Xem Nhiều 5/2022 # Đại Cương Gãy Xương # Top Trend

Xem 18,711

Cập nhật thông tin chi tiết về Đại Cương Gãy Xương mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Doisonggiaitri.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 18,711 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Gan Nhiễm Mỡ Là Gì? Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Cách Điều Trị
  • Bệnh Gan Nhiễm Mỡ (Fatty Liver Disease)
  • Cập Nhật Hội Chứng Thận Hư – Pgs.ts. Hà Hoàng Kiệm
  • Hội Chứng Thận Hư Nguyên Phát Ở Người Trưởng Thành
  • Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Hô Hấp
  • ĐẠI CƯƠNG GÃY XƯƠNG

    Link bài giảng: https://drive.google.com/drive/folders/1rb71G1dEJx1uhiUaZMzuP3W-7SadkEUt

    ĐẠI CƯƠNG GÃY XƯƠNG

     Ts. bs. Lê Quang Trí

    Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:

    1. Trình bày được định nghĩa, 7 cách phân loại, 4 giai đoạn tiến triển của gãy xương.

    2. Mô tả được 6 triệu chứng lâm sàng, hình ảnh X Quang của gãy xương.

    3. Nhận thức được gãy xương là một cấp cứu cần được xử trí một cách khẩn trương và đúng kỹ thuật.

    I. ĐẠI CƯƠNG GÃY XƯƠNG

    1.1. Định nghĩa 

    Gãy xương là tình trạng thương tổn làm mất tính liên tục của xương do nguyên nhân có thể do chấn thương hoặc do bệnh lý. Mất tính liên tục hoàn toàn gọi là gãy xương hoàn toàn, mất tính liên tục không hoàn toàn gọi là gãy xương không hoàn toàn (hình 1).

    Hình 1. Hình ảnh gãy xương.

    1.2.2. Theo cơ chế gãy xương

    Chấn thương trực tiếp là gãy xương xảy ra tại vị trí lực chấn thương tác động vào. Xương thường bị gãy ngang hoặc gãy nhiều mảnh , lực chấn thương còn gây nên các thương tổn tại tổ chức phần mềm.

    – Chấn thương gián tiếp là gãy xương xảy ra ở vị trí xa nơi lực chấn thương tác động. Các lực tác động vào xương có thể dưới các dạng:

    + Lực giằng dật, co kéo: thường gây bong đứt các mấu, các mỏm xương nơi bám của các gân hoặc dây chằng.

    + Lực gập góc: làm tăng độ cong của xương, xương gãy ở điểm yếu với mảnh gãy chéo vát, có thể có mảnh rời hình cánh bướm.

    + Lực xoay: xảy ra khi bệnh nhân bị ngã chân tỳ giữ trên mặt đất trong khi người bị xoay. Xương thường bị gãy chéo vát hoặc xoắn vặn.

    + Lực đè ép: thường gây gãy lún ở các vùng xương xốp. Điển hình là ngã từ cao đập gót xuống đất gây sập đồi gót, lún mâm chày, gãy cổ xương đùi, gãy xẹp thân đốt sống.

    1.2.3. Theo tính chất gãy

    Gãy xương không hoàn toàn xương chỉ bị tổn thương 1 phần không mất hoàn toàn tính liên tục.

    Gãy dưới cốt mạc: đường gãy nằm dưới cốt mạc, cốt mạc không bị rách ổ gãy thường không di lệch. Loại gãy này thường xảy ra ở trẻ em do lớp cốt mạc dày dai khó bị rách.

    Gãy rạn hoặc nứt xương: vết nứt chỉ ở 1 phía của vỏ xương.

    Gãy cành xanh: là kiểu gãy toác giống như bẻ 1 cành cây xanh, ở loại gãy này 1 bên vỏ xương bị gãy toác còn bên kia bị cong lõm vào gây ra di lệch gập góc.

    Gãy lún: là loại gãy xảy ra ở các vùng xương xốp, các bè xương xốp bị lún ép lại dưới tác động của 1 lực nén ép. Ví dụ: gãy lún thân đốt sống, gãy lún mâm chày (hình 3)

    Hình 3. A. Gãy lún thân đốt sống B. Gãy cành xanh

    Ngoài ra còn có các kiểu đường gãy đặc biệt khác như:

    Gãy cắm gắn là loại gãy xương ở vị trí tiếp giáp giữa đầu xương và thân xương, do lực chấn thương gián tiếp. Đầu xương cứng cắm vào xương xốp. Gãy xương vững và liền xương nhanh.

