# Trong Triết Học Tiền Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá?
  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Năng Động, Sáng Tạo Là Gì? Làm Gì Để Năng Động Sáng Tạo
  • Bình Luận Về Các Khái Niệm
  • Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học
  • Theo kinh tế học “Tiền là tiền khi chỉ xét chức năng là phương tiện thanh toán, là tiền tệ được pháp luật quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia, nền kinh tế”. Theo định nghĩa này, tiền cũng có thể được gọi là tiền lưu hành. Triết học Mác – Lênin, trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử và bản chất tiền tệ của chúng tôi đã xác định: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt tách ra từ trong thế giới hàng hoá như một vật ngang giá chung thống nhất. đối với các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và thể hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.

    1. Tiền tệ theo quan điểm Mác – Lênin bao gồm 5 chức năng sau:

    Chức năng đo giá trị: Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu thị bằng số lượng

    tiền nhất định. Tiền tệ có thể đóng vai trò là thước đo giá trị vì bản thân nó đã là hàng hóa.

    có giá trị như bất kỳ hàng hóa nào khác.

    Khái niệm, chức năng và sự phát triển của tiền

    1/3

    Chức năng lưu thông xe Một chức năng tiền tệ khác. Tại thời điểm này, tiền làm

    là hàng đổi hàng và bằng tiền mặt.

    Chức năng phương tiện: Thực hiện chức năng này, tiền rút khỏi lưu thông và hầu hết

    phải có đủ giá trị. Chỉ tiền, vàng, tiền, thỏi, bạc và châu báu

    Vàng và bạc có thể làm chức năng này.

    Chức năng phương tiện thanh toán: Khi tiền được dùng để trả nợ, để trao đổi

    hàng hóa … là khi tiền thực hiện chức năng này.

    Chức năng tiền tệ quốc tế: Tiền không chỉ được sử dụng trong một quốc gia mà còn

    Nó cũng có thể được sử dụng bên ngoài quốc gia, khi tiền thực hiện chức năng tiền tệ

    thế giới.

    Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền có ba chức năng tiêu biểu:

    Chức năng trao đổi phương tiện, phương tiện đo lường và chức năng phương tiện tính toán

    chức năng tích lũy phương tiện.

    Chức năng trao đổi phương tiện: Tiền là vật ngang giá chung, là vật trung gian cho các vật

    Việc trao đổi hàng hóa giữa người này với người khác trở nên thuận tiện hơn. Phương tiện được trao

    Tiền tệ là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Nếu không có chức năng này, tiền tệ sẽ

    không còn nữa.

    Chức năng của phương tiện đo và tính giá trị: Đo lường giá trị của hàng hóa và dịch vụ

    Với tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng một chiếc cân và đo khoảng cách bằng mét.

    Tiền tệ là thước đo phổ biến được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội. Cảm ơn

    chức năng kiếm tiền ngày càng phổ biến này trong sự phát triển của đo lường

    của xã hội, đo lường mức sống của người dân … Nó đã tạo ra một nền kinh tế thực

    tiền tệ.

    Chức năng xe tích lũy: Tích lũy là cơ sở để tái sản xuất và mở rộng sản xuất

    vì vậy nó cũng là cơ sở của sự phát triển kinh tế. Tiền có chức năng này như nó vốn có

    phương tiện trao đổi, là tài sản có tính thanh khoản cao nhất.

    2. Quá trình phát triển tiền tệ

    Khi nền kinh tế còn sơ khai, lúc đó chưa có ngân hàng thì tiền dùng để trao đổi là

    Hiện vật (tiền hàng hóa) là tiền được tạo ra từ các hình thức vật chất mà bản thân nó

    nó có sẵn để sử dụng, nó không được xuất bản bởi bất kỳ tổ chức nào. Là nền sản xuất

    và trao đổi hàng hóa đang phát triển từng ngày, nhân loại đã tìm thấy và khai thác kim

    Loại hàng hóa thể hiện nhiều nhược điểm của hàng hóa khi kim loại được chọn

    mệnh giá thông dụng với các ưu điểm như: bền, gọn nhẹ, mệnh giá bình dân. Cho thuận tiện

    Đối với việc lưu thông tiền xu, ngân hàng có quy định thống nhất về việc đúc tiền như để kích cầu

    Khái niệm, chức năng và sự phát triển của tiền

    2/3

    thước, hình dạng, trọng lượng cho mỗi loại tiền tệ, đặt tên tiền xu, quy ước

    một phần của đồng xu. Tiền kim loại do nhà nước và cá nhân đúc, nhưng bình đẳng

    phải được nhà nước quản lý, đánh dấu sự ra đời của doanh nghiệp phát hành tiền.

    Nhờ số tiền này, kinh tế đi vào ổn định hơn, cũng trên cơ sở đó, nhà

    Các quốc gia thời đó không chỉ phát hành tiền kim loại mà còn phát hành tiền giấy.

    Như vậy, thời kỳ này đã xuất hiện tiền kim loại và tiền giấy, nhưng chưa xuất

    hiện ngân hàng.

    Hoạt động ngân hàng xuất hiện là một tất yếu khách quan do yêu cầu của nền kinh tế. ngân hàng

    NHTM (NHTM) là ngân hàng đầu tiên xuất hiện, trong giai đoạn đầu hoạt động

    Ngân hàng còn rất sơ khai, ngân hàng sẽ phát hành chứng chỉ hoặc kỳ

    Số phiếu đúng bằng giá trị vàng mà khách hàng gửi vào ngân hàng, là khả năng

    chuyển đổi những giấy tờ đó thành vàng luôn luôn thuận tiện. Tuy nhiên, với tốc độ

    lưu thông ngày càng nhiều, nhu cầu về tiền ngày càng nhiều thúc đẩy sự ra đời

    của hàng loạt ngân hàng thương mại. Điều này dẫn đến rất nhiều tiền giấy được lưu hành

    Ở những điểm khác nhau, nhiều ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận đã phát hành kỳ phiếu

    Không có vàng để đảm bảo khả năng thanh toán khiến người dân nghi ngờ, mất uy tín

    Tín dụng của khách hàng đối với các ngân hàng nhỏ và họ đổ xô nhau đến các ngân hàng lớn, đến hạn

    Trong khi đó, các ngân hàng lớn có cơ hội mở rộng và mua lại các ngân hàng nhỏ. Bên

    Bên cạnh đó, với nhiều loại giấy được đưa vào lưu thông làm cho tiền tệ không ổn định, do đó

    buộc Nhà nước phải can thiệp để thống nhất việc phát hành tiền và đảm bảo an toàn

    Tiền giấy lưu hành bằng cách chỉ phát hành một số ngân hàng nhất định

    Giấy bạc ngân hàng gọi là ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành là ngân hàng

    hàng có vốn lớn, chi nhánh nhiều, có uy tín trên thị trường.

    Cuối thế kỷ XIX, một số nước đã hình thành ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành

    Thông lệ này đã thực hiện một số chức năng của ngân hàng trung ương. Và đến đầu thế kỷ XX, các quan

    Chức năng phát hành tiền đã được tách hoàn toàn khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại,

    đánh dấu sự ra đời của ngân hàng trung ương, và ngân hàng trung ương trở thành cơ quan độc quyền phát hành tiền

    ở một quốc gia. Sự phát triển của công nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại

    cho phép thay thế một phần tiền giấy, tiền xu do ngân hàng trung ương phát hành bằng

    Tiền điện tử, điều này mang lại lợi ích to lớn cho bất kỳ quốc gia nào vì nó giúp

    để tăng tốc độ luân chuyển vốn cho nền kinh tế.

    * Bên ngoài: Làm thế nào để kiếm tiền? Bạn có thể học kiếm tiền online trên điện thoại qua các bài viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Triết Học Dành Cho Sv Năm 1
  • Nhiệt Độ Là Gì? Tìm Hiểu Về Nhiệt Độ Là Gì?
  • Từ Ngữ Hán Việt Trong Tác Phẩm “lục Vân Tiên” Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Ngôn Ngữ Hán Việt Trong Y Học (Bs. Vũ Thanh Giang)
  • Cách Tra Từ Điển Hán Ngữ
  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Theo kinh tế học thì ” Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế”. Theo định nghĩa này tiền tệ còn có thể gọi là tiền lưu thông. Triết học Marx-Lenin, dựa theo nghiên cứu về lịch sử và bản chất tiền tệ của K.Marx, định nghĩa: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiển lao động xã hội và biểu hiển quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá”.

    1. Tiền tệ theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin thì gồm có 5 chức năng sau:

    Chức năng thước đo giá trị: Giá trị của mỗi hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng

    tiền nhất định. Tiền tệ có thể làm thước đo giá trị vì bản thân nó cũng là một hàng hoá,

    cũng có giá trị như những hàng hoá khác.

    Khái niệm, chức năng và quá trình phát triển của tiền tệ

    1/3

    Chức năng phương tiện lưu thông là một chức năng khác của tiền tệ. Lúc này, tiền làm

    môi giới trong trao đổi hàng hoá và phải là tiền mặt.

    Chức năng phương tiện cất trữ: Làm chức năng này tiền rút khỏi lưu thông và nhất

    thiết phải có đủ giá trị. Chỉ tiền vàng, tiền bạc, tiền thỏi, bạc nén và các của cải bằng

    vàng, bạc mới làm được chức năng này.

    Chức năng phương tiện thanh toán: Khi tiền được dùng để trả nợ, dùng để trao đổi

    hàng hoá… là khi tiền thực hiện chức năng này.

    Chức năng tiền tệ quốc tế: Tiền được dùng không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà

    còn có thể sử dụng ra ngoài phạm vi quốc gia, khi này tiền thực hiện chức năng tiền tệ

    thế giới.

    *Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền tệ có ba chức năng tiêu biểu là:

    Chức năng phương tiện trao đổi, chức năng phương tiện đo lường và tính toán giá trị và

    chức năng phương tiện tích luỹ.

    Chức năng phương tiện trao đổi: Tiền là vật ngang giá chung, là trung gian làm cho sự

    trao đổi hàng hoá giữa người này với người khác trở nên thuận lợi hơn. Phương tiện trao

    đổi là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Nếu không có chức năng này thì tiền tệ sẽ

    không còn.

    Chức năng phương tiện đo lường và tính toán giá trị: Việc đo giá trị hàng hoá dịch vụ

    bằng tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng cân và đo khoảng cách bằng mét.

    Đơn vị tiền tệ là một thước do được sử dụng phổ biến trong các quan hệ xã hội. Nhờ

    chức năng này mà tính chất tiền tệ hoá ngày càng phổ biến trong đo lường sự phát triển

    của xã hội, đo lường mức sống của con người…Nó đã tạo ra một nền kinh tế mang tính

    chất tiền tệ.

    Chức năng phương tiện tích luỹ: Tích luỹ là cơ sở để tái sản xuất và mở rộng sản xuất

    cho nên nó cũng là cơ sở phát triển kinh tế. Tiền có được chức năng này là vì nó là

    phương tiện trao đổi, là tài sản có tính lỏng cao nhất.

    2. Quá trình phát triển tiền tệ

    Khi nền kinh tế sơ khai, lúc bấy giờ chưa có ngân hàng, tiền sử dụng trong trao đổi là

    hiện vật (tiền hàng hoá) là những loại tiền được làm ra từ các dạng vật chất mà bản thân

    nó đã có giá trị sử dụng sẵn, nó không do một tổ chức nào phát hành. Khi nền sản xuất

    và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển, loài người đã tìm kiếm và khai thác được kim

    loại cùng với sự bộc lộ nhiều nhược điểm của tiền hàng hoá khi kim loại được chọn làm

    vật ngang giá chung với ưu điểm như: Có độ bền, gọn, giá trị phổ biến. Để thuận tiện

    cho lưu thông tiền kim loại, ngân hàng đã quy định thống nhất việc đúc tiền như về kích

    Khái niệm, chức năng và quá trình phát triển của tiền tệ

    2/3

    thước, hình dáng, trọng lượng cho mỗi đơn vị tiền tệ, đặt tên cho đồng tiền, quy ước các

    bộ phận chia nhỏ của đồng tiền. Tiền kim loại do nhà nước và cá nhân đúc nhưng đều

    phải được nhà nước quản lý, điều này đánh dấu sự ra đời của nghiệp vụ phát hành tiền.

    Chính nhờ đồng tiền này mà nền kinh tế đi vao ổn định hơn, cũng dựa trên cơ sở đó, nhà

    nước lúc bấy giờ không chỉ phát hành bằng tiền kim loại mà còn phát hành ra tiền giấy.

    Như vậy, trong giai đoạn này đã xuất hiện tiền kim loại và tiền giấy, tuy nhiên chưa xuất

    hiện ngân hàng.

    Ngân hàng xuất hiện là một tất yếu khách quan do yêu cầu của nền kinh tế. Ngân hàng

    thương mại (NHTM) là ngân hàng xuất hiện đầu tiên, trong giai đoạn đầu này hoạt động

    của ngân hàng còn rất sơ khai, ngân hàng sẽ phát hành ra các chứng thư hay các kỳ

    phiếu đúng bằng giá trị của vàng mà khách hàng gửi vào ngân hàng, chính mà khả năng

    chuyển đổi các giấy tờ đó ra vàng luôn đảm bảo được thuận tiện. Tuy nhiên, với tốc độ

    buôn bán lưu thông ngày càng tăng, nhu cầu về tiền ngày càng nhiều thúc đẩy sự ra đời

    của hàng loạt NHTM. Điều này dẫn tới trong lưu thông có rất nhiều kỳ phiếu ngân hang

    khác nhau, nhiều ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận đã phát hành kỳ phiếu ra lưu thông

    không có vàng để đảm bảo khả năng thanh toán làm cho người dân nghi ngờ và mất uy

    tín của khách hàng đối với ngân hàng nhỏ và họ đổ xô nhau đến các ngân hàng lớn, do

    đó ngân hàng lớn có điều kiện mở rộng quy mô và thâu tóm các ngân hàng nhỏ. Bên

    cạnh đó,với nhiều loại giấy được đưa vao lưu thông làm cho tiền tệ mất ổn định, do đó

    buộc nhà nước phải can thiệp để thống nhất việc phát hành tiền và đảm bao an toàn cho

    lưu thông giấy bạc ngân hàng bằng cách chỉ cho một số ngân hàng thực hiện phát hành

    giấy bạc ngân hàng gọi là ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành là những ngân

    hàng có vốn lớn, số lượng chi nhánh nhiều, có uy tín trên thị trường.

    Cuối thế kỷ XIX, một số nước đã hình thành ngân hàng phát hành, các ngân hàng phát

    hành này đã thực hiện một số chức năng của NHTW. Và đến đầu thế kỷ XX thì các chức

    năng phát hành tiền đã hoàn toàn tách khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ của NHTM,

    đánh dấu sự ra đời của NHTW, và NHTW trở thành cơ quan độc quyền phát hành tiền

    trong một quốc gia. Quá trình phát triển công nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại đã cho

    phép thay thế một phần giấy bạc ngân hàng, tiền kim loại do NHTW phát hành bằng

    tiền điện tử, điều này mang lại một lợi ích to lớn cho bất kỳ một quốc gia nào vì nó giúp

    cho việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho nền kinh tế.

    * Ngoài lề: Kiếm tiền như thế nào? Bạn có thể học kiếm tiền online trên điện thoại thông qua bài viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học
  • Thế Nào Là Chất, Lượng, Độ, Điểm Nút, Bước Nhảy? Chất Và Lượng Của Sự Vật Có Mối Quan Hệ Biện Chứng Nào? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Gì Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Bài 7: Vai Trò, Ý Nghĩa Của Từ Hán Việt
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Cuộc Sống Hàng Ngày
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Triết Học Về Vật Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • Con Người Và Bản Chất Của Con Người
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chế Độ Dân Chủ Nhân Dân
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • I. M. Bochenski. Triết học tây phương hiện đại. Chương II: “Triết học về vật chất (Triết lý Duy vật)”. Tuệ Sỹ dịch, Nxb. Ca Dao, 1969, tr. 84-130

    Nhiều phong trào khác nhau được bao gồm dưới đầu đề tổng quát này: triết học của Russell, tân thực chứng luận (néo-positivisme), và duy vật biện chứng (matérialisme dialectique). Các hệ thống này có thể là không quan trọng lắm, theo quan điểm triết học hạn hẹp, nhưng chúng gây ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn hơn bất cứ một trào lưu triết học nào khác. Lý do thành công vượt mức của chúng thật dễ hiểu, vì rằng chúng đang làm sống lại những ý niệm đích thực quan trọng trong triết học hằng trăm năm về trước và quảng đại quần chúng luôn luôn chậm trễ khoảng một thế kỷ đằng sau sự phát triển của triết học khoa học.

    Tất cả các triết gia thuộc nhóm này đều là chủ duy nhiên (naturalistes) những nhà duy khoa học; họ là những nhà chủ lý (rationalistes) công khai, hướng về chủ nghĩa duy vật phần nào. Họ là những nhà duy nhiên, theo đó họ coi con người một cách đơn giản là một thành phần toàn bộ của thiên nhiên và không thừa nhận có sự sai biệt nào giữa chính con người và những sinh thể thiên nhiên khác. Họ là những nhà duy khoa học vì họ tin tưởng tuyệt đối rằng khoa học thiên nhiên là thẩm quyền tối thượng. Như vậy, với họ duy chỉ có những phương pháp của khoa học thiên nhiên mới có thể nắm được thực tại, và bất cứ điều gì không thể tương xứng với những phương pháp này đáng được coi là những ngụy đề (pseudo-problèmes), và tất cánh là vô nghĩa: họ không công nhận kinh nghiệm đạo đức, thẩm mỹ và tôn giáo cung cấp thêm những nguồn mạch của nhận thức. Như thế, một lập trường chống tôn giáo quyết liệt điển hình là Russell và những nhà duy vật biện chứng. Với họ, phận sự duy nhất của triết học là để phân tích những khái niệm của khoa học thiên nhiên hay tổng hợp những thành quả của nó, ngược lại là vô nghĩa. Dù phần lớn môn đệ của các trường phái này không thể đi đến hoàn toàn duy vật, nhưng các khuynh hướng rõ rệt duy vật đều có mặt tất cả ở họ. Ngay cả những nhà tân thực chứng cũng chỉ khảo cứu những hiện tượng vật chất mà thôi; theo họ, bàn luận về những hiện tượng tinh thần là vô vị. Sau hết, tất cả những tư tưởng gia này đều rõ ràng là chủ lý với ý nghĩa là họ đặt tin tưởng của mình ở những phương pháp thuần lý và phân tích.

    Để hiểu rõ những học thuyết triết học của Russell và tân thực chứng trong sự liên tục lịch sử của chúng, chúng ta sẽ giới thiệu một cách vắn tắt về chủ nghĩa tân duy thực ở Anh. Đúng ra, điều này nên bàn ở sau này, có thể trong liên lạc với hiện tượng học, vì nó là một trong những phong trào tiền phong của thời đại mới đã dẫn đến sự kiến thiết siêu hình học và luận lý toán học ngày nay. Đặc biệt ta chỉ cần ghi nhận rằng mặc dù phong trào tân duy thực dính chặt với duy nhiên khoa học nhưng nó có tầm quan trọng lớn hơn vì nó dẫn một số tư tưởng gia (Whitehead) đến một thế giới quan hầu như chủ Platon.

    A. TÂN DUY THỰC

    Hậu bán thế kỷ XIX ở Anh chứng kiến sự xuất hiện của một phong trào duy thực. Chắc chắn nó rất yếu, không đủ sức để hình thành một trường phái, cũng không thách đấu trào lưu duy tâm của Bradley và Bosanquet đang ngự trị. Dù vậy, nó đã có thể công bố một số đại biểu quan trọng: tỉ dụ, Robert Adamson (1852-1902) , vẫn còn là một người chủ Kant nhưng vào cuối đời thì bước sang duy thực phê phán (réalisme critique); George Dawes Hicks (1862-1941) với học thuyết về ý hướng tính, nó dẫn ông đến gần Meinong và Husserl và ông giữ địa vị lưng chừng giữa duy tâm và tân duy thực; Thomas Case (1844-1925), duy thực phê phán, ông nghĩ là mình có thể luận về bản thân của sự vật từ những ngoại ảnh; và nhiều vị khác.

    George Edward Moore (-1873) khai sinh phong trào tân duy thực khi ấn hành bài báo nổi tiếng của ông năm 1903: The Refutation of Idealism. Ảnh hưởng của Moore trên triết học Anh hiện đại rất rộng khiến cho không một ai ngoài Bergson hay James có thể so sánh với ông.

    Thế hệ thứ nhấ: C. Leyod Morgan (1852-1936), Alfred North Whitehead (1861-1947), Sir T. Percy Nunn (1870-1944), Bertrand Russell (-1873), Sammul Alexander (1859-1938), Charlie Dunbar Broad (-1877), John Laird (1859-1945); thế hệ thứ hai: C.E.M. Joad (1891-1953), H.H. Price (-1899), chúng tôi (-1899), và Gillbert Ryle (-1900). Tất cả chịu ảnh hưởng của Moore. Vì Morgan, Alexander, Whitehead và Laird, mỗi người đều xây dựng một siêu hình học nên ta sẽ bàn về họ trong một đoạn khác. Về những triết gia khác, Russell quan trọng nhất cả về ảnh hưởng và về sản lượng của ông nên mục này sẽ viết về học thuyết của ông, sau một thoáng nhìn về các đặc điểm của tân duy thực.

