên dưới hai sợi dây cùng chiều dài và treo vào cùng một điểm, được nhúng trong một điện môi lỏng có hằng số điện môi Ke và khối lượng riêng r0. Hỏi khối lượng riêng r của chất liệu làm con lắc phải bằng bao nhiêu để cho góc lệch giữa hai sợi dây trong không khí và trong điện môi đó là như nhau?

    HS B: Góc lệch giữa hai sợi dây là do lực đẩy Coulomb giữa hai quả lắc. Gọi Fe1­ là lực đẩy Coulomb trong không khí và Fe2 là lực đẩy Coulomb trong điện môi.

    GV: Hai lực này khác nhau ra sao?

    HS B: Vì, theo điều kiện của bài toán, góc lệch giữa hai sợi dây là như nhau trong cả hai trường hợp, nên khoảng cách giữa hai quả lắc cũng là như nhau. Do đó, độ chênh lệch lực Fe1Fe2 chỉ là do hằng số điện môi. Như vậy

    Fe1 = KeFe2                                            (160)

    Ta hãy xét trường hợp hai quả lắc nằm trong không khí. Từ sự cân bằng của hai quả lắc, ta kết luận rằng tổng vector của các lực Fe1 và trọng lực sẽ hướng theo phương của sợi dây bởi vì nếu không nó không thể trực đối với phản lực của sợi dây (Hình 101a). Ta suy ra

    Fe1/P = tan α

    trong đó α là góc hợp bởi sợi dây và phương thẳng đứng. Khi hai quả lắc nhúng chìm trong điện môi, lực Fe1 được thay bằng lực Fe2, và trọng lực P được thay bằng hiệu (P – Fb), trong đó Fb là lực nổi. Tuy nhiên, tỉ số của hai lực mới này, giống như phần trước, phải bằng tanα (Hình 101b). Như vậy

    GV: Đáp số của em đúng rồi.

    Bài toán 3. Hai quả lắc hình cầu cùng khối lượng m tích điện giống hệt nhau được treo dưới hai sợi dây cùng chiều dài l và treo vào cùng một điểm. Tại điểm treo có một quả cầu thứ ba mang cùng điện tích. (Hình 102). Tính điện tích q của mỗi quả lắc và quả cầu nếu góc hợp bởi hai sợi dây khi quả lắc cân bằng là α.

    HS B: Ta sẽ xét quả lắc A. Có bốn lực tác dụng lên nó (Hình 102). Vì quả lắc ở trạng thái cân bằng, nên em sẽ phân tích những lực này ra các thành phần hướng theo hai phương…

    GV (cắt ngang): Trong trường hợp đã cho, có một cách giải đơn giản hơn. Lực do điện tích tại điểm treo tác dụng không có ảnh hưởng nào đối với vị trí cân bằng của sợi dây: lực Fe2 tác dụng theo phương của sợi dây và bị triệt tiêu ở mọi vị trí bởi phản lực của sợi dây. Do đó, bài toán đã cho có thể được giải như là không có điện nào tại điểm treo của sợi dây. Các thí sinh thường không biết điều này.

    HS B: Như vậy ta sẽ bỏ qua lực Fe2. Vì tổng vector của các lực Fe1 P phải hướng theo phương của sợi dây nên ta có

    Fe1 /P = tan (α/2)                                              (162)

    GV: Lưu ý rằng kết quả này không phụ thuộc vào chuyện có mặt hay không có mặt của một điện tích tại điểm treo dây.

    HS B: Vì

    GV: Đáp số của em đúng rồi.

    HS A: Khi nào thì sự có mặt của một điện tích tại điểm treo dây là có nghĩa?

    GV: Chẳng hạn, khi cần tìm lực căng dây.

    Bài tập

    50. Các điện tích +q giống hệt nhau nằm tại các đỉnh của một lục giác đều. Phải đặt tại tâm của lục giác đó một điện tích bằng bao nhiêu để toàn bộ hệ điện tích cân bằng?

    51. Một quả lắc hình cầu có khối lượng m và điện tích q treo bên dưới một sợi dây chiều dài l quay xung quanh một điện tích cố định giống hệt với điện tích của quả lắc (Hình 103). Góc giữa sợi dây và phương thẳng đứng là α. Tính vận tốc góc của chuyển động đều của quả lắc và lực căng của sợi dây.

    52. Một quả lắc hình cầu có khối lượng m và điện tích q có thể quay trong một mặt phẳng thẳng đứng tại đầu của một sợi dây chiều dài l. Tại tâm quay có một quả cầu thứ hai có điện tích cùng dấu và độ lớn với điện tích của quả lắc. Phải truyền cho quả lắc một vận tốc nằm ngang tối thiểu bằng bao nhiêu tại vị trí thấp nhất của nó để cho phép nó quay trọn vòng?

    Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liệu Định Luật Moore Còn Đúng Cho Điện Thoại Thông Minh Vào Năm 2022?
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Luật Hấp Dẫn Không Phải Ai Cũng Biết
  • Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Công Nghiệp
  • Chủ Sở Hữu Và Nội Dung Quyền Sở Hữu Công Nghiệp
  • Sáng Mãi Đạo Lý “Uống Nước Nhớ Nguồn”
  • Điện Tích Là Gì? Công Thức Biểu Thức Định Luật Cu Lông Và Bài Tập

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương I: Bài Tập Định Luật Culong, Thuyết E
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Vật Lý 11 Bài 1: Điện Tích Và Định Luật Cu
  • Các Dạng Bài Tập Về Điện Tích
  • Giải Vật Lí 11 Bài 1: Điện Tích. Định Luật Cu Lông
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 11: Điện Tích
  • I. Sự nhiễm điện của các vật, Điện tích và Tương tác điện

    * Dựa vào hiện tượng hút các vật nhẹ để kiểm tra xem một vật có nhiễm điện hay không.

    * Các hiện tượng nhiễm điện của vật

    – Nhiễm điện do cọ xát.

    – Nhiễm điện do tiếp xúc

    – Nhiễn điện do hưởng ứng.

    * Ví dụ: khi cọ xát những vật như thanh thuỷ tinh, thanh nhựa, mảnh poli etilen,… vào dạ hoặc lụa thì những vật đó sẽ có thể hút được những vật nhẹ như mẩu giấy, sợi bông vì chúng đã bị nhiễm điện.

    – Vật bị nhiễm điện còn gọi là vật mang điện, vật tích điện hay là một điện tích. Điện là một thuộc tính của vật và điện tích là số đo độ lớn của thuộc tính đó.

    – Vật tích điện có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách tới điểm mà ta xét goin là điện tích điểm.

    * Sự đẩy hay hút nhau giữa các điện tích gọi là sự tương tác điện.

    * Chỉ có hai loại điện tích là điện tích dương (kí hiệu bằng dấu +) và điện tích âm (kí hiệu bằng dấu -).

    * Các điện tích cùng loại (cùng dấu) thì đẩy nhau.

    * Các điện tích khác loại (khác dấu) thì hút nhau.

    II. Định luật Cu-lông, Hằng số điện môi

    – Phát biểu Định luật Cu-lông: Lực hút hay đẩy giữa hai điện tích điểm đặt trong chân không có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích điểm đó, có độ lớn tỉ lệ thuận với tích độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    – Công thức định luật Cu-lông:

    – Trong đó:

    k là hệ số tỉ lệ, phụ thuộc vào hệ đơn vị mà ta dùng. Trong hệ đơn vị SI,

    F: đơn vị Niutơn (N);

    r: đơn vị mét (m);

    q 1 và q 2 các điện tích, đơn vị culông (C).

    2. Lực tương tác giữa các điện tích điểm đặt trong điện môi đồng tính. Hằng số điện môi

    a) Điện môi là môi trường cách điện.

    b) Thí nghiệm chứng tỏ rằng, khi đặt các điện tích điểm trong một điện môi đồng tính (chẳng hạn trong một chất dầu cách điện) thì lực tương tác giữa chúng sẽ yếu đi Ɛ lần so với khi đặt chúng trong chân không.

    * ε được gọi là hằng số điện môi của môi trường (ε ≥1).

    * Công thức của định luật Cu-lông trong trường hợp này là:

    – Đối với chân không thì ε = 1.

    c) Hằng số điện cho biết, khi đặt các điện tích trong một chất cách điện thì lực tác dụng giữa chúng sẽ nhỏ đi bao nhiêu lần so với khi đặt chúng trong chân không.

    III. Bài tập vận dụng lý thuyết điện tích và Định luật Cu-lông.

    – Điện tích điểm là một vật tích điện có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách tới điểm mà ta xét.

    – Phát biểu định luật Cu-lông: Lực tương tác giữa hai điện tích điểm có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích điểm, có độ lớn tỉ lệ thuận với tích độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

    – Lực tương tác giữa các điện tích đặt trong điện môi sẽ nhỏ hơn khi đặt trong chân không vì hằng số điện môi của chân không có giá trị nhỏ nhất (ɛ=1).

    – Hằng số điện môi của một chất cho biết khi đặt các điện tích trong môi trường điện môi đó thì lực tương tác Cu-lông giữa chúng sẽ giảm đi bao nhiêu lần so với khi đặt chúng trong chân không.

