Bàn Về Khái Niệm Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Quốc Tế Bằng Đường Biển

Xem 5,544

Cập nhật thông tin chi tiết về Bàn Về Khái Niệm Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Quốc Tế Bằng Đường Biển mới nhất ngày 17/04/2021 trên website Doisonggiaitri.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 5,544 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa
  • Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Bằng Đường Biển
  • Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Được Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào?
  • Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Bằng Đường Sắt Là Gì? Các Khái Niệm Liên Quan
  • Mẫu Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Mới Mà Bạn Nên Biết!
  • Bài viết phân tích và đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Trên cơ sở đó, nghiên cứu các loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển theo pháp luật Hàng hải Việt Nam, góp phần vào việc nâng cao hiểu biết của các cá nhân, tổ chức về Luật Hàng hải quốc tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng.

    Từ khóa: Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, hợp đồng quốc tế, pháp luật hàng hải Việt Nam.

    1. Đặt vấn đề

    Trong những năm qua, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng đối với nền hàng hải thế giới. Ở Việt Nam, vận tải đường biển thực sự có ý nghĩa rất quan trọng. Ước tính lượng hàng hóa quốc tế vận chuyển chiếm tới 80% tổng lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhiều công ty vận chuyển đường biển cũng đã xuất hiện và ngày càng phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc cần phải có các quy định pháp luật điều chỉnh phù hợp. Sự ra đời của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2021 đánh dấu bước phát triển mới trong thị trường vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, các thương nhân Việt Nam đã có cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho việc ký kết các hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển.

    Hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), yêu cầu đặt ra đối với chúng ta là cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật để điều chỉnh hoạt động dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển cho phù hợp hơn với các yêu cầu thực tiễn của Việt Nam và quốc tế. Hiểu biết pháp luật sẽ giúp bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng cho các bên trong giao dịch hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại hàng hải của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.

    2. Nội dung phân tích

    2.1. Khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển

    Ngoài ra, có thể tìm thấy yếu tố này trong nhiều điều ước quốc tế về hợp đồng như Công ước La Hay (1986) về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán quốc tế, Công ước Geneve (1983) về đại diện trong mua bán quốc tế hoặc trong bộ Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế PICC của UNIDROIT (Điều 1)… đều dựa trên tiêu chí các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng.

    Thứ nhất, có ít nhất một bên chủ thể ký kết hợp đồng có quốc tịch nước ngoài hay có trụ sở ở nước ngoài.

    Thứ hai, hợp đồng được ký kết hoặc thực hiện ở nước ngoài;

    Thứ ba, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa tồn tại ở nước ngoài;

    Thứ tư, do đặc thù của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nên hàng hóa trong hợp đồng được vận chuyển từ các cảng biển của quốc gia hay vùng lãnh thổ này tới các cảng biển của quốc gia hay vùng lãnh thổ khác.

    Theo Điều 145, Bộ luật Hàng hải Việt Nam (2015), hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được định nghĩa như sau: ” Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng “. Từ quy định này có thể hiểu hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển của Việt Nam mang tính dịch vụ, là hoạt động doanh nghiệp khai thác tàu biển của mình để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng và thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả. Người chuyên chở chính là người cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường biển.

    Trong thực tiễn pháp luật, một số nước cũng có sự quy định tương đồng với quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Điều 41, Bộ luật Hàng hải Trung Quốc (1992), quy định: ” Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là một hợp đồng theo đó ngư­ời vận chuyển cam kết vận chuyển bằng đư­ờng biển những hàng hóa mà ngư­ời gửi hàng đã ký hợp đồng vận chuyển từ cảng này đến một cảng khác và được thanh toán tiền cước.” Bộ luật Hàng hải Trung Quốc (1992) tiếp cận khái niệm hợp đồng vận chuyển theo góc độ truyền thống, quy định hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển giữa người vận chuyển với người gửi hàng và người vận chuyển được thu tiền cước vận chuyển.

    Điều 133, Luật Hàng hải thương mại của Ucraina (1995), quy định ” Theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, người vận chuyển hoặc người thuê tàu cam kết vận chuyển hàng hóa được người gửi hàng giao cho từ cảng nhận hàng tới cảng đích và giao hàng cho người được ủy quyền thích hợp (người nhận hàng), và người gửi hàng hoặc người thuê tàu cam kết trả một khoản tiền nhất định cho việc vận chuyển đó”. Luật Hàng hải thương mại của Ucraina (1995) quy định cụ thể hơn về người nhận hàng, trong quan hệ sở hữu với hàng hóa được chuyên chở, người nhận hàng có thể là chủ sở hữu của hàng hóa, hoặc là người được ủy quyền để nhận hàng hóa từ người chuyên chở, để giao lại cho người chủ sở hữu đối với hàng hóa đó. Người nhận hàng là người chịu trách nhiệm đối với hàng hóa từ khi nó rời khỏi tàu đến khi nó được giao cho người chủ sở hữu.

