Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

--- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học Và Kinh Tế Học Chính Trị Mác
  • 12 Định Nghĩa Về Hạnh Phúc Của Các Nhà Triết Học Cổ Đại
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học
  • Luận Án: Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Của C.mác, Hay
  • Nhận Thức Luận Trong Triết Học Cổ Điển Ấn
  • 1.1. Triết học là gì ?

    Triết học ra đời từ lâu trong lịch sử nhân loại. Các tài liệu lịch sử đều cho rằng triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VI trước Công nguyên (TCN) ở ba trung tâm văn hóa lớn thời kỳ cổ đại, đó là Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại.

    Ở Trung Quốc, triết học, theo nghĩa gốc chữ Hán, là sự hiểu biết của con người về bản chất của sự vật, hay là sự truy tìm bản chất của đối tượng.

    Người Ấn Độ gọi triết học là darshana, nghĩa là sự chiêm ngưỡng đối tượng dựa trên lý trí, là con đường đưa con người đến lẽ phải bằng sự suy ngẫm.

    Theo tiếng Hy Lạp, triết học có nghĩa gốc từ chữ philosophia, có nghĩa là yêu mến sự thông thái. “Sự yêu mến” ở đây với nghĩa là sự say mê, sự ham muốn, là cái động lực tinh thàn bên trong thôi thúc con người hoạt động. Và đối tượng ham muốn ở đây là sự thông thái, nghĩa là sự hiểu biết về chân lý, nắm lấy bản chất sự vật. Theo đó, yêu mến sự thông thái ở đây không phải chỉ là một tình cảm bề ngoài. một trạng thái có tính chất nhất thời ngẫu nhiên của tinh thần con người, mà là sự vận động của tư tưởng, sự suy ngẫm trong nội tâm nhằm đạt đến sự hiểu biết sâu sắc về sự vật, đạt đến chân lý.

    Như vậy, bằng cách diễn đạt khác nhau, triết học dù ở phương Đông hay phương Tây, từ khi mới ra đời đều được coi không những là đỉnh cao của tri thức, sự hiểu biết sâu sắc về sự vật, mà còn là phương thức hoạt động tư tưởng để đạt đến sự hiểu biết sâu sắc về sự vật, hay như K. Jaspẻ (một nhà triết học của Đức đầu thế kỷ XX) nói triết học đó là “sự truy tầm chân lý, chứ không phải chiếm đoạt chân lý”.

    Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Có người cho triết học bao quát mọi tri thức của con người bao gồm cả khoa học tự nhiên, cả khoa học xã hội và nhân văn. Có người có triết học chỉ nghiên cứu về con người, chỉ trả lời câu hỏi “con người là gì ?”, “con người từ đâu sinh ra?”. Lại có người cho triết học nghiên cứu cơ sở tồn tại của thế giới, bản chất các sự vật v.v. Chẳng hạn, theo cuốn Lịch sử Triết học do GS. TS Nguyễn Hữu Vui chủ biên, có nêu: Xôcrát hiểu bản chất của Triết học là tự ý thức của con người về chính bản thân mình. Kant lại cho rằng: Triết học là môn khoa học có mục đích tối cao là xác định bản chất con người, xác định vị trí xứng đáng của con người trong thế giới, từ đó có thể học được cái điều mà ai cũng phải học để làm người. Để làm được điều đó, nó phải lý giải các vấn đề sau: “Tôi có thể biết được cái gì? tôi cần phải làm gì? tôi có thể hy vọng cái gì?”. Karl Jaspẻ thì nói rằng:”Triết gia yêu mến hiểu biết, trái lại nhà bác học sở hữu kiến thức. Nghĩa ấy ngày nay vẫn còn, nghĩa là bản chất triết lý (triết học – DVT) là truy tầm chân lý, chứ không phải chiếm đoạt chân lý”. Lý Chấn Anh, một nhà triết học danh tiếng của Trung Quốc hiện nay, trong tác phẩm Nghiên cứu triết học cơ bản cũng nêu lên quan niệm của mình về bản chất triết học. Ông nói: “Triết học thuộc vào tri thức của con người, cái mà con người quan tâm nhất đương nhiên là vấn đề của mình”, và “Triết học là thông qua việc trầm tư, nghiên cứu và trao đổi không ngừng để phát hiện ra bí ẩn của nhân sinh, xây dựng và nắm được ý nghĩa của nhân sinh”.

    Qua một vài ý kiến trên cho thấy, mặc dù trong lịch sử triết học đã nêu ra nhiều quan niệm khác nhau về triết học, nhưng trong các quan niệm đó có điểm chung: Đều cho triết học là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tình hình chính thể, thể hiện khát vọng của con người truy tìm một cơ sở chung, chân thực nhất, xác thực nhất để giải thích thế giới bao gồm cả tự nhiên, xã hội và con người.

    Vì vậy, ta có thể định nghĩa một cách khái quát: Triết học là sự suy ngẫm của con người về chính bản thân mình, là sự truy tầm chân lý, là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới.

    Trong định nghĩa trên nói lên hai đặc thù căn bản để phân biệt triết học với các lĩnh vực tri thức khoa học khác:

    – Một là, triết học là sự truy tầm chân lý, không phải đơn giản là sự sở hữu tri thức, tức triết học không thỏa mãn với những tri thức đã đạt được mà luôn khai mở những con đường để đẩy tri thức của con người phát triển đi lên.