    A. Tăng lên gấp đôi

    B. Giảm đi một nửa

    C. Giảm đi bốn lần

    D. Không thay đổi

    ¤ Chọn đáp án: D.Không thay đổi

    – Gọi F là lực tương tác giữa hai điện tích q 1, q 2 khi cách nhau khoảng r.

    – F’ là lực tương tác giữa hai điện tích q 1‘=2.q 1, q 2‘=2.q 2 khi cách nhau khoảng r’=2r

    A. Hai thanh nhựa đặt gần nhau.

    B. Một thanh nhựa và một quả cầu đặt gần nhau.

    C. Hai quả cầu nhỏ đặt xa nhau.

    D. Hai quả cầu lớn đặt gần nhau.

    ¤ Chọn đáp án: chúng tôi quả cầu nhỏ đặt xa nhau.

    – Vì định luật Cu-lông chỉ xét cho các điện tích điểm (có kích thước nhỏ so với khoảng cách giữa chúng) nên hai quả cầu có kích thước nhỏ lại đặt xa nhau có thể coi là điện tích điểm.

    ¤ Ta có bảng so sánh định luật vạn vật hấp dẫn và định luật cu-lông như sau:

    – Chỉ xét cho các vật hay điện tích được coi là chất điểm hay điện tích điểm (có kích thước nhỏ)

    – Lực tương tác tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng

    – Tỉ lệ thuận với tích khối lượng 2 vật.

    – Là lực cơ học

    – Lực hấp dẫn không đổi khi môi trường xung quanh 2 vật thay đổi.

    – Tỉ lệ thuận với tích độ lớn 2 điện tích.

    – Là lực điện

    – Lực tương tác thay đổi khi đặt trong môi trường điện môi khác nhau.

    * Bài 8 trang 10 SGK Vật Lý 11: Hai quả cầu nhỏ mang hai điện tích có độ lớn bằng nhau, đặt cách xa nhau 10 cm trong không khí thì tác dụng lên nhau một lực 9.10-3 N. Xác định điện tích của quả cầu đó.

    – Khoảng cách: r = 10 cm = 0,1 m

    – Môi trường là không khí nên hằng số điện môi: ε ≈ 1

    – Lực tương tác Cu-lông giữa hai quả cầu là:

    ⇒ Điện tích của mỗi quả cầu là:

    – Kết luận: q = 10 7 (C) hoặc q = -10-7 (C).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Iv: Định Luật Bảo Toàn Cơ Năng, Cơ Năng Của Trường Lực Thế
  • Giáo Án Vật Lý Lớp 10: Bài Tập Cơ Năng
  • Chuyên Đề Con Lắc Đơn
  • Giả Thuyết Bernoulli Là Gì? Phép Thử Bernoulli Và Ứng Dụng Vào Xác Suất Thống Kê
  • Phương Trình Bernoulli Cho Chất Lỏng Lý Tưởng
  • Cách Tính Định Luật Ohm Để Sử Dụng Vape An Toàn!!!

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Vật Lý 11
  • Giải Bài Tập Lý 11
  • Bài Tập Về Mạch Điện Lớp 11 (Cơ Bản)
  • Chương Ii: Bài Tập Định Luật Ôm Cho Mạch Chứa Tụ Điện
  • Định Luật Ôm Tổng Quát
  • Nếu đã tự tin về kiến thức an toàn về pin vape của bạn rồi, thì sau đây sẽ là những kiến thức mới hơn nữa về vape. Việc tiếp theo chúng ta cần cân nhắc tới đó chính là sử dụng một số phép tính để đảm bảo được sự an toàn khi tự build coil cho bản thân mình nằm trong vùng giới hạn an toàn của pin, hơn thế nữa bạn còn có thể tự tinh chỉnh về coil của mình để mang lại những trải nghiệm mùi vị tuyệt vời hơn cả thứ bạn đang mong muốn. Có rất nhiều kiểu tính dành cho định luật Ohm và các trang web như là Steam Engine sẽ giúp bạn những công việc nặng nhọc đó.

    Sẽ không có điều huyền bí hay kì diệu về định luật Ohm này đâu, đơn giản đây chỉ là vài phép tính thôi. Đó sẽ là một vài công thức được mô tả bên trong một hình tam giác và ai cũng có thể học được cũng như hiểu được về những phép tính này.

    V: số volt (số volt của pin vape bạn đang sử dụng)

    I: cường độ dòng điện (độ xả của pin vape được tính bằng Ampe)

    R: điện trở (điện trở được tính bằng ohm theo coil của bạn sử dụng)

    Vậy thì để sử dụng định luật Ohm như thế nào? Rất đơn giản, tam giác này sẽ thể hiện mối quan hệ giữa số volt, cường độ dòng điện và điện trở. Một vài ví dụ sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn nữa về tam giác này áp dụng trong việc build coil mà đã có sẵn số watt và độ xả của máy vape pod system mà bạn đang sử dụng.

    Nếu bạn muốn xác định được cường độ dòng điện của pin vape mình thông qua điện trở của coil vape của bạn thì đây sẽ là công thức:

    I = V/R (I bằng V chia R)

    Tại sao lại có công thức như vậy? Một lần nữa nhìn vào hình tam giác trên, bạn sẽ thấy nếu muốn tính I thì cần phải lấy V chia cho R (vì V = I x R)

    Như bạn đã thấy, với pin vừa được sạc xong là 4.2V và điện trở coil là 0.5ohm thì cường độ dòng điện của máy vape mech mod sẽ là 8.4A nếu như pin của bạn có độ xả tối đa lớn hơn 8.4A thì có nghĩa là thiết bị bạn sử dụng được với thiết kế build như vậy. Lưu ý, nếu như máy vape mech mod của bạn sử dụng 2 coil thì cường độ dòng điện sẽ gấp đôi và pin sẽ cạn dần theo thời gian cũng sẽ ảnh hưởng tới độ xả của máy vape mech mod của bạn (ví dụ: pin của bạn đang sử dụng chỉ còn 3.7V thì độ xả của bạn sẽ thấp xuống còn 7.4A)

    Điều tiếp theo bạn muốn biết đó chắc chắn là làm sao để tính công suất đốt hoặc còn được gọi là số watt. Điều này sẽ không hiện lên trên hình tam giác, nhưng nó vô cùng đơn giản, chỉ cần lấy số cường độ dòng điện nhân với số volt là sẽ ra, ví dụ với số liệu như trên:

    Tính điện trở coil

    Điều thứ hai mà ta có thể sử dụng với định luật Ohm sẽ là tính số điện trở của coil bạn đang sử dụng. Giả sử nếu pin của bạn có độ xả giới hạn là 10A và bạn muốn biết rằng điện trở thấp nhất có thể sử dụng một cách an toàn mà không cần phải lo lắng về việc vượt quá giới hạn pin và làm hại tới bản thân thì đây sẽ là công thức dành cho bạn.

    Biết rằng pin của bạn có độ xả giới hạn là 10A nên bạn sẽ phải đặt một mức thấp hơn độ xả tối đa này là 9A, 1A còn lại để bảo đảm sự an toàn không vướt quá mức quy định. Bạn cũng biết được 1 viên pin có số volt tối đa là 4.2V. như vậy chỉ cần áp dụng vào công thức:

    Đây sẽ là mức điện trở thấp nhất bạn có thể đạt tới được với độ xả giới hạn của pin là 10A. Tất nhiên nếu pin của bạn có độ xả giới hạ ở 25A thì điện trở thấp nhất sẽ ở khoảng 0.17ohm (áp dụng vào công thức tính)

    Cuối cùng, có lẽ sẽ không có ích cho chúng ta mấy khi tính được số volt này. Ta cũng đã biết được số của điện trở coil và cường độ dòng điện. ta chỉ cần áp dụng vào công thức là có thể tính ra được ngay:

    Tất cả những công thức này sẽ mang lại cho ta được gì?

    Trên thực tế thì chỉ có 3 công thức mà các vaper quan tâm đến nhất đó chính là tính cường độ dòng điện (I = V/R), tính công suất đốt (P = V x I) và tính điện trở (R = V/I). Khi bạn tăng điện trở và cường độ dòng điện lên thì công suất đốt sẽ phải hạ thấp xuống và ngược lại nếu điện trở và cường độ dòng điện giảm xuống thì công suất đốt sẽ phải tăng lên. Công thức điện trở sẽ giúp cho bạn có thể biết được điện trở thấp nhất của coil bạn build dựa trên CDR (tốc độ xả liên tục) an toàn của pin vape.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Ohm Vape An Toàn Và Tính Toán Chỉnh Công Suất Nhiều Khói.
  • Định Luật Ohm Cho An Toàn Vape
  • Trắc Nghiệm Lý Thuyết 3 Định Luật Newton
  • Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn
  • Thuyết Trọng Lực Và Định Luật Hấp Dẫn
  • Áp Dụng Luật Hấp Dẫn Để Thu Hút Tiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Dùng Luật Hấp Dẫn Thu Hút Tiền Bạc Về Mình?
  • Giới Thiệu Về Luật Hấp Dẫn
  • Top Sách Về Luật Hấp Dẫn Hay Nhất Nên Đọc Một Lần Trong Đời
  • Bài Giảng Bài 10: Ba Định Luật Niu
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Thí Nghiệm Kiểm Chứng Định Luật Ii New
  • Khi sử dụng Luật hấp dẫn để thu hút tiền, bạn phải nhớ rằng những gì bạn suy nghĩ nhiều nhất thì bạn sẽ tạo ra nó.