    Theo pháp luật của nhiều quốc gia, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trước hết là sự thỏa thuận giữa bên vận chuyển hàng hóa và bên thuê vận chuyển hàng hóa. Theo đó, bên thuê vận chuyển thu tiền cước vận chuyển và vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng đích và giao hàng hóa cho người nhận hàng. Qua đây, ta có thể hoàn chỉnh khái niệm: Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển được hiểu là sự thỏa thuận giữa bên vận chuyển hàng hóa và bên thuê vận chuyển hàng hóa, theo đó, bên vận chuyển thu phí dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hoá từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng nằm ở những quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau.

    2.2. Các loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển theo pháp luật Hàng hải Việt Nam

    Trong kinh doanh hàng hải quốc tế hiện nay, có nhiều cách phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Căn cứ vào đối tượng của hợp đồng, người ta có thể phân thành hợp đồng chuyên chở hàng khô, hàng lỏng, hợp đồng chuyên chở hàng hóa nguy hiểm, độc hại…

    Cách phân loại phổ biến hiện nay là dựa vào phương thức thuê tàu. Thực tiễn hàng hải quốc tế có 2 phương thức chủ yếu để các bên có thể thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, đó là: phương thức chuyên chở hàng hóa bằng tàu chợ và phương thức chuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến. Tương ứng với các phương thức này, các bên có thể ràng buộc trách nhiệm với nhau thông qua hai loại hợp đồng vận chuyển chính, là: hợp đồng thuê tàu chợ theo chứng từ vận chuyển và hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến.

    Thực tiễn cho thấy, tại một số nước như Singapore, Trung Quốc – quy định theo hướng hợp đồng thuê tàu chuyến và vận đơn đường biển, còn một số nước thì lại quy định phân loại theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng tàu chuyến và hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng tàu chợ. Điều 44, Bộ luật Hàng hải Trung Quốc (1992) quy định hình thức hợp đồng theo chứng từ vận chuyển là “vận đơn hoặc các chứng từ tương tự khác tạo nên bằng chứng hợp đồng”. Theo khoản 2, Điều 25, Luật Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển của Singapore (2007) quy định có hai hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, là: hợp đồng thuê tàu chuyến và vận đơn đường biển. Hợp đồng thuê tàu chuyến được dùng trong trường hợp vận chuyển hàng hóa trên một chuyến tàu theo lộ trình hay nhiều chuyến. Luật vận chuyển hàng hóa bằng đường biển của Singapore quy định về vận đơn đường biển có 3 chức năng: là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển, là biên lai nhận hàng hóa và là chứng từ sở hữu hàng hóa.

    Pháp luật Việt Nam hiện nay cũng phân loại hợp đồng dựa trên cơ sở phương thức thuê tàu. Bộ luật Hàng hải Việt Nam (2015), tại Điều 146 cũng quy định có hai loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển và hợp đồng thuê tàu chuyến. Theo khoản 1, quy định ” Hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chứng từ vận chuyển là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hóa để vận chuyển”.

    Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển hay còn gọi là hợp đồng thuê tàu chợ thường được áp dụng trong các trường hợp chủ hàng có khối lượng hàng hóa không lớn, chủ yếu là những lô hàng lẻ, giữa cảng đi và cảng đến có tuyến đường tàu chợ. Tàu chợ là tàu chạy thường xuyên trên một tuyến đường nhất định, ghé qua những cảng nhất định theo một lịch trình định trước. Do tàu chạy theo một luồng có sẵn, có lịch trình định trước nên chủ hàng có thể dự kiến thời gian giao hàng, đồng thời tính toán được chi phí vận chuyển vì giá cước thuê tàu chợ đã được quy định sẵn trong biểu mẫu. Tuy nhiên, hợp đồng này khi thực hiện có nhược điểm là nếu cảng xếp dỡ hàng nằm ngoài lịch trình quy định của tàu thì việc tổ chức chuyên chở sẽ trở nên thiếu linh hoạt. Nhờ hợp đồng này, chủ hàng có thể chủ động thuê chở bất cứ loại hàng nào, không hạn chế về số lượng, xác định được thời gian giao hàng tại cảng và không phải lo việc xếp dỡ hàng hóa lên xuống tàu (trách nhiệm này thuộc về chủ tàu). Ngược lại, do chi phí xếp dỡ đã được tính trong biểu cước nên cước phí tàu chợ luôn ở mức cao và người thuê vận chuyển muốn giảm giá cước thì phải thông qua thương lượng đàm phán.