    Gãy bong dứt điểm bám: do các co kéo đột ngột của các cơ làm bong đứt 1 mẩu xương tại chỗ bám của gân cơ và dây chằng. Ví dụ bong mấu đông lớn xương cánh tay, bong lồi củ trước xương chày, bong gai chày, …

    1.2.6. Theo di lệch của các đầu xương gãy

    Gãy xương không di lệch: xương bị gãy nhưng các đầu gãy không bị di lệch. Thường gặp trong các loại gãy xương không hoàn toàn.

    Gãy xương có di lệch: các đầu xương gãy bị lệch khỏi vị trí.

    Cơ chế di lệch: di lệch ổ gãy xương do các yếu tố sau: lực co kéo của các cơ, tác động của lực chấn thương, tác động của trọng lượng chi. Lực co kéo của các nhóm cơ và trọng lượng chi gây ra những di lệch điển hình, di lệch do chấn thương là các di lệch không điển hình nó phụ thuộc vào hướng tác động và độ mạnh của lực chấn thương.

    Các loại di lệch: khi xác định di lệch phải lấy đầu gãy trung tâm làm chuẩn và đánh giá mức độ di lệch của đầu gãy ngoại vi so với đầu gãy trung tâm. Di lệch bao gồm 5 loại :

    +Di lệch sang bên: đầu xương gãy ngoại vi có thể ra trước, ra sau, vào trong hoặc ra ngoài so với đầu xương gãy trung tâm. Mức độ di lệch sang bên được đánh giá theo các mức: 1 vỏ xương, nửa thân xương, 1 thân xương hoặc trên 1 thân xương.

    +Di lệch chồng hoặc di lệch gây ngắn chi: là loại di lệch làm các đầu xương gãy di lệch chồng lên nhau. Làm cho chiều dài chi bị ngắn đi so với bình thường. Mức độ di lệch được tính bằng cm

    +Di lệch gập góc: trục của đoạn gãy trung tâm và đoạn gãy ngoại vi di lệch tạo thành góc. Có 2 cách tính góc: góc di lệch là góc tạo bởi vị trí bị lệch đi của đoạn ngoại vi với vị trí ban đầu của nó, góc mở là góc tạo bởi trục của đoạn gãy ngoại vi so với trục đoạn gãy trung tâm (hình 5).

    +Di lệch xoay: đoạn ngoại vi di lệch xoay quanh trục. Di lệch này có thể nhận biết trên phim X Quang bằng cách so sánh tư thế của đầu gãy trung tâm và đầu gãy ngoại vi.

    Hình 5. Di lệch ổ gãy A. Mở góc ra ngoài B. mở góc vào trong B. Mở góc ra sau C. Mở góc ra trước

    1.3. Tiến triển tại xương gãy: 4 giai đoạn (hình 7 )

     

    II. TRIỆU CHỨNG GÃY XƯƠNG .

    2.2. Triệu chứng cận lâm sàng

    3.2. Điều trị tại chổ (xương gãy)

    3.2.1. Mục tiêu của điều trị gãy xương

              + Nẹp vải, đai Desault cho các xương chi trên

              + Băng dính cố đinh cho gãy xương đòn, xương sườn, ngón tay và chân, ….

              + Nẹp bột hoặc bó bột cho ổ gãy chi trên và dưới.

              + Bất động tại giường với một số gãy cắm gắn cổ xương đùi, …

              + Nghỉ ngơi và sử dụng thuốc giảm đau, giảm viêm.

    3.2.3. Điều trị phẫu thuật: đây là phương pháp đươc áp dụng sau khi nắn, điều trị bảo tồn thất bại. Ngoài ra còn được sử dụng trong điều trị gãy xương hở, gãy xương phạm khớp di lệch, gãy xương bệnh lý, gãy Galeazzi, gãy Monteggia, gãy xương kèm tổn thương mạch máu, thần kinh, …

              Nguyên tắc của phẫu thuật nắn chỉnh, kết hợp xương của Lambotte[3]

    +  Bộc lộ: ổ gãy được bộc lộ vừa đủ rộng qua một đường mổ chính xác và hợp lý.

    + Nắn chỉnh các mảnh gãy được tiến hành dưới sự quan sát và thao tác trực tiếp.

    + Cố định tạm thời trước các mảnh gãy bằng kim Kirschner nếu cần thiết.