    – Hai là, tri thức triết học không phải là tri thức cụ thể về một lĩnh vực nào đấy của tự nhiên, xã hội hay con người, mà là tri thức của các khoa học cụ thể để hình thành một cách nhìn tổng quát về thế giới và con người trong thế giới, đồng thời triết học lại khai mở các hướng phát triển mới cho các khoa học. Với ý nghĩa đó triết học làm cơ sở cho sự phát triển của các khoa học trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử.

    1.2. Đối tượng của triết học

    Triết học, như đã định nghĩa ở trên, là tri thức lý luận của con người về thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức ở trình độ trừu tượng và khái quát cao của con người. Là kết quả của quá trình nhận thức, triết học có đối tượng của mình. Đối tượng của triết học được hiểu là những mối liên hệ chung nhất của hiện thực khách quan, hoặc nhũng sự vật được con người tưởng tượng ra và được phản ánh trong các phạm trù, khái niệm của triết học. Để hiếu rõ đối tưcmg triết học ta so sánh đối tượng triết học với đối tượng của một số các khoa học cụ thể, chẳng hạn đối tượng nghiên cứu của toán học, như Ăngghen nhận định, là những quan hệ về số lượng và hình không gian của các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan. Đối tượng nghiên cứu của vật lý học là nhũng vận động vật lý như vận động cơ, điện, nhiệt. Đối tượng nghiên cứu của hoá học là những hình thức vận động hoá học, là sự hoá họp và phân giải các chất vô cơ và hữu cơ, v.v. Đó là những mối quan hệ của các sự vật trong một lĩnh vực cụ thể của thế giới vật chất. Đối tượng nghiên cứu của triết học là những mối liên hệ chung nhất của thế giới vật chất và cả bản chất, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với nhũng sự vật hiện tượng do con người tưởng tượng ra như Thượng đế, thế giới thần thánh, thần linh v.v.

    Từ khi ra đời ở thời kỳ cổ đại đến nay, triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Ở mỗi giai đoạn với tư cách một lĩnh vực tri thức của nhân loại và một hình thái ý thức xã hội, do tình hình thực tiễn xã hội thay đổi mà đối tượng của triết học cũng có những nội dung khác nhau.

    Thời kỳ cổ đại, khi sản xuất xã hội còn ở trình độ thấp, sự phân công lao động xã hội mới phát triển, lao động trí óc mới tách rời lao động chân tay, khối lượng tri thức của loài người về thế giới và về chính bản thân mình còn chưa nhiều, chưa có sự phân chia giữa tri thức triết học với tri thức của các khoa học chuyên ngành. Ở Trung Quốc, triết học chủ yếu gắn với việc giải quyết các vẩn đề đạo đức, chính trị – xã hội. Chẳng hạn quan niệm của Khổng giáo, Lão giáo, Đạo giáo về xã hội, về con người đều chứa đựng những quan điểm triết học sâu sắc. ở Ấn Độ, triết học và tôn giáo hoà quyện vào nhau. Chẳng hạn quan niệm của Phật giáo về con người, đời người, nỗi khổ của con người và sự giải phóng con người khỏi những nỗi khổ thể hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc. Ở Hy Lạp, triết học gắn với những hiểu biết ban đầu của con người về tự nhiên và được gọi là triết học tự nhiên. Vì triết học bao quát mọi lĩnh vực tri thức của nhân loại, nên đối tượng nghiên cún của triết học thời kỳ này cũng không có đối tượng riêng mà là mọi lĩnh vực tri thức, và vì thế sau này đã nảy sinh quan niệm cho rằng “triết học là khoa học của mọi khoa học”. Thời kỳ cổ đại triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đặt nền móng cho sự phát triển về sau không chỉ đối với triết học mà còn đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

    Thời kỳ trung cố ở Tây Âu kéo dài hơn mười thế kỷ, do sự thống trị của Giáo hội Thiên Chúa giáo trên mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần của xã hội, triết học cũng bị thần học chi phối. Triết học trở thành bộ phận của thần học, phục vụ cho thần học. Nhiệm vụ của triết học thời kỳ đó là lý giải và chứng minh tính họp lý, đúng đắn của các giáo điều trong kinh thánh. Triết học đó được gọi là triết học kinh viện. Trong khuôn khổ của tôn giáo, triết học phát triển rất khó khăn và chậm chạp, đặc biệt là những tư tưởng triết học duy vật.

    Từ nửa sau thế kỷ XV và thể kỷ XVI, ở các nước Tây Âu những yếu tố của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện trong lòng phương thức sản xuất phong kiến, đồng thời khoa học tự nhiên cũng bắt đầu được phát triển do đòi hỏi của sản xuất. Khi đó, triết học duy vật phát triển trong mối liên hệ với yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự phát triển của khoa học tự nhiên. Tuy nhiên do còn chịu ảnh hưởng nặng nề của quan điểm tôn giáo nên triết học duy vật lúc này còn mang hình thức phiếm thần luận, nghĩa là sử dụng các quan niệm tôn giáo như là hình thức bên ngoài để nói lên nội dung bên trong của quan điểm duy vật về thế giới. Đến thế kỷ XVII – XVIII, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, trở thành phương thức sản xuất thống trị trên nhiều lĩnh vực của nền sản xuất, đưa đến cách mạng tư sản nổ ra ở nhiều nước Tây Âu. Khoa học tự nhiên phát triển mạnh, diễn ra quá trình phân ngành sâu sắc và đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực riêng biệt khác nhau. Nổi bật nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đến tư tưởng triết học là cơ học của Niutơn. Khi đó, triết học duy vật phát triến mạnh mẽ và đấu tranh khá gay gắt với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII là chủ nghĩa duy vật Pháp với các đại biểu: Điđrô, ‘Henvêtiuyt; chủ nghĩa duy vật Anh với các đại biểu: Ph. Bêcơn, T. Hốpxơ; ở Hà Lan với đại biểu Xpinôda. Tuy khoa học tự nhiên đã hình thành các môn khoa học độc lập, nhưng triết học vẫn chưa xác định rõ đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà vẫn gắn liền với khoa học tự nhiên, bao quát toàn bộ tri thức khoa học tự nhiên. Triết học lúc này vẫn được coi là “khoa học của mọi khoa học”.

    Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nước Anh và Pháp đã ứở thành nước tư bản, nhưng nước Đức vẫn còn là một nước phong kiến. Giai cấp tư sản Đức đang hình thành vừa muốn đi theo các nước Anh, Pháp, vừa sợ phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản và muốn thỏa hiệp với giai cấp quý tộc phong kiến. Trong bối cảnh lịch sử đó, triết học Đức phản ánh lợi ích và địa vị của giai cấp tư sản Đức, đã phát triển mạnh mẽ, nhưng trên lập trường duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen. Hêghen muốn bao quát toàn bộ tri thức khoa học vào trong hệ thống triết học của mình. Đối với Hêghen, mỗi một ngành khoa học cụ thể chỉ là những mắt khâu của hệ thống triết học. Triết học có thể giải quyết được các vấn đề của khoa học cụ thể. Đây là hệ thống triết học cuối cùng coi triết học là “khoa học của các khoa học” – Một quan niệm về đối tượng nghiên cứu của triết học không còn phù họp với tình hình phát triển của nhận thức khoa học và thực tiễn xã hội đương thời.

    Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở một loạt các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Hà Lan, Italia, Đức v.v. đã đưa đến sự lớn mạnh của giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chính trị độc lập. Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trở nên gay gắt hơn. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản cũng trở nên thường xuyên và mạnh mẽ hơn, đòi hỏi phải được hướng dẫn bằng lý luận cách mạng. Đồng thời sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng thúc đẩy khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX phát triển, đạt nhiều thành tựu mới có tính chất cách mạng, làm lung lay quan điểm siêu hình vẫn thống trị trong tư duy của các nhà khoa học tự nhiên từ thế kỷ XVII – XVIII đến lúc này. Đặc biệt có 3 phát minh trong khoa học tự nhiên có ý nghĩa lớn về mặt triết học đó là: định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, học thuyết tế bào và học thuyết tiến hoá. Trước đòi hỏi của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và yêu cầu của sự phát triển khoa học tự nhiên, triết học Mác đã ra đời. Triết học Mác đã xác định rõ đối tượng nghiên cứu của mình, phân biệt với đối tượng nghiên cứu của các khoa học cụ thể, chấm dứt quan niệm sai lầm về đối tượng nghiên cứu của triết học, cho rằng: Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    Triết học Mác xác định đối tượng nghiên cứu của triết học là: Tiếp tục giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất trẽn lập trường duy vật; nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người.

    Thời đại ngày nay, với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, với điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang giữ địa vị thống trị, trong xã hội tồn tại nhiều mâu thuẫn gay gắt, điều đó lại tạo điều kiện cho sự ra đời nhiều trào lun triết học khác nhau ở các nước phương Tây, mà chúng ta thường gọi là “Triết học phương Tây hiện đại”. Các trào lưu đó như: Chủ nghĩa thực chứng; chủ nghĩa hiện sinh; chủ nghĩa thực dụng; chủ nghĩa Tô-mát mới, v.v. Các trào lun triết học này coi đối tượng của triết học là nghiên cứu những mặt hoạt động khác nhau của con người. Tuy nhiên về bản chất không thế nằm ngoài vấn đề quan hệ giữa con người và thế giói vật chất, giữa tư duy, ý thức của con người với hiện thực khách quan và với bản thân hoạt động của con người.

    Như vậy, đối tượng nghiên cứu của triết học đã thay đổi trong lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử, do điều kiện kinh tế – xã hội và sự phát triển của khoa học tự nhiên, đối tượng nghiên cứu của triết học có nhũng nội dung cụ thể khác nhau, nhưng vẫn xoay quanh vấn đề quan hệ giữa con người và thế giới khách quan bên ngoài, giữa tư duy và tồn tại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Phạm Trù Chất Và Lượng Trong Triết Học Mác
  • Trường Chính Trị Tôn Đức Thắng
  • Câu “tư Bản Ko Thể Xuất Hiện Từ Lưu Thông Và Cũng Ko Thể Xuất Hiện Ở Bên Ngoài Lưu Thông. Nó Phải Xuất Hiện Trong Lưu Thông Và Đồng Thời Ko Phải Trong Lưu Thông” (Trích Mác
  • Bài 1: Các Nguyên Tắc Khách Quan Và Nguyên Tắc Toàn Diện
  • Dap An Cau Hoi Triet Hoc (1)
  • Biểu Tượng @@ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Cách Tăng Lượt Xem (Cày Views Chất Lượng) Cho Video Youtube
  • Lượt View Là Gì? Tìm Hiểu Lượt View Là Gì?
  • 17 Cách Để Có Nhiều Lượt Xem, Tương Tác Và Chia Sẻ Cho Video Trên Facebook Của Bạn
  • War Có Nghĩa Là Gì? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Cach Lai Cac Loai Robot Trong Social War Tren Facebook
  • Tìm hiểu biểu tượng hai ký tự @@ là gì và ý nghĩa của nó trên mạng xã hội như thế nào, ẩn ý đằng sau hai chữ a còng có gì đặc biệt không. Phải nói, ký hiệu @ đã quá quen thuộc kể từ khi máy tính và internet ra đời, nhưng biểu tương hai chữ a còng @@ lại mang ý nghĩa riêng thể hiện biểu tượng cảm xúc khuôn mặt, đặc biệt là đôi mắt của con người. Ngay cả trong phim hoạt hình, các nhân vật cũng được thay đôi bắt bằng biểu tượng @@, vậy nó có nghĩa là gì?

