197 Là Số Gì? Tại Sao 197 Lại Gọi Điện Cho Bạn? Nghe Gọi 197 Có Mất Tiền Không? 197 Có Lừa Đảo Không?

--- Bài mới hơn ---

  • Mã Cvv Là Gì? Sử Dụng Số Cvv Như Thế Nào?
  • 1.8 Các Phép Toán Cơ Bản
  • Biến Và Kiểu Dữ Liệu Trong Pascal
  • Uae Là Gì? Đất Nước Uae Có Điều Gì Kì Thú Mà Bạn Chưa Biết?
  • Unisex Là Gì Phối Đồ Phong Cách Thời Trang Unisex Cực Chất
  • 197 là tổng đài cung cấp riêng trong gói mạng viễn thông quân đội Viettel. Trước tiên, cùng tìm hiểu kỹ hơn xem liệu 197 là số gì?

    197 LÀ SỐ GÌ?

    Ngày 25 tháng 12 năm 2021, nhà mạng Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel chính thức cho ra mắt tổng đài 197. Đây là một tổng đài chuyên cung cấp thông tin khuyến mãi và đặc biệt là hoàn toàn miễn phí.

    LỢI ÍCH CỦA SỐ 197 LÀ GÌ?

    Tổng đài 197 miễn phí cho các gói thuê bao Viettel, cũng sẽ mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng cũng như mang lại nhiều tiện lợi cho chính nhà mạng Viettel.

    LỢI ÍCH CỦA TỔNG ĐÀI 197 ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG

    Thay vì phải lên mạng Internet tra cứu các mẫu tin nhắn soạn gửi các tổng đài khó nhớ thì bạn chỉ cần gọi đến 197. Bạn có thể tra cứu từ 197 bất kỳ ở đâu và bất kỳ thời điểm nào, khi bạn sử dụng mạng Viettel.

    Bạn có thể kịp thời cập nhật các tin khuyến mại đúng thời gian và chính xác nhất.

    LỢI ÍCH CỦA TỔNG ĐÀI 197 ĐỐI VỚI NHÀ MẠNG

    Viettel cho ra tổng đài 197 tạo điều kiện phát triển hơn trong các đầu dịch vụ chăm sóc khách hàng; cập nhật cho khách hàng những thông tin mới mẻ nhất về các tin khuyến mại trong ngày trong tuần…

    MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA SỐ TỔNG ĐÀI 197 LÀ GÌ?

    Mục đích của số 197 là nhằm đưa ra các dịch vụ chuyên nghiệp hơn để tăng cường phục vụ chăm sóc khách hàng nhiều hơn.

    PHƯƠNG CHÂM HOẠT ĐỘNG CỦA 197

    197 sẽ là cầu nối miễn phí giữa người dùng khách hàng và nhà mạng Viettel. Đưa đến khách hàng những thông tin khuyến mãi hot nhất, chính xác nhất.

    Tổng đài 197 giúp cập nhật hàng ngày đảm bảo lợi ích khách hàng mọi lúc mọi nơi.

    ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC SỬ DỤNG 197

    • ​Thuê bao trả trước của Viettel đang hoạt động bao gồm:
    • Thuê bao di động.
    • Homephone.
    • Thuê bao cố định của Viettel.

    Tiếp cận thông tin khuyến mãi giờ đây rất đơn giản bạn chỉ cần bấm 197. Và sau đó thực hiện bấm phím (chọn nhánh) là đã có thể nắm hết chương trình ưu đãi từ nhà mạng Viettel; mà không phải mất quá nhiều thời gian chờ đợi đúng không nào!

    197 CÓ LỪA ĐẢO KHÔNG?

    Bên cạnh thắc mắc 197 là số gì thì nhiều khách hàng có câu hỏi tại sao 197 lại gọi vào thuê bao của mình? Và tại sao tài khoản của bạn lại bị trừ tiền? Chỉ cần tìm kiếm 197 trên mạng thì những thông tin cảnh báo về những cuộc gọi đến từ 197 sẵn sàng hiện ra cho bạn.

    Theo phản ánh của người dùng khi họ thấy tài khoản của mình bị trừ rất nhiều tiền; có người còn không dám nạp thẻ vì sợ bị trừ tiền tiếp theo. Khi liên hệ với tổng đài Viettel họ nhận được thông tin là thuê bao của họ đang sử dụng rất nhiều dịch vụ. Đáng ngạc nhiên là chủ thuê bao không hề biết mình đã đăng ký những dịch vụ như vậy.

    Tuy được hướng dẫn cách hủy nhưng lòng người dùng mạng Viettel bị tình trạng trên vẫn rất bức xúc và hoang mang. Một ý kiến khác cho rằng khi nhận được cuộc gọi “thần bí” từ 197 chủ thuê bao có quyền nghe hoặc từ chối cuộc gọi. Tuy nhiên khi bạn ấn phím số nghĩa là bạn đã đồng ý sử dụng dịch vụ nào đó.

    HỦY DỊCH VỤ 197 NHƯ THẾ NÀO?

    Hiện nay rất nhiều khách hàng than phiền vì bỗng nhiên thuê bao của mình được đăng ký một số dịch vụ mà không hề hay biết. Đặc biệt được 197 của Viettel “thi thoảng” hỏi thăm. Như phần giới thiệu bên trên, 197 là tổng đài tự động của Viettel gọi đến số của KH để giới thiệu sản phẩm dịch vụ của Viettel. Để hủy 197, bạn có thể chủ động gọi cho tổng đài Viettel yêu cầu cắt dịch vụ này với số thuê bao của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9833 Là Số Điện Thoại Gì? 9833 Có Phải Cuộc Gọi Rác Lừa Đảo Không?
  • Sách Là Gì? Những Lợi Ích Của Việc Đọc Sách Ai Cũng Nên Biết
  • Sách Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Sách
  • Sách Là Gì? Lợi Ích Của Việc Đọc Sách Đúng Cách?
  • Sốt Lợi Hay Hại? Có Nhất Thiết Phải Hạ Sốt Không?
  • 197 Là Số Gì? Những Lợi Ích Của 197 Với Người Dùng Và Nhà Mạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Từ Viết Tắt Trên Facebook Của Giới Trẻ Là Gì?
  • Giới Từ Là Gì? Cách Sử Dụng Giới Từ Trong Tiếng Anh
  • Cvv Của Thẻ Tín Dụng Là Gì? Sử Dụng Số Cvv Như Thế Nào?
  • Bh Là Gì? Bh Là Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Alipay Là Gì, Cách Nạp Tiền Vào Tài Khoản Alipay?
  • Bạn có biết 197 là số gì? Nếu bạn là người đang sử dụng sim Viettel thì đây là những thông tin bạn cần nắm rõ. Lợi ích của số 197 và những xôn xao quanh chuyện 197 là nội dung của bài viết này.

    197 là số gì?

    Có thể nói, 197 là số tổng đài cung cấp thông tin khuyến mãi của nhà mạng quân đội Viettel. Ra mắt vào ngày 25/12/2015, 197 trở thành tổng đài hoàn toàn miễn phí cho khách hàng sử dụng dịch vụ thuê bao trả trước và thuê bao cố định của Viettel.

    Có thể thấy, việc ra đời tổng đài 197 đã đem lại rất nhiều lợi ích cho khách hàng và cả Viettel. Cùng nhìn nhận những hữu ích mà 197 đem đến qua 2 tác dụng chính như sau:

    Không cần chờ đợi những tin nhắn thông báo khuyến mãi, với 197 khách hàng có thể ngay lập tức tra cứu những thông tin khuyến mãi một cách nhanh chóng ở mọi lúc, mọi nơi

    Những thông tin khuyến mãi giúp khách hàng tiết kiệm được một phần nào đó cước phí sử dụng hàng tháng. Ví dụ sắp tới đợt khuyến mãi thẻ nạp điện thoại, biết được thông tin này khách hàng sẽ chủ động chờ thời gian mới nạp thẻ. Tổng đài 197 luôn được cập nhật thường xuyên từ đó khách hàng luôn được nhận những thông tin mới nhanh chóng nhất.

    Trên đây là những lợi ích của 197 đối với khách hàng. Giờ đây chỉ cần bấm số 197 và gọi bạn đã có những thông tin chính xác nhất từ dịch vụ mạng cho đến chương trình khuyến mãi nhà Viettel.

    Viettel sử dụng số 197 nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc khách hàng, đưa những thông tin khuyến mãi đến khách hàng nhanh chóng nhất.

    Bên cạnh thắc mắc 197 là số gì thì nhiều khách hàng có câu hỏi tại sao 197 lại gọi vào thuê bao của mình? Và tại sao tài khoản của bạn lại bị trừ tiền? Chỉ cần tìm kiếm 197 trên mạng thì những thông tin cảnh báo về những cuộc gọi đến từ 197 sẵn sàng hiện ra cho bạn.

    Theo phản ánh của người dùng khi họ thấy tài khoản của mình bị trừ rất nhiều tiền, có người còn không dám nạp thẻ vì sợ bị trừ tiền tiếp theo. Khi liên hệ với tổng đài Viettel họ nhận được thông tin là thuê bao của họ đang sử dụng rất nhiều dịch vụ. Đáng ngạc nhiên là chủ thuê bao không hề biết mình đã đăng ký những dịch vụ như vậy.

    Tuy được hướng dẫn cách hủy nhưng lòng người dùng mạng Viettel bị tình trạng trên vẫn rất bức xúc và hoang mang. Một ý kiến khác cho rằng khi nhận được cuộc gọi “thần bí” từ 197 chủ thuê bao có quyền nghe hoặc từ chối cuộc gọi. Tuy nhiên khi bạn ấn phím số nghĩa là bạn đã đồng ý sử dụng dịch vụ nào đó.

    Cách hủy dịch vụ 197 của Viettel

    Hiện nay rất nhiều khách hàng than phiền vì bỗng nhiên thuê bao của mình được đăng ký một số dịch vụ mà không hề hay biết, đặc biệt được 197 của Viettel “thi thoảng” hỏi thăm. Như phần giới thiệu bên trên, 197 là tổng đài tự động của Viettel gọi đến số của KH để giới thiệu sản phẩm dịch vụ của Viettel. Để hủy 197, bạn có thể chủ động gọi cho tổng đài Viettel yêu cầu cắt dịch vụ này với số thuê bao của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Jackpot Là Gì? Ai Có Thể Giành Lấy Cơ Hội Chiến Thắng Jackpot?
  • Cc, Bcc Email Là Gì? Làm Sao Để Phân Biệt?
  • Chứng Chỉ Tiếng Anh A1, A2 Là Gì?
  • Con Trỏ This Trong C++ Là Gì?
  • Khái Niệm Và Các Định Nghĩa Của Xác Suất Trong Toán Học
  • 197 Là Số Điện Thoại Gì ? Số 197 Gọi Vào Máy Điện Thoại Để Làm Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết Sinh Học 11 Bài 19: Tuần Hoàn Máu (Tiếp Theo)
  • Sàn Upcom (Unlisted Public Company Market
  • Sàn Upcom Là Gì? Cách Thức Giao Dịch Trên Sàn Upcom
  • Sàn Upcom Là Gì? 5 Kinh Nghiệm Kiếm Tiền Ở Sàn Upcom
  • Upcom Là Gì? Kiến Thức Không Thể Bỏ Qua Cho Các Doanh Nghiệp
  • Tôi thường xuyên nhận được cuộc gọi từ số 197 gọi vào máy điện thoại, tôi thấy số lạ nên tôi không nghe, vì sợ bị trừ tiền hoặc tự động đăng ký dịch vụ gì đó. Cho tôi hỏi số 197 là tổng đài gì, 197 của nhà mạng nào, nghe 197 gọi có mất phí không, 197 gọi để làm gì ? ( Thanh Hà – Hoàng Mai )

    197 là số tổng đài tự động của nhà mạng Viettel gọi đến số của khách hàng để giới thiệu dịch vụ của họ, khách hàng nếu ko nghe có quyền từ chối, nếu nghe thấy mà bấm số là khách hàng đồng ý đăng ký dịch vụ của họ

    Trong cuộc gọi từ 197, bạn sẽ không mất phí đâu nha, trừ khi bạn làm theo họ hướng dẫn, bấm số để đăng ký sử dụng dịch vụ và sau họ trừ tiền phí duy trì hàng tháng

    Lợi ích của tổng đài 197

    • Đối với Viettel : Chia sẻ các thông tin khuyến mại, các dịch vụ ưu đãi đến với khách hàng nhanh nhất
    • Đối với người dùng : Thường xuyên cập nhật được các tin khuyến mại mới nhất mà không cần chờ đợi tin nhắn của Viettel.

    Thực hư câu chuyện tổng đài 1900 lừa đảo, trừ tiền tài khoản của bạn ?

    Tôi đọc rất nhiều thông tin về việc mọi người nhận được cuộc gọi từ 197, sau khi nghe máy thì tài khoản tự động bị trừ tiền, hoặc tự động đăng ký các dịch vụ nào đó mà chủ thuê bao không hề biết

    Tuy nhiên bên phía Viettel chưa có xác nhận chính thức nào về việc này, Khi gọi điện đến tổng đài của Viettel để phản hồi thì rất nhiều người nhận được hướng dẫn c ách hủy dịch vụ 197.

    Theo tôi, nếu các bạn không có ý định tìm hiểu chương trình khuyến mại nào của Viettel thì hãy hủy nhận cuộc gọi từ 197, hoặc có nỡ nghe máy rồi thì nhanh chóng tắt máy đi, không nên bấm vào bất cứ số nào theo hướng dẫn

    Các bạn trẻ nên hướng dẫn bố mẹ, ông bà mình, khi dùng điện thoại , không nên bấm cứ số nào khi 197 gọi đến, để tránh tiền mất mà k biết lý do gì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Tiết Về Tổng Đài 9833 Mạng Vinaphone
  • Vinaphone Khuyến Mãi Gói Data 60Gb Chỉ 50.000Đ Từ Tổng Đài 9833
  • Chính Sách Là Gì? Sơ Lược Về Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Chính Sách
  • Sốt Ở Trẻ, Nguyên Nhân, Cách Điều Trị, Phòng Ngừa
  • Sốt Là Gì? Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị
  • Cái Gì Gọi Là Động Lượng Của Cơ Thể Của Đơn Vị Đo. Định Luật Bảo Toàn Động Lượng, Động Năng Và Năng Lượng Tiềm Tàng, Lực Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 16. Phương Trình Hoá Học
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 11 Thuyết Electron
  • Một Số Bài Tập Vận Dụng Định Luật Bảo Toàn Electron
  • Giáo Án Lý 8 Kỳ Ii
  • Phân Loại Bài Tập Bảo Toàn Động Lượng
  • Chúng thay đổi, vì các lực tương tác tác động lên từng cơ thể, nhưng tổng các xung không đổi. Cái này được gọi là luật bảo toàn động lượng.

    Định luật thứ hai của Newton thể hiện bằng công thức. Nó có thể được viết theo một cách khác, nếu chúng ta nhớ lại rằng gia tốc bằng tốc độ thay đổi tốc độ của cơ thể. Đối với chuyển động tăng tốc đều, công thức sẽ như sau:

    Nếu chúng ta thay thế biểu thức này trong công thức, chúng ta sẽ nhận được:

    ,

    Công thức này có thể được viết lại thành:

    Ở bên phải của sự bình đẳng này được ghi lại sự thay đổi trong sản phẩm của khối lượng cơ thể và tốc độ của nó. Sản phẩm của khối lượng và tốc độ cơ thể là một đại lượng vật lý gọi là xung lực cơ thể hoặc chuyển động cơ thể.

    Cơ thể thôi thúc gọi là sản phẩm của khối lượng cơ thể và tốc độ của nó. Đây là một lượng vector. Hướng của vectơ động lượng trùng với hướng của vectơ vận tốc.

    Nói cách khác, một khối cơ thể mdi chuyển với tốc độ có một xung lực. Đối với đơn vị xung trong SI, xung lực của vật nặng 1 kg được lấy, di chuyển với tốc độ 1 m / s (kg · m / s). Khi hai cơ thể tương tác với nhau, nếu lực thứ nhất tác dụng lên cơ thể thứ hai bằng lực, thì theo định luật thứ ba của Newton, thì cơ thể thứ hai tác dụng lên lực thứ nhất. Chúng tôi biểu thị khối lượng của hai cơ thể này bằng m 1 và m 2, và tốc độ của chúng so với bất kỳ khung tham chiếu nào thông qua và. Một lúc sau t là kết quả của sự tương tác giữa các cơ thể, vận tốc của chúng sẽ thay đổi và trở nên bằng và. Thay thế các giá trị này trong công thức, chúng tôi nhận được:

    ,

    ,

    Do đó

    Thay đổi dấu hiệu của cả hai mặt của đẳng thức sang ngược lại và viết nó dưới dạng

    Ở bên trái của đẳng thức là tổng của thời điểm ban đầu của hai cơ thể, ở bên phải là tổng của thời điểm của cùng một cơ thể theo thời gian t. Các khoản bằng nhau. Như vậy, mặc dù thực tế. rằng động lượng của mỗi cơ thể trong quá trình tương tác thay đổi, tổng động lượng (tổng thời điểm của cả hai cơ thể) không thay đổi.

    Nó cũng có giá trị khi một số cơ quan tương tác. Tuy nhiên, điều quan trọng là các cơ quan này chỉ tương tác với nhau và chúng không bị ảnh hưởng bởi các lực từ các cơ quan khác không phải là một phần của hệ thống (hoặc các lực bên ngoài được cân bằng). Một nhóm các cơ thể không tương tác với các cơ thể khác được gọi là hệ thống khép kín chỉ có giá trị cho các hệ thống khép kín.

    Chi tiết Thể loại: Cơ học Đăng ngày 21/07/2014 2:29 PM Lượt xem: 53533

    Trong cơ học cổ điển, có hai định luật bảo toàn: định luật bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn năng lượng.

    Cơ thể thôi thúc

    Khái niệm động lượng được giới thiệu lần đầu tiên bởi một nhà toán học, vật lý học, thợ cơ khí người Pháp và triết gia Descartes, người gọi là sự thúc đẩy lượng chuyển động.

    Từ tiếng Latinh, tiếng xung động của người Viking dịch là tiếng đẩy, di chuyển.

