Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại

--- Bài mới hơn ---

  • “đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Hộ Gia Đình Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hộ Gia Đình
  • Văn Phòng Đại Diện Là Gì?
  • Hố Ga Là Gì? Và Nguyên Lý Hố Ga Thoát Nước Gia Đình
  • Bình yên sau lũy tre làng.

    Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức được thành lập. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, quân Pháp quay trở lại chiếm nước ta. Cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra. Cơ quan đầu não kháng chiến rút về căn cứ địa Việt Bắc. Cùng với nhiều văn nghệ sĩ, Nguyễn Đình Thi dời thủ đô Hà Nội đi kháng chiến. Một trí thức Tây học mang trong mình bao nét hào hoa tham gia kháng chiến mà lòng khôn nguôi nhớ Hà Nội hoa lệ. Cảm hứng của nhà thơ từ năm 1948 mà mãi đến khi cuộc kháng chiến kết thúc, những đoàn quân về tiếp quản Hà Nội, hòa bình lập lại rồi bài thơ mới hoàn thiện.

    Bài thơ mang rõ phong cách Nguyễn Đình Thi. Chủ đề bao trùm của Đất nước là lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha, ý thức độc lập tự chủ, là lòng tự hào về đất nước và nhân dân anh hùng. Phần cuối bài thơ là hình tượng Tổ quốc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” mạnh mẽ, tràn đầy sức sống.

    Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

    Nhưng bất chợt ở đoạn thơ dưới thì lại tả rất “siêu thực”, chỉ bằng hai câu:

    Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều

    Nhưng liền đó lại là câu thơ tả tâm trạng người lính chiến chinh mà lòng bồn chồn nhớ người yêu, pha lẫn sự hờn căm quân thù:

    Ôi những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu Từ những năm đau thương chiến đấu Ðã ngời lên nét mặt quê hương Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu Ðã bật lên những tiếng căm hờn

    Và hình ảnh người lính hòa vào hình ảnh Tổ quốc thật gan góc, phi thường:

    Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh…

    Nếu như trong thơ Nguyễn Đình Thi, hình ảnh đất nước hào hoa, kiêu hãnh, lãng mạn và tràn đầy sức sống thì trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hình ảnh đất nước lại giàu có về văn hóa, là sức mạnh của chân lý.

    “Đất nước” là chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm. Chương này được đưa vào chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

    Đọc chương “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, ít ai có thể nghĩ rằng trường ca này được sáng tác năm 1971 ở chiến khu Bình Trị Thiên khi nhà thơ mới 28 tuổi. Năm 1974, trường ca mới được xuất bản.

    Cảm hứng sáng tác trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm diễn ra khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn cao trào. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra sức xuyên tạc về cộng sản, về cách mạng, hòng lôi kéo, mua chuộc thanh niên vào chốn ăn chơi mà quên đi trách nhiệm đối với dân tộc. Bản trường ca ra đời trong hoàn cảnh ấy đã đánh thức tinh thần trách nhiệm và giúp thế hệ trẻ miền Nam ý thức rõ hơn vai trò và trách nhiệm của họ đối với đất nước.

    Khác với cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ căng thẳng, gay go và đậm chất chiến tranh hiện đại. Mức độ tàn phá và hủy diệt con người cả về thể xác lẫn tinh thần rất kinh khủng. Hãy đọc những câu thơ trong trường ca:

    Những bạo chúa tự hào lối đánh bánh xe quay? Giờ đã có trực thăng treo người vào không khí Xưa giết người bằng voi, bằng dao, bằng rìu, cũ kỹ! Nay giết người bằng hóa chất, điện tử, phô-tông Xưa quan lại đánh ta bằng đầu gậy bịt đồng Nay chúng ta quật bằng cao su độn sắt Quật chết người mà vẫn không hề tái mặt Vì giết người máu chẳng dính tay chân

    Và:

    Xưa một người chỉ đâm chết một người Nay một cái bấm nút, một cái đạp càn của bom Mỹ giết ta hàng chục hàng trăm ngọn xớt Xưa đinh đóng bằng tay, nay đinh đóng bằng bom rốc két Mặt thằng giặc lái giết người vẫn có dáng ngắm trăng sao Xưa khủng bố dân, chúng đem ta ra giữa chợ chặt đầu Nay hiện đại, vô tuyến truyền hình sẽ đưa vào bữa cơm chiều nhân loại Để loài người vừa ăn vừa xem máu vãi Dần rà quen cái chết tựa cơm ăn Quen lối giết người, quen mặt xâm lăng Quen kinh sợ, quen vục đầu trong vật chất!

    Vậy tại sao kết cục cuộc chiến ta vẫn là người chiến thắng? Qua chương “Đất nước”, ta thấy được sức mạnh về văn hóa của một dân tộc văn hiến, chứa đựng trong lòng kho tàng phong phú về ca dao, thần thoại đã làm nên chiến thắng.

    Thơ Nguyễn Khoa Điềm rất hiện đại, không mang âm hưởng lối thơ cổ, nhưng lại kế thừa đậm cách vận dụng “điển tích”, “điển cố” để làm câu thơ mang thêm nhiều tầng ý nghĩa. Hầu như câu thơ nào cũng hàm chứa “điển tích”, “điển cố” mà đọc không thấy khó hiểu hay nhàm.

    Đất nước vừa rộng lớn bao la của ca dao, thần thoại, lại vừa gần gũi như người con trai và con gái. Ta hãy thưởng thức một số câu thơ:

    Đất là nơi anh đến trường, Nước là nơi em tắm, Đất nước là nơi ta hò hẹn, Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi

    Và:

    Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất nước vẹn tròn, to lớn

    Còn đây là trường đoạn thơ chứa đầy điển tích, điển cố:

    Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên. Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…

    Hình tượng đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm có một điểm chung là cụ thể hóa hình tượng đất nước vào trong hình ảnh con người cụ thể. Nếu như trong trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi hình ảnh được cụ thể hóa vào hình ảnh người lính thì đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được cụ thể hóa vào tầng lớp nam nữ thanh niên. Còn nói về sức mạnh văn hóa, sức mạnh của truyền thống thì thơ Nguyễn Khoa Điềm đậm đặc, trong khi thơ của Nguyễn Đình Thi lại khái quát:

    Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về.

    Với những cống hiến lớn lao cho nền văn học nghệ thuật nước nhà, cả Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm đều được nhận những giải thưởng văn học cao quý. Với Nguyễn Đình Thi là Giải thưởng Hồ Chí Minh, với Nguyễn Khoa Điềm, ngoài Giải thưởng Nhà nước, nếu như năm 2012 ông không xin rút khỏi danh sách đề cử của Hội đồng thì sẽ nhận thêm Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chất Ca Dao, Thần Thoại Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Nội Dung Của Ca Dao Là Gì ?
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Phân Tích Chất Ca Dao, Thần Thoại Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm

    --- Bài mới hơn ---

  • Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại
  • “đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Hộ Gia Đình Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hộ Gia Đình
  • Văn Phòng Đại Diện Là Gì?
  • Đất nước VN đã đi qua 30 năm của 2 cuộc chiến tranh trường kì gian khổ. Trong 30 năm ấy, người VN phải đội hàng triệu tấn bom để hái mặt trời hồng:

    “Cha ông ta đâu bố trí những binh đoàn

    Trên đỉnh Trường Sơn dọc bờ Đông Hải

    Tên Tổ Quốc vang vang ngoài bờ cõi

    Ta đội triệu tấn bom để hái mặt trời hồng”.

    Vì vậy, đất nước đã bước vào thơ ca nghệ thuật trở thành một điểm nhấn quan trọng, một đề tài lớn. Để phản chiếu cả 1 diện mạo đất nước trong suốt 30 năm vào trong thơ, thể loại trường ca xuất hiện. Nhắc đến trường ca trong giai đoạn này, ta không thể không nhắc đến trường ca “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo, trường ca “Chim Chơ-rao” của Thu Bồn, “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo… Nhưng sẽ thật là thiếu sót nếu ta không nhắc đến trường ca “Mặt đường khát vọng” của Ng Khoa Điềm. Ai đã từng đọc trường ca “Mặt đường khát vọng” của Ng Khoa Điềm có thể quên đi 4 chương thơ đầu tiên để chỉ nhớ đến chương cuối đó là chương 5 với nhan đề “Đất nước”. Chương thơ ấy đã được tách ra khỏi trường ca “Mặt đường khát vọng” như 1 bài thơ độc lập và được đưa vao trong CT giảng dạy như 1 kiệt tác của Ng Khoa Điềm nói riêng, của thơ ca thời kì lửa cháy nói chung. Thành công của Ng Khoa Điềm trong chương thơ này là nhà thơ đã thể hiện được tư tưởng đất nước của nhân dân:

    Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

    Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

    Nguyễn Khoa Điềm là 1 nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kì gian khổ. Ông cùng thế hệ với những nhà thơ như Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh,…Trong dàn đồng ca chung của thơ ca thời kì “Lửa cháy”, Ng Khoa Điềm cũng viết về hào khí của 1 dân tộc:

    “Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước

    Mà lòng phơi phới dậy tương lai!”

    Trong giai đoạn này, Ng Khoa Điềm viết rất sung sức, rất đều tay. Ông đã cho ra đời nhiều tập thơ, nhiều trường ca có giá trị. Nhắc đến thơ của Ng Khoa Điềm, mỗi người yêu thơ không thể không nhắc đến tập thơ tiêu biểu đó là “Đất ngoại ô” còn nhắc đến trường ca, sẽ thật là thiếu sót nếu ta bỏ qua trường ca “Mặt đường khát vọng”. Ai đã từng đọc trường ca “Mặt đường khát vọng” của Ng Khoa Điềm có thể quên đi 4 chương thơ đầu tiên để chỉ nhớ đến chương cuối đó là chương 5 với nhan đề “Đất nước”. Chương thơ ấy đã được tách ra khỏi trường ca “Mặt đường khát vọng” như 1 bài thơ độc lập và được đưa vao trong CT giảng dạy như 1 kiệt tác của Ng Khoa Điềm nói riêng, của thơ ca thời kì “Lửa cháy” nói chung. Thành công của Ng Khoa Điềm trong chương thơ này là nhà thơ đã thể hiện được tư tưởng đất nước của nhân dân:

    Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

    Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

    Nếu đặt tư tưởng đất nước của ND trong bài thơ này vào trong dòng chảy của VCVN thì đây là 1 tư tưởng không mới bởi cách đây hơn 5 TK, Ng Trãi đã khẳng định: “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Hơn 100 năm sau, Ng Bỉnh Khiêm đề cao “dân vi bản” nghĩa là dân là gốc của nước bằng 2 câu thơ:

    Đắc quốc ưng tri tại đắc dân”

    Năm 1964, rời ghế nhà trường trở về quê hương đúng ngày quê hương đầy bóng giặc như trong “Quê hương” của Giang Nam:

    “Quê tôi đầy bóng giặc

    Từ biệt mẹ tôi đi”

    Thành công đầu tiên khi thể hiện tư tưởng đất nước của ND là Ng Khoa Điềm đã lựa chọn cho mình chất liệu văn hóa rất phù hợp đó là chất liệu văn hóa dân gian. Vẫn biết rằng chất liệu thuộc hình thức NT của 1 bài thơ mà NT chỉ làm nên câu thơ còn trái tim là nghệ sĩ. Tuy nhiên việc thể hiện tiếng nói của trái tim là rất quan trọng. Nói như Bạch Cư Dị:

    Thanh là hoa

    Nghĩa là quả”

    Thơ ca là NT của ngôn từ. Chính NT đã đem lại cho thơ ca trở thành lĩnh vực của 1 sự độc đáo. Trong bất cứ 1 nền văn học nào đều có 2 dòng văn hóa song song tồn tại đó là văn hóa dân gian và văn hóa chính thống hay cnf gọi là văn hóa bác học. văn hóa dân gian là nền tảng văn hóa ở 1 đất nước, 1 dân tộc. Trong bài thơ này, Ng Khoa Điềm không dùng văn hóa chính thống. Nói cách khác, ông từ chối văn hóa chính thống, quay trở lại lấy văn hóa dân gian làm chất liệu để viết bài thơ này.