    @@ là biểu tượng gì?

    Trong tiếng Anh, @@ có nghĩa là Rolling your eyes, dịch sang tiếng Việt là “lác mắt”. Nó còn biểu lộ cảm xúc tròn mắt, hoa mắt ngạc nhiên hoặc chẳng biết nói gì.

    Các nhân vật hoạt hình khi gặp chuyện gì đó bất ngờ thì sẽ thấy hai con mắt biến thành biểu tượng @@. Hay như các nhân vật nữ nếu nhìn hotboy đi qua cũng lác hết cả mắt như vậy. Bạn sẽ dễ hiểu nghĩa của ký tự @@ là gì nếu hình dung lúc hoa mắt chóng mặt sẽ thấy mọi thứ xung quanh như quay cuồng, ngôi sao cứ nở tung tóa lên.

    Vì thế, @@ là biểu tượng cảm xúc thể hiện sự ngạc nhiên, bất ngờ và sững sờ trước sự vật sự việc nào đó. Thêm nữa, @@ còn biểu lộ sự ngưỡng mộ, thần tượng ai đó. Nói tóm lại, đây là biểu tượng cho đôi mắt kiểu như xoắn ốc vậy, mà xoắn ốc là trạng thái vô thức, bị đối tượng khác hớp hồn.

    Trong truyện tranh và hoạt hình thì @@ còn thể hiện đôi mắt bị thôi miên, vô thần và bị điều khiển bởi người khác. Ánh mắt choáng váng, lác mắt như vậy cũng cho thấy tâm tính của người đó khá yếu đuối trước sự vật, sự việc nhất định.

    Nếu đang trò chuyện với bạn bè trên Facebook hoặc Skype, bạn có thể dùng biểu tượng @@ để biểu đạt sự ngạc nhiên. Kiểu như “ôi chao, tóc mày mới làm đẹp quá @@”. Để ký tự đó thể hiện bạn đang lác mắt trước người khác.

    Chúng ta sẽ còn thấy biểu tượng a còng ở nhiều trường hợp khác bởi đây là ký tự thuộc hàng phổ biến. Mọi người quá quen với @ sau mỗi địa chỉ email, nhưng khi đó chúng mang chức năng phân định địa chỉ mail và tên miền chứa mail. Cái này bạn cũng không cần quá quan tâm. Ngoài ra, @ còn tượng trưng cho cả một thế hệ sinh trong thời đại công nghệ, thời đại @ đầy năng động.

    Hy vọng mọi người đã biết biểu tượng @@ là gì trên Facebook. Ký tự này thể hiện đôi mắt xoắn ốc đầy ngạc nhiên, hoa mắt và thẫn thờ trước việc, vật gì đó. Hãy sử dụ[email protected]@ phù hợp bạn sẽ truyền đạt được thông điệp như ý muốn. Nó cũng giúp cuộc trò chuyện trên mạng xã hội hoặc ứng dụng nhắn tin thêm phần thú vị. Nếu viết nhiều chữ @@@@ như thế này thì đồng nghĩa bạn rất rất ngạc nhiên về cái gì đó, kiểu nhấn mạnh ý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vc Có Nghĩa Là Gì? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Vk Là Gì? Tìm Hiểu Về Vk Là Gì?
  • Ck Là Gì Và Vk, Zk Là Gì Trên Facebook Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Vote Là Gì ? Giải Đáp Ý Nghĩa Của Từ Vote Trên Mạng Xã Hội Facebook Là Gì ?
  • Vote Là Gì? Từ Vote Trên Facebook Có Nghĩa Là Gì?
  • I. Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Và Đặc Điểm Của Triết Học Mác Lênin
  • Khái Niệm “lịch Sử” Trong Sử Học
  • Một Vài Suy Nghĩ Trong Quá Trình Nghiên Cứu Và Giảng Dạy Bài “những Vấn Đề Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử”
  • Từ Láy Là Từ Như Thế Nào? Tìm Hiểu Các Loại Từ Láy
  • Phân Biệt Từ Láy Từ Ghép
  • I. Triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học

    1. Khái niệm Triết học

    Ngay từ thời nguyên thuỷ, để tồn tại, con người luôn hướng nhận thức của mình ra thế giới. Công cụ để nhận thức thế giới của họ lúc đầu là huyền thoại và thần thoại. Xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thuỷ nên việc giải thích thế giới bằng huyền thoại, thần thoại không còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày càng cao của con người. Một công cụ nhận thức mới của loài người thay thế huyền thoại, thần thoại là triết học

    Triết học ra đời do kết quả của sự phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Bên cạnh đó, triết học ra đời còn do tư duy nhân loại đã phát triển ở trình độ cao – trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá và trừu tượng hoá

    Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII-VI tr.c.n gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp v.v. Triết theo nghĩa chữ Hán là trí- sự hiểu biết của con người, là sự truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức thế giới; theo nghĩa tiếng Ấn Độ là Darshna, là sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con đường đến chân lý, là sự hiểu biết nói chung; theo tiếng Hy Lạp là philosophya (yêu mến sự thông thái)

    Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

    Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về triết học, song có thể hiểu rằng 1) triết học là khoa học bao gồm hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. 2) triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. 3) triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng.