    Bất kỳ cơ thể di chuyển có một xung.

    Hãy tưởng tượng một chiếc xe đẩy đứng bất động. Động lượng của nó bằng không. Nhưng ngay khi giỏ hàng bắt đầu di chuyển, động lượng của nó sẽ không còn nữa. Nó sẽ bắt đầu thay đổi, vì tốc độ sẽ thay đổi.

    hoặc Động lượng của một điểm vật chất, lượng chuyển động Là một đại lượng vectơ bằng tích của khối lượng của một điểm bằng tốc độ của nó. Hướng của vectơ động lượng của điểm trùng với hướng của vectơ vận tốc.

    Nếu người ta nói về một cơ thể vật chất rắn, thì tích của khối lượng của cơ thể này và vận tốc của khối tâm được gọi là động lượng của một cơ thể như vậy.

    Làm thế nào để tính động lượng cơ thể? Người ta có thể tưởng tượng rằng cơ thể bao gồm nhiều điểm vật chất, hoặc một hệ thống các điểm vật chất.

    Nếu là động lượng của một điểm vật chất, sau đó là động lượng của hệ thống các điểm vật chất

    Đó là động lượng của hệ thống các điểm vật chấtLà tổng vectơ của mô men của tất cả các điểm vật chất tạo nên hệ thống. Nó bằng với sản phẩm của khối lượng của những điểm này với tốc độ của chúng.

    Đơn vị đo động lượng trong hệ thống SI quốc tế là kilogam mét trên giây (kg · m / s).

    Sự thúc đẩy của lực lượng

    Trong cơ học, có một mối quan hệ chặt chẽ giữa động lượng của cơ thể và lực. Hai đại lượng này được kết nối bởi một đại lượng gọi là xung lực.

    Nếu một lực không đổi tác động lên cơ thểtrong một khoảng thời gian Ftsau đó theo định luật thứ hai của Newton

    Công thức này cho thấy mối quan hệ giữa lực tác động lên cơ thể, thời gian của lực này và sự thay đổi tốc độ cơ thể.

    Giá trị bằng với tích của lực tác dụng lên cơ thể theo thời gian mà nó tác động được gọi là xung lực.

    Như chúng ta có thể thấy từ phương trình, động lượng của một lực bằng với chênh lệch giữa momen của cơ thể tại điểm ban đầu và điểm cuối cùng theo thời gian, hoặc thay đổi động lượng theo thời gian.

    Định luật thứ hai của Newton ở dạng xung được xây dựng như sau: một sự thay đổi trong động lượng của cơ thể bằng với động lượng của lực tác dụng lên nó. Phải nói rằng chính Newton đã xây dựng luật của mình một cách chính xác theo cách này.

    Động lượng của lực cũng là một đại lượng vectơ.

    Định luật bảo toàn động lượng tuân theo định luật thứ ba của Newton.

    Cần phải nhớ rằng luật này chỉ hoạt động trong một hệ thống vật lý khép kín hoặc cô lập. Một hệ thống khép kín là một hệ thống trong đó các cơ thể chỉ tương tác với nhau và không tương tác với các cơ quan bên ngoài.

    Hãy tưởng tượng một hệ thống khép kín của hai cơ thể vật lý. Các lực tương tác của các cơ thể với nhau được gọi là nội lực.

    Động lượng của lực cho cơ thể đầu tiên là

    Theo định luật thứ ba của Newton, các lực tác dụng lên các cơ thể trong quá trình tương tác của chúng có độ lớn bằng nhau và ngược chiều nhau.

    Do đó, đối với cơ thể thứ hai, động lượng của lực là

    Sử dụng các phép tính đơn giản, chúng ta có được biểu thức toán học của định luật bảo toàn động lượng:

    v 1v 2– tốc độ của cơ thể thứ nhất và thứ hai trước khi tương tác,

    p 1 u003d m 1 ·v 1 – động lượng của cơ thể đầu tiên trước khi tương tác;

    p 2 u003d m 2 ·v 2– Động lượng của cơ thể thứ hai trước khi tương tác;

    p 1 “u003d m 1 ·v 1 “– động lượng của cơ thể đầu tiên sau khi tương tác;

    p 2 “u003d m 2 ·v 2 “– Sự thúc đẩy của cơ thể thứ hai sau khi tương tác;

    Đó là

    Trong một hệ thống khép kín, các cơ thể chỉ trao đổi mô men. Và tổng vectơ của momen của các vật thể này trước khi tương tác của chúng bằng tổng vectơ của momen sau khi tương tác.

    Vì vậy, do kết quả của một phát súng từ súng, động lượng của chính khẩu súng và động lượng của viên đạn sẽ thay đổi. Nhưng tổng số xung của súng và viên đạn trong đó trước khi bắn sẽ vẫn bằng tổng số xung của súng và đạn bay sau phát bắn.

    Khi bắn từ một khẩu súng, giật lại xảy ra. Đạn bay về phía trước, và khẩu súng tự quay trở lại. Một viên đạn và một khẩu súng là một hệ thống khép kín trong đó định luật bảo toàn động lượng hoạt động.

    trong một hệ thống khép kín có thể thay đổi do kết quả của sự tương tác giữa chúng với nhau. Nhưng Động lượng của mỗi cơ thể tổng vectơ của mô men của các vật thể trong hệ thống kín không thay đổi trong quá trình tương tác của các vật thể này theo thời gian,đó là, nó không đổi Đó là luật bảo toàn động lượng.

    Chính xác hơn, định luật bảo toàn động lượng được xây dựng như sau: tổng vectơ của mô men của tất cả các phần tử của một hệ kín là một hằng số nếu không có ngoại lực tác dụng lên nó, hoặc tổng vectơ của chúng bằng không.

    Động lượng của một hệ thống các cơ thể chỉ có thể thay đổi do tác động của các lực bên ngoài lên hệ thống. Và sau đó định luật bảo toàn động lượng sẽ không được áp dụng.

    Tôi phải nói rằng trong bản chất của các hệ thống khép kín không tồn tại. Nhưng, nếu thời gian tác động của ngoại lực rất ngắn, ví dụ, trong một vụ nổ, bắn, v.v., thì trong trường hợp này, ảnh hưởng của ngoại lực lên hệ thống bị bỏ qua và bản thân hệ thống được coi là đóng.

    Ngoài ra, nếu các lực bên ngoài tác động lên hệ thống, nhưng tổng các hình chiếu của chúng trên một trong các trục tọa độ bằng không (nghĩa là các lực được cân bằng theo hướng của trục này), thì luật bảo toàn động lượng được thực hiện theo hướng này.

    Định luật bảo toàn động lượng cũng được gọi là định luật bảo toàn động lượng.

    Ví dụ nổi bật nhất về việc áp dụng định luật bảo toàn động lượng là lực đẩy phản lực.

    Chuyển động phản lực

    Chuyển động phản ứng là chuyển động của cơ thể xảy ra khi một phần của nó được tách ra khỏi nó ở một tốc độ nhất định. Trong trường hợp này, cơ thể nhận được một xung lực hướng ngược lại.

    Ví dụ đơn giản nhất về lực đẩy phản lực là chuyến bay của khinh khí cầu mà không khí thoát ra. Nếu chúng ta thổi phồng quả bóng và thả nó ra, nó sẽ bắt đầu bay theo hướng ngược lại với sự chuyển động của không khí ra khỏi nó.

    Một ví dụ về lực đẩy phản lực trong tự nhiên là sự phóng ra chất lỏng từ một quả dưa chuột điên khi nó nổ. Đồng thời, dưa chuột tự bay theo hướng ngược lại.

    Sứa, mực và các cư dân khác của biển sâu di chuyển xung quanh, lấy nước và sau đó ném nó đi.

    Lực đẩy được dựa trên định luật bảo toàn động lượng. Chúng ta biết rằng khi một tên lửa với động cơ phản lực di chuyển do quá trình đốt cháy nhiên liệu, một dòng chất lỏng hoặc khí được phun ra từ vòi phun ( dòng máy bay phản lực). Do sự tương tác của động cơ với chất rò rỉ xuất hiện công suất phản kháng. Vì tên lửa cùng với chất bị đẩy ra là một hệ thống kín, nên động lượng của một hệ thống như vậy không thay đổi theo thời gian.

    Lực phản ứng phát sinh là kết quả của sự tương tác của chỉ các bộ phận của hệ thống. Các lực lượng bên ngoài không có ảnh hưởng đến sự xuất hiện của nó.

    Trước khi tên lửa bắt đầu di chuyển, tổng động lượng của tên lửa và nhiên liệu bằng không. Do đó, theo định luật bảo toàn động lượng sau khi bật động cơ, tổng các xung này cũng bằng không.

    khối lượng của tên lửa ở đâu

    Tốc độ thoát khí

    Thay đổi tốc độ tên lửa

    ∆ m f tiêu thụ khối lượng nhiên liệu

    Giả sử tên lửa hoạt động được một thời gian t .

    Chia cả hai vế của phương trình t, chúng tôi nhận được biểu thức

    Theo định luật thứ hai của Newton, lực phản kháng là

    Lực phản kháng, hoặc lực đẩy phản lực, cung cấp sự chuyển động của động cơ phản lực và vật thể liên kết với nó, theo hướng ngược lại với hướng của luồng phản lực.

    Động cơ phản lực được sử dụng trong máy bay hiện đại và các tên lửa khác nhau, quân sự, không gian, v.v.

    Xung (số lượng chuyển động) của một cơ thể được gọi là đại lượng vectơ vật lý, là một đặc tính định lượng của chuyển động tịnh tiến của các cơ thể. Impulse được chỉ định p. Động lượng của một cơ thể bằng với sản phẩm của khối lượng cơ thể và tốc độ của nó, tức là Nó được tính theo công thức:

    Hướng của vectơ động lượng trùng với hướng của vectơ vận tốc của cơ thể (hướng dọc theo tiếp tuyến với quỹ đạo). Đơn vị đo động lượng là kg m / s.

    Tổng động lượng của hệ thống cơ thể bằng với vectơ tổng các xung của tất cả các cơ quan của hệ thống:

    Thay đổi động lượng của một cơ thể được tìm thấy bởi công thức (lưu ý rằng sự khác biệt giữa các xung cuối cùng và ban đầu là vectơ):

    trong đó: p n là động lượng của cơ thể tại thời điểm ban đầu, p đến – đến trận chung kết. Điều chính là không nhầm lẫn hai khái niệm cuối cùng.

    Cú đấm hoàn toàn kiên cường – một mô hình va chạm trừu tượng, trong đó tổn thất năng lượng do ma sát, biến dạng, v.v. không được tính đến. Không có tương tác nào khác ngoài liên hệ trực tiếp được tính đến. Với tác động đàn hồi tuyệt đối trên một bề mặt cố định, tốc độ của vật sau khi va chạm có giá trị tuyệt đối bằng tốc độ của vật trước khi va chạm, nghĩa là động lượng không thay đổi. Chỉ hướng của nó có thể thay đổi. Trong trường hợp này, góc tới bằng góc phản xạ.

    Tác động hoàn toàn không đàn hồi – một cú đánh, kết quả là các cơ thể tham gia và tiếp tục chuyển động tiếp theo như một cơ thể duy nhất. Ví dụ, một quả bóng plasticine khi rơi trên bất kỳ bề mặt nào hoàn toàn ngăn chặn chuyển động của nó, khi hai chiếc xe va chạm, một khớp nối tự động được kích hoạt và chúng cũng tiếp tục di chuyển cùng nhau.

    Định luật bảo toàn động lượng

    Khi các cơ thể tương tác, động lượng của một cơ thể có thể được truyền một phần hoặc hoàn toàn sang một cơ thể khác. Nếu các lực bên ngoài từ các cơ quan khác không tác động lên hệ thống các cơ quan, thì một hệ thống như vậy được gọi là đóng cửa.

    Trong một hệ thống kín, tổng vectơ của mô men của tất cả các vật thể có trong hệ thống không đổi cho bất kỳ tương tác nào của các cơ thể của hệ thống này với nhau. Định luật cơ bản này của tự nhiên được gọi là định luật bảo toàn động lượng (ZSI). Hậu quả của nó là định luật của Newton. Định luật thứ hai của Newton ở dạng xung có thể được viết như sau:

    Như sau trong công thức này, nếu các lực bên ngoài không tác động lên hệ thống các cơ thể hoặc tác động của các lực bên ngoài được bù (lực kết quả bằng 0), thì sự thay đổi động lượng bằng 0, có nghĩa là tổng động lượng của hệ được bảo toàn:

    Tương tự, người ta có thể lập luận cho phép chiếu bằng 0 của lực trên trục đã chọn. Nếu các lực bên ngoài không chỉ tác động dọc theo một trong các trục, thì phép chiếu của động lượng lên trục đã cho được bảo toàn, ví dụ:

    Hồ sơ tương tự có thể được thực hiện cho các trục tọa độ khác. Bằng cách này hay cách khác, bạn cần hiểu rằng trong trường hợp này, các xung có thể thay đổi, nhưng đó là tổng của chúng không đổi. Định luật bảo toàn động lượng trong nhiều trường hợp giúp ta có thể tìm thấy vận tốc của các vật tương tác ngay cả khi chưa biết giá trị của lực tác dụng.

    Tiết kiệm động lượng chiếu

    Tình huống có thể xảy ra khi định luật bảo toàn động lượng chỉ được thực hiện một phần, nghĩa là chỉ khi thiết kế trên một trục. Nếu một lực tác động lên cơ thể, thì động lượng của nó không được bảo toàn. Nhưng bạn luôn có thể chọn một trục sao cho hình chiếu của lực lên trục này bằng không. Sau đó, hình chiếu của xung trên trục này sẽ được bảo toàn. Theo quy định, trục này được chọn dọc theo bề mặt mà cơ thể di chuyển.

    Trường hợp đa chiều của ZSI. Phương pháp vectơ

    Từ quy tắc cộng vectơ, theo sau ba vectơ trong các công thức này sẽ tạo thành một hình tam giác. Đối với hình tam giác, định lý cosin được áp dụng.

    Hãy thực hiện một số biến đổi đơn giản với các công thức. Theo định luật thứ hai của Newton, sức mạnh có thể được tìm thấy: F u003d m * a. Gia tốc như sau: a u003d v⁄t. Do đó, chúng tôi có được: F u003d m * v/ t.

    Định nghĩa xung lực cơ thể: Công thức

    Nó chỉ ra rằng lực được đặc trưng bởi một sự thay đổi trong sản phẩm của khối lượng và vận tốc theo thời gian. Nếu chúng ta biểu thị sản phẩm này theo một số lượng nhất định, thì chúng ta sẽ có được sự thay đổi về số lượng này theo thời gian như là một đặc tính của lực. Giá trị này được gọi là động lượng của cơ thể. Động lượng của cơ thể được thể hiện bằng công thức:

    trong đó p là động lượng của cơ thể, m khối lượng, tốc độ v.

    Động lượng là một đại lượng vectơ, trong khi hướng của nó luôn trùng với hướng của tốc độ. Đơn vị của động lượng là kilôgam trên mét mỗi giây (1 kg * m / s).

    Sự thúc đẩy của cơ thể là gì: làm thế nào để hiểu?

    Hãy thử một cách đơn giản, “trên những ngón tay” để tìm ra xung lực của cơ thể là gì. Nếu cơ thể nghỉ ngơi, thì động lượng của nó bằng không. Là logic. Nếu tốc độ của cơ thể thay đổi, thì cơ thể có một xung lực nhất định đặc trưng cho cường độ của lực tác dụng lên nó.

    Nếu tác động lên cơ thể không có, nhưng nó di chuyển ở một tốc độ nhất định, nghĩa là nó có một xung lực nhất định, thì xung lực của nó có nghĩa là tác động của cơ thể đã cho khi có thể tương tác với một cơ thể khác.

    Công thức động lượng bao gồm khối lượng cơ thể và tốc độ của nó. Đó là, khối lượng và / hoặc tốc độ mà cơ thể sở hữu càng lớn thì tác động của nó càng lớn. Điều này là dễ hiểu từ kinh nghiệm sống.

    Để di chuyển một cơ thể có khối lượng nhỏ, cần một lực nhỏ. Trọng lượng cơ thể càng nhiều, sẽ phải nỗ lực nhiều hơn. Điều tương tự cũng xảy ra đối với tốc độ được báo cáo cho cơ thể. Trong trường hợp tác động của chính cơ thể lên người khác, xung lực cũng cho thấy mức độ mà cơ thể có thể tác động lên các cơ thể khác. Giá trị này trực tiếp phụ thuộc vào tốc độ và khối lượng của cơ thể ban đầu.

    Động lượng trong sự tương tác của cơ thể

    Một câu hỏi khác được đặt ra: điều gì sẽ xảy ra với động lượng của cơ thể khi nó tương tác với một cơ thể khác? Khối lượng của cơ thể không thể thay đổi nếu vẫn còn nguyên, nhưng tốc độ có thể thay đổi dễ dàng. Trong trường hợp này, tốc độ của cơ thể sẽ thay đổi tùy thuộc vào khối lượng của nó.

    Trên thực tế, rõ ràng là trong sự va chạm của các cơ thể có khối lượng rất khác nhau, tốc độ của chúng sẽ thay đổi theo những cách khác nhau. Nếu một quả bóng đá bay ở tốc độ cao đâm vào một người không chuẩn bị cho điều này, chẳng hạn như khán giả, thì khán giả có thể rơi, nghĩa là đạt được một số tốc độ nhỏ, nhưng chắc chắn nó sẽ không bay như một quả bóng.

    Và tất cả vì khối lượng của người xem lớn hơn nhiều so với khối lượng của quả bóng. Nhưng đồng thời, sự thúc đẩy chung của hai cơ thể này sẽ không thay đổi.

    Luật bảo tồn xung: công thức

    Đây là định luật bảo toàn động lượng: khi hai cơ thể tương tác, tổng động lượng của chúng vẫn không thay đổi. Định luật bảo toàn động lượng chỉ hoạt động trong một hệ kín, nghĩa là trong một hệ không có ngoại lực hoặc tổng tác dụng của chúng bằng không.

    Trong thực tế, hầu như luôn luôn có một ảnh hưởng của bên thứ ba tác động lên hệ thống các cơ thể, nhưng xung lực chung, như năng lượng, không biến mất ở bất cứ đâu và không phát sinh từ đâu, nó được phân phối giữa tất cả những người tham gia tương tác.