    Văn hóa dân gian vốn được hiểu là văn hóa do ND sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục TN, được đúc kết thành những kinh nghiệm, những câu tục ngữ ca dao truyền đến muôn đời. Văn hóa dân gian trong phạm vi bài thơ này là những câu tục ngữ ca dao, những làn điệu dân ca, những câu hò sông nước, những câu chuyện cổ tích, những phong tục tập quán mà Ng Khoa Điềm đã gói gọn trong câu thơ:

    Văn hóa dân gian là sản phẩm tinh thần của ND. Ng Khoa Điềm đã mượn sản phẩm tinh thần của ND để viết về tư tưởng đất nước của ND. Như vậy, bài thơ “Đất nước” từ ND đến hình thức NT đều thấm đẫm tư tưởng đất nước của ND.

    Đất nước vốn là 1 đề tài lớn nhưng nó hiện lên trong thơ Ng Khoa Điềm không hề CT, không hề lí luận khô khan, khó hiểu mà dễ đi sâu vào lòng người như câu hát, điệu ru của bà của mẹ. Ta có cảm giác Ng Khoa Điềm không làm thơ mà như đang cất lên làn điệu dân ca, những câu hò sông nước bởi mỗi người VN từ trong tiềm thức của mình ai chẳng 1 lần vang lên câu hát vọng về từ xứ Lạng:

    Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

    Câu ca này điệp vào thơ của Ng Khoa Điềm ở h/a:

    Mỗi độ xuân về, người VN lại hành hương về đất tổ, lòng ta lại rạo rực, bồi hồi, xúc động trước những câu ca dao mộc mạc chân thành mà đằm thắm:

    “Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3

    Dù ai buôn bán gần xa

    Nhớ ngày giỗ tổ tháng 3 mùng 10″

    Toàn bộ điều này được kết tinh trong câu thơ:

    Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”

    Ta còn thấy ở đây có những câu ca dao như:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai”

    Câu ca dao ấy bước vào “Đất nước” trở thành câu thơ:

    Ta cũng còn bắt gặp những câu chuyện cổ tích như sự tích Thánh Gióng, sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ,… mà tiêu biểu nhất là sự tích trầu cau:

    Ta còn thấy ở bài thơ này có rất nhiều những phong tục tập quán của người Việt như cách làm ra hạt gạo:

    Đó còn là việc nhà việc cửa:

    Đó là cách để tóc sau đầu của mẹ:

    Tất cả những đều làm toát lên vẻ đẹp của nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời. Nó là cách cảm, cách nghĩ của người Việt từ tời thượng cổ. Nó xuyên suốt 1 bài thơ dài với 90 câu, tưới thẫm lên đó là chất liệu dân gian.

    Cái hay của Ng Khoa Điềm ở đây đó là ông không bê y nguyên câu tục ngữ ca dao nào thành thơ của mình mà dường như văn hóa dân gian thấm sâu vào tâm hồn ông ngay từ tấm bé qua câu hát điệu ru của bà của mẹ để bây giờ khi viết bài đất nước, ông đã chưng cất nó, chắt lọc nó, xử lí nó qua lăng kính tâm hồn của mình. Thế là mỗi câu thơ dưới ngòi bút Ng Khoa Điềm phảng phất theo làn điệu dân ca, phỏng theo những điệu hát ca dao, phỏng theo câu truyện cổ tích.

    Đặt bài thơ “Đất nước” trong bối cảnh ngày hôm nay, khi nền VH VN đang hội nhập với nền VH TG. Mỗi người VN yêu nước cần phải BV sự trong sáng của tiếng Việt. Chúng ta phải hòa với VH TG nhưng không được tan. Và thế là “Đất nước” của Ng Khoa Điềm 1 lần nữa khẳng định những thành công vốn có của bài thơ này, xứng đáng trở thành hành trang tinh thần của mỗi chúng ta.

    1 trong những thành công nữa của Ng Khoa Điềm trong bài thơ này ta cần phải kể đến đó là cách triển tư tưởng đất nước của ND. Cần phải khẳng định “Đất nước” được Ng Khoa Điềm viết khá đều tay như 1 dòng nội tâm tuôn chảy vì nhà phê bình VH Diệp Tiếp đã nói: “thơ là tiếng lòng”. Đọc bài thơ, ta có cảm giác Ng Khoa Điềm không hề sắp đặt theo 1 đề cương nào. Vì vậy độc giả bạn đọc khó có thể chia cắt hay phân tách. Với cảm hứng khám phá, cắt nghĩa, lí giải, Ng Khoa Điềm đã tìm ra KN đất nước. Khi viết bài thơ này, hình như Ng Khoa Điềm luôn đứng trước hàng loạt câu hỏi: Đất nước là gì? Đất nước này do ai làm ra? Đất nước này do ai gìn giữ và BV trong suốt 4000 năm qua? Trích đoạn “Đất nước” là 1 câu trả lời đầy triết luận triết lí nhưng cũng giàu chất thơ: đó chính là ND. Trong bài thơ, ta có thể dễ dàng nhận thấy KN đất nước và ND có chung nội hàm. ND là hiện thân sự sống của Đất nước, là chủ thể của Đất nước. Họ là chủ thể về địa lí, chủ thể về lịch sử, chủ thể về VH, phong tục tập quán. Ngược lại, Đất nước đi lên, phát triển, giàu mạnh nhằm đáp lại lòng mong mỏi của ND.

    Là 1 người chiến sĩ làm thơ, gót chân của Ng Khoa Điềm đi nhiều trên dải đất hình tia chớp thân yêu. Đi đến đâu, nhìn vào lĩnh vực nào, khía cạnh nào, phương diện nào, Ng Khoa Điềm đều khẳng định đất nước này chính là ND làm ra. Vì vậy, nhìn sâu vào bên trong mạch thơ, ta nhận thấy tư tưởng đất nước của ND được Ng Khoa Điềm triển khai trên 3 bình diện: bề rộng của không gian địa lí lãnh thổ, chiều dài của TG lịch sử và bề dày của nền VH phong tục tập quán. 3 bình diện này QH biện chứng hữu cơ với nhau. Thậm chí, có những câu thơ cùng 1 lúc mang cả 3 bình diện. Chính điều này đã làm nên mạch thống nhất trong tư tưởng của nhà thơ, sự thống nhất của bài thơ.

    Đầu tiên, Đất nước được triển khai từ bình diện không gian địa lí lãnh thổ. Nói đến không gian địa lí, lãnh thổ nước ta là phải nói đến 1 dải đất hình tia chớp mà ta đã từng quen thuộc qua những vần thơ:

    Quê hương ta một dải

    Từ mũi Cà mau

    đến địa đầu Móng Cái

    Ng Khoa Điềm khi viết bài thơ này, ông đi tìm đất nước ở những cái ngày xửa ngày xưa ở trong câu chuyện cổ tích. Vì vậy, nhà thơ mở đầu khúc ca “Đất nước” bằng những câu thơ:

    “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

    Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể”

    Trở về với cái “ngày xửa ngày xưa” ấy, Ng Khoa Điềm đã phát hiện ra 2 nguyên tố gốc, 2 nguyên tó cơ bản làm ra đất nước đó là “đất” và “nước”. Trong quá trình hình thành thực thể đất nước cũng như phát triển đất nước, “đất” và “nước” là 2 TB đầu tiên. Ng Khoa Điềm biến hóa, nhân đôi, sinh sôi nảy nở để trở thành cơ thể đất nước hoàn chỉnh. Ở đây ông đồng nhất đất là người “anh”, nước là người “em”:

    “Đất là nơi anh đến trường

    Nước là nơi em tắm”

    Dùng thuyết âm dương, Ng Khoa Điềm đã nhập “đất” vào với “nước” để tìm ra KN đầu tiên:

    “Đất Nước là nơi ta hò hẹn

    Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

    Với cách cắt nghĩa, khám phá để lí giải, Ng Khoa Điềm đã khẳng định làm ra Đất nước này đó chính là sự hò hẹn của đôi ta. Đôi ta ở đây chính là “anh” và “em”, là sự hóa thân của ND. Nói cách khác, ND là người làm ra đất nước.

    Để thêm phần thuyết phục độc giả bạn đọc, Ng Khoa Điềm 1 lần nữa lại tách KN đất nước để khẳng định:

    “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

    Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi””

    Cùng khoảng “TG đằng đẵng” và “Không gian mênh mông” kia, Ng Khoa Điềm lại tìm ra 1 KN mới của đất nước:

    “Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ”

    Như vậy rõ ràng chính sự đoàn tụ của muôn dân đã làm ra đất nước. Như vậy với 2 lần cắt nghĩa, lí giẩi, Ng Khoa Điềm đã khăng định với người đọc ND là người làm ra đất nước ở góc độ không gian địa lí.

    Và cứ như thế, không mạnh mẽ gân guốc, chẳng mạnh mẽ hào hùng Ng Khoa Điềm thủ thỉ, tâm tình với bạn đọc để khẳng định rằng phát triển đất nước này trong 4000 năm qua không ai khác ngoài ND bằng những câu thơ:

    “Khi hai đứa cầm tay

    Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm

    Khi chúng ta cầm tay mọi người

    Đất nước vẹn tròn, to lớn”

    Như vậy, đất nước này có phát triển, có “vẹn tròn, to lớn” nhờ có “chúng ta cầm tay mọi người”, nhờ có tinh thần đoàn kết của ND. Tinh thần đoàn kết ấy tạo ra sức mạnh nội lực của 1 đất nước, giúp đất nước phát triển to lớn hơn. Như vậy tựu trung lại, phát triển đất nước này trong suốt 4000 năm qua chính là nhờ có ND.

    1 trong những đặc sắc của Ng Khoa Điềm trong chương thơ này là ông đã đi lí giải tên địa danh của đât nước để chứng minh rằng BV đất nước này trong suốt 4000 năm qua không ai khác cũng là ND. Vẫn biết rằng 1 đất nước là sự cộng gộp của biết bao nhiêu ngọn núi, con sông, ruộng đồng, gò bãi… Ở đâu cũng có tên đất, tên làng, tên núi, tên sông… 1 mảnh đất chừng nào thiếu đi tên gọi, chừng ấy nó thiếu đi sự sống thiêng liêng của con người. Nhưng đặt tên gọi không thể tùy tiện bởi đằng sau tên gọi là 1 huyền thoại, đằng sau huyền thoại là 1 cuộc đời. Chính cuộc đời ấy, con người ấy ngã xuống BV đất nước này, làm nên đất đai của xứ sở.

    Hòn Vọng Phu ngàn năm còn đó như 1 minh chứng cho lòng thủy chung, son sắt ngàn đời của người phụ nữ VN bởi 2 chữ Vọng Phu chính là chờ chồng. Đất nước ta đã phải trải qua 30 năm của 2 cuộc chiến tranh trường kì gian khổ. Biết bao nhiêu người con trai ra trận, người con gái trở về nuôi cái cùng con, chờ chồng đằng đẵng hóa đá với biết bao cảm động. ND ở đây còn được hóa thân thành chàng Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh tan giặc Ân trong buổi đầu dựng nước và giữ nước. Đây chính là tinh thần bất khuất của dân tộc VN. ND cũng là h/a người học trò nghèo đã “góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên”. Họ còn là người yêu quê hương, thổi hồn mình vào con cóc, con gà “cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”. Đó còn là những con người ta nhớ mặt đặt tên:

    Nhưng thử hỏi đất nước này có biết bao nhiêu con người đã ngã xuống vì ngày mai độc lập, ngã xuống để BV đất nước mà ta không biết mặt đặt tên:

    Không ai nhớ mặt đặt tên

    Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

    Làm sao ta quên được h/a anh giải phóng quân bước vào “Dáng đứng VN” của Lê Anh Xuân:

    “Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

    Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường

    Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

    Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.”

    Đó chính là dáng đứng của người VN ở TK 20 – những con người ngã xuống để BV Tổ quốc thân yêu.