    Vậy thì, việc hấp dẫn tiền đến với bạn không khác nhiều lắm với việc hấp dẫn bất kỳ thứ gì khác mà bạn ao ước.

    Nhưng, vì tiền là một nhân tố quan trọng trong cuộc sống của con người, chúng ta thường lo lắng về nó và quá căng thẳng, đặc biệt khi chúng ta thiếu thốn tiền.

    Nhưng điều mà hầu hết chúng ta hiểu sai đó là, càng lo lắng và suy nghĩ căng thẳng về tiền, về sự thiếu thốn, về nghèo khó bao nhiêu thì sự giàu có bạn mong muốn lại càng lâu đến với bạn hơn.

     

    Bạn phải biết rằng bạn chính là người kiến tạo ra cuộc sống của bạn, toàn bộ trải nghiệm trên cuộc đời này, kể cả những gì trong tài khoản ngân hàng của bạn.

    Cuộc sống phản ánh lại suy nghĩ của bạn, suy nghĩ mà bạn thường sử dụng.

    Do đó, nếu bạn là người luôn phàn nàn về sự nghèo khó của mình, hoặc bạn thường xuyên nghĩ tiêu cực về những người giàu có, dư dả thì có nghĩa là bạn đang đẩy sự giàu có đó ra xa.

     

    Để biết được vị trí của bạn trên con đường hấp dẫn tiền:

    • Hãy tự hỏi: Bạn suy nghĩ và cảm nhận thế nào về tiền?
    • Khi nghĩ về tiền, bạn có cảm giác tốt và thoải mái không?
    • Bạn có trân trọng số tiền mà bạn đang có bây giờ không?
    • Bạn đang vui vẻ, hạnh phúc với tiền vì bạn biết rằng bạn sẽ có nhiều tiền hơn nữa, bất kỳ lúc nào bạn cần?

    Nếu bạn có những suy nghĩ tích cực về tiền thì bạn đang trên con đường đúng đắn để hấp dẫn tiền, hấp dẫn sự dư dả đến với cuộc sống của mình.

    Hoặc, bạn là kiểu người thường kêu ca khi phải chi trả tiền cho người khác, hoặc luôn nói rằng: mình không bao giờ có đủ tiền cả!

    • Bạn có kêu ca rằng bạn rất nghèo và sự thật là bạn chẳng có tiền để mua những thứ bạn thích, những thứ bạn mong muốn?
    • Bạn đã thấy sự khác biệt chưa????

     

    Để thu hút tiền, bạn cần phải thay đổi ngay suy nghĩ của bạn về chúng. Bạn phải biết rằng, tin rằng bạn sẽ luôn thoải mải về tài chính.

    Bạn đã bao giờ để ý rằng bất kỳ khi nào bạn cần một điều gì đó thực sự và bạn tự hỏi mình: mình sẽ mua cái đó như thế nào? Bằng cách nào đó, bạn tìm ra cách để có số tiền đó, hoặc có ai đó xuất hiện và mang lại cho bạn số tiền bạn cần.

    Điều này đặc biệt xảy ra khi bạn rũ bỏ rắc rối của mình. Bởi vì khi bạn thôi không nghĩ đến rắc rối nữa thì giải pháp sẽ xuất hiện.

    Chúng ta tồn tại là để hưởng thụ những điều tuyệt vời của cuộc sống. Chúng ta không tồn tại để chịu khổ, chịu đau. Bạn phải hiểu rằng bạn có thể điều khiển 100% suy nghĩ của bạn. Do đó, bạn có thể tạo ra bất kỳ thứ gì bạn muốn, bạn khao khát. 

    Bill Gates nói rằng: tôi luôn biết tôi sẽ giàu có. Tôi biết mình chưa bao giờ nghi ngờ điều đó dù chỉ 1 phút.

    Hầu hết các triệu phú/tỷ phú luôn tin rằng họ có thể kiếm được tiền dễ dàng, do đó, tiền lại thường xuyên đến với họ như may mắn vậy.

    Không có tiền không phải là lựa chọn của họ, họ không nghĩ theo cách tiêu cực đó.

    Đó chính là sự thiết lập tư duy mà chúng ta cần phải có để hấp dẫn tiền hoặc bất kỳ thứ gì chúng ta muốn.

     

    Ai đó nói rằng bạn không thể giàu có? Bạn phải tưởng tượng ra sự giàu có, nhìn thấy nó, cảm nhận nó như thể bạn đang giàu có, ngay lúc này.

    Hãy đến cửa hàng có món đồ bạn ưa thích. Chuyển nhà đến nơi bạn muốn sống. Đi thử chiếc xe bạn muốn sở hữu.

    Một khi bạn bắt đầu thay đổi cách bạn suy nghĩ và cảm nhận trong bất kỳ lĩnh vực nào, kể cả tiền, bạn sẽ bắt đầu thấy những sự thay đổi trong cuộc sống của bạn.

     

    Nếu như bạn có suy nghĩ tiêu cực về tiền, đừng lo lắng!

    Hầu hết chúng ta đều có suy nghĩ tiêu cực về tiền bởi vì đó là sự di truyền tư tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác.

    Chắc chắn cha mẹ bạn đã từng nói rằng: chúng ta đâu có trồng ra tiền đâu! Con nghĩ tiền là lá cây à! khi bạn đòi hỏi một thứ gì đó.

    Từ đó, bạn bắt đầu thiết lập những suy nghĩ tiêu cực về tiền, từ lúc còn bé.

     

    1. Hãy hài lòng, thỏa mãn với tình trạng tài chính của bạn hiện giờ. Hãy tự nhủ rằng mọi thứ rất ổn. Khi bạn nghĩ như vậy, mọi thứ sẽ bắt đầu thay đổi để tốt hơn.
    2. Trân trọng, biết ơn số tiền bạn đang có, bất kể nhiều hay ít.
    3.  Luôn nói một câu cảm ơn số tiền bạn đang có trước khi bạn phải chi trả cho một cái gì đó. Và bạn có tin không, với một số lý do nào đó bạn sẽ nhận được nhiều tiền hơn. Chắc là bạn sẽ thấy ngạc nhiên, nhưng tôi cũng từng như vậy và tôi không ngạc nhiên, tôi chấp nhận nó ^^

    Bạn càng trân trọng những gì bạn đang có thì những thứ đó sẽ đến với bạn nhiều hơn. Điều này đúng trong mọi lĩnh vực.

    Hầu hết mọi người đều dùng phương pháp tự khẳng định để thu hút tiền, và câu khẳng định tôi hay dùng là: “Tiền đến với tôi dễ dàng và tự nhiên, từ rất nhiều nguồn.”

     Hoặc bạn cũng có thể nói rằng: “Tôi luôn có số tiền để làm hoặc mua những thứ tôi muốn”. Bạn có thể tự khẳng định bất kỳ câu nào đến tiền, miễn là bạn tin tưởng nó thực sự.

    Bạn nên tự khẳng định vài lần một ngày, đặc biệt là khi bạn chuẩn bị chi tiền cho thứ gì đó.

    Bạn càng tự khặng định nhiều, bạn sẽ càng tin tưởng nó.

    Hãy làm điều này trong 30 ngày liên tục và bạn sẽ cảm nhận được sự thay đổi.

    Một khi bạn đã tin tưởng thực sự rằng bạn có khả năng hấp dẫn tiền khi bạn muốn, bạn sẽ bắt đầu phát hiện ra có rất nhiều ý tưởng khác để kiếm nhiều tiền hơn nữa.

    Bạn có thể thu hút tiền từ những việc, những cách bạn không thể ngờ tới. Ví dụ như sổ xố, một người bạn lâu không gặp hoặc một món quà bất ngờ…

    Tiền là vô tận và bạn phải tin rằng luôn có đủ tiền cho tất cả mọi người.

    Đừng tin vào những thứ đại loại như: khủng hoảng kinh tế… vì dù vậy, đang có rất nhiều người giàu lên ngoài kia kể cả có khủng hoảng tồi tệ đến đâu đi nữa.

    Với Luật hấp dẫn, bạn sẽ có mọi thứ bạn suy nghĩ đến.

    Và một khi những suy nghĩ tiêu cực về thị trường, về kinh tế bắt đầu nảy mầm trong bạn, bạn sẽ bắt đầu nghĩ đến những viễn cảnh tồi tệ: thất nghiệp, nghèo khó, thiếu ăn… mà những điều này chắc chắn sẽ kéo cuộc sống của bạn đi xuống, nó sẽ xuất hiện thực sự.

    Bạn hấp dẫn bất kể những gì bạn suy nghĩ nhiều về nó. Hãy ngừng chúng lại! Bạn có thể giàu có bất kể hiện tại của bạn ra sao, bời vì bạn có thể điều khiển hoàn toàn tâm trí của mình.