    Định nghĩa là:

    YouTube bách khoa toàn thư

      1 / 5

      Momentum Động lượng cơ thể

      Xung lực cơ thể

      Thời điểm của động lượng

      Vật lý. Định luật bảo tồn trong cơ học: Động lượng. Trung tâm học tập trực tuyến Foxford

      Phụ đề

    Lịch sử của thuật ngữ

    Định nghĩa xung chính thức

    Xung điện từ

    Một trường điện từ, giống như bất kỳ đối tượng vật chất nào khác, có một động lượng có thể dễ dàng tìm thấy bằng cách tích hợp vectơ Poynting trên âm lượng:

    p u003d 1 c 2 ∫ S d V u003d 1 c 2 ∫ dV) (trong hệ thống SI).

    Sự tồn tại của một xung tại trường điện từ giải thích, ví dụ, một hiện tượng như áp suất của bức xạ điện từ.

    Động lượng trong cơ học lượng tử

    Định nghĩa chính thức

    Mô đun xung tỷ lệ nghịch với bước sóng (\ displaystyle \ lambda):), mô đun động lượng là p u003d m v (\ displaystyle p u003d mv) (ở đâu m (\ kiểu hiển thị m) là khối lượng của hạt) và

    u003d h p u003d h m v (\ displaystyle \ lambda u003d (\ frac (h) (p)) u003d (\ frac (h) (mv))).

    Do đó, bước sóng de Broglie càng nhỏ, mô đun xung càng lớn.

    Ở dạng vector, điều này được viết là:

    p → u003d h 2 π k → u003d ℏ k →, (\ displaystyle (\ vec (p)) u003d (\ frac (h) (2 \ pi)) (\ vec (k)) u003d \ hbar (\ vec ( k)),) p → u003d ρ v → (\ displaystyle (\ vec (p)) u003d \ rho (\ vec (v))).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Dụng Định Luật Bảo Toàn Động Lượng Để Chế Tạo Tên Lửa Nước ” Trung Tâm Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • 20 Câu Trắc Nghiệm Vật Lý 11 Chương 4 Có Đáp Án
  • Định Luật Ôm Đối Với Toàn Mạch
  • Bài Tập Vận Dụng Định Luật Ôm Và Công Thức Tính Điện Trở Của Dây Dẫn
  • Bai 6: Bai Tap Van Dung Dinh Luat Om
  • Thời Đi Học Ít Ai Ngờ Của Các Thiên Tài Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Lớp 8 Môn Vật Lí
  • Ôn Tập Học Kì Ii Môn Vật Lí Lớp 8
  • Giáo Án Vật Lí Lớp 8
  • Các Định Luật Chất Khí (Phần 2)
  • Tóm Tắt Công Thức Vật Lý 11 Chương 1 Và Chương 2
  • Newton là nhà khoa học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới, người phát minh ra định luật “vạn vật hấp dẫn”, đặt nền móng cho cơ học, quang học và vật lý cổ điển….

    1. Albert Einstein (Anhxtanh): Sợ phải đến trường

    Albert Einstein (1879 – 1955) là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, người khai sinh ra “Thuyết tương đối”. Ô ng cùng với Newton chính là 2 tri thức lỗi lạc quyết định đến sự phát triển của lý thuyết vật lý hiện đại.

    Thế nhưng khi còn nhỏ, Einstein không hề có biểu hiện gì nổi trội, thậm chí là phát triển trí tuệ rất chậm. Năm 4 tuổi, ông vẫn chưa biết nói, cha của Einstein đã tìm mọi cách để giúp con mình phát triển như những đứa trẻ khác.

    Trong thời gian đi học, sức học của Einstein rất kém, đuối hơn nhiều so với các bạn bè khác. Thầy Hiệu trưởng trường Einstein theo học cũng quả quyết với cha cậu rằng “thằng bé này mai sau lớn lên sẽ chẳng làm được gì đâu”.

    Những lời giễu cợt và sự trêu đùa ác ý của mọi người xung quanh khiến cho cậu bé Einstein rất buồn tủi. Cậu trở nên sợ phải đến trường, sợ phải đối mặt với các thầy cô và bạn bè. Cậu cũng cho rằng mình đúng là đứa trẻ ngốc nghếch thật sự.

    Thế nhưng nhờ sự động viên rất lớn của mẹ – một người phụ nữ thông minh, xinh đẹp và có học vấn cao, trí tuệ Einstein phát triển nhanh chóng, cậu bé còn dần khắc phục được tính tự ti và trở nên lạc quan, vui vẻ.

    Einstein rất hay nêu ra những câu hỏi lạ lùng, thậm chí có phần quái dị, chẳng hạn như: Tại sao kim nam châm lại chỉ về hướng Nam? Thời gian là gì? Không gian là gì?… Mọi người đều cho rằng cậu bé này là người đầu óc có vấn đề.

    Nhưng họ không ngờ rằng, chính những câu hỏi có vấn đề ấy của cậu bé đã giúp Einstein có được thành công sau này.

    2. Issac Newton: Luôn nghĩ ra những trò chơi kỳ lạ

    Newton là nhà khoa học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới, người phát minh ra định luật “vạn vật hấp dẫn”, đặt nền móng cho cơ học, quang học và vật lý cổ điển.

    Cậu bé Newton đại tài thời đi học đã luôn nổi tiếng với những trò chơi kỳ lạ. Cậu từng làm cả dân làng khiếp sợ và kinh ngạc khi chơi trò thả diều buổi tối, nhưng chuyện bất ngờ là cánh diều của cậu phát ra ánh sáng đỏ.

    Chiếc diều phát sáng bay lủng lẳng trên bầu trời đã làm mọi người sợ hãi và nghĩ đến những điều ma mị, tưởng như đó là thần lửa hoặc ma chơi mà không biết rằng đó chỉ là một trò chơi kỳ lạ của cậu bé. Newton lúc đó đã buộc một chiếc đèn lồng bọc bằng giấy bóng kín đỏ ở đuôi cánh diều, chính điều này đã tạo ra ánh sáng kỳ lạ kia.

    Newton là cậu bé tính vốn trầm lặng và âm thầm, lúc nào cũng đăm chiêu suy nghĩ, không mấy thích chơi với đông bạn bè.

    Giây phút hạnh phúc nhất của cậu là được ẩn mình ở một góc vườn đọc sách và thả hồn mơ mộng theo một ý nghĩa xa xôi. Có thời gian rảnh rỗi cậu lại đến phòng thí nghiệm hoặc mê mải sáng chế những đồ chơi khác lạ. Chính nhờ vậy, Newton mới rèn luyện cho mình được những kỹ năng thực rất bổ ích cho công tác nghiên cứu sau này.

    Thật chẳng ngờ những trò chơi thủa con nít đi học ấy lại bước chuẩn bị cho cậu bé đẻ non, ốm yếu, mồ côi cha ngay từ lúc lọt lòng trở thành nhà bác học thiên tài của thế giới.

    3. Edison: Thiên tài tự học là chính

    Edison là nhà khoa học tiêu biểu nhất của nước Mỹ và thế giới, sở hữu 1907 bằng phát minh – một kỷ lục trong giới khoa học. Ông cũng đã đọc hơn 10.000 cuốn sách và mỗi ngày ông có thể đọc hết 3 cuốn sách. Edison và chiếc đèn điện đã vang danh khắp thế giới.

    Năm 7 tuổi, Edison được theo học ở ngôi trường độc nhất trong vùng, chỉ có một lớp học 40 học sinh lớn bé đủ cả. Edison được xếp ngồi gần thầy nhất, đó vốn là chỗ cho những học sinh kém cỏi nhất. Trong khi học, Edison không chú tâm trả lời câu hỏi của thầy giáo mà thường đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa với thầy giáo. Vì thế, cậu thường đội sổ và bị bè bạn chê cười.

    Thầy giáo của Edison đã từng nói về cậu: “Học trò này điên khùng, không đáng ngồi học lâu hơn”. Từ đó, Edison không đến trường nữa mà ở nhà tự học cùng mẹ.

    Thời gian này, ông cùng gia đình phải sống rất khó khăn. Năm 12 tuổi, Edison đã phải tự đi làm kiếm tiền, ngày ngày, Edison vừa bán báo và kẹo dẻo trên tàu hỏa vừa tự mày mò nghiên cứu khoa học.

    Một lần, trong khi làm thí nghiệm, do không cẩn thận, Edison đã làm cháy toa tàu. Kết quả là cậu bị nhân viên soát vé tàu tát cho một cái ù tai và đuổi khỏi tàu, đồng thời cấm lai vãng đến đường ray. Sự việc này đã khiến cho khả năng thính giác của Edison ngày một kém dần cho đến mãi về sau.

    Trong suốt cuộc đời cống hiến tận tụy của mình với những phát minh vĩ đại, ông nổi tiếng nhất với phát minh ra bóng đèn điện.

    4. Bill Gates: Tuổi thơ gắn liền với máy tính

    Bill Gates là người đồng sáng lập ra tập đoàn phần mềm lớn mạnh nhất thế giới Microsoft và cũng là người tạo ra những bước tiến quan trọng trong nền công nghiệp công nghệ thông tin của thế giới.

    Khi còn học tiểu học, người ta kể rằng Gates đã đọc nát như cháo từ A-Z một bộ bách khoa toàn thư khi chưa đầy 10 tuổi. Ở độ tuổi 11, Gates đã có thể thuộc nhiều chương của cuốn kinh thánh Gospel. Cha mẹ của Bill Gates đã nhận ra bộ óc thông minh có một không hai của Gates và gửi ông đến Lakeside, nột ngôi trường tư nổi tiếng. Chính nơi đây ông lần đầu làm quen với máy tính và Paul Allen, người sau này là đối tác của ông.

    Gates ngồi hàng giờ trước máy tính mỗi ngày từ năm 13 tuổi. Với nhiều bạn trẻ bây giờ, điều này rất bình thường. Nhưng vào thập niên 60 của thế kỷ trước, máy tính vẫn quá lạ lẫm và thiếu giao diện người dùng.

    Bạn học của cậu bé Gates còn nhận xét rằng cậu thông minh một cách đáng sợ và luôn thần tượng cậu bé. Bất kỳ bạn trẻ nào của Trường Lakeside khóa học từ năm 1967-1972, đều nhớ đến một thằng bé sáng sủa tên Gates, thường xuyên lọ mọ trong phòng vi tính của trường.

    Cơ hội được làm quen với máy tính từ khi còn rất nhỏ chính là nền tảng cho Gates trở thành tỉ phú trong làng công nghệ thế giới.

    5. Steven Jobs: Nổi loạn thời đi học

    Steven Paul Jobs (1955 – 2011) là ông trùm kinh doanh và nhà sáng chế huyền thoại người Mỹ, ông cũng là cựu Tổng giám đốc điều hành hãng Apple, là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất của ngành công nghiệp vi tính.

    Chuyện về thời đi học của nhân vật này rất đặc biệt, ông luôn nghĩ ra những trò chơi kỳ quái, nghịch ngợm và nổi loạn. Với ông, một ngày không nổi loạn kỳ thực rất nhàm chán.

    Thời cấp 1, Jobs luôn cảm thấy nhàm chán và không có một thứ gì mới để học bởi học vì thời gian rước đó ông đã được mẹ dạy đọc. Và ông bắt đầu nghĩ ra những trò nổi loạn trong lớp học.

    Đến lớp 3, những trò nghịch của ông dần trở lên nguy hiểm, có lần ông để chất nổ dưới ghế của cô giáo, khiến cô sợ đến thót tim. Vì thế, Jobs bị nhà trường trả về hết lần này đến lần khác. Tuy vậy, cha mẹ ông không bao giờ trách phạt và mắng mỏ ông .

    Để điều chỉnh ông, thầy cô và gia đình đã phải dung đến cách “hối lộ quà” để khiến ông nghe lời, bớt nghịch ngợm và chăm chỉ học. Cách này quả thật đã giúp ông đổi thay rất nhiều, bài kiểm tra của ông đạt điểm ở mức bằng học sinh lớp 7.

    Lúc này, thầy cô và cha mẹ Jobs mới phát hiện ra ông có một trí thông minh khác thường và quyết định cho ông học vượt cấp, từ lớp 4 học thẳng lên lớp 7.

    Khi học cùng lớp với đàn anh, đàn chị, Jobs trở thành người cô đợn, lạc long và hay bị bắt nạt. Ông đòi cha mẹ cho mình chuyển trường và dọa sẽ bỏ học nếu không được đáp ứng.

    Đến năm cuối cấp, Jobs từng tham gia một khóa học về điện tử do John McCollum, một cựu lính hải quân giảng dạy. Trong thời gian học khóa học, ông đã làm được một thiết bị với hệ thống đèn quang điện mà có thểchuyển mạch khi tiếp xúc với ánh sáng, một thành quả mà không phải bất cứ họcsinh trung học nào cũng có thể đạt được.

    Cùng Danh Mục:

    Bình Luận Facebook

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Cố Tri Tân: Phải Cách Ly Tại Gia Bởi Dịch Hạch, Issac Newton Tìm Ra Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 10 Lực Hấp Dẫn
  • Thuyết Tương Đối Và Việc Khắc Phục Những Hạn Chế Của Cơ Học Newton
  • Khai Máy ‘định Luật 80/20 Của Tình Yêu’, Dương Mịch ‘sánh Duyên’ Cùng Trai Trẻ Hứa Khải
  • Giáo Án Hóa Học Lớp 10
  • Sự Thật Về Thuyết Tiến Hóa Kỳ 1: Hình Vẽ Phôi Thai Giả Của Haeckel, Vụ Lừa Đảo Xuyên Thế Kỷ

    --- Bài mới hơn ---

  • Sin Cos Tan Values (Formula, Table & How To Find)
  • Bảng Các Công Thức Lượng Giác Tổng Hợp Và Cách Ghi Nhớ
  • Định Luật Nhiệt Động Lực Học Trong Các Hệ Thống Sinh Học
  • Bài Tập Vật Lý Chuyên Đề: Định Luật Truyền Thẳng Của Ánh Sáng Bóng Đen
  • Những Ứng Dụng Của Định Luật “truyền Thẳng Ánh Sáng”
  • Nhưng sự thực hoàn toàn khác hẳn. Ernst Haeckel thực ra chỉ vẽ hình của một phôi thai duy nhất, rồi dựa vào đó làm ra hình phôi người, phôi khỉ, và phôi chó. Ông đã thêm vào mỗi hình một chút thay đổi. Nói cách khác, đây là một vụ lừa đảo.

    Ông ta vẽ sát cạnh nhau hình phôi của cá, kỳ giông, rùa, gà, thỏ và phôi người. Các phôi đó được vẽ hết sức giống nhau và chỉ dần dần cho thấy sự khác biệt trong các giai đoạn sau của quá trình phát triển. Đặc biệt, sự tương đồng giữa phôi người và phôi cá quả là rất ấn tượng, đến mức người ta có thể nhìn thấy cái “mang” trong hình vẽ phôi người, giống như ở hình vẽ phôi cá. Từ đó, Haeckel đưa ra “thuyết về sự lặp lại hình thái” (còn gọi là “định luật phát sinh sinh vật”), với nội dung cơ bản là: trong quá trình phát triển của phôi, tất cả các giống loài đều lặp đi lặp lại “lịch sử tiến hóa”. Lấy ví dụ, ông ta nói phôi thai con người trong tử cung của người mẹ, đầu tiên có khe mang giống như cá, và trong những tuần tiếp theo sẽ giống như bò sát, rồi giống thú, rồi cuối cùng mới “tiến hóa” thành người.

    Bây giờ người ta đã biết rằng “những cái mang” xuất hiện trong giai đoạn đầu của phôi thai người, trên thực tế là ống tai giữa, tuyến cận giáp, và tuyến ức đang hình thành. Phần phôi thai trông giống “túi lòng đỏ trứng” là nơi sản xuất máu cho trẻ sơ sinh. Cái “đuôi” trên thực tế là xương sống, và nó trông giống như một cái đuôi chỉ vì nó được hình thành trước khi đôi chân xuất hiện.

    Ngay cả các nhà khoa học thuộc phái tiến hóa cũng phải thừa nhận rằng Haeckel đã lừa đảo. Năm 1976, nhà phôi học, sinh học và giải phẫu học người Anh, tiến sỹ William W. Ballard đã viết rằng “chỉ có nhờ các thủ đoạn ngữ nghĩa và cách chọn lọc bằng chứng mang đầy tính chủ quan”, bằng cách “bẻ cong những thực tế của tự nhiên”, thì người ta mới có thể lý luận rằng những giai đoạn đầu tiên của các động vật có xương sống là “tương đồng hơn so với các cá thể trưởng thành”.

    Thực ra, giới khoa học đã biết Haeckel lừa đảo từ lâu, ngay cả những người theo phái tiến hóa cũng phải công nhận điều đó.

    Giáo sư nổi tiếng Keith S. Thomson bày tỏ sự vui mừng khi thấy vụ lừa đảo của Haeckel được phơi bày:

    Thế nhưng có vẻ Thomson đã quá lạc quan. Thực tế là, nhiều hình vẽ giả của Haeckel vẫn được giảng dạy trong các trường học, và được người ta xem như một “chân lý khoa học”…

    Vào tháng 3/2000, một người theo trường phái tiến hóa kiêm nhà cổ sinh vật học Stephen Jay Gould từ Đại học Harvard tuyên bố rằng từ lâu ông đã biết đây là trò gian lận. TS Gould nói rằng đây là một thảm họa trong khoa học khi các hình vẽ của Haeckel vẫn tiếp tục được sử dụng:

    Giáo sư Gavin de Beer, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Vương quốc Anh, đã miêu tả cảm nghĩ của mình như sau:

    Nhà sinh học phân tử thuộc Đại học California, tiến sỹ Jonathan Wells nhận xét:

    Tại sao những hình vẽ giả mạo của Haeckel vẫn có thể tiếp tục lừa dối rất nhiều người, dù đã được phơi bày ra công chúng từ gần 150 năm trước? Thế giới khoa học đã xác nhận vụ bê bối của Haeckel, nhưng rất nhiều người vẫn giữ thái độ im lặng một cách kỳ lạ, đặc biệt là những người theo phái tiến hóa? Họ rủ nhau im lặng suốt 150 năm như vậy vì mục đích gì? Đây là những câu hỏi khiến chúng ta phải suy ngẫm.