    Như đã nói, là 1 người chiến sĩ làm thơ, gót chân của Ng Khoa Điềm đã in hằn trên mọi nẻ của Tổ quốc thân yêu. Đi đến đâu, nhìn vào lĩnh vực nào, khía cạnh nào, phương diện nào, ông đều chia sẻ tất cả à do ND làm ra. Ông đã đúc kết thành đoạn thơ rất đẹp::

    Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

    Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

    Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”

    Những cuộc đời ấy ngã xuống BV đất nước này, làm nên đất đai của xứ sở. Như vậy, có thể thấy rõ chính ND là người BV đất nước này trong 4000 năm qua.

    Từ 1 tiền đề vững chắc như vậy, Ng Khoa Điềm đã triển khai tiếp đất nước ở chiều dài TG lịch sử. Nói đế lịch sử của nước ta là phải nói đến con số của 4000 năm dựng nước và giữ nước. Cái đặc sắc của Ng Khoa Điềm khi triển khai đất nước ở chiều dài TG lịch sử đó là ông không đi theo hướng của các nhà sử gia chính thống – họ nhìn lịch sử là sự tiếp nối của các triều đại. Ng Trãi đã từng đi theo hướng này trong t/p “Bình ngô đại cáo”:

    “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên xưng đế một phương”

    CLV cũng đã từng viết:

    Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,”

    Ở đây, Ng Khoa Điềm nhìn lịch sử như 1 cuộc chạy tiếp sức của 4000 thế hệ, 4000 lớp người mang trong mình ngọn lửa sức sống VN. Điều này được thể hiện rõ nhất ở đoạn thơ:

    Hãy nhìn rất xa

    Vào bốn ngàn năm Đất Nước

    Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

    Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

    Cần cù làm lụng

    Khi có giặc người con trai ra trận

    Người con gái trở về nuôi cái cùng con”

    Trong suốt 4000 năm ấy, người VN cứ truyền ngọn lửa yêu nước từ lớp người này qua lớp người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác, từ lồng ngực người già qua trái tim của thế hệ trẻ. Lớp lớp người VN ra trận để viết lên trang sử vẻ vang của dân tộc VN như 1 nhà thơ đã từng viết:

    “Tôi muốn viết bài thơ trên báng súng

    Con lớn lên để viết tiếp thay cha

    Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống

    Người hôm nay viết tiếp người hôm qua”

    Như vậy rõ ràng viết lên trang sử vẻ vang của dân tộc VN là ND VN. Trang sử ấy được viết lên bằng máu, bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng cuộc đời của biết bao con người. Nhận định về vấn đề này, Engels đã nói: “Không có máu và nước mắt của ND, dân tộc ấy không thể có lịch sử.”

    Bên cạnh đó, viết về lịch sử trong bài thơ này, Ng Khoa Điềm không chỉ dừng lại ở lịch sử của chiến trận. Lịch sử của Ng Khoa Điềm là lịch sử của sự gợi mở. Trong suốt 4000 năm qua, ND VN đã lưu truyền đất nước này ở nhiều phương diện. Họ gìn giữ hạt giống để mùa sau. Họ gìn giữ cả ngọn lửa. Ngọn lửa ở đây chính là ngọn lửa của dân tộc VN. Không phải ngẫu nhiên trong mỗi đêm thiêng, người VN lại thường nhớ đến ngọn lửa. Họ truyền lại cho ta cả giọng điệu, cả ngôn ngữ. Họ giữ gìn cả 1 nền văn hóa bởi nói như chủ tịch HCM: ” Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận . Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy .” Như vậy, ta có thể thấy rõ chính ND là người đã làm ra, gìn giữ và bảo vệ đất nước này trong suốt 4000 năm qua. Tóm lại, ND là chủ thể của đất nước ở phương diện lịch sử.

    Câu thơ này tưởng như 1 nghịch lí bởi đất nước bắt đầu từ nghìn xưa sao lại bắt đầu từ bây giờ? Thế nhưng nếu người yêu thơ dừng lại để suy nghĩ, ngẫm nghĩ sâu vào trong mạch tư tưởng của câu thơ này thì đây lại là sự hợp lí sâu sắc bởi mỗi miếng trầu bà ăn hôm nay là 1 khám phá, tìm tòi của người Việt từ thời thượng cổ. Trong mỗi miếng trầu ấy có mùi hăng hăng của lá trầu, cay cay của thuốc, nồng nồng của vôi. Tất cả đều là lịch sử thăng trầm của đất nước 4000 năm được kết tinh vào trong mỗi miếng trầu. Nói cách khác, mỗi miếng trầu bà ăn hôm nay đều đã có 4000 năm tuổi. Nó gắn liền với sự tích cổ của người Việt đó là sự tích trầu cau. Nó gắn liền với những câu thành ngữ, tục ngữ như “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Không phải ngẫu nhiên viết về dân tộc VN, người ta vẫn thường mượn h/a miếng trầu. Giữa 2 giờ súng nổ, chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng” của Ng Thi đã đặt súng xuống, bỏm bẻm nhai miếng trầu của cô Tấm ngày xưa. Chính miếng trầu ấy đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần để Út Tịch vào trận đánh quân thù. Như vậy rõ ràng miếng trầu ở đây chính là VH VN. Từ tiền đề ấy, Ng Khoa Điềm đã khẳng định VH của đất nước này là do ND sáng tạo ra. Nó làm toát lên vẻ đẹp 1 nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời.

    Như vậy ND vừa làm ra địa lí lãnh thổ, ND vừa gìn giữ, phát triển địa lí. ND làm ra lịch sử, phát triển lịch sử đến ngày hôm nay. Và cũng chính ND chứ không ai khác đã làm ra VH, phát triển, BV nền VH muôn đời cho đến tận ngày hôm nay. Với tất cả những góc độ CM như vậy, Ng Khoa Điềm đã khẳng định đất nước này là của ND

    Vẫn biết rằng trường ca là 1 thể thơ dài, khó thuộc, khó nhớ và người viết trường ca dễ bị sa vào lối liệt kê, kể lể. Trích đoạn “Đất nước” nói riêng, trường ca “Mặt đường khát vọng” nói chung tuy không tránh khỏi tì vết này nhưng với tất cả những gì Ng Khoa Điềm đã mang lại cho bài thơ “Đất nước”, với tư tưởng đất nước của ND, “Đất nước” của Ng Khoa Điềm xứng đáng là những vần thơ của năm tháng không thể nào quên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Của Ca Dao Là Gì ?
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Ca Dao Là Gì? Những Câu Ca Dao Bằng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Khoa Tiếng Anh Là Gì
  • Chùm Những Bài Ca Dao Hài Hước, Trào Phúng, Châm Biếm Đặc Sắc Nhất
  • Tuần 9. Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Đặc Điểm Phong Cách Ngôn Ngữ Trong Ca Dao Cổ
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình.
  • Ca dao là gì?

    Ca dao là thơ cơ dân gian của Việt Nam. Những câu ca dao này được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Nhờ đó mà người dân ghi nhớ và thường xuyên sử dụng khi giao tiếp, viết văn, thơ.

    Ca dao được thể hiện dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định. Nhưng người ta lại rất dễ ghi nhớ ca dao vì chúng được phổ theo thể lục bát. Thể loại này mang tới thanh điệu hay, đồng thời dễ thuộc, dễ lưu truyền.

    Ca dao mang rất nhiều nét nghĩa. Thông qua ca dao, người dân Việt Nam phản ánh lịch sử, nếp sống, phong tục, truyền thống, thậm chí là những sự châm biếm sâu cay.

    Ca dao chỉ đơn thuần được sáng tạo, truyền miệng bởi nhân dân. Do đó, không ai biết được nguồn gốc, tác giả ca dao là ai.

    Những câu ca dao mang rất nhiều ý nghĩa đối với truyền thống, văn hoá Việt Nam.

    Bao gồm nét nghĩa đen và nghĩa bóng

    Ca dao là những câu nói của nhân dân đúc kết từ những kinh nghiệm, có vần điệu. Người dân thường mượn hình ảnh nào đó trong dân gian, để chỉ lớp nghĩa sâu sắc hơn. Chính vì thế, ca dao luôn bao gồm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

    Thể hiện những truyền thống văn hoá

    Ca dao là sản phẩm của nhân dân, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ngoài ra, thông qua đó, chúng ta còn biết thêm về vần điệu, thể thơ của tiếng Việt.

    Những cách chơi từ hay mượn hình ảnh thông minh cũng góp phần thể hiện điều này rõ nét nhất.

    Lưu truyền lại kinh nghiệm dân gian

    Người dân Việt Nam từ xa xưa đã có hiểu biết về những hiện tượng tự nhiên. Họ lưu giữ và truyền lại cho nhau từ đời này sang đời khác. Cho nên, có thể nói, ca dao là hình thức lưu truyền lại kinh nghiệm vô cùng hiệu quả.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau – Courtesy costs nothing

    Hoạn nạn mới biết bạn hiền – A friend in need is a friend indeed

    Anh em xa không bằng láng giềng gần – A stranger nearby is better than a far-away relative

    Bắt cá hai tay, tuột ngay cả cặp – If you run after two hares you will catch neither

    Cười người hôm trước hôm sau người cười – He who laughs today may weep tomorrow

    Giàu đổi bạn, sang đổi vợ – Honour charges manners

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Cây Hoa Sen Trong Bài Ca Dao “tát Nước Đầu Đình”
  • Cây Cầu ” Dải Yếm ” Bắc Qua Dòng Sông ” Một Gang ” Trong Ca Dao
  • Ca Dao Là Tiếng Nói Tình Cảm Của Con Người
  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao
  • Ca Dao, Dân Ca Là Gì ? Nêu Các Thể Thơ Ta Thường Bắt Gặp Trong Ca Dao, Dân Ca Và Cho Thí Dụ Minh Họa
  • Nguyễn Khoa Điềm Đã Dùng Một “đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Để Thể Hiện Tư Tưởng ” Đất Nước Của

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Và Chứng Minh Nguyễn Khoa Điềm Đã Dùng Một Đất Nước Của Ca D
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Đặc Trưng Của Ca Dao Việt Nam
  • Phân Biệt Các Khái Niệm: Ca Dao Và Tục Ngữ; Tục Ngữ Và Thành Ngữ. Câu Hỏi 360438
  • Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Diện Tích Tim Tường Và Thông Thủy Khi Mua Căn Hộ Chung Cư
  • Nguyễn Khoa Điềm đã dùng một “đất nước của ca dao thần thoại” để thể hiện tư tưởng ” đất nước của nhân dân”. Hây phân tích và chứng minh.

    Đất Nước – hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên tự sâu thẳm tâm hồn ta vừa cao cả, trang trọng, vừa xiết bao bình dị, gần gũi. Hình tượng Đất nước đã khơi nguồn cho biết bao hồn thơ cất cánh. Văn học kháng chiến 1945 – 1975 trong mạch chảy ngầm dạt dào, mãnh liệt của cuộc sống không chỉ bắt được những âm vang náo nức cùa thời đại mà còn khắc tạc nên tượng đài nghệ thuật Đất nước thật nên thơ, cao đẹp.

    Đất Nước – hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên tự sâu thẳm tâm hồn ta vừa cao cả, trang trọng, vừa xiết bao bình dị, gần gũi. Hình tượng Đất nước đã khơi nguồn cho biết bao hồn thơ cất cánh. Văn học kháng chiến 1945 – 1975 trong mạch chảy ngầm dạt dào, mãnh liệt của cuộc sống không chỉ bắt được những âm vang náo nức cùa thời đại mà còn khắc tạc nên tượng đài nghệ thuật Đất nước thật nên thơ, cao đẹp. Đất nước hóa thân trong một mảnh hồn quê Kinh Bắc đậm đà màu sắc văn hóa dân gian, tình tứ, dịu dàng mà quằn quại dưới gót giày xâm lược trong thơ Hoàng Cầm; Đất nước tươi đẹp mà đau thương với sức vươn khỏe khoắn “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” sống động hiện hình lên trong thơ Nguyễn Đình Thi.