    Do vậy, đừng bao giờ tin rằng chỉ có vài người, một tỷ lệ nhỏ có thể giàu có thôi. Đó là sai lầm.

    Mọi người có cuộc sống dư dả là vì suy nghĩ của họ hòa hợp với niềm tin, thực tế của họ, và nếu bạn làm được như vậy, bạn cũng sẽ giàu có. 

    Chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian để thay đổi những suy nghĩ đã bám rễ bạn suốt vài chục năm cuộc đời.

    Đó là lý do vì sao bạn nên dành thời gian ít nhất 30 ngày để tập thói quen mới cho đến khi bạn thay đổi thói quen cũ, lúc đó tình hình tài chính của bạn cũng sẽ thay đổi.

    Một số người thấy sự thay đổi ngay lập tức, bỏi vì họ đã tìm ra cách để thay đổi suy nghĩ nhanh chóng và lập tức hòa hợp được với tần số những thứ họ muốn.

    Và, bạn cũng có thể không cần đến 30 ngày, có thể là vài phút, vài giờ, vài ngày thôi.

    Hãy nhớ rằng chìa khóa để hấp dẫn mọi thứ bạn muốn, kể cả tiền, đó là thay đổi suy nghĩ của bạn theo hướng tích cực trong lĩnh vực bạn muốn.

    Chúng ta đều biết suy nghĩ tiêu cực sẽ không đưa chúng ta đến đâu, nó sẽ khiến bạn tiêu cực hơn và chỉ để ý đến tình trạng hiện tại của bạn, nó đang rất tồi tệ.

    Và nếu bạn nghĩ rằng bạn khó thay đổi suy nghĩ của mình về tiền, bạn có thể không tập trung vào tiền nữa. Như vậy thì bạn sẽ không suy nghĩ tiêu cực về tiền nữa, và vũ trụ cũng sẽ đáp ứng yêu cầu của bạn.

    Do đó bạn có thể loại bỏ những quan niệm sai lầm về tiền và bắt đầu suy nghĩ tích cực, cảm nhận tích cực về những điều tuyệt diệu mà bạn có trong cuộc sống.

    Hãy đi ra ngoài, làm những việc bạn thích. Bạn không nhất thiết phải suy nghĩ liên tục về việc giàu có, kiếm tiền. Bạn có thể lơ là suy nghĩ đó, và khi đó tiền sẽ đến với bạn.

    Hãy tin tưởng rằng bạn có thể tạo ra tiền hoặc bất kỳ thứ gì bạn muốn, chỉ cần bạn đang có tâm trạng tốt, suy nghĩ tốt và cảm giác tốt.

     

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Thu Hút Tiền Bạc Và Sự Giàu Có Với Luật Hấp Dẫn
  • Sử Dụng Luật Hấp Dẫn Để Thu Hút Tiền Đến Với Bạn.
  • Gravitational Force: Vietnamese Translation, Definition, Meaning, Synonyms, Pronunciation, Transcription, Antonyms, Examples
  • Law Of Gravitation: Vietnamese Translation, Definition, Meaning, Synonyms, Pronunciation, Transcription, Antonyms, Examples
  • Cách Áp Dụng Luật Hấp Dẫn Trong Kinh Doanh Để Đạt Được Thành Công 2022
  • Áp Dụng Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giải Bài Tập Lipit (Chất Béo)
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Vật Lý 10 Học Kì 2 Có Đáp Án
  • Các Công Thức Hoá Học Lớp 11 Giúp Giải Nhanh Toán Hiđrocabon
  • Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng – Kipkis
  • Phương Pháp Bảo Toàn Nguyên Tố
  • Nội dung của định luật bảo toàn khối lượng

    Tổng khối lượng của các chất tham gia bằng tổng khối lượng của sản phẩm tạo thành

    Ví dụ:

    Xét phản ứng  : A + B→ C + D

    Ta có: mA + mB → mC + mD

    Hệ quả 1 : Gọi mt là tổng khối lượng các chất trước phản ứng, ms là tổng khối lượng các chất sau phản ứng. Dù cho phản ứng xảy ra vừa đủ hay có chất hay có chất dư, hiệu suất phản ứng nhỏ hơn 100% thì mt = ms

    Hệ quả 2 : Khi cation kết hợp với anion để tạp thành các hợp chất (như oxit, hidroxit, muối) thì ta luôn có :

    Khối lượng hợp chất = khối lượng cation + khối lượng anion

    Hệ quả 3 : Khi cation thay đổi anion tạo ra hợp chất mới, sự chênh lệch khối lượng giữa hai hợp chất bằng sự chênh lệch về khối lượng giữa các cation

    Hệ quả 4 : Tổng khối lượng của một nguyên tố trước phản ứng bằng tổng khối lượng của nguyên tố sau phản ứng

    Hệ quả 5 : Trong phản ứng khử oxit kim loại bằng CO, H2, Al.

    + Chất khử lấy oxi của oxit tạo ra CO2, H2O, Al2O3.  Tạ số mol CO, H2, Al tham gia phản ứng hoặc số mol CO2, H2O, Al2O3 tạo ra, ta tính được lượng oxi trong oxit (hay hỗn hợp oxit) và suy ra lượng kim loại (hay hỗn hợp kim loại)

    + Khi khử oxit kim loại, CO hoặc H2 lấy oxi ra khỏi oxit. Khi đó ta có :

    nO(trong oxit) = nCO = nCO2 = nH2O

    Ví dụ

    Hoà tan hoàn toàn 25,12 gam hỗn hợp 3 kim loại Mg, Al, Fe trong dung dịch HCl dư thu được 13,44 lít khí H2 (đktc) và m (gam) muối. Tính m?

    Bài giải:

    Nếu giải theo cách thông thường ta phải viết 3 phương trình phản ứng, gọi 3 ẩn là số mol của mỗi kim loại.  Tuy nhiên đề bài  chỉ cho 2 dữ kiện  là khối lượng của hỗn hợp và thể tích khí H2 sinh ra. Mặt khác đề bài yêu cầu tính tổng số gam muối thu được chứ không phải khối lượng của mỗi muối MgCl2, AlCl3, FeCl2 riêng biệt.

    Sử dụng định luật bảo toàn khối lượng

    nH2 =  =0,6 (mol) → nHCl = 2nH2 =2*0,6=1,2 (mol)

    Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:

    mKl + maxit = mmuối + mH2

    → mmuối = mKl + maxit – mH2 =25,12 +1,2*36,5 – 0,6*2 = 67,72 gam

    II. Bài tập vận dụng:

    Câu 1:

    Cho 24,4 gam hỗn hợp Na2CO3 và K2CO3 tác dụng vừa đủ với dung dịch BaCl2. Sau phản ứng thu được 39,4 gam kết tủa. Lọc tách kết tủa, cô cạn dung dịch thu được m gam muối clorua. m có giá trị là

    1. 2,66 gam          B. 22,6 gam

    C.26,6 gam     D. 6,26 gam

    Đáp án C

    Câu 2:

    Hoà tan hoàn toàn 10,14 gam hợp kim Cu, Mg, Al bằng dung dịch HCl dư thu được 7,84 lít khí A (đktc) và 1,54 gam chất rắn B và dung dịch C. Cô cạn dung dịch C thu được m gam muối. m có giá trị là

    A.33.45 gam                  B. 33,25 gam

    C. 32,99 gam                                   D. 35,58 gam

    Đáp án A

    Câu 3: Trộn 5,4 gam Al với 6,0 gam Fe2O3 rồi nung nóng để thực hiện phản ứng nhiệt nhôm. Sau phản ứng ta thu được m gam hỗn hợp chất rắn. Giá trị của m là

    A.2,24 gam       B. 9,40 gam

    C. 10,20 gam     D. 11,40 gam

    Đáp án C

    Câu 4:

    Thổi một luồng khí CO dư qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp gồm CuO, Fe2O3, FeO, Al2O3 nung nóng thu được 2,5 gam chất rắn. Toàn bộ khí thoát ra sục vào nước vôi trong dư thấy có 15 gam kết tủa trắng. Khối lượng của hỗn hợp oxit kim loại ban đầu là (biết các phản ứng xảy ra hoàn toàn)

    A.7,4 gam       B. 4,9 gam

    C.9,8 gm       D. 23 gam

    Đáp án B

    Câu 5: Chia 1,24 gam hỗn hợp hai kim loại có hoá trị không đổi thành 2 phần bằng nhau:

    –          Phần 1: bị oxi hoá hoàn toàn thu được 0,78 gam hỗn hợp oxit.

    –          Phần 2: tan hoàn toàn trong dung dịch H2SO4 loãng thu được V lít khí H2 (đktc). Cô cạn dung dịch thu được m gam muối khan.