    Mặc dù ” thuyết lặp lại hình thái ” của Haeckel đã chính thức bị loại bỏ khỏi các sách giáo khoa, nhưng một lượng nhỏ các sách giáo khoa trên thế giới vẫn rao giảng nó. Các hình vẽ phôi bịa đặt của Haeckel – vốn là nền tảng của học thuyết đó – thì thậm chí vẫn tiếp tục được xuất bản đại trà.

    Ngày càng có nhiều tiến sỹ khoa học, các nhà bác học, các viện sỹ viện hàn lâm khoa học và các nhà khoa học đạt giải Nobel… không còn tin vào thuyết tiến hóa. Đây là điều tất yếu, bởi tri thức khoa học của thế kỷ 21 đã phơi bày những sai lầm trong các quan điểm khoa học sơ khai của thời Darwin thế kỷ 19.

    Nguồn: daikynguyenvn.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Vận Dụng Định Lý Côsin Trong Tam Giác
  • 1. Định Lý Cosin (Định Lý Hàm Cos)
  • Tìm Về Cội Nguồn Tổ Tiên
  • Trích Dẫn Các Câu Nói Về Pasteur Và Đức Tin Của Ông
  • 9 Lý Do Chứng Minh Thuyết Tiến Hóa Của Darwin Sai
  • Mối Quan Hệ Giữa Thất Nghiệp Và Gdp

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Thêm Định Luật Ôm Cho Đoạn Mạch Chỉ Có R
  • Tóm Tắt Lí Thuyết Và Phương Pháp Giải Bài Tập Định Luật Ôm Cho Đoạn Mạch Chỉ Chứa R
  • Giáo Án Môn Vật Lí 6
  • Tổng Hợp Tất Cả Công Thức Môn Vật Lý Lớp 9 Theo Từng Chương
  • Bai 2: Dien Tro Cua Day Dan
  • III. Đo lường thất nghiệp

    2.Mối quan hệ giữa thất nghiệp và GDP

    Giữa thất nghiệp và GDP có mối quan hệ thế nào?

    Chúng ta thấy khi kinh tế tăng trưởng, GDP thực tế tăng. Trong quá trình đó các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê thêm lao động nên việc làm nhiều hơn và thất nghiệp giảm.

    Ngược lại, khi lao động bị thất nghiệp làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp kèm theo sự giảm sút GDP thực tế. Mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa thất nghiệp và GDP gọi là định luật Okun (1929-1979), người đầu tiên phát hiện ra.

    Năm 1960, bằng công trình nghiên cứu thực nghiệm của mình, nhà kinh tế học người Mỹ Anthur Okun đã tiến hành khảo sát dựa trên dữ liệu về GDP và tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ thống kê được trong suốt một thời gian dài. Mối quan hệ định lượng giữa thất nghiệp và sản lượng đã được ông tìm ra và phát triển thành định luật nổi tiếng mang tên ông.

    Định luật Okun ra đời nhằm khảo sát sự biến động của chu kì kinh tế, sự giao động của mức sản lượng thực tế quanh sản lượng tiềm năng và mối quan hệ giữa chúng, trên cơ sở đó, dự báo mức tỉ lệ thất nghiệp kì vọng trong sự ràng buộc với hai biến số nêu trên.

    Định luật này cho rằng: Khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tự nhiên 2% thì thất nghiệp thực tế tăng thêm 1%.

    Ví dụ, mức thất nghiệp năm 2004 là 6%, từ 2004 tới 2006 sản lượng thực tế tăng hơn sản lượng tự nhiên 2%, do vậy tỉ lệ thất nghiệp giảm đi 1% từ 6% xuống còn 5%.

    Yt: sản lượng thực tế (GDP thực)

    Yp: sản lượng tiềm năng (GDP tiềm năng)

    Ut: tỉ lệ thất nghiệp thực tế

    Un: tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên

    y: tỉ lệ gia tăng GDP thực tế

    p: tỉ lệ gia tăng GDP tiềm năng

    Mà: *100%

    Yp Yp

    Thay biểu thức x% trên vào công thức tính tỉ lệ thất nghiệp Ut:

    Ut = Un + x/2% = Un + [(Yp – Yt)]*50%

    Bảng dữ liệu GDP của Mỹ giai đoạn 2002-2004

    (Nguồn: sách Macroeconomics, Robert J.Gorden, tái bản lần thứ 10, năm 2005)

    Ta áp dụng định luật Okun trong việc dự báo tỉ lệ thất nghiệp Ut của Mỹ năm 2003 dựa trên bảng số liệu ở trên:

    Ut = Un + x/2% = 5% + (10533.89 – 10381.33)*50% = 5.72%

    Ta có thể thấy, con số về tỉ lệ thất nghiệp thực tế ước tính được theo định luật Okun xấp xỉ với tỉ lệ thất nghiệp ghi nhận được vào năm 2003

    Ý nghĩa và ứng dụng của định luật Okun:

    Định luật Okun là một công cụ khảo sát quan trọng trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sản lượng và tỉ lệ thất nghiệp nói riêng và trong kinh tế học vĩ mô nói chung, nó là một công cụ quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách dự báo mức tỉ lệ thất nghiệp kỳ vọng tương ứng với mức sản lượng mục tiêu. Hay ngược lại, với mức sản lượng mục tiêu được tính toán trước thì ứng với đó là một tỉ lệ thất nghiệp được kỳ vọng là bao nhiêu. Từ đó làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách và chính phủ đề ra các quyết định chính xác trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô, tạo thế chủ động trong công tác dự báo kinh tế cũng như thiết kế một hệ thống an sinh xã hội phù hợp đảm bảo giải quyết hài hòa những hệ lụy mà tình trạng thất nghiệp, lạm phát có thể gây ra, ngăn chặn mọi ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.

    Biểu đồ tỉ lệ thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (1989-2008)

    – Từ năm 1989 đến năm 1990:

    + Tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4.9 %

    + Tỉ lệ thất nghiệp cao, lên đến 13% năm 1989 và 10% năm 1990, năm 1991 là 9%

    + Tốc độ tăng GDP bình quân 8.2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao nhất trong chu kì là 9.5% năm 1995.

    + Thất nghiệp giảm chỉ còn 5.8%

    + Năm 1998-1999: tốc độ tăng trưởng giảm xuống dưới mức 6%, mức thấp nhất là 4.8% vào năm 1998

    + Tỉ lệ thất nghiệp là 7%, tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn đạt mức rất cao 28.9%

    + Tăng trưởng GDP ổn định ở mức trên 7% mỗi năm, cao nhất đạt 8.5% năm 2007.

    + Tỉ lệ thất nghiệp nằm trong khoảng 4% – 5%, thấp nhất đạt mức 4.2% năm 2007.

    + Tăng trưởng GDP giảm xuống chỉ còn 6.2%

    + Thất nghiệp tăng lên 4.6%

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 11 Định Luật Ôm Đối Với Toàn Mạch (Phần 2)
  • Phương Pháp Giải Bài Tập Áp Dụng Định Luật Ôm Cho Toàn Mạch
  • Xây Dựng Và Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy Trong Dạy Và Học Học Phần Cơ Học 1 Cho Sinh Viên Ngành Sư Phạm Toán Học Ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình
  • Ba Định Luật Niu Tơn
  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Vật Lý 9 Phần Điện Học
  • Thân Thả Miễn Phí. Gia Tốc Trọng Lực. Để Trải Nghiệm Newton Về Sự Sụp Đổ Tự Do Của Cơ Thể Trong Chân Không Để Hình Thành Các Mô Hình Của Các Vật Thể Rơi Trong Các Môi Trường Khác Nhau

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Ii: Bài Tập Lực Đàn Hồi Của Lò Xo, Định Luật Húc
  • Giáo Án Vật Lí 10 Tiết 21 Bài 12: Lực Đàn Hồi Của Lò Xo
  • Định Luật Henry: Phương Trình, Độ Lệch, Ứng Dụng
  • Lý Thuyết Mới Về Lực Hấp Dẫn
  • Newton Và Những Câu Chuỵên Xung Quanh Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn
  • Được biết, tất cả các thi thể đều được trao cho mình rơi xuống đất. Cơ thể ném lên, trở về trái đất. Chúng tôi nói rằng mùa thu này là do sự hấp dẫn của trái đất.

    Đây là một hiện tượng phổ quát, và do đó, nghiên cứu về luật pháp của các cơ thể rơi tự do chỉ dưới tác động của sự hấp dẫn của trái đất được đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, các quan sát hàng ngày cho thấy trong điều kiện cơ thể bình thường đang giảm đi khác nhau. Một quả bóng nặng đang rơi qua một tờ giấy sáng rơi từ từ và trên một quỹ đạo phức tạp (Hình 1.80).

    Bản chất của phong trào, tốc độ và khả năng tăng tốc của các cơ thể rơi trong điều kiện bình thường phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của cơ thể, kích thước và hình thức của chúng.

    Các thí nghiệm nói rằng những khác biệt này là do hành động không khí đối với các cơ thể di chuyển. Chờ đợi không khí này được sử dụng và thực tế, ví dụ, khi nhảy bằng một chiếc dù. Sự sụp đổ trong dù trước và sau khi tiết lộ dù của những nhân vật khác nhau. Việc tiết lộ những chiếc dù thay đổi bản chất của chuyển động, tốc độ và khả năng tăng tốc của người nhảy dù đang thay đổi.

    Không cần phải nói rằng những chuyển động như vậy của các cơ thể không thể được gọi là rơi tự do dưới tác động của chỉ những điểm thu hút trần gian. Nếu chúng ta muốn nghiên cứu sự sụp đổ tự do của cơ thể, thì phải có hoặc hoàn toàn thoát khỏi hành động không khí, hoặc ít nhất bằng cách nào đó đều cân bằng hiệu quả của hình dạng và kích cỡ của các cơ thể đối với chuyển động của chúng.

    Nhà khoa học người Ý đầu tiên Galileo Galilee đến trước cho suy nghĩ này. Năm 1583, ông đã dành cho Pisa những quan sát đầu tiên về các đặc điểm của những quả bóng nặng miễn phí có cùng đường kính, điều tra các định luật chuyển động của các cơ thể dọc theo mặt phẳng nghiêng và sự di chuyển của các cơ thể, bị bỏ rơi ở một góc với đường chân trời.

    Kết quả của những quan sát này và cho phép Galilee mở một trong những định luật quan trọng nhất của các cơ chế hiện đại, được gọi là tên của luật Galilê: tất cả các thi thể dưới tác động của sự hấp dẫn trần gian rơi xuống trái đất với cùng một gia tốc.

    Trong công lý của pháp luật, Galilee có thể bị kết án rõ ràng về trải nghiệm đơn giản. Vị trí trong một ống thủy tinh dài một vài máy nghiền nặng, lông nhẹ và mảnh giấy. Nếu bạn đặt ống này theo chiều dọc, tất cả các mặt hàng này sẽ rơi vào nó khác nhau. Nếu bạn bơm ra ống khí, thì khi bạn lặp lại trải nghiệm, cùng một cơ thể sẽ giảm hoàn toàn như nhau.

    Trong một mùa thu tự do, tất cả các cơ thể gần bề mặt trái đất di chuyển như nhau. Ví dụ, ví dụ, để tạo ra một số ảnh chụp nhanh của một quả bóng rơi ở một khoảng thời gian bằng nhau, sau đó từ khoảng cách giữa các vị trí liên tiếp của quả bóng, có thể xác định rằng phong trào thực sự bằng mức độ. Đo các khoảng cách này, cũng dễ dàng để tính giá trị số của khả năng tăng tốc rơi tự do, tùy chỉnh để chỉ ra chữ cái

    Tại nhiều điểm khác nhau trên toàn cầu, giá trị số của gia tốc của sự sụp đổ tự do. Nó thay đổi từ khoảng từ cực đến đường xích đạo. Có điều kiện giá trị được thực hiện cho giá trị “bình thường” của khả năng giảm tự do. Giá trị này chúng ta sẽ sử dụng khi giải quyết các nhiệm vụ thực tế. Đối với các tính toán thô, đôi khi chúng ta sẽ có tầm quan trọng để quy định cụ thể này khi bắt đầu giải quyết vấn đề.

    Giá trị của luật Galilê là rất lớn. Ông thể hiện một trong những tính chất quan trọng nhất của vật chất, khiến nó có thể hiểu và giải thích nhiều tính năng của cấu trúc của vũ trụ của chúng ta.

    Luật Galilee dưới tên nguyên tắc tương đương đã tham gia vào nền tảng của lý thuyết tổng thể về trọng lực thế giới (trọng lực), được tạo ra bởi A. Einstein vào đầu thế kỷ của chúng ta. Lý thuyết này Einstein gọi là lý thuyết tổng thể của thuyết tương đối.

    Tầm quan trọng của pháp luật Galilê cũng nói rằng sự bình đẳng của các gia tốc trong Falling Tel được kiểm tra liên tục và với độ chính xác ngày càng tăng trong gần bốn trăm năm. Các phép đo nổi tiếng nhất mới nhất thuộc về nhà khoa học Hungary Etwesh và Vật lý Liên Xô V. B. Braginsky. Etwes vào năm 1912, ông đã kiểm tra sự bình đẳng của các gia tốc của sự sụt giảm miễn phí với độ chính xác của dấu chấm phẩy thứ tám. V. B. Braginsky năm 1970-1971, sử dụng thiết bị điện tử hiện đại, đã kiểm tra công lý của định luật Galilee với độ chính xác của dấu thứ mười hai của dấu phẩy trong việc xác định giá trị số

    Các thí nghiệm của Galile đã dành, ném hạt nhân từ tháp Pisan, (nhiều hơn nữa :). Newton lấy một ống thủy tinh dài, được hàn từ một đầu, đặt một miếng nút chai nhỏ và nghiền vào nó và gắn một ống vào máy bơm không khí. Máy bơm đổ hầu hết không khí.

    Tốc độ mùa thu không phụ thuộc vào trọng lượng

    Tỷ lệ mùa thu không phụ thuộc vào trọng lượng. Các mặt hàng giảm cân không có, (nhiều hơn :), đã nói nhiều Galilee hơn. Vì vậy, tôi đã kết thúc Newton, trọng lượng không phải là một tài sản cơ bản của tất cả các mặt hàng hoặc các chất. Trọng lượng, bất kỳ vật phẩm nào chỉ có cho đến khi chúng nằm trên một cái gì đó hoặc treo, và khi họ rơi – tạ thua.

    Trọng lượng là gì

    Một trong những người tiền nhiệm của Newton – Nhà toán học Philosopher của Pháp Rene Descartes lập luận rằng cân nặng – Đây là một áp lực có những thứ để hạ cánh hoặc đứng mà họ nói dối. Newton nhớ thí nghiệm của Galilee với xô. Trong khi nước tràn ra từ một cái xô này sang xô khác, tổng trọng lượng của chúng ít hơn trước đó, nước rơi tự do di chuyển, nó không trì hoãn nó, cô thực sự không cân bất cứ thứ gì trong mùa thu.

    Một khi tất cả nước hóa ra ở cái xô dưới, sự cân bằng của vảy đã được phục hồi. Và điều này cũng không gây ngạc nhiên cho Newton. Một khi tất cả nước tập trung ở lớp dưới, sau đó áp suất của nó ở phía dưới phải bằng nhau với lượng áp lực nước trong hai thùng. Nước như thể đạt được trọng lượng của nó một lần nữa.

    Tại sao các cơ thể được đặt trên giá đỡ

    Nhưng tại sao các cơ thể được đặt trên giá đỡ? Decartes này không biết. Lấy trọng lượng và đình chỉ nó vào mùa xuân. Mùa xuân kéo dài. Bây giờ chúng tôi sẽ loại bỏ trọng lượng này và nắm lấy tay của bạn cho hook của lò xo. Chúng ta có thể, nỗ lực, duỗi mùa xuân nhiều như cô ấy kéo dài cân nặng của mình. Mức độ nghiêm trọng của trọng lượng và sức mạnh của bàn tay có cùng một hành động vào mùa xuân. Điều đó có nghĩa là nguyên nhân gây áp lực của cơ thể trên chân đế là trọng lượng của chúng – là một số năng lượng. Cô được xác định bởi Newton.

    Luật y tế thế giới

    Quả cầu này thu hút một con trùm và các cơ thể khác với chính mình, giữ chúng gần chính mình. Chúng ta ở khắp mọi nơi và ở mọi nơi chúng ta thấy hiện tượng này và gọi nó rất nhiều. Nghiên cứu cũng tham gia vào Galilee. Tất cả các cơ thể, và lớn và nhỏ, thu hút nhau, gửi luật trọng lực thế giới, mở newton.. Vì vậy, trọng lượng là lực lượng mà các mặt hàng hấp dẫn đối với trái đất được đặt trên khán đài giữ. Trọng lượng là biểu hiện của thế giới. Newton đã có thể đưa luật di sản rơi vào một sự hoàn thành logic, nơi đặt sự khởi đầu của Galileo Galilee.

    Ở Hy Lạp cổ đại, các phong trào cơ học đã được phân loại tự nhiên và bạo lực. Sự sụp đổ trong cơ thể xuống đất được coi là một phong trào tự nhiên, một số đấu thầu đặc trưng “đến nơi của nó”,

    Theo bài thuyết trình về triết gia Hy Lạp cổ đại vĩ đại nhất Aristotle (384-322 BC), cơ thể rơi xuống đất, càng nhanh, khối lượng của anh càng nhiều. Quan điểm này là kết quả của trải nghiệm cuộc sống nguyên thủy: Các quan sát được hiển thị, ví dụ, những quả táo và lá táo rơi vào các tốc độ khác nhau. Khái niệm tăng tốc trong vật lý Hy Lạp cổ đại đã vắng mặt.

    Galilee sinh ra ở Pisa năm 1564 cha anh là một nhạc sĩ tài năng và một nhà giáo dục giỏi. Lên đến 11 tuổi, Galiley đến thăm trường, sau đó theo phong tục thời gian đó, giáo dục và giáo dục đã tiến hành trong tu viện. Ở đây, ông đã gặp các tác phẩm của các nhà văn Latin và Hy Lạp.