    2. Đối tượng nghiên cứu của triết học

    Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là khoa học của mọi khoa học với nghĩa triết học bao gồm mọi tri thức của con người về thế giới, đặc biệt là giới tự nhiên, do đó còn gọi là triết học tự nhiên. Ở Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại, triết học gằn liền với những vấn đề chính trị, đạo đức, tôn giáo và thường biểu hiện dưới dạng học thuyết chính trị – xã hội hoặc tôn giáo.

    Thời phong kiến ở tây Âu, do sự thống trị của thần học Cơ Đốc giáo trong lĩnh vực tinh thần, nên triết học chỉ là tôi tớ cho thần học và mang tính kinh viện.

    Thời Phục hưng và Cận đại ở tây Âu, triết học không chỉ đề cập tới những vấn đề tự nhiên, mà còn đề cập tới những vấn đề con người và xã hội. Tính nhân đạo tư sản thể hiện rõ trong các trường phái triết học ở Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Italia v.v. Triết học cổ điển Đức đã đề cập tới mọi vấn đề của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy). Hêghen là nhà triết học cuối cùng trong lịch sử triết học có tham vọng coi triết học là khoa học của mọi khoa học.

    Từ thời Phục hưng đến Cận đại, các ngành khoa học tách khỏi triết học thành các khoa học độc lập. Các quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy) trở thành đối tượng nghiên cứu của triết học. Triết học còn khác với các ngành khoa học cụ thể ở chức năng thế giới quan và phương pháp luận của nó. Chính vì vậy, có thể nói triết học là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận.

    Triết học có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội, nó cung cấp cho chúng ta hệ thống quan điểm, tư tưởng về thế giới (thế giới quan); góp phần giải thích thế giới trong dạng một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau tạo cho chúng ta có nhận thức chung nhất về thế giới. Không những thế, triết học còn góp phần hình thành và phát triển nhân sinh quan của con người (quan điểm, tư tưởng về con người, cuộc sống và hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống)

    3. Vấn đề cơ bản của triết học

    Do nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới nên triết học với tư cách là một khoa học đề cập tới rất nhiều vần đề. Trong những vấn đề ấy nổi lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập,  2004, t..21, tr.403

     

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quán Triệt Nguyên Tắc Khách Quan Và Quan Điểm Toàn Diện Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Triết Học Hy Lạp
  • Nội Dung Và Cách Thực Hiện Quan Điểm Toàn Diện? Cho Ví Dụ Minh Họa.
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Những Ví Dụ Về Quan Điểm Toàn Diện
  • Quan Niệm Về “trí Tuệ” Trong Triết Học Trung Quốc Thời Kỳ Tiên Tần
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Ta Cần Triết Học Để Làm Gì?
  • Interferon Là Gì? Phân Loại, Tác Dụng Của Interferon?
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tuyến Tụy
  • Nguồn Gốc Ung Thư Và Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch
  • Cytokin Và Điều Hòa Miễn Dịch
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Triết học là gì

    Định nghĩa Triết học là gì?

    • Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ. Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách. Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận.
    • Triết học có tên gọi tiếng Anh là Philosophy, từ này được xuất phát trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa dịch ra “tình yêu đối với sự thông thái”. Các thuật ngữ như là “triết học” hay “ triết gia” ra đời là gắn cùng với nhà tư tưởng người Hy Lạp Pythagoras.
    • Hiện nay, triết học cũng là một ngành khoa học được đào tạo riêng biệt dành cho sinh viên và triết học là môn học bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trong trường Đại học – Cao đẳng. Để học ngành triết học, sinh viên sẽ phải thi khối C, học trong thời gian 4 năm. Hiện nay có một số trường đào tạo chuyên ngành triết học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội),…

    Nguồn gốc của triết học

    Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định.

    Nguồn gốc nhận thức:

    • + Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? … trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
    • + Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.

    – Nguồn gốc xã hội:

    Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

    Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.

    Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử

    * Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên – bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    * Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.

    * Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học – Khoa học hậu vật lý. Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được.

    + Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    + Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen.

    + Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học.

    * Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác – Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    * Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

    * Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.

    *Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.

    * Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):

    +Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.

    + Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.

    + Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRIẾT HỌC.

    Vấn đề cơ bản của triết học

    Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    * Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    • + Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    • + Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?

    * Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

    + Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.

    + Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.

    + Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.

    + Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    • + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
    • + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    SIÊU HÌNH VÀ BIỆN CHỨNG

    Trong lịch sử triết học không những có sự đối lập giữa CNDV và CNDT khi tìm hiểu bản chất của thế giới, mà đồng thời còn phải trả lời các câu hỏi: thế giới là bất động, đứng im hay là không ngừng vận động và phát triển? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô lập, tách rời nhau hay có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau.

    Lịch sử đã biết đến hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận trái ngược nhau trong khi giải đáp những câu hỏi trên. Đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    Phương pháp siêu hình

    Phương pháp biện chứng

    +Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô lập,tách rời với các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

    +Thừa nhận đối tượng qua các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau giữa chúng

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là biến đổi về mặt số lượng, nguyên nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài đối tượng.

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi có khuynh hướng chung là phát triển, có sự thay đổi về chất, mà nguyên nhân của mọi sự biến đổi ấy là do nguồn gốc bên trong đối tượng. Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập.

    – Phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấysự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy sự tồn tại mà không thấy quá trình sự phát sinh và tiêu vong .(Về bản chất là không hiểu được mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hay đứng im chỉ là một hình thức vận động đặc biệt).– Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…Nguồn gốc của phương pháp siêu hình: Là bắt nguồn từ việc muốn nhận thức đối tượng, trước hết con người phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Tuy phương pháp đó là cần thiết và có tác dụng trong một phạm vi nhất định, nhưng thực tế thì hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    – Phương pháp biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối quan hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật.– Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện thực,– Phương pháp biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là.. hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là”; đối tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau. Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác, và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.

    Các giai đoạn phát triển cơ bản của phương pháp biện chứng

    * Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. thể hiện rõ nét trong “thuyết Âm – Dương” của triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đều thấy các sự vật hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những mối liên hệ vô cùng tận. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen, là một cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả cuả những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Chính vì hạn chế này mà phép biện chứng Cổ đại phải nhường bước cho phép siêu hình, phương pháp thống trị trong tư duy triết học ở thế kỷ XVIII là điều không thể tránh khỏi. Đây là giai đoạn khám phá kết cấu, thuộc tính của đối tượng.

    * Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tư duy nhân loại, các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung của phép biện chứng. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở biện chứng của khái niệm, của tinh thần, và tai hại hơn là họ cho rằng giới hiện thực chỉ là sự sao chép của tinh thần, bởi vậy phép biện chứng cổ điển Đức là có tính chất duy tâm.

    * Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm, sau khi gạt bỏ tính chất duy tâm thần bí của nó, Mác – Ăng ghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

    Vai trò thế giới quan của triết học

    * Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vài Trò Và Ý Nghĩa Giao Tiếp Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Đời Sống Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Về Giới Tính Và Giới
  • Liên Minh Châu Âu Và Tầm Quan Trọng Trên Toàn Thế Giới
  • Trí Tuệ Cảm Xúc: Tầm Quan Trọng Của Eq Đối Với Thành Công
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Biểu Tượng Của Việt Nam Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nằm Mơ Thấy Gỗ Đánh Đề Con Gì? Giải Mã Toàn Bộ Giấc Mơ Về Gỗ
  • Lô Đề Hôm Nay Về Bao Nhiêu, Nên Đánh Con Gì Là Chuẩn Nhất?
  • Mơ Thấy Gà Đánh Con Gì Dễ Trúng Lô Đề Nhất?
  • Giải Mã Giấc Mơ Số Đề
  • Icon Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Icon Trên Mạng Xã Hội!
  • Khuê Văn Các, một trong những biểu tượng văn hiến của thủ đô Hà Nội

    Đất nước nào cũng có, cũng cần một hoặc một vài biểu tượng. Đó là những vật, hình ảnh độc đáo nhất biểu trưng cho cả dân tộc, thể hiện được triết lý, quan niệm sống của dân tộc, trở thành linh hồn của dân tộc và mỗi biểu tượng đều nhắc đến một dân tộc.Vậy nhưng đến thời điểm này chẳng ai biết rõ và cũng chẳng ai dám khẳng định biểu tượng của Việt Nam là gì? Từ chính trị gia, nhà khoa học, nhà sử học, nhà văn, doanh nhân đến người dân bình thường đều như vậy.

    Thực tế, những năm qua, một số người đã đưa ra những ý kiến riêng về biểu tượng của Việt Nam, nhưng mỗi người một quan niệm và một cách chọn lựa khác nhau, nên cuối cùng… chẳng có biểu tượng nào thống nhất. Người thì bảo biểu tượng của nước ta là con rồng, con trâu, hoa sen người lại cho rằng biểu tượng của Việt Nam là trống đồng, chim Lạc, tà áo dài; người lại khẳng định là Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, thậm chí cây tre, con cò, Thánh Gióng…

    Trong khi hầu như các nước trên thế giới đều có biểu tượng của họ và những biểu tượng ấy được nhiều người trên thế giới biết đến, trở thành một trong những “quy ước”, “chứng chỉ” quốc tế, và ngay đứa trẻ bắt đầu đi học đã được trang bị những kiến thức về biểu tượng của đất nước mình. Nói đến nước Pháp là gà trống Gaulois, tháp Eiffel; nói đến Australia là con kanguru hoặc chòm sao năm ngôi; nói đến Mỹ là tượng Nữ thần tự do, Vương quốc Anh là sư tử hoặc đồng hồ Big Ben, Canada là lá cây phong, Trung Quốc là Vạn lý trường thành, Ai Cập là Kim tự tháp, Nhật Bản là núi Phú Sĩ…

    Trong một chương trình Hành trình văn hoá của VTV3 gần đây, một người đàn ông New Zealand rất tự hào nói rằng biểu tượng của nước anh là con chim kiwi (một loài chim có mỏ dài, không bay được) và lá dương xỉ bạc, trong khi ở New Zealand có rất nhiều cừu, thậm chí số lượng cừu còn nhiều hơn cả dân số của họ, nhưng không được chọn làm biểu tượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Fix Lỗi Các Biểu Tượng (Icon) Biến Thành Biểu Tượng Khác
  • Giải Mã Ý Nghĩa 50 Emoji Biểu Tượng Khuôn Mặt Chúng Ta Thường Dùng Hàng Ngày
  • Ý Nghĩa Và Cách Sử Dụng Icon Facebook Được Yêu Thích Nhất Hiện Nay
  • Làm Sao Để Giấu Bớt Icon Phía Bên Ngoài Menu Đi Các Pác Nhỉ….?
  • Biểu Tượng Cảm Xúc :3 Colon Three Là Gì?
  • Khái Niệm Bản Chất Và Hiện Tượng Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Chức Du Lịch Mice: Khái Niệm, Bản Chất & Sản Phẩm
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Vai Trò Của Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Đặc Điểm Của Tư Duy
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Ý Nghĩa Của Tiền Lương Với Người Lao Động
  • Bài Giảng Chất Chỉ Thị Màu
  • Khái niệm bản chất và hiện tượng

    Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật.

    Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.

    Thí dụ: Bản chất một nguyên tố hóa học là mối liên hệ giữa điện tử và hạt nhân, còn những tính chất hóa học của nguyên tố đó khi tương tác với các nguyên tố khác là hiện tượng thể hiện ra bên ngoài của mối liên kết giữa điện tử và hạt nhân. Bản chất quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột. Giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân làm ra. Nhưng biểu hiện của quan hệ này ra ngoài xã hội là quan hệ bình đẳng, hai bên được tự do thỏa thuận với nhau. Người công nhân có quyền ký hoặc không ký vào bản hợp đồng với nhà tư sản. Thậm chí nhà tư sản còn chăm lo đến sức khỏe của người công nhân và gia đình họ nếu điều đó có lợi cho việc tăng khối lượng giá trị thặng dư.

    Phạm trù bản chất gắn liền với phạm trù cái chung, nhưng không đồng nhất với cái chung. Có cái chung là bản chất, nhưng có cái chung không phải là bản chất. Thí dụ: Mọi người đều là sản phẩm tổng hợp của các quan hệ xã hội, đó là cái chung, đồng thời đó là bản chất của con người. Còn những đặc điểm về cấu trúc sinh học của con người như đều có đầu, mình và các chi… đó là cái chung, nhưng không phải bản chất của con người.

    Phạm trù bản chất và phạm trù quy luật là cùng loại, hay cùng một bậc (xét về mức độ nhận thức của con người) nhưng không đồng nhất với nhau. Mỗi quy luật thường chỉ biểu hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của bản chất còn bản chất là tổng hợp của nhiều quy luật. Vì vậy phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn quy luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Là Gì? Hiện Tượng Là Gì? Chúng Có Mối Quan Hê Biện Chứng Nào? Ý Nghĩa Rút Ra Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó. Cho Ví Dụ Minh Hoạ.
  • Lí Thuyết Chất Béo Hóa 12 Đầy Đủ Nhất
  • Kiến Thức Tổng Quan Về Nồi Hơi, Lò Hơi
  • Tìm Hiểu Về Lò Hơi
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 174:2011 Than Đá Và Cốc
  • # Trong Triết Học Tiền Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá?
  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Năng Động, Sáng Tạo Là Gì? Làm Gì Để Năng Động Sáng Tạo
  • Bình Luận Về Các Khái Niệm
  • Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học
  • Theo kinh tế học “Tiền là tiền khi chỉ xét chức năng là phương tiện thanh toán, là tiền tệ được pháp luật quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia, nền kinh tế”. Theo định nghĩa này, tiền cũng có thể được gọi là tiền lưu hành. Triết học Mác – Lênin, trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử và bản chất tiền tệ của chúng tôi đã xác định: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt tách ra từ trong thế giới hàng hoá như một vật ngang giá chung thống nhất. đối với các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và thể hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.

    1. Tiền tệ theo quan điểm Mác – Lênin bao gồm 5 chức năng sau:

    Chức năng đo giá trị: Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu thị bằng số lượng

    tiền nhất định. Tiền tệ có thể đóng vai trò là thước đo giá trị vì bản thân nó đã là hàng hóa.

    có giá trị như bất kỳ hàng hóa nào khác.

    Khái niệm, chức năng và sự phát triển của tiền

    1/3

    Chức năng lưu thông xe Một chức năng tiền tệ khác. Tại thời điểm này, tiền làm

    là hàng đổi hàng và bằng tiền mặt.

    Chức năng phương tiện: Thực hiện chức năng này, tiền rút khỏi lưu thông và hầu hết

    phải có đủ giá trị. Chỉ tiền, vàng, tiền, thỏi, bạc và châu báu

    Vàng và bạc có thể làm chức năng này.

    Chức năng phương tiện thanh toán: Khi tiền được dùng để trả nợ, để trao đổi

    hàng hóa … là khi tiền thực hiện chức năng này.

    Chức năng tiền tệ quốc tế: Tiền không chỉ được sử dụng trong một quốc gia mà còn

    Nó cũng có thể được sử dụng bên ngoài quốc gia, khi tiền thực hiện chức năng tiền tệ

    thế giới.

    Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền có ba chức năng tiêu biểu:

    Chức năng trao đổi phương tiện, phương tiện đo lường và chức năng phương tiện tính toán

    chức năng tích lũy phương tiện.

    Chức năng trao đổi phương tiện: Tiền là vật ngang giá chung, là vật trung gian cho các vật

    Việc trao đổi hàng hóa giữa người này với người khác trở nên thuận tiện hơn. Phương tiện được trao

    Tiền tệ là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Nếu không có chức năng này, tiền tệ sẽ

    không còn nữa.

    Chức năng của phương tiện đo và tính giá trị: Đo lường giá trị của hàng hóa và dịch vụ

    Với tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng một chiếc cân và đo khoảng cách bằng mét.