    1. Giá trị của V là

    A.2,24 lít                B. 0,112 lít

    C.0,56 lít                 D.0,224 lít

    2. Giá trị của m là

    A.1,58 gam    B. 15,8 gam

    C.2,54 gam  D. 25,4 gam

    1. Đáp án D

    2. Đáp án A

    Câu 6:

    Khử hoàn toàn 32 gam hỗn hợp CuO và Fe2O3 bằng khí H2 dư thu được 9 gam H2O. Khối lượng kim loại thu được là

    A.12 gam                               B.16 gam

    C. 24 gam                               D. 26 gam

    Đáp án C

    Câu 7:

    Cho từ từ một luồng khí CO qua ống sứ đựng m gam hỗn hợp Fe và các oxit của Fe đun nóng thu được 64 gam Fe. Dẫn khí thu được sau phản ứng qua nước vôi trong có dư tạo 40 gam kết tủa . M có giá trị là

    A.70,4 gam                           B.60,4 gam

    C. 68,2 gam                            D. 70,2 gam

    Đáp án A

    Câu 8:

    Cho luồng khí CO dư đi qua ống sứ đựng hỗn hợp Fe3O4 và CuO đun nóng đến phản ứng

    hoàn toàn, thu được 2,32g hỗn hợp kim loại. Khí thoát ra cho đi vào bình đựng dung dịch

    Ca(OH)2 dư thấy tạo ra 5 gam kết tủa. Khối lượng hỗn hợp 2 oxit kim loại ban đầu là

    A. 3,12 gam                         B.3,92 gam                         C.3,22 gam                   D. 4,2 gam

    Đáp án A

    Câu 9:

    Cho 15 gam hỗn hợp X gồm Fe, Mg, Al tác dụng hoàn toàn với dung dịch HCl dư thu

    được 8,96 lít H2 ( đktc). Tính khối lượng muối thu được

    A. 40,4 gam               B. 60,3 gam         C. 54,4 gam                    D. 43,4 gam

    Đáp án D

    Câu 10:

    Trộn 2,7 gam Al với 15 gam hỗn hợp X gồm  Fe2O3 và FeO rồi nung nóng một thời gian

    để thực hiện phản ứng nhiệt nhôm. Sau phản ứng ta thu được m gam hỗn hợp chất rắn.

    Giá trị của m là

    A. 17,7 gam               B. 10 gam                   C. 16,7 gam                   D. 18,7 gam

    Đáp án A

    Câu 11:

    Nung 13,4 gam muối cacbonat của hai kim loại kiềm thổ sau phản ứng thu đươc 6,8 gam

    chất rắn và khí A. Hấp thu hoàn toàn khí A trên vào Ca(OH)2 dư thu được m gam kết tủa.

    Giá trị của m là

    A. 20 gam                 B. 15 gam                  C. 18 gam                     D. 17 gam

    Đáp án B

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Hóa Hữu Cơ: Áp Dụng Định Luật Bảo Toàn Khối Luợng Và Bảo Toàn Nguyên Tố
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Hóa 12 : Tổng Hợp Các Dạng Giải Bài Tập Kim Loại
  • Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Van Dong Cua Co The
  • Vài Giả Thuyết Về Sự Sống
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững
  • 1. Khái niệm áp dụng pháp luật

    Áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

    1) Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có thẩm quyền giải quyết;

    2) Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước;

    3) Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật; 4) Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền…

    2. So sánh sự khác nhau giữa áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật:

    Về khái niệm: Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền và tự do pháp lý của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép).

    Ví dụ: Người lao động ký hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động.

    Còn khái niệm áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.

    Ví dụ: Tòa án nhân dân huyện A ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa Ông X và Bà Y.

    – Phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm kể trên:

    Mọi chủ thể được pháp luật cho phép

    Phải có sự tham gia của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền

    Được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật

    – Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. Ví dụ: tranh chấp về quyền thừa kế, tranh chấp về hợp đồng,…

    – Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà đối với những chủ thể có hành vi vi phạm. Ví dụ: xử phạt người vi phạm luật an toàn giao thông, người có hành vi làm hàng giả,…

    – Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế. Ví dụ: công chứng hợp đồng mua bán nhà, toà tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết,…

    – Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh hoặc chấm dứt nếu không có sự can thiệp của nhà nước. Ví dụ: đăng ký kết hôn

    Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện, không mang tính chất bắt buộc

    Các quy phạm pháp luật thể hiện quyền và tự do pháp lý của chủ thể

    Văn bản áp dụng pháp luật

    3. Phân tích sự khác biệt của khái niệm giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật

    Dựa trên những đặc điểm đã phân tích kể trên có thể đưa ra một số nhận định về khái niệm giải thích pháp luật như sau:

    3.1. Khái niệm giải thích pháp luật

    Pháp luật muốn được thực thi cần được nhận thức đầy đủ và chính xác. Do đó mục đích của giải thích pháp luật là làm sáng tỏ về mặt nội dung, quy trình thủ tục pháp lý để quá trình thực hiện pháp luật được thống nhất, đúng đắn và hợp pháp.hơn nữa do hệ thống các loại văn bản quy phạm pháp luật là rất nhiều nên khả năng thiếu thống nhất nhận thức về các quy định pháp luật là khó tránh khỏi.

    3.2. Chủ thể giải thích pháp luật

    Việc xác định chủ thể giải thích pháp luật phụ thuộc vào các hình thức giải thích pháp luật.

    + Với hình thức giải thích pháp luật chính thức: chỉ có cơ quan Nhà nước hoặc… có quyền hoặc được trao quyền mới được tiến hành hoạt động này. Về nguyên tắc, chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có quyền giải thích văn bản do chính mình ban hành ra. Thực tế, có chủ thể ủy quyền cho người khác giải thích.

    + Với hình thức giải thích pháp luật không chính thức: bất kì chủ thể nào cũng có thể thực hiện nhưng phải có sự hiểu biết pháp luật sâu sắc và có trình độ nhất định.

    3.3. Hình thức giải thích pháp luật

    Phụ thuộc vào nhiều yếu tổ như chủ thể, nội dung và yêu cầu của từng vấn đề đặt ra dựa vào phương thức thể hiện: giải thích bằng lời nói(văn nói) và văn bản (văn viết) dựa vào chủ thể tiến hành và giá trị văn bản giải thích: chính thức và không chính thức.

    3.1. Giải thích chính thức: là hoạt độg của các chủ thể nhân danh Nhà nước để làm sáng tỏ về nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật hoặc một sự kiện pháp lý cụ thể nhằm đảo bảo cho quá trình nhận thức, thực thi pháp luật thống nhất và hiệu quả. Việc được pháp luật quy định và sự đảm bảo của Nhà nước làm cho loại giải thích này mang tính bắt buộc và hiệu lực pháp lý

    + Do các cơ quan Nhà nước hoặc…tiến hành. Về nguyên tắc (như trên) . Về hình thức, giải thích chính thức có thể là giải thích mang tính quy phạm hoặc tính cá biệt cụ thể.

    – Tính quy phạm: hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc cá nhân được trao quyền là ban hành ra một văn bản luật nhằm hướng dẫn, giải thích cho một văn bản quy phạm pháp luật khác.

    – Tính cá biệt: chúng tôi quyền là làm sáng tỏ một nội dung, sự kiện pháp lý nào đó thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ thể đó.

    + Trình tự thủ tục giải thích chính thức do pháp luật quy định. Đây là hoạt động nhân danh Nhà nước, có tính pháp lý.

    + Kết quả việc giải thích có hiệu lực và giá trị pháp lý.

    3.2. Giải thích không chính thức: là hoạt động không nhân danh Nhà nước, được tiến hành bởi bất kì cá nhân, tổ chức nào và vì những mục đích khác nhau. Đặc điểm cơ bản:

    + Được tiến hành bởi bất kì loại chủ thể nào è thực hiện một phần quyền tự do ngôn luận của các chủ thể được pháp luật ghi nhận và đảm bảo. Về ND, không mang tính quy phạm. Trên thực tế, không có sự đồng nhất giữa các chủ thể.

    + Hoàn toàn không nhân danh Nhà nước: không mag tính bắt buộc, không hàm chứa quyền lực Nhà nước.

    + Hoạt động này và kết quả của nó hoàn toàn không có hiệu lực pháp lý bắt buộc.

    3.4. Phương pháp giải thích pháp luật

    – Phương pháp lôgíc: đặc trưng là xem xét mối liên hệ, sự tương tác, kết cấu về nội dung của các vấn đề thuộc đối tượng giải thích, nhằm chỉ ra những mâu thuẫn, sự phủ định lẫn nhau hoặc khẳng định về tính hợp lý về các vấn đề đó.

    – Phương pháp giải thích chính trị lịch sử: nhằm làm sáng tỏ điều kiện, hoàn cảnh lịch sử thực tế mà các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hoặc một sự kiện pháp lý đã xuất hiện.

    – Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm: để giải thích về các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật.

    – Phương pháp giải thích, so sánh, đối chiếu: nhằm kiến giải về mức độ tương đồng, khác biệt đối với quy định pháp luật hoặc các cách điều chỉnh, giải quyết các vấn đề pháp lý thực tiễn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau.

    – Phương pháp giải thích hệ thống: làm sáng tỏ nội dung, nhiệm vụ của quy phạm đó trong mối tương quan với quy phạm khác của quá trình điều chỉnh pháp luật.

    3.5. Nguyên tắc của giải thích pháp luật

    Nguyên tắc khách quan trung thực: giải thích pháp luật không là hoạt động lập pháp mà nó hỗ trợ cho quá trình lập pháp để các văn bản quy phạm pháp luật được có hiệu lực trên thực tế. Việc giải thích phải xuất phát từ yêu cầu chung; cần tôn trọng nội dung của các quy phạm pháp luật hoặc các sự kiện cá biệt với tính cách là đối tượng cần giải thích.