    Dưới sự hậu quả của bệnh mắt nghiêm trọng, người cha đã cố gắng giải cứu Galilê từ các bức tường của tu viện và cho anh ta một nền giáo dục tại nhà tốt, giới thiệu các nhạc sĩ, nhà văn, nghệ sĩ đến xã hội.

    17 năm Galilei vào Đại học Pisa, nơi anh học y. Ở đây, anh lần đầu tiên gặp gỡ vật lý của Hy Lạp cổ đại, chủ yếu với các tác phẩm của Aristotle, Euclide và Archimedes. Dưới ảnh hưởng của các tác phẩm của Archimedes, Galilee thích hình học và cơ học và để lại thuốc. Ông rời khỏi Đại học Pisa và trong bốn năm nghiên cứu toán học ở Florence. Ở đây, các tác phẩm khoa học đầu tiên của ông xuất hiện ở đây, và năm 1589, Galilee nhận được Bộ Toán học đầu tiên ở Pisa, sau đó ở Padua. Trong giai đoạn Padan của cuộc đời, Galilê (1592-1610) là sự hưng thị cao nhất trong các hoạt động của nhà khoa học. Tại thời điểm này, các định luật của các vật thể rơi tự do đã được xây dựng, nguyên tắc tương đối, isochron của các dao động của con lắc đã được mở, một kính viễn vọng đã được tạo ra và một số khám phá thiên văn giật gân đã được thực hiện (sự nhẹ nhõm của mặt trăng, vệ tinh của Sao Mộc, cấu trúc của Dải Ngân hà, Phase Venus, Điểm năng lượng mặt trời).

    Năm 1611, Galilee được mời đến Rome. Ở đây, ông bắt đầu một cuộc đấu tranh đặc biệt tích cực chống lại WorldView của Giáo hội để phê duyệt một phương pháp nghiên cứu thực nghiệm mới. Galilee thúc đẩy hệ thống Copernicus hơn so với nhà thờ tự phục hồi (vào năm 1616, hội chúng đặc biệt của Dominicans và Dòng Tên đã tuyên bố việc giảng dạy về Copernicus Heretical và bao gồm cuốn sách của mình vào danh sách bị cấm).

    Năm 1637, ông bị mù, nhưng tiếp tục làm việc khoa học chuyên sâu với các sinh viên Viviani và Torricelli của mình. Galiley chết năm 1642, chôn cất ở Florence trong nhà thờ Santa Croce bên cạnh Michelangelo.

    Galilê đã từ chối sự phân loại của Hy Lạp cổ đại về các phong trào cơ học. Lần đầu tiên anh ta giới thiệu các khái niệm về các phong trào thống nhất và tăng tốc và bắt đầu nghiên cứu chuyển động cơ học bằng cách đo khoảng cách và thời gian di chuyển. Các thí nghiệm của Galilee với một phong trào cơ thể cân bằng dọc theo mặt phẳng nghiêng vẫn được lặp lại ở tất cả các trường trên thế giới.

    Sự chú ý đặc biệt của Galile được trả cho nghiên cứu thí nghiệm về sự sụp đổ tự do của TEL. World Fame đã nhận được các thí nghiệm của mình trên tháp nghiêng trong Pisa. Theo viviani, Galilê ném một quả bóng nửa pound và một quả bom đứng với một tòa tháp. Trái với ý kiến. Aristotle, họ đạt đến bề mặt trái đất gần như đồng thời: quả bom đã đi trước quả bóng chỉ vài inch. Sự khác biệt này của Galilê giải thích sự hiện diện của sự kháng cự khí. Một lời giải thích như vậy đã được mới về cơ bản. Thực tế là kể từ thời Hy Lạp cổ, ý tưởng sau đây về cơ chế di chuyển của cơ thể được thành lập: di chuyển, cơ thể đặt chỗ trống rỗng đằng sau anh ta; Thiên nhiên sợ sự trống rỗng (có một nguyên tắc sai lầm về sự sợ hãi về sự trống rỗng). Không khí chạy vào sự trống rỗng và đẩy cơ thể. Vì vậy, người ta tin rằng không khí không chậm lại, nhưng ngược lại, tăng tốc cơ thể.

    Tiếp theo, Galilee đã loại bỏ một lượng lớn một thế kỷ nữa. Người ta tin rằng nếu chuyển động không được hỗ trợ bởi bất kỳ lực nào, nó sẽ dừng lại, ngay cả khi không có chướng ngại vật nào. Galilê lần đầu tiên xây dựng luật quán tính. Ông lập luận rằng nếu lực lượng hành động trên cơ thể, kết quả của hành động của nó không phụ thuộc vào việc cơ thể có nghỉ ngơi hay di chuyển hay không. Trong trường hợp rơi tự do trên cơ thể, sức mạnh của sự hấp dẫn liên tục diễn xuất, và kết quả của hành động này liên tục được tóm tắt, bởi vì theo luật của quán tính, hoạt động gây ra để được bảo tồn. Bài thuyết trình này là cơ sở của cấu trúc hợp lý của nó dẫn đến luật giảm tự do.

    Galilee đã xác định khả năng tăng tốc rơi tự do với một sai lầm lớn. Trong đối thoại, anh ta tuyên bố rằng quả bóng rơi từ độ cao 60 m trong 5 giây. Điều này tương ứng với giá trị của G, dài gần gấp đôi là đúng.

    Galilê, tự nhiên, không thể xác định chính xác G, vì không có đồng hồ bấm giờ. Cát, đồng hồ nước hoặc đồng hồ được phát minh với một con lắc không góp phần vào đếm thời gian chính xác. Việc tăng tốc của mùa thu tự do khá chắc chắn được xác định bởi những người theo chủ nghĩa trong năm 1660.

    Để đạt được độ chính xác đo lường lớn hơn, Galiley đang tìm cách để giảm tỷ lệ giảm. Điều này dẫn anh ta đến các thí nghiệm với một mặt phẳng nghiêng.

    Nhận xét về phương pháp. Nói về các tác phẩm của Galilê, điều quan trọng là phải làm rõ các sinh viên bản chất của phương pháp mà ông đã sử dụng trong việc thiết lập luật pháp tự nhiên. Lúc đầu, ông đã tiến hành một công trình hợp lý, từ đó các định luật rơi tự do đang chảy. Nhưng kết quả xây dựng logic phải được kiểm tra bởi kinh nghiệm. Chỉ sự trùng hợp ngẫu nhiên của lý thuyết với kinh nghiệm dẫn đến niềm tin trong sự công bằng của pháp luật. Để làm điều này, đo lường. Galilee đã kết hợp hài hòa sức mạnh của tư duy lý thuyết với nghệ thuật thử nghiệm. Làm cách nào để kiểm tra luật rơi tự do, nếu chuyển động rất nhanh và không có thiết bị nào để đếm các khoảng thời gian nhỏ?

    Galilee làm giảm tốc độ rơi vào ứng dụng của mặt phẳng nghiêng. Trong hội đồng quản trị đã được làm một máng, được bầu để giảm ma sát bằng giấy da. Groove đã được cười bởi một quả bóng đồng được đánh bóng. Để đo chính xác thời gian di chuyển, Galilet đã đưa ra những điều sau đây. Ở dưới cùng của một con tàu lớn với nước, một lỗ được thực hiện thông qua đó một máy bay phản lực mỏng chảy. Cô đang hướng đến một con tàu nhỏ, được cân nhắc trước. Khoảng thời gian được đo bằng sự gia tăng trọng lượng tàu! Punch Ball với một nửa, một phần tư của nó. d. Chiều dài của mặt phẳng nghiêng, Galiley phát hiện ra rằng các đường dẫn được bao phủ như các ô vuông của thời gian di chuyển.

    Khai trương luật rơi tự do

    Ở Hy Lạp cổ đại, các phong trào cơ học đã được phân loại tự nhiên và bạo lực. Sự sụp đổ trong cơ thể xuống đất được coi là một phong trào tự nhiên, một số đấu thầu đặc trưng “đến nơi của nó”,

    Theo bài thuyết trình của triết gia Hy Lạp cổ đại lớn nhất Aristotle (384-322 BC. ER), cơ thể rơi vào đuôi tàu, càng nhanh, khối lượng của anh càng nhiều. Quan điểm này là kết quả của trải nghiệm cuộc sống nguyên thủy: Các quan sát được hiển thị, ví dụ, những quả táo và lá táo rơi vào các tốc độ khác nhau. Khái niệm tăng tốc trong vật lý Hy Lạp cổ đại đã vắng mặt.

    Lần đầu tiên phát ra thẩm quyền của Aristotle, được Nhà thờ phê duyệt, nhà khoa học vĩ đại của Ý Galileo Galilee (1564 – 1642).

    Galilê đã từ chối sự phân loại của Hy Lạp cổ đại về các phong trào cơ học. Lần đầu tiên anh ta giới thiệu các khái niệm về các phong trào thống nhất và tăng tốc và bắt đầu nghiên cứu chuyển động cơ học bằng cách đo khoảng cách và thời gian di chuyển. Các thí nghiệm của Galilean với một phong trào cơ thể cân bằng dọc theo mặt phẳng nghiêng vẫn được lặp lại ở tất cả các trường trên thế giới.

    Sự chú ý đặc biệt của Galile được trả cho nghiên cứu thí nghiệm về sự sụp đổ tự do của TEL. World Fame đã nhận được các thí nghiệm của mình trên tháp nghiêng trong Pisa. Theo viviani, Galilê ném một quả bóng nửa pound và một quả bom đứng với một tòa tháp. Trái với ý kiến u200bu200bcủa Aristotle, họ đạt đến bề mặt trái đất gần như đồng thời: quả bom đã đi trước quả bóng chỉ vài inch. Sự khác biệt này của Galilê giải thích sự hiện diện của sự kháng cự khí. Một lời giải thích như vậy đã được mới về cơ bản. Thực tế là kể từ thời Hy Lạp cổ, ý tưởng sau đây về cơ chế di chuyển của cơ thể được thành lập: di chuyển, cơ thể đặt chỗ trống rỗng đằng sau anh ta; Thiên nhiên sợ sự trống rỗng (có một nguyên tắc sai lầm về sự sợ hãi về sự trống rỗng). Không khí chạy vào sự trống rỗng và đẩy cơ thể. Vì vậy, người ta tin rằng không khí không làm chậm “A, ngược lại, tăng tốc cơ thể.

    Tiếp theo, Galilee đã loại bỏ một lượng lớn một thế kỷ nữa. Người ta tin rằng nếu chuyển động không được hỗ trợ, một số lực, thì nó sẽ dừng lại, ngay cả khi không có chướng ngại vật nào. Galilê lần đầu tiên xây dựng luật quán tính. Ông lập luận rằng nếu lực lượng hành động trên cơ thể, kết quả của hành động của nó không phụ thuộc vào việc cơ thể có nghỉ ngơi hay di chuyển hay không. Trong trường hợp rơi tự do trên cơ thể, sức mạnh của sự hấp dẫn liên tục diễn xuất, và kết quả của hành động này liên tục được tóm tắt, bởi vì theo luật của quán tính, hoạt động gây ra để được bảo tồn. Bài thuyết trình này là cơ sở của cấu trúc hợp lý của nó dẫn đến luật giảm tự do.

    Galilee đã xác định khả năng tăng tốc rơi tự do với một sai lầm lớn. Trong đối thoại, anh ta tuyên bố rằng quả bóng rơi từ độ cao 60 m trong 5 giây. Điều này tương ứng với giá trị g., gần gấp đôi là đúng.

    Galilê, tự nhiên, không thể xác định chính xác g., vì không có đồng hồ bấm giờ. Cát, đồng hồ nước hoặc đồng hồ được phát minh với một con lắc không góp phần vào đếm thời gian chính xác. Việc tăng tốc của mùa thu tự do khá chắc chắn được xác định bởi những người theo chủ nghĩa trong năm 1660.

    Để đạt được độ chính xác đo lường lớn hơn, Galiley đang tìm cách để giảm tỷ lệ giảm. Điều này dẫn anh ta đến các thí nghiệm với một mặt phẳng nghiêng.

    Free Fall là một trong những hiện tượng vật lý thú vị nhất, đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học và triết gia từ thời cổ đại. Ngoài ra, đây là một trong những quy trình, các thí nghiệm mà bất kỳ cậu học sinh nào có thể đặt.

    “Lỗi triết học” Aristotle

    Người đầu tiên nhận được sự chứng minh khoa học của hiện tượng, hiện được gọi là sự sụp đổ tự do, là những nhà triết học cổ. Chúng tự nhiên không tạo ra bất kỳ thí nghiệm và thí nghiệm nào, nhưng đã cố gắng mô tả nó từ quan điểm của hệ thống triết học của riêng họ. Đặc biệt, Aristotle lập luận rằng các cơ thể nặng hơn rơi vào trái đất với tỷ lệ lớn hơn, giải thích nó bởi luật phi vật lý, nhưng chỉ có mong muốn của tất cả các mặt hàng trong vũ trụ để đặt hàng và tổ chức. Thật thú vị, không có bằng chứng thực nghiệm nào được thực hiện cùng một lúc, và tuyên bố này được coi là một tiên đề.

    Sự đóng góp của Galilê của nghiên cứu và sự thay đổi lý thuyết của mùa thu tự do

    Các nhà triết học thời trung cổ đặt vị trí lý thuyết của câu hỏi của Aristotle. Không có cơ hội chứng minh điều đó trong thực tế, họ vẫn tự tin rằng tốc độ mà cơ thể đang tiến về phía trái đất, mà không tính đến ảnh hưởng bên ngoài vẫn như cũ. Đó là từ vị trí này mà sự sụp đổ tự do và nhà khoa học người Ý vĩ đại Galiley được xem xét. Đã dành nhiều thí nghiệm, anh ta kết luận rằng tốc độ chuyển động, ví dụ, bóng đồng và vàng cho trái đất là như nhau. Điều duy nhất ngăn chặn nó là thiết lập trực quan, là sự hiện diện của sự cản trở không khí. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, nếu bạn lấy thi thể với một khối khá lớn, thì chúng sẽ hạ cánh trên bề mặt hành tinh của chúng ta về cùng một lúc.

    Nguyên tắc cơ bản của mùa thu tự do

    Từ thí nghiệm của họ, Galilee đã thực hiện hai đầu ra quan trọng. Đầu tiên, tốc độ rơi hoàn toàn là bất kỳ cơ thể nào, bất kể khối lượng của nó và vật liệu mà nó được tạo ra là như nhau. Thứ hai, khả năng tăng tốc mà đối tượng này di chuyển là không đổi, nghĩa là tốc độ trong cùng một khoảng thời gian tăng lên trên cùng một giá trị. Sau đó, một hiện tượng như vậy đã nhận được tên của mùa thu tự do.

    Tính toán hiện đại

    Tuy nhiên, ngay cả Galiley cũng hiểu những hạn chế tương đối của các thí nghiệm của mình. Rốt cuộc, bất cứ cơ thể nào anh ta sẽ thực hiện, anh ta không thể đạt được rằng họ đến bề mặt trái đất cùng một lúc: với sự kháng cự của không khí chiến đấu trong những thời điểm đó là không thể. Chỉ với sự ra đời của thiết bị đặc biệt, với sự trợ giúp của không khí từ các ống được bố hoàn toàn, có thể chứng minh bằng thực nghiệm rằng mùa thu tự do thực sự diễn ra. Trong các điều khoản định lượng, hóa ra là khoảng 9,8 m / s ^ 2, nhưng sau đó, các nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng giá trị này thay đổi, tuy nhiên, nó là vô cùng không đáng kể, tùy thuộc vào chiều cao của đối tượng trên Trái đất, cũng như như từ các điều kiện địa lý.

    Khái niệm và giá trị của sự sụt giảm miễn phí trong khoa học hiện đại

    Hiện tại, tất cả các nhà khoa học đều tuân thủ ý kiến u200bu200brằng mùa thu tự do là một hiện tượng vật lý bao gồm chuyển động cân bằng của cơ thể được đặt trong một không gian không có không khí trên bề mặt trái đất. Nó hoàn toàn không quan trọng, nó đã được cấp cho cơ thể này bất kỳ khả năng tăng tốc bên ngoài hay không.

    Phổ biến và hằng số – đặc điểm quan trọng nhất của hiện tượng vật lý này

    Tính linh hoạt của hiện tượng này là tốc độ rơi tự do của một người hoặc một con chim Feot trong chân không hoàn toàn giống nhau, đó là, với một khởi đầu đồng thời, chúng đạt đến bề mặt trái đất cũng cùng một lúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Ra Đời Của Vật Lý Thực Nghiệm (Tt)
  • Concept Of A Sale By Description
  • Chẩn Đoán Và Điều Trị Áp Xe Và Rò Hậu Môn
  • Luật Thứ Nhất Và Thứ Hai Của Faraday
  • Kiểm Tra Học Kì I Năm Học 2014
  • Năng Lượng Là Gì? Phát Biểu Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng, Bài Tập Và Các Công Thức Liên Quan
  • Công Thức Định Luật Ôm (Ohm) Cho Toàn Mạch, Định Luật Bảo Toàn Và Chuyển Hóa Năng Lượng
  • Giải Bài Tập Sbt Vật Lý Lớp 9 Bài 60: Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng
  • Bài 60: Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng
  • Định Luật Bảo Toàn Năng Lượng Và Bài Tập Ví Dụ
  • Còn trong lý thuyết tương đối thì nhà khoa học Albert Einstein đã chỉ ra rằng giữa năng lượng và khối lượng vật thể có một mối liên hệ nào đó.

    Tất cả mọi vật xung quanh chúng ta diễn ra và hoạt động được đều nhờ năng lượng và mỗi một đối tượng lại sử dụng một loại năng lượng khác nhau.

    Năng lượng được đo bởi rất nhiều đơn vị khác nhau, trong đó ta có: Jun (Joules hoặc J), calo, W, éc và BTU. Các đơn vị này sẽ được sử dụng tùy thuộc theo từng loại năng lượng và được sử dụng cho những mục đích khác nhau. Nhờ có các đơn vị này mà chúng ta cũng dễ dàng hơn trong việc chuyển đổi năng lượng từ đơn vị này sang đơn vị khác. Điều này cũng tương tự như việc chuyển khoảng cách đi bộ thành dặm và km.