    Từ chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa, trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm là tiếng ca sôi nổi nhiệt tình cất lên từ trái tim tuổi trẻ xuống đường tranh đấu, trong đó những trang thơ khắc hình Đất nước là những nốt nhạc trong trẻo, xanh tươi nhất, rung động lòng người nhất, được tỏa sáng dưới một cái nhìn mới mẻ đầy tính phát hiện của thi nhân. Xuyên suốt đoạn trích Đất Nước, tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” nhuần nhyễn trong hình thức “Đất Nước của ca dao thần thoại” như một sợi chỉ đỏ tạo nên mạch chảy đằm sâu, tha thiết của cảm xúc nhà thơ.

    Giản dị như một lẽ tự nhiên, một vầng trăng cố tích huyền ảo gợi lên trong thế giới “ngày xửa ngày xưa”, một điệu hồn mềm mại trong sáng vút ngân từ trái tim nồng nàn yêu thương của mẹ trong những lời ru đong đầy vành nôi… tất cả thắm vào tâm hồn mỗi con người tự bao giờ. Dòng nước ngọt ngào của tình mẹ tắm mát hồn ta, ươm lên mảnh đất tâm hồn ta những hạt giống tốt lành đầu tiên để từ đó nảy mầm xanh tươi vươn lên đón nhận nắng gió của cuộc đời. Thế giới tuổi thơ – thế giới của trí tưởng tượng bay bổng ấy, thật kì diệu, gắn bó sâu xa tựa như trở thành hơi thở, thành máu thịt nuôi dưỡng tâm hồn. Và cũng chẳng biết tự bao giờ, tình yêu quê hương đất nước đậm đà, từ vành nôi của mẹ, thành hình trong ta từ trong tiềm thức… Văn học dân gian nói chung, ca dao thần thoại nói riêng chính là linh hồn dân tộc. Có thể nói đây là bộ phận văn học trong sáng, giàu sức sống nhất và cũng biểu hiện rõ nhất điệu hồn dân tộc – một giọng điệu hồn hậu, tươi duyên và đằm thắm không ai khác chính nhân dân – tập thể những người lao động – trong quá trình lao động cải tạo thiên nhiên, là tác giả cùa nền văn học dân gian dồi dào sáng tạo ấy. Với những xúc động chân thành mãnh liệt của một hồn thơ nảy nở từ nguồn sữa dân gian dạt dào, với sự cảm hiểu sâu sắc của một thanh niên trí tuệ có vốn văn hóa sâu rộng, phong phú đang trực tiếp trải nghiệm trong cuộc đấu tranh sôi nổi, quyết liệt của nhân dân dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù Nguyễn Khoa Điềm tìm về với cội nguồn “ca dao, thần thoại” để bật lên ánh sáng tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”, vừa độc đáo mới mẻ, vừa thể hiện cái nhìn chính xác, toàn diện, có chiều sâu của nhà thơ về đất nước, về nhân dân. Tư tưởng chủ đạo ấy thấm nhuần từ cảm xúc đến việc sử dụng chi tiết nghệ thuật bài thơ. Đi suốt đoạn trích, ta bắt gặp một thế giới vừa gần gũi, thân quen, vừa kì diệu sâu xa khơi dậy hồn đất nước. Và chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng được tắm đẫm, được bao bọc bởi bầu không khí văn hóa dân gian gắn bó máu thịt với mỗi tâm hồn, trong đó âm hưởng “đất nước của “nhân dân” là nốt nhạc chủ đạo ngân vang suốt bản đàn “đất nước”.

    Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”… mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

    Những câu thơ mở đầu đoạn trích, thật tự nhiên và sâu lắng, nói với ta bao điều giản dị mà cũng thật thiêng liêng, thật thấm thía. Một thế giới cổ tích, truyền thuyết xưa như ùa về, sống dậy trong tâm hồn người đọc: câu chuyện

    Trầu Cau với tình người nồng hậu, thủy chung, biểu tượng đạo lí sáng đẹp yêu thương của dân tộc; sự tích Thánh Gióng như khúc anh hùng ca tráng lệ tự hào, biểu tượng sức mạnh thần kì của nhân dân Việt Nam từ buổi bình minh non trẻ dựng nước và giữ nước. Hơi thở trải dài, trầm lắng ngân nga như tiếng lòng đất nước dội về tự thuở nào, gợi dậy quá trình sinh thành và tồn tại của đất nước. Nếu như trong cổ tích, truyền thuyết xưa, nhân dân là những cô Tấm, những chàng Thạch Sanh… hay hóa thân trong vẻ đẹp Thánh Gióng, Sọ Dừa, thì trên trang thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhân dân hiện lên thân thương, gần gũi qua dáng hình của bà, của mẹ, của “dân mình”. Còn đất nước, không phải là một hình người khổng lồ xa lạ, hay là một khái niệm trừu tượng mà là những gì giản dị, thân thiết trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người. Đất nước hiện hình từ câu chuvện cổ tích của mẹ, miếng trầu của bà đến cái kèo, cái cột trong nhà, hạt gạo ta ăn hàng ngày. Tất cả những vật thân quen, bình dị ấy trong dời sống vật chất, cùng với những phong tục tập quán trong đời sông tinh thần của nhân dân: ăn trầu, trồng tre, búi tóc sau đầu, cách đặt tên người…, và cả tình yêu của con người (“cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”) đều làm nên khuôn mặt dân tộc – một dân tộc nghĩa tình, đằm thắm như trong câu ca dao gợi lên trong ta:

    Tay nâng chén muối, đĩa gừng Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau

    Chất dân gian, hồn dân tộc như thấm vào từng câu từng chữ. Đất nước bắt nguồn từ những cái hàng ngày gần gũi, lại là những cái bền vững sâu xa, đã hình thành và tồn tại từ ngàn xưa trong đời sống dân tộc; từ những phong tục tập quán xa xưa như không có tuổi, lại là sự tiếp nối thiêng liêng, thấm đượm qua nhiều thế hệ. Đó chính là chiều sâu văn hóa – lịch sử của đất nước thể hiện ngay trong cuộc sống gần gũi hàng ngày của nhân dân. Có thể nói, bằng những hình tượng cụ thể, sinh động giàu sức khơi gợi. Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra định nghĩa mới mẽ, độc đáo về đất nước. Những câu thơ mở đầu như khúc dạo thiết tha đưa người đọc vào thế giới nghệ thuật cùa đoạn thơ, vừa gần gũi, thân quen, vừa huyền ảo, diệu kì tự xa xưa.

    Không những thế, đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm còn gắn với kỉ niệm riêng tư của mỗi con người, biến thành máu thịt của mỗi người. Tách Đất và Nước thành hai yêu tố, nhà thơ soi chiếu mối quan hệ Đất Nước với không gian và thời gian, với lịch sứ và hiện tại. Đất Nước là mảnh đất quen thuộc, gắn bó với mỗi con người:

    Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm.

    Đất Nước còn là núi sông rừng bể bao la, là không gian sinh tồn và phát triển của bao thế hệ người Việt. Và thật thiêng liêng, Đất Nước là chứng nhân ghi dấu kỉ niệm tình yêu:

    Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.

    Câu thơ thể hiện ngòi bút tài hoa, tinh tế của thi nhân. Ta như lắng nghe điệu bài ca dao “khăn thương nhớ ai” dìu dặt trong bài thơ. Kỉ niệm đẹp đẽ, xúc động của tình yêu như khơi dậy xôn xao, lấp lánh mỗi dòng thơ, ẩn sau đó là biết bao xao xuyến, bâng khuâng của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Vì thế, ấn tượng về sự gắn bó thân thiết với mỗi cá nhân cùa đất nước càng khắc ghi sâu đậm.

    Những câu thơ sau lại thấm nhuần chất dân gian nhờ cách sử dụng linh hoạt chọn lọc chất liệu văn hóa dân gian:

    Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

    Theo mạch suy tưởng, tác giả tiếp tục cảm nhận đất nước ở bình diện lịch sử với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ “đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”, truyền thuyết Hùng Vương với ngày giỗ tổ. Những câu thơ gợi cảm xúc trang trọng, thiêng liêng khi hướng về nguồn cội cha ông. Những giá trị truyền thống, phong tục, văn hóa bền vững ấy tạo nên mạch ngầm chảy từ quá khứ, nối liền hiện tại và tương lai:

    Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hàng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ.

    Cảm nhận đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện mối quan hệ biện giải giữa con người và đất nước, tạo nên sự “hài hòa, nồng thắm”:

    Trong anh và em hôm nay đều có một phần đất nước

    Một “Đất Nước của ca dao thần thoại” đi vào tâm hồn con người từ thuở trong nôi, một “Đất Nước của Nhân dân” gắn bó gần gũi, thiêng liêng trong cuộc sống hàng ngày, đất nước đã quấn quyện trong hơi thở, máu thịt mỗi người. Những câu thơ đang từ tính chất độc thoại, hướng nội chuyển sang đối thoại ,đặt ra trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với đất nước.

    Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ. Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

    Làm nên Đất Nước muôn đời. Câu thơ dù là hình thức mệnh lệnh, nhưng với giọng điệu thiết tha, với cảm xúc mãnh liệt bật lên từ trái tim, từ sự cảm hiểu sâu sắc về đất nước, điệu thơ có sức cuốn hút, thôi thúc mạnh mẽ, tác động đến tâm hồn và trí tuệ người đọc. Mỗi con người gắn bó máu thịt với đất nước nên phải biết bảo vệ, giữ gìn đất nước, hơn nữa phải hi sinh vì đất nước khi vận mệnh dân tộc lâm nguy để mảnh đất mãi màu mỡ, xanh tươi những khúc hát tự do như người con gái trong bài thơ.

    Quê hương của Giang Nam: “Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất có một phần xương thịt của em tôi”. Trong hoàn cảnh đất nước đang gồng mình dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, những vần thơ cùa Nguyễn Khoa Điềm càng có sức lay động sâu xa lòng người, khơi dậy trong mỗi người ngọn lửa yêu thương, chiến đấu, hi sinh bởi trách nhiệm với đất nước chính là trách nhiệm với chính bản thân mình, với truyền thống văn hóa ngày xưa của nhân dân. Những câu thơ viết về chính trị mà không khô khan chính vì “phát khởi tự trong lòng” thi nhân, thấm nhuần cảm xúc dạt dào hứng khởi và nói với ta biết bao điều thiêng liêng về đất nước, về trách nhiệm bản thân đối với đất nước.

    Đi suốt đoạn thơ và nhập sâu vào cảm xúc nhà thơ, tư tưởng “đất nước của nhân dân” càng sáng lên rạng rỡ. Đất nước được nhìn từ phương diện địa lí, lịch sử văn hóa trở nên trang trọng, đẹp đẽ lạ thường.

    Những câu thơ như trải rộng mãi cùng cái nhìn, toàn cảnh thiên nhiên đất nươc từ Bắc xuống Nam, từ biển lên rừng. Đôi mắt thi nhân tưởng như muốn ôm trọn những cảnh quan mĩ lệ, kì thú của non sông:

    Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chổng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm.

    Vốn văn hóa dân gian sâu rộng trải ra trên mỗi trang thơ với những phát hiện mới mẻ,sâu sắc và tinh tế của nhà thơ. Những chất liệu dân gian như cổ tích, truyền thuyết… từ sự tích núi Vọng Phu đến hòn Trống Mái, từ chuyện Thánh Gióng đến sự tích chín mươi chín con voi quây quần thuần phục nơi đất Tổ Hùng Vương, từ những sự tích về núi Bút, non Nghiên, thắng cảnh Hạ Long hay những địa danh Nam Bộ… mỗi danh lam thắng cảnh tươi đẹp của đất nước gắn với truyền thuyết riêng, tạo nên một thế giới cố tích huyền diệu. Nhưng có lẽ nét sâu sắc hơn, tài hoa hơn cả chính ở cái nhìn “đất nước của nhân dân” nên mỗi cảnh quan đất nước đều in dấu hình dáng con người: nhưng người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo, những người dân,… và cả đến những con vật gần gũi thân quen của cuộc sống con người (con cóc, con gà quê hương) cũng góp phần tô điểm vẻ đẹp dáng hình đất nước, nhân dân không chỉ bằng những sinh hoạt của mình, cắt nghĩa các truyền thuyết, mà còn sáng tạo ra danh lam thắng cảnh đẹp đẽ, mang hồn thiêng núi sông, dân tộc. Thiên nhiên đất nước hiện lên chính là một phần máu thịt, tâm hồn của nhân dân. Từ đó, tác giả khái quát, nâng lên như một suy tư giàu chất triết luận:

    Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình một ao ước một lối sống ông cha. Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.