    Nguyên tắc pháp chế: tôn trọng tính tối cao của hiến pháp về mặt nội dung, hình thức đối với các văn bản quy phạm pháp luật được giải thích và các văn bản giải thích. Cần đảm bảo sự tương thích giữa quy định của hiến pháp với văn bản được giải thích và văn bản giải thích. Điều này đòi hỏi việc đảm bảo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và yêu cầu về hình thức là hết sức quan trọng đòi hỏi cả việc từ chối không giải thích khi có yêu cầu cũng phải đưa ra cơ sở pháp lý của việc từ chối đó và trả lời cụ thể bằng văn bản.

    4. Phân tích việc áp dụng pháp luật đối với bộ luật dân sự

    Với tính chất là một đạo luật quan trọng, Bộ luật dân sự năm 2022 đã xác định một cách nhất quán tư tưởng chỉ đạo của các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 và khẳng định: “Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự”. Với nguyên tắc này, BLDS sẽ điều chỉnh toàn bộ các quan hệ tài sản giữa các chủ thể trong xã hội mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi vật chất, trong đó các chủ thể tham gia bình đẳng về mặt pháp lý, tự chịu trách nhiệm về tài sản.

    Đối với các quan hệ có cùng bản chất pháp lý, luật chuyên ngành có thể khác với BLDS do đặc thù của quan hệ chuyên ngành nhưng không được trái với các nguyên tắc chung của luật dân sự. Một số quy định của BLDS như quy định về tư cách pháp nhân, về sở hữu chung hợp nhất, sở hữu chung theo phần, những quy định mang tính xác định một khái niệm pháp lý… có ý nghĩa, giá trị pháp lý chung cho toàn bộ hệ thống pháp luật. Không thể có pháp nhân riêng cho luật dân sự, riêng cho luật thương mại, luật hợp tác xã, mặc dù các loại hình công ty và hợp tác xã có quy chế riêng về việc thành lập, hoạt động, giải thể. Đối với một tài sản nào đó, nếu chủ sở hữu trực tiếp chiếm hữu, sử dụng thì sẽ phải tuân theo quy định của chế định tài sản vật quyền. Tuy nhiên, nếu tài sản đó đưa vào quá trình giao lưu dân sự, kinh tế thông qua hợp đồng vay, cho thuê, đầu tư kinh doanh như lập công ty… thì phải áp dụng theo các quy định của các loại hợp đồng, giao dịch tương ứng, theo quy chế trái quyền. Việc điều chỉnh các quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể phải tuân thủ nguyên tắc không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 3 của BLDS.

    5. Phân tích một số sai sót trong áp dụng pháp luật hành chính

    Một số sai sót thường gặp khi áp dụng pháp luật nội dung trong việc giải quyết án hành chính:

    Áp dụng pháp luật nội dung trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là một quá trình phức tạp của Tòa án (mà cụ thể là của Hội đồng xét xử). Để có thể có được bản án hành chính đúng pháp luật, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án thì quá trình áp dụng pháp luật nội dung vào giải quyết vụ án hành chính cần tuân thủ triệt để và chính xác theo các bước (giai đoạn) sau:

    – Phân tích, đánh giá các tình tiết, các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan, chính xác và trong mối liên hệ mật thiết với nhau;

    – Lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng;

    – Ban hành bản án, quyết định hành chính.

    Thực tế xét xử thời gian qua cho thấy, có những vụ án hành chính do Thẩm phán xem xét, đánh giá chứng cứ không đầy đủ, khách quan, toàn diện nên có trường hợp có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý; ngược lại có trường hợp không có hoặc chưa có đủ căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án lại đánh giá có đủ căn cứ pháp lý.

    – Ví dụ 1 (về trường hợp có căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính nhưng Tòa án đánh giá không có căn cứ pháp lý):

    Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8 (theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ), có diện tích 1.225m2 tại xã DN, huyện DX, tỉnh QN (theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ là thửa số 455, tờ bản đồ số 6) là đất thổ cư có nguồn gốc của gia đình ông Phạm Ngọc H quản lý, sử dụng từ trước năm 1975. Cuối năm 1986, gia đình ông H chuyển sang thị xã HA sinh sống, nhưng vẫn thường xuyên về chăm sóc cây và trồng mới một số loại cây trên thửa đất này.

    Bà Phạm Thị T là chủ hộ và cùng con là ông Phạm Văn B có nhà ở ổn định từ năm 1975 đến nay tại thửa đất số 84, tờ bản đồ số 8, xã DN có diện tích 1.515m2 đất thổ cư (theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ). Thời điểm thực hiện kê khai, đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ, thửa đất số 84 này của gia đình bà T là thửa đất số 456, tờ bản đồ số 6, xã DN. Năm 1994-1995, thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, bà T kê khai diện tích 1.225m2 đất T thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8, xã DN (nguyên là thửa đất của gia đình ông H sử dụng nêu trên), còn ông Phạm Văn B (con trai bà T và cùng chung hộ khẩu với bà T) kê khai và đăng ký quyền sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.515m2 đất thổ cư (thửa đất của bà T nêu trên). Ngày 10/8/1995, Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 cho hộ bà T diện tích 1.617m2 đất, trong đó có 1.225m2 đất T thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8 và 392m2 đất lúa màu thuộc thửa 83, tờ bản đồ số 8, xã DN.

    Ngày 26/12/2006, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1827/QĐ-UBND thu hồi của hộ bà T 1.225m2 đất ở thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 8. Lý do thu hồi: Do giao quyền sử dụng đất sai đối tượng sử dụng tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 ngày 10/8/1995. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1828/QĐ-UBND công nhận quyền sử dụng 1.225m2 đất trên cho ông H và ngày 03/01/2007, Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 977327 cho hộ ông H.

    Ngày 19/5/2008, bà Phạm Thị T có đơn khiếu nại.

    Ngày 16/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2372/QĐ-UBND về việc hủy Quyết định số 1827/QĐ-UBND ngày 26/12/2006, điều chỉnh cho hộ bà T được sử dụng thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN.

    Ngày 16/01/2009, ông H khiếu nại việc Ủy ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.225m2 cho hộ bà T.

    Ngày 13/10/2009, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2233/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông H, có nội dung: việc cấp 1.225m2 đất cho hộ bà T là không đúng đối tượng, không đúng nguồn gốc; việc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H là chưa có đủ cơ sở.

    Ngày 10/11/2009, ông Phạm Ngọc H có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân huyện DX xem xét lại Quyết định số 2233/QĐ-UBND ngày 13/10/2009 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện DX.

    Ngày 01/12/2009, Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G695365 ngày 10/8/1995 của hộ bà T vì cấp không đúng đối tượng đối với diện tích 1.225m2; giao diện tích đất nêu trên cho Uỷ ban nhân dân xã DN quản lý, sử dụng.

    Ông B (con trai bà T) có đơn khiếu nại, sau đó khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện DX yêu cầu xử hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của Uỷ ban nhân dân huyện DX.

    Ngày 04/6/2010, Uỷ ban nhân dân huyện DX ban hành Quyết định số 1123/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 2936/QĐ-UBND, có nội dung: hủy bỏ điểm 2 Điều 1 quyết định số 2936/QĐ-UBND (có nội dung “giao diện tích đất nêu trên cho UBND xã DN quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật”) vì Uỷ ban nhân dân huyện DX chưa thu hồi diện tích 1.225m2 nên việc giao diện tích đất nêu trên cho Uỷ ban nhân dân xã DN quản lý, sử dụng là không đúng trình tự quy định của pháp luật; các nội dung khác của quyết định 2936/QĐ-UBND vẫn có hiệu lực pháp luật.

    Tại Bản án hành chính sơ thẩm, Toà án nhân dân huyện DX, tỉnh QN quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn B.

    Ông Phạm Văn B có đơn kháng cáo.

    Tại Bản án hành chính phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh QN quyết định: Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn B, xử sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND huyện DX.

    Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND huyện DX vì đã xem xét, đánh giá chứng cứ không đúng về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các đương sự, cụ thể:

    Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích 1.225m2 đất thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX, tỉnh QN: ông B và ông H đều có lời khai thống nhất là đất có nguồn gốc của cha mẹ ông H quản lý, sử dụng từ trước năm 1975, sau đó gia đình ông H tiếp tục sử dụng. Đến năm 1986, do hoàn cảnh công tác phải chuyển về thị xã HA nên ông H đã nhờ bà T trông coi hộ (có sự chứng kiến của nhiều người). Tại ”Đơn xin chuyển giao quyền sử dụng đất” do bà T lập ngày 22/10/2006, bà T cũng thừa nhận bà chỉ là người trông coi, quản lý và đứng tên đăng ký thửa đất hộ cho vợ chồng ông H, đồng thời bà T cũng cam kết không tranh chấp gì về thửa đất này.