    B. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TÂN DUY THỰC

    Đúng như danh hiệu tiêu biểu, những nhà tân duy thực nước Anh đối lập với những nhà duy tâm qua chủ trương duy thực và trên đại thể duy thực trực tiếp; họ quả quyết rằng không những chỉ có thể trực tiếp lĩnh hội những ảnh tượng tinh thần mà còn cả thực tại siêu chủ quan nữa. Họ còn có thêm những sắc thái chung, đặc biệt là chủ trương duy nghiệm quả quyết của họ. Với họ, không có gì nghi ngờ rằng tất cả nhận thức của chúng ta khởi lên từ kinh nghiệm và phần lớn họ cho rằng nhất định kinh nghiệm phát xuất từ các giác quan. Sự thừa nhận định đề này thực là quảng bá suốt trong truyền thống Anh, kể từ Locke, Berkeley và Hume, và nhất là có thể cả từ Reid. Các nhà tân duy thực cũng nghiêng nặng về các khoa học thiên nhiên mà họ hầu như tất cả, đều coi những phương pháp của chúng là những phương pháp đích thực triết học. Những lưu tâm chính của họ là vật lý học và toán học, và những vấn đề lý thuyết thường là vấn đề số một đối với họ. Sự thực là, Moore đã xuất bản một tác phẩm quan trọng về luận lý, và Whitehead, cũng như Russell, thỉnh thoảng đặt sự chú tâm của mình vào những vấn đề đạo đức và tôn giáo, nhưng trên toàn thể, mối lưu tâm của các nhà tân duy thực là những vấn đề thuần lý thuyết về luận lý học, nhận thức luận, vật lý học hay sinh vật học.

    Tuy nhiên, sắc thái nổi bật nhất của các nhà tân duy thực, là đường lối đi sâu vào sự nghiên cứu chi tiết những vấn đề của họ. Trước nhất, lập trường của họ là chống hệ thống và họ tấn công tất cả những cố gắng trước kia của triết học với chủ nghĩa phê phán gắt gao, và thường thường vô căn cứ. Ngay dù một số trong bọn họ vào những năm cuối đời mình đã khởi lên tư biện có hệ thống nhưng lúc nào họ cũng vẫn trung thành với phương pháp “hiển vi” – xu hướng tế phân các vấn đề và phân tích chúng. Về phương diện này, C.D.Broad là điển hình, nhưng tất cả bọn họ đều tán thành một phương pháp tương tự, và thường ứng dụng nó với sự tỉ mỉ lạ lùng. Trường phái tân duy thực rõ là trường phái phân tích.

    C. BERTRAND RUSSELL: CÁ TÍNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

    Bertrand Russell, sinh trong một gia đình quý tộc Anh; điều không thể chối cãi, ông là một trong những triết gia được đọc và được bàn đến nhiều nhất ở giữa hai trận thế chiến. Ông đã phô trương một hoạt động văn hóa có hiệu quả phi thường. Năm 1896, ông xuất bản tác phẩm đầu tiên, và sau đó cứ mỗi năm một hoặc hai tác phẩm cho đến 1947, ngoài vô số bài báo trong các tờ báo khác nhau không kể. Những xuất bản phồn thịnh này phản ảnh những mối bận tâm đa dạng của ông; không có một lĩnh vực triết học nào mà ông không thám hiểm tới. Thường thường, ông còn bận tâm đến những vấn đề khác như chủ trương hòa bình, vì bảo vệ nó mà ông bị cầm tù trong một thời gian suốt kỳ thế chiến I. Những tác phẩm của ông được phổ biến vượt mức. Tỉ dụ, trong khi không có một dịch phẩm bằng tiếng Đức nào về Whitehead, Alexander hay Broad cho đến thế chiến thứ II, thì 17 quyển sách của Russell đã được phiên dịch trước năm 1935. Rất minh bạch, rất “khoa học”, Russell đã là, và đang còn là một triết gia của một nhóm lớn vẫn trung thành với những lý tưởng thực chứng của thế kỷ XIX. Với chủ trương triệt để về chính trị và chống tôn giáo, được bày tỏ bằng ngôn ngữ sáng sủa, ông có vẻ là một thứ Voltaire kiểu mới – hiển nhiên là một dáng vóc nhỏ hơn. Với tất cả những điều này, Russell khác hẳn với những tác giả bình dân khác thuộc cùng loại, như Haeckel hay cả Voltaire, bởi vì ông không những chỉ có ảnh hưởng ở quảng đại quần chúng mà còn ở triết học Âu châu qua những công trình chuyên môn triết học của ông, những công trình ấy chỉ là đại chúng hóa.

    Người ta cũng có thể phân biệt hai giai đoạn trong sự diễn tiến của ông. Trước hết, Russell chú tâm nghiên cứu về toán học mà theo ông hình như đó là mô thức cho triết học. Ông nói về toán học bằng sự nhiệt tâm của một đồ đệ Platon; quả thực, trong thời kỳ này ông là đồ đệ xác tín Platon. Ông quả quyết rằng ngoài những thực tại thường nghiệm còn có tổng thể (universaux) mà chúng ta tiếp nhận trực tiếp và chúng có một hiện hữu riêng của chúng, độc lập với các sự vật hay tâm. Đồng thời, ông coi triết học như là một khoa học diễn dịch có phần độc lập với kinh nghiệm giác quan. Từ thời kỳ này xuất hiện tác phẩm Principia Mathematica của ông, một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của tư tưởng Âu châu ở thế kỷ XX.

    Tuy nhiên, về sau Russell dần dần thay đổi lập trường. Trong khi Whitehead, người viết chung với ông tác phẩm to lớn Principia, đi sâu hơn vào siêu hình học, thì về phần Russell, ông quay về những nhà thực chứng luận. Vấn đề tổng thể (universaux) đối với ông hình như vô vị, siêu hình học bất cứ loại nào đều vô nghĩa, triết học không còn là diễn dịch mà được xác định một cách duy nghiệm, trong tinh thần truyền thống Anh. Ngay cả trong toán học, ông không còn bàn tới cái “mỹ” của Platon mà chỉ là một khí cụ đơn giản, thực tiễn, khoa học. Trong giai đoạn tư tưởng này Russell là một đại biểu của duy kinh khoa học. Ông tuyên bố rằng những phương pháp khoa học là duy nhất cung cấp nhận thức cho chúng ta; ông tin tưởng sự toàn thiện của nhân loại qua kỹ thuật, và hăng hái nói về sự tiến bộ. Chủ nghĩa duy thực của ông giống với của Hume, một thứ hoài nghi trầm trọng đè nặng trên mọi bước tiến của tư tưởng ông.

    D. KHÁI NIỆM VỀ TRIẾT HỌC

    Khái niệm về triết học mà ngày nay Russell chủ trì là chủ điểm của tất cả trường phái tân duy thực. Thêm nữa, ở phương diện này chính Russell chịu ảnh hưởng của Moore. Theo ông, triết học chính yếu phải là khoa học. Những vấn đề mà nó đặt ra phải được đưa ra từ những khoa học thiên nhiên và không phải từ những pháp điển tôn giáo hay đạo đức; lý tưởng của nó phải là một lý tưởng khoa học. Trong cứu cánh, lĩnh vực của nó duy nhất thiết lập bằng những vấn đề không thể nghiên cứu một cách khoa học được và như thế nó chỉ để sửa soạn lối đi cho khoa học. Tất cả chủ thuyết “lãng mạn” (romantisme), tất cả chủ thuyết “thần bí” (mysticisme) phải hoàn toàn loại hẳn. Ta cũng không nên tìm ở triết học một “phương thuốc cho những đau khổ tinh thần”; trái lại, bằng một cách kiên nhẫn và điềm tĩnh, người ta phải đào sâu vào chi tiết những khảo cứu.

    Thoạt đầu, Russell không tin rằng triết học có thể đưa ra nhiều giải đáp chắc chắn. Vì tự bản chất, nó bị hạn hẹp vào lĩnh vực tiền khoa học, (région préscientifique) nên nó chỉ đưa ra những vấn đề hơn là giải quyết. Phận sự chính của nó là phê bình. Triết gia phải làm sáng tỏ những khái niệm, những kết cấu, và những phương pháp kiểm chứng của khoa học, và như thế liệt chúng vào một phân tích hoàn toàn luận lý. Thêm nữa, phương sách này sẽ được áp dụng như một kích thích tố và đồng thời nó sẽ hữu ích hơn những giải đáp mãi mãi không chắc chắn. Về sau, Russell trở thành nhà bất khả tri luận (agnostique) rõ rệt tin rằng chỉ có khoa học thiên nhiên mới thăm dò được thực tại và ở đây khoa học cũng không thể vượt qua tính chất cái nhiên (probabilité). Trên phương diện này một cách đơn giản, Russell đang tiếp tục truyền thống duy nghiệm và thực chứng, đặc biệt là của Hume và Mill.

    E. DUY THỰC VÀ ĐA NGUYÊN LUẬN

    Một trong những ách yếu của triết học Russell cũng như của Moore và phần lớn các nhà duy thực Anh, là chủ thuyết phê bình học thuyết Bradley về những tương quan nội tại. Với Russell, không có tương quan nội tại (relations internes) tất cả những tương quan hiện hữu đều là những tương quan ngoại tại thêm vào tính thể của sự thể đã hiện hữu,vì vậy, bất cứ bằng cách nào, tính thể của sự thể ấy không phụ thuộc vào những tương quan này. Như thế, Russell gạt bỏ tôn chỉ căn bản của học thuyết Bradley. Cũng thế, ông gạt bỏ hai kết luận chủ chốt của Bradley bằng cách bênh vực đa nguyên luận và phân biệt sở tri với chủ tri. Đa nguyên luận là khía cạnh sơ bản của toàn thể phong trào triết học này, theo đó thế giới được coi là gồm nhiều nguyên tử rời rạc, có thể là vô số, được kết hợp lại qua những tương quan ngoại tại. Về sau, Russell phát triển đa nguyên luận này thành thuyết nguyên tử luận lý (atomisme logique), học thuyết cho rằng thế giới do các dữ kiện giác quan liên kết với nhau bằng những tương quan hoàn toàn luận lý. Duy tâm luận Hegel cũng bị bác bỏ, căn cứ vào duy thực trực tiếp. Mối bận tâm với Leiniz và những nghiên cứu toán học đã đưa Russell đến đa nguyên luận này.

    Sự áp dụng đa nguyên luận vào nhận thức luận đã dẫn đến những hậu quả quan trọng của triết học. Khi tống khứ khách quan duy tâm luận bằng lý thuyết về những tương quan ngoại tại của mình, Moore và Russell cùng tấn công mãnh liệt chủ quan luận duy tâm của Berkeley và chúng đô đệ. Với duy tâm luận này, chúng ta chỉ biết được các yếu tố của tâm thức, tức là những ý tưởng; thế giới siêu chủ quan trốn khỏi nhận thức của chúng ta.Các nhà chủ duy thực bây giờ gạt bỏ lý thuyết này, cho là một võng luận (paralogisme) vụng về; rõ ràng Berkeley lẫn lộn hai nghĩa của chữ “ý tưởng” (idée), nó có thể vừa chỉ cho hành động nhận thức, và vừa sự thể được nhận thức. Sự thể được nhận thức không cần phải luôn luôn hiện hữu trong ý thức, nó có thể hiện hữu ở ngoài ý thức và khác với chủ tri. Duy thực trực tiếp được thiết lập bằng cách đó.

    Tuy nhiên, với Russell, vật chất không thể nhận thức trực tiếp được dù là thực hữu, chúng ta chỉ nhận thức những dữ kiện giác quan (Moore cũng chủ trương như thế). Tỉ dụ, màu sắc của cái bàn, tính chất cứng của nó và tiếng động nó phát ra khi chúng ta vỗ tay vào, chắc chắn đều là những thực tại, nhưng chúng không phải là những tự hữu của cái bàn. Điều này có thể chứng tỏ rằng mỗi người kinh nghiệm những dữ kiện giác quan khác nhau. Sự định vị của những dữ kiện giác quan sai biệt tùy theo giác quan tiếp nhận chúng, và như vậy, tùy theo nhân cách tiếp nhận chúng. Sự giả định theo đó những dữ kiện giác quan có một sự thể ở bên dưới chúng là kết quả của quy nạp thuần túy, và không một chứng cứ trực tiếp nào có thể đưa ra cho nó. Khởi đầu, Russell chủ trương rằng hiện hữu của một sự thể như thế phải được hiểu như là một giải thích đơn giản về những dữ kiện giác quan, nhưng về sau, ông thay đổi ý kiến và tiến tới lý thuyết “nguyên tử”, theo đó thế giới gồm những dữ kiện giác quan liên kết với nhau một cách có luận lý. Điều cần phải nhấn mạnh rằng lý thuyết này không thể được đặt ngang với duy tượng luận (phénoménalisme) cổ điển theo đó các dữ kiện giác quan được coi như là những thực tại phi tâm độc lập với bất cứ chủ tri nào ngay cả với một chủ tri siêu nghiệm hay tuyệt đối. Với Russell, chúng là những thành tố của thế giới thực hữu, mặc dù hoàn toàn không có những bản thể. Điều này phù hợp với học thuyết của Hume.

    Trong giai đoạn đầu, Russell cũng chủ trương rằng, ngoài tri giác thuộc những dữ kiện giác quan còn có một nhận thức trực tiếp về những tổng thể (universaux). Tỉ dụ, không những chúng ta chỉ biết được London và Edinburgh mà còn cả mối tương quan (ngoại tại!) giữa hai thành phố này. Nhưng mối tương quan đó không phải thuộc tinh thần chủ quan (vì dù ta có biết hay không biết nó, nó vẫn hiện hữu), cũng không phải là một sự kiện vật lý (vì thực tại vật lý nhất quyết được tổ hợp bằng những dữ kiện giác quan) – quả thực, đó là một thứ lý niệm (idée) kiểu Platon hiện hữu bằng đặc quyền của nó.

    Russell còn khai triển thêm lý thuyết của mình bằng cách bênh vực lập trường cổ điển Platon. Nhưng về sau ông chấp nhận một quan điểm bất khả tri luận tương tự với thực chứng luận.

    F. TÂM LÝ HỌC

    Thoạt kỳ thủy, Russell nghi ngờ không biết có hay không có một nhận thức trực tiếp về bản ngã, và ngã sang thừa nhận thái độ của Hume, theo đó linh hồn con người, một cách đơn giản, được coi như là một liên hợp của các ý tưởng. Trong The Analysis of Mind, Russell công khai tuyên bố thái độ này và khai triển nó theo một kiểu cách độc đáo; nó giữ thái độ trung lập đối với duy vật và duy tâm và tiến tới chủ trương rằng không phải vật chất hay tinh thần mà chỉ là những dữ kiện giác quan, chúng được tổ hợp một cách sai biệt và được kiểm soát bằng những định luật sai biệt. Những dữ kiện giác quan của những sở tri sai biệt (tỉ dụ: các ngôi sao), nhìn từ một quan điểm duy nhất, tạo ra tinh thần; những dữ kiện giác quan của những chủ tri sai biệt (tỉ dụ: nhiều khía cạnh khác nhau của cùng một ngôi sao) tạo nên cái gọi là vật chất. Đằng khác, những định luật tâm lý và vật lý khác nhau. Những hiện tượng tâm lý được hạn định bằng “ký ức tất định luận” (déterminisme mémonique) hình như phát xuất từ tất định luận về thần kinh hệ; chủ quan tính cũng là một đặc điểm của tâm và được cắt nghĩa, theo phương diện vật chất, là một sự tập trung những dữ kiện giác quan vào một chỗ (óc não). Trường hợp những sự kiện tâm lý hiện hữu ở ý thức theo Russell chưa đủ lẽ để coi chúng chính là tinh thần, bởi vì chúng không luôn luôn hiện hữu trong ý thức; và cũng không thể quy định chúng bằng những khái niệm như taapjo quán, ký ức hay tư tưởng bởi vì những thứ này là những thiết định của ký ức tất định luận.

    Russell thú nhận xu hướng thiên duy vật của mình nhưng điều kiện hiện tại của khoa học và học thuyết của ông không cho phép ông chấp nhận thuyết duy vật trong toàn bộ của nó. Tuy nhiên ông quả quyết rằng các hiện tượng tâm lý hoàn toàn phụ thuộc các hiện tượng vật lý học, dĩ nhiên, thế là phủ nhận hiện hữu của một linh hồn làm bản thể. Dù vậy, theo ông các hiện tượng tâm lý hiện hữu hơn vật chất bởi vì vật chất không được mang đến một cách trực tiếp và nó được thiết lập bằng diễn dịch và tổ hợp.

    G. ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO

    Con người là một phần vô nghĩa của thiên nhiên; những tư tưởng của nó đều là kết quả của các biến tượng trong óc não nó và của những định luật thiên nhiên. Khoa học thiên nhiên, nguồn mạch độc nhất của nhận thức hoàn toàn không biện minh cho tin tưởng Thượng đế hay lẽ bất tử. Thêm nữa, chủ trương về bất tử tính là vô nghĩa, bởi vì nếu linh hồn bất tử, nó sẽ phải chiếm đoạt toàn thể không gian. Tôn giáo được đặt trên sự sợ hãi, và do đó là một tội ác: nó là kẻ thù của mọi lẽ thiện và mọi sự đoan chính trong thế giới ngày nay, và là triệu chứng của con người ấu trĩ.

    Con người có thể chỉ là một mảnh vụn vô nghĩa của thiên nhiên trong trật tự của hiện hữu nhưng nó hưởng một địa vị hoàn toàn sai biệt trong trật tự của những giá trị vượt xa giá trị của hiện hữu. Chúng ta tự do sáng tạo những lý tưởng sinh tồn của mình; và lý tưởng đó, Russell đề nghị là lý tưởng về “đời sống tốt đẹp”, một đời sống của yêu thương đậm đà được hướng dẫn bởi ánh sáng của hiểu biết. Định đề đạo đức này là tất cả những gì chúng ta cần có. Mọi thứ đạo đức lý thuyết đều hời hợt. Để đánh giá điều này, người ta chỉ cần đặt mình vào địa vị một người mẹ với người con đang ốm của bà; điều mà bà ta cần không phải là một nhà đạo đức nhưng là một bác sĩ giỏi. Chắc chắn những luật lệ của đạo đức thực tiễn đều cần thiết nhưng, đáng tiếc, những luật lệ ngày nay thường đứng lại trên những khái niệm mê tín, như ta thấy trong tất cả bộ luật về nam nữ (moralité sexuelle), kể cả chế độ đơn hôn (monogamie) và hình luật. Lý tưởng giải thoát cá nhân là một khái niệm quý tộc vì đối lập với lý tưởng dân chủ là giải thoát xã hội, cũng sai lầm như vậy. Hạnh phúc là mục đích những khát vọng chúng ta và có thể đạt được bằng cách trấn áp sự sợ hãi, bằng cách củng cố cá tính giáo dục, và bằng cách toàn thiện toàn thể loài người. Sự tiến bộ rộng lớn có thể hoàn thành được khi mà con người không còn bám chặt lấy sự kính phục mê tín đối với thiên nhiên, bởi vì toàn thể thiên nhiên, kể cả con người, phải trở thành một đối tượng của luận giải khoa học nếu chúng ta mong đạt tới hạnh phúc.

    A. THỈ TỔ VÀ NHỮNG ĐẠI DIỆN CHÍNH YẾU

    Ngày nay, công trình hoàn toàn mới mẻ của duy nghiệm luận chỉ được tìm thấy trong trường phái thực chứng luận, bắt nguồn từ thực chứng luận cổ điển của Comte và Mill, và vọng lại duy nghiệm luận Anh ở thế kỷ XVIII. Song, tiền nhân trực tiếp của nó là duy nghiệm luận Đức. Chính Joseph Petzoldt (1862-1929), học trò của Avenarius, đã lái trường phái sang chiều hướng của tạp chí Annalen der Philosophie, tạp chí đã ra đời Erkenntnis, tờ báo quan trọng nhất của trường phái tân thực chứng giữa năm 1930 và 1938. Ngoài duy nghiệm phê bình (empiriocriticisme) ra, ảnh hưởng nặng nhất trên tân thực chứng luận là phê bình khoa học ở Pháp, học thuyết Russell, và sự phát triển trong ngành luận lý toán học và tân vật lý học (Einstein).

    Ngoài nước Đức ra, tân thực chứng luận chỉ tạo được ảnh hưởng lớn ở Anh. Ở đây, ngay cả bây giờ, nó là trường phái chính. Một số triết gia có liên hệ chặt chẽ với nó ít nhiều, tỉ dụ, nhóm đã lập nên tờ Analysis năm 1933: A.E. Ducan-Jones, S.A.Mace, L. Susan Stebbing, cả Alfred J. Ayer là những nhà tân thực chứng triệt để nhất, và nhất là Gilbert Ryle, triết gia Anh có lẽ có ảnh hưởng nhất của thời hiện đại. Một số khá lớn những nhà thực chứng luận, như John Wisdom ở Anh, có liên hệ hơi lỏng lẻo với những nhà tân thực chứng. Ở Pháp hiếm có những đại biểu nổi tiếng nào của tân thực chứng luận, nhưng nếu có thì phải kể Louis Rougier, General Charles, Ernst Vouillemin (người đã cố gắng quảng bá công trình của Nhóm thành Viene), và Maurice Boll.

    B. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ TIẾN TRIỂN

    Những nhà thực chứng luận hình thành một trường phái đúng nghĩa: cùng có một quan điểm căn bản chung và cùng sử dụng những phương pháp như nhau để tiến gần những vấn đề chung của họ. Thoạt kỳ thủy, họ tỏ ra hăng hái khác thường và tin tưởng một cách sâu xa rằng những quan điểm của họ tuyệt đối chính xác. Reichenbach, một trong những nhà lãnh đạo xưa kia, nhận xét chí lý rằng trường phái này chấp nhận một thái độ đặc biệt tôn giáo và ngay cả bè phái. Đằng khác ta phải công nhận rằng một ít đối thủ triết học của họ biết phán đoán học thuyết tân thực chứng với sự công bình khách quan, bởi vì, chắc chắn học thuyết này có tính chất cách mạng khiến cho nó đòi hỏi sự chấp nhận điều kiện hay sự đối lập công khai. Ngoài ra, nhóm thành Vienne khởi thủy được cổ vũ vởi một tinh thần “truyền đạo” hăng hái, lại ưa công kích và bút chiến nữa.

    Kết hợp với đặc tính bè phái này là khuynh hướng cực kỳ duy lý, luận lý và phân tích, khiến cho nhìn bên ngoài những tác phẩm của tân thực chứng giống như một thứ chủ kinh viện kiểu mới; dù sao, từ thời trung cổ chúng ta đã không thấy một sự tin tưởng và kính phục luận lý học như thế. Lại nữa, trường phái tân thực chứng duy trì chủ khoa học cực đoan hơn cả tân duy thực hay duy vật biện chứng; nó nhận định rằng phận sự duy nhất của triết học là phân tích ngôn ngữ của những khoa học thiên nhiên, chúng hạn định một cách chật hẹp phương pháp luận của nó.

    Tuy nhiên, một vài thay đổi trong tân thực chứng luận nên được bàn đến. Khởi thủy các đại biểu của nó tin rằng luận lý học trang bị cho họ một khí giới vững mạnh chống lại tất cả những triết học khác. Về sau họ tự thấy là không thể đề cập đến những vấn đề cổ truyền về nhận thức luận khi đang nằm ì trên tân luận lý – mà những trường phái khác cũng đang bắt đầu sử dụng. Sau hết, giai đoạn thứ ba, được phác họa trong học thuyết Reichenbach, mang đặc tính nhiều dung hợp hơn và ít giáo điều hơn đã biểu lộ trong những buổi đầu của trường phái Vienne.

    C. LUDWIG WITTGENSTEIN

    Những đường nét chính yếu của tân thực chứng luận đã được vẽ ra trong Logisch-philosophische Abhandlung (bản dịch: Tractatus Logico-philosophicus (1921) của Ludwig Wittgenstein học trò và là bạn của Russell, và cùng dạy tại Cambridge. Trong tác phẩm rất khó đọc tập hợp nhiều cách ngôn có đánh số này, Wittgenstein đi từ thuyết nguyên tử luận lý của Russell, theo đó thế giới được tạo nên bằng những sự kiện hoàn toàn độc lập với nhau. Nhận thức của chúng ta là một bản sao những sự kiện cụ thể này. Không có ngoại lệ, những mệnh đề toàn xưng (universal statements) – hoàn toàn là những “chức phận chân lý” (truth fuctions) của những mệnh đề đặc xưng (singular propositions); nghĩa là, chúng được thành lập từ những mệnh đề đặc xưng bằng các phương tiện của những tương quan luận lý. Tỉ dụ mệnh đề: “Mọi người đều phải chết” có cúng ý nghĩa như mệnh đề “Peter phải chết và John phải chết, v.v…” Luận lý học hoàn toàn chỉ có đặc tính trùng phức, nó không khẳng định được gì cả; những mệnh đề luận lý đều trống rỗng và chúng không truyền thông cho chúng ta được gì về thực tại. Thực tại phải được khảo cứu bằng khoa học thiên nhiên; triết học không phải là một học thuyết mà chỉ là một hoạt động.

    Wittgenstein cũng có một lý thuyết về ngôn ngữ, theo đó người ta không thể nói đầy đủ ý nghĩa về ngôn ngữ và do đó một phân tích kiểu luận lý về văn pháp trở thành bất khả. Nhưng bởi vì tất cả những vấn đề triết học rút cuộc có thể giản lược vào phân tích này nên chún đặt ra những ngụy đề không giải quyết được. Wittgenstein kết luận quyển sách bí hiểm của ông với quan điểm rằng chính tác phẩm ấy cũng vô nghĩa: “Những gì người ta không thể nói được, vậy người ta phải im lặng” (Wo von man nicht spchen kann, dariiber muss man schweigen).

    D. LUẬN LÝ VÀ KINH NGHIỆM

    E. Ý NGHĨA CỦA MỆNH ĐỀ

    Cũng nên thêm vào đây một thuyết lý khác đã làm cho trường phái này nổi tiếng: thuyết kiểm chứng (doctrine de la vérification). Với những nhà tân thực chứng, ý nghĩa của mệnh đề nằm ở phương pháp kiểm chứng nó, hay theo một công thức thích đáng hơn: “một mệnh đề có ý nghĩa nếu, và chỉ nếu, kiểm chứng được.”

    Thực vậy, các nhà thực chứng luận nói, ta chỉ có thể biết được ý nghĩa của một mệnh đề nếu ta biết dưới điều kiện nào nó sai hay đúng; điều này có nghĩa rằng phương pháp kiểm chứng luôn luôn phải được đưa ra với ý nghĩa, và ngược lại; và thế, bằng định đề Leibniz về đồng nhất tính của những vô phân biệt thể (indiscernables), chúng trở thành cùng một sự thể.

    Điều này đã là một lập trường khả cách mạng nhưng trở nên nghịch lý hơn bởi một thừa nhận thêm, thừa nhận chính yếu đối với học thuyết tân thực dụng; sự kiểm chứng luôn luôn phải là liên chủ thể, nghĩa là, nó phải thực hiện được ít nhất bởi hai quan sát viên. Nếu không được, thì chân lý của mệnh đề không chứng minh được và đó không phải là một mệnh đề khoa học. Nhưng vì mỗi kiểm chứng liên chủ thể được tạo ra do những giác quan, nên không có mệnh đề nào có thể được kiểm chứng khác hơn là những mệnh đề có tương quan với cơ thể và những vận động của nó; tất cả những mệnh đề của tâm lý học nội quan và triết học cổ điển đều không thể kiểm chứng, vì vậy, vô nghĩa. Tiếp theo ngôn ngữ của vật lý học ( chủ vật lý; phisicalisme) và mọi khoa học nên được thống nhất (ngôn ngữ thống nhất và khoa học thống nhất).

    Còn một điều kiện cần phải đủ để một mệnh đề có ý nghĩa: phải thiết lập nó phù hợp theo những quy luật tạo cú của ngôn ngữ. Nói “con ngựa ăn” thì có nghĩa, nhưng nói “cái ăn ăn” thì vô nghĩa. Triết học cổ điển không chỉ cưỡng bức định đề căn bản về liên chủ thể mà thường chính cả cú pháp nữa. Một số những từ ngữ được các nhà hiện sinh sử dụng như thế có vẻ vô nghĩa. “Das Nichts nichtet” (Cái không có không có) của Heidegger là một thí dụ cổ điển cho trường hợp này. “Das Nicht” (cái không có) mang hình thức một thể ngữ (substantif) đúng, nhưng nó không phải là một thể ngữ theo ý nghĩa luận lý học: nó là dấu hiệu của sự phủ định và không thể nhận lãnh chức phận của một chủ từ.

    Đi từ những định đề này các nhà tân thực chứng hăng hái đào bới những ngụy đề của triết học. Carnap phân biệt nhiều chức phận của ngôn ngữ; nó có thể xác nhận, hay có thể chỉ diễn tả những ước muốn và những cảm thức. Các triết gia cổ điển đã lẫn lộn hai chức phận này; những mệnh đề triết học của họ có vẻ diễn tả những cảm thức, nhưng chúng không xác nhận điều gì. Những vấn đề của họ, như duy thực hay hiện hữu của Thượng đế, đều là những ngụy đề, và cố giải quyết chúng chỉ tốn thời giờ. Triết học phải tự giới hạn vào việc phân tích ngôn ngữ khoa học bằng cách những phương pháp luận lý.

    F. NHỮNG MỆNH ĐỀ THẢO BẢN

    Các nhà tân thực chứng cố khám phá những nền tảng thuần túy thường nghiệm của khoa học thoát khỏi mọi kết cấu có tính cách luận lý. Họ coi khoa học như một cơ cấu của những mệnh đề được phối trí hợp luận lý. Cần phải khởi đầu với những mệnh đề căn bản nào đó, mà Carnap đặt tên cho chúng là “Những mệnh đề thảo bản” (Protokol sätze), bởi vì chúng được tìm thấy trong thảo bản của phòng thí nghiệm hay đài quan sát. Trong hình thức đơn thuần của chúng, chúng có thể diễn ra như sau: “X ở vào thời điểm T đã quan sát P tại vị trí L.”

    Tuy nhiên, thuyết này chứa đựng những nan giải của nhiều thứ đa biệt. Về một phía, người ta có thể nhận xét rằng một mệnh đề thảo bản có thể bị nghi ngờ và được chứng nghiệm bằng một mệnh đề thảo bản khác. Tỉ dụ, tình trạng tinh thần của nhà vật lý học có thể bị nghi ngờ và do đó được ý sĩ thần kinh bệnh trắc nghiệm, và cứ thế sự việc diễn ra vô cùng tận. Những nan giải này đưa đến chỗ tranh luận sôi nổi ở nội bộ của trường phái, những tranh luận không mang lại kết quả cụ thể, đó là điều tự nhiên, bởi vì một hậu quả thuần luận lý như thế sẽ là một hoài nghi luận triệt để.

    Về phía khác, người ta có thể tự hỏi một cách chính xác: cái cơ bản của chính mệnh đề thảo bản này là gì? Trung thành với nguồn gốc duy nghiệm phê bình của mình, các nhà tân thực chứng trả lời rằng đối tượng của kinh nghiệm chỉ có thể là những cảm giác – chúng ta không thể nhảy ra ngoài da thịt của mình để năm lấy thực tại. Những vấn đề về thực tại là những ngụy đề, bởi vì chúng ta bao giờ cũng chỉ bắt gặp những cảm giác mà thôi và chúng ta không bao giờ có thể kiểm chứng hiện hữu của mọi sự thể khác với những cảm giác của mình.

    G. HANS REICHENBACH

    Những khuynh hướng tân thực chứng tiếp nhận công thức khả quan nhất của họ nơi công trình của Reichenbach, nhưng phần lớn những nhà tân thực chứng không tán thành điều đó và đến lượt họ lại bị Reichenbach tấn công dữ dội. Ông ta đã áp dụng thuyết của mình để khu biệt những lĩnh vực triết học một cách rất lý thú, nhưng ở đây không thể quảng diễn được những phân tích ấy.

    H. TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH

    Sau cuộc chiến, những lý thuyết của nhóm triết gia này vẫn còn phát triển thêm trên chiều hướng mà Reichenbach đã để lại. Ngày nay, người ta nói về “triết học phân tích” phát xuất từ Moore và từ tân thực chứng luận. Người ta có thể phân biệt nhiều khuynh hướng ở nội bộ của “triết học phân tích” này. (1) Tiếp nối những giai đoạn sau cùng của tư tưởng Rudolf Carnap, các đồ đệ của ông cố lập những định nghĩa chính xác về những khái niệm căn bản của các khoa học trong khung khổ của một ngôn ngữ có định thức lý tưởng. (2) Trường phái của Moore, về phía khác, lấy “ngôn ngữ thường nhật” làm cơ sở và chủ trương rằng điều kiện tiên quyết của sự phân tích chính xác theo khoa học là phù hợp với tục thức. (3) Những chuyên viên trị liệu của Wittgenstein coi triết học như là một thứ trị liệu có tính cách luận lý đối với những ngụy đề, trị liệu phải được hướng dẫn cách tân thực chứng thực thụ. (4) Những nhà biện chứng. (Xem đoạn sau, tr. 114 và tiếp). (5) Ngoài ra, giữ các triết gia phân tích cần phải kể thêm những vị hoạt động trong một tư thế hoàn toàn độc lập và trình bày những quan điểm hoàn toàn khác với thực chứng luận, và những vị bận tâm với sự phân tích chính xác và tế vi về những khái niệm và những phương sách của khoa học và triết học, nhất là với sự phụ giúp của luận lý toán học Nhưng những vị này, và cả những nhà biện chứng không thể được coi như là những đại biểu của triết học về vật chất. Chỉ trong tính chất tương tự về những phương pháp của họ, họ mới có thể được đồng hóa với các triết gia phân tích.

    Những phát triển mới mẻ hơn, hầu khắp cả Hoa Kỳ, đã làm suy yếu nguyên tắc khả chứng, làm suy yếu duy tượng, duy danh, và cả duy vật lý. Toàn thể phong trào này đã tiến đến gần chủ thực dụng một cách rõ rệt.

    A. ĐẶC ĐIỂM

    Duy vật biện chứng chiếm một vị trí hoàn toàn đặc biệt trong triết học Âu châu. Trước nhất nó có rất ít đại biểu tại những môi trường đại học ngoài Nga và các chư hầu ra, mà ở đó, ngược lại, nó được đặt làm môn triết học chính thức va do đó có những đặc quyền mà không một trường phái hiện đại nào khác có được. Ngoài ra, nó độc nhất, vì là triết học của một đảng chính trị – Đảng Cộng sản; vì thế, nó liên hệ chặt chẽ với những lý thuyết kinh tế và chính trị cũng như hoạt động thực tiễn của Đảng, và Đảng được coi là “lý thuyết tổng quát”. Ở Nga, nơi ở dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, không một ai được phép giảng dạy một thứ triết học nào khác hơn duy vật biện chứng, và ngay cả giải thích về những bản văn triết học cổ điển của nó cũng bị giám thị nghiêm mật. Sự giám thị này – chắc chắn là hợp với cá tính quốc gia của Nga – tạo ra một sức thái kỳ lạ của những ấn phẩm duy vật biện chứng; những ấn phẩm này khác hẳn tất cả qua tính cách hoàn toàn nhất dạng của chúng. Tất cả các tác giả của chúng cùng nói một cách chính xác như nhau về một sự thể và cũng trích dẫn rất nhiều từ các tác giả cổ điển, những trích dẫn phải đưa ra những luận chứng cho các thể tài nóng hổi ngay hiện tiền. Có lẽ sự giám thị này là nguyên nhân cho tính chất tầm thường của các triết gia thuộc trường phái này. Dù sao, nó cũng phải mang óc giáo điều cực đoan, óc bài ngoại, và tính gây gỗ của các triết gia duy vật biện chứng.

    Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng hơn những điểm đặc dị này, những điểm có thể là phụ thuộc, đó là đặc tính phản động của duy vật biện chứng, vì triết học này lôi thẳng về giữa thế kỷ XIX và tìm cách tái thiết sinh hoạt tinh thần của thời đại đó mà không một thay đổi nhỏ nhặt nào.

    B. NGUỒN GỐC VÀ CÁC ĐẠI BIỂU

    C. SỰ PHÁT TRIỂN Ở NGA

    D. DUY VẬT

    Theo duy vật, chỉ có một thế giới thực hữu, đó là thế giới vật chất, và tâm chỉ là sản phẩm của một cơ quan vật chất, óc não. Tương phản giữa tâm và vật không có giá trị gì ngoại trừ với nhận thức luận; thực tế chỉ có vật chất. Các nhà duy vật biện chứng hiển nhiên là phê bình các phái duy vật cổ, nhưng chủ phê bình của họ khôn nhằm chống lại duy vật ấy, nhưng nhất loạt nhắm vào sự thiếu sót một yếu tố biện chứng và một khái niệm đúng về sự tiến hóa.

    Hiển nhiên, tầm mực của duy vật biện chứng lệ thuộc vào ý nghĩa mà người ta mang cho từ ngữ “vật”. Về phương diện này, một vài khó khăn được tạo ra bởi định nghĩa của Lenin theo đó vật chất chỉ là một “phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan”; và trong nhận thức luận của ông vật chất hoàn toàn đối lập với tâm bằng cách đồng hóa “vật chất” với “thực tại khách quan”. Nhưng chúng ta khỏi phải nghi ngờ về điểm này, bởi vì ở những nơi khác các nhà duy vật biện chứng chủ trương rằng chúng ta có thể biết được vật chất nhờ các giác quan, rằng vật chất nằm dưới những định luật nhân duyên và tất định (lois causales et déterminites), và rằng nó đối lập với tâm; vắn tắt, rõ ràng rằng, thông dụng chữ “vật chất” theo quan niệm các nhà duy vật biện chứng không có gì khác biệt với quan niệm phổ thông. Duy vật biện chứng là thứ duy vật cổ điển và triệt để.

    E. TIẾN HÓA BIỆN CHỨNG: NHẤT NGUYÊN LUẬN VÀ TẤT ĐỊNH LUẬN

    Vật chất ở trong sự tiến hóa liên tục hướng đến chỗ hình thành những thể tính càng phức tạp hơn: nguyên tử, phân tử, tế bào sống, thực vật, loài người, xã hội. Như thế, sự tiến hóa này không giống như một vòng tròn mà là đường thẳng. Ngoài ra, sự tiến hóa được diễn ra trong chiều lạc quan: giai đoạn cuối cùng luôn luôn phức tạp nhất, phức tạp nhất lại đồng nghĩa với tốt đẹp nhất và cao quý nhất. Các nhà duy vật biện chứng vẫn hoàn toàn duy trì tin tưởng của thế kỷ XIX vì sự tiến bộ bằng tiến hóa.

    Theo họ, sự tiến hòa này gồm một chuỗi những biến cải: những thay đổi nhỏ về lượng trong tính thể của sự vật chồng chất lên nhau, tình trạng căng thẳng xuất hiện, một cuộc phấn đấu ra đời đến một thời hạn cố định thì những yếu tố mới trở nên đủ sức để hủy diệt sự thăng bằng và một tính chất mới khởi lên từ những thay đổi cho thế lực thúc đẩy của tiến hóa tiến hành bằng những bước nhảy: đó gọi là “tiến hóa biện chứng.”

    Toàn thể dòng tiến hóa không có đích điểm, được hoàn thành vì kết quả của những xung đột và tương tranh dưới sự va chạm của những yếu tố thuần nguyên nhân. Nói một cách nghiêm xác, thế giới không có một ý nghĩa hay một mục đích gì và tiến hóa một cách mù quáng phù hợp theo những định luật vĩnh cửu và tất định.

    Không có gì là thường; toàn thể thế giới và tất cả những yếu tố của nó đều bị lôi cuốn theo tiến hóa biện chứng; tại mọi nơi và khắp mọi thời, cái già chết đi và cái mới xuất hiện; không có những bản thể cố định và “những nguyên lý vĩnh cửu.” Chỉ có vật chất và những định luật về sự biến đổi của nó tồn tại miên viễn trong dòng lưu chuyển phổ quát.

    Thế giới là một toàn thể nhất thống. Trái với siêu hình học (Marxists) coi thế giới như một đám những thực thể rời rạc, các nhà duy vật biện chứng là đại diện của một nhất nguyên luận theo hai nghĩa. Họ nhìn thế giới như một thực tại duy nhất (ngoài nó là hư vô, và nhất là không có Thượng đế), và họ coi nguyên lý của nó như là đồng nhất thể (nhị nguyên luận hay đa nguyên luận theo kiểu nào đều bị loại bỏ vì sai lầm).

    Những định luật điều hành thế giới này là tất định theo nghĩa cổ điển của chữ này. Chắc chắn các nhà duy vật biện chứng, với nhiều lý do, không muốn bị xếp loại vào những chủ “tất định”, và vì thế, họ nói rằng, tỉ dụ sự sinh trưởng của một thực vật không hoàn toàn tất định bởi những định luật của thực vật đó, nhưng vì một yếu tố ngoại tại, như mưa đá chẳng hạn, có thể làm cho vô hiệu. Tuy nhiên, trong tương quan với toàn thể các sự vật, các nhà duy vật biện chứng cứng rắn cự tuyệt những ngẫu thể – những định luật của thế giới trong toàn thể tính của chúng ta đã tất định toàn bộ tiến trình của vũ trụ, không có ngoại lệ.

    F. TÂM LÝ HỌC

    Tâm, hay ý thức, chỉ là một hiện tượng phụ đới, một “bản sao, một phản chiếu, một bức ảnh” của vật chất (Lenin). Ý thức không thể hiện hữu mà không có thân thể và là một sản phẩm của óc não. Vật chất là dữ kiện sơ thủy, và ý thức (hay tâm) là thứ yếu; do đó, ý thức không phải là cái tất định cho vật chất, mà ngược lại, vật chất cho ý thức. Tâm lý học như thế là duy vật và tất định.

    Tuy nhiên, tất định luận này tinh tế hơn của duy vật thuở trước. Vì một điều là các nhà duy vật biện chứng không muốn hoàn toàn là những chủ tất định, như chúng ta đã thấy trong tương quan với ngẫu thể. Tự do, theo họ là khả năng khiến những định luật của thiên nhiên thành hữu ích, dĩ nhiên, ngay cả con người cũng lệ thuộc vào những định luật này nhưng nó ý thức được vấn đề, và tự do của nó, một cách đơn giản, là ý thức về sự tất yếu (như với Hegel). Thêm nữa, họ trực tiếp mà hoạt động qua trung gian của xã hội.

    Như thế con người chính yếu là xã hội, không thể sinh tồn ngoài xã hội; chỉ trong xã hội nó mới có thể sản xuất những nhu yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, những phương tiện và phương pháp cho sự sản xuất như thế trước nhất hạn định những mối tương quan người và người và đến lượt chúng hạn định ý thức con người. Đó là đề tài của duy vật sử quan; mọi sự mà con người nghĩ, hay ước muốn, trong một phân tích cứu cánh, đều là một hậu quả những nhu cầu xã hội của nó, cũng như chúng kết quả do những phương pháp sản xuất và những tương quan xã hội được tạo nên bởi sự sản xuất này.

    G. NHẬN THỨC LUẬN

    Vì vật chất xác định, tất định ý thức, nên nhận thức phải được lĩnh hội trong một tư thái duy thực, chủ tri không tạo ra đối tượng, vì đối tượng hiện hữu độc lập với chủ tri; nhận thức kết quả từ sự kiện theo đó những bản sao, những phản chiếu, hay những bức ảnh của vật chất đều có mặt trong tâm. Thế giới không phải bất khả tri mà là hoàn toàn khả tri. Dĩ nhiên phương pháp chân thực để nhận thức duy chỉ là khoa học được kết hợp với sự thực hành có kỹ thuật; tiến trình kỹ thuật đủ chứng tỏ sự kém thế của tất cả bất khả tri luận. Dù nhận thức nhất thiết là nhận thức giác quan, tư tưởng thuần lý cũng cần thiết là nhận thứ giác quan, tư tưởng thuần lý cũng cần thiết để tổ chức những dữ kiện kinh nghiệm này. Thực chứng luận là một “trò phỉnh gạt trưởng giả” và là một “duy tâm luận”; bởi vì trên thực tế chúng ta nắm được yếu tính của các sự vật qua những hiện tượng.

    Như thế nhận thức luận chủ Marx tự chứng tỏ một duy thực tuyệt đối và ngây thơ của một kiểu mẫu duy nghiệm thông thường. Đặc điểm của duy vật chủ Marx nằm ở sự kiện nó kết hợp quan điểm duy thực ấy với một quan điểm duy thực khác, thực dụng luận (pragmatisme). Từ quan niệm rằng mọi yếu tố của ý thức chúng ta đều được tất định bởi những nhu cầu kinh tế, thì tiếp theo đó mỗi giai cấp xã hội có khoa học riêng của nó và triết học riêng của nó. Một khoa học độc lập và biệt lập và bất khả: chân lý là những gì dẫn đến sự thành công, và, chỉ có sự thực hành thôi thiết lập tiêu chuẩn của chân lý.

    Cả hai lý thuyết về nhận thức này được tìm thấy song song trong chủ nghĩa Marxist mà không một ai cố hết sức để điều hòa chúng. Phần lớn người ta công nhận rằng nhận thức chúng ta là một cố gắng cho chân lý tuyệt đối, nhưng bây giờ nó chỉ là tương đối và chỉ để trả lời cho những nhu cầu chúng ta thôi. Ở đây, lý thuyết ấy hình như rơi vào mâu thuẫn, vì nếu chân lý mà tương đối đối với những nhu cầu chúng ta thì nhận thức không bao giờ có thể là một bản sao của thực tại – ngay dù một bản sao phiến diện.

    H. NHỮNG GIÁ TRỊ

    Theo duy vật sử quan tất cả những nội dung của ý thức đều là kết quả của những nhu cầu kinh tế và rồi những nhu cầu ấy lại thay đổi liên tục. Điều này đặc biệt áp dụng cho luân lý, thẩm mỹ và tôn giáo.

    Trên phương diện luân lý, duy vật sử quan không thừa nhận một quy tắc trường cửu nào cả và dạy rằng mỗi giai cấp xã hội có luân lý riêng của nó. Luật luân lý cao nhất là lẽ thiện giúp cho việc hủy diệt xã hội trưởng giả.

    Về thẩm mỹ, những sự thể càng phức tạp hơn. Ta phải sẵn sàng công nhận rằng trong thực tại, trong bản thân những sự vật, hiện hữu một yếu tố khách quan hoạt động như là nền tảng của sự đánh giá thẩm mỹ của chúng ta và cho phép ta nhìn các sự vật vừa đẹp vừa hữu ích. Nhưng về phía khác sự định giá này cũng lệ thuộc sự tiến hóa; mỗi giai cấp có những nhu cầu riêng biệt của nó; mỗi giai cấp thẩm định giá trị theo cách thể riêng biệt của nó. Thế thì nghệ thuật không thể tách biệt khỏi cuộc sống, nó phải tham dự vào cuộc đấu tranh giai cấp; nó phải biểu trưng cho những cố gắng dũng cảm của lớp cần lao trong công cuộc đấu tranh để kiến thiết một thế giới theo xã hội chủ nghĩa (duy thực xã hội).

    Sau hết, đối với tôn giáo, lý thuyết lại thay đổi thêm một lần nữa. Duy vật biện chứng coi tôn giáo như là một kết cấu của những quan niệm sai lầm và quái dị mà khoa học đã kết án, và chỉ có khoa học mới là con đường dẫn đến hiểu biết. Tôn giáo bắt nguồn từ sợ hãi; trong sự bất lực của mình trước thiên nhiên, và sau đó là đối diện với những kẻ lợi dụng, loài người thánh hóa những thế lực đó và cầu nguyện chúng, đồng thời tìm thấy ở tôn giáo và những tín ngưỡng thế giới trên kia một nguồn an ủi mà đời sống nô lệ và bị lợi dụng của họ không thể mang lại được. Tuy nhiên, những kẻ lợi dụng (bọn phong kiến, tư bản, v.v) coi tôn giáo như một phương tiện tốt nhất để đặt quần chúng vào dưới ách thống trị của chúng; trước hết là làm cho quần chúng vâng lời những kẻ lợi dụng họ và thứ đến là ngăn cản lớp lao động nổi loạn bằng cách hứa hẹn cho họ một số phận tốt đẹp hơn sau khi chết. Hạng lao động không lợi dụng một ai, và do đó không cần đến tôn giáo. Trong khi luân lý và thẩm mỹ chỉ bị thay đổi, tôn giáo hoàn toàn bị tiêu hủy.

    Trực giác, cái nằm ở nền tảng của những hệ thống mà chúng ta vừa trình bày, chính là một thứ tình cảm sắc bén về những chiều kích lấn áp của vũ trụ, mà ở trong đó, con người chỉ là một hạt bụi vô nghĩa bị bỏ rơi vào một thế giới hững hờ hay đáng ghét nữa. Điều dễ hiểu, cái trực giác trên căn bản duy vật này phải được nối kết với một thái độ lãng mạn hào hùng. Lạc lối trong vụ trụ vô hạn, con người phải bảo vệ mình bằng sức mạnh của chính mình, bằng khoa học mà mình có, và điều này tạo ra sự tôn sùng khoa học và kỹ thuật và sự đăng quang của lý tính con người.

    Dù cái trực giác ấy có là của chung của tất cả những nhà duy nghiệm, mà đằng khác vẫn còn những sai biệt như thế trong từng hệ thống khiến cho khó mà quy định phong trào này trong toàn bộ của nó. Đại đa số những đại biểu của nó điều tán dương khách quan tính và quyền lực tương đối hiểu biết của con người. Trên toàn thể, họ thừa nhận rằng dù một số ít cương quyết hơn, tinh thần không sáng tạo nên thế giới, rằng thế giới hiện hữu độc lập với tâm thức và rằng, một nhận thức bao quát thế giới là không thể có. Khi biện minh cho những quan niệm này, thì chính họ lại nhận lãnh việc ngăn chặn sự đe dọa từ chủ ngoại lý và chủ quan luận nguy hại đang đe dọa nền văn hóa Tây phương. Nhiều tư tưởng gia kể trên nhất là những triết gia phân tích, đã khiến cho sự tiến bộ của lý luận khoa học và phương pháp luận của khoa học thiên nhiên, rất là được việc.

    Tuy nhiên, những sắc thái tiêu cực của các hệ thống này vẫn còn quá lộ liễu. (1) Họ thảy đều có khuynh hướng quay trở về một lập trường mà đời sống tinh thần của Âu châu đã vượt qua từ lâu, và thế là họ thiết lập nền triết học thoái hóa đối với thời đại chúng ta; điều này đặc biệt đúng cho duy vật biện chứng. (2) Về phương diện lý thuyết thì thật là yếu thế vô cùng. Khỏi phải nói, duy vật biện chứng thường thường tự hạn chế vào trình độ gần như là tiền Socrate, mà ngay cả thực chứng luận cũng nằm trên một thể luận chất phác và trên những tiền đề độc đoán mà các đại biểu của nó chưa từng xét lại. Tính chất một chiều của những hệ thống này thật là kì lạ. (3) Nhưng điều quan trọng nhất là không một hệ thống triết học nào ở đây có một giải đáp cho những vấn đề trọng đại của con người mà tư tưởng hiện đại đang vật lộn với chúng. Đối diện với sự khổ, luân lý và tôn giáo, họ thường bằng lòng với tuyên bố rằng những điều đó không mang lại những nghi vấn nào, hay chính ra những nghi vấn như thế mà được nêu lên chỉ là vô nghĩa. Vì xu hướng thoái hóa ấy, sự yếu kém mặt lý thuyết và sự thiếu sót của họ trước những vấn đề trọng đại về thân phận con người, những nền triết học này ít có giá trị trong tư tưởng hiện đại – ngoại trừ những kết quả thuần phương pháp học của các triết gia phân tích. Nhìn vào toàn thể, triết học hiện đại không những chỉ bỏ qua những kết luận của các nền triết học này mà còn bỏ lối đặt vấn đề của chúng.

    Nguồn: Phiên bản điện tử do bạn Phạm Tấn Xuân Cao, sinh viên khoa Triết trường Đại học Huế, gửi cho triethoc.edu.vn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Chân Lý
  • Thế Nào Là Chân Lý?
  • Chân Lý Là Gì Theo Triết Học Mác
  • Tri Thức Và Tri Thức Phương Pháp
  • Và Tri Thức
  • Tình Yêu Là Vật Chất Hay Ý Thức Trong Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ví Dụ Về Sự Thay Đổi Về Lượng Dẫn Đến Sự Thay Đổi Về Chất Và Ngược Lại
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?
  • Nội Dung Cơ Bản Nhất Của Nho Giáo Qua Lịch Sử Của Nó
  • Biện Pháp Khai Thác Truyện Kể Trong Dạy Học Các Bài Triết Học
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Là Gì? Nó Có Những Hình Thức
  • ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Có ngồn tin nói rằng:

    “Tình yêu không phải là do ý thức quyết định mà là vật chất. Người ta vẫn thường lầm tưởng rằng tình yêu là đến từ con tim, từ ý thức con ng, nhưng thực tế khoa học cũng chứng minh rằng trái tim là vô tội. Mọi cảm xúc, tình cảm của con người đều bị chi phối, điều khiển từ não bộ của con người. Mà bạn biết đấy, não bộ của con ng cũng chính là 1 dạng vật chất còn gì. Kỳ thực ý thức của con ng cũng do vật chất, tức bộ não quyết định. Cho nên nói tình y là vật chất không sai.

    Tuy nhiên cũng ko thể phủ nhận sự tác động của ý thức đối với ty.Bởi vì mọi sự vật tồn tại trong thế giới điều chịu sự quy định của vật chất và sự tác động của vật chất, vật chất và ý thức không tách rời.”

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Và cũng nguồn tin bảo rằng:

    “Tình yêu là ý thức chứ kô phải vật chất

    Tình yêu là một từ có rất nhiều ý nghĩa khác nhau trong tiếng Việt.

    Nó có thể một thứ gì đó gây thích thú (tôi yêu bữa ăn này), tới điều gì mà một người sẵn sàng chết vì nó (lòng yêu tổ quốc). Nó có thể miêu tả một cảm giác mãnh liệt, một sự xúc động. Trong cách sử dụng thông thường thì đó là tình yêu giữa cá nhân với nhau. Tình yêu là đề tài phổ biến nhất trong nghệ thuật.

    Có nhiều kiểu tình yêu. Tình yêu là vấn đề vốn có, cố hữu trong mọi nền văn hóa con người. Thực sự nhiều nền văn hóa khác nhau đã làm cho định nghĩa nói chung về tình yêu rất khó thiết lập.

    Sự biểu lộ của tình yêu có thể bao gồm tình yêu dành cho linh hồn, cho thiên nhiên, cho tiền bạc, cho học tập, cho sức mạnh, cho nữ giới, cho thức ăn, cho sự tôn trọng người khác… Nhiều người khác nhau đặt những tầm quan trọng khác nhau cho những loại tình yêu mà họ nhận được. Tình yêu về cơ bản khá trừu tượng, khó hiểu, hiểu theo kinh nghiệm dễ hơn là giải thích.

    Tình yêu không dành cho con người

    Một người có thể coi là yêu tổ quốc, một địa danh, hay một bàn thắng nếu họ coi trọng và tận tâm một cách sâu sắc với nó.

    Tình yêu trong văn hóa thế giới

    Hình thiên thần nhỏ, có cánh cũng là một biểu tượng cho tình yêu

    Trung Quốc

    Trong ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, nhiều thuật ngữ thể hiện khái niệm “tình yêu”:

    愛 ái được dùng như một động từ (ví dụ trong 我愛你 ngã ái nễ “anh/em yêu em/anh”) hay một danh từ, đặc biệt ái tình(愛情).

    La tinh

    Ngôn ngữ La tinh có nhiều động từ ứng với “tình yêu”.

    Amare là gốc của động từ “yêu”, mà ngày nay vẫn còn sử dụng trong tiếng Ý.

    Bản chất tình yêu

    (theliquidimage)

    Các nhà khoa học vừa khám phá ra một hỗn hợp hoá chất trong não đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên sự lãng mạn của những đôi uyên ương và sự hấp dẫn mãnh liệt ở giới nam – nữ. Đó thực sự là điều mà mọi người gọi là tình yêu.

    Yêu là chết, vẫn yêu

    Tại sao một đối tượng nào đó dù chỉ là lần gặp gỡ đầu tiên đã hớp hồn ta? Tại sao người ta luôn tìm kiếm sự lãng mãn của nhau? Tại sao có người chỉ yêu duy nhất một người đến trọn đời?

    Muôn vàn câu hỏi tại sao vẫn chưa có lời đáp, vì nếu đã có đáp số thì người ta đã biết tình yêu là gì và sẽ chẳng còn ai lao vào tìm tình yêu nữa.

    Nhà nhân chủng học thuộc Đại học Rutgers ở Mỹ – Helen Fisher đã dành hàng chục năm trời để nghiên cứu về những con đường hoá học của tình yêu ở mọi hình thức biểu lộ của nó: thèm khát lẫn nhau, lãng mạn, ôm ấp, giận hờn và ghen tuông. Bà cho biết: “Người phụ nữ thường sử dụng những cảm giác vô thức của mình để quyết định xem liệu anh chàng nào đó có phù hợp với mình hay không. Nếu anh ta thiếu can đảm và cứng nhắc thì cô ta sẽ không thấy hứng thú vì cho rằng anh chàng này không thể nào là ông chồng tốt trong tương lai. Các nhà khoa học tin rằng chính điều này đã giúp phái nữ biết phân biệt đâu là người tốt và đâu là Sở Khanh”.

    Khi hai người khác giới nhìn thẳng vào người mình yêu, những phần não bộ liên kết với nhau tạo ra cảm giác hứng thú và thu hút lẫn nhau, hay còn gọi là chất dopamine – được thấy với nồng độ cao trong tuỷ thượng thận và trong não có thể hoạt động như chất dẫn truyền thần kinh. Ở phần não phải, chất dopamine tạo ra năng lượng mạnh, niềm phấn chấn, tập trung và động cơ thúc đẩy.

    Điều đó giải thích vì sao khi mới bước vào tình trường, bạn có thể thức suốt đêm, ngắm mặt trời mọc, chạy đường trường không biết mệt, dám làm những điều bình thường không dám làm… Chính tình yêu tạo thêm hưng phấn, làm bạn sáng suốt hơn, giúp bạn vượt qua những trở ngại để đạt được điều mơ ước.

    Tình yêu bắt đầu từ lỗ… mũi

    Các chuyên gia phân tâm học hiện đại cho rằng, chúng ta thường mong muốn gặp gỡ những người thật hấp dẫn và do đó khi chọn bạn đời, ta luôn chọn những người trông khoẻ khoắn.

    Khoẻ mạnh ở người phụ nữ có nghĩa là phải đạt 70% tỷ lệ eo và mông, còn ở nam giới phải có mức testosterone trong máu cao. Tỷ lệ vòng eo và mông đóng vai trò quan trọng trong việc sinh sản của phụ nữ và một hệ miễn dịch khoẻ ở nam giới để cho ra đời con cái khoẻ mạnh.

    Có lẽ sự lựa chọn bạn đời phụ thuộc vào chiếc… mũi! Claus Wedekind ở Đại học Lausanne đã làm một thí nghiệm hấp dẫn với… áo pull.

    Ông yêu cầu 49 phụ nữ thử ngửi những chiếc áo được những người đàn ông bí mật mặc trước đó, theo kiểu di truyền khác nhau nhằm tác động đến mùi cơ thể và hệ miễn nhiễm. Sau đó ông yêu cầu họ phân loại áo mùi tốt nhất và có mùi ghê nhất. Kết quả phụ nữ thích hương thơm từ chiếc áo được mặc bởi anh chàng có kiểu gene khác với mình.

    Khi nghiên cứu khía cạnh sinh học của tình dục, ông đã phát hiện những cơ thể gắn bó khiến con người là một sinh vật mang tính xã hội cao và không thể sống đơn lẻ. Chính phân tử ocytocine tạo ra cảm giác sung sướng khi đạt cực khoái trong giao hợp cũng giúp gắn kết tình cảm mẹ con khi người mẹ cho con bú, và là phân tử tạo ra sự chung thuỷ. Khi tiêm ocytocine vào chuột thích “đa thê” thì chúng trở nên chung thuỷ thấy rõ.

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học? Tình yêu triết học Thầy giáo Vũ Đình Bảy, khoa GDCT – ĐHSP Huế Em đến với anh bằng tình yêu triết học Tình ta chứa chan đầy mâu thuẫn Mâu thuẫn ấy không thể tách rời tranh đấu Mà làm cho tình yêu phát triển đi lên Anh khuyên em đừng phủ định vùng lên Đừng vội cho anh là duy tâm hạng nhất Và ” Đa nguyên” là không thể biết Anh ghét nhị nguyên dao động lưng chừng Và lên án cả siêu hình máy móc Ta vận động đâu chỉ bằng cơ học Mình đến với nhau bằng khối óc tư duy Anh phán đoán xem em đang nghĩ gì ? Có phải vì em mà anh đang “duy lý” Sẽ theo anh đến tận ngàn thu Hai đứa chúng ta là một cặp phạm trù Và hai mặt “đối lập” của tình yêu bất diệt Và hai trái tim cùng nhịp đập Đang chuyển hoá giữa không gian hừng hực Lửa tình yêu vũ trụ quay cuồng Đánh thức dậy những tâm hồn đã tắt Giọt nắng “hư vô” ý niệm bay về Và cả thánh Valentin đáng kính Tình đôi ta như chân lý phân minh Mối liên hệ vững bền em hãy ghi nhớ Em ơi ! Xin đừng vì nguyên cớ Vì nguyên nhân mà phụ tình anh Em giữ gìn ngôn hạnh công dung Những khái niệm thân thương dệt thành tri thức Vì yêu em nên anh thú thực Con người anh cũng có lúc riêng chung Cũng có lúc nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả Em hãy nhẹ nhàng thư thả nhắc anh nghe Ta phải làm gì tránh những nguy cơ Kẻo chệch hướng tình yêu về hiện tượng Để tình ta mãi mãi xanh thực tiễn Anh báo thế gian này không hề chuyển biến Không ai tắm hai lần trên dòng sông Sau mỗi Satna em ơi mình đã khác Dù anh xin em đừng có khóc Đừng cho đi phủ định sạch trơn Đừng dấu diếm bờ môi thất vọng Đừng bỏ qua một cách vội vàng Ở phía trước vận động không phải là vô tận Tồn tại hay không là cả một vấn đề Em đừng mải mê trực quan sinh động Muốn hiểu rõ về nhau hay tư duy trừu tượng Tránh chủ quan trong đánh giá con người Ta sẽ biến khả năng thành hiện thực sáng ngời Và mãi đây dù vật đổi sao dời Người yêu hỡi Thời gian em ơi hãy đợi Anh cùng em bước qua thời quá độ Hướng đến ngày “hất đổi” ánh bình minh Hướng đến tình yêu cộng sản văn minh Giữa hiện thực khách quan hai đứa chúng mình Vận động mãi trong tình yêu hạnh phúc Để tình yêu đang chờ phía trước Kết độ rồi nhảy vọt tới hôn nhân Và bước tới hình thái gia đình riêng cụ thể Ta ngày càng biện chứng trong nhau Anh khái quát mấy lời gửi em yêu mến Ta hãy mong chờ thực tiễn của ngày mai Khúc khải hoàn biện chứng của tương lai Như quy luật muôn đời tất yếu Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Về Chính Trị: 6
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ Và Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác
  • Phẩm Giá Con Người Trong Triết Học Kant
  • Khoa Học Về Vi Sinh Vật Đang Định Nghĩa Lại Triết Học: Con Người Là Gì?
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Khái Niệm ‘lịch Sử’ Trong Sử Học
  • Khái Niệm ‘sử Luận’ Trong Sử Học
  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Đề tài : Vật chất với tư cách là phạm trù trong triết học Mac – Lê nin LỜI NÓI ĐẦU Vấn đề phạm trù là một trong những vấn đề cơ bản của bất kì một môn khoa học nào, đó là những khái niệm chung nhất và rộng nhất. Chủ nghĩa duy tâm coi phạm trù là những cấu tạo thuần tuý thuộc tư duy, tồn tại độc lập với thế giới khách quan. Khi định nghĩa các khái niệm, các phạm trù, các quy luật khoa học, triết học mac – xít xuất phát từ lí luận phản ánh biện chứng của chủ nghĩa duy vật cho rằng các sự vật và hiện tượng của hiện thực, các thuộc tính và quan hệ của chúng đều tồn tại ở bên ngoài và độc lập với quá trình nhận thức. ” Vấn đề học thuyết về vật chất và cấu tạo của vật chất. Đó là một phương tiện tốt để chống lại các ”nọc độc” cần gọi chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết là ”nọc độc”. (V.I Lê nin : Toàn tập) Phạm trù vật chất bao gồm tất cả các nét chung của mọi phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó phản ánh bản chất của hiện thực. Phạm trù vật chất bao gồm tất cả các nét chung của mọi phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó phản ánh bản chất vật chất của hiện thực. Phạm trù vật chất có ý nghĩa quan trọng vè nhận thức luận vì nó phản ánh nguồn gốc nhận thức, do đó xác định và chỉ đạo công việc nghiên cứu của tất cả các vấn đề khác của nhận thức. Phạm trù vật chất giữ một vị trí quan trọng so với các phạm trù khác của Triết học Mác – Lê nin, trước hết vì nó xác định rằng thế giới quan Mác – xít là thế giới quan duy vật, phép biện chứng Mác – xít là phép biện chứng duy vật và lí luận phát triển xã hội của chủ nghĩa Mác là lí luận duy vật. Trong khi phản ánh bản chất vật chất của thế giới bao gồm cả tự nhiên và khoa học, phạm trù vật chất gắn bó chặt chẽ với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Muốn nêu bật được nội dung triết học sâu sắc của phạm trù vật chất cần nghiên cứu lịch sử phát triển của nước, phân tích rõ nó đã được phong phú thêm cùng với sự phát triển của triết học duy vật và khoa học tự nhiên, đồng thời nó được kết tinh lại trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm như thế nào. Việc nghiên cứu sự phát triển của phạm trù vật chất trong lịch sử triết học đã làm cho sự hiểu biết của chúng ta về lí luận nhận thức chủ nghĩa duy vật biện chứng thêm phong phú. Phải nói rằng định nghĩa của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất với tư cách là một phạm trù triết học là sự tổng kết, sự tóm tắt về mặt lí luận, sự đúc kết toàn bộ lịch sử triết học và khoa học tự nhiên, toàn bộ lịch sử đấu tranh của chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, phép siêu hình và thuyết không thể biết. Lần đầu tiên triết học Mác – xít đã giải đáp một cách rõ ràng vấn đề khác nhau giữa vật chất với tính cách là một phạm trù triết học với các khái niệm phản ánh các thuộc tính nhất định và cấu tạo của vật chất, cũng như vấn đề liên hệ giữa khái niệm vật chất của triết học và các quan niệm cụ thể của khoa học tự nhiên về dạng riêng biệt của vật chất. NỘI DUNG I.Phạm trù vật chất trong thời kì cổ đại Quan điểm về vật chất trong triết học phương Đông cổ đại Điểm xuất phát và cơ sở của nhận thức là từ thực tiễn. Phạm trù triết học là kết quả hoạt động nhận thức và thực tiễn loài người. Trong quá trình lao động do quan sát nhiều lần, con người đã dần phát hiện những đặc tính mới của các sự vật xung quanh. Ấn Độ là một trong những nước đầu tiên mà triết học ra đời và bắt đầu phát triển, vào khoảng cuối thế kỉ II – đầu thế kỉ I trước công nguyên. Nhiều hệ thống triết học ấn độ trong thời gian này đã có các yếu tố duy vật và các khuynh hướng tìm ra một cách giải thích biện chứng các hiện tượng của tự nhiên, đồng thời truyền bá rộng rãi ý nghiệm về thuyết nguyên tử. Các quan điểm duy vật đầu tiên ấy đều gắn liền với việc thừa nhận một trong những dạng cụ thể của vật chất là cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới như : Nước, lửa, không khí, ánh sáng. Các nhà duy vật khẳng định rằng thế giới vật chất phát sinh do sự kết hợp của các yếu tố vật chất do những quy luật vốn có của chúng. Quan niệm này còn mang tính chất trực quan, cảm tính khi cho rằng vật chất là tập hợp các yếu tố như : Lửa, nước, không khí, ánh sáng. Tuy nhiên nó cũng góp phần chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo khi thừa nhận sự tồn tại của thần linh và các lực lượng siêu tự nhiên, đã sáng tạo ra thế giới vật chất. Cũng giống như ở Ấn độ, các quan điểm duy vật ở Trung quốc cổ đại đã hình thành cùng với sự phát triển của các tri thức khoa học tự nhiên. Các nhà bác học Trung quốc cổ đại đã đúc kết các thành tựu của nhận thức về tự nhiên và ra sức đi tìm cơ sở đầu tiên của tất cả các vật thể và các quá trình tự nhiên. Để đạt được mục đích đó họ xuất phát từ sự xem xét trực tiếp các hiện tượng của tự nhiên. Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật chất phác ở Trung quốc cổ đại đã đạt tới một trình độ cao hơn ở Ấn độ. Ngay từ đầu thế kỉ XI và X Trước công nguyên các nhà tư tưởng của Trung quốc cổ đại đã cho rằng các nguyên tử vật chất : Nước, lửa, không khí và ánh sáng là những nguyên tố đầu tiên của thế giơi. Trong các nguyên thể vật chất ấy có hai mặt đối lập nhau : Khí dương và khí âm. Do sự tác động qua lại giữa các nguyên thể ấy, các vật thể được tạo ra và biến đổi. Thế kỉ VI đến thế kỉ IV trước công nguyên, trong lịch sử Trung quốc là thời kì đấu tranh của giai cấp gay gắt, chính trong thời kì này đã xuất hiện các trường phái triết học chủ yếu : Khổng Tử, Mặc Tử, Lão Tử…. Lão Tử đã cố chứng minh rằng vật chất là cơ sở tồn tại của thế giới, là nguồn gốc của tất cả mọi vật thể và hiện tượng, là bản chất của mọi đối tượng và quá trình. 2. Sự phát triển của các quan niệm về vật chất trong triết học Hy lạp cổ đại. Các quan điểm duy vật cổ đại về vật chất của các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại đã được tiếp tục phát triển trong triết học Hy lạp cổ đại ra đời vào thế kỉ VI trước công nguyên. Aristot cho rằng : Vật chất là cái tạo thành tất cả mọi vật, cái đầu tiên từ đó tất cả mọi vật đều khai sinh. Theo Ta – let các vật thể riêng biệt đều là những biến thể, những sản phẩm của nước, một nguyên thể vật chất không biến đổi và không bị tiêu diệt. Thức ăn của mọi sinh vật đều ẩm ướt, hạt giống của tất cả mọi vật đều có bản chất ẩm ướt mà nguồn gốc của các vật thể ẩm ướt theo Ta-let chính là nước. Anaximen khẳng định nguyên thể đầu tiên ấy chính là không khí còn Hêraclit lại cho rằng đó là lửa. Xu hướng thống trị trong triết học duy vật thời bấy giờ là sự thừa nhận một nguyên thể vật chất dưới dạng những vật thể cảm tính cụ thể riêng biệt.Họ chỉ ra rằng trạng thái của vật chất và các đặc tính của nó đều biến đổi,nhưng bản thân nó thì không sinh ra và cũng không chết đi mà tồn tại vĩnh viễn, sự vận động của nó là một quá trình tự nhiên không phụ thuộc vào bất kì một lưc lượng siêu tự nhiên nào. Angghen đã nhận xét rằng : ” Chủ nghĩa duy vật biện chứng Hylạp cổ đại có tính thống nhất của những hiện tượng tự nhiên muôn hình muôn vẻ là một điều hiển nhiên và đi tìm tính thống nhất đó ở một cái gì hữu hình, rõ rệt ở một cái gì đặc biệt, chẳng hạn Talet đã đi tìm ở nước.” Những ngưòi sáng tạo ra thuyết nguyên tử của Hylạp cổ đại như Đêmôcrit cho rằng trong thế giới có cái tồn tại là nguyên tử. Nguyên tử là những hạt không thể phân chia,không thể thâm nhập,đồng nhất về bản chất nhưng khác nhau về hình thức .Sự hợp nhất và tách rời các nguyên tử theo trật tự khác nhau tạo nên tính muôn vẻ của vật chất. Một cống hiến quan trọng của Đêmôcrit là ông đặt vấn đề xem vật chất như một phạm trù triết học. Nhưng những người theo chủ nghĩa duy tâm như Platon thì cho rằng ý niệm là cái có trước và tồn tại vĩnh viễn, ý niệm sản sinh ra mọi hiện tượng tự nhiên, thế giới ý niệm có trước thế giới các sự vật cảm biết. Theo Platon thế giới ý niệm hoàn thiện và ưu việt hơn thế giới các sự vật cảm biết do chúng không vận động và biến đổi. Theo quan điểm của ông đối tượng của tri thức không phải là các vật thể của quá trình tự nhiên mà là những bản chất tinh thần, ông không quan tâm đến thế giới vật chất vì theo ông đó là thế giới của những hình ảnh tưởng tượng, những hình bóng. 3. Đánh giá những cống hiến của triết học cổ đại về quan niệm vật chất. Triết học cổ đại đã có những cống hiến quan trọng đối với việc phát triển học thuyết về vật chất. Các nhà duy vật cổ đại đã nêu nên những tác phẩm thiên tài về học thuyết vật chất với tính cách là phạm trù triết học và cấu tạo của vật chất. II. Quan điểm vật chất trong thời kì trung cổ và cận đại 1. Các quan điểm vật chất trong thời kì trung cổ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm tiếp diễn trong thời kì trung cổ từ thế kỉ thứ V đến thể kỉ XIV ở cả phương Đông và Tây âu. Ở Tây âu diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy danh và chủ nghĩa duy thực. Các nhà duy danh coi các vật thể cá biệt tồn tại khách quan và được nhận biết bằng cảm giác có trước các ý niệm chung. Ngược lại, các nhà duy thực cho rằng các ý niệm chung có trước các vật thể. Các tư tưởng của phái duy danh đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà triết học duy vật Anh như : Hop-xo và J.Lôc-cơ. Mac viết rằng : Chủ nghĩa duy danh là một trong những yếu tố chính ở các nhà duy vật Anh nói chung là sự biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa duy vật. 2.Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm về tính vật chất của thế giới. Các quan điểm duy vật về tự nhiên và vật chất đã được phát triển trong cuộc đấu tranh quyết liệt với hệ tư tưởng phong kiến. Trọng tâm của cuộc đấu tranh giữa khoa học và tôn giáo trong thời kì Phục Hưng là quan hệ giữa Trời và Đất. Theo quan điểm của triết học kinh viện trung cổ, Trái đất là trung tâm của vũ trụ, tuyệt đối không vận động, Trời là bản chất tồn tại của các lực lượng siêu nhiên. Việc sáng tạo ra học thuyết lấy Mặt trời làm trung tâm của thế giới, là cơ sở của thiên văn học, khoa học đã xoá bỏ ranh giới thần bí giữa Trái đất và các thiên thể. Khoa học chỉ ra rằng Trời không phải là nơi chứa các lực lượng siêu tự nhiên, nó cũng là vật chất và vận động theo quy luật bên trong vốn có của nó. Bruno đã chỉ ra rằng xét về phương diện vật chất và thực thể vật chất cũng như xét về những quy luật thống nhất đã chi phối Trời và Đất thì thế giới là thống nhất, nghĩa là tính thống nhất của thế giới ở tính vật chất của thế giới. Bruno coi vật chất là nguyên nhân và nguồn gốc của tất cả mọi hiện tượng tự nhiên, là nền tảng và cơ sở của hiện thực vì sự biến đổi của vật chất sinh ra tính nhiểu vẻ của hiện thực. 3.Vật chất là phạm trù của tồn tại khách quan. F.Bêcơn là người sáng lập ra ” Hình thức mới” của chủ nghĩa duy vật ở Anh. Ông đã nghiên cứu những quan điểm triết học của mình về vật chất trong cuộc đấu tranh với triết học kinh viện. Ông cho rằng đối tượng chân chính của nhận thức là vật chất, cấu tạo của vật chất và sự biến hoá của vật chất. Ông phê phán quan niệm của chủ nghĩa kinh viện, lấy các khái niệm trừu tượng làm điểm xuất phát. Đối với Bêcơn : Vật chất, tự nhiên tồn tại ở bên ngoài độc lập với ý thức và chỉ được nhận thức băng giác quan của chúng ta. Chỉ có thể hiểu được các quy luật của tự nhiên, cấu tạo của tự nhiên mới có thể nắm giữ được các lực lượng tự nhiên bắt nó phục vụ con người. Mac viết : ”ở Bê cơn người sáng tạo đầu tiên ra chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật mạng trong mình nó những mầm mống của sự phát triển toàn diện, dù là còn dưới hình thức mộc mạc.” Bê cơn xuất phát từ chỗ cho rằng vật chất có tính chất hoạt động, nhiều hình vẻ và vận động là thuộc tính quan trọng của nó. Theo Bê cơn có cả thảy 19 hình thức vận động nhưng ông lại đưa tất cả về hình thức vận động chung : Vận động cơ giới. Đây là hạn chế trong quan điểm của ông về các hình thức vận động. Người sáng lập ra một trào lưu triết học khác đấu tranh chống lại học thuyết kinh viện là Đề cac tơ – nhà triết học, nhà bác học nổi tiếng của nước Pháp. Ông và những học trò của ông những người theo phái Đềcáctơ giải thích rằng thế giới chỉ xuất phát từ vật chất và vận động. Công lao vĩ đại nhất của Đề các là đã nêu lên nguyên tắc bảo toàn số lượng vận động đó là định luật bảo toàn năng lượng về mặt số lượng. Cố gắng của Đề các nhằm giải thích tất cả các hiện tượng của tự nhiên, xuất phát từ nguyên tắc thống nhất của vận động. Như thế ở Đề các tơ vật chất là sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng của hiện thực. Tuy nhiên Đề các tơ vẫn không thoát khỏi quan điểm siêu hình khi xem xét cấu tạo của vật chất cho rằng vật chất không tách rời với vận động cơ học. 4.Phạm trù vật chất trong triết học trong cổ điển Đức ( cuối XVIII – nửa đầu XIX) Trong triết học cổ điển Đức thì Hêghen là nhà triết học mang trong đầu nhiều nhiều tư tưởng có tính mâu thuẫn. Ông vừa là nhà duy vật nhưng cũng đồng thời là nhà duy tâm. Theo quan điểm của Hê ghen thì “một tinh thần tuyệt đối” nào đó tồn tại trước khi có tự nhiên và con người. Tinh thần là cái có trước và vĩnh viễn còn tự nhiên là cái có sau và do tinh thần sản sinh ra. Ông cho rằng toàn bộ tính nhiều vẻ của hiện tượng tự nhiên, xã hội chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Theo quan niệm của ông những thực tế đem lại cho chúng ta trong cảm giác không phải là hiện thực. Vật chất với tính cách là một phạm trù, ở Hê ghen được xem như một trình độ phát triển nhất định và sự tự ý thức của tinh thần tuyệt đối. ậ Hêghen các phạm trù : thực tại, tồn tại, vật thể, hiện thực khách quan đều được xem như những trình độ phát triển, trình độ nhận thức về những ý niệm tuyệt đối, những hình thức phát triển trừu tượng của tư duy thuần tuý. Ông viết rằng : ” Không có vật chất không vận động, điều đó cũng đúng như không có sự vận động nào không có vật chất” nhưng cần thấy rằng ở Hê ghen vật chất chỉ như một cái gì đó ở bên ngoài, có thể nhân thức được bằng tri giác, bằng cảm tính, còn vận động chỉ như là sự thay đổi vị trí giản đơn trong không gian, là sự lặp lại cái đã từng tồn tại. Đóng ghóp quan trọng của Hê ghen là đã phát biểu một loạt những dự đoán biện chứng có giá trị về mặt bản chất của thế giới khách quan sau này những dự đoán đó được chủ nghĩa duy vật tiếp tục phát triển thành hệ thống hoàn chỉnh. Đến thế kỉ XIX các quan điểm duy vật về vật chất đã được nhà triết học duy vật Phơ – bách phát triển. Phơ – bách bảo vệ chủ nghĩa duy vật, những quan điểm của ông về vật chất trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm của Hê ghen. Phơ – bách khẳng định rằng : “Đặc trưng cơ bản của tồn tại khách quan, của tồn tại bên ngoài tư duy là tính cảm giác được”. Theo quan niệm của Phơ – bách thì các vật thể không những tồn tại ở bên ngoài, độc lập với tư duy mà nó còn là đối tượng tác động vào các giác quan của con người và được các giác quan phản ánh. Ông phê phán quan điểm của thuyết không thể biết ở chỗ cho rằng : ” vật tự nó là một cái trừu tượng, không có thực”. Nhưng trong khi khẳng định tính khách quan của tự nhiên, tính có thể nhận thức và tính nhiều màu vẻ của nó. Phơ – bách không nêu lên được một định nghĩa tổng hợp về phạm trù triết học vật chất. Ông đã đem đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó. Phơ – bách coi vật chất là cái đang vận động trong không gian và thời gian có thuộc tính căn bản là vận động. III. Phạm trù vật chất và vấn đề cơ bản của triết học 1. Định nghĩa vật chất với tính cách là phạm trù triết học Theo định nghĩa của Ănghen, chủ nghĩa duy vật là thế giới quan chung dựa trên cơ sở một quan niệm nhất định về quan hệ giữa vật chất và tinh thần. Vì vậy, Lê Nin đã coi sự phủ nhận vật chất là hiện thực khách quan như sự phủ nhận những cơ sở của thế giới quan Mác – xít. Phạm trù vật chất trong chủ nghĩa duy vật biện chứng không còn là khái niệm hẹp dùng để chỉ các chất, các nguyên tử, mà là khái niệm cựu kì rộng bao trùm toàn bộ thực tại khách quan. Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gác lại thuộc tính cụ thể sẵn có của các dạng cụ thể của vật chất, các mối liên hệ, quan hệ giữa các thuộc tính ấy với nhau mà nêu bật lên cái bản chất chủ yếu trong các thuộc tính ấy và tính khách quan của chúng. Bản chất của các phạm trù triết học là ở chỗ chúng phản ánh các mặt, các mối liên hệ phổ biến của các đối tượng và các quá trình của hiện thực. Công lao của C.Mác và F.Ănghen là chứng minh được rằng vấn đề quan hệ giữa ý thức với vật chất là vấn đề cơ bản của triết học, rằng giải quyết vấn đề này, xét cho cùng quyết định bản chất của mỗi hệ thống triết học, quyết định tính Đảng của người sáng lập ra hệ thống đó. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chứng minh rằng vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và như thế là có trước ý thức, ý thức do vật chất sản sinh ra. Ý thức là sản phẩm và kết quả phát triển của vật chất, là thuộc tính của vật chất. Vật chất là nguồn gốc và là nguyên nhân của các cảm giác, biểu tượng, tư tưởng….xem như tập hợp các hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nhờ thực hiện triệt để chủ nghĩa duy vật trong giải thích các hiện tượng của tự nhiên và xã hội nên C.Mác và F.Ănghen đã xây dựng được một cách toàn diện một trong những nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng là nguyên lý về tính vật chất và tính thống nhất của thế giới. Dựa vào các nguyên lý ấy và toàn bộ các tư tưởng phong phú của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đúc kết các thành tựu quan trọng nhất của khoa học sau này, khi Ănghen mất, trong những điều kiện mới, V.I Lê nin đã phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác và lần đầu tiên nêu lên trong lịch sử triết học duy vật định nghĩa sâu sắc về vật chất với tính cách là một phạm trù triết học. V.I Lênin chỉ ra rằng : Để định nghĩa phạm trù có tính vật chất không thể sử dụng những phương pháp quen thuộc trong lôgic học. Để định nghĩa vật chất phải xét nó trong quan hệ với ý thức, nghĩa là giải quyết một cách khoa học vấn đề cơ bản của triết học: Vấn đề quan hệ của ý thức với vật chất. V.I Lênin nêu lên một định nghĩa sâu sắc, triệt để và khoa học nhất về vật chất. Lênin định nghĩa rằng : ” Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, nghĩa là được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại độc lập với các cảm giác ấy”. Định nghĩa mở rộng của Lê nin giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là có thể nhận thức được thế giới khách quan. Định nghĩa kinh điển này nêu ra những đặc điểm quan trọng nhất của vật chất : nó là cái có trước và có thể nhận thức được, được đem lại trong cảm giác. 2. Vật chất – vấn đề cơ bản của triết học Trong thế giới tồn tại rất nhiều những hiện tượng phong phú và đa dạng nhưng nếu khái quát lại thì có những hiện tượng thuộc về tự nhiên và những hiện tượng thuộc về tinh thần hay mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Có rất nhiều nhà triết học đi nghiên cứu về vấn đề này, giữa họ có những tranh cãi xung quanh vật chất- ý thức tạo nên hai trường phái triết học : Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Chúng ta đã biết những vấn đề cơ bản của triết học được Ănghen nêu ra một cách đầy đủ nhất trong “Lut vich Phơ – bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. Khi nêu ra vấn đề cơ bản của triết học Ănghen đã nêu ra cách giải quyết duy tâm của Hê ghen và chỉ ra rằng cách giải quyết theo chủ nghĩa duy tâm có nguyên nhân lịch sử do gắn liền với quan niệm chật hẹp của xã hội, quan niệm về tôn giáo. Ănghen đặc biệt chú trọng phê phán cách giải quyết của chủ nghĩa duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học : ” Những người nào quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên và do đó cuối cùng thừa nhận rằng thế giới đã được sáng tạo ra bằng cách này hay cách khác đều thuộc về phái duy tâm. Ngược lại những người nào cho rằng tự nhiên là yếu tố có trước, thì đều thuộc về các trường phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.” Như vậy thì cách giải quyết duy vật về vấn đề cơ bản của triết học của Ănghen là nhằm chống lại tất cả các biến tướng của chủ nghĩa duy tâm đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm khách quan. Lê nin cũng đặc biệt chú ý phê phán chủ nghĩa duy tâm chủ quan ở chỗ chủ nghĩa duy tâm cho rằng khách thể không tồn tại ở ngoài tâm trí, khách thể là những phức hợp cảm giác. IV. Tính vật chất và tính thống nhất của thế giới. 1. Tính vật chất của thế giới Trong ” Chống Đuyrinh” Ănghen viết : ” Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, mà tính vật chất ấy chỉ được chứng minh bởi sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”. Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là thế giới quan khoa học xây dựng những kết luận của nó trên cơ sở những dữ kiện của khoa học về các thuộc tính và các quy luật phát triển của thế giới. Lênin đã nêu lên hai đặc điểm của vật chất xem như một thực tại khách quan : Sự độc lập của vật chất với ý thức với tinh thần và khả năng của nó tác động vào ý thức, nghĩa là được phản ánh trong cảm giác. Trước hết, thuộc tính của tất cả mọi sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh ta là thuộc tính tồn tại khách quan. Thứ hai, các vật thể và hiện tượng đều mang tính chất cảm giác chứ không phải là siêu cảm giác, siêu tự nhiên. Phủ nhận các nguyên lý đó thì sẽ không thể nào nêu lên được những mối liên hệ qua lại và những mối quan hệ giữa các mặt của thế giới vật chất, không thể nghiên cứu được một cách có ý thức, quy luật phát triển của các dạng vật chất riêng lẻ, cũng như cấu tạo và thuộc tính của chúng. 2. Sự gắn liền giữa vật chất và vận động Triết học Mac – xit không phải chỉ xây dựng và xác minh quan điểm về sự có trước của vật chất và tính vật chất của thế giới mà còn nghiên cứu các thuộc tính bên trong quan trọng nhất của nó ở trạng thái vận động, cũng như các hình thái tồn tại của vật chất. Cách giải quyết duy vật biện chứng triệt để về vấn đề liên hệ giữa vật chất với vận động, giữa vật chất đang vận đông với các hình thức tồn tại của vật chất là một phạm trù hiện thực. Triết học Mac-xit cho rằng vận động là một thuộc tính gắn liền với vật chất, vận động là hình thức, là phượng thức vận động của vật chất. Vận động là sự biến đổi của vật chất, sự chuyển hoá từ những hình thức này sang những hình thức khác. Nguyên nhân và nguồng gốc của vận động nằm trong các mâu thuẫn bên trong của vật thể, các hiện tượng. Vận động của vật chất là tự thân vận động, không thể tách rời giữa vật chất và vận động vì vật chất là vật chứa vận động là nội dung và thực thể của vận động, còn vận động là hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính của nó. Nếu tất cả mọi hiện tượng và quá trình của thế giới bên ngoài đều có tính vật chất, đều là kết quả của vật chất đang vận động thì thế giới là một thể thống nhất hoàn chỉnh. Thế giới về bản chất là thống nhất và sự thống nhất của thế giới ở tính vật chất. Nhưng nếu coi thế giới như một tổng thể các vật thể giản đơn và hiện tượng riêng lẻ không liên hệ với nhau, không có tác động qua lại với nhau, không vận động thì chúng ta không bao giờ quan niệm được tính thống nhất vật chất của thế giới. Ănghen cho rằng : Chỉ có trong vận động các thuộc tính của các vật thể mới được biểu lộ ra, rằng : “bản chất của vật thể vận động là rút ra từ các hình thức của vận động”. Ănghen chỉ ra rằng sự phát triển của các hình thức trong vận động giản đơn nhất đến các hình thức cao làm cho vật chất đang vận động trở nên phức tạp. Theo các nhà duy vật biện chứng thì có năm hình thức vận động : Vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hoá học, vận động sinh học, vận động xã hội. Trong đó vận động xã hội là hình thức vận động cao nhất. Với quan điểm giải thích tất cả các hiện tượng của hiện thực là những hình thức vận động khác nhau của vật chất, có liên hệ và chuyển hoá cho nhau, phép biện chứng đã đồng thời khẳng định quan điểm duy vật với tự nhiên không dành chỗ đứng cho các lực lượng siêu tự nhiên, thần linh. Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu phạm trù vật chất giúp chúng ta chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Vật chất có trước ý thức nên trước khi đưa ra quyết định phải xem xét thật kỹ những yếu tố bản chất tất yếu bên trong mỗi sự vật hiện tượng, nghiên cứu nó trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác để không mắc sai lầm trong định hướng hoạt động thực tiễn. Góp phần tạo hiệu quả trong công việc của mỗi đơn vị, tổ chức, mỗi nghành, mỗi địa phương. 2. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu phạm trù vật chất trong triết học có ý nghĩa chỉ đạo phổ biến về mặt thế giới quan cũng như về mặt phương pháp luận đối với tất cả mọi nghành khoa học và đối vơi mọi hoạt động thực tiễn của con người. Phạm trù vật chất có ý nghĩa quan trọng về nhận thức luận vì nó phản ánh nguồn gốc, nhận thức và do đó chỉ đạo công việc nghiên cứu tất cả các vấn đề khác của lý luận nhận thức. Là điểm xuất phát giải quyết các vấn đề của lôgic biện chứng. D. KẾT LUẬN Thời đại quá độ hiện nay từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời đại đấu tranh tư tưởng cực kì gay gắt giữa thế giới quan của tư sản phản động và thế giới quan của giai cấp vô sản cách mạng. Do đó đòi hỏi chúng ta phải tuyên truyền mạnh mẽ các tư tưởng của chủ nghĩa Mac – Lê nin cũng như phải phát triển hơn nữa một số nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng trên cơ sở đúc kết thực tiễn trong công cuộc xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản cũng như trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Nghiên cứu phạm trù vật chất giúp con người giải quyết được các vấn đề quan trọng nhất của lí luận nhận thức. Vấn đề vật chất với tính cách là một phạm trù triết học luôn luôn là một vấn đề trung tâm được các nhà triết học Mac-xit đặc biệt chú ý. Đó là vũ khí chống lại những tư tưởng duy tâm thần bí, quan điểm tôn giáo xung quanh vấn đề vật chất. Giúp con người định hướng các hoạt động thực tiễn đi đúng các quy luật khách quan của nhận thức. E. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Triết học ấn độ cổ đại 2. V.I Lê nin toàn tập : Tập 1, 5, 14, 38 3. F.Ănghen : Biện chứng của tự nhiên 4. Hêghen toàn tập 5. Lịch sử triết học 6. C.Mác và Ănghen toàn tập : Tập 1, tập 2 7. Chống Đuyrinh – Ănghen 8. Những vấn đề triết học 9. C.Mác và Ănghen : Các tác phẩm cổ đại. 10. Giáo trình triết học : Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Phương Đông
  • Có Những Quan Niệm Về Con Người Cá Nhân Ở Phương Đông Không?
  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • 1. Quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học trước Mác 1.1.1. Quan niệm về vật chất trong triết học thời kỳ cổ đại

    Ngay từ thời kỳ cổ đại, mặc dù những tài liệu khoa học về tự nhiên còn rất ít, tri thức khoa học chuyên ngành chưa ra đời, sự hiểu biết của con người về thế giới chủ yếu cũng dựa vào những tài liệu cảm tính, những quan sát trực tiếp, ngay từ khi đó các nhà triết học ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Hy Lạp cổ đại, trong khi giải thích thế giới đã nêu ra quan niệm của mình về vật chất. Nhũng quan niệm đó tuy còn thô sơ, mộc mạc, chủ yếu là những phỏng đoán thiên tài, nhưng cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển sau này của tư tưởng triết học về phạm trù vật chất. Căn cứ vào tài liệu lịch sử triết học, chúng ta trình bày một cách khái quát các quan điểm đó để có sự nhận xét, đánh giá thích hợp hơn.

    a) Quan niệm về vật chất trong triết học Ấn Độ cổ đại

    Ở Ấn Độ cổ đại đã sớm xuất hiện nhiều trường phái triết học, trong đó một số trường phái có khuynh hướng duy vật đã nêu ra quan niệm về vật chất.

    Trường phái triết học Sàmkhya sơ kỳ quan niệm rằng thể giới là vật chất, thế giới có nguyên nhân vật chất. Vật chất đầu tiên là Pràkriti (hay Pradhana) không phải ở dạng thô rõ ràng có thể nhận thức bằng cảm giác được, mà ở dạng tinh tế, tiềm ẩn, không hình, không khu biệt, không giới hạn. Mọi vật thể trong thế giới mà ta quan sát thấy đều là thể thống nhất không ổn định, được sinh ra từ vật chất đầu tiên với 3 thuộc tính (hay 3 tính chất):

    1. Sattva: Nhẹ, sáng, tươi vui.

    2. Rajas: Động, kích thích.

    3. Tamas: Nặng, khó khăn.

    Ở vật chất đầu tiên, Sattva là đặc trưng cho năng lực trí tuệ, hay trí năng tiềm ẩn (Intellect); Rajas là năng lượng; Tamas là khối lượng, quán tính. Neu vật chất đầu tiên Pràkriti ở trạng thái Avyakta thì nó cân bằng ổn định. Phá vỡ sự cân bằng là điểm xuất phát của tiến hoá từ Avyakta. Yật chất là vĩnh hằng nhưng không đứng yên, mà biến đổi không ngùng từ dạng này sang dạng khác.

    Lý thuyết nguyên tử của phái Nayàya – Vai’sesika cho rằng: Thế giới là do nguyên tử tạo nên. Theo họ, những hạt bụi nhỏ nhất (trasarenu) mà chúng ta thấy được trong ánh sáng mặt trời khi chiếu qua lỗ nhỏ, cũng gồm nhũng phần tử, vì nó cũng là vật thể nhận thấy được bằng mắt. Tất cả các vật thể đều có kích thước (mahat). Nếu cứ chia mãi hạt bụi thấy được qua tia nắng chiếu qua lỗ nhỏ, thì được phần tử cuối cùng, không thể chia cắt, không có đơn vị kích thước, đó là nguyên tử. Như vậy theo những người thuộc phái Nayàya – Vai’sesika nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, không cỏ đơn vị kích thước, không nhận thức được bằng cảm giác thông thưòng. Nguyên tử tồn tại vĩnh hằng, không sinh ra, không mất đi. Họ còn cho nguyên tử của đất khác với nguyên tử của nước. Mọi vật được tạo ra từ nguyên tử. về điểm này quan niệm của họ giống với quan niệm của Đêmôcrit ở Hy Lạp cổ đại cho rằng nguyên tử là vật chất nguyên thuỷ, đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về hình thức. Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn không bị phân chia, là cơ sở tồn tại của mọi vật trong thế giới.

    Triết học Lokàyata hay còn gọi là Carvaka, hoặc Barhaspatya. Đây là trường phái triết học duy vật triệt để nhất ở Ấn Độ cổ đại. Theo quan niệm của những nhà triết học Lokàyata, thế giới được tạo ra từ 4 yểu tố vật chất: đất, nước, lửa, gió (hay không khi). Một số người còn cho là có 5 yếu tố: đất, nước, lửa, gió, khoảng không. Ý thức nảy sinh từ các yếu tố đó như sức mạnh kích thích. Con người chỉ là thân thể có ý thức tức có sức mạnh kích thích, không có tinh thần (atman) tồn tại ngoài thân thể. Trong quan niệm này* những nhà triết học Lokàyata đã khẳng định có những yếu tố vật chất đầu tiên tồn tại khách quan, vĩnh viễn, làm cơ sở cho sự tồn tại của mọi vật và ý thức chỉ tồn tại trên cơ sở vật chất. Những yếu tố vật chất đầu tiên đó đồng nhất với những dạng vật chất cụ thể mà chúng ta có thể cảm nhận được. Điều đó thể hiện quan điểm duy vật rất rõ ràng, nhưng còn rất mộc mạc, mang đậm tính chất cảm tính.

    Trong quan niệm về thế giới, khi đưa ra tư tưởng “vô ngã”, “vô thường”, Phật giáo cũng nêu ra quan niệm về vật chất. Theo lý thuyết của đạo Phật, “thế giới, nhất là thế giới hữu tình (con người) được tạo thành do sự hợp lại của các yếu tố vật chất (Sắc) và các yếu tố tinh thần (Danh) được chia làm 5 thành phần:

    Tóm lại trong triết học Ấn Độ cổ đại đã có một số trào lưu triết học nêu ra quan điểm khác nhau về vật chất, trong đó đều cho rằng có vật chất nguyên thuỷ, là cơ sở đầu tiên để hình thành nên các vật. Vật chất nguyên thủy thường đồng nhất với những dạng vật chất cụ thể nào đó. Quan niệm này tuy còn thô sơ, mộc mạc, nhưng cũng khẳng định vật chất tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức và thế giới vật chất là vô cùng vô tận. Điều đó có giá trị tích cực đối với việc phát triến tư tưởng khoa học thời kỳ cổ đại ở Ấn Độ, là tiền đề cho sự phát triển triết học duy vật sau này.

    Danh và sắc chỉ tạm thời hội tụ, rồi lại chuyển sang trạng thái khác, do vậy “không có cái Tôi” (Vô ngã, anatman). Bản chất của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục (Vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy thế giới không do ai sáng tạo ra và cũng không có cái gì vĩnh viễn tồn tại” (sđd, tr. 134-135). ở đây, Phật giáo không cho rằng vật chất quyết định sự tồn tại của ý thức, mà ý thức như một yếu tổ ngang hàng với yếu tổ vật chất. Tuy nhiên chúng ta thấy Phật giáo cũng cho rằng có các yếu tố vật chất ban đầu là cơ sở tồn tại cho các vật thể khác.

    b) Quan niệm về vật chất trong triết học Trung Quốc cổ đại

    Triết học Trung Quốc cổ đại bàn nhiều đến những vấn đề chính trị – xã hội, đến những vấn đề đạo đức, cách ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, triết học Trung Quốc cổ đại cũng có những trường phái triết học, khi giải thích các hiện tượng tự nhiên đã nêu lên quan niệm của mình về vật chất.

    Theo cuốn Lịch sử triết học do NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 1998, (GS. TS. Nguyễn Hữu Vui chủ biên), thì: Thuyết Âm – Dương cho rằng có hai lực lượng âm – dương đối lập nhau, nhưng lại gắn bó, cố kết với nhau trong mọi vật, là khởi nguyên của mọi sự sinh thành, biến hoá. Âm – dương là điều kiện tồn tại của nhau, là động lực của mọi sự vận động và phát triển. Âm – dương biểu hiện dưới dạng cụ thể như: mặt trời – mặt trăng; sáng – tối; cao – thấp; ngắn – dài; cứng – mềm; nóng – lạnh; nam – nữ; cha – mẹ; chồng – vợ; nhanh – chậm; thịnh – suy, v.v. Không có cái gì thuần âm, hay thuần dương.

    Mỗi sự vật đều có âm và dương, trong Thái âm (âm lớn) có Thiếu dương (dương nhỏ), trong thái dương (dường lớn) có thiếu âm (âm nhỏ). Sự chuyển hoá giữa âm và dương trong sự vật quy định sự vận động của mọi sự .vật, hiện tượng trong thế giới.

    Phái Ngũ hành cho rằng có 5 yếu tố vật chất nguyên thuỷ là Kim (Kim loại), Mộc (Cây cối), Thuỷ (Nước), Hoả (Lửa), Thổ (Đất). Các yếu tố vật chất nguyên thuỷ ấy không ở trạng thái tĩnh tại, đứng im mà luôn vận động, không cô lập với nhau mà quan hệ mật thiết với nhau và chuyển hoá lẫn nhau tạo nên các vật trong thế giới. Cơ chế của sự chuyển hoá đó được biểu hiện ở chỗ: Cái này sinh ra cái kia (tương sinh), hoặc cái này khắc cái kia, kìm hãm, chế ngự, thủ tiêu cái kia (tương khắc) theo một chu kỳ tuần hoàn:

    “Tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ và lại tiếp tục quá trình Thổ sinh Kim.

    Tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ và lại tiếp tục quá trình Thổ khắc Thủy.

    Họ còn cho rằng 5 yếu tố vật chất này có 5 tính năng gọi là 5 đức để giải thích nguồn gốc, chủng loại của các hiện tượng tự nhiên.

    Ngũ hành: Thổ (Đất) – Kim (Kim loại) – Thuỷ (Nước) – Mộc (Cây cối) – Hỏa (Lửa).

    Ngũ sắc: Vàng – Trắng – Đen – Xanh – Đỏ.

    Ngũ tạng: Tỳ vị – Phế – Thận – Can – Tâm.

    Bốn Mùa: Điều hoà 4 mùa – Thu – Đông – Xuân – Hạ

    Bốn phương: Ở giữa – Tây – Bắc – Đông – Nam.”

    Họ cho rằng quá trình tương sinh (bồi đắp, bồi dưỡng) và tương khắc (ức chế) diễn ra không ngừng, là quá trình tồn tại của vật chất. Như vậy thuyết Âm – Dương, Ngũ hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, tức tính tự tồn tại, tự vận động biến đổi của thế giới. Họ giải thích nguyên nhân của sự biến đổi của thế giới là do sự tác động của thế giới, tức tính tự tồn tại, tự vận động biến đổi của thế giới. Họ giải thích nguyên nhân của sự biến đổi của thế giới là do sự tác động của 2 hoặc 5 yếu tố vật chất đầu tiên, từ đó tạo nên các dạng vật chất vô cùng đa dạng trong thế giới. Sự tồn tại, biến hoá của các vật trong thế giới không phải do tinh thần, hay do lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên nào đó quyết định, mà do sự tác động lẫn nhau của chính các yếu tổ vật chất quyết định.

    Trong Dịch truyện cũng nêu ra quan niệm về thế giới, cho rằng khởi nguyên của thế giới là do hai khí Âm – Dương; hai khí đó giao cảm với nhau mà tạo thành mọi vật. Như vậy ở đây theo Dịch truyện có vật chất đầu tiên mà họ gọi là “khí Âm” và “khí Dương”. Đây là hai yếu tố nguyên thuỷ của thế giới vật chất quan hệ mật thiết với nhau để tạo nên mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên mà biểu hiện của nó như: Trời – Đất, Cha – Mẹ, Nóng – Lạnh, Cứng – Mềm v.v.

    Vương Sung (27-105), một nhà triết học theo quan điểm duy vật thời Hán cho rằng “vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ cái có”, thế giới là do một thực thể vật chất “khí” tồn tại vĩnh viễn sinh ra. Trong “khí” có “khí đặc” và “khí loãng” (hay khí ấm và khí dương), hai khí đó tương tác với nhau không ngừng và sản sinh ra muôn vật. Như vậy Vương Sung cũng cho rằng cỏ vật chất đầu tiên (khí – cái “có”) là cơ sở sinh ra mọi dạng vật chất cụ thể khác.

    Quan niệm về vật chất của thuyết âm – dương, ngũ hành, của Dịch truyện cũng như của Vương Sung và một số các nhà triết học khác ở Trung Quốc cổ đại đều cho rằng có thực thể vật chất đầu tiên, mà họ thường đồng nhất với những dạng cụ thể của vật chất. Mọi vật trong thế giới đều được sinh ra từ sự tác động và kết họp các thực thể vật chất đầu tiên đó. Quan niệm đó tuy còn chất phác và máy móc, nhưng nó đã có tác dụng tích cực, chống lại quan niệm duy tâm tôn giáo về tự nhiên, thúc đẩy sự phát triển tư tưởng khoa học thời kỳ cổ đại, cố gắng tìm nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên không phải từ tinh thần mà từ vật chất.

    c) Quan niệm về vật chất trong triết học Hy Lạp cổ đại

    Ở Hy Lạp cổ đại, từ thế kỷ VI đến thế kỷ IV chúng tôi với sự phát triến mạnh mẽ của sản xuất, của nghề thủ công, sự giao lưu buôn bán mở rộng, sự ra đời, tồn tại hai quốc gia thành bang hựng mạnh nhất là Athenes và Spartes, cũng là lúc văn hoá cổ Hy Lạp phát triển rực rỡ nhất. Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của Hy Lạp cổ đại đó tạo điều kiện cho tư tưởng triết học phát triển rất phong phú. Các trường phái triết học thể hiện khá rõ nét, trong đó trường phái duy vật và duy tâm là chủ yếu. Sự đấu tranh giữa hai trường phái triết học này là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy triết học Hy Lạp cổ đại phát triển. Trong khi giải thích thế giới, các nhà triết học ở Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về vật chất.

    Talét (khoảng 625 – 547 chúng tôi (có sách cho Talét sống khoảng 640 đến 550 chúng tôi cho rằng nước là khởi nguyên của thế giới. Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước. Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo ra thì biến đổi không ngừng. Thế giới là một thể thống nhất, biến đổi không ngừng theo một vòng tuần hoàn mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó. Như vậy ở đây Talét đã đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể là nước mà ông coi là cơ sở (hay bản nguyên) đầu tiên của mọi vật trong thế giới. Quan niệm này thể hiện rõ tính chất duy vật sơ khai về thế giới của triết học Hy Lạp cổ đại.

    Anaximan (khoảng 610 – 546 chúng tôi là học trò của Talét. Khác với Talét, Anaximan cho rằng nguồn gốc và cơ sở của mọi vật không phải là nước mà là Apeirôn (theo tiếng Hy Lạp Apeirôn hay Apâyrông – nghĩa là treo lơ lửng). Theo ông, Apeirôn là cái không có hình thức xác định, là vô cùng, vô tận, tồn tại vĩnh viễn khắp mọi nơi trong vũ trụ. Apeirôn không phải là nước, cũng không phải là lửa, là cái trung gian giữa nước và lửa, nhưng mọi vật đều được sinh ra từ nó. Quan niệm của Anaximan về Apeirôn thể hiện sự cố gắng của nhà triết học muốn thoát khỏi tính hạn chế của việc đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của nó. Nhưng do trình độ hiểu biết của con người về thế giới còn rất hạn chế, nên vẫn coi có một dạng vật chất đầu tiên là Apeirôn (do tưởng tượng ra) làm cơ sở của mọi vật.

    Anaximen (khoảng 588 – 525 chúng tôi (là học trò của Anaximan) lại cho rằng không khí là nguồn gốc của tất thảy mọi vật, là cái vô định hình mà ngay cả Apeirôn cũng chỉ là tính chất của không khí.

    Hêraclit (sinh khoảng 544 – 541 chúng tôi và không rõ mất thời gian nào) là nhà triết học Hy Lạp cổ đại có nhiều tư tưởng biện chứng rất sâu sắc. Ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi vật trong thế giới, cho nên mọi vật linh động như ngọn lửa. Mọi cái biến thành lửa và lửa thành mọi cái tương tự như trao đổi vàng thành hàng hoá và hàng hoá thành vàng. Lửa là cơ sở của mọi vật, đồng thời là khởi nguyên sinh ra mọi vật, lửa không chỉ sản sinh ra các sự vật vật chất mà còn sinh ra cả những hiện tượng tinh thần, cả linh hồn con người.

    Pitago (khoảng nửa cuối thế kỷ VI chúng tôi chịu ảnh hưởng bởi các quan niệm toán học nên ông cho rằng bản chất thế giới và khởi nguyên của thế giới là các con số. Theo Pitago, mọi cái trên thế giới đều chỉ là hiện thân của các con số, một vật tương ứng với một con số nhất định, chẳng hạn điểm hình học được coi là đon vị đơn giản nhất tương ứng với số 1, đường thẳng tương ứng với số 2, mặt phẳng tương ứng với số 3, vật thể tương ứng với số 4 V.V. Những con số là khởi nguyên của mọi vật và tồn tại trước mọi vật. Quan niệm này cho vật chất có nguồn gốc từ các yếu tổ phi vật chất, do vậy đây là quan niệm duy tâm về vật chất.

    Kxênôphan (khoảng 579 – 478 chúng tôi đã nêu ra quan niệm cho rằng toàn bộ đất đai của chúng ta trước kia bị chìm ngập dưới biển, sau đó một phần đất nổi lên và trở thành lục địa, chỗ cao trở thành nói non. Từ đó Kxênôphan cho rằng đất cùng với nước là cơ sở của mọi cái trên thế gian, là nguồn gốc tạo nên sự sống của muôn loài sinh vật.

    Bản thân nước tạo ra các đám mây, các đám mây đó lại tạo ra các hành tinh, kể cả mặt trăng và mặt trời. Trong quan niệm này thể hiện rõ tư tưởng cho rằng có vật chất đầu tiên, là cơ sở cho mọi dạng vật chất cụ thể, thế giới có điểm khởi đầu.

    Parmênit (khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ V chúng tôi là học trò của Kxênôphan, cho rằng bản chất của mọi sự vật trong thế giới là tồn tại, không thể có cái “không – tồn tại”, bởi chúng ta không thể hình dung được nó là cái gì. Tồn tại là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của thế giới bởi vì mọi vật dù khác nhau thế nào thì vẫn có điểm chung là “Tồn tại”, tức là chúng có thực. Không có cái gì trên thế gian lại sinh ra từ hư vô, tức là từ cái “không – tồn tại”. Ngược lại, không có cái gì mất đi mà không để lại dấu vết, Trên thế giới, chúng ta chỉ thấy liên tiếp diễn ra sự biến đổi từ dạng tồn tại này sang dạng tồn tại khác mà thôi. Bản chất của tồn tại là bất biến, vĩnh viễn, và không thể mất đi được. Tồn tại tự đồng nhất với chính bản thân nó. Chỉ có thể nhận thức được tồn tại bằng tư duy, bằng lý tính, Mọi tư duy bao giờ cũng là tư duy về tồn tại. Tư duy và tồn tại đồng nhất với nhau, chúng là một. Như vậy phạm trù tồn tại của Parmênit không thừa nhận có vật chất đầu tiên là cơ sở của mọi vật cụ thể, là khởi nguyên của thế giới vật chất. Tuy nhiên phạm trù tồn tại của Parmênit lại bao hàm cả khía cạnh vật chất cả khía cạnh tinh thần. Đây là mặt hạn chế trong quan niệm của Parmênít về tồn tại vì ông chưa hiểu được sự đồng nhất giữa các khía cạnh vật chất và tinh thần là cả một quá trình. Thật ra, ở ông chưa có sự phân biệt giữa tư tưởng về đối tượng với đổi tượng của tư tưởng, chưa thấy ranh giới tương đối giữa tinh thần và vật chất. Điều đó làm cho học thuyết của ông về tồn tại gần gũi với chủ nghĩa duy tâm. Nhưng học thuyết về tồn tại của Parmênit là sự phê phán mạnh mẽ quan niệm của các nhà triết học trước đó ở chỗ: Một là, các nhà triết học trước đó đã tuỳ tiện lựa chọn các nguyên tố đầu tiên (khởi nguyên); Hai là, thừa nhận* có cả tồn tại và không tồn tại. Như vậy chúng ta thấy quan niệm của Parmênit về vật chất đã có tính khái quát khá cao, thể hiện sự cố gắng của ông muốn thoát khỏi tính cụ thể trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học Hy Lạp đương thời khác.

    Empeđốc (khoảng 490 – 430 chúng tôi và Anaxago (khoảng 500 – 428 chúng tôi không thoả mãn với các nhà triết học trước đây cho khởi nguyên thế giới chỉ là một yếu tố, ông thừa nhận có bốn yếu tố khởi nguyên của mọi sự vật là: ỉửa, không khí, nước và đất. Bổn yếu tố khởi nguyên này tồn tại độc lập, bất biến. Từ sự kết hợp và phân giải bốn yếu tố khởi nguyên trên theo tỷ ỉệ khác nhau mà sinh ra mọi sự vật trên thế gian này. Ngay cả các bộ phận của cơ thể con người cũng là sự kết hợp theo một tỷ lệ nhất định các yếu tố khởi nguyên ban đầu nêu trên.

    Đêmôcrit (khoảng 460-370 tr.CN), cho rằng khởi nguyên thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào đó như nhiều nhà triết học trước đó quan niệm mà là các nguyên tử (tức tồn tại) và khoảng không (tức cái không – tồn tại). Nguyên tử và khoảng không đều là các nguyên nhân vật chất (theo nhận xét của Arixtốt). Nguyên tử và khoảng không có nhiều đặc tính khác nhau: Nguyên tử thì đậm đặc, vững chắc không thể phân chia, khoảng không thì trống rỗng; nguyên tử thì đa dạng, khoảng không thì thuần nhất; nguyên tử thì có kích thước hình dạng nhất định, còn khoảng không thì vô tận và không có hình dạng nhất định nào cả.

    Theo Đêmôcrít, nguyên tử có nhiều hình dạng khác nhau như hình cầu, hình tam giác, hình lõm v.v. Các nguyên tử còn khác nhau về thể trạng và tư thế. Các nguyên tử không thể biến hoá từ nguyên tử này sang nguyên tử kia mà tồn tại vĩnh viễn. Chính sự đa dạng về hình thức của các nguyên tử và sự kết hợp các nguyên tử trong khoảng không tạo nên sự đa dạng của các sự vật trong thế giới. Quan niệm của Đêmôcrit về nguyên tử là sự kết họp quan niệm của Hêraclít và Parmanít về tồn tại, vừa cho rằng tồn tại là bất biến (nguyên tử là bất biến) vừa cho rằng thế giới luôn luôn biến đổi (Sự kết họp các nguyên tử tạo nên các vật thường xuyên thay đổi). Quan niệm của Đêmôcrít về nguyên tử đã giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên, là đỉnh cao của quan niệm triết học duy vật.thời kỳ cổ đại về phạm trù vật chất. Quan niệm đó đã khẳng định nguyên nhân vật chất của thế giới, đồng thời cho rằng có vật chất ban đầu là nguyên tử. Nguyên tử là giới hạn cuối cùng của vật chất, không thể có yếu tố vật chất nào là bộ phận của nguyên tử nữa.

    Tóm lại ở thời kỳ cổ đại các nhà triết học chưa nêu ra được định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất (hay chưa có khái niệm trừu tượng về vật chất), mà thường đồng nhất vật chất nói chung với một dạng, hoặc một vài dạng cụ thể của vật chất mà họ gọi là khởi nguyên của thế giới. Họ nhận thấy thế giới bao gồm vô vàn các sự vật khác nhau, biến đổi không ngừng, nhưng vẫn thống nhất với nhau, và họ tìm cách giải thích thế giới các sự vật đa dạng đó ở cơ sở đầu tiên (yếu tố khởi nguyên). Do sự hiểu biết thế giới xung quanh còn ít, những tài liệu về thế giới chủ yếu dựa vào những quan sát trực tiếp, nên những yếu tố khởi nguyên mà các nhà tư tưởng nêu ra đều là các giả định, còn mang tính chất cảm tính, chưa được chứng minh về mặt khoa học, thường chỉ được cảm nhận của chúng ta xác nhận phần nào. Tính chất cảm tính trong quan niệm về vật chất của thời kỳ cổ đại thế hiện ở chỗ mỗi nhà triết học lại đưa ra quan niệm khác nhau về yếu tố khởi nguyên của thế giới do ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống khác nhau. Chẳng hạn, Talét cho yếu tố khởi nguyên của các vật là nước vì ông nhận thấy nước cần thiết cho con người và mọi sinh vật; Hêraclit cho yếu tố khởi nguyên của các vật là lửa vì ông sống trong thời kỷ chiến tranh thường xuyên xảy ra. Trong chiến tranh, lửa là vũ khí mạnh mẽ nhất v.v. Đây là đặc điểm lớn nhất của quan niệm về vật chất ở thời kỳ cổ đại. Điều này cũng cho thấy những quan niệm của triết học về thế giới chịu ảnh hưởng của điều kiện sống của con người như thế nào.

    1.1.2. Quan niệm về vật chất trong triết học phương Tây thế kỷ XVII – XVIII.

    Từ cuối thế kỷ XVI, do nhu cầu của sản xuất, khoa học tự nhiên thực nghiệm bắt đầu được phát triển. Đen thế kỷ XVII – XVIII khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ nhờ ứng dụng được các thành tựu của toán học và cơ học. Nhiều môn khoa học mới ra đời và đạt được những kết quả mới trong việc nghiên cứu tự nhiên, như quang học, điện và từ, thiên văn học, hoá học, động vật học và thực vật học. Những thành tựu của khoa học tự nhiên trên các lĩnh vực khác nhau đã tạo điều kiện cho sự khái quát triết học về phạm trù vật chất tiến lên một bước mới, không dừng lại ở các giả định mà là những khái quát dựa trên những tài liệu thực tế của khoa học. Tuy nhiên, khoa học thế kỷ XVII – XVIII mới là những khoa học nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của thế giới, những tài liệu về mối liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau còn chưa có. Phương pháp nghiên cứu khoa học thời kỳ này chủ yếu là phương pháp phân tích, tiến từ cái toàn thể đến cái bộ phận, sự phân chia thế giới thống nhất ra thành các bộ phận để tìm hiểu. Chính do ảnh hưởng của phương pháp nghiên cứu khoa học thời kỳ này nên quan niệm về vật chất trong thời kỳ này mang tính chất siêu hình, máy móc.

    Các nhà triết học tiêu biểu thời kỳ này đã nêu ra một số quan niệm khác nhau về phạm trù vật chất như Brunô (1554-1600), Phran xi Bêcơn (1561-162ỒỊ, Tômát Hôpxơ (1588-1679), Rêne Đềcác (1596-1650), Bêkênít Xpinôza (1632-1677), Đêni Điđrô (1713-1784), Gialenơphơ Lametri (1709-1751) v.v.

    Brunô (1554 – 1600) là một nhà triết học và nhà khoa học tự nhiên của Italia thời kỳ Phục hưng, là người bảo vệ thuyết nhật tâm của Côpécních, một nhà tự nhiên thần luận nghiêng về lập trường duy vật hơn, do vậy ông đã bị Giáo hội thiêu sống.

    Do thế lực tôn giáo còn lớn, chi phối đời sống tinh thần của xã hội, nên quan niệm về vật chất của Brunô phải bọc trong cái vỏ thần học. Ông nêu ra phạm trù cái duy nhất (Uno) đó là Thượng đế tồn tại dưới dạng tự nhiên, như là một thế giới độc lập, không phải được sinh ra từ một cái khác nào đó. Theo Brunô, Uno là tự nhiên – Thượng đế. Mọi sự vật chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của Uno. Sự vật thì biến đổi không ngừng, nhưng bản thân Uno thì bất biến giống như quan niệm của Parcmênít về tồn tại. Ở đây Thượng đế không phải là lực lượng siêu tự nhiên, sinh ra tự nhiên, mà là chính tự nhiên, chính cái duy nhất Uno ấy. Có thể nói Uno trong quan niệm của Brunô là một cách gọi khác về cơ sở đầu tiên có tính vật chất của các sự vật trong thế giới. Chữ “Thượng đế” ở đây chỉ là một từ trống rỗng, không có ý nghĩa là thực thể tinh thần tạo nên các sự vật vật chất như quan niệm về ý niệm của Platon, mà chỉ là cái vỏ bọc cho tư tưởng về cơ sở vật chất của thế giới.

    Chịu ảnh hưởng quan niệm của Arixtốt nhưng Brunô cũng chống lại quan niệm của Arixtốt. Arixtốt cho rằng có cái vật chất ban đầu tồn tại bên ngoài cái hình dạng thuần túy, vật chất chỉ là cái thụ động, tiêu cực phụ thuộc vào hình dạng thuần túy. Brunô cho không có cái vật chất ban đầu bên ngoài cái hình dạng thuần túy, vật chất và hình dạng thống nhất trong Uno. Vật chất phải là cái tích cực, nó vừa là cơ chất, vừa là thực thể của mọi vật. Mọi hình dạng chẳng qua là hình dạng của vật chất mà thôi. Để giải thích cơ cấu hình thành các vật và sự vận động của chúng, ông nêu ra thuyết đơn tử (Monad – đơn vị theo tiếng Hy Lạp), theo đó mọi sự vật và cả vũ trụ nói chung được cấu thành từ các đơn tử như những phần tử nhỏ nhất của vật chất có chứa đựng khả năng tinh thần, ông thừa nhận vận động là đặc tính của vật chất, do vậy trong nội tâm của các đơn tử đều có vận động làm cho nó có sinh khí, rất linh hoạt. Tuy nhiên ông lại dao động trong việc giải thích nguồn gốc của vận động và hình dạng của vật chất, ông cho rằng nguồn gốc của vận động và hình dạng của các vật là do linh hồn và hình dạng phổ biến của thế giới quyết định. Điều này đưa ông đến chủ nghĩa vật hoạt luận, tức là cho rằng mọi vật có đặc tính tinh thần như con người, sự tồn tại và biến đổi của các vật là có mục đích nhất định.

    Phranxis Bêcơn (1561 – 1626) là một nhà triết học vĩ đại, ông tổ của chủ nghĩa duy vật cận đại Anh.

    Quan niệm về vật chất của Bêcơn thể hiện trong quan niệm về thể giới của ông. Theo Bêcơn, để giải thích thế giới chỉ cần có vật chất là đủ, không cần phải tìm đến thế giới thần thánh, hay thế giới tinh thần siêu tự nhiên. Như vậy ông phủ nhận ý thức là nguyên nhân sinh ra vật chất. Ông cho mọi cái trên thế gian được tạo thành là do 3 nguyên nhân: “hình dạng”, “vật chất”, “vận động”, đó thực chất đều là bản tính của vật chất. Vì vậy vật chất có bản tính là tích cực, có sinh khí chứ không phải thụ động. Quan niệm trên của Bêcơn về vật chất có sự phát triển hơn so với quan niệm của Arixtốt thời kỳ cổ đại. Ông đã thấy được sự thống nhất của vật chất với hình dạng và vận động, tức là ông đã có quan niệm sâu sắc hơn về sự thống nhất của thế giới vật chất và tính chất phong phú trong hình thức tồn tại của nó. Tuy nhiên do hạn chế của điều kiện lịch sử và còn chịu ảnh hưởng nặng nề cái quan niệm siêu hình máy móc về thể giới nên đôi khi Ph. Bêcơn còn hiểu hình dạng như một khái niệm chung thuộc về lĩnh vực tinh thần chứ không phải là bản chất của chính bản thân sự vật vật chất. Hơn nữa Bêcơn vẫn chỉ thấy vận động của vật chất là vận động cơ học (gồm 19 dạng vận động như: “1) vận động xung đối; 2) vận động móc nối, kết hợp; 3) vận động giải phóng đưa tới thoát khỏi áp lực; 4) vận động đưa sự vật tới kích thước và khối lượng mới; 5) vận động liên tục; 6) vận động có lợi; 7) vận động tự hợp lại với quy mô lớn; 8) vận động tự họp lại với quy mô nhỏ; 9) vận động từ tính; 10) vận động sản sinh ra; 11) vận động chạy trốn; 12) vận động thức tỉnh; 13) vận động mô tả; 14) vận động ngoại tuyến; 15) vận động theo xu hướng; 16) vận động hùng tráng; 17) vận động tự quay; 18) vận động rung động; 19) đứng yên”.

    Những vận động nêu trên dường như vẫn chỉ là những dạng vận động cơ học mà Ph. Bêcơn phân chia theo cảm nhận của mình, chưa theo cấp độ khác nhau về cấu trúc vật chất.

    Tômát Hốpxơ (1588 – 1679) cũng là một đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII. ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất. Thế giới vật chất có trước con người và không phải do chúa trời tạo ra. Nhưng Hốpxơ lại ngả theo lập trường duy danh cho rằng thế giới của chúng ta chỉ tồn tại các sự vật đon lẻ, những khái niệm như “thực thể”, “vật chất” chỉ là những tên gọi. Theo ông không tồn tại khách quan cái bản chất chung của các sự vật, cho nên ông không có được quan niệm biện chứng về mối liên hệ giữa các sự vật trong thế giới. Điều đó làm cho quan điểm duy vật của ông trở nên không triệt để.

    Rêne Đềcáctơ (1596 – 1650) – một nhà triết học lỗi lạc của Pháp, một nhà duy lý rất đề cao lý tính, trí tuệ của con người. Ông nêu lên luận điểm nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” với ý nghĩa đề cao vai trò chủ thể tư duy, ý thức của con người.

    Quan niệm về vật chất của Đồcáctơ có tính chất nhị nguyên, ông cho rằng Thượng đế sáng tạo ra 2 loại thực thể khác nhau: thực thể vật chất có quảng tính, tạo nên các sự vật vật chất và thực thể tinh thần tạo nên các hiện tượng tinh thần không có kích thước, hình dáng xác định, không cảm nhận được bằng các cảm giác. Thực thể vật chất và thực thể tinh thần song song tồn tại, không phụ thuộc vào nhau, không sản sinh ra nhau, mà chỉ phụ thuộc vào Thượng đế.

    Bêkênít Xpinôza (ỉ632 – 1677) ỉà một nhà triết học lỗi lạc của Hà Lan. Quan niệm về vật chất của Xpinôza thể hiện qua quan niệm về giới tự nhiên như một thực thể với những thuộc tính và dạng thức của nó. Ông cho rằng giới tự nhiên như một thực thể duy nhất, tồn tại hoàn toàn độc lập do nguyên nhân tự nó. Khác với Đềcáctơ, Xpinôza cho thực thể chính là thực thể giới tự nhiên chứ không phải ở ngoài hay ở trên giới tự nhiên như một lực lượng siêu nhiên thần bí nào đó.

    Theo xpinôza giới tự nhiên ixiiU’ một thực thể có các đặc tính như:

    Một là: Nó đang tồn tại trọn vẹn và đầy đủ, không phải thêm cái gì vào nữa. Điều này khẳng định tính khách quan của giới tự nhiên.

    Hai là: Thực thể tồn tại hoàn toàn độc lập. Ngoài toàn bộ giới tự nhiên như một thực thể duy nhất ra thì không còn cái gì khác. Thực thể là nguồn gốc chung, là nền tảng, đồng thời là bản chất chung của mọi vật, cả vật chất lẫn tinh thần. Điều này khẳng định thể giới có nguyên nhân tự nó, có sự thống nhất giữa tính chất chung và tính chất nhiều vẻ của nó.

    Ba là: Thực thể là vô cùng tận về không gian và vĩnh hằng về thời gian. Thực thể không đồng nhất với các vật mà tách rời với các vật, là một cái siêu không gian và siêu thời gian, và không thể phân chia được.

    Quan niệm về thực thể với các đặc tính nêu trên thể hiện Xpinôza giải thích thế giới vật chất theo lập trường duy vật, cố gắng đưa ra một quan niệm khái quát hơn về vật chất, đưa ra phạm trù thực thể không đồng nhất với một dạng cụ thể của vật chất để giải thích các sự vật trong thế giới. Tuy nhiên việc tách rời thực thể với các vật, thực thể là cơ sở chung của các vật, tồn tại trước các vật làm cho quan niệm về yật chất của Xpinôza vẫn không vượt khỏi đặc điểm chung của quan niệm về vật chất của các nhà triết học đương thời với ông, vẫn đồng nhất vật chất với một bản nguyên ban đầu nào đó, mà ở đây là thực thể.

    Đêni Điđrô (1713 – 1784) – một nhà triết học điển hình của Pháp thời kỳ Khai sáng. Quan niệm về vật chất của ông có nhiều yếu tố biện chứng. Ồng cho rằng vật chất là nguyên nhân duy nhất của mọi cảm giác của chúng ta. “Trên thực tế vũ trụ chỉ có một thực thể, cả trong con người lẫn động vật, cũng như các sự vật khác, đó là vật chất. Bản tính cố hữu của nó là vận động. Chính vận động là năng lực sống động của vật chất. Sự dịch chuyển của vật thể từ vị trí này sang vị trí khác, không phải là vận động mà chỉ là sự di động. Còn vận động có cả ở vật đang vận động lẫn vật đang đứng yên” (trích theo cuốn Lịch sử triết học của Nguyễn Hữu Vui, tr.362-363). Trong quan niệm này của Điđrô cho thấy ông đã kế thừa các quan điểm về vật chất của các nhà triết học trong lịch sử, kết họp với những tài liệu mới của khoa học để đưa ra một quan niệm có cơ sở khoa học hơn về sự tồn tại độc lập của vật chất, về sự tự tồn tại và luôn vận động của vật chất, ông coi vật chất là thực thể chung, phổ biến của mọi vật, thực thể vật chất có bản tính vận động. Vận động không phải chỉ là sự dịch chuyên từ vị trí này sang vị trí khác, mà còn có các hình thức vận động khác nữa. Tuy nhiên ông chưa phân biệt rõ các hình thức vận động khác nhau của vật chất.

    Không những thế ông còn khẳng định rằng trong quá trình vận động và phát triển, giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì phù hợp với nó, giúp cho nó ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải, loại bỏ những vật nào không thích hợp hoặc không tuân theo quy luật của nó. Do vậy cấu trúc của giới tự nhiên (chẳng hạn, cẩu trúc và trạng thái của các sinh vật) là kết quả của quá trình vận động chọn lọc và thích nghi lâu dài của giới tự nhiên. Có thể nói, với quan điểm này, Điđrô là người đầu tiên nêu ra giả thiết về quá trình tiến hoá của giới sinh vật, là bậc tiền bối của thuyết chọn lọc tự nhiên của Đácuyn. Tất nhiên đây mới chỉ là giả thiết trừu tượng, chưa được chứng minh bằng các tài liệu nghiên cứu khoa học thực tế.

    Điđrô còn cho rằng con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác. Trong con người linh hồn và thể xác thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn là một tổng thể các hiện tượng tâm lý của con người. Bản thân linh hồn cũng là đặc tính của vật chất. Không có linh hồn thuần tuý tồn tại bên ngoài thể xác, hay không có thể xác thì không thể tồn tại linh hồn. Ở đây Điđrô đã nhận thấy ý thức là thuộc tính của con người, tồn tại trong con người, gắn với quá trình tâm lý của con người. Ông cũng cho rằng nhân cách của con người là kết quả của sự tác động của hoàn cảnh môi trường xung quanh đến con người. Tuy nhiên ông chưa hiểu được môi trường xung qunh cũng là kết quả của hoạt động của con người, nó có tính lịch sử. Như vậy có thể nói, ông chưa hiểu được vai trò của thực tiễn xã hội, của hoạt động vật chất cải tạo tự nhiên của con người trong sự hình thành nhân cách, ý thức của con người, nghĩa là ông chưa phân biệt được vật chất trong xã hội với vật chất trong tự nhiên.

    Gialen Ơphrơ Lamétri (1709 – 1751) cũng là một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy vật Pháp thời kỳ Khai sáng. Tiếp thu tư tưởng duy vật của các nhà triết học tiền bối, ông cũng nêu ra quan điếm về vật chất của mình, ông cho rằng, chỉ tồn tại một thực thể duy nhất là vật chất. Thực thể này tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào mọi nguyên nhân thần thánh tối cao nào, mà tồn tại tự thân và tất yếu. Theo ông, vật chất không chỉ là một thuộc tính cơ bản của thực thế mà chính bản thân thực thể là nguồn gốc duy nhất của mọi cái trên thế gian kể cả con người. Vật chất không phải là cái gì đó thụ động, mà luôn có khả năng tự vận động, biến đổi không ngừng. Bản thân vật chất chứa đựng một lực lượng làm nó sống động và là nguyên nhân trực tiếp của mọi quy luật vận động. Trong thế giới của chúng ta không có cái gì khác ngoài thế giới vật chất đang vận động vĩnh viễn.

    1.2. Quan niệm về vật chất trong triết học Mác – Lênin

    Triết học Mác – Lênin ra đời trong điều kiện lịch sử ở Tây Âu và nước Đức vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đó ra đời và phát triển trở thành phương thức sản xuất thống trị trong xã hội. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đó làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trở nên sâu sắc. Cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản phát triển, đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi phải có lý luận cách mạng soi đường! Các lý luận về triết học, kinh tế – chính trị học, lý luận về chủ nghĩa xã hội trong xã hội tư bản khi đó, mặc dù có sự phát triển vượt bậc so với thời kỳ cổ đại và trung cổ, đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng vẫn không thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc đẩu tranh của giai cấp vô sản nhằm giải phóng mình và giải phóng xã hội. Cùng với điều đó, khoa học tự nhiên thời kỳ này cũng có bước phát triển mới Khoa học tự nhiên không chỉ nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt mà đó bắt đầu đi vào nghiên cứu các quá trình, sự liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất. Nhiều phát minh mới của khoa học tự nhiên ra đời đó bác bỏ quan điểm siêu hình về thế giới trước đây và tạo cơ sở cho quan điểm biện chứng duy vật ra đời. Ke thừa có phê phán những quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học, khái quát thực tiễn xã hội và những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên hiện đại trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, triết học Mác – Lênin đó đưa ra quan niệm về vật chất khác căn bản với các quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước đây. Quản niệm về vật chất của triết học Mác – Lênin từ thời kỳ Mác, Ăngghen đến thời kỳ Lênin, cũng có sự phát triển. Điều đó là do hoàn cảnh lịch sử cụ thể và sự phát triến khoa học tự nhiên trong hai thời kỳ này quyết định. Nhiệm vụ trọng tâm của Mác và Ảngghen là xây dựng hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, do vậy các ông chỉ nêu những tư tưởng cơ bản về phạm trù vật chất, không đi sâu hoàn chỉnh định nghĩa phạm trù này. Thời kỳ Lênin do nhiệm vụ đấu tranh chổng chủ nghĩa duy tâm chủ quan đầu thế kỷ XX, muốn lợi dụng những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên hiện đại để phủ nhận chủ nghĩa duy vật nói chung, nên Lênin đó phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen, đi đến hoàn chỉnh định nghĩa phạm trù vật chất. Vì vậy, việc nghiên cứu quan niệm về vật chất trong triết học Mác – Lênin cũng được chia ra ‘lai thời kỳ: thời kỳ Mác, Ăngghen và thời kỳ Lênin.

    1.2.1. Tư tưởng của Mác và Ăngghen về phạm trù vật chất

    Trong các tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã trình bày quan niệm về phạm trù vật chất trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khác căn bản với các nhà triết học duy vật siêu hình trước đây. Các ông đều khẳng định rằng vật chất tồn tại độc lập với ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người. Ý thức là hình ảnh tinh thần của thế giới vật chất, là thế giới vật chất (hiện thực khách quan) được di chuyển vào trong óc của con người và được cải biến đi thành hình ảnh chủ quan ở trong đó. Như vậy sự tồn tại của vật chất không bị quyết định bởi ý thức mà là vật chất tự tồn tại. Con người và ý thức của con người cũng chỉ là một sản phẩm của thế giới vật chất. Vật chất tồn tại thông qua vận động, gắn liền với vận động. Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất. Không có không gian và thời gian thuần tuý. Con người và xã hội loài người cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt được sinh ra từ quá trình vận động, phát triển không ngừng của vật chất.

    Ngay trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Lời nói đầu Mác đã nêu ra luận điểm thể hiện một quan niệm mới của ông về vật chất, ông viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

    Thứ nhất, sự biến đổi của vật chất là do bản thân vật chất quyết định, tinh thần, tư tưởng (hay lý luận) không thể thay thế vật chất được, điều đó khẳng định tính thứ nhất của vật chất và tính thứ hai của ý thức.

    Thứ hai, ý thức, tư tưởng (hay lý luận) có thể trở thành lực lượng vật chất khi thâm nhập vào quần chúng, ở đây, lý luận thâm nhập vào quần chúng có thể hiểu là được quần chúng nhận thức và vận dụng, biến thành niềm tin, ý chí, và các quy tắc hướng dẫn hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng nhân dân, thông qila đó ý thức, lý luận phát huy vai trò tích cực của mình.

    Thứ ba, Mác đã mở rộng quan niệm về vật chất vào lĩnh vực đời sống xã hội, nhận dạng sự tồn tại vật chất trong lĩnh vực xã hội, đó chính là hoạt động thực tiễn của con người. Sau này Mác và Ăngghen còn đi sâu nghiên cứu những dạng vật chất trong lĩnh vực xã hội, khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội như: tồn tại xã hội, là toàn bộ đời sống vật chất cùng những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, là cái quyết định ý thức xã hội; các quan hệ sản xuất là các quan hệ vật chất hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, đó là dạng tồn tại của vật chất trong xã hội, quyết định các quan hệ xã hội khác như các quan hệ chính trị, đạo đức, tư tưởng v.v. Tuy nhiên Mác và Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất.

    Trong tác phẩm Chống Đuyrinh và tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ăngghen đã trình bày khá chi tiết quan niệm của mình về phạm trù vật chất. Ông đã chỉ ra sai lầm của các nhà khoa học tự nhiên, do bị ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình về thế giới vật chất, nên đã cho rằng thế giới vật chất có điểm khởi đầu, hay còn gọi là “bản nguyên đầu tiên”, “thực thể vật chất đầu tiên”. Thực thể vật chất đầu tiên hoàn toàn thuần nhất, tồn tại vĩnh viễn, không được sinh ra và không mất , đi. Mọi dạng vật chất cụ thể đều bắt nguồn từ thực thể vật chất đầu tiên đó, đều do sự kết họp thực thể đầu tiên đó theo một cách thức nhất định nào đó mà tạo thành; cái thực thể đầu tiên đó có thể tồn tại bên ngoài các dạng vật chất cụ thể. Các dạng vật chất cụ thể chỉ khác nhau ở hình thức kết hợp cái bản nguyên đầu tiên đó thôi. Do vậy các dạng vật chất đều có thể quy về sự khác nhau về lượng. Điều này sẽ dẫn đến việc phủ nhận sự phong phú về chất của các sự vật trong thế giới vật chất. Khi phê phán quan điểm siêu hình về vật chất và quan hệ giữa vật chất với vận động, để phân biệt quan điểm biện chứng với quan điểm siêu hình về thế giới vật chất Ăngghen đã viết: “Thực thể, vật chất không phải cái gì khác hơn là tông sô những vật íliê từ đó người ía rút ra khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hoá; vận động với tính cách là vận động không phải là cái gì khác hơn là tổng số những hình thức vận động có thể cảm biết được bằng các giác quan; nhũng từ như “vật chất” và “vận động” chỉ là những sự tóm tắt trong đó chúng ta tập họp theo những thuộc tính chung của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan. Vì thế chỉ có thể nhận thức được vật chất và vận động bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng biệt và những hình thức riêng lẻ của vận động, và khi chúng ta nhận thức được những cái ấy thì chúng ta cũng nhận thức được cả vật chất và vận động với tính cách là vật chất và vận động”. Trong đoạn trích dẫn này Ảngghen giải thích rất rõ: Vật chất là khái niệm chung, được rút ra bằng con đường trừu tượng hoá. Đối tượng mà khái niệm vật chất phản ánh đó là tổng số những vật thể. Như vậy Ăngghen không đồng nhất vật chất nói chung với một dạng vật chất cụ thể, không coi có một vật chất ban đầu tồn tại bên ngoài các vật thể cụ thể và là cơ sở của các vật thể cụ thể. Vật chất và vận động chỉ là sự tóm tắt trong đó chúng ta tập họp theo những thuộc tính chung của các vật thể cụ thể, các hình thức vận động cụ thể vào khái niệm vật chất và vận động.

    Ở chỗ khác cũng tinh thần đó, Ăngghen viết: “Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sáng tạo thuần tuý của tư duy và là một sự trừu tượng. Chúng ta bỏ qua những sự khác nhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tính cách là những vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất. Do đó, khác với những vật chất xác định và đang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính. Khi khoa học tự nhiên hy vọng tìm ra vật chất có hình dạng đồng nhất, và muốn quy tất cả những sự khác nhau về chất lượng thành những sự khác nhau thuần tuý về số lượng do sự kết họp của những hạt nhỏ đồng nhất tạo ra thì như thế là nó cũng hành động giống như khi nó muốn coi trái cây với tính cách là trái cây chứ không phải là trái anh đào, trái lê, trái táo; coi loài có vú với tính cách là loài có vú, chứ không phải là con mèo, con chó, con cừu v.v.”

    Các đoạn trích trên của Ăngghen thể hiện rõ nhũng nội dung sau đây về phạm trù vật chất:

    Một là không được đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của vật chất; không coi vật chất nói chung là một thực thể vật chất đầu tiên (hay bản nguyên đầu tiên) nào đó làm cơ sở cho mọi vật như các nhà khoa học tự nhiên cận đại, hoặc các nhà triết học thời kỳ cổ đại quan niệm. Điều đó nghĩa là Ăngghen không coi thế giới có điểm khởi đầu, hay có giới hạn.

    Hai là, phạm trù vật chất với tính cách là phạm trù triết học, một phạm trù trừu tượng và có tính khái quát rất cao. Phạm trù vật chất phải bao quát được đặc tính chung của tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới. Đặc tính chung đó chính là sự tồn tại độc lập, bên ngoài ý thức, tức là khẳng định vật chất tự tồn tại, không phụ thuộc vào ý thức.

    Ba là, vật chất với tính cách là vật chất (nghĩa là khái niệm triết học về vật chất) không tồn tại như một sự vật cảm tính, hữu hình, cũng không phải là một cái gì trừu tượng chung chung tồn tại bên ngoài các sự vật cụ thể như quan niệm về Thượng đế của tôn giáo, hoặc như quan niệm về cáỉ chung của phái Duy thực trong triết học Tây Âu trung cổ. Vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể. Các dạng cụ thể chính là một phần vật chất, Nhận thức các dạng cụ thể chính là nhận thức những bộ phận của vật chất. Vì thế mà con người có thể đi từ nhận thức các dạng cụ thể của vật chất đến chỗ nhận thức được thế giới vật chất.

    Bốn là, vật chất tồn tại thông qua vận động, không gian, thời gian. Vận động, không gian, thời gian là phưcmg thức và hình thức tồn tại của vật chất. Không có vật chất không vận động và tồn tại bên ngoài không gian, thời gian. Vật chất là vô cùng vô tận, tồn tại vĩnh viễn; vận động, không gian và thời gian gắn liền với vật chất, cũng vô cùng vô tận và vĩnh viễn tồn tại, không do ai sáng tạo ra.

    Tóm lại, tuy Mác và Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất, nhưng quan niệm của Mác và Ăngghen về vật chất rõ ràng là có tính chất duy vật biện chứng sâu sắc. Các ông đó mở rộng quan niệm về vật chất trong lĩnh vực xã hội, khắc phục được tính chất siêu hình máy móc của các nhà triết học duy vật trước đây, tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp phạm trù vật chất mà Lênin thực hiện trong điều kiện khoa học tự nhiên có bước phát triển mới vào đầu thế kỷ XX.

    1.2.2. Quan niệm của Lênin về phạm trù vật chất

    Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khoa học tự nhiên, nhất là vật lý học có bước phát triển mới, đã đi sâu vào nghiên cứu thế giới vi mô và đã phát hiện ra nhiều đặc tính mới của thế giới vật chất. Những đặc tính mới đó mâu thuẫn với quan điểm duy vật siêu hình về thế giới vật chất. Những nhà triết học duy tâm chủ quan, tiêu biểu là Ma-khơ và A-vê-na-ri-út đã lợi dụng sự mâu thuẫn giữa những thành tựu mới của vật lý học hiện đại với quan điểm duy vật siêu hình về thế giới để phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy vật nói chung, trong đó bao gồm cả chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Ma-khơ và A-vê-na-ri-út, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, Lênin đã kế thừa và phát triển hơn những quan điểm của Mác và Ăngghen về vật chất. Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán, khi phê phán quan điểm duy tâm chủ quan của Ma-khơ và phái Ma-khơ ở Nga, lợi dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại để phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, Lênin đã nêu lên định nghĩa về phạm trù vật chất như sau: “Vật,chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”;. Cũng trong tác phẩm này, ở một chỗ khác Lênin còn viết: “Các khoa học tự nhiên khẳng định một cách tích cực rằng, trái đất đã từng tồn tại trong một trạng thái chưa có và cũng không thể có loài người hay bất cứ một sinh vật nào nói chung cả. Vật chất hữu cơ là một hiện tượng về sau mới có, là kết quả của một sự phát triển lâu dài. Như vậy tức là hồi bấy giờ, không có vật chất có năng lực cảm giác, không có cái Tôi nào. Vật chất là cái có trước; tư duy, ý thức, cảm giác đều là sản phẩm của một sự phát triển rất cao (của vật chất – DVT)” y. “Vật chất là cái tác động vào giác quan của chúng ta, thì gây ra cảm giác, vật chất là một thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm giác”. Lênin nhắc lại luận điểm của Ăngghen: “Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần, nhưng tinh thần chỉ là sản phẩm cao cấp của vật chất mà thôi”.

    Một là, định nghĩa chỉ rõ vật chất với tư cách là phạm trù ưiết học, là phạm trù rộng nhất, khái quát đặc tính chung của toàn bộ những sự vật, những quá trình diễn ra trong hiện thực khách quan; ở đây Lênin không đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của vật chất, hoặc với một thực thể, một bản nguyên đầu tiên nào đó là đối tượng nghiên cứu của các khoa học cụ thể, dù đó là những đối tượng vô cùng bé hoặc vô cùng lớn. Đối tượng vật chất cụ thể thì có giới hạn, có ra đời và mất đi, nhưng vật chất nói chung thì vô hạn và vĩnh viễn tồn tại, không do ai sinh ra và không mất đi.

    Hai là, vật chất có đặc tính chung là tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, không lệ thuộc vào ý thức. Đây là đặc tính chung, căn bản của vật chất để xác định đâu là vật chất, phân biệt vật chất với ý thức. Ý thức, cảm giác, tinh thần, tư duy chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não người, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người. Sự tồn tại của ý thức phải dựa trên cơ sở vật chất. Không có ý thức tồn tại thuần túy ngoài vật chất, độc lập với vật chất.

    Ba là, vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể của vật chất, không có “vật chất nói chung” tồn tại bên ngoài các dạng cụ thể của vật chất như một “thực thể” độc lập làm cơ sở cho mọi vật, hoặc là điểm khởi đầu của thế giới vật chất. Các vật trong thế giới không phải là sự kết hợp theo một cách thức nào đó “cái vật chất nói chung” “ban đầu” như các nhà duy vật trước Mác quan niệm, mà các vật chính là dạng cụ thể của vật chất. Con người nhận thức các dạng vật chất cụ thể chính là nhận thức các bộ phận của vật chất, từ đó con người sẽ có khả năng nhận thức được thế giới vật chất vô cùng vô tận một cách đầy đủ. Điều này khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người.

    Bốn là, vật chất tồn tại thông qua vận động và tồn tại trong không gian và thời gian. Không có vật chất tồn tại mà không vận động, không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian, cũng không có vận động, không gian, thời gian thuần tuý ngoài vật chất. Vận động, không gian, thời gian là thuộc tính và hình thức tồn tại cố hữu của vật chất gắn liền với vật chất.

    Năm là, vật chất là vô cùng vô tận, vĩnh viễn tồn tại, không do ai sinh ra và cũng không mất đi. Ý thức, tư tưởng và tư duy của con người chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não của con người, là sự phản ánh ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn những thuộc tính của các dạng vật chất vào bộ não con người. Ý thức, tư duy của con người tự bản thân nó kiiông làm thay đổi vật chất. Ý thức, tư duy của con người có thể tác động đến vật chất, làm biển đổi vật chất thông qua hoạt động thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Chất, Lượng, Độ, Điểm Nút, Bước Nhảy? Chất Và Lượng Của Sự Vật Có Mối Quan Hệ Biện Chứng Nào? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Gì Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Bài 7: Vai Trò, Ý Nghĩa Của Từ Hán Việt
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Cuộc Sống Hàng Ngày
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Từ Hán Việt Và Sự Sáng Tạo Của Người Việt
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Ta Cần Triết Học Để Làm Gì?
  • Interferon Là Gì? Phân Loại, Tác Dụng Của Interferon?
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tuyến Tụy
  • Nguồn Gốc Ung Thư Và Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch
  • Cytokin Và Điều Hòa Miễn Dịch
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Triết học là gì

    Định nghĩa Triết học là gì?

    • Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ. Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách. Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận.
    • Triết học có tên gọi tiếng Anh là Philosophy, từ này được xuất phát trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa dịch ra “tình yêu đối với sự thông thái”. Các thuật ngữ như là “triết học” hay “ triết gia” ra đời là gắn cùng với nhà tư tưởng người Hy Lạp Pythagoras.
    • Hiện nay, triết học cũng là một ngành khoa học được đào tạo riêng biệt dành cho sinh viên và triết học là môn học bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trong trường Đại học – Cao đẳng. Để học ngành triết học, sinh viên sẽ phải thi khối C, học trong thời gian 4 năm. Hiện nay có một số trường đào tạo chuyên ngành triết học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội),…

    Nguồn gốc của triết học

    Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định.

    Nguồn gốc nhận thức:

    • + Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? … trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
    • + Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.

    – Nguồn gốc xã hội:

    Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

    Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.

    Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử

    * Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên – bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    * Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.

    * Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học – Khoa học hậu vật lý. Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được.

    + Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    + Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen.

    + Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học.

    * Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác – Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    * Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

    * Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.

    *Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.

    * Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):

    +Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.

    + Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.

    + Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRIẾT HỌC.

    Vấn đề cơ bản của triết học

    Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    * Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    • + Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    • + Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?

    * Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

    + Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.

    + Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.

    + Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.

    + Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    • + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
    • + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    SIÊU HÌNH VÀ BIỆN CHỨNG

    Trong lịch sử triết học không những có sự đối lập giữa CNDV và CNDT khi tìm hiểu bản chất của thế giới, mà đồng thời còn phải trả lời các câu hỏi: thế giới là bất động, đứng im hay là không ngừng vận động và phát triển? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô lập, tách rời nhau hay có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau.

    Lịch sử đã biết đến hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận trái ngược nhau trong khi giải đáp những câu hỏi trên. Đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    Phương pháp siêu hình

    Phương pháp biện chứng

    +Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô lập,tách rời với các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

    +Thừa nhận đối tượng qua các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau giữa chúng

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là biến đổi về mặt số lượng, nguyên nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài đối tượng.

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi có khuynh hướng chung là phát triển, có sự thay đổi về chất, mà nguyên nhân của mọi sự biến đổi ấy là do nguồn gốc bên trong đối tượng. Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập.

    – Phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấysự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy sự tồn tại mà không thấy quá trình sự phát sinh và tiêu vong .(Về bản chất là không hiểu được mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hay đứng im chỉ là một hình thức vận động đặc biệt).– Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…Nguồn gốc của phương pháp siêu hình: Là bắt nguồn từ việc muốn nhận thức đối tượng, trước hết con người phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Tuy phương pháp đó là cần thiết và có tác dụng trong một phạm vi nhất định, nhưng thực tế thì hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    – Phương pháp biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối quan hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật.– Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện thực,– Phương pháp biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là.. hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là”; đối tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau. Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác, và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.

    Các giai đoạn phát triển cơ bản của phương pháp biện chứng

    * Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. thể hiện rõ nét trong “thuyết Âm – Dương” của triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đều thấy các sự vật hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những mối liên hệ vô cùng tận. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen, là một cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả cuả những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Chính vì hạn chế này mà phép biện chứng Cổ đại phải nhường bước cho phép siêu hình, phương pháp thống trị trong tư duy triết học ở thế kỷ XVIII là điều không thể tránh khỏi. Đây là giai đoạn khám phá kết cấu, thuộc tính của đối tượng.

    * Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tư duy nhân loại, các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung của phép biện chứng. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở biện chứng của khái niệm, của tinh thần, và tai hại hơn là họ cho rằng giới hiện thực chỉ là sự sao chép của tinh thần, bởi vậy phép biện chứng cổ điển Đức là có tính chất duy tâm.

    * Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm, sau khi gạt bỏ tính chất duy tâm thần bí của nó, Mác – Ăng ghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

    Vai trò thế giới quan của triết học

    * Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vài Trò Và Ý Nghĩa Giao Tiếp Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Đời Sống Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Về Giới Tính Và Giới
  • Liên Minh Châu Âu Và Tầm Quan Trọng Trên Toàn Thế Giới
  • Trí Tuệ Cảm Xúc: Tầm Quan Trọng Của Eq Đối Với Thành Công
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100