    W là đơn vị được sử dụng để đo công suất hoặc dòng năng lượng. Thông thường thì các thiết bị gia dụng sẽ đo công suất bằng W, số W càng cao thì thiết bị hoạt động càng mạnh và tiêu tốn nhiều năng lượng hơn.

    Ví dụ: Máy nước nóng có công suất 1000W thì nói sẽ sử dụng 1000W cho mỗi lần sử dụng.

    Bên cạnh đó thì thời gian cũng là một phần để đo năng lượng. Nếu máy nước nóng có công suất 1000W sử dụng trong 1 giờ thì nó sẽ tiêu tốn khoảng 1kWh.

    Định luật bảo toàn năng lượng và người đã tìm ra nó

    Trong Vật lý và Hóa học, định luật bảo toàn năng lượng phát biểu rằng năng lượng của một hệ cô lập là không đổi. Điều này có nghĩa là năng lượng được bảo toàn theo thời gian. Nó không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác hoặc chuyển từ vật này sang vật khác.

    Định luật bảo toàn năng lượng ra đời là cả một quá trình nghiên cứu phát triển của rất nhiều nhà khoa học. Năm 1841 nhà Vật lý học người Đức Julius Robert Mayer (1814 – 1878) sau một chuyến đi thực tế đã nghiên cứu về “Việc xác định các lực về mặt số lượng và chất lượng” gửi đến tạp chí “Biên niên vật lý học”. Tuy nhiên bản thảo này đã không được đăng tải.

    Tới năm 1842 Mayer gửi công trình nghiên cứu thứ 2 với tên gọi “Nhận xét về các thế lực của thế giới vô sinh” đăng trên tạp chí Biên niên hóa học và dược học. Tại đây ông đã đưa ra những lập luận và phân tính sự chuyển hóa từ thế năng thành động năng. Và ông kết luận “Lực là những đối tượng không trọng lực, không bị hủy diệt và có khả năng chuyển hóa.

    Đến năm 1845 Mayer lại tiếp tục hoàn thành công trình mới tên “Chuyển động hữu cơ trong mối liên hệ với sự trao đổi chất”. Ông quyết định xuất bản công trình này thành một cuốn sách nhỏ. Cứ như vậy ba công trình của ông đã nêu lên được những tư tưởng tổng quát nhất về định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Tuy nhiên, rất không may cho ông là công trình thứ nhất không được công bố, công trình thứ 2 không được các nhà Vật Lý quan tâm. Và cứ như thế việc chứng minh định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Mayer trở nên khó khăn.

    Năm 1970 Rumpho đã thực hiện một thí nghiệm bằng cách ngâm một nòng súng trong một thùng nước và khoan nó bằng một chiếc khoan cùn. Sau khoảng 2 giờ rưỡi thì nước bắt đầu sôi. Ông cho rằng đây là thí nghiệm chứng tỏ nhiệt là một loại chuyển động, nhưng do chưa có khái niệm về công cơ học nên nghiên cứu này không mang ý nghĩa gì.

    Đến năm 1826 công cơ học ra đời và được công nhận. Cùng lúc này thí nghiệm khuấy nước nổi tiếng của James Prescott Joule đã chứng minh được sự chuyển hóa năng lượng từ công thành nhiệt năng (1854). Đây chính là nền tảng của định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng.

    Song song với các nhà nghiên cứu khác thì Hermann Ludwig Ferdinand von Helmholtz – Bác sĩ kiêm nhà Vật lý người Đức cũng đã có những công trình nghiên cứu về sự bảo toàn năng lượng (1847). Sau đó ông quyết định mở rộng phạm vi nghiên cứu và đem nó ứng dụng vào nhiều trường hợp khác nhau. Từ đó những lý luận sẵn có của các nhà khoa học trước đó được ông phát triển và lần lượt chứng minh rằng năng lượng vĩnh viễn không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển hóa thành nhiệt, âm thanh, ánh sáng,…

    Mặc dù có rất nhiều nhà nghiên cứu độc lập cùng tìm ra cách chứng minh cho tính đúng đắn của định luật bảo toàn năng lượng. Nhưng các nhà Vật Lý đều công nhận Người tìm ra định luật này đầu tiên chính là Julius Robert Mayer.

    Theo các nghiên cứu đưa ra thì năng lượng được phân chia thành các dạng phổ biến như:

    • Động năng của vật chuyển động
    • Lực hấp dẫn, điện hoặc từ’ hay chính là năng lượng tiềm tàng được lưu trữ bởi các vị trí của vật trong trường lực.
    • Lực đàn hồi được lưu trữ lại bằng cách kéo căng các vật thể rắn.
    • Năng lượng hóa học được giải phóng do nhiên liệu bị đốt cháy.
    • Năng lượng bức xạ mang theo ánh sáng
    • Năng lượng nhiệt do nhiệt độ của một vật thể nào đó.

    Tổng năng lượng của một hệ thống sẽ được phân chia thành thế năng, động năng hoặc kết hợp cả hai với nhiều cách khác nhau.

    Năng lượng động lực được xác định bởi những chuyển động của một vật thể hoặc chuyển động tổng hợp của các thành phần của một vật thể. Năng lượng tiềm năng sẽ phản ánh lên những tiềm năng của một vật thể có chuyển động. Hay nói chung đó là một chức năng đến từ vị trí của một vật thể trong một trường hoặc có thể được lưu trữ trong chính nó.

    Mặc dù hai loại này đã đủ để mô tả tất cả các dạng của năng lượng nhưng nó thường thuận tiện hơn khi đề cập đến sự kết hợp cụ thể của thế năng và động năng như dạng riêng của nó.

    Tại sao năng lượng lại quan trọng đối với đời sống con người

    Tổng năng lượng trong vũ trụ là có hạn, chúng ta không thể tạo ra hay phá hủy năng lượng mà chỉ có thể biến đổi hay chuyển đổi nó. Chúng ta không thể phủ nhận được vai trò to lớn của năng lượng đối với con người và đời sống. Bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại, phát triển của con người.

    Trong hoạt động sống, cơ thể của chúng ta cần phải nạp các loại thức ăn như: cơm cá, thịt, rau,… vào cơ thể sau đó các bộ phận sẽ chuyển hóa các chất này thành năng lượng duy trì sự sống cho cơ thể.

    Trong các hoạt động công nghiệp, sản xuất, lắp ráp, chế tạo,… thì các loại năng lượng khác nhau đến từ cả năng lượng tái tạo và năng lượng không tái tạo đã góp phần quan trọng trong việc duy trì thúc đẩy mọi mặt đời sống, kinh tế con người phát triển. Nếu không có năng lượng thì chắc chắn chưng at sẽ không có cuộc sống như ngày hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Định Luật Bảo Toàn Vĩ Đại
  • Định Luật Bảo Toàn Vật Chất: Ứng Dụng, Thí Nghiệm Và Ví Dụ
  • 10 Định Luật Cuộc Sống Chuẩn Hơn Cả Phong Thủy
  • Định Luật Tre, Định Luật Của Sự Thành Công: Định Luật Đơn Giản Thay Đổi Cuộc Đời Hàng Triệu Người
  • Bài Giảng Bài 46: Định Luật Sác
  • Các Định Luật Của Newton Về Chuyển Động Là Gì 83

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao E = Mc2?
  • Ronaldo Theo Định Luật Euclid Còn Messi Theo Trường Phái Einstein
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger”
  • Muốn Sống Hạnh Phúc: Áp Dụng “định Luật Festinger”
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng Ngay “định Luật Festinger”
  • Ba định luật Newton và trọng lực của vật

    Lượt xem:

    2.884

    Chân dung nhà toán học, vật lý học Newton

    Định luật Newton thứ nhất (định luật I):

    Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu các lực có hợp lực bằng không thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, vật đang chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.

    xét một thí nghiệm được mô tả như sau:

    Thả một viên bi trên mặt phẳng nghiêng, viên bi sẽ lăn xuống và chuyển động trên mặt phẳng ngang, trong thực tế sau một khoảng thời gian viên bi sẽ dừng lại do ma sát giữa viên bi và mặt sàn. Nếu loại bỏ hoàn toàn ma sát thì viên bi sẽ chuyển động thẳng đều mãi mãi. Tuy nhiên việc loại bỏ hoàn toàn ma sát gần như là điều không thể cho nên để kiểm chứng tính đúng đắn của định luật I bằng thực nghiệm vẫn còn là một bài toán nan giải.

    Quán tính:Quán tính là tính chất của mọi vật có xu hướng bảo toàn vận tốc cả về hướng và độ lớn

    Theo định luật I ta thấy được một tính chất đặc biệt gắn với vật mà nhờ nó dù mất đi lực tác dụng vật vẫn tiếp tục chuyển động.

    VD1: một người đang ngồi trên xe chuyển động thẳng đều bỗng nhiên xe hãm phanh người đó bị ngã người về phía trước. Tại sao lại như vậy? rõ ràng xe đã dừng lại và không có lực nào tác dụng vào người đó.

    VD2: Vào một ngày đẹp trời muốn du lịch sang Châu Âu mít đặc nghĩ ra một cách là ngồi lên kinh khí cầu bay lên khỏi mặt đất rồi đứng yên tại đó cho trái đất quay khi nào đến Châu Âu thì mít đặc sẽ đáp xuống. Tuy nhiên trong thực tế không thể làm như vậy? tại sao?

    Định luật Newton thứ hai (định luật II): Gia tốc của một vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn thỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.

    Trong đó

    a: gia tốc (m/s2);

    F: hợp lực tác dụng (N);

    m: khối lượng (kg)

    Khối lượng và mức quán tính:

    Với định nghĩa này ta có thể so sánh khối lượng của các chất bất kỳ mà không còn phụ thuộc nhiều vào định lượng của nó giống như câu đố vui 1kg sắt và 1kg bông cái nào nặng hơn.

    Trọng lực và trọng lượng:

    Trọng lực: là lực hút của trái đất tác dụng vào các vật gây ra gia tốc rơi tự do g.

    Trọng lượng: là độ lớn của trọng lực biểu thức P = m.g

    trong đó P: trọng lực (N); m: khối lượng (kg); g: gia tốc rơi tự do (m/s2)

    Định luật Newton thứ ba (định luật III): Trong mọi trường hợp khi vật A tác dụng lên vật B một lực thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này là hai lực trực đối cùng giá, cùng độ lớn, ngược chiều nhau.

    FAB : lực tác dụng của vật A lên vật B

    FBA : lực tác dụng của vật B lên vật A

    Lực và phản lực: một trong hai lực tương tác giữa hai vật gọi là lực tác dụng còn lực kia gọi là phản lực.

    Phân biệt giữa hai lực cân bằng và 2 lực trực đối

    IV/ Bài tập vận dụng ba Định luật Newton:

    Bài 1: Một vật khối lượng 8kg trượt xuống mặt phẳng nghiêng với gia tốc 2m/s2

    Bài 2: Quả bóng khối lượng 0,5 kg đang nằm yên, cầu thủ đá bóng bằng một lực 250N. Thời gian chân chạm bóng 0,02s.

    gia tốc của quả bóng: a = F/m = 250/0,5 = 500 (m/s2)

    vận tốc của quả bóng v = vo + at = 0 + 500. 0,02 = 10 (m/s) = 36 km/h

    Định luật 2 Newton – 1 trong 3 định luật quan trọng của Vật lý

    Trong việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên, đặc biệt là Vật lý, khi nghiên cứu chuyển động chúng ta biết rằng một vật khi thay đổi trạng thái chuyển động hay là bắt đầu chuyển động khi có một vật nào khác tác động lực vào. Và khi có một vật nào đó chuyển động sẽ có một lực được sinh ra gọi là gia tốc , gia tốc của vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật . Độ lớn của gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng vật. Đó cũng chính là các diễn đạt đơn giản nhất của định luật 2 Newton, trong bài viết ngày hôm nay tôi và các bạn hãy cùng nhau đi hiểu kĩ hơn về định luật 2 Newton nhé, 1 trong 3 định luật quan trọng trong vật lý

    Định nghĩa định luật 2 Newton

    Gia tốc vật thu được tỉ lệ thuận với độ lớn họp lực tác dụng lên vật và tỉ lệ nghịch với khổi lượng của vật đó. Hướng của gia tốc là hướng của hợp lực lên vật a⃗ =dv/dt

    Cách phát biểu định luật 2 Newton

    Với cách phát biểu này cho phép tính gia tốc vật thu được khi nó chịu một lực (hoặc là hợp lực) tác dụng tức là đã trả lời cho chúng ta câu hỏi ” vật sẽ chuyển động như thế nào khi chịu lực tác dụng “- đây là một câu hỏi rất hay và quan trọng, nó không gì khác hơn là mục đích cơ học. Nó giải thích vì sao đẩy càng mạnh thì vật càng chuyển động nhanh hơn hoặc chuyển động của vật dễ bị giảm lại hơn ( Vì gia tốc tỉ lệ với độ lớn hợp lực áp lên vật ) và cho biết chiều hướng chuyển động của vật sau khi tương tác với một vật khác)

    Công thức này cho ta định nghĩa khoa học về khối lượng , nói chính xác ơn là khối lượng quán tính : vật càng nặng thì càng khó tăng gia tốc hoặc càng khó hãm chuyển động của nó. Như vậy, khối lượng có quan hệ với sức ì hay sức đà mà ta gọi chúng là quán tính của vật . Do đó, người ta đã định nghĩa được khối lượng( khối lượng mà chúng ta đang nói đến là nằm trong định luật 2 Newton) như thước đó mức độ bảo toàn trạng thái chuyển động của vật và gọi đó là khổi lượng quán tính

    Chúng ta được biết rằng là chỉ cần giải thích sự thay đổi trong chuyển động chứ không phải bản thân chuyển động ! Aristotle nghĩ răng ông cần giải thích lí do của chuyển động và cả sự thay đổi của chuyển động. Newton kế thừa tư tưởng của Galieo chống lại trường phái Aristotle nhấn mạnh rằng chuyển động không cần phải giải thích, nó là một thuộc tính tự nhiên, chỉ có sự biến đổi của chuyển động là đòi hỏi một nguyên nhân vật lí. Do vậy , lực chỉ là nguyên nhân nhỏ làm biến đổi chuyển động chứ nó không phải lại nguyên nhân cơ bản của chuyển động

    Định luật này chính là một chuẩn mực đề kết luận một hệ quy chiến là quán tính hay là phi quán tính. Từ đó, ta định nghĩa hệ quy chiếu quán tính là hệ quy chiếu tuân thủ nghiêm ngặt định luật 2 Newton. Các định luật của Newton nó chỉ nghiệm đúng trọng hệ quy chiếu quán tính tức là hệ quy chiếu chuyển động thẳng đều hoặc đứng yên so với một mốc cố định. Thật vậy , khi chúng ta quan sát vật A chuyển động mà thằng đều cho nhận xét ” lực là nguyên nhân làm thay đổi chuyển dộng” khi thấy một vật chuyển động với gia tốc a ,nhưng một quan sát vật B khác di chuyển với gia tốc a theo hướng của vật ( đối với quan sát viên A) thì lại thấy vật đó đứng yên và đưa ra kết luận “không có lực nào tác dụng lên vật” vì hệ quy chiếu của B là phi quán tính. A và B cho 2 kết luận mâu thuẫn bởi hệ quy chiếu của vật A và B khác nhau về bản chất

    Từ định luật 2 Newton chúng ta có thể đưa ra kết luận rằng là lực chính là nguyên nhân chính gây ra chuyển động của một vật, và chính lực có thể làm cho vật dừng lại . Với bài viết này chúng tôi mong có thể giúp bạn có thể hiểu thêm được một phần gì đó về các định luật vật lí nói chung và 1 trong 3 định luật Newton nói riêng.

    Các định luật Niu tơn (Newton), công thức và ý nghĩa của định luật Niu tơn

    I. ĐỊNH LUẬT I NIU-TƠN

    1. Thí nghiệm của Ga-li-lê

    a) Thí nghiệm

    – Ông dùng hai máng nghiêng giống như máng nước, rất trơn rồi thả một hòn bi cho lăn xuống theo máng nghiêng 1. Hòn bi lăn ngược lên máng 2 đến một độ cao gần bằn độ cao ban đầu. Khi hạ thấp độ nghiêng của máng 2, hòn bi lăn trên máng 2 được một đoạn đường dài hơn.

    – Ông cho rằng hòn bi không lăn được đến độ cao ban đầu là vì có ma sát. Ông tiên đoán nếu không có ma sát và nếu hai máng nằm ngang thì hòn bi sẽ lăn với vận tốc không đổi mãi mãi.

    b) Nhận xét: Nếu không có lực ma sát thì không cần đến lực để duy trì chuyển động của một vật.

    2. Định luật I Niu-tơn

    – Phát biểu định luật I Niu-tơn: Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.

    3. Quán tính

    – Quán tính là tính chất của mọi vật có xu hướng bảo toàn vận tốc cả về hướng và độ lớn.

    – Định luật I được gọi là định luật quán tính và chuyển động thẳng đều được gọi là chuyển động theo quán tính.

    4. Ý nghĩa của định luật I Niu-tơn

    – Mọi vật đều có khả năng bảo toàn vận tốc gọi là quán tính, biểu hiện của quán tính là:

    ◊ Xu hướng giữ nguyên trạng thái chuyển động thẳng đều

    ◊ Xu hướng giữ nguyên trạng thái đứng yên

    – Chuyển động của một vật không chịu tác dụng của lực gọi là chuyển động theo quán tính.

    II. ĐỊNH LUẬT II NIU-TƠN

    1. Định luật II Newton

    – Phát biểu định luật II Niu-tơn: Gia tốc của một vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.

    2. Khối lượng và mức quán tính

    a) Định nghĩa

    – Khối lượng là đại lượng đặc trưng cho mức quán tính của vật.

    b) Tính chất của khối lượng

    – Khối lượng là một đại lượng vô hướng, dương và không đổi đối với mỗi vật.

    – Khối lượng có tính chất cộng: Khi nhiều vật được ghép lại thành một hệ vật thì khối lượng của hệ bằng tổng khối lượng của các vật đó.

    3. Trọng lực. Trọng lượng

    – Trọng lực là lực của Trái Đất tác dụng vào các vật, gây ra cho chúng gia tốc rơi tự do.