    Mặt khác, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện rằng trong thời gian đi vắng, gia đình ông H vẫn thường xuyên về chăm sóc, khai thác và trồng cây, hiện trên đất vẫn còn cây lâu năm do gia đình ông H trồng. Như vậy, gia đình ông H là người sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX liên tục, ổn định từ năm 1975 đến nay. Tuy nhiên, tại thời điểm Nhà nước có chủ trương tiến hành kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, do ở xa và không được thông báo nên hộ ông H đã không tiến hành kê khai diện tích đất nêu trên mà hộ bà T kê khai và được Uỷ ban nhân dân huyện DX cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/8/1995.

    Theo quy định tại Điều 99 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất’.

    Theo quy định nêu trên thì gia đình bà T không phải là người sử dụng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX liên tục, ổn định tại thời điểm được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Do vậy, trong quá trình quản lý kê khai, đăng ký sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân xã DN xác nhận bà T là đối tượng đang sử dụng đất để Uỷ ban nhân dân huyện DX cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 1.225m2 đất thửa số 77, tờ bản đồ số 8, xã DN, huyện DX, là không đúng nguồn gốc và đối tượng sử dụng đất. Tại Báo cáo số 52/BC-UBND ngày 16/6/2009 gửi Uỷ ban nhân dân huyện DX, Uỷ ban nhân dân xã DN đã xác nhận điều này. Do đó, Uỷ ban nhân dân huyện DX đã ban hành Quyết định số 2936/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 (được sửa đổi bằng Quyết định số 1123/QĐ-UBND ngày 04/6/2010) có nội dung thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà T là đúng pháp luật.

    Thực tiễn giải quyết vụ án hành chính cho thấy, bản án của Tòa án không đúng pháp luật nội dung có thể xuất phát từ việc áp dụng sai lầm pháp luật, có thể do việc không chú ý tới văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan có thẩm quyền; hoặc có thể do cách hiểu máy móc, không đúng của Thẩm phán đối với các văn bản pháp luật nội dung.

    – Việc không xác định đầy đủ và chính xác các văn bản pháp luật hoặc văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất làm cơ sở giải quyết vụ án hành chính là nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng sai lầm pháp luật khi giải quyết vụ án hành chính.

    Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nhiều Thẩm phán không chú ý trong việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện; khi tuyên án và ra bản án có nhiều sai sót trong phần quyết định của bản án mà trong nhiều trường hợp phải kháng nghị và giải quyết lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

    Ví dụ: Do có sự tranh chấp quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân huyện T đã ra Quyết định số 758/QĐ-UB thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, H, N. Ông P và ông N có đơn khiếu nại quyết định trên. Uỷ ban nhân dân huyện T đã có các quyết định giải khiếu nại của ông P và ông N.

    Ông P và ông N đều có đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu Toà án huỷ với Quyết định số 758/QĐ-UB.

    Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý 02 vụ án hành chính đối với đơn khởi kiện của ông P và ông N.

    Đối với trường hợp khởi kiện của ông P: Tại bản án hành chính sơ thẩm số 07, Toà án cấp sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện; giữ nguyên Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T.

    Đối với trường hợp khởi kiện của ông N: tại bản án hành chính sơ thẩm số 08, Toà án cấp sơ thẩm quyết định bác đơn khởi kiện; giữ nguyên Quyết định số 758/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân huyện T.

    Tuy nhiên, sau khi ông H khiếu nại, Uỷ ban nhân dân huyện T thấy rằng việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H là không đúng pháp luật, nên muốn hủy bỏ một phần của Quyết định số 758/QĐ-UB; nhưng do các bản án hành chính sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, nên Uỷ ban nhân dân huyện T phải khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm.

    Mọi vướng mắc pháp lý của người dân, tổ chức, doanh nghiệp vui lòng trao đổi trực tiếp với luật sư của qua tổng đài tư vấn: 1900.6162 để được luật sư giải đáp mọi vướng mắc pháp lý.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lí Thuyết Về Phản Ứng Oxi Hoá
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng (Oop) Trong Java
  • Lập Trình Hướng Đối Tượng Là Gì?
  • Top 10 Khái Niệm Trong Oop Với C#.net
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng Oop Trong Java
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Áp Dụng Pháp Luật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm, Qui Trình Áp Dụng Pháp Luật Trong Ksđt Các Vụ Án Hình Sự Của Vksnd
  • Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Phát Triển Đất Nước
  • Thực Trạng Xây Dựng Pháp Luật Kinh Tế Và Những Vấn Đề Đặt Ra Trong Quá Trình Hoàn Thiện
  • Pháp Luật Thương Mại Điện Tử Và Thực Trạng Thực Thi Ở Việt Nam
  • Mở Rộng Khái Niệm “Tham Nhũng” Nhằm Hoàn Thiện Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Kinh Doanh
  • Áp dụng pháp luật là gì? Phân tích khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật. Cho ví dụ?

    1 – Áp dụng pháp luật là gì?

    Áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.

    2 – Đặc điểm của áp dụng pháp luật

    a – Áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính tổ chức, quyền lực nhà nước, bởi vì:

    – Hoạt động áp dụng chỉ do các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó chỉ có thể áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.

    Ví dụ: Ở nước ta chỉ có Ủy ban nhân dân mới có thể xem xét để cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho một cặp nam nữ ở địa phương khi họ yêu cầu, chỉ có Tòa án nhân dân mới có thể áp dụng pháp luật trong xét xử để định tội và định hình phạt cho người phạm tội…

    – Hoạt động áp dụng pháp luật là sự tiếp tục thể hiện ý chí của nhà nước, thông qua hoạt động áp dụng pháp luật, ý chí nhà nước thể hiện trong các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong thực tế, đuợc thể hiện một cách cụ thể trong các trường hợp cụ thể.

    Ví dụ: Thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho một cặp nam nữ cụ thể, ý chí của Nhà nước trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình mới trở thành hiện thực trong thực tế.

    – Khi áp dụng pháp luật, trên cơ sở các quy định của pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể ban hành những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với đối tượng áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định này chủ yếu thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước sẽ được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước.

    Ví dụ: Khi xem xét hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một cá nhân, tổ chức nào đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai và các nghị định hướng dẫn thi hành để ra quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân tổ chức đó. Quyết định này thể hiện ý chí đơn phương của Ủy ban nhân dân mà không phụ thuộc vào ý chí của cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ xin cấp.

    – Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức chủ thể có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật, do vậy, hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định.

    Ví dụ: Hoạt động xem xét để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất của Ủy ban nhân dân vừa là hình thức thực hiện pháp luật của Ủy ban nhân dân, vừa là hình thức Ủy ban nhân dân tổ chức cho người sử dụng đất thực hiện pháp luật, do vậy, hoạt động này phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do Luật Đất đai quy định.

    b – Áp dụng pháp luật là hoạt động cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể

    Vì thế, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội.

    Ví dụ: Hoạt động áp dụng pháp luật của Cảnh sát giao thông khi xử lý một người vi phạm pháp luật giao thông cụ thể là sự cá biệt hóa các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vào trường hợp cụ thể của người vi phạm đó.

    c – Áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện tính sáng tạo

    Bởi vì, các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế vô cùng đa dạng, phong phú và phức tạp. Do vậy, muốn đưa ra được một quyết định “thấu tình, đạt lý” để giải quyết vụ việc thì cần có sự sáng tạo của người áp dụng.

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Nguyên Tắc Khi Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Trường Đại Học Luật Hà Nội: Học Về Kĩ Năng Tư Vấn Pháp Luật Bằng Lời Nói
  • Phân Tích Các Hình Thức Thực Hiện Pháp Luật?
  • Một Số Kinh Nghiệm Pháp Luật Của Cộng Hòa Pháp Liên Quan Đến Cấu Trúc Bộ Luật Dân Sự, Tài Sản Và Sở Hữu
  • Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Pháp Luật Dân Sự
  • Muốn Sống Hạnh Phúc: Áp Dụng “định Luật Festinger”

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng Ngay “định Luật Festinger”
  • Tại Sao Bạn Luôn Cảm Thấy Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger”!
  • Nguyên Lý Và Định Luật Faraday Về Cảm Ứng Điện Từ
  • Công Thức Và Định Luật Faraday Về Cảm Ứng Điện Từ ⚡️
  • MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC: ÁP DỤNG “ĐỊNH LUẬT FESTINGER”

    Leon Festinger, nhà tâm lý học xã hội học người Mỹ, đã đưa ra một nhận định rất nổi tiếng gọi là “Định luật Festinger”. Theo đó, 10% cuộc sống con người do những việc ngoại lai tác động, và 90% còn lại do thái độ, phản ứng của chính con người với những việc xảy ra. Nói cách khác, chỉ 10% sự việc xảy ra trong đời là không kiểm soát được, nhưng 90% còn lại đều phụ thuộc vào chính bản thân. Và những cảm xúc tồi tệ, tâm trạng phẫn nộ sẽ không ngừng luân chuyển qua lại.