    Hạn chế lớn nhất của loại phương thức này là người thuê vận chuyển không được tự do thỏa thuận các điều kiện chuyên chở mà thường phải chấp nhận các điều khoản do chủ tàu in sẵn trong vận đơn đường biển. Thủ tục ký kết hợp đồng thuê tàu chợ rất đơn giản và nhanh chóng. Để lưu khoang tàu chợ, thông thường người thuê chở yêu cầu người chuyên chở hay đại lý thuê tàu lưu khoang một phần chiếc tàu chở hàng cho mình. Nếu người chuyên chở đồng ý thì giữa hai bên ký kết hợp đồng chuyên chở sơ bộ (Booking note) với mức cước nhất định.

    Theo khoản 2, Điều 146, Bộ luật Hàng hải (2015) quy định: Hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, được giao kết với điều kiện người vận chuyển dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể để vận chuyển hàng hóa theo chuyến.

    Theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến thì chủ tàu cho người thuê tàu toàn bộ hay một phần chiếc tàu để chuyên chở hàng hóa từ cảng này đến cảng khác và được hưởng tiền cước chuyên chở theo quy định của hợp đồng thuê tàu do hai bên thỏa thuận ký kết.

    Hợp đồng vận chuyển theo chuyến được sử dụng trong phương thức thuê tàu chuyến. Tàu chuyến được hiểu là loại tàu không chạy thường xuyên trên một tuyến đường nhất định, không đi qua những cảng nhất định và không theo một lịch trình đã định trước. Trong phương thức thuê tàu chuyến, tàu không chạy theo lịch trình cố định như tàu chợ, mà theo yêu cầu của chủ hàng.

    Khác với tàu chợ, tàu chuyến hoạt động không theo một lịch trình định trước, mà lịch trình của nó được đặt ra theo yêu cầu của người thuê tàu. Hàng hóa chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chuyến thường là đầy tàu và được vận chuyển nhanh. Do không phải ghé qua các cảng định trước như trường hợp vận chuyển bằng tàu chợ, nên giá cước vận chuyển rẻ hơn. Mặt khác, tàu có thể thay đổi cảng xếp, cảng dỡ một cách dễ dàng nên hợp đồng có tính linh hoạt cao.

    Hợp đồng thuê tàu chuyến là văn bản pháp lý ràng buộc nghĩa vụ của người thuê vận tải và người vận tải. Hợp đồng thuê tàu chuyến thông thường được đàm phán, ký kết theo một thủ tục phức tạp hơn nhiều so với thuê tàu chợ. Mọi điều khoản đều được hai bên tự do thương lượng trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau. Người chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chuyến có thể là chủ tàu nhưng cũng có thể là người thuê tàu của người khác để chuyên chở kinh doanh thu tiền cước. Người thuê tàu để vận chuyển hàng hóa có thể là người xuất khẩu và cũng có thể là người nhập khẩu.

    3. Kết luận

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Stewart E. Sterk (1994), The Marginal Relevance of Choice of Law Theory, 142 U. Pa. L. Rev. 949, tr.10.
    2. Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG 1980) – United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods.
    3. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2006), Hội nhập kinh tế quốc tế (Tài liệu Bồi dưỡng ngành Tư pháp), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
    4. Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, gọi tắt là Công ước Brussels năm 1924 (Quy tắc Hague).
    5. Công ước Liên hợp quốc về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 1978 (Quy tắc Hamburg).
    6. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật Hàng hải.
    7. Maritime Code of the People’s Republic of China 1992.
    8. The Merchant Shipping Code of Ukraine 1995.
    9. The shipping law of Singapore 2007.

    Discussing concepts of international sea cargo transportation contracts

    Lecturer, Faculty of International Law, Hanoi Law University

    This article analyzes and introduces the complete concept of international contract of sea cargo transportation in order to distinguish it from other contracts involving foreign elements. This article also analyzes other types of contracts of international sea cargo transportation according to Vietnam’s maritime laws, contributing to improving the understanding of inpiduals and organizations regarding the International Maritime Law, to protect the legitimate rights and interests of parties involved in signing and implementing the contract.

    Keywords: International sea cargo transportation, international contracts, Vietnamese maritime laws.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa
  • Định Nghĩa Văn Bản Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Văn Bản Thông Tin
  • Trắc Nghiệm Tin Học 10 Bài 10
  • Trắc Nghiệm Tin Học 10 Bài 10 (Có Đáp Án): Khái Niệm Về Hệ Điều Hành.
  • Đề Ngữ Văn 6, Học Kì.
  • Bạn đang xem bài viết Bàn Về Khái Niệm Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Quốc Tế Bằng Đường Biển trên website Doisonggiaitri.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!