    – Độ lớn của trọng lực tác dụng lên một vật gọi là trọng lượng của vật, ký hiệu là P.

    – Trọng lượng của vật được đo bằng lực kế.

    4. Ý nghĩa của định luật II Niu-tơn

    – Định luật II Niu-tơn cho biết mối liên hệ giữa hợp lực, gia tốc và khối lượng của vật, từ đó có thể ứng dụng trong công nghiệp sản xuất máy móc, dụng cụ có khối lượng hợp lý, giảm ma sát khi cần thiết.

    – Thí dụ khi thiết kế xe đua F1 (Formula 1) cần giảm khối lượng xe, thân xe giảm lực cản,… để có thể tăng tốc nhanh.

    III. ĐỊNH LUẬT III NIU-TƠN

    1. Sự tương tác giữa các vật

    – Khi một vật tác dụng lên vật khác một lực thì vật đó cũng bị vật kia tác dụng ngược trở lại một lực. Ta nói giữa 2 vật có sự tương tác.

    2. Định luật II Niu-tơn

    – Phát biểu định luật II Newton: Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này có cùng giá, cùng độ lớn, nhưng ngược chiều.

    3. Lực và phản lực

    * T rong tuơng tác giữa hai vật, một lực gọi là lực tác dụng, còn lực kia gọi là phản lực.

    * Lực và phản lực có những đặc điểm sau đây:

    – Lực và phản lực luôn luôn xuất hiện (hoặc mất đi) đồng thời.

    – Lực và phản lực là hai lực trực đối (cùng giá, cùng độ lớn nhưng ngược chiều).

    – Lực và phản lực không cân bằng nhau vì chúng đặt vào hai vật khác nhau.

    IV. Bài tập vận dụng các định luật Niu-tơn

    * Bài 1 trang 64 SGK Vật Lý 10: Phát biểu định luật I Niu – Tơn. Quán tính là gì?

    ° Lời giải Bài 1 trang 64 SGK Vật Lý 10:

    – Phát biểu định luật I Niu-tơn: Nếu mỗi vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không, thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.

    – Quán tính: là tính chất của mọi vật có xu hướng bảo toàn vận tốc cả về hướng và độ lớn.

    * Bài 2 trang 64 SGK Vật Lý 10: Phát biểu và viết hệ thức của định luật II Niu-tơn.

    ° Lời giải Bài 2 trang 64 SGK Vật Lý 10:

    – Phát biểu Định luật II Niu-tơn: Gia tốc của vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.

    * Bài 3 trang 64 SGK Vật Lý 10: Nêu định nghĩa và các tính chất của khối lượng.

    ° Lời giải Bài 3 trang 64 SGK Vật Lý 10:

    ¤ Tính chất của khối lượng:

    – Khối lượng là một đại lượng vô hướng, dương và không đổi đối với mỗi vật.

    – Khối lượng có tính chất cộng: khi nhiều vật được ghép lại thành một hệ vật thì khối lượng của hệ bằng tổng khối lượng của các vật đó.

    * Bài 4 trang 64 SGK Vật Lý 10: Trọng lượng của một vật là gì? Viết công thức của trọng lực tác dụng lên một vật.

    ° Lời giải Bài 4 trang 64 SGK Vật Lý 10:

    – Trọng lượng của một vật là lực hút của Trái Đất tác dụng vào vật, gây cho vật gia tốc rơi tự do.Độ lớn của trọng lực tác dụng lên một vật gọi là trọng lượng của vật.

    * Bài 5 trang 64 SGK Vật Lý 10: Phát biểu và viết hệ thức của định luật III Niu-tơn.

    ° Lời giải Bài 5 trang 64 SGK Vật Lý 10:

    – Phát biểu định luật III Niu-tơn: Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lên vật A một lực. Hai lực này có cùng giá, cùng độ lớn, ngược chiều nhưng đặt vào hai vật khác nhau:

    – Một trong hai lực trên gọi là lực tác dụng, thì lực kia gọi là phản lực.

    – Lực và phản lực là hai lực trực đối không cân bằng.

    ° Lời giải Bài 6 trang 64 SGK Vật Lý 10:

    ¤ Đặc điểm của lực và phản lực trong tương tác giữa hai vật là:

    – Lực và phản lực luôn luôn xuất hiện (hoặc mất đi) đồng thời.

    – Lực và phản lực là hai lực trực đối (cùng giá, cùng độ lớn nhưng ngược chiều).

    – Lực và phản lực không cân bằng nhau vì chúng đặt vào hai vật khác nhau.

    * Bài 7 trang 65 SGK Vật Lý 10: Một vật đang chuyển động với vận tốc 3 m/s. Nếu bỗng nhiên các lực tác dụng lên nó bị mất đi thì

    A. vật dừng lại ngay

    B. vật đổi hướng chuyển động

    C. vật tiếp tục chuyển động chậm dần rồi mới dừng lại

    D. vật tiếp tục chuyển động theo hướng cũ với vận tốc 3 m/s.

    Chọn đáp án đúng.

    ° Lời giải Bài 7 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    ¤ Chọn đáp án: D. vật tiếp tục chuyển động theo hướng cũ với vận tốc 3 m/s.

    – Nếu hợp lực tác dụng lên vật bằng 0 thì: Nếu vật đang đứng yên thì tiếp tục đứng yên, nếu vật đang chuyển động thì vẫn chuyển động thẳng đều theo hướng cũ.

    – Như vậy: Một vật đang chuyển động với vận tốc 3m/s. Nếu bỗng nhiên các lực tác dụng lên nó mất đi thì vật tiếp tục chuyển động theo hướng cũ với vận tốc 3m/s.

    * Bài 8 trang 65 SGK Vật Lý 10: Câu nào đúng?

    A. Nếu không chịu lực nào tác dụng thì mọi vật phải đứng yên.

    B. Khi không còn lực nào tác dụng lên vật nữa, thì vật đang chuyển động sẽ lập tức dừng lại.

    C. Vật chuyển động được là nhờ có lực tác dụng lên nó.

    D. Khi thấy vận tốc của vật thay đổi chắc chắn là đã có lực tác dụng lên vật.

    ° Lời giải Bài 8 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    ¤ Chọn đáp án: D. Khi thấy vận tốc của vật thay đổi chắc chắn là đã có lực tác dụng lên vật.

    – Vì khi thấy vận tốc của vật thay đổi thì chắc chắn đã có lực tác dụng lên nó (theo định luật II Niu-tơn: F = m.a, vận tốc thay đổi thì a ≠ 0 → F ≠ 0).

    – A, B, C đều sai vì (theo định luật I Niu-tơn): Khi không chịu lực nào tác dụng thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động thẳng đều.

    * Bài 9 trang 65 SGK Vật Lý 10: Một vật đang nằm yên trên mặt bàn nằm ngang. Tại sao có thể khẳng định rằng bàn đã tác dụng một lực lên nó?

    ° Lời giải Bài 9 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    – Bàn tác dụng lên vật một lực cân bằng với trọng lực tác dụng lên vật làm cho hợp lực tác dụng lên vật bằng không, vật nằm yên.

    * Bài 10 trang 65 SGK Vật Lý 10: Trong các cách viết hệ thức của định luật II Niu – tơn sau đây, cách viết nào đúng?

    ° Lời giải Bài 10 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    * Bài 11 trang 65 SGK Vật Lý 10: Một vật có khối lượng 8,0 kg trượt xuống một mặt phẳng nghiêng nhẵn với gia tốc 2,0 m/s2 . Lực gây ra gia tốc này bằng bao nhiêu? So sánh độ lớn của lực này với trọng lượng của vật. Lấy g = 10 m/s2.

    A. 1,6 N, nhỏ hơn

    B. 16 N, nhỏ hơn

    C. 160 N, lớn hơn

    D. 4 N, lớn hơn.

    ° Lời giải Bài 11 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    ¤ Chọn đáp án: B.16 N, nhỏ hơn

    – Chọn chiều dương là chiều chuyển động của vật.

    – Áp dụng định luật II Newton ta có:

    – Chiếu (*) lên phương chuyển động ta được: F = ma = 8.2 = 16(N).

    – Trọng lực tác dụng lên vật là: P = mg = 8.10 = 80(N).

    ⇒ Lực F nhỏ hơn trọng lực P.

    * Bài 12 trang 65 SGK Vật Lý 10: Một quả bóng, khối lượng 0,50 kg đang nằm yên trên mặt đất. Một cầu thủ đá bóng với một lực 250 N. Thời gian chân tác dụng vào bóng là 0,020 s. Quả bóng bay đi với tốc độ.

    ° Lời giải Bài 12 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    ¤ Chọn đáp án: D.10 m/s.

    – Áp dụng định luật II Newton ta có:

    – Quả bóng bay đi với vận tốc: v = v0 + at = 0 + 500.0,02 = 10 (m/s).

    * Bài 13 trang 65 SGK Vật Lý 10: Trong một tai nạn giao thông, một ô tô tải đâm vào một ô tô con đang chạy ngược chiều. Ô tô nào chịu lực lớn hơn ? Ô tô nào nhận được gia tốc lớn hơn? Hãy giải thích.

    – Theo định luật III Niu – tơn, ta suy ra hai ô tô chịu lực bằng nhau (về độ lớn) và do đó cũng theo định luật II Niu – tơn ô tô tải có khối lượng lớn hơn nên nhận được gia tốc nhỏ hơn, ô tô con có khối lượng nhỏ hơn nên nhận gia tốc lớn hơn (nên ô tô nhỏ thường bị văng xa hơn, thiệt hại nặng hơn).

    * Bài 14 trang 65 SGK Vật Lý 10: Để xách một túi đựng thức ăn, một người tác dụng vào túi một lực bằng 40 N hướng lên trên. Hãy miêu tả “phản lực” (theo định luật III) bằng cách chỉ ra

    a) Độ lớn của phản lực.

    b) Hướng của phản lực.

    c) Phản lực tác dụng lên vật nào?

    d) Vật nào gây ra phản lực này?

    ° Lời giải Bài 14 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    a) Theo định luật III Newton

    ⇒ F21 = F12 = 40N

    ⇒ Độ lớn của phản lực là 40 N

    b) Hướng xuống dưới (ngược với chiều người tác dụng).

    c) Tác dụng vào tay người.

    d) Túi đựng thức ăn.

    * Bài 15 trang 65 SGK Vật Lý 10: Hãy chỉ ra cặp “lực và phản lực” trong các tình huống sau:

    a) Ô tô đâm vào thanh chắn đường;

    b) Thủ môn bắt bóng;

    c) Gió đập vào cánh cửa.

    ° Lời giải Bài 15 trang 65 SGK Vật Lý 10:

    a) Lực mà ô tô tác dụng (đâm) vào thanh chắn, theo định luật III Niu-tơn, thanh chắn phản lại một lực tác dụng vào ô tô.

    b) Lực mà thủ môn tác dụng vào quả bóng và phản lực của quả bóng tác dụng vào tay thủ môn.

    c) Lực của gió tác dụng vào cánh cửa và phản lực của cánh cửa tác dụng vào gió.

    Ứng dụng 3 định luật Newton để tăng năng suất công việc

    3 định luật Newton không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực vật lý học mà chúng còn ẩn chứa nhiều điều thú vị trong mối liên hệ với năng suất công việc và cuộc sống.

    • Ngay bây giờ, bạn cảm thấy không muốn chạy. Nhưng nếu bạn đi giày, lấy một chai nước và bước ra khỏi cửa thì bạn sẽ có động lực để bắt đầu chạy hơn đấy.
    • Ngay bây giờ, bạn đang nhìn vào một file Word trắng xóa trên màn hình và cảm thấy không nghĩ ra được gì để viết bản bảo cáo. Tuy nhiên, nếu viết ra một vài câu ngẫu nhiên trong ít hơn 2 phút, bạn sẽ thấy chúng thực sự hữu ích để viết tiếp những câu sau.
    • Ngay bây giờ, sự sáng tạo của bạn bị chặn lại và bạn chẳng thể nào vẽ ra thứ gì nên hồn cả. Nhưng nếu vẽ một đường ngẫu nhiên trên giấy và biến nó thành một con vật bất kỳ thì khả năng sáng tạo của bạn sẽ được khơi dậy.

    Có rất nhiều lực năng suất trong cuộc sống như sự tập trung, tích cực và động lực. Nhưng cũng có nhiều lực không năng suất như căng thẳng, thiếu ngủ và cố gắng làm nhiều việc cùng lúc.

    Theo James Clear.

    Dịch: Van Anh

    Trái Đất nặng bao nhiêu kg và làm cách nào để cân được nó

    Trái Đất là hành tinh thứ 3 trong Hệ Mặt Trời, hình thành cách đây 4,6 tỷ năm và là hành tinh duy nhất có sự sống. Nhưng làm thế nào để đo đạc kích thước của Trái Đất?

    Hiện nay, có hai phương pháp chính để tính khối lượng của Trái Đất. Cách đơn giản nhất là đo trọng lượng của một đối tượng trên bề mặt Trái Đất rồi suy ra khối lượng bằng công thức nổi tiếng của Isaac Newton năm 1687 về định luật vạn vật hấp dẫn, kết nối khoảng cách và khối lượng của hai đối tượng với lực hấp dẫn mà chúng tạo ra.

    Isaac Newton Jr. (1643 – 1727) là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học và nhà giả kim thuật lỗi lạc người Anh, được nhiều người cho rằng là nhà khoa học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng còn lớn hơn cả Einstein.

    Trong cuốn luận thuyết Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các Nguyên lý Toán học của Triết học Tự nhiên) xuất bản năm 1687, ông đã mô tả về luật vạn vật hấp dẫn và đưa ra 3 định luật Newton, được coi là nền tảng của cơ học cổ điển, đã thống trị các quan niệm về vật lý, khoa học trong suốt 3 thế kỷ tiếp theo.

    Bằng phương pháp của Newton, cho thấy khối lượng của Trái Đất là khoảng 6,102 x 10^24 kg. Tuy nhiên, phép đo này chỉ là gần đúng, do vì trái đất không hoàn toàn hình cầu nên bán kính không đồng nhất. Vì vậy, con số khối lượng này hiện chỉ được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu.

    Phương pháp thứ hai phức tạp hơn, dựa trên định luật thứ ba của Kepler từ thế kỷ XVII. Johannes Kepler (1571 – 1630), là một nhà toán học, thiên văn học và chiêm tinh học người Đức. Là một trong những đại diện của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17, Kepler được biết đến nhiều nhất bởi các định luật về chuyển động thiên thể mang tên ông. Phương pháp này kết nối các thông số quỹ đạo của vệ tinh (thời gian di chuyển và hình dạng của quỹ đạo) với khối lượng của đối tượng mà nó quay quanh.

    Để thực hiện điều này, năm 1976, NASA đã đưa lên quỹ đạo vệ tinh Lageos-1, là một quả cầu lớn bằng hợp kim đồng – kẽm được bao phủ với những mặt lõm phản xạ có đường kính 60 cm. Thời gian trễ giữa đường truyền và phản xạ của tia laser được ghi nhận nhằm suy ra khoảng cách của vệ tinh với trái đất gần như chính xác tuyệt đối giúp thiết lập được giá trị của khối lượng trái đất chính xác 5,972 x 10^24 kg.

    Tuy nhiên, đối với khoa học, vẫn luôn cần tới những con số chính xác tuyệt đối, do vậy hiện nay các phương pháp đo lường mới vẫn đang được nghiên cứu. Vì nếu có được con số chính xác vể khối lượng của trái đất là điều rất quan trọng, nhờ đó có thể hiểu được cấu trúc bên trong của trái đất, sự tương tác giữa các hành tinh với nhau hoặc dự đoán được quỹ đạo các vệ tinh.

    Các định luật về chuyển động của Newton – Wikipedia tiếng Việt

    1. Định luật I (Định luật quán tính): Một vật không chịu tác dụng của một lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng 0, hay còn nói cách khác là các lực cân bằng thì nó vẫn giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động đều.
    2. Định luật II: Vector gia tốc của một vật luôn cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của vector gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của vector lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật. Định luật này thường được phát biểu dưới dạng phương trình F=ma, với F là lực tác dụng lên vật, m là khối lượng của vật và a là gia tốc của vật đó.
    3. Định luật III: Khi một vật tác dụng lực lên vật thể thứ hai, vật thứ hai sẽ tác dụng một lực cùng độ lớn và ngược chiều so với vật thứ nhất.

    Cả ba định luật được nhà vật lý học Isaac Newton tìm ra lần đầu tiên và được xuất bản trong cuốn sách Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica (Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên) năm 1687.

    Các định luật chuyển động của Newton đều được áp dụng cho các vật thể được lý tưởng hóa thành các chất điểm với kích thước vô cùng nhỏ so với quỹ đạo của nó. Do vậy, các định luật này có thể áp dụng được cả với các ngôi sao và các hành tinh, khi mà kích thước của các vật thể rất lớn nhưng vẫn có thể coi là các chất điểm nếu so sánh với quỹ đạo của chúng

    Ban đầu, các định luật của Newton không thể sử dụng được với chuyển động của các vật rắn hoặc các vật thể có khối lượng biến đổi. Năm 1750, Leonard Euler tổng quát hoá các định luật của Newton và đưa ra Các định luật về chuyển động của Euler. Nếu như một vật rắn được biểu thị như tập hợp của vô số chất điểm thì định luật của Euler có thể được coi là một hệ quả của định luật Newton. Tuy nhiên, các định luật của Euler có thể áp dụng cho chuyển động của các vật thể mà không cần biết đến hình dáng của vật thể.

    Định luật I của Newton được phát biểu như sau:

    Một vật thể sẽ giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều nếu như không có một lực nào tác dụng lên nó hoặc nếu như tổng các lực tác dụng lên nó bằng 0

    Định luật có thể viết dưới dạng toán học:

    F

    =

    0

    d

    v

    d

    t

    =

    0.

    {displaystyle sum mathbf {F} =0;Rightarrow ;{frac {mathrm {d} mathbf {v} }{mathrm {d} t}}=0.}

    Lex I: Corpus omne perseverare in statu suo quiescendi vel movendi uniformiter in directum, nisi quatenus a viribus impssis cogitur statum illum mutare.