    Leon Festinger đã đưa ra ví dụ như sau:

    1. Một buổi sáng, sau khi thức dậy, Festinger đi rửa mặt và tiện tay tháo chiếc đồng hồ đắt tiền của mình để cạnh bồn rửa mặt, vợ anh sợ đồng hồ bị nước làm ướt nên đem đặt nó lên bàn ăn. Con trai anh tỉnh dậy, lúc tới bàn ăn lấy bánh mì, không cẩn thận đã làm chiếc đồng hồ rơi xuống đất và hỏng mất.

    Festinger vô cùng yêu thích chiếc đồng hồ, liền đánh con trai một trận thật đau, sau đó tức giận hằm hằm mắng vợ một hồi. Vợ anh cảm thấy vô lý, nói với anh rằng vì sợ nước làm ướt đồng hồ nên mới làm như vậy, Festinger nói đó là chiếc đồng hồ không thấm nước. Thế là hai người cãi nhau kịch liệt.

    Quá tức giận, Festinger đã không thèm ăn bữa sáng, lái xe tới công ty luôn, nhưng lúc sắp tới công ty thì đột nhiên nhớ ra mình quên mang cặp, lại lập tức trở về nhà. Nhưng trong nhà lại chẳng có ai, vợ thì đi làm, con thì đi học, Festinger lại để chìa khóa ở trong cặp, không có cách nào vào nhà, anh đành phải gọi điện cho vợ để lấy chìa khóa.

    Trong lúc người vợ vội vã chạy về nhà đã đâm vào một sạp hoa quả ven đường, chủ sạp không cho cô đi, bắt cô phải bồi thường, cô buộc lòng phải bồi thường một khoản tiền mới được đi.

    Sau khi lấy được cặp, Festinger đã đi trễ 15 phút, bị cấp trên gay gắt phê bình, tâm trạng lúc này đã vô cùng tồi tệ. Trước khi tan làm, vì một việc nhỏ mà anh lại cãi nhau với đồng nghiệp một trận nữa.

    Người vợ cũng bởi vì phải về nhà đưa chìa khóa cho chồng mà mất giải thưởng chuyên cần cả tháng. Hôm nay con trai tham gia thi đấu bóng chày, vốn dĩ cậu bé hy vọng sẽ đoạt giải quán quân, không ngờ vì tâm trạng không tốt, không phát huy được khả năng, bị loại ngay từ vòng một.

    Trong câu chuyện được lấy làm ví dụ này, chiếc đồng hồ bị vỡ là 10% chúng ta không thể kiểm soát trong cuộc sống, còn một loạt những việc xảy ra sau đó chính 90% còn lại. Chính là bởi vì mọi người trong câu chuyện đều không kiểm soát được 90% đó, mới dẫn tới việc biến ngày hôm đó trở thành “ngày rắc rối”.

    Hãy thử nghĩ, sau khi 10% kia xảy ra, giả sử Festinger không làm như những gì mình đã làm, đổi một thái độ khác. Ví dụ, anh tới an ủi con trai: “Đừng quá lo lắng con trai, đồng hồ vỡ rồi cũng không sao, bố mang đi sửa là được”. Nếu làm như vậy con trai sẽ vui vẻ, vợ cũng thoải mái, chính bản thân anh ấy cũng không phiền muộn, vậy thì tất cả những vấn đề sau đó sẽ không xảy ra rồi.

    Có thể thấy, bạn không thể khống chế được 10% trước đó, nhưng hoàn toàn có thể dùng thái độ và hành vi của mình để quyết định 90% sự việc phía sau.

    Trong thực tế cuộc sống, chúng ta thường nghe những lời ca thán như: Tại sao tôi lại kém may mắn như vậy, ngày nào cũng gặp phải những chuyện đen đủi, làm thế nào để tâm trạng tôi tốt hơn một chút, ai có thể giúp tôi đây?

    Đây chính là vấn đề về tâm lý của mỗi cá nhân. Thực ra không ai có thể giúp bạn ngoài chính bản thân bạn. Nếu như mọi người có thể hiểu và vận dụng thuần thục “Định luật Festinger” trong cách giải quyết, mọi chuyện sẽ được xử lý một cách thỏa đáng.

    – Hãy đồng cảm, ngưng phàn nàn sẽ giúp bạn tìm thấy hạnh phúc

    2. Một nhà văn trong chuyến công tác của mình, tình cờ đã nhìn thấy một chiếc taxi rất đặc biệt. Người tài xế taxi ăn mặc rất lịch thiệp, xe cũng rất sạch sẽ.

    Nhà văn vừa mới ngồi xuống, liền nhận được một tấm thẻ vô cùng tinh xảo từ người tài xế, trên tấm thiệp viết: “Hành khách của tôi sẽ được đưa tới địa điểm một cách nhanh nhất, an toàn nhất, tiết kiệm nhất bằng một sự thân thiện nhất.”

    Đọc xong tấm thiệp, nhà văn cảm thấy thú vị, bèn bắt chuyện với người tài xế.

    Người tài xế nói: “Xin hỏi, ngài có muốn uống gì không?” Nhà văn ngạc nhiên: “Không lẽ đi xe khách hàng còn được phục vụ đồ uống sao?”

    Người tài xế cười nói: “Đúng vậy, tôi không chỉ có cà phê, còn có nhiều loại đồ uống khác, hơn nữa còn có nhiều loại báo khác nhau”. Nhà văn nói: “Vậy tôi có thể uống một ly cà phê nóng được không?” Người tài xế ung dung rót cho nhà văn một tách cà phê nóng từ chiếc ly giữ nhiệt bên cạnh. Sau đó lại đưa cho nhà văn một tấm thẻ, trên thẻ là tên của các loại báo khác nhau và các danh sách chương trình của các đài phát thanh khác nhau, “Times”, “Sports News”, “Today USA”… thực sự rất đầy đủ.

    Nhà văn không xem báo, cũng không nghe nhạc. Mà ngồi nói chuyện cùng với người tài xế. Trong khoảng thời gian đó, người tài xế quan tâm hỏi han nhà văn, nhiệt độ trong xe đã thích hợp hay chưa, có một con đường gần điểm đến hơn, nhà văn có muốn đi hay không. Nhà văn cảm thấy vô cùng ấm áp, thoải mái.

    Người tài xế nọ nói với nhà văn: “Thực ra, lúc mới bắt đầu công việc này, xe của tôi không có sự phục vụ toàn diện như vậy. Tôi giống những người khác, thích phàn nàn, thời tiết xấu, thu nhập ít ỏi, ùn tắc giao thông và đường phố lộn xộn, mỗi ngày đều trôi qua rất tồi tệ. Cho tới một ngày, tôi ngẫu nhiên nghe được một câu chuyện trên đài phát thanh, làm thay đổi suy nghĩ của tôi. Chương trình radio đó đã mời tới tiến sĩ Wayne Dyer – bậc thầy truyền cảm hứng, để ông giới thiệu về cuốn sách mới của mình.

    Cuốn sách tập trung giải thích một quan điểm: Ngừng phàn nàn và ngừng ca thán mỗi ngày, làm như vậy sẽ khiến cho bất kỳ ai cũng đều có thể đạt được thành công. Ông ấy đã thức tỉnh tôi, cuộc sống tồi tệ trước đây của tôi thực chất chính do sự phàn nàn không ngừng của tôi tạo thành. Chính vì vậy tôi đã quyết định thay đổi.

    Năm đầu tiên, tôi chỉ đơn giản mỉm cười với tất cả những hành khách tới với mình, thu nhập của tôi liền tăng gấp đôi.

    Năm thứ hai, tôi dùng sự chân thành bày tỏ quan tâm tới vui, buồn, giận dữ của mỗi một hành khách, đồng thời an ủi họ, thu nhập của tôi lại tăng lên gấp đôi.

    Năm thứ ba, cũng chính là năm nay, tôi đã biến chiếc taxi của tôi trở thành chiếc taxi năm sao hiếm có ở Mỹ. Ngoài thu nhập được nâng cao, tôi còn trở nên nổi tiếng, bây giờ nếu muốn đi xe của tôi, khách đều phải gọi điện đặt trước. Còn ngài là một khách hàng tôi thuận đường chở.”

    Những điều người tài xế nói khiến cho nhà văn cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Nhà văn không ngừng tự suy ngẫm về bản thân mình, thực ra trong cuộc sống thường ngày, chúng ta vẫn thường xuyên ca thán, phàn nàn. Ông quyết định sẽ thay đổi chính mình, ông dựa trên câu chuyện của người tài xế viết thành một cuốn sách. Sau đó có độc giả sau khi đọc xong đã thử làm theo, cuộc sống thực sự đã thay đổi. Sự thay đổi này khiến cho nhà văn hiểu được việc ngừng phàn nàn, ca thán có sức mạnh lớn như thế nào.

    Chỉ cần mong muốn vượt qua khốn cảnh, thay đổi thái độ than thở, phàn nàn mà tích cực, chủ động làm những việc bạn nên làm bây giờ, như vậy nhất định sẽ gạt bỏ được khó khăn, tiếp tục theo đuổi những mục tiêu tiếp theo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger”
  • Ronaldo Theo Định Luật Euclid Còn Messi Theo Trường Phái Einstein
  • Vì Sao E = Mc2?
  • Các Định Luật Của Newton Về Chuyển Động Là Gì 83
  • Lược Sử Về Thuyết Tương Đối Của Einstein
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100