    + Cố định vững chắc các mảnh gãy bằng nẹp vít, nẹp khóa, đinh nội tủy, …

    Ưu điểm của phẫu thuật: cho phép nắn chỉnh xương đúng hình thể giải phẫu, bất động vững, tránh di lệch thứ phát. Người bệnh có thể tập vận động sớm, tránh teo cơ, cứng khớp, …

    3.3. Phục hồi chức năng: góp phần phục hồi chức năng cho chi gãy, tránh các biến chứng do nằm lâu, do bất động chi gãy, ….

     

    IV. BIẾN CHỨNG CỦA GÃY XƯƠNG

              4.1. Biến chứng sớm

              4.1.1. Toàn thân

              + Shock: do đau, do mất máu,…

              + Thuyên tắc phổi do mỡ: xảy ra trong 72 giờ sau chấn thương, do sự xuất hiện những hạt mỡ nhỏ trong máu (palmitin và stearine ở trẻ em, olein ở người lớn) đi vào nhu mô phổi và tuần hoàn ngoại vi khi xương dài bị gãy. Nó thường khởi phát trong 24 đến 48 giờ nhưng đôi khi có thể xuất hiện muộn sau nhiều ngày. Đây là một biến chứng đáng sợ thường gặp ở bệnh nhân gãy nhiều xương, gãy xương lớn, gãy xương chậu, tổn thương nhiều cơ quan như lồng ngực, bụng, đầu, …Thuyên tắc mỡ gặp khoảng 10 đến 45% ở bệnh nhân gãy nhiều xương và là nguyên nhân hàng đầu gây nên mức độ nguy kịch và tỷ lệ tử vong cao(11%) ở bệnh nhân gãy nhiều xương và đa chấn thương.

              4.1.2. Tại chổ:

    + Chèn ép khoang là sự tăng áp lực trong khoang kín (khoang này được tạo ra bởi xương, cân, vách gian cơ), hậu quả của những tổn thương mạch máu và có thể do tổn thương không hồi phục của những cấu trúc bên trong khoang. Hội chứng chèn ép khoang thường gặp ở cẳng chân, cẳng tay, bàn chân, …

              + Gãy kín thành gãy hở, tổn thương mạch máu và thần kinh thứ phát do cố định không vững: đầu xương gãy xé phần mềm ra môi trường bên ngoài, cắt vào mạch máu và thần kinh, …

              4.2. Biến chứng muộn

              4.2.1. Toàn thân: loét điểm tì, viêm phổi, viêm đường niệu, …

              4.2.2. Tại chổ

    + Can xương lệch do nắn chỉnh không đúng trục, di lệch thứ phát sau nắn chỉnh và cố định, …

              + Chậm liền xương: can xương chưa liền sau một thời gian đủ để liền xương (3 tháng). Tại chổ gãy vẫn còn đau, thường do bất động không tốt, hay gặp ở người già.

              + Khớp giả: quá hai lần thời gian liền xương thông thường mà ổ gãy không liền, bệnh nhân còn đau ít hoặc không đau, còn cử động bất thường tại ổ gãy. Khớp giả thường gặp ở bệnh nhân bị gãy xương phức tạp, mất nhiều xương, ổ gãy di lệch nhiều, chèn phần mềm vào giữa ổ gãy, …

              + Teo cơ, cứng khớp, loãng xương do bất động lâu, không tập luyện,…

              Tài liệu tham khảo

    1. Bùi Văn Đức – Gãy xương và trật khớp. Bài giảng Bệnh học ngoại khoa. Tập V. Trường Đại học Y Dược chúng tôi trang: 101-110. 1989.

    2. Sơ cứu bất động gãy xương – Giáo trình huấn luyện kỹ năng 2 ĐHYD Cần Thơ (p.59-69)

    3. John Ebnezar – Textbook of Orthopedics, Devaraj Urs Medical College Kolar, Karnataka, 2010, p: 16-18.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Gan: Triệu Chứng, Điều Trị Và Cách Phòng Ngừa Hữu Hiệu
  • Bệnh Viêm Gan Là Gì?
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Của Du Lịch Y Tế Và 3 Loại Hình Du Lịch Y Tế
  • Viêm Loét Dạ Dày Tá Tràng: Chẩn Đoán & Hướng Điều Trị Đúng Cách
  • Dịch Tễ Học – Covid Reference
  • Bạn đang xem bài viết Đại Cương Gãy Xương trên website Doisonggiaitri.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!