    Nguyên bản tiếng Latin từ cuốn Principa, 1687

    Nhà khoa học Hy Lạp cổ Aristotle tin rằng tất cả mọi thứ đều có vị trí riêng của nó trong vũ trụ. Những vật nặng như hòn đá hay cây cỏ do vậy sẽ có xu hướng ở lại Trái Đất, còn những vật nhẹ như lửa hay không khí sẽ có xu hướng ở trên không trung và những ngôi sao sẽ có xu hướng ở trên thiên đàng và René Descartes.

    Định luật I chỉ ra rằng lực không phải là nguyên nhân cơ bản gây ra chuyển động của các vật, mà đúng hơn là nguyên nhân gây ra sự thay đổi trạng thái chuyển động (thay đổi vận tốc/động lượng của vật).

    Nếu không xét tới các lực quán tính, định luật I của Newton chỉ nghiệm đúng trong các hệ quy chiếu quán tính, tức là hệ quy chiếu có vận tốc không đổi so với nhau. Nói cách khác, định luật I tiên đoán sự tồn tại của ít nhất một hệ quy chiếu quán tính, trong đó vật thể không thay đổi vận tốc nếu như tổng các lực tác dụng lên nó bằng 0. Nếu áp dụng định luật này đối với các hệ quy chiếu phi quán tính, chúng ta phải thêm vào lực quán tính. Khi đó, tổng lực bằng lực cơ bản cộng lực quán tính. Như vậy, định luật I Newton còn có thể phát biểu dưới dạng:

    Trong mọi vũ trụ hữu hình, chuyển động của một chất điểm trong một hệ quy chiếu cho trước Φ sẽ được quyết định bởi tác động của các lực luôn triệt tiêu nhau khi và chỉ khi vân tốc của chất điểm đó bất biến trong Φ. Nói cách khác, một chất điểm luôn ở trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều trong hệ quy chiếu Φ trừ khi có một ngoại lực khác 0 tác động lên chất điểm đó.

    Định luật II phát biểu như sau:

    Sự biến thiên động lượng của một vật thể tỉ lệ thuận với xung lực tác dụng lên nó, và véctơ biến thiên động lượng này sẽ cùng hướng với véctơ xung lực gây ra nó

    Định luật có thể viết dưới dạng toán học:

    t

    p

    =

    F

    .

    {displaystyle mathrm {t} ,{vec {p}}={vec {F}}.}

    Với:

    • F

      {displaystyle {vec {F}}}

      là tổng ngoại lực tác dụng lên vật (trong SI, lực đo bằng đơn vị N)

    • p

      {displaystyle {vec {p}}}

      là động lượng của vật (trong SI, động lượng đo bằng đơn vị kg m/s)

    • t là thời gian (trong SI, thời gian đo bằng đơn vị s)

    Lex II: Mutationem motus proportionalem esse vi motrici impssae, et fieri secundum lineam rectam qua vis illa imprimitur.

    Nguyên bản tiếng Latin từ cuốn Principa, 1687

    Theo phát biểu ban đầu của Newton, xung lực J được hiểu như là tích phân của một ngoại lực F trong khoảng thời gian Δt :

    J

    =

    F

    d

    {displaystyle mathbf {J} =int _{Delta t}mathbf {F} ,mathrm {d} t.}

    Từ đó ta có:

    J

    =

    F

    d

    d

    p

    .

    {displaystyle mathbf {J} =mathbf {F} ,mathrm {d} t=mathrm {d} mathbf {p} .}

    hay:

    F

    =

    d

    p

    d

    t

    =

    d

    v

    )

    d

    t

    .

    {displaystyle mathbf {F} ={frac {mathrm {d} mathbf {p} }{mathrm {d} t}}={frac {mathrm {d} (mmathbf {v} )}{mathrm {d} t}}.}

    Bởi vì chủ yếu các vật thể sẽ có khối lượng không thay đổi [12], định luật thường được biết đến dưới dạng:

    F

    =

    m

    d

    v

    d

    t

    =

    m

    a

    ,

    {displaystyle mathbf {F} =m,{frac {mathrm {d} mathbf {v} }{mathrm {d} t}}=mmathbf {a} ,}

    Với F là ngoại lực tác dụng lên vật, m là khối lượng của vật và a là gia tốc của vật. Như vậy, mọi ngoại lực tác dụng lên vật sẽ sản sinh ra một gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của lực. Nói cách khác, nếu một vật có gia tốc, ta biết có lực tác dụng lên vật đó.

    Phương trình toán học trên đưa ra một định nghĩa cụ thể và chính xác cho khái niệm lực. Lực, trong vật lý, được định nghĩa là sự thay đổi của động lượng trong một đơn vị thời gian. Như vậy, tổng ngoại lực tác dụng lên một vật tại một thời điểm nhất định (lực tức thời) được biểu thị bởi tốc độ thay đổi động lượng của vật tại thời điểm đó. Động lượng của vật biến đổi càng nhanh khi ngoại lực tác dụng lên vật càng lớn và ngược lại.

    Ngoài việc đưa ra định nghĩa cho lực, định luật 2 Newton còn là nền tảng của định luật bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn cơ năng. Hai định luật này có ý nghĩa quan trọng trong việc đơn giản hóa nghiên cứu về chuyển động và tương tác giữa các vật.

    Trong cơ học cổ điển, khối lượng có giá trị không đổi, bất kể chuyển động của vật. Do đó, phương trình định luật 2 Newton trở thành:

    F

    =

    d

    p

    d

    t

    =

    d

    m

    v

    d

    t

    =

    m

    d

    v

    d

    t

    {displaystyle {vec {F}}={frac {d{vec {p}}}{dt}}={frac {dm{vec {v}}}{dt}}=m{frac {d{vec {v}}}{dt}}}

    F

    =

    m

    a

    {displaystyle {vec {F}}=m{vec {a}}}

    Với:

    Như vậy trong cơ học cổ điển, tổng ngoại lực bằng tích của khối lượng và gia tốc.

    Cũng trong cơ học cổ điển, khi không xét tới lực quán tính, định luật 2, giống như định luật 1, chỉ đúng trong hệ quy chiếu quán tính. Khi áp dụng cho hệ quy chiếu không quán tính, cần thêm vào lực quán tính.

    Trong thuyết tương đối hẹp, định luật 2 Newton được mở rộng để áp dụng cho liên hệ giữa lực-4 và động lượng-4 hay gia tốc-4:

    F

    a

    =

    d

    P

    a

    d

    τ

    <annot

    Cây táo của Newton và hành trình đi khắp thế giới

    Toán học và vật lí thường được coi là môn khoa học khô khan. Nhưng thứ tình cảm cuồng nhiệt họ dành cho cây táo Newton cũng đáng yêu đấy chứ.

    Tại trang viên Woolsthorpe ở Lincolnshire (Anh) nơi nhà vật lí học, toán học và thiên văn học Isaac Newton lớn lên có một cây táo vẫn đang tồn tại qua nhiều thế kỉ. Đây là cây táo mọc lên từ cành của cây táo đã giúp Newton có những gợi mở về định luật hấp dẫn. Cây táo Gravity ban đầu đã gãy đổ vào năm 1816.

    Một cây táo có nguồn gốc từ cây táo Gravity đang được trồng ở trường Trinity College (một trường thành viên của Cambridge) nơi Newton từng làm nghiên cứu sinh. Nhiều cây khác được trồng tại đài thiên văn Parkes ở Úc. Một cây khác nữa hiện đang được chăm sóc tại Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ). Những lứa cây con cháu của cây táo Newton từ Woolsthorpe đã chu du đến khắp các trường đại học và viện nghiên cứu trên các châu lục (trừ châu Nam Cực).

    Cây táo của Newton giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử của khoa học. Năm 1665, chàng trai trẻ Newton trở về ngôi nhà của gia đình để tránh nạn dịch hạch đang bùng phát. Sau khi nhìn thấy một quả táo rơi từ trên cây xuống đất, Newton bắt đầu xem xét thứ sức mạnh đã kéo các vật thể rơi thẳng về phía trái đất. Đó chính là viên gạch đầu tiên cho định luật vạn vật hấp dẫn mà ông công bố vào năm 1687.

    Nhiều người cho rằng đây chỉ là một câu chuyện không có thật. Nhưng chính Newton đã từng thừa nhận rằng học thuyết của mình bắt nguồn từ việc nhìn thấy một quả táo rơi xuống đất khi đang sống tại Woolsthorpe. Nhà vật lí học R.G. Keesing đã tập hợp những câu chuyện và nguồn thông tin về cây táo này, bao gồm những câu chuyện từ Voltaire và cháu của Newton. Chúng ta khó có thể chắc chắn rằng liệu câu chuyện này có được tạo ra hay thêm thắt bởi ai đó hay chính Newton hay không. Nhưng theo những tìm hiểu của Keesing thì chắc chắn câu chuyện này có một phần sự thật trong đó.

    Cây táo ở trang viên Woolsthorpe đã sống một cuộc đời thú vị. Nó có lẽ đã được trồng từ những năm 1650, rồi gãy một phần vào năm 1816. Danh tiếng của Newton và cây táo Gravity đã phần nào được thần thoại hóa. Một phần cây đổ được làm thành một chiếc ghế, những mảnh gỗ cây được làm thành đồ lưu niệm.

    Phần còn lại của cây bắt đầu được nhân giống ở nhiều nơi. Một nhánh cây được đưa tới trồng gần Belton Park vào năm 1820. Vào thập niên 30 của thế kỉ 20, Trung tâm nghiên cứu trái cây ở Đông Malling đã mang một phần của cây táo này đi. Từ đây, cái cây hay đúng hơn là những hậu duệ của nó đã được mang tới khắp nơi trên thế giới, trồng tại những trường đại học, đài thiên văn, vườn bách thảo và các trung tâm nghiên cứu.

    Điều mà những nơi này nhận được không phải chỉ là một cây ăn quả mà còn là một phần của lịch sử.

    Những phiên bản cây táo Newton này được trồng bằng cách ghép cành hoặc gieo từ hạt. Cây táo này thuộc giống Flower of Kent, một giống táo vỏ xanh xen đỏ thường dùng trong nấu ăn. Loại táo này có quả to, thịt quả bở và vị không nổi bật.

    Không dễ gì có được một cây táo Newton. Nguồn cung cấp chính vẫn là từ vùng Đông Malling. Tuy nhiên đưa cây táo qua biên giới không phải chuyện đơn giản do những quy định về sâu bọ, bệnh dịch khiến cây cần được kiểm tra thậm chí cách ly. Tệ hơn nữa là bạn có thể mua phải một cây “giả”. Ngay chính Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada cũng từng sở hữu một cây táo Newton “giả”, chẳng có liên hệ gì với cây gốc, thậm chí còn chẳng phải thuộc giống Flower of Kent.

    Câu chuyện thú vị nhất về những cây táo Newton có lẽ phải kể đến những cây táo được trồng ở vùng khí hậu khác xa Woolsthorpe. Một trong số đó là cây táo ở Trung tâm Liên hiệp đại học về Thiên văn và Vật lí thiên văn ở Pune – IUCAA (Ấn Độ). Tại đây một bức tượng của Newton đang nằm dưới tán một cây đa, chứ không phải một cây táo. Hình tượng “không hợp lí” này đã khiến vị giám đốc tiền nhiệm của trung tâm này hành động.

    Somak Raychaudhury

    Những cây táo Newton sống được ở IUCAA khoảng một thập kỉ trước khi héo tàn. Nguyên nhân có thể do nhiệt độ tại Pune tăng lên, dân số đông lên khiến môi trường ô nhiễm hơn. Trung tâm này vẫn muốn có cây táo Newton của riêng mình. Họ đang thử nghiệm tăng sức chịu đựng thời tiết cho giống táo Flower of Kent bằng cách ghép nó với giống táo bản địa Ấn Độ.

    Nhiều nơi khác trên thế giới cũng làm điều tương tự: khi những cây táo Newton của họ chết đi, họ sẽ trồng những cây mới với số lượng lớn hơn rất nhiều. Họ muốn có một cây táo của riêng mình vì tính biểu tượng của nó. Rất nhiều người làm trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng lớn từ các công trình nghiên cứu của Newton, dù ở thật xa nước Anh, đều có chung một suy nghĩ như vậy.

    Toán học và vật lí thường được coi là môn khoa học khô khan. Nhưng thứ tình cảm cuồng nhiệt họ dành cho cây táo Newton cũng đáng yêu đấy chứ.

    Newton có làm nông kém hay không chúng ta sẽ không bao giờ biết những chắc chắn ông đã là người mở đường và khai phá trong nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên, giúp chúng ta có công cụ tính toán được chuyển động của trái đất và các hành tinh, đưa ra các định luật về chuyển động, đặt những viên gạch đầu tiên cho nền thiên văn học ngày nay… Thế nên có lẽ cũng hợp lí khi hạt giống từ cây táo Newton đã được đi thăm Trạm vũ trụ quốc tế vào năm 2021. Cây táo này chắc chắn đã trở thành cái cây có lịch sử du hành “hoành tráng” nhất thế giới.

    Nguồn: Atlas Obscura

    Biên dịch: Xanh Va

    Áp dụng định luật Newton trong đời sống để làm việc hiệu quả hơn

    Những bài học của môn Vật Lý, nếu biết áp dụng trong đời sống thường ngày, bạn sẽ làm việc hiệu quả hơn. Các định luật của Newton là một trong số đó.

    Năm 1678, Isaac Newton xuất bản cuốn The Principia: Mathematical Principles of Natural Philosophy. Trong đó, có 3 định luật về chuyển động mà chúng ta đã biết qua môn Vật lý thời trung học.

    Những tưởng “duyên nợ” với Vật lý học đã chấm dứt, nhưng đến khi đi làm, bạn có thể sẽ phát hiện ra nhiều điểm tương đồng thú vị giữa định luật Newton và các nguyên tắc làm việc hiệu quả đấy.

    “Nếu như không có lực nào tác động (hoặc tổng các lực tác động bằng 0), một vật đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, một vật chuyển động đang chuyển động sẽ chuyển động thẳng đều.

    Cũng giống như một vật đứng yên sẽ mãi đứng yên, nếu trì hoãn, bạn sẽ mãi không hoàn thành được việc gì cả.

    Mọi thay đổi bắt đầu với một lực tác động, và lực tác động đấy phải do chính mình tạo ra.

    Điều này thấy rõ nhất khi mới tập chạy bộ. Chúng ta sẽ luôn trong trạng thái lần lữa, cho đến khi chịu mang giày chạy vào và bước ra khỏi nhà.

    Hoặc khi viết, nếu cứ ngồi im nhìn trang giấy trắng, chúng ta có thể mất rất nhiều thời giờ mà chẳng viết ra được gì. Thay vì vậy, hãy thử viết ra một chữ hoặc một dòng. Tuy không hoàn hảo, nhưng đó là điểm khởi đầu.

    Và tin tôi đi, chỉ cần có điểm khởi đầu này, mọi thứ sẽ “vào guồng” ngay lập tức. Bạn sẽ tiếp tục tiến tới và tiến tới.

    Định luật 2:

    “Gia tốc của một vật cùng hướng với hợp lực tác dụng. Độ lớn của gia tốc tỷ lệ thuận với độ lớn của hợp lực và tỷ lệ nghịch với khối lượng của vật”

    Phát biểu này có thể được rút ngắn lại qua công thức:

    Trong đó, F là hợp lực tác dụng lên vật, m là khối lượng của vật và a là gia tốc, tạm hiểu là khả năng thay đổi tốc độ của vật qua thời gian.

    Nghe hơi lùng bùng lỗ tai, nhưng có thể diễn dịch theo cách sau:

    Khi động lực làm việc của mình (F) càng lớn thì khả năng làm việc nhanh hơn (a) của mình càng cao, và ngược lại.

    Khi bản thân mình lo nghĩ quá nhiều, mang vác đủ thứ trách nhiệm nặng nề (m lớn), khả năng làm việc nhanh hơn (a) của mình càng thấp.

    Câu chuyện rút ra ở đây là gì?

    Là nên đơn giản hóa cuộc sống, làm ngắn lại to-do-list. Thay vì ôm đồm nhiều việc, hãy chỉ tập trung vào vài việc quan trọng nhất.

    Đó là cách để làm việc hiệu quả hơn.

    Đồng thời, nên có cho bản thân một động lực đủ lớn để làm việc. Nhưng cũng nên nhớ rằng, cả F lẫn a đều là những đại lượng có hướng.

    Nó nói lên một điều: Làm nhiều, làm chăm thôi không đủ, mà còn phải làm đúng nữa. Chẳng ai muốn chạy hùng hục theo vòng tròn để rồi trở lại vị trí ban đầu đúng không nào?

    “Khi vật A tác dụng lên vật B một lực thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này cùng nằm trên một đường thẳng, có cùng phương nhưng ngược chiều.”

    Khi làm việc, mỗi người đều giống như bị giằng co giữa hai lực cùng phương, ngược chiều.

    Một lực đẩy ta tiến lên: sự tập trung, tư duy tích cực, niềm vui và sự chăm chỉ.

    Một lực kéo ta tụt lại: stress, sự lơ đễnh, bi quan, buồn chán và lười nhác.

    Những ai nóng vội sẽ tìm cách tăng cường lực đẩy: thức khuya dậy sớm, uống cà phê để làm thêm giờ.

    Việc này nhất thời sẽ giúp tiến nhanh. Nhưng về lâu dài sẽ phá hủy sự cân bằng vốn có, khiến sức khỏe mình sa sút. Đó chính là tác động một lực lớn để bị nhận lại một phản lực cũng lớn không kém.

    Cách tối ưu nhất không phải là tăng lực đẩy, mà là triệt tiêu mọi lực tác động xung quanh, cả đẩy lẫn kéo, để tìm về trạng thái tự nhiên nhất: Làm mà như không làm.

    Đó là sự cân bằng đích thực, là niềm vui giản dị của lao động mà tất cả chúng ta nên có.

    Ảnh: Internet.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lược Sử Về Thuyết Tương Đối Của Einstein
  • Các Định Luật Di Truyền Của Menđen
  • 8 Định Luật Tiến Hoá Phần Mềm Của Lehman
  • Luật Của Morgan / Toán Học
  • 7 Tư Duy Làm Giàu Của Người Do Thái
  • Tin tức online tv