    Vượt qua thời gian đằng đẵng, nhìn xa vào bốn ngàn năm đất nước, có bề lịch sừ hào hùng của đất nước như sống dậy. Ca dao xưa nói về nỗi nhớ quê hương qua những chi tiết thật bình dị của bữa cơm đạm bạc và bóng dáng dầm sương dãi nắng.

    Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Nhìn lại lịch sứ dài lâu của đất nước, ta thường khắc ghi các triều đại, ngợi ca những anh hùng ghi danh trong trang sử vàng của dân tộc.

    Những cảm quan “Đất Nước của Nhân dân” như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối cái nhìn lịch sử của nhà thơ. Nhân dân là người sáng tạo ra đất nước, chiến đấu bảo vệ đất nước. Những cụm từ lấy ra trong ca dao, tục ngữ: “nuôi cái cùng con”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” tạo cho lời thơ sự hòa quyện rất gợi cảm. Nốt nhấn của khúc ca ca ngợi nhân dân chính là điểm sáng ngời trong phẩm chất nhân dân:

    Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.

    Nhân dân trong quan niệm Nguyễn Khoa Điềm, là tập thể những người anh hùng vô danh. Họ sống giản dị, chết bình tâm, chiến đấu không phải để mang tên cho lịch sử mà vì một lẽ thiêng liêng, bình dị và cao cả: bảo vệ đất nước. Câu thơ ngắn, cô đúc nhưng lại chính là sự dồn nén của cảm xúc tác phẩm, ấn chứa biết bao xúc động chân thành trước những hi sinh thầm lặng, những đóng góp lớn lao của những con người vô danh, hiền lành và giản dị.

    Từ cái nhìn đầy tính phát hiện, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhân dân. Nhân dân, bằng máu xương của mình đã chiến đấu bảo vệ gìn giữ đất nước, họ là những anh hùng chiến trận. Nhân dân, bằng lao động sáng tạo đã dựng xây đất nước, giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ Việt Nam mọi giá trị văn hóa, phẩm chất tinh thần: từ hạt lúa với nền văn minh lúa nước, ngọn lửa tạo nên bước tiến của loài người đến những của cải tinh thần quý báu như phong tục tập quán, giọng nói cha ông, tên xã, tên làng… họ là những anh hùng văn hóa. Nhân dân đã ấp iu qua nhiều thế hệ nhưng phẩm chất cao đẹp đúc kết trong những câu ca dao, tục ngữ đi vào lòng người, dễ thuộc dễ nhớ. Đó là cái gốc rễ mọi tình cảm đẹp, tình yêu thương, thể hiện trong câu ca dao hóm hỉnh:

    Yêu em từ thuở trong nôi Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru

    Đó là sự quý trọng công sức lao độmg:

    Cầm vàng mà lội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    Đó còn là tinh thần bất khuất quật cường và lòng căm thù giặc sâu sắc:

    Thù này ắt hẳn còn lâu Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què

    Sử dụng linh hoạt sáng tạo chất liệu ca dao của văn học dân gian, dường như có một sự đồng diệu và gặp nhau trong tâm hồn cha ông ngàn xưa và thế hệ hiện tại. Phải thấu hiểu, trân trọng giá trị văn hóa dân tộc thì tác giả mới có cái nhìn sâu sắc, mới mẻ ấy trong quan niệm “Đất Nước của Nhân dân”.

    Cảm hứng thơ dồn dập dâng trào đến đỉnh điểm từ đó bật lên điểm sáng cốt lõi trong quan niệm đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

    Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại.

    Đoạn trích khép lại bằng hình ảnh dòng sông đưa nước từ những phương trời xa tắm mát tâm hồn ta và vẻ đẹp cùa thiên nhiên, con người đất Việt “gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”. Phải chăng đó cũng chính là dòng sông của truyền thống lịch sử chảy về tự ngàn xưa, từ đó bồi đắp phù sa cho tâm hồn muôn thế hệ? Và lời thơ kết rung động lòng người bởi nó bật lên từ sự xúc động chân thành của trái tim thi sĩ: “Ta nghẹn ngào đất nước Việt Nam ơi!”. Cái “nghẹn ngào” của nhà thơ thật đáng quý, đáng trân trọng, đó là kết tinh của những cảm xúc mãnh liệt và suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về đất nước, về vai trò to lớn và vẻ đẹp cao cả của nhân dân, là tiếng lòng chân thành của cả thế hệ hướng tới nguồn cội dân tộc, tới truyền thông văn hóa, lịch sử vững bền mà nhân dân là người sáng tạo, bảo tồn và truyền lại cho con cháu mai sau.

    Có thể gọi Đất Nước là một tùy bút thơ của Nguyễn Khoa Điềm, trong đó tác giả không đơn thuần viết theo dòng chảy cảm xúc mà còn huy động vào thơ kho hiểu biết dồi dào trong tính tổng hợp về địa lí, lịch sử, văn hóa dân gian mà tâm điểm là văn học dân gian. Đoạn trích được xây dựng theo phương thức luận đề, chất “tư duy lôgic” dễ làm thơ mất đi chất “tươi xanh nhựa sống”, khô khan, chỉ tác động vào lí trí. Hơn nữa với vốn kiến thức phong phú tổng hợp khiến thơ dễ sa vào ước lệ, khô cứng như một bài diễn ca xã hội học. Nhưng không! Viết về đất nước, về một nguồn mạch cảm hứng lớn của thi ca nói chung và thơ cách mạng nói riêng, Nguyễn Khoa Điềm đã chiết xuất chất liệu văn hóa dân gian, đưa vào ngôn ngữ thơ những chi tiết hiện thực gần gũi, phổ biến, không chỉ quen thuộc trong nhận thức mà còn có sức lay động tình cảm sâu xa đối với mọi tâm hồn Việt Nam. Việc sử dụng khá dày, đậm nhưng cũng rất linh hoạt sáng tạo nguồn văn học dân gian tạo nên thế giới thơ bình dị, gắn bó máu thịt với tâm hồn người đọc và dễ đi vào lòng người bởi ngôn ngữ dân gian hồn hậu, trong sáng. Chính sách sử dụng ngôn ngữ này tạo sắc điệu thẩm mĩ và không khí riêng cho đoạn thơ, đồng thời thể hiện rõ nét tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” bởi nhân dân đã sáng tạo ra nền văn học dân gian giàu sức sống, thân quen gần gũi với mỗi người dân đất Việt.

    Mặt khác, chính cám xúc chân thành, mãnh liệt của thi nhân mang lại cho nhà thơ âm hưởng tha thiết, ngân vang, với nhiều giọng điệu lúc thì nồng nhiệt say mê, khi lại trầm lắng như trò chuyện, tâm tình về những nhận thức, cảm xúc về đất nước, nhân dân. Mỗi chi tiết, hình ảnh đưa ra đều thấm nhuần tâm hồn nhà thơ, khi thì là cảm nhận riêng tư, lúc lại chứa chan cảm xúc như hồi ức, một kỉ niệm. Sự kết. hợp hài hòa chất trữ tình và giọng chính luận cho đoạn thơ vẻ đẹp riêng độc đáo, thơ không xa lạ mà đi vào lòng người tiếng nói tình cảm xúc động chân thành mà vẫn thế hiện chất trí tuệ. Chúng ta trải nghiệm bản thân của một nhà thơ – chiến sĩ lăn mình trong khói lửa chiến tranh cùng với vốn văn hóa sâu rộng và tình cảm yêu thương đất nước, trân trọng, ca ngợi nhân dân đã tỏa sáng tư tưởng, tâm hồn thi nhân.

    Cũng viết về đề tài đất nước, thơ ta chống Mĩ không chỉ kế tục truyền thống yêu nước từ văn học giai đoạn trước và trực tiếp nhất là thơ ca chống Pháp mà còn có đóng góp làm phong phú, sâu sắc thêm nguồn cảm hứng dạt dào này. Nguyễn Trãi trước kia từng thấy được vai trò “lật thuyền mới biết dân như nước”, Phan Bội Châu từng viết “dân là dân nước, nước là nước dân”, nhưng phải đến Nguyễn Khoa Điềm, tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” mới thể hiện rõ nét và được nâng lên thành cảm hứng nghệ thuật của thơ ca chống mỹ. Bằng những khám phá, phát hiện về chiều sâu văn hóa – lịch sử đất nước, sự gắn bó giữa truyền thống quá khứ và hiện tại, với con đường đi riêng: con đường của văn học dân gian gần gũi, kì diệu, tư tưởng của Nguyễn Khoa Điềm thấm vào từng hình tượng, ngôn ngữ với mối liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo và thông minh. Có thế nói đây là phần tinh túy nhất, sâu sắc nhất trong trường ca Mặt dường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm.

    Văn học chống Mĩ cũng có những cảm nhận sâu sắc về nhân dân, đặt nền tảng cho lòng yêu nước: Nguyễn Duy suy nghĩ về nhân dân qua một Hơi ấm ổ rơm- hay hình tượng Tre Việt Nam, còn Thanh Thảo trong trường ca Những người đi tới biển đã viết lên những lời ca xúc động nhất, về nhân dân:

    Và cứ thế nhân dân thường ít nói Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời Và cứ thế nhân dân cao vời vợi Hơn cả những ngôi sao cô độc giữa trời

    Nhưng có lẽ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm với nhạc điệu “Đất Nước của thần thoại” để sáng lên tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” rất độc đáo là nốt nhạc ngân vang trong bản hòa điệu của thơ ca kháng chiến, thể hiện tâm hồn cảm xúc thi nhân trước vẻ đẹp văn hóa dân tộc, tư tưởng ấy đến nay còn tươi nguyên giá trị của nó bởi trách nhiệm “hóa thân cho dáng hình xứ sở” là vấn đề muôn đời của thơ ca và cuộc sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyễn Khoa Điềm Đã Dùng Một “đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Để Thể Hiện Tư Tưởng ” Đất Nước Của Nhân Dân”. Hãy Phân Tích Và Chứng Minh Điều Đó
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Đặc Trưng Kết Cấu Ca Dao Trữ Tình
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Tuần 9. Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • “đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Hộ Gia Đình Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hộ Gia Đình
  • Văn Phòng Đại Diện Là Gì?
  • Hố Ga Là Gì? Và Nguyên Lý Hố Ga Thoát Nước Gia Đình
  • Đồng Hồ Điện Tử Là Gì? Ưu, Nhược Điểm Khi Sử Dụng Đồng Hồ Điện Tử
  • “Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” trong đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Tổ quốc là một đề tài phong phú của thơ ca Việt Nam. Trước Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài thơ hay, nhiều tác giả thành công về đề tài này. Đất nước anh hùng trong kháng chiến chống Pháp, mang hồn thu Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Đất nước cổ kính, dân gian, mang hồn quê Kinh Bắc của Hoàng Cầm. Đất nước hóa thân cho một dòng sông xanh, đầy ắp kỉ niệm trong thơ Tế Hanh. Đất nước hài hòa trong dáng hình quê hương và tình yêu đôi lứa trong thơ Giang Nam. Nhưng, Nguyễn Khoa Điềm đã tìm được một cách nói riêng để chương thơ mới của ông đã mang lại cho bạn đọc những rung cảm thẫm mĩ mới về đất nước: “Đất nước của nhân dân”‘ “Đất nước của ca dao thần thoại”.

    Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện trên ba chiều cảm nhận. Đất nước được nhìn từ không gian địa lí. Nhân dân làm nên tên núi, tên sông, tên địa phương, danh lam thắng cảnh của Đất Nước. Tác giả nhìn thiên nhiên, danh lam thắng cảnh qua tâm hồn, số phận, ước vọng nhân dân. Nhân dân trao cho núi sông tình yêu, nỗi đau của mình nên mới có núi Vọng Phu, hòn Trống Mái…:

    Những anh hùng hào kiệt vì đất nước mà hi sinh, làm nên những thần thoại oai hùng, lẫm liệt còn vang vọng cho đến ngày nay:

    Những con người bình thường lấy học thức làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời:

    Nhân dân vô danh đã hóa thân vào mỗi tấc đất của quê hương để có Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…:

    Cuộc đời nhân dân tạc vào núi sông, thành cốt cách, lối sống dân tộc:

    Đất nước hiện hình từ trong thời gian lịch sử. Nhân dân làm nên truyền thống anh hùng vẻ vang trong 4000 năm giữ nước. Khi nghĩ về lịch sử Đất Nước, tác giả không nhắc đến các triều đại, các anh hùng có tên tuổi mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị là nhân dân: họ cần cù lao động xây dựng Đất Nước trong thời bình và sẵn sàng ra trận, hy sinh bảo vệ Đất Nước trong thời chiến, hóa thân vào Đất Nước muôn đời. Cảm xúc tự hào, cảm phục:

    “Em ơi em

    Hãy nhìn rất xa

    Vào bốn ngàn năm Đất Nước

    Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

    Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

    Cần cù làm lụng

    Khi có giặc người con trai ra trận

    Người con gái trở về nuôi cái cùng con

    Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

    Nhiều người đã trở thành anh hùng.”

    Một dân tộc anh hùng đã dệt nên những trang sử anh hùng. Lịch sử anh hùng ấy không chỉ ở chiến công chống giặc ngoại xâm mà còn ở sự nghiệp chinh phục tự nhiên, mở mang đất nước. Mỗi tất đất chứa đựng những sinh mệnh con người qua lớp lớp thời gian:

    “Có biết bao người con gái, con trai

    Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

    Họ đã sống và chết

    Giản dị và bình tâm

    Không ai nhớ mặt đặt tên

    Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”

    Đất nuốc tồn tại trong bản sắc văn hóa của dân tộc từ xưa đến nay. Nhân dân tạo ra nếp sống, nếp nghĩ, bản sắc văn hóa của dân tộc:

    “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

    Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi

    Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

    Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

    Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái.”

    Khi đất nước lâm nguy, họ trở thành người lính đánh giặc quyết tâm gìn giữ đất mẹ thiêng liêng. Tình yêu đất nước trở thành nguồn sức mạnh phi thường, quét sạch mọi kẻ thù hung bạo:

    Tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân dân trong quá trình hình thành và phát triến của Đất Nước. Nhân dân đã sáng tạo, gìn giữ, truyền lại cho thế hệ sau mọi giá trị vật chất và tinh thần. Từ những phát hiện đó nhà thơ đi đến một định nghĩa độc đáo:

    Trong muôn vàn vẻ đẹp của dân tộc, tác giả đã chọn ba nét nổi bật ấn tượng nhất được thể hiện trong ca dao để nói lên giá trị tinh thần của nhân dân. Nhân dân ta rất say đắm, thủy chung trong tình yêu “yêu em từ thuở nằm nôi..”. Nhân dân ta hết sức quý trọng tình nghĩa “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Nhân dân ta vô cùng quyết liệt trong căm thù và chiến đấu, bền bỉ kiên cường không khuất phục trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm:

    Tác giả cảm nhận, phát hiện về vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà còn là biểu tượng cho số phận, tính cách, tâm hồn con người (sự kết hợp Đất Nước – Nhân dân.

    Tác giả đã khám phá vẻ đẹp tâm hồn, tính cách con người Việt Nam: Yêu thương sâu sắc, thủy chung tình nghĩa, cần cù lao động, anh hùng bất khuất, sống và hi sinh bình dị vì Đất Nước. Từ những khái quát giản dị nhưng đầy tính nhân văn, tác giả khẳng định: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân”. Đó là một phát hiện mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm, đóng góp quan trọng trong nhiệm vụ khẳng định tình yêu đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu bảo vệ đất nước của nhân dân ta.

    Đất Nước là đoạn thơ trữ tình chính luận, kết hợp được cảm xúc với suy ngẫm. Đoạn thơ cho thấy sự hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân. Việc vận dụng văn hóa dân gian trong đoạn thơ không chỉ lâ một thủ phấp nghệ thuật mà là sự thấm sâu quan niệm “Đất Nước của Nhân dân” vào cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.

    Hiếm có một giai đoạn văn học nào mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Đất nước lại tập trung cao độ như giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” (Vui thế hôm nay), Chế Lan Viên với “Sao chiến thắng”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã thể hiện một cách sâu sắc vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Đất nước của nhân dân”. Tư tưởng ấy được thể hiện đậm nét qua đoạn thơ sau:

    “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

    (………………………)

    Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…”

    Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, cảm xúc nồng nàn.”Đất nước” là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”.

    Ngày xưa, người ta thường quan niệm: Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, khi người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân dân.

    Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định ấy là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ:

    Nhà thơ khẳng định chắc nịch “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định ấy đã thể hiện một cách chân thành, mãnh liệt tình cảm của nhà thơ đối với dân tộc. Hơn ai hết, nhà thơ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn ai hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài đất nước. Vì thế Đất Nước không của riêng ai mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân.

    Ở câu thơ thứ hai, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định “Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Đất nước của nhân dân”được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, nhà thơ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc đến ca dao thần thoại ta lại càng nhớ đến nhân dân, vì hơn ai hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Mà đất nước của “ca dao thần thoại” nghĩa là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người.

    Không phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan. Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất.

    Và khi nói đến “Đất nước của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc:

    Chức năng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Chức năng ấy cùng với ý nghĩa của nó được thể hiện qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Nhà thơ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai ấy không phải là ngọn gió thoáng qua, không phải là lời của bướm ong mà là lời nói là nghĩ suy chân thật.

    Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung bền vững không gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao ấy. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân người ta thường nghĩ đến những phẩm chất cần cù chịu khó, bất khuất kiên thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành.

    Ở phương diện thứ hai, Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ ấy lấy ý từ ca dao “Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng: ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần giá trị vật chất.

    Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và chiến đấu “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao cuộc chiến vệ quốc vĩ đại. Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi đến 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh để đến ngày toàn thắng.

    Bốn câu thơ cuối: Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:

    Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông không biết đến từ bến bờ nào nhưng khi hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” ấy vừa có ý nghĩa là dòng sông của quê hương đất nước nhưng vừa có ý nghĩa là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa đa dạng “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun đắp phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một đất nước đậm đà bản sắc dân tộc.

    Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca đặc sắc nhưng không lấy lại nguyên văn mà sáng tạo làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc nhà thơ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt Nam:

    (Tố Hữu)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại
  • Phân Tích Chất Ca Dao, Thần Thoại Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Nội Dung Của Ca Dao Là Gì ?
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Bài Ca Dao Than Thân Thân Em
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa (Chi Tiết)
  • Tuần 9. Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Đặc Trưng Kết Cấu Ca Dao Trữ Tình
  • 1. Khái niệm

    – Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.

    – Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.

    2. Đặc điểm của ca dao

    – Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm…

    – Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…).

    II. RÈN KĨ NĂNG

    1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:

    – Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.

    – Nội dung yêu thương tình nghĩa:

    + Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.

    + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ).

    2. Về các bài 1, 2

    a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

    b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng:

    – Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).

    – Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa.

    3. Về bài 3

    a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

    Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. – Ai làm bầu bí đứt dây

    Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng.

    Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ ( mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

    c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    4. Về bài 4

    Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

    Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa ( khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.

    Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

    Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

    Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.

    Hai ta cách một con sông

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

    Cách nhau có một con đầm

    Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm

    Gần đây mà chẳng sang chơi

    Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em…

    Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:

    Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao.

    Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia).

    6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao ( gừng cay – muối mặn).

    Muốigừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

    Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách ( Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.

    7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là:

    – Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như…

    – Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn…

    – Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai…

    – Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.

    – Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

    Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.

    8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    – Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày – Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa – Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu – Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

    Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

    – Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.

    – Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.

    – Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn:

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Phân Biệt Thành Ngữ Với Tục Ngũ
  • Cận Cảnh Độ Nguy Hiểm Của Loài Cá Ăn Thịt Người Piranha
  • Thơ Trào Phúng Là Gì ?
  • Tiền Và “triết Đạo Cà Phê Trung Nguyên”
  • Nội Dung Của Ca Dao Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chất Ca Dao, Thần Thoại Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại
  • “đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Hộ Gia Đình Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hộ Gia Đình
  • Ca dao phản ánh lịch sử

    Ca dao là những bài ca về lịch sử. Nhưng trước tiên, việc xác định nội dung lịch sử của những câu ca dao cũng là vấn đề cần xem xét.

    Tác giả Nguyễn Văn Mại trong Việt Nam phong sử đã trình bày quan điểm của mình trong bài Tựa: Phong là cái gì ? Là thơ ở trong ca dao dân tục vậy. Sử là cái gì ? Là cái gương sáng để khen chê khuyến trừng việc thị phi thiện ác vậy. Tại sao phong mà lại gọi là sử ? Vì nhân đọc dân phong mà biết quốc sử vậy. Với phương pháp biên soạn: đem ý riêng nghị luận bổ thêm vào … lấy phong dao làm gương sáng để chiếu tinh thần quốc sử, lại lấy quốc sử làm căn bản để cắm cái hoa lá phong dao …, tác giả đã có sự gắn kết các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn:

    -Tưởng là chị ngã em nâng, Chẳng hay chị ngã em mừng em lo.

    được tác giả coi là nói về việc Trịnh Tùng tranh cướp lấn quyền của anh là Trịnh Cối sinh ra hiềm khích đánh nhau.

    Theo cách thức như vậy, có thể ghép nhiều nội dung lịch sử khác nhau cho cùng một câu ca dao:

    -Nước lã mà vã nên hồ,

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

    được cho là nói về việc sau hai bà Trưng lại có Lý Nam Ðế xưng hùng, chống nhau với nhà Lương, người khác lại cho là nói về việc Lê Hoàn được sự nâng đỡ của Dương Vân Nga mà lấy được ngai vàng nhà Ðinh …

    Ca dao lịch sử nói đến lịch sử bằng một thứ ngôn ngữ trực tiếp. Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.

    Nhân dân nói về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược hồi thế kỷ III:

    -Ru con con ngủ cho lành, Ðể mẹ gánh nước rửa bành cho voi. Muốn con lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng. Túi gấm cho lẫn túi hồng, Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân.

    Về cuộc kháng chiến vĩ đại mười năm chống quân Minh hồi thế kỷ XV gắn với tên tuổi người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ghi nhớ trong lời ca dao:

    -Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn, Nhớ đây Lê Lợi chặn đường quân Minh.

    Có những câu ca dao nói đến những sự kiện phản ánh tình hình suy thoái của chính quyền phong kiến.

    -Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng, Bao giờ gánh đá ông Ðăng cho rồi.

    nói về sự khốn khổ của nhân dân Thanh Hóa thời Hậu Lê (1600) phải đi phu gánh đá xây sinh từ cho Ðăng quận công Nguyễn Khải.

    -Vạn Niên là Vạn Niên nào,

    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

    Câu ca dao là lời ta thán của nhân dân khi phải chịu cảnh phu phen tạp dịch nặng nề để xây lăng Vạn Niên cho vua Tự Ðức.

    Bằng lời lẽ táo bạo nhân dân đánh vào sự thối nát, rối ren của chính quyền thống trị của họ Trịnh cuối thế kỷ XVIII:

    -Trăm quan có mắt như mờ,

    Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung. -Ðục cùn thì giữ lấy Tông, Ðục long, Cán gãy, còn mong nỗi gì !

    2. Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống

    Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao.

    Ðây là những tập quán trong lao động nông nghiệp, ngư nghiệp:

    -Người ta đi cấy lấy công, Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề, Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng, đá mềm, Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng. -Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày … -Chồng chài, vợ lưới, con câu, Mênh mông bể Sở biết đâu là nhà.