    Tiền tệ là thước đo phổ biến được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội. Cảm ơn

    chức năng kiếm tiền ngày càng phổ biến này trong sự phát triển của đo lường

    của xã hội, đo lường mức sống của người dân … Nó đã tạo ra một nền kinh tế thực

    tiền tệ.

    Chức năng xe tích lũy: Tích lũy là cơ sở để tái sản xuất và mở rộng sản xuất

    vì vậy nó cũng là cơ sở của sự phát triển kinh tế. Tiền có chức năng này như nó vốn có

    phương tiện trao đổi, là tài sản có tính thanh khoản cao nhất.

    2. Quá trình phát triển tiền tệ

    Khi nền kinh tế còn sơ khai, lúc đó chưa có ngân hàng thì tiền dùng để trao đổi là

    Hiện vật (tiền hàng hóa) là tiền được tạo ra từ các hình thức vật chất mà bản thân nó

    nó có sẵn để sử dụng, nó không được xuất bản bởi bất kỳ tổ chức nào. Là nền sản xuất

    và trao đổi hàng hóa đang phát triển từng ngày, nhân loại đã tìm thấy và khai thác kim

    Loại hàng hóa thể hiện nhiều nhược điểm của hàng hóa khi kim loại được chọn

    mệnh giá thông dụng với các ưu điểm như: bền, gọn nhẹ, mệnh giá bình dân. Cho thuận tiện

    Đối với việc lưu thông tiền xu, ngân hàng có quy định thống nhất về việc đúc tiền như để kích cầu

    Khái niệm, chức năng và sự phát triển của tiền

    2/3

    thước, hình dạng, trọng lượng cho mỗi loại tiền tệ, đặt tên tiền xu, quy ước

    một phần của đồng xu. Tiền kim loại do nhà nước và cá nhân đúc, nhưng bình đẳng

    phải được nhà nước quản lý, đánh dấu sự ra đời của doanh nghiệp phát hành tiền.

    Nhờ số tiền này, kinh tế đi vào ổn định hơn, cũng trên cơ sở đó, nhà

    Các quốc gia thời đó không chỉ phát hành tiền kim loại mà còn phát hành tiền giấy.

    Như vậy, thời kỳ này đã xuất hiện tiền kim loại và tiền giấy, nhưng chưa xuất

    hiện ngân hàng.

    Hoạt động ngân hàng xuất hiện là một tất yếu khách quan do yêu cầu của nền kinh tế. ngân hàng

    NHTM (NHTM) là ngân hàng đầu tiên xuất hiện, trong giai đoạn đầu hoạt động

    Ngân hàng còn rất sơ khai, ngân hàng sẽ phát hành chứng chỉ hoặc kỳ

    Số phiếu đúng bằng giá trị vàng mà khách hàng gửi vào ngân hàng, là khả năng

    chuyển đổi những giấy tờ đó thành vàng luôn luôn thuận tiện. Tuy nhiên, với tốc độ

    lưu thông ngày càng nhiều, nhu cầu về tiền ngày càng nhiều thúc đẩy sự ra đời

    của hàng loạt ngân hàng thương mại. Điều này dẫn đến rất nhiều tiền giấy được lưu hành

    Ở những điểm khác nhau, nhiều ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận đã phát hành kỳ phiếu

    Không có vàng để đảm bảo khả năng thanh toán khiến người dân nghi ngờ, mất uy tín

    Tín dụng của khách hàng đối với các ngân hàng nhỏ và họ đổ xô nhau đến các ngân hàng lớn, đến hạn

    Trong khi đó, các ngân hàng lớn có cơ hội mở rộng và mua lại các ngân hàng nhỏ. Bên

    Bên cạnh đó, với nhiều loại giấy được đưa vào lưu thông làm cho tiền tệ không ổn định, do đó

    buộc Nhà nước phải can thiệp để thống nhất việc phát hành tiền và đảm bảo an toàn

    Tiền giấy lưu hành bằng cách chỉ phát hành một số ngân hàng nhất định

    Giấy bạc ngân hàng gọi là ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành là ngân hàng

    hàng có vốn lớn, chi nhánh nhiều, có uy tín trên thị trường.

    Cuối thế kỷ XIX, một số nước đã hình thành ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành

    Thông lệ này đã thực hiện một số chức năng của ngân hàng trung ương. Và đến đầu thế kỷ XX, các quan

    Chức năng phát hành tiền đã được tách hoàn toàn khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại,

    đánh dấu sự ra đời của ngân hàng trung ương, và ngân hàng trung ương trở thành cơ quan độc quyền phát hành tiền

    ở một quốc gia. Sự phát triển của công nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại

    cho phép thay thế một phần tiền giấy, tiền xu do ngân hàng trung ương phát hành bằng

    Tiền điện tử, điều này mang lại lợi ích to lớn cho bất kỳ quốc gia nào vì nó giúp

    để tăng tốc độ luân chuyển vốn cho nền kinh tế.

    * Bên ngoài: Làm thế nào để kiếm tiền? Bạn có thể học kiếm tiền online trên điện thoại qua các bài viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Triết Học Dành Cho Sv Năm 1
  • Nhiệt Độ Là Gì? Tìm Hiểu Về Nhiệt Độ Là Gì?
  • Từ Ngữ Hán Việt Trong Tác Phẩm “lục Vân Tiên” Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Ngôn Ngữ Hán Việt Trong Y Học (Bs. Vũ Thanh Giang)
  • Cách Tra Từ Điển Hán Ngữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100