    Những cảnh sinh hoạt truyền thống:

    -Hôm qua anh đến chơi nhà, Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường. Thấy em nằm đất anh thương… -Aïo đen năm nút viền bâu, Ai may cho bậu hay là bậu may. -Mua cau chọn những buồng sai, Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng. Tai nghe trống chiến trống chầu, Xếp ba miếng kẹo lộn đầu, lộn đuôi.

    3. Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân

    Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn.

    Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời … được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người.

    -Nhất cao là núi Ba Vì, Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn. -Nhất cao là núi Tản Viên, Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường. -Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Ðồng nai đã từng. -Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Yêu em anh cũng muốn vô, Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang. Phá Tam Giang ngày rày đã cạn, Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm. -Rủ nhau chơi khắp Long Thành, Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai. Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai, Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay. Mã Vĩ, hàng Ðiếu, hàng giày, Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Ðàn. Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than, Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Ðồng. Hàng Muối, hàng Nón, cầu Ðông, Hàng Hòm, hàng Ðậu, hàng Bông, hàng Bè. Hàng Thúng, hàng Bát, hàng Tre, Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà. Quanh đi đến phố hàng Da, Trải xem phưòng phố thật là cũng xinh. Phồn hoa thứ nhất Long Thành, Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ. Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ, Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

    Sự giàu có của những sản vật tự nhiên, và những sản phẩm do bàn tay sáng tạo của con người đã làm nên nét đẹp quê hương có mặt rất nhiều trong ca dao:

    -Muốn ăn mật rú vô Trèn, Muốn xơi ốc đực thì lên Thác Ðài. -Lụa này thật lụa cố đô, Chính tông lụa cống các cô đang dùng. -Bến Tre giàu mía Mõ Cày, Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.

    Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dung phản ánh được mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách …

    -Hôm qua tát nước đầu đình, Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen. Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà. Aïo anh sứt chỉ đường tà, Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu. Aïo anh sứt chỉ đã lâu, Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng. Khâu rồi anh sẽ trả công, Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho. Giúp em một thúng xôi vò, Một con lợn béo, một vò rượu tăm. Giúp em đôi chiếu em nằm, Ðôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo. Giúp em qua tám tiền cheo, Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau. -Quạt này anh để che đầu, Ðêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này. Ước gì chung mẹ, chung thầy, Ðể em giữ cái quạt này làm thân. Rồi ra chung gối chung chăn, Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu. Nằm thì chung cái giường Tàu, Dậy thì chung cả hộp trầu ống vôi. Ăn cơm chung cả một nồi, Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa. Chải đầu chung cái lược ngà, Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu… -Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây, Sự đâu đem đổ dạ này mê man. -Buổi mai em xách cái thống, Em xuống dưới ao em bắt con cua, Em bỏ vô trong cái thống; Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh, Hắn kêu một tiếng chàng ôi ! Chàng đà yên phận tốt đôi, Em nay lẻ bạn mồ côi một mình. -Ngọn lang trắng, ngọn vắn, ngọn dài, Rau tần ô, ngã dọc, ngã ngang, Trái dưa gang sọc đen, sọc trắng, Ngọn rau đắng, trong trắng ngoài xanh. Chim quyên uốn lưỡi trên nhành, Bởi em ở bạc, ông trời nào đành để em. -Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …

    Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa:

    -Hai ta là bạn thong dong, Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng. Bởi chưng thầy mẹ nói ngang, Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau. -Vắn tay với chẳng đặng kèo, Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em.

    Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tinh cảm anh em … phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân.

    Ðây là hình ảnh một gia đình truyền thống:

    -Sáng trăng trải chiếu hai hàng, Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.

    Tình nghĩa gắn bó, thủy chung, tiếng nói đạo nghĩa của nhân dân:

    -Muối ba năm muối đương còn mặn, Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay, Ðạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay, Dẫu có làm nên danh vọng, rủi có ăn mày ta cũng theo nhau.

    Những bài ca tuyệt hay về tình mẹ con:

    -Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương. -Mẹ già ở túp lều tranh, Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con.

    4. Phản ánh đời sống xã hội cũ

    Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội khắc họa một bức tranh phong phú về hiện thực. Ca dao phản ánh những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến.

    -Gánh cực mà đổ lên non,

    Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo. -Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình … -Con cò mà đi ăn đêm, Ðụng phải cành mềm, lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Ðừng xáo nước đục, đau lòng cò con. -Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa, Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa.

    Ca dao phản ánh khá nổi bật đời sống, tâm trạng người phụ nữ trong xã hội cũ. Ðây cũng là những tâm trạng uất ức, đau khổ trước những bất công xã hội áp đặt đối với người phụ nữ.

    -Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày. -Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. -Lênh đênh chiếc bách giữa dòng, Thương thân goá bụa phòng không lỡ thì. Gió đưa cây trúc ngã quỳ, Ba năm chực tiết còn gì là xuân !

    Người phụ nữ trong ca dao không cam chịu với địa vị thấp kém, phụ thuộc:

    -Chồng con là cái nợ nần, Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm. -Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa thế gian sự thường.

    Những bài ca về người lính và người vợ lính phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân trước những cuộc chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên suốt bốn thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX.

    Ðây là bài ca về người lính thú với tâm trạng u uất, buồn khổ:

    -Ba năm trấn thủ lưu đồn, Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan. Chém tre đẵn gỗ trên ngàn, Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai ! Miệng ăn măng trúc, măng mai, Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ? Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

    Bài ca về người vợ lính sáng lên hình ảnh người phụ nữ với đức hy sinh, tinh thần đấu tranh chống phong kiến.

    -Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. Nàng về nuôi cái cùng con, Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng. -… Chém cha cái giặc chết hoang, Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng. Gánh từ xứ Bắc, xứ Ðông, Ðã gánh theo chồng lại gánh theo con.

    5. Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Ca dao trào phúng và ca dao trữ tình có mối quan hệ khăng khít nhau. Ca dao trào phúng thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân. Phạm vi đề tài của ca dao trào phúng cũng rất rộng rãi. Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó.

    -Chồng còng mà lấy vợ còng, Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa. -Lỗ mũi em mười tám gánh lông, Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho. Ðêm nằm thì ngáy o o, Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Ði chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm …

    Phần lớn ca dao trào phúng có nội dung xã hội. Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng … thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Những bài thách cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:

    -Em về thưa với mẹ cha, Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo. Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo, Làng ăn không hết làng treo cột đình. Ông quan đánh trống thình thình, Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo. -Cưới nàng anh toan dẫn voi, Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn. Dẫn trâu, sợ họ máu hàn, Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân. Miễn là có thú bốn chân, Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng. -Chàng dẫn thế em lấy làm sang, Nỡ nào em lại phá ngang như là …, Người ta thách lợn thách gà, Nhà em thách cưới một nhà khoai lang; Củ to thì để mời làng, Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi. Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi, Ðể cho con trẻ ăn chơi giữ nhà…

    Nhân dân hướng mũi nhọn đả kích vào tầng lớp thống trị phong kiến tập trung vào một số đối tượng rất quen thuộc trong văn học dân gian: vua chúa, các loại quan văn, quan võ, các loại thầy cúng, thầy bói, sư giả hiệu …

    -Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng, Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom. Cô nào óng ả son son, Vua đóng vào hòm đem trẩy về kinh. -Em là con gái đồng trinh, Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè. Ông Nghè sai lính ra ve, Trăm lạy ông nghè ông đã có con. Có con thì mặc có con, Thắt lưng cho giòn theo võng cho mau. -Cậu cai nón dấu lông gà, Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai. -Cậu cai buông áo em ra Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa … -Chập chập cheng cheng, Con gà trống thiến để riêng cho thầy. Ðơm xôi thì đơm cho đầy, Ðơm mà vơi đĩa thì thấy không ưa. -Hòn đất mà biết nói năng, Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

    Từ sự phê phán những biểu hiện cụ thể, đây còn là quan điểm của nhân dân về vấn đề tôn giáo:

    -Ai lên Hương Tích Chùa Tiên, Gặp cô sư bác, anh khuyên đôi lời: Ðem thân làm cái kiếp người, Tu sao cho trọn nước đời mà tu ?

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Ca Dao Trào Phúng Việt Nam
  • Tư Tưởng Đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân”
  • Hồ Quang Điện Là Gì ? Nguyên Nhân, Tác Hại, Ứng Dụng Và Cách Phòng Chống
  • Hồ Quang Điện Là Gì Và Những Cần Biết
  • Hồ Quang Điện Là Gì?
  • Hố Ga Tiếng Anh Là Gì ? Khoảng Cách Giữa Các Hố Ga Thoát Nước
  • “Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” trong đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    • Mở bài:

    Tổ quốc là một đề tài phong phú của thơ ca Việt Nam. Trước Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài thơ hay, nhiều tác giả thành công về đề tài này. Đất nước anh hùng trong kháng chiến chống Pháp, mang hồn thu Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Đất nước cổ kính, dân gian, mang hồn quê Kinh Bắc của Hoàng Cầm. Đất nước hóa thân cho một dòng sông xanh, đầy ắp kỉ niệm trong thơ Tế Hanh. Đất nước hài hòa trong dáng hình quê hương và tình yêu đôi lứa trong thơ Giang Nam. Nhưng, Nguyễn Khoa Điềm đã tìm được một cách nói riêng để chương thơ mới của ông đã mang lại cho bạn đọc những rung cảm thẫm mĩ mới về đất nước: “Đất nước của nhân dân”‘ “Đất nước của ca dao thần thoại”.

    • Thân bài:

    Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện trên ba chiều cảm nhận. Đất nước được nhìn từ không gian địa lí. Nhân dân làm nên tên núi, tên sông, tên địa phương, danh lam thắng cảnh của Đất Nước. Tác giả nhìn thiên nhiên, danh lam thắng cảnh qua tâm hồn, số phận, ước vọng nhân dân. Nhân dân trao cho núi sông tình yêu, nỗi đau của mình nên mới có núi Vọng Phu, hòn Trống Mái…:

    “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

    Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”

    Những anh hùng hào kiệt vì đất nước mà hi sinh, làm nên những thần thoại oai hùng, lẫm liệt còn vang vọng cho đến ngày nay:

    “Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

    Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương”

    Những con người bình thường lấy học thức làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời:

    “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

    Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.”

    Nhân dân vô danh đã hóa thân vào mỗi tấc đất của quê hương để có Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…:

    “Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

    Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm …”

    Cuộc đời nhân dân tạc vào núi sông, thành cốt cách, lối sống dân tộc:

    “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi 

    Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha 

    Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy 

    Những cuộc đời đã hoá núi sông ta… “

    Đất nước hiện hình từ trong thời gian lịch sử. Nhân dân làm nên truyền thống anh hùng vẻ vang trong 4000 năm giữ nước. Khi nghĩ về lịch sử Đất Nước, tác giả không nhắc đến các triều đại, các anh hùng có tên tuổi mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị là nhân dân: họ cần cù lao động xây dựng Đất Nước trong thời bình và sẵn sàng ra trận, hy sinh bảo vệ Đất Nước trong thời chiến, hóa thân vào Đất Nước muôn đời. Cảm xúc tự hào, cảm phục:

    “Em ơi em

    Hãy nhìn rất xa

    Vào bốn ngàn năm Đất Nước

    Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

    Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

    Cần cù làm lụng

    Khi có giặc người con trai ra trận

    Người con gái trở về nuôi cái cùng con

    Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

    Nhiều người đã trở thành anh hùng.”

    Một dân tộc anh hùng đã dệt nên những trang sử anh hùng. Lịch sử anh hùng ấy không chỉ ở chiến công chống giặc ngoại xâm mà còn ở sự nghiệp chinh phục tự nhiên, mở mang đất nước. Mỗi tất đất chứa đựng những sinh mệnh con người qua lớp lớp thời gian:

    “Có biết bao người con gái, con trai 

    Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi 

    Họ đã sống và chết 

    Giản dị và bình tâm 

    Không ai nhớ mặt đặt tên 

    Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”

    Đất nuốc tồn tại trong bản sắc văn hóa của dân tộc từ xưa đến nay. Nhân dân tạo ra nếp sống, nếp nghĩ, bản sắc văn hóa của dân tộc:

    “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng 

    Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi 

    Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói 

    Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân 

    Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái.”

    Khi đất nước lâm nguy, họ trở thành người lính đánh giặc quyết tâm gìn giữ đất mẹ thiêng liêng. Tình yêu đất nước trở thành nguồn sức mạnh phi thường, quét sạch mọi kẻ thù hung bạo:

    “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm 

    Có nội thù thì vùng lên đánh bại “

    Tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân dân trong quá trình hình thành và phát triến của Đất Nước. Nhân dân đã sáng tạo, gìn giữ, truyền lại cho thế hệ sau mọi giá trị vật chất và tinh thần. Từ những phát hiện đó nhà thơ đi đến một định nghĩa độc đáo:

    “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân 

    Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại “

    Trong muôn vàn vẻ đẹp của dân tộc, tác giả đã chọn ba nét nổi bật ấn tượng nhất được thể hiện trong ca dao để nói lên giá trị tinh thần của nhân dân. Nhân dân ta rất say đắm, thủy chung trong tình yêu “yêu em từ thuở nằm nôi..”. Nhân dân ta hết sức quý trọng tình nghĩa “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Nhân dân ta vô cùng quyết liệt trong căm thù và chiến đấu, bền bỉ kiên cường không khuất phục trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm:

    “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy 

    Đi trả thù mà không sợ dài lâu”

    Tác giả cảm nhận, phát hiện về vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà còn là biểu tượng cho số phận, tính cách, tâm hồn con người (sự kết hợp Đất Nước – Nhân dân.

    Tác giả đã khám phá vẻ đẹp tâm hồn, tính cách con người Việt Nam: Yêu thương sâu sắc, thủy chung tình nghĩa, cần cù lao động, anh hùng bất khuất, sống và hi sinh bình dị vì Đất Nước. Từ những khái quát giản dị nhưng đầy tính nhân văn, tác giả khẳng định: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân”. Đó là một phát hiện mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm, đóng góp quan trọng trong nhiệm vụ khẳng định tình yêu đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu bảo vệ đất nước của nhân dân ta.

    • Kết bài:

    Đất Nước là đoạn thơ trữ tình chính luận, kết hợp được cảm xúc với suy ngẫm. Đoạn thơ cho thấy sự hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân. Việc vận dụng văn hóa dân gian trong đoạn thơ không chỉ lâ một thủ phấp nghệ thuật mà là sự thấm sâu quan niệm “Đất Nước của Nhân dân” vào cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.

    • Mở bài:

    Hiếm có một giai đoạn văn học nào mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Đất nước lại tập trung cao độ như giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” (Vui thế hôm nay), Chế Lan Viên với “Sao chiến thắng”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã thể hiện một cách sâu sắc vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Đất nước của nhân dân”. Tư tưởng ấy được thể hiện đậm nét qua đoạn thơ sau:

    “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

    (………………………)

    Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…”

    • Thân bài:

    Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, cảm xúc nồng nàn.“Đất nước” là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”.

    Ngày xưa, người ta thường quan niệm: Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, khi người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân dân.

    Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định ấy là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ:

    “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

    Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”

    Nhà thơ khẳng định chắc nịch “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định ấy đã thể hiện một cách chân thành, mãnh liệt tình cảm của nhà thơ đối với dân tộc. Hơn ai hết, nhà thơ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn ai hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài đất nước. Vì thế Đất Nước không của riêng ai mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân.

    Ở câu thơ thứ hai, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định “Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Đất nước của nhân dân”được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, nhà thơ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc đến ca dao thần thoại ta lại càng nhớ đến nhân dân, vì hơn ai hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Mà đất nước của “ca dao thần thoại” nghĩa là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng  cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người.

    Không phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan. Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất.

    Và khi nói đến “Đất nước của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc:

    “Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi

    Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

    Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

    Đi trả thù mà không sợ dài lâu.”

    Chức năng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Chức năng ấy cùng với ý nghĩa của nó được thể hiện qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Nhà thơ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai ấy không phải là ngọn gió thoáng qua, không phải là lời của bướm ong mà là lời nói là nghĩ suy chân thật.

    Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung bền vững không gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao ấy. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân người ta thường nghĩ đến những phẩm chất cần cù chịu khó, bất khuất kiên thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành.

    Ở phương diện thứ hai, Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải  “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ ấy lấy ý từ ca dao “Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng: ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần giá trị vật chất.

    Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và chiến đấu “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao cuộc chiến vệ quốc vĩ đại.  Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi đến 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh để đến ngày toàn thắng.

    Bốn câu thơ cuối: Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:

    “Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

    Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

    Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

    Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…”

    Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông không biết đến từ bến bờ nào nhưng khi hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” ấy vừa có ý nghĩa là dòng sông của quê hương đất nước nhưng vừa có ý nghĩa là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa đa dạng “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam  đã vun đắp phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một đất nước đậm đà bản sắc dân tộc.

    • Kết bài:

    Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca đặc sắc nhưng không lấy lại nguyên văn mà sáng tạo làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc nhà thơ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt Nam:

    “Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt

    Như mẹ cha ta như vợ như chồng

    Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết

    Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông”

    (Tố Hữu)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trữ Tình Trong Ca Dao, Dân Ca
  • Dao Cà Răng Là Gì? Cách Hoạt Động – Shaving Tools
  • Những Điều Thú Vị Về Loài Cá Piranha
  • Tìm Hiểu Về Cá Ăn Thịt Người Piranha (Cá Răng Đao )
  • Vài Lời Về Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Mã Zip Iphone Là Gì
  • Những Gì Các Plugin Xin Chào Dolly? Bạn Nên Xóa?
  • Email Là Gì? Đăng Ký Email Theo Tên Miền Riêng
  • Ngành Logistics Là Gì, Dịch Vụ Logistics Với Business, Marketing
  • Bệnh Whitmore Là Gì Và Biểu Hiện Thế Nào?
  • Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

    CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

    Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con… hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội…

    Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Nó ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh. Đây là một thể loại văn học dân gian.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo” ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.

    Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.

    THÀNH NGỮ

    Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: “Xấu người đẹp nết”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Cười thuê khóc mướn”, “Nước chảy đá mòn”, “Giận cá chém thớt”, “Bóc ngắn cắn dài”, “Bòn tro đãi sạn”, “Chọn đá thử vàng”, “Dẻ cùi tốt mã”, “Văn mình vợ người”, “Ma chê cưới trách”, “Quýt làm cam chịu”, “Con dại cái mang”, “Chị ngã em nâng”, “Công cha nghĩa mẹ”, “Môi hở răng lạnh”…

    Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết.

    Thành ngữtục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khá nhiều người. Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định.

    Về vấn đề này, mục “Diễn đàn nói và viết” của Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006) đã nêu như sau: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng); còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: Mẹ tròn con vuông).

    Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân (ví dụ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm). Thành ngữ lại mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn “Chân cứng đá mềm”. Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói (ví dụ: Tôi chúc anh đi “chân cứng đá mềm”)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Viên Sốt Rét Cv 8: Hướng Dẫn Sử Dụng, Tác Dụng, Liều Dùng & Giá Bán
  • Thiết Lập Mạng Không Dây Ad Hoc Để Phát Wifi Không Cần Phần Mềm Từ Laptop
  • Hàm Vlookup Cách Sử Dụng Và Ví Dụ Cụ Thể
  • Shophouse Là Gì? Tìm Hiểu Pháp Lý Xây Dựng Shophouse Trong Luật Đất Đai
  • Hàm Fv Và Pv Trong Excel.
  • Trữ Tình Trong Ca Dao, Dân Ca

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân”
  • Hồ Quang Điện Là Gì ? Nguyên Nhân, Tác Hại, Ứng Dụng Và Cách Phòng Chống
  • Hồ Quang Điện Là Gì Và Những Cần Biết
  • Hồ Quang Điện Là Gì?
    • Đỗ Văn Kính

    Cho nên ca dao, dân ca là vũ khí sắc bén trong đấu tranh, cũng là tiếng nói thầm kín, tế nhị trong tình yêu đôi lứa. Khi tình yêu mới nảy nở, chàng trai mới hỏi cô gái:

    Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

    Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

    Tình yêu có phân biệt gì đâu, nên người con gái trả lời hồn nhiên, thẳng thắn:

    Đan sàng thiếp cũng xin vâng

    Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?

    Nhiều khi gặp được cô gái, chàng trai buông lời trêu chọc cho vui:

    Gặp em anh xắn cổ tay,

    Nhờ vá cái áo, nhờ may cái quần.

    Hay:

    Cô kia đứng ở bên sông,

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang…

    Cũng có khi chàng trai lãng mạn vui đùa, nhưng vẫn giữ được lịch sự, tế nhị:

    “Ai làm cái nón quai thau,

    Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”

    Đôi lúc cô gái trả lời rất ý như lời tỏ tình của người con trai:

    Thưa rằng: – Bác mẹ tôi răn,

    Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

    Có lẽ tục lệ ngày xưa, người con gái nhận miếng trầu thì coi như đính ước hôn nhân, nên người con gái từ chối khéo léo như vậy. Nhưng khi yêu nhau thật lòng thì họ rất táo bạo như bài dân ca này:

    Yêu nhau cởi áo cho nhau,

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu đánh rơi.

    Yêu nhau trao nón cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.

    Tình yêu nam nữ đâu phải lúc nào cũng được êm ấm, suôn sẻ, họ luôn gặp phải cách trở, cản ngăn, cả đau thương nhưng họ quyết tâm tìm đến với nhau.

    Nhà người ở gần hay là ở xa,

    Cách phà, cách huyện hay là cách sông.

    Xa xôi cách mấy quãng đồng,

    Để em bỏ việc bỏ công đi tìm.

    Cho nên người con trai hết lời ca ngợi người mình yêu “Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh”. Còn đối với thanh niên nông thôn, họ yêu nhau và bộc lộ tình yêu một cách dè dặt, e thẹn khác nào nàng Kiều “Khách đà lên ngựa người còn ghé theo…”:

    Ngó em không dám ngó lâu,

    Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

    Ngày xưa, sống dưới chế độ thực dân phong kiến, nam nữ yêu nhau gặp biết bao là chướng ngại, trắc trở, đó là phong tục tập quán, là sự cách biệt giàu nghèo… Trước áp lực quá lớn của xã hội, con người nhỏ bé không biết dựa vào đâu, họ nghĩ đến lực lượng siêu nhân để hờn giận, oán trách:

    Bắc thang lên đến tận trời,

    Bắt ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay.

    Đánh rồi lại trói vào cây,

    Hỏi ông Nguyệt Lão nào dây tơ hồng?

    Rồi tự mình than thân trách phận, thậm chí còn buông xuôi cho số phận:

    Thân em như tấm lụa đào,

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Hay:

    Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày…

    Nhưng dù ở trong hoàn cảnh nào, đã yêu nhau thì họ cho người mình yêu đẹp nhất, tuyệt vời nhất:

    Một thương tóc bỏ đuôi gà,

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

    Cái đẹp về hình thức rất quan trọng, nhưng phải nhường chỗ cho cái đẹp của tâm hồn:

    Thân em như củ ấu gai,

    Ruột thì trong trắng vỏ ngoài thì đen.

    Cô kia đi đường với ta,

    Trồng đậu đậu tốt, trồng cà cà sai.

    Và khi nam nữ yêu nhau thật sự, thì họ có quyết tâm cao “Lòng em đã quyết thì hành, đã cấy thì gặt với anh một mùa”. Cám ơn cuộc đời đã tạo ra những con người dũng cảm bất khuất, vượt qua chông gai trở ngại để giữ tấm lòng trong trắng, thủy chung.

    Từ những điều nêu trên, ta thấy ca dao, dân ca chiếm vị trí quan trọng trong văn học dân gian. Ca dao, dân ca nói lên được tâm tư nguyện vọng của nam nữ yêu nhau nên mang đậm chất trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dao Cà Răng Là Gì? Cách Hoạt Động – Shaving Tools
  • Những Điều Thú Vị Về Loài Cá Piranha
  • Tìm Hiểu Về Cá Ăn Thịt Người Piranha (Cá Răng Đao )
  • Vài Lời Về Ca Dao
  • Những Vần Ca Dao Hiện Đại Về Bác